Luận án được nghiên cứu với mục tiêu nhằm hệ thống hóa các tư liệu và những kết quả nghiên cứu khảo cổ học về La thành (Thăng Long) từ trước đến nay. Nghiên cứu hệ thống tư liệu, từ đó làm rõ kỹ thuật xây dựng, vật liệu kiến trúc tham gia xây dựng nhằm tìm hiểu lịch sử xây dựng của La thành (Thăng Long) qua các thời kỳ lịch sử.
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DOÃN VĂN
LA THÀNH (THĂNG LONG) TRONG LỊCH SỬ
QUA TƯ LIỆU KHẢO CỔ HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHẢO CỔ HỌC
Trang 2KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DOÃN VĂN
LA THÀNH (THĂNG LONG) TRONG LỊCH SỬ
QUA TƯ LIỆU KHẢO CỔ HỌC
Chuyên ngành: KHẢO CỔ HỌC
Mã số: 9.22.90.17 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHẢO CỔ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Tống Trung Tín
2 PGS Lê Văn Lan
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình tổng hợp và nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, khách quan và được trích nguồn rõ ràng Những ý kiến khoa học chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu không đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả Luận án
Nguyễn Doãn Văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô, các nhà nghiên cứu, sự trao đổi, đóng góp ý kiến của các anh, chị, bạn bè đồng nghiệp, sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan và cá nhân Nhân đây tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô trong Khoa Khảo cổ học - Học viện Khoa học Xã hội, các thầy cô trong Tổ bộ môn Khảo cổ học, Khoa lịch sử - Trường Đại học KHXH&NV
Hà Nội, sự tạo điều kiện và giúp đỡ của Ban Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Lãnh đạo Ban Quản lý di tích danh thắng Hà Nội, Viện Khảo cổ học, Ban Chủ nhiệm các Dự án khai quật tuyến đê Bưởi và nút giao thông Bưởi - Đội Cấn - Hoàng Hoa Thám, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng các tỉnh, thành phố: Ninh Bình, Hà Nội, Thanh Hóa, chính quyền và nhân dân xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ sự trân trọng và tri ân đến PGS Lê Văn Lan; PGS.TS Tống Trung Tín; TS Nguyễn Thị Hòa; PGS.TS Bùi Văn Liêm; TS Trần Quý Thịnh; TS Nguyễn Gia Đối; TS Nguyễn Tiến Đông, là những người Thầy, người cô đã dẫn dắt tác giả từ những nhận thức đầu tiên cho đến định hướng, hướng dẫn trực tiếp để nghiên cứu sinh tiếp cận và thực hiện luận án này
Hơn nữa, sự động viên, khích lệ và giúp đỡ của gia đình và bạn bè là chỗ dựa tinh thần quan trọng giúp nghiên cứu sinh hoàn thành luận án
Luận án chắc chắn sẽ không tránh khỏi sự thiếu sót, nghiên cứu sinh rất mong nhận được sự quan tâm góp ý và chỉ giáo của các thầy cô, các nhà nghiên cứu và đồng nghiệp để tác giả hoàn thiện hơn trên con đường nghiên cứu của mình
Trang 5MỤC LỤC
Bảng các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu sử dụng trong chính văn
Danh mục phụ lục minh họa
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5
7 Cơ cấu của luận án 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1 Địa lý tự nhiên vùng đất Thăng Long - Hà Nội 6
1.2 La thành (Thăng Long) qua tư liệu thư tịch và bản đồ 12
1.3 Lịch sử nghiên cứu khảo cổ La thành (Thăng Long) 17
1.4 Những nghiên cứu về La thành (Thăng Long) nhận thức và vấn đề 25
1.5 Tiểu kết chương 1 38
CHƯƠNG 2: LA THÀNH (THĂNG LONG) QUA TƯ LIỆU KHẢO CỔ HỌC 40
2.1 Kết quả khảo sát La thành (Thăng Long) 40
2.2 Kết quả khai quật địa điểm Đoài Môn (Ủng Thành) 44
2.3 Khai quật địa điểm Văn Cao - Hoàng Hoa Thám 47
2.4 Khai quật tuyến đê Bưởi 55
2.5 Khai quật nút giao thông Ô Chợ Dừa 77
Trang 62.6 Di vật 84
2.7 Nhận thức về La thành (Thăng Long) qua tư liệu khảo cổ 100
2.6 Tiểu kết chương 2 104
CHƯƠNG 3: LA THÀNH (THĂNG LONG) TRONG BỐI CẢNH CÁC KINH THÀNH CỔ VIỆT NAM 107
3.1 Kinh thành cổ Cổ Loa (Hà Nội) 107
3.2 Kinh thành cổ Hoa Lư (Ninh Bình) 114
3.3 Kinh thành cổ Thành Nhà Hồ (Thanh Hóa) 121
3.4 Nghiên cứu so sánh La thành (Thăng Long) với các kinh thành cổ ở Miền Bắc Việt Nam 126
3.5 Phương hướng bảo tồn La thành (Thăng Long) 134
3.6 Tiểu kết chương 3 137
KẾT LUẬN 139 Danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án Tài liệu tham khảo
Phụ lục minh họa
Trang 7BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 8BẢNG BIỂU SỬ DỤNG TRONG CHÍNH VĂN Bảng 1: Bảng thống kê hiện vật nằm trong các lớp đất đắp thành
DANH MỤC PHỤ LỤC MINH HỌA
BẢN ĐỒ
Bản đồ 1: Bản đồ hành chính Việt Nam [Nguồn: Atlat địa lý Việt Nam] Bản đồ 2: Bản đồ hành chính Thành phố Hà Nội [Nguồn: Atlat địa lý Việt Nam]
Bản đồ 3: Bản đồ khu vực nội thành Thành phố Hà Nội [Cổng giao tiếp điện tử Thành phố Hà Nội]
Bản đồ 4: Bản đồ thành Thăng Long thời Lê [Nguồn Hồng Đức bản đồ,
Tư liệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A2499]
Bản đồ 5: Bản đồ thành Thăng Long thời Lê [Nguồn: An Nam hình thắng chi đồ, Tư liệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A3034] Bản đồ 6: Bản đồ thành Thăng Long thời Lê [Nguồn: Thiên tải nhàn đàm, Tư liệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A2006]
Bản đồ 7: Bản đồ thành Thăng Long thời Lê [Nguồn: Toàn tập Thiên Nam lộ đồ, Tư liệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A1081] Bản đồ 8: Bản đồ thành Thăng Long thời Lê [Nguồn: Thiên Nam tứ chí
lộ đồ, Tư liệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A73]
Bản đồ 9: Hà Nội năm 1831 [Nguồn: Thư viện Quốc gia, ký hiệu A2.3.32]
Bản đồ 10: Hà Nội thời Tự Đức 1866 và 1873 [Nguồn: Thư viện Quốc gia, ký hiệu 2.3.24]
Bản đồ 11: Hà Nội năm 1888 [Nguồn: Bản đồ cổ Hà Nội và vùng phụ cận, Nxb Thế giới, 2008]
Trang 9Bản đồ 12: Các điểm di tích thành Thăng Long thời điểm 1588 - 1592 [Nguồn: 27]
Bản đồ 13: Thành Thăng Long được xây dựng và phát triển qua các thời
kỳ lịch sử [Nguồn: 25, tr 21]
BẢN ẢNH
Bản ảnh 1: Một đoạn đê La thành ở đường Âu Cơ (Nguồn: Tác giả) Bản ảnh 2: Một đoạn đê La thành trên đường Nguyễn Khoái (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 3: Một đoạn đê La thành ở khu vực nút giao Cầu Giấy (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 4: Một đoạn đê La thành ở nút giao Đội Cấn (Nguồn: Tác giả) Bản ảnh 5: Đền Voi Phục trên đường Thụy Khuê (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 6: Đền Bạch Mã trên đường Hàng Buồm (Nguồn: Tác giả) Bản ảnh 7: Vết tích La thành ở địa điểm Văn Cao - Hoàng Hoa Thám (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 8: Vết tích La thành ở địa điểm Văn Cao - Hoàng Hoa Thám (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 9: Vết tích La thành ở địa điểm Văn Cao - Hoàng Hoa Thám (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 10: Vết tích La thành ở địa điểm Văn Cao - Hoàng Hoa Thám (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 11: Mặt cắt La thành ở địa điểm Văn Cao - Hoàng Hoa Thám (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 12: Một đoạn mặt cắt La thành ở Văn Cao - Hoàng Hoa Thám (Nguồn: 7)
Bản ảnh 13: Một số vật liệu kiến trúc ở Văn Cao - Hoàng Hoa Thám
Trang 10Bản ảnh 17: Dấu vết tường thành ở Cầu Giấy (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 18: Chi tiết lớp đầm gạch ngói ở nút giao Cầu Giấy (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 19: Cảnh khai quật công trường Đào Tấn (Nguồn: Tác giả) Bản ảnh 20: Cảnh khai quật công trường Đào Tấn (Nguồn: Tác giả) Bản ảnh 21: Hố khai quật tại nút giao Đào Tấn (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 22: Hố khai quật tại nút giao Đào Tấn (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 23: Vết tích tường thành ở nút giao Đào Tấn (Nguồn: Tác giả) Bản ảnh 24: Dấu tích kỹ thuật đầm đinh tại nút giao Đào Tấn (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 25: Diễn biến địa tầng La thành (Thăng Long) ở nút giao Đào Tấn (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 26: Mộ thời Đường ở chân La thành tại nút giao Đào Tấn (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 27: Xử lý mộ táng ở nút giao Đào Tấn (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 28: Nghiên cứu nút giao Đội Cấn (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 29: Diễn biến địa tầng La thành (Thăng Long) ở nút giao Đội Cấn (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 30: Khai quật nút giao thông Bưởi năm 2015 (Nguồn: Tác giả) Bản ảnh 31: Địa tầng La thành (Thăng Long) ở nút giao thông Bưởi
Trang 11Bản ảnh 36: Không ảnh khu vực nút Ô Chợ Dừa (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 37: Vị trí hố khai quật PR1 (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 38: Địa tầng vách Đông hố khai quật PR1 (Nguồn: Tác giả) Bản ảnh 39: Địa tầng hố PR2 Ô Chợ Dừa (Nguồn: Tác giả)
Bản ảnh 40: Địa điểm Đàn Xã Tắc (Nguồn: 57)
Bản ảnh 41: Địa điểm Đàn Xã Tắc (Nguồn: 57)
Bản ảnh 42: Một số mẫu gạch thời Lê Sơ ở nút giao Bưởi (Nguồn: 57) Bản ảnh 43: Một số mẫu ngói thời Le Sơ ở nút giao Bưởi (Nguồn: 57) Bản ảnh 44: Một số đồ gốm sứ ở Đê Bưởi (Nguồn: 57)
Bản ảnh 45: Một số đồ sành ở Đê Bưởi (Nguồn: 57)
Bản ảnh 46: Khai quật di tích Thành Ngoại Cổ Loa (Nguồn: 97)
Bản ảnh 47: Địa tầng thành Ngoại Cổ Loa (Nguồn: 97)
Bản ảnh 48: Địa tầng thành Ngoại Cổ Loa (Nguồn: 97)
Bản ảnh 49: Các lớp đất đắp thành Trung - Cổ Loa (Nguồn: 97)
Bản ảnh 50: Toàn cảnh khu di tích Cố đô Hoa Lư (Nguồn: 14)
Bản ảnh 51: Một đoạn thành Dền -Hoa Lư (Nguồn: 14)
Bản ảnh 52: Quang cảnh La thành Thành Nhà Hồ (Nguồn: 76)
Bản ảnh 53: Mặt cắt La thành Thành Nhà Hồ (Nguồn: 76)
Trang 12Bản vẽ 8: Tường La thành Thăng Long ở nút giao Cầu Giấy (Nguồn: Ban quản lý DTDT Hà Nội)
Bản vẽ 9: Tường La thành Thăng Long ở nút giao Đội Cấn (Nguồn: Ban quản lý DTDT Hà Nội)
Bản vẽ 10: Tường La thành Thăng Long ở nút giao Đào Tấn (Nguồn: Ban quản lý DTDT Hà Nội)
Bản vẽ 11: Mô phỏng mặt cắt tường thành qua nghiên cứu nút giao Đào Tấn (Nguồn: Ban quản lý DTDT Hà Nội)
Bản vẽ 12: Mặt cắt tường thành ở nút giao Bưởi khai quật năm 2015 (Nguồn: Ban quản lý DTDT Hà Nội)
Bản vẽ 13: Mặt cắt tường thành ở nút giao Bưởi khai quật năm 2015 (Nguồn: Ban quản lý DTDT Hà Nội)
Bản vẽ 14: Gạch ngói thời Lý Trần ở nút Văn Cao (Nguồn: 54)
Trang 13Bản vẽ 15: Đồ gốm sứ thời Lý ở nút Văn Cao (Nguồn: 54)
Bản vẽ 16: Đồ gốm sứ thời Trần ở nút Văn Cao (Nguồn: Ban quản lý DTDT Hà Nội)
Bản vẽ 17: Đồ sành từ thời Đinh đến Lê Trung Hưng ở nút Văn Cao (Nguồn: Ban quản lý DTDT Hà Nội)
Bản vẽ 18: Khu di tích Cổ Loa (Hà Nội) (Nguồn: 41)
Bản vẽ 19: Khu di tích Hoa Lư (Ninh Bình) (Nguồn: 23)
Bản vẽ 20: Khu di tích Thành Nhà Hồ (Thanh Hóa) (Nguồn: 76)
Bản vẽ 21: Hiện trạng La thành Thành Nhà Hồ (Nguồn: 76)
Bản vẽ 22: Mặt cắt La thành Thành Nhà Hồ (Nguồn: 76)
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Cho đến cuối thế kỷ XIV, “Đại La thành” hay “La thành” là là tên gọi được các bộ chính sử Việt Nam sử dụng để nói về vòng thành ngoài cùng của Kinh thành Thăng Long Đến nay, qua những nghiên cứu của các nhà sử học, chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên cũng còn nhiều điểm chưa rõ ràng đòi hỏi cần có thêm những chứng cứ rõ ràng hơn từ công tác nghiên cứu khảo cổ học Vì vậy, cần có một đề tài đi sâu nghiên cứu
về hệ thống tư liệu khảo cổ học về La thành (Thăng Long) nhằm từ đó làm rõ hơn về vị trí và vai trò của nó trong lịch sử Việt Nam
1.2 Công tác nghiên cứu khảo cổ học về La thành (Thăng Long) được bắt đầu từ năm 2003 với cuộc khai quật của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tại địa điểm Đoài Môn Tiếp đó, trong các năm 2011, 2012 và 2013, Viện KCH đã tiến hành khai quật khảo cổ 5 địa điểm tại tuyến đê Bưởi - Hoàng Hoa Thám
và 1 địa điểm ở nút giao Ô Chợ Dừa, được xác định thuộc vòng thành ngoài cùng của Kinh thành Thăng Long - Đại La thành hay La thành Qua các lát cắt đã xác định được các lớp đất đắp thành qua các thời kỳ lịch sử, và một khối lượng lớn các di tích, di vật thuộc nhiều giai đoạn khác nhau, từ thời Đại
La (thế kỷ VII - IX) đến thời Lê (thế kỷ XV - XVIII) Bước đầu dựa trên kết quả khai quật đã minh chứng được lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của
La thành qua các thời kỳ lịch sử, góp phần vào kết quả nghiên cứu chung lịch
sử của kinh thành Thăng Long Dẫu vậy, khối tư liệu này chưa được nghiên cứu hệ thống nên đã gây không ít khó khăn cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiều về La thành (Thăng Long)
1.3 Trong suốt quá trình tồn tại với tư cách là Kinh đô hay là quân thành của quốc gia, thành Thăng Long đã chịu nhiều các biến cố của lịch sử với sự
Trang 15tàn phá ác liệt các cuộc chiến tranh, hơn nữa còn có sự tàn phá của thiên nhiên Do vậy, các di tích, di vật và qua các lát cắt của các hố khai quật bổ sung nguồn tư liệu bằng vật thật vào các ghi chép của các nguồn sử liệu, làm sáng rõ thêm các vấn đề tranh luận tồn tại từ nhiều năm nay từ đó giúp chúng
ta hiểu được lịch sử quy hoạch và xây dựng kiến trúc Kinh thành
1.4 Các lớp đất trong kết cấu của La thành đã thể hiện được sự kiên cố, được xây dựng với kỹ thuật cao, công tác xử lý rất tỉ mỉ đòi hỏi nguồn nhân lực và vật lực lớn, các loại vật liệu tham gia vào việc xây dựng được sử dụng một cách có chọn lọc, các quy trình xây dựng được tuân thủ chặt chẽ Ở mỗi một thời kỳ, La thành lại được gia cố, mở rộng thêm Do vậy, việc nghiên cứu
La thành (Thăng Long) là góp phần tìm hiểu lịch sử xã hội Việt Nam, đồng thời cũng có thể hiểu rõ hơn về kỹ thuật xây dựng thành quách của Việt Nam trong lịch sử
1.5 Được sự gợi ý của thầy hướng dẫn, tác giả đã chọn đề tài “La thành (Thăng Long) trong lịch sử qua tư liệu khảo cổ học” để hoàn thành luận án
Tiến sỹ Với việc lựa chọn tên gọi La thành (Thăng Long), tác giả đề tài mong muốn định danh đối tượng nghiên cứu và đề xuất một tên gọi chung cho di tích ở khía cạnh khảo cổ học, tránh gây hiểu nhầm giữa “Đại La thành” thời Bắc thuộc và “Đại La thành” là vòng ngoài của Kinh thành Thăng Long từ thế
kỷ X trở về sau Việc triển khai đề tài sẽ làm cơ sở khoa học cho việc tuyên truyền quảng bá các giá trị của kinh thành Thăng Long, các kết quả thu được
sẽ phát huy trong tương lai nhằm phục vụ tốt hơn cho việc tuyên truyền về công tác bảo vệ, bảo tồn, phát huy giá trị, trong nhân dân và là cơ sơ để các nhà khoa học tiếp tục tìm hiểu các Kinh thành của Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Hệ thống hóa các tư liệu và những kết quả nghiên cứu khảo cổ học
về La thành (Thăng Long) từ trước đến nay
Trang 162.2 Nghiên cứu hệ thống tư liệu, từ đó làm rõ kỹ thuật xây dựng, vật liệu kiến trúc tham gia xây dựng nhằm tìm hiểu lịch sử xây dựng của La thành (Thăng Long) qua các thời kỳ lịch sử
2.3 Nghiên cứu so sánh với các vòng thành có cùng tính chất tương tự như La thành (Thăng Long) nhằm tìm hiểu tính chất, quy mô, kỹ thuật và vai trò của vòng thành ngoài cùng với các Kinh thành cổ của Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào kết quả nghiên cứu của khảo cổ học tại các hố khai quật trên tuyến đê Bưởi - Hoàng Hoa Thám hiện nay Các tư liệu thư tịch và những nghiên cứu, ghi chép về La thành (Thăng Long) cũng được sử dụng để tham khảo
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu di tích La thành (Thăng Long) là vòng thành ngoài cùng của Kinh thành Thăng Long, hiện nay phân bố trong phạm vi các quận nội thành của Thành phố Hà Nội Thời gian nghiên cứu từ thế kỷ X đến nửa cuối thế kỷ XVII, tính từ khi hình thành Kinh thành Thăng Long đến khi La thành (Thăng Long) hết vai trò lịch sử
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận:
Luận án sử dụng phương pháp Duy vật lịch sử và Duy vật biện chứng trong nhìn nhận đánh giá các sự kiện, hiện tượng liên quan
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khảo cổ học như: khai quật và lấy tư liệu tại hiện trường… cũng như các kỹ thuật nghiên cứu khảo
cổ học trong phòng: thống kê, đo vẽ bằng chương trình Auto CAD, chụp và
xử lý ảnh bằng chương trình Photoshop… Đồng thời triệt để sử dụng các
Trang 17phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp về kỹ thuật, vật liệu xây dựng và mối quan hệ giữa các di tích, di vật phát hiện được
Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành, kết hợp với kết quả nghiên cứu cổ địa lý, địa chất, địa mạo Luận án còn sử dụng phương pháp: nghiên cứu lịch sử kiến trúc Kinh thành nhằm tìm ra các đặc điểm riêng của La thành (Thăng Long) trong bối cảnh chung của các Kinh thành ở Việt Nam hiện còn nhận diện được
4.3 Nguồn tư liệu:
Nguồn tư liệu chính của luận án được thu thập qua kết quả khai quật, nghiên cứu tại các hố khai quật khảo cổ học tại tuyến đê Bưởi - Hoàng Hoa Thám, đồng thời triệt để khai thác các nguồn sử liệu và các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã từng nghiên cứu về La thành (Thăng Long) Ngoài ra luận án còn khai thác một số nguồn tư liệu tại các Kinh thành cổ như: Cổ Loa (Hà Nội), Hoa Lư (Ninh Bình), Các công trình nghiên cứu, bài viết, thông báo khoa học của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vòng thành ngoài cùng có cùng tính chất tương đồng với La thành (Thăng Long)
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Tập hợp và hệ thống hóa tư liệu về La thành (Thăng Long)
5.2 Tìm hiểu một số đặc trưng kỹ thuật và vật liệu xây dựng La thành (Thăng Long) trong nền cảnh các Kinh thành cổ Việt Nam
5.3 Thông qua việc tập hợp hệ thống, tìm hiểu, xác định kỹ thuật và vật liệu xây dựng của La thành (Thăng Long) nhằm xác định quy mô, phạm vi phân bố và quá trình thay đổi của La thành (Thăng Long) trong lịch sử Góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử Kinh thành Thăng Long, khẳng định giá trị của La thành trong tổng thể quy hoạch chung của Kinh thành Thăng Long Đồng thời góp phần phát huy giá trị di sản La Thành (Thăng Long)
Trang 186 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho
cơ quan quản lý văn hóa các cấp xây dựng các phương án quy hoạch bảo tồn
và phát huy giá trị của La thành (Thăng Long) và tổng thể khu di tích Kinh đô Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội
Những tư liệu được hệ thống hóa và kết quả nghiên cứu từ luận án cung cấp thêm một nguồn tư liệu giúp các nhà khoa học, các bạn bè trong và ngoài nước quan tâm đến lịch sử văn hóa Kinh đô Thăng Long - Hà Nội có thể
nghiên cứu, tìm hiểu
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Chương 2: La thành (Thăng Long) qua tư liệu khảo cổ học
- Chương 3: La thành (Thăng Long) trong bối cảnh các kinh thành cổ Việt Nam
Ngoài ra, trong luận án còn các mục: Tài liệu tham khảo và Phụ lục minh hoạ Phần đầu của luận án có Lời cam đoan, Bảng các chữ viết tắt, Danh mục các bảng biểu sử dụng trong chính văn, Danh mục phụ lục minh hoạ
Trang 19CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Địa lý tự nhiên vùng đất Thăng Long - Hà Nội
Năm 2008, Hà Tây hợp nhất với Hà Nội Hà Nội trở thành thủ đô lớn thứ
17 trên thế giới Thành phố Hà Nội hiện có 30 đơn vị hành chính, gồm các quận, huyện, thị xã với tổng diện tích là 3.348,5km2
Nằm ở trung tâm đồng bằng Sông Hồng, Hà Nội tiếp giáp với 7 tỉnh và thành phố gồm: phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông giáp tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên; phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình và Phú Thọ; phía Nam giáp các tỉnh Hoà Bình và Hà Nam (Bản đồ 1, 2)
Trước khi hợp nhất tính đến năm 2008, thành phố Hà Nội có tọa độ địa lý
từ 20o53’ đến 21o23’ vĩ Bắc và từ 105o44’ đến 106o02’ kinh Đông nằm ở châu thổ Bắc Bộ, ngay tại vị trí sông Hồng chia nước đầu tiên ra biển qua sông Đuống (Bản đồ 3) Lãnh thổ trước năm 2009, Hà Nội kéo dài theo chiều Bắc - Nam là 53km, còn theo chiều Đông - Tây thay đổi từ gần 10km đến trên 30km Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Bắc Giang; phía Đông giáp tỉnh Bắc Ninh; phía Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Hà Tây; còn phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc Địa giới tự nhiên với tỉnh Thái Nguyên và Bắc Giang là sông Công và sông Cầu; với tỉnh Vĩnh Phúc là đường phân thuỷ của phần kéo dài của dãy núi Tam Đảo và sông
Cà Lồ; còn với các tỉnh khác đường ranh giới được xác định theo các địa danh hay đường giao thông và các địa vật khác Nói chính xác hơn, Hà Nội nằm ở vị trí chuyển tiếp từ đồng bằng thuần tuý (các huyện phía Nam) sang đồng bằng xen gò (huyện Đông Anh), rồi đến vùng đồi gò (huyện Sóc Sơn) Đây cũng là một trong những bộ phận cổ nhất của châu thổ sông Hồng Với vị trí như vậy,
Hà Nội có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội
Trang 20Trước thế kỷ X, vùng đất Hà Nội ngày nay đã là thủ phủ của đồng bằng châu thổ Bắc Bộ Năm 1010, Lý Công Uẩn từ Hoa Lư chuyển ra Thăng Long,
Hà Nội ngày nay đã trở thành Thủ đô của nước Đại Việt Vị thế của Thăng
Long lúc bấy giờ đã được nói rõ trong bài Chiếu dời đô: “Thành Đại La (Thăng Long) ở trung tâm bờ cõi đất nước, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc tiện hình thế núi sông sau trước
Ở đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật phong phú tốt tươi Xem khắp nước Việt ta, chỗ ấy
là nơi hơn cả Thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương” [31, tr 241]
Bài chiếu dời đô đấu thế kỷ XI này có thể coi là một bản tuyên ngôn địa
lý - chính trị, địa lý - chiến lược, địa lý - kinh tế, đối với mảnh đất trước đó đã
có quá khứ ngàn xưa và sau đó càng rạng rỡ với truyền thống “ngàn năm văn
vật” cho tới hôm nay
Thế kỷ XVIII, sử thần Ngô Thì Sĩ (1726 - 1780) viết: “ Đất Long Đỗ là nơi Cao Biền đóng đô ở đấy, núi Tản Viên chống vững một cõi, sông Phú Lương như hào trời sinh ra, ngàn dặm bằng phẳng trăm họ giàu có, phía Tây thông với Sơn Tây, Tuyên Hưng; phía Bắc thấu đến Ninh Sóc, Kinh Bắc Miền Đông Nam thì vận chuyển bằng thuyền, miền Cần Xương thì liên lạc bằng trạm, là nơi trung tâm của nước bốn phương chầu về, núi là vạt áo che, sông
là dải đai thắt, sau lưng là sông, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiểm, rộng mà dài, có thể làm cho nơi vua ở hoành tráng, ngôi báu vững bền Hình thế nước Việt thật không nơi nào hơn được nơi này [43, tr 194]
Hà Nội địa dư do Dương Bá Cung soạn năm 1852 thời Nguyễn viết:
“Vùng Long Đỗ đất trải nghìn dặm, đường dẫn bốn phương Mé Tây Bắc núi giăng đệm yên mạch đất, phía Đông Bắc biển rộng bày hiểm hào trời Núi thì
có Thiên Kiên, Hương Tích, Long Đọi, Nguyệt Hằng trải dài la liệt Sông thì
Trang 21có Lãng Bạc, Kim Ngưu, Đỗ Động, Tô Lịch uốn khúc quanh co Trải qua các triều đại đều đặt căn cứ trấn giữ nơi trọng yếu ở khoảng giữa Hoài Đức và Thường Tín, có núi ôm sông bọc, lưng dựa vào núi, mặt hướng ra biển Thế đất rộng mà phẳng, cao mà thoáng, thế hùng vĩ lại hiểm trở, dày đặc và rộng dài, xứng đáng làm nơi thành trì vững chắc, phên dậu một phương Thụy Hương, Lạc Tràng là nơi thông thương khách buôn lại qua, Chi Nê, Tốt Động
là điểm kiểm soát dân thượng du xuất nhập Từ cổ xưa chốn này đã là một địa hạt quan trọng Tuy nhiên đây cũng là nơi trăm sông đổ tới, muôn suối dồn
về, vì vậy cứ tháng 5, tháng 6 thường có nước lũ dâng trào, đê điều chống chọi với nước sông, thế nguy hiểm nhất so với các tỉnh khác” [74, tr 32] (Bản
Trải qua bao biến đổi thăng trầm, vùng đất này luôn là trung tâm kinh tế
- chính trị của cả nước Nghị quyết 8 của Bộ Chính trị ngày 21/1/1983 đã chỉ
rõ: “Hà Nội là trung tâm đầu não về chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật, đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, một trung tâm giao dịch quốc tế của cả nước” [6] Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng nhất ở nước ta Nhờ đó,
sự trao đổi về kinh tế, văn hoá, khoa học giữa các tỉnh, các vùng lãnh thổ trong nước và với các nước trên thế giới rất thuận lợi Vì vậy, trong phạm vi
cả nước, Hà Nội đã trở thành vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc nằm trong tam giác tăng trưởng là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và sẽ trở thành một
vùng kinh tế năng động trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và thế giới
Từ trước khi Lý Thái Tổ định đô, đất Long Đỗ Thăng Long đã trải qua một quá trình biến đổi địa chất có tuổi nhiều chục triệu năm trở về trước Hãy
trở ngược đến mốc thời gian khoảng chục triệu năm cách ngày nay Thuở “tạo thiên lập địa” dài lâu ấy, địa lý học lịch sử cho biết khu vực Hà Nội khi đó
còn là một vịnh biển sâu hàng trăm mét
Trang 22Khoảng hơn một triệu năm trước, bước sang kỷ Đệ Tứ (hay kỷ Nhân Sinh), kỷ bắt đầu có con người sinh sống trên trái đất, Hà Nội nói riêng, cả vùng châu thổ Bắc Bộ nói chung vẫn tiếp tục chịu tác động mạnh mẽ của các quá trình biển tiến, biển lùi, khi thì biển tiến chiếm ưu thế, khi thì đất liền
chìm trong biển tiến Flandrian
Khoảng 5000 - 4000 năm cách ngày nay, biển lại lùi dần, hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình với lượng phù sa khổng lồ bồi tích lên đồng bằng châu thổ trong đó có khu vực Hà Nội Cửa sông Hà Nội cổ cạn dần tạo
nên một cảnh trí thiên nhiên hoang sơ, đẹp đẽ
Khoảng 2500 - 2000 năm cách ngày nay, vùng đất Hà Nội hoàn toàn không chịu tác động của biển và có hình dạng cơ bản như ngày nay Đó là một vùng đất khá rộng rãi, bằng phẳng cao ráo (xấp xỉ 6m - 9m so với mực nước biển), trên bề mặt có nhiều đầm hồ, thỉnh thoảng xen lẫn doi đất cao như địa điểm Đàn Xã Tắc (cao 6m - 7m so với mực nước biển) Tất cả nằm trọn trong 3 con sông mà ca dao cổ đất kinh kỳ khái quát:
Nhị Hà quanh Bắc sang Đông Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này
Cùng với đường bộ, đó là những con sông lịch sử - kinh tế - văn hoá,
đường giao thông thuận lợi nối liền Hà Nội với cả nước và thế giới bên ngoài
Trang 23Tại các tầng đất ở khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long ở địa điểm 18 Hoàng Diệu, địa điểm Đàn Xã Tắc, về địa chất đã thấy rõ những lớp
phù sa sông màu mỡ phủ dày lên các lớp đất hình thành từ thời kỳ biển tiến
Bề mặt địa hình của Hà Nội hầu hết là đồng bằng được cấu tạo bởi các trầm tích châu thổ nằm ở các mực độ cao khác nhau (từ 5m đến trên 20m) Địa hình đồi và núi thấp rất hạn chế, chỉ có ở huyện Sóc Sơn với đỉnh cao nhất là núi Chân Chim cao 462 mét Địa hình có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam (từ Sóc Sơn qua Đông Anh rồi đến Thanh Trì) và từ Tây sang đông (Từ Liêm qua Cầu Giấy sang Gia Lâm) Nhìn chung, có thể chia địa
hình Hà Nội thành 3 vùng khác nhau
- Địa hình núi đồi xen gò phân bố ở phía Bắc thuộc huyện Sóc Sơn Các đồi ở đây có độ cao tương đối thấp, sườn thoải (khoảng 8o - 12o) được phát triển trên các đá trầm tích, bột, sét kết Các đồi thường có dạng kéo dài, chứ không tròn như ở nơi khác Dãy đồi - núi này chính là phần kéo dài của hệ thống núi Tam Đảo Xen giữa là các đồi là những thung lũng sông suối nhỏ
hẹp với trầm tích là cát, cuội, sỏi
- Địa hình đồng bằng xen gò phân bố chủ yếu ở huyện Đông Anh và một vài nơi khác ở huyện Sóc Sơn Độ cao của bề mặt địa hình này chủ yếu từ 10m - 25m so với mực nước biển Địa hình này được phát triển chủ yếu trên trầm tích của hệ tầng Vĩnh Phúc - một thành tạo của châu thổ vào cuối Pleistocen thượng (còn gọi là phù sa cổ) Độ dốc của địa hình đạt giá trị từ 3o
- 8o Bề mặt địa hình ở đây có mật độ chia cắt ngang và chia cắt sâu không lớn Do đã được khai thác sử dụng từ lâu đời nên quá trình xói mòn xảy ra khá mạnh mẽ và hình thành lớp đá ong khá dày Trong mấy năm gần đây thực hiện các chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, một số nơi đã hạn chế
được quá trình xói mòn đất
Trang 24- Địa hình đồng bằng Trong phạm vi thành phố Hà Nội, địa hình đồng bằng chiếm diện tích rất lớn Địa hình này phân bố ở các huyện Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, các quận nội thành và một phần nhỏ ở huyện Đông Anh
Độ cao của bề mặt địa hình này đạt từ 4m - 5m đến 8m - 10m so với mực nước biển hiện nay Nét đặc trưng nhất của địa hình là tương đối bằng phẳng Địa hình được cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích tuổi Holocene (còn gọi là phù
sa mới) Bề mặt địa hình đồng bằng hiện nay bị chia cắt rất mạnh bởi các hệ thống sông, kênh mương và đê đập So với trước đây, hiện nay bề mặt địa hình đồng bằng của Hà Nội đã bị biến đổi rất nhiều do tác động của con người Quá trình địa mạo chiếm ưu thế hiện nay là rửa trôi bề mặt, xói lở bờ, tích tụ do sông dưới tác động của các nhân tố địa mạo tự nhiên lẫn với hoạt động của con người Tuy nhiên, địa hình này vẫn được sử dụng chủ yếu trong
sản xuất nông nghiệp
Trong phạm vi lãnh thổ Hà Nội, mạng lưới dòng chảy tự nhiên khá dày đặc Mật độ đạt khoảng 0,5km - 1,0km/km2 Lớn nhất là sông Hồng Trên đất
Hà Nội có 93 cửa sông này Ngoài ra, trong phạm vi Hà Nội còn có các sông khác như sông Đuống (chi lưu của sông Hồng chuyển nước ra vùng biển Đông Bắc), sông Cà Lồ (vốn trước đây cũng là chi lưu của sông Hồng, nhưng giờ đây
đã trở thành chi lưu của sông Cầu), sông Nhuệ, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét, sông Cầu Bây làm nhiệm vụ tiêu nước và các kênh nhân tạo khác Ngoài ra, ở Hà Nội còn có rất nhiều hồ, đầm vừa tự nhiên vừa nhân tạo,
với tổng diện tích mặt nước khoảng 3600 hecta
Nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, đặc trưng khí hậu Hà Nội là nhiệt đới ẩm, gió mùa Tính chất nhiệt đới ẩm được đặc trưng bởi lượng mưa, bốc hơi và nhiệt độ không khí trong năm Còn tính chất gió mùa lại được thể hiện
ở sự thay đổi hướng gió và tính chất của nó theo các mùa trong năm Khí hậu
mang tính chất mùa, nhưng không khắc nghiệt Có 2 mùa:
Trang 25Mùa hè kéo dài 6 tháng (Từ tháng 5 đến tháng 10) nóng (nhiệt độ trung bình các tháng mùa hè là 27,5o, nhiệt độ cao nhất đã từng xảy ra là 42oC, số ngày có nhiệt độ cao trên 35o thường từ 8 - 10 ngày), nhiều nắng (thường đạt tới 180 - 200 giờ mỗi tháng), mưa nhiều (chiếm tới 85% tổng lượng mưa cả
năm), gió có hướng chủ yếu là Đông - Nam
Mùa đông cũng kéo dài (từ tháng Mười đến tháng Tư năm sau), là mùa lạnh Song có thể phân biệt rõ 2 thời kỳ: lạnh hanh và lạnh ẩm: thời kỳ lạnh hanh thịnh hành trong khoảng tháng 11 - 12 là thời kỳ khô nhất trong năm (đạt 75 - 80%), thời kỳ lạnh ẩm phổ biến vào cuối mùa trời thường u ám, ít nắng, ẩm ướt (nhiệt độ trung bình của các tháng mùa thu này là 19,5%), lượng mưa thấp (chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa cả năm), hướng gió thịnh hành là Đông - Bắc [52]
Trên lớp đất phù sa với đặc điểm tự nhiên có nhiều ưu thế này, người Việt cổ dần dần khai phá, định cư tạo nên một vùng đất phong vật vô cùng
tươi tốt Nói theo Thượng Kinh phong vật chí: “Non nước có tình đâu bằng Thượng Kinh, phong vật phồn thịnh cũng không đâu hơn Thượng Kinh” [74,
tr 31]
1.2 La thành (Thăng Long) qua tư liệu thư tịch và bản đồ
Theo tư liệu thư tịch, những ghi chép về thành và La thành (Thăng Long)
ở giai đoạn trước năm 1954 được tiến hành từ rất sớm Theo những thông tin trong các bộ sử phong kiến Trung Hoa, “La thành”, “An Nam La thành” hay
“Đại La thành” được các quan lại đô hộ thời nhà Đường (Trung Quốc) xây dựng trong khoảng từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX đã được ghi chép khá kỹ trong các bộ sử phong kiến nhưng hiện chưa thấy di tích để kiểm chứng
Theo Man thư, cuốn sách của Phàn Xước, viên thư ký của Kinh lược sứ phủ đô hộ An Nam Thái Tập được Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán dẫn lại
Trang 26trong Hà Nội nghìn xưa [74, tr 119] thì vào khoảng năm 863, ở khu vực Hà Nội có 3 thành:
1 Thành Giao Châu, hay thành Giao Chỉ, tức phủ thành đô hộ, chu vi hơn 6km, phía Bắc có sông Tô Lịch, phía Đông có sông Cái làm hào thiên nhiên Thành này cũng gọi là La Thành Cửa Đông mở ra trước bến sông Cái,
cũng gọi là Đông La Môn
2 Tử thành là thành con được bọc trong thành chính nói trên, chu vi 1,6km
3 Thành cũ Tô Lịch Sử cũ phân biệt “cựu thành” và “kim thành” Kim thành là La thành đắp từ thời Lý Nguyên Gia (năm 824) qua đời đô hộ Điền Tảo hằng năm bắt dân nộp tiền làm luỹ gỗ quanh thành, đến năm 858 đô hộ Vương Thức lấy tiền thuế mỗi năm của An Nam mua tre gỗ trồng quanh 12 dặm thành, đào hào, rào luỹ, ngoài lại trồng tre gai Vì vậy còn có tên là thành Lặc Trúc Cựu thành là thành đắp từ đời Trương Bá Nghi (năm 767), Trương Châu (năm 808), đều nằm trên bờ sông Tô Lịch
Tên gọi La thành đã xuất hiện từ thời Bắc thuộc trong các sự kiện ghi trong chính sử, như:
Năm 767 “Bá Nghi đắp lại La thành” ở vị trí mới cách sông Tô Lịch
khoảng 200 thước [31, tr 44]
Năm 791, nhà Đường lấy Triệu Xương làm đô hộ, “(Triệu) Xương đắp thêm La thành kiên cố hơn trước” [31, tr 45]
Năm 824, Lý Nguyên Gia đắp thành mới [31, tr 46]
Năm 866, Cao Biền “đắp La Thành vòng quanh 1.982 trượng lẻ 5
thước, thân thành cao 2 trượng 6 thước, chân thành rộng 2 trượng 5 thước,
bốn mặt thành đắp các nữ tường nhỏ trên bốn mặt thành cao 5 thước 5 tấc, lầu nhìn giặc 55 sở, cửa ống 6 sở, cừ nước 3 sở, đường bộ 34 sở Lại đắp con
Trang 27đê vòng quanh dài 2.125 trượng 8 thước; cao 1 trượng 5 thước; chân rộng 2 trượng, cùng làm nhà cửa hơn 40 vạn gian” [31, tr 50]
Tuy nhiên, theo các ghi chép trong các bộ chính sử Việt Nam như: Việt
sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Việt sử ký tục biên… và nhiều bộ thông sử khác, thành Đại La được đắp chính thức từ năm 1014
Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ: Mùa đông, tháng 10 năm 1014“Đắp thành đất ở bốn mặt kinh thành Thăng Long” [31, tr 44] Kể từ năm 1014, thành Đại La được tu sửa, bồi đắp, mở mang liên tục Sử đã ghi được việc sửa chữa tu bổ toà thành này trong các năm 1078, 1154, 1170, 1230, 1429, 1477,
1517, 1588, 1592, 1597, 1788 [31]; [32]; [33]
Năm 1078, “Mùa xuân, tháng giêng, sửa lại thành Đại La”
Năm 1230, “Lại mở rộng phía ngoài thành Đại La, bốn cửa thành giao cho quân Tứ sương thay phiên nhau canh giữ”
Năm 1243, “Mùa thu, tháng 8, nước to, vỡ thành Đại La”
Năm 1477, “Xây thành Đại La”
Năm 1516, “làm nhiều công trình thổ mộc, đắp thành rộng lớn mấy ngàn trượng, bao quanh điện Tường Quang, quán Chân Vũ, chùa Thiên Hoa
ở phường Kim Cổ, từ phía đông đến phía tây bắc, chắn ngang sông Tô Lịch, trên đắp hoàng thành, dưới làm cửa cống, dùng ngói vỡ và đất đá nện xuống, lấy đá phiến và gạch vuông xây lên, lấy sắt xuyên ngang”
Năm 1588, “Hạ lệnh cho quân dân các huyện trong bốn trấn đắp thêm
ba lớp luỹ ngoài thành Đại La ở Thăng Long, bắt đầu từ phường Nhật Chiêu vượt qua Hồ Tây, qua cầu Dừa đến cầu Dền suốt đến Thanh Trì, giáp phía tây bắc sông Nhị Hà, cao hơn thành Thăng Long đến vài trượng, rộng 25 trượng, đào 3 lớp hào, đều trồng tre, dài tới mấy mươi dặm để bọc lấy phía ngoài thành”
Trang 28Năm 1592, Tiết chế Trịnh Tùng “hạ lệnh cho các quân san phẳng luỹ đất đắp thành Đại La dài đến mấy ngàn trượng, phát hết bụi rậm gai góc, cày lấp hào rãnh, phá đến thành đất bằng, không mấy ngày là xong”
Sách Thăng Long cổ tích khảo bản lưu tại Thư viện Viện nghiên cứu
Hán Nôm, ký hiệu A1820, cũng có đoạn chép về thành Đại La như sau:
“Thành Đại La do Cao Biền đắp từ thời Đường, chu vi chừng 982 trượng lẻ
5 thước, thân thành cao 2 trượng 6 thước, chân thành rộng 2 trượng 5 thước Vua Lý Thái Tổ từ Hoa Lư dời đô về đây, nhân thành này đắp thêm thành bên ngoài, các đời về sau đều theo đó Thời cuối Lê vẫn còn tường rào tre vây bốn mặt và dựng cổng lũy Đến thời Tây Sơn từ năm Bính Ngọ đến Canh Thân tre bị phạt gần hết Đến năm Tân Dậu nhổ đến tận nhà dân Sau trồng tre lại theo thành cũ, Nam từ Vạn Xuân đến Đồng Vọng, Tây từ Đồng Vọng đến mé Yên Lăng, Yên Quyết đến Thụy Chương, giáp đến tận Yên Hoa” [37]
Xác định theo ghi chép trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư thì La thành Thăng Long hình thành bắt đầu từ thời Lý Thành được đắp bằng đất năm
1014, gọi là thành Đại La [31, tr 244] Thành được tu sửa nhiều lần trong thời
Lý (vào các năm 1024, 1078, 1087, 1154, 1165, 1170), thời Trần (năm 1230,
1243) và thời Lê (năm 1490 và 1516) Kết cấu thành ở thời Lê là “một cái thổ thành không cao lắm, kế bên có một dãy tường nhỏ, trên mặt tuờng ngựa đi được; phía ngoài là hàng rào tre dày đặc, dưới hàng rào có hào sâu, trong hào thả chông” [60, tr 19]
Thời nhà Mạc, vào các năm 1587 và 1588 cũng có sự tu sửa lại thành
Đặc biệt, năm 1588, “đắp thêm ba lớp luỹ phía ngoài thành Đại La ở Thăng Long, bắt đầu từ phường Nhật Chiêu, vượt qua hồ Tây, qua Cầu Dừa (khu vực Ô Chợ Dừa hiện nay - tác giả) đến Cầu Dền suốt đến Thanh Trì, giáp phía tây bắc sông Nhị, cao hơn thành Thăng Long đến vài trượng, rộng 25 trượng, đào ba lớp hào, đều trồng tre, dài đến mấy mươi dặm để bọc lấy phía
Trang 29ngoài thành” [31, tr 164] Thành được mở rộng lên mặt Bắc, bao quanh cả Hồ Tây và phía ngoài có ba lớp luỹ bảo vệ Đây là lần mở rộng quy mô thành Đại
La lớn nhất nhưng hoàn toàn do nhu cầu của chiến tranh và chỉ tồn tại một thời gian ngắn Đầu năm 1592 quân Trịnh tiến công, chiếm được thành Thăng
Long đã “san phẳng luỹ đất đắp thành Đại La dài đến mấy ngàn trượng, phát hết bụi rậm gai góc, cày lấp hào rãnh, phá đến thành đất bằng” [31, tr 173] Thành Đại La và hệ thống hào luỹ phòng vệ bên ngoài bị phá huỷ, Kinh thành Thăng Long chỉ còn lại Hoàng thành và Cấm thành
Về tư liệu bản đồ, bàn đồ kinh thành Thăng Long được in trong một số tập sách như Hồng Đức bản đồ sách, An Nam hình thắng chi đồ, Thiên tải nhàn đàm, Toàn tập Thiên Nam lộ đồ, Thiên Nam tứ chí lộ đồ… (Bản đồ 4,5,
Hồng Đức thứ 21 (1490) dưới thời Lê Thánh Tông, nằm trong tập bản đồ địa
lý đầu tiên do nhà nước phong kiến Việt Nam thực hiện Các bản đồ khác về
cơ bản đều tương tự và phần nhiều là bản chép lại của bản đồ Hồng Đức Đặc điểm chung của nhóm bản đồ này là tính ước lệ cao, không có hình dáng và kích thước chính xác nên chỉ có thể hình dung trên đại thể về di tích, khó đi sâu nghiên cứu về các chi tiết thực địa
Còn một nguồn tư liệu bản đồ khác là những bản đồ thành phố Hà Nội được người Pháp vẽ vào những năm cuối thế kỷ XIX Mặc dù, thời điểm này, Thăng Long - Hà Nội không còn là kinh đô của đất nước nhưng do chưa diễn
ra quá trình đô thị hóa theo mô hình phương Tây nên ở những bản đồ trên vẫn
có thể cung cấp cho chúng ta một số thông tin hữu ích về địa lý cảnh quan, địa hình, địa vật giúp cho việc nghiên cứu phục dựng lại La thành (Thăng Long) xưa Trong số các bản đồ thời Pháp, đáng chú ý nhất là các bản đồ Tỉnh thành Hà Nội năm 1831 được vẽ bởi Lê Đức Lộc và Nguyễn Công Tiến, Trần Huy Bá vẽ lại năm 1956 (Bản đồ 9); Tỉnh thành Hà Nội năm 1866 và 1873 do
Trang 30Trần Huy Bá vẽ lại năm 1956 (Bản đồ 10); và Bản đồ khu vực Hà Nội tỉ lệ 1/25.000.000 của Pháp vẽ vào đầu thế kỷ XX (Bản đồ 11) Theo các bản đồ trên, đến cuối thế kỷ XIX những đoạn đê - đường nối tiếp nhau cao hơn so với địa hình còn lại bao bọc toàn bộ khu vực nội thành Hà Nội mà trên bản đồ hiện nay là các tuyến đường Phương Liên, La Thành, Bưởi, Hoàng Hoa Thám, Thanh Niên, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Trần Khát Chân, Đại
Cồ Việt, Xuân La, Xuân Đỉnh và Đê Yên Phụ Đây là những dấu tích còn lại của La thành (Thăng Long), đã được giới sử học Việt Nam cơ bản xác định qua một số công trình nghiên cứu từ sau năm 1954 đến nay
1.3 Lịch sử nghiên cứu khảo cổ La thành (Thăng Long)
Nghiên cứu La thành nói riêng và kinh thành Thăng Long nói chung, cho đến nay có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn trước năm 1954, được tiến hành bởi các học giả nước ngoài (chủ yếu là các học giả người Pháp); và giai đoạn sau năm 1954, do các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện
1.3.1 Giai đoạn trước 1954
Từ cuối thế kỷ XIX, sau khi người Pháp xâm lược nước ta, những nghiên cứu khảo cổ, lịch sử hiện đại bắt đầu được tiến hành bởi các học giả người Pháp Thời kỳ này, các nghiên cứu khảo cổ học hầu hết đều dựa trên các phát hiện tại khu vực bên trong La thành của kinh thành Thăng Long, các cuộc khai quật không được tiến hành theo đúng tính chất của các cuộc nghiên cứu khảo cổ học
Các nghiên cứu khảo cổ trong giai đoạn từ thế kỷ XIX đến trước năm
1954 mới chỉ dừng lại ở các phát hiện về di vật tại các khu vực xung quanh Kinh thành Thăng Long, việc nghiên cứu La thành chưa được tiến hành, cũng
có một số phát hiện ở khu vực ngay sát vị trí La thành hiện nay Các phát hiện
đó chủ yếu được tập hợp trong hai công trình “Những thành phần kiến trúc cổ
Trang 31ở miền Bắc Việt Nam” của H.Parmentier và R.Mercier công bố năm 1952
[97] và “Nghệ thuật Việt Nam” của L.Bezacier công bố năm 1955 [94]
Qua các phát hiện tại khu vực kinh thành Thăng Long, các nhà nghiên cứu
đã có những quan điểm về nghệ thuật, mỹ thuật của Thăng Long nói riêng và Đại Việt nói chung, còn vấn đề La thành và quy mô, cấu trúc của kinh thành Thăng Long chưa được đề cập Dựa trên nghiên cứu các di vật, các học giả đã
đi sâu vào tìm hiểu và phân tích khía cạnh nghệ thuật và đưa ra quan điểm coi nghệ thuật Việt Nam là bản sao của nghệ thuật Trung Quốc, coi nghệ thuật thời
Lý là “nghệ thuật Đại La” Còn nghệ thuật thời Trần là thời kỳ kém chuẩn xác
Khi xác định niên đại và chủ nhân của nghệ thuật Lý - Trần, một số học giả nghiêng về quan điểm cho rằng đó là do các thợ thủ công Chămpa làm lên
1.3.2 Giai đoạn sau 1954
Nghiên cứu thành Thăng Long nói chung và La thành (Thăng Long) nói riêng giai đoạn này do các nhà nghiên cứu Việt Nam tiến hành Các bài viết, các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Khảo cổ học, Nghiên cứu lịch sử,… đã bước đầu phân tích, tranh luận khá sôi nổi về vấn đề quy mô, cấu trúc của kinh thành Thăng Long, trong đó về cơ bản đều thống nhất xác định Kinh thành Thăng Long có cấu trúc gồm 3 vòng thành, trong đó vòng thành ngoài cùng là La thành Sau này, dựa trên kết quả từ các cuộc khai quật, vấn đề dần được làm rõ về cấu trúc, kỹ thuật, và niên đại
Song song với các nghiên cứu sử liệu, giai đoạn này các cuộc điều tra, khảo sát điền dã liên ngành và khai quật nghiên cứu khảo cổ cũng được tiến hành chủ yếu trong khu vực Hoàng thành Thăng Long để xác định quy mô và cấu trúc kinh thành Các cuộc khai quật nghiên cứu khảo cổ được thực hiện, ban đầu tại khu vực phía tây thành Thăng Long, sau đó tiến vào khu vực trung tâm của thành cổ Hà Nội ngày nay Có thể điểm qua các đợt nghiên cứu khảo
cổ đã được triển khai như: cuộc khai quật của Khoa Lịch sử, Trường ĐHTH ở
Trang 32sườn Tây Nam núi Cung, làng Đại Yên năm 1970 - 1971; cuộc khai quật của BTLS Việt Nam đã khai quật khu Đồng Gạch, Đồng Giếng từ tháng 11/1971 đến tháng 3/1972; những phát hiện tại công trường xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1973; đào thám sát tại khu vực tương truyền có chùa Chân Giáo thời Lý, khu Đồng Gạch, khu Ụ pháo, đình Thái Tể, chùa Vĩnh Phúc, gọi chung là khảo cổ học Quần Ngựa năm 1978; cuộc khai quật chữa cháy của Sở VHTT Hà Nội tại địa điểm Ngọc Khánh năm 1983; đợt đào thám sát tại địa điểm 5 Hoàng Diệu của Viện KCH và Sở VHTT Hà Nội năm 1992; cuộc khai quật “chữa cháy” địa điểm 11 Lê Hồng Phong của Viện KCH, Sở VHTT Hà Nội và BTLSVN năm 1996 [9, tr 62-70]; cuộc khai quật địa điểm Hậu Lâu của Viện KCH và Sở VHTT Hà Nội từ tháng 11/1998 đến tháng 3/1999 [52,
tr 104-124]; cuộc khai quật 2 địa điểm Đoan Môn và Bắc Môn của Viện KCH,
Sở VHTT Hà Nội năm 1999 [52, tr 132-141]; cuộc khai quật địa điểm 62 - 64 Trần Phú của Viện KCH và Sở VHTT Hà Nội vào các năm 2002 và năm
2008 - 2009 [52, tr 201-215]; cuộc khai quật địa điểm 18 Hoàng Diệu của Viện KCH nhằm phục vụ cho việc xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình (mới) từ năm 2002 - 2004 và năm 2008 - 2009 đã làm xuất lộ các dấu tích kiến trúc với nhiều loại hình: cung điện, sân nền, hành lang, giếng nước, đường cống… của các thời kỳ từ Đại La đến thời Lê [54]; cuộc khai quật tại địa điểm Đàn Xã Tắc của Viện KCH năm 2006; cuộc khai quật di tích đàn Nam Giao ở 114 - Mai Hắc Đế của Viện KCH và Ban Quản lý DTDT Hà Nội năm 2006 - 2008; cuộc khai quật địa điểm nằm trên trục trung tâm Đoan Môn
- Kính Thiên của Viện KCH và Trung tâm Bảo tồn di tích Cổ Loa - Thành cổ
Hà Nội năm 2008 [52]
Các kết quả nghiên cứu đã bước đầu chứng minh được quy mô của thành Thăng Long Đã có nhiều các cuộc Hội thảo trong nước và Quốc tế được tổ chức, các bài viết, các bài đánh giá giá trị của các chuyên gia trong nước và
Trang 33Quốc tế đã khẳng định, khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu thuộc trung tâm của Cấm thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê và là minh chứng cho lịch sử 1000 năm liên tục của Thăng Long - Hà Nội Các giá trị của khu di tích mang tính đại diện tiêu biểu cho văn hóa, văn minh Đại Việt trong các thời kỳ lịch sử, là Kinh đô có bề dày lịch sử thuộc loại hiếm có trên thế giới
Những nghiên cứu về khảo cổ học chuyên sâu về La thành (Thăng Long) chỉ thực sự bắt đầu từ năm 2003 Cuộc khai quật nghiên cứu đầu tiên về La thành (Thăng Long) được BTLS Việt Nam và Sở VHTT Hà Nội tiến hành vào tháng 11/2003 tại địa điểm Đoài Môn, còn gọi là Ủng Thành, trên đường Bưởi, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội với diện tích 100m2 Nơi đây còn lại vết tích của Đoài Môn ở bên bờ Bắc của sông Tô Lịch, sát chân cầu dẫn sang làng An Phú, thuộc phường Nghĩa Đô (Cầu Giấy - Hà Nội) Kết quả khai quật bước đầu xác định Ủng Thành ở Đoài Môn là một toà thành nhỏ hình chữ nhật ôm sát đường Bưởi Thành được xây với kỹ thuật gia cố mang tính truyền thống, đan xen một lớp gạch ngói vỡ với một lớp sét nện chặt là kỹ thuật tường trình có từ rất lâu đời trong lịch sử kiến trúc Việt Nam Những người khai quật cho rằng niên đại xây dựng Ủng Thành - Đoài Môn vào khoảng giữa thế kỷ XVIII và có thể tiếp tục được sửa chữa tôn tạo vào cuối thế kỷ XIX [52, tr 321-325] Niên đại này là khá muộn so với những ghi chép trong thư tịch cổ và các niên đại từ các cuộc khai quật nghiên cứu về La thành (Thăng Long) ở giai đoạn sau này
Khai quật nghiên cứu khảo cổ học về La thành (Thăng Long) thực sự sôi động trong khoảng từ cuối năm 2010 đến năm 2015 Thực hiện các quy hoạch mới về giao thông của Thủ đô Hà Nội, một số tuyến đường buộc phải chạy cắt ngang qua nút giao cắt đường Hoàng Hoa Thám - Văn Cao, đường Bưởi ở các nút giao Bưởi, Đội Cấn, Đào Tấn, Cầu Giấy và đường La Thành ở nút
Trang 34giao Ô Chợ Dừa, nên trước khi xây dựng phải tiến hành khai quật khảo cổ
Do vậy, các cuộc khai quật nghiên cứu về La thành (Thăng Long) bắt đầu được tiến hành, từ đó đưa ra được các kết quả mới, lần đầu tiên giới sử học được tiếp cận, nghiên cứu về cấu trúc của La thành (Thăng Long) qua mặt cắt của đoạn tường thành từ các hố khai quật
Năm 2010, trong quá trình thi công xây dựng móng trụ cầu vượt nút giao thông Văn Cao - Hoàng Hoa Thám, các cán bộ văn hóa Trung ương và Hà Nội phát hiện có dấu hiệu di tích, di vật khảo cổ ở các hố đào móng trụ cầu Liền đó các cơ quan có thẩm quyền của Trung ương và Hà Nội đã giao cho Viện Khảo cổ học và Ban quản lý DTDT Hà Nội tiến hành theo dõi địa tầng của 3 trụ móng cầu A02, A03… và thu lượm được một sưu tập di vật có ý nghĩa nghiên cứu đối với di tích vòng Thành cổ nằm ở phía Tây Bắc kinh thành Thăng Long Sưu tập di vật thu lượm được ở đây gồm có các loại: đồ
sứ, đồ sành, gốm thô và vật liệu xây dựng - chủ yếu là ngói lợp
Năm 2011, địa điểm đầu tiên trên trục đường tại địa điểm nút giao thông Văn Cao - Hoàng Hoa Thám đã được Viện KCH phối hợp với Sở VHTTDL
Hà Nội, trực tiếp là Ban Quản lý DTDT Hà Nội, Ban Quản lý Dự án Giao thông đô thị Hà Nội đã tiến hành khai quật địa điểm nút giao thông Văn Cao - Hoàng Hoa Thám, với tổng diện tích 10m x 20m = 200m2 Kết quả khai quật ngoài các di tích, di vật và lát cắt minh chứng cho La thành được đắp vào thời
Lê, không tìm được bằng chứng cho thấy La thành được đắp từ thời Lý, và các nhà khảo cổ học đã cố gắng phân tách La thành thời Lê Sơ với La thành được đắp dưới triều vua Lê Tương Dực Những người khai quật đưa ra giả thiết rằng La thành thời Lý có thể nằm lui vào trong đường Hoàng Hoa Thám, hoặc nằm ở phía ngoài gần sông Tô Lịch mà chúng ta chưa có điều kiện kiểm chứng Do đó, vấn đề nghiên cứu ranh giới Kinh thành Thăng Long nói chung, Hoàng thành Thăng Long nói riêng vẫn còn là vấn đề khoa học lớn
Trang 35cần tiếp tục nghiên cứu lâu dài trong tương lai Và nếu đúng như vậy thì vấn
đề La Thành thời Trần mở rộng thu hẹp thế nào cũng cần được tìm hiểu sâu hơn Một vẫn đề nữa toàn bộ lũy thành của Hoàng Thành thời Lê sơ cũng cần tiếp tục tìm hiểu thêm, đâu là đoạn thành đắp thời Lê Hồng Đức, đâu là phần thành đắp thời Lê Tương Dực? Hay toàn bộ 12 lớp đất này là thuộc thời Lê Hồng Đức Việc phân ra có một thời kỳ đắp vào thời Lê Tương Dực là điều ước đoán thuần túy dựa vào cấu trúc các lớp đất đắp và chỉ là suy đoán theo ghi chép của các tài liệu sử Cuộc khai quật ở địa điểm Văn Cao - Hoàng Hoa Thám đã góp thêm những tư liệu rất quan trọng có ý nghĩa lớn trong lĩnh vực nghiên cứu dấu tích Thành cổ của Hoàng thành Thăng Long [7, tr 65-74]
Từ năm 2012 đến năm 2015, một loạt các địa điểm thuộc La thành (Thăng Long) trên dường Bưởi hiện nay đã được Viện KCH phối hợp với Sở VHTTDL Hà Nội, trực tiếp là Ban Quản lý DTDT Hà Nội, Ban Quản lý Dự
án Giao thông đô thị Hà Nội tiến hành khai quật nhằm giải phóng mặt bằng phục vụ cho việc xây dựng các công trình giao thông đô thị Gồm các vị trí: nút đê Bưởi - Cầu Giấy diện tích khai quật là 400m2; nút giao thông Đào Tấn
- đê Bưởi có diện tích 600m2; nút giao thông Đội Cấn - đê Bưởi với diện tích 300m2; và nút giao thông Bưởi với diện tích 300m2
Nút giao thông Cấu Giấy được khai quật từ tháng 12/2012 đến tháng 3/2013, khu vực mở hố có diện tích 400m2, nằm trong phạm vi bãi đỗ xe đầu đường Bưởi, đối diện với cổng công viên Thủ Lệ, thuộc địa bàn phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình Qua nghiên cứu thực địa, đối chiếu với các bản đồ cổ
vẽ các vòng thành Thăng Long và theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, khu vực này là một đoạn tường của La thành Thăng Long trong lịch sử Đợt khai quật đã xác định hố đào nằm ở mặt phía ngoài của tường thành Địa tầng trong hố được cấu tạo bởi 11 lớp đất đắp khác nhau, trong đó có thể quan sát được mặt ngoài tường La thành Thăng Long xuất lộ trong hố đào có độ dốc
Trang 36đứng cao, được đắp từ 8 lớp đất liên tục qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Địa tầng và di tích, di vật xuất lộ ở đây cung cấp thêm những tư liệu mới góp phần nghiên cứu cấu trúc của thành Thăng Long thời Lý - Trần và
Lê Phát hiện mới nhất từ đợt khai quật là đã làm xuất lộ một lớp thành đắp bằng đất có niên đại thời Lý - Trần Thành đắp ở giai đoạn này có quy mô to lớn, bề thế, khẳng định La thành Thăng Long ngay từ thời Lý - Trần đã rất được chú trọng xây dựng kiến cố Kết quả khai quật ngoài việc chứng minh rõ thêm những ghi chép trong chính sử phong kiến rằng La thành Thăng Long được đắp từ thời Lý - Trần còn đặt ra các vấn đề khoa học cần phải giải quyết, như: liệu có thể phân biệt được lớp đắp của thời Lý và của thời Trần trên thực địa? Mặt cắt tổng thể của thành Đại La qua các thời Lý - Trần - Lê là như thế nào?…
Nút giao thông Đào Tấn được khai quật từ tháng 2/2013 đến tháng 5/2013, vị trí mở hố khai quật nằm ở giữa ngã tư nút giao thông Đào Tấn - Nguyễn Khánh Toàn Tổng diện diện tích khai quật 600m2 Các kết quả thu được giúp các nhà nghiên cứu nhận định được có các lớp đất đắp thời Đại La, thời Lý và thời Trần, chưa thấy lớp đắp thời Lê Sơ Như vậy, Đại La thành Thăng Long ngay từ thời Lý - Trần đã rất được chú trọng xây dựng kiến cố, quy mô to lớn, bề thế Đồng thời cho phép khẳng định rằng La thành Thăng Long ở thời Lê chỉ được tu sửa và mở rộng từng đoạn theo đúng như sử cũ chép lại Ngoài lát cắt của La thành và số lượng lớn các di vật thu được, cuộc khai quật đã phát hiện được các di tích quan trọng như: 04 di tích mộ táng, trong đó 3 mộ (2 mộ gạch và 1 mộ đất), có niên đại khoảng thế kỷ IX - X, mộ còn lại có khả năng thuộc thế kỷ XVII - XVIII; lớp móng gạch ngói thời Trần; lớp móng sỏi thời Lý - Trần Có thể khẳng định, đợt khai quật nghiên cứu La thành Thăng Long ở địa điểm nút giao thông Đào Tấn đã thu được nhiều tư
Trang 37liệu quý báu xác minh bằng những chứng cứ cụ thể những ghi chép trong chính sử Việt Nam rằng La thành Thăng Long được đắp từ thời Lý - Trần Tại nút giao thông Đội Cấn được khai quật từ tháng 3/2013 đến tháng 6/2013, vị trí mở hố khai quật nằm ở giải phân cách giữa đường Bưởi (nút giao thông Đội Cấn - Đê Bưởi) đối diện số nhà từ 292 - 296, trước đây thuộc phạm vi điểm trông giữ xe của Công ty Khai thác điểm đỗ xe Hà Nội Diện tích khai quật 300m2 Đợt khai quật đã xác định hố đào nằm ở mặt ngoài của tường thành Địa tầng trong hố được cấu tạo bởi 7 lớp đất, hình thành qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Dựa trên kết quả khai quật khảo cổ học tại nút giao thông Đội Cấn tiếp tục khẳng định những ghi chép trong sử liệu cũ
và ý kiến của các nhà nghiên cứu xưa nay về Đại La thành thời Lý - Trần và Hoàng thành Thăng Long thời Lê Sơ ở khu vực này Tại hố đào, đã xuất lộ một góc thành - đê - đường Bưởi có độ sâu của thành từ mặt đường đến sinh thổ dày trên 9m Đã bước đầu xác định được có lớp đất đắp thời Đại La, có lớp đất đắp thời Lý, có lớp đắp thời Trần và lớp đắp thời Lê Sơ diễn biến liên tục Các kết quả đó có thể khẳng định, đợt khai quật nghiên cứu La thành Thăng Long ở địa điểm nút giao thông Đội Cấn đã bổ sung thêm nhiều tư liệu xác minh bằng những chứng cứ cụ thể những ghi chép trong chính sử Việt Nam rằng La thành Thăng Long được đắp từ thời Lý và được các triều Trần,
Lê Sơ tu sửa, mở rộng ở các giai đoạn sau
Tại nút giao thông Bưởi khai quật vào cuối năm 2015, diện tích mở hố khai quật là 300m2, nằm ở vị trí giữa khu vực tường - đê - đường Bưởi Tại đây, tường thành chỉ thấy xuất hiện các lớp đắp thời Lý và thời Lê Sơ Không thấy hiện diện lớp đắp thời Trần Trong hố đào xuất lộ một lò nung vật liệu kiến trúc đầu thời Lê Sơ
Kết quả sơ bộ tại các vị trí khai quật cho thấy, dấu tích La thành rõ nhất
có niên đại từ thời Lý liên tục đến thời Lê Sơ (từ đầu thế kỷ XI đến thế kỷ
Trang 38XVI), dấu tích La thành được đắp ở các giai đoạn trước và sau đó chưa thực
sự rõ ràng và cần tiếp tục nghiên cứu khẳng định
Tháng 9/2013 Viện KCH phối hợp với Sở VHTTDL Hà Nội khai quật 4
hố ở khu vực di tích Ô Chợ Dừa (nằm ở ngã 6 Ô Chợ Dừa) phục vụ việc xây dựng cầu vượt nhánh Khâm Thiên - Ô Chợ Dừa thuộc dự án xây dựng tuyến đường vành đai 1 Kết quả ghi nhận khu vực này là cửa thành Trường Quảng thời Lý - Trần, thời Hậu Lê và thời Nguyễn gọi là cửa Thịnh Quang Phía ngoài thành có một dòng chảy cổ, đến nay đã bị lấp đầy, không còn dấu tích Ngoài kết quả nghiên cứu thăm dò, khai quật khảo cổ ở các địa điểm thuộc La thành (Thăng Long) trên, còn phải kể đến đợt điều tra điền dã liên ngành địa lý - lịch sử - văn hóa - khảo cổ do Viện Việt Nam học và khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành năm 2003 phục vụ công trình nghiên cứu Địa bạ Hà Nội Đợt nghiên cứu này, về cơ bản đã làm rõ diễn biến địa hình của các vòng thành, đặc biệt là vòng La thành (Thăng Long) trong bối cảnh hiện tại Từ đó, đã bước đầu phục dựng các vòng thành Thăng Long
và sự thay đổi của nó qua các thời kỳ lịch sử Lý - Trần - Lê [27; 29]
1.4 Những nghiên cứu về La thành (Thăng Long), nhận thức và vấn đề
Theo dòng nghiên cứu về Kinh thành Thăng Long, những bài viết có liên quan đến việc nghiên cứu La thành (Thăng Long) cũng có những chuyển biến theo thời gian và sự bổ sung nguồn tư liệu nghiên cứu từ khảo cổ học và điền
dã thực địa liên ngành địa lý - lịch sử - văn hóa - khảo cổ Theo đó, có thể phân kỳ các công trình nghiên cứu thành hai giai đoạn trước và sau năm 2003 Mặc dù những nghiên cứu về Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội diễn ra rất sôi nổi nhưng cho đến trước năm 2003, vấn đề nghiên cứu La thành (Thăng Long) hầu như chỉ được nhắc đến như là một phần nhỏ trong tổng thể nghiên cứu về Kinh thành Thăng Long và chỉ được các nhà sử học nhắc đến rải rác trong một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành Đặc biệt,
Trang 39trong giai đoạn những năm 60 của thế kỷ XX, nhân dịp kỷ niệm 950 năm Thăng Long - Hà Nội đã tạo tiền đề ra đời một loạt các bài viết, các quan điểm nhận định, nghiên cứu về Kinh thành Thăng Long, nhấn mạnh đến cấu trúc, vị trí và quy mô của Kinh thành, trong đó nhận định La thành (Thăng Long) chiếm một vị trí quan trọng, xuyên suốt trong chiều dài lịch sử qua các triều đại Dựa trên các kết quả nghiên cứu, các tác giả đã phác dựng Kinh thành Thăng Long từ khi khởi dựng thời Tùy Đường (thế kỷ VII - IX), với tên gọi đầu tiên là thành Tống Bình cho đến các thời kỳ phong kiến tự chủ về sau Tiếp đến thập kỷ 70 - 80 của thế kỷ XX, một số tác giả đã lần lượt công
bố các tư liệu bản đồ cổ thời Lê sơ (niên hiệu Hồng Đức), từ đó đi sâu vào việc nghiên cứu cấu trúc của Kinh thành Thăng Long một cách trực quan, hệ thống và cấu trúc của Kinh thành Thăng Long với vòng ngoài cùng là La thành ngày càng được khẳng định rõ hơn Có thể kể đến một số bài viết tiêu
biểu sau: Thử bàn về vị trí thành Thăng Long đời Lý in trên tạp chí NCLS, số
6/1959 [3, tr 77-81]; Bàn thêm về nội thành Thăng Long thời Lý Trần Lê in trên tạp chí NCLS năm 1966 [2, tr 57-63] của Trần Huy Bá; Thử bàn về vị trí
thành Thăng Long (trao đổi cùng Ông Trần Huy Bá) của Hoàng Xuân Chinh in
trên tạp chí NCLS năm 1959 [8, tr52-60]; Địa lý lịch sử miền Hà Nội (trước
thế kỷ XI) của Trần Quốc Vượng in trên tạp chí NCLS năm 1960 [73, tr 57]; Bàn thêm về thành Thăng Long thời Lý Trần của Trần Quốc Vượng và
48-Vũ Tuấn Sán in trên tạp chí NCLS năm 1966 [75, tr 35-45]; Nhân đọc cuốn
“Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội” thử tìm hiểu về thành Thăng Long qua Lý, Trần, Lê và các cửa ô cuối thế kỷ XVIII của Hoa Bằng in trên tạp chí NCLS
năm 1969 [5, tr 73-79]; Từ thành Đại La đến Thăng Long của Phạm Văn Kỉnh in trên tạp chí NCLS năm 2000 [20, tr 17-21]; Hoàng thành Thăng Long
có hay không? in trên tạp chí Xưa và Nay năm 2004 [19, tr 21-22]; Về phức
hợp thành Thăng Long in trên tạp chí NCLS năm 2005 của Nguyễn Thừa Hỷ
Trang 40[18, tr 16-22]; Về các tấm bản đồ thời Thăng Long đời Lê Hồng Đức (thế kỷ
XV) in trên tạp chí KCH năm 1981 [50, tr 32-70] và Thử xác định vị trí thành
Thăng Long từ hệ thống bản đồ trước thế kỷ XIX in trên tạp chí KCH năm
2004 [47, tr 51-56] của Bùi Thiết; Những hiểu biết mới về thành Thăng Long
in trên tạp chí KCH số 4 năm 2004 của Đỗ Văn Ninh [34, tr 21-35]; mục II
Thành Thăng Long (thế kỷ XI-XIX) trong sách Lịch sử Hà Nội của Philippe
Papin viết năm 2001 [42, tr 58-64] Đặc điểm chung của các công trình nghiên cứu này là cơ sở tư liệu phục vụ nghiên cứu đều là những tư liệu được ghi chép trong các bộ cổ sử phong kiến, các bản đồ cổ từ thời Lê Hồng Đức
và Lê Trung Hưng với tính ước lệ cao và từ quan sát thực địa với địa hình thời hiện đại đã bị biến đổi nhiều bởi quá trình đô thị hóa của Thủ đô Hà Nội
Do vậy, những kết quả nghiên cứu đa phần là những ý kiến đoán định chưa có điều kiện kiểm chứng trong thực tế
Từ sau năm 2003, với kết quả nghiên cứu điền dã và những tư liệu khai quật khảo cổ học mới được thu thập, nhiều bài nghiên cứu đã được công bố
Có thể kể dẫn một số bài viết: Lại bàn về vị thế Hoàng thành Thăng Long in
trên tạp chí KCH số 4 năm 2004 của Trần Quốc Vượng [72, tr 5-9]; Vị trí khu
di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu trong cấu trúc thành Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử in trên tạp chí KCH số 1 năm 2006 của Phan Huy
Lê [26, tr 5-27]; Vị trí, quy mô và vấn đề “trục chính tâm” của các công trình
kiến trúc cung đình trong Hoàng Thành Thăng Long thời Lý qua tài liệu văn bản in trên tạp chí KCH số 4 năm 2004 của Lê Văn Lan [24, tr 39-50]; Thăng Long thời Lý - Trần - Lê dưới ánh sáng của các nguồn tư liệu mới in trên tạp
chí Khảo cổ học số 1 năm 2006 của Nguyễn Quang Ngọc [38, tr 28-34] Đặc biệt, từ tư liệu của các cuộc khai quật nghiên cứu các địa điểm thuộc khu vực
La thành (Thăng Long), một số nghiên cứu chuyên sâu đã được công bố như
các bài viết: Cấu trúc và niên đại của lũy thành Thăng Long tại địa điểm Văn