Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các tư liệu khảo cổ học, bao gồm các di tích trọng điểm, các sưu tập hiện vật trong các bảo tàng, các bài báo cáo khảo cổ học, các
Trang 1BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
**********
NGUYỄN THỊ SONG THƯƠNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA
CƯ DÂN ÓC EO Ở TÂY NAM BỘ
(Qua tư liệu khảo cổ học)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
**********
NGUYỄN THỊ SONG THƯƠNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA
CƯ DÂN ÓC EO Ở TÂY NAM BỘ
(Qua tư liệu khảo cổ học)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Nguyễn Văn Cần
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Cần và
TS Lê Thị Liên Các số liệu, hình ảnh và kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Song Thương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MIỀN TÂY NAM BỘ VÀ LỊCH SỬ
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA
Chương 4: VĂN HÓA ÓC EO Ở TÂY NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH
4.1 Tây Nam Bộ và mạng lưới thương mại trên biển giai đoạn thiên niên kỷ
I sau Công nguyên
144
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTLS HCM : Bảo tàng lịch sử tại thành phố Hồ Chí Minh
NPHMVKCH : Những phát hiện mới về khảo cổ học
VH, TT & DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 6MỞ ĐẦU
1.1 Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa khảo cổ, được giới khoa học biết đến
từ cuối thế kỷ XIX Tên gọi của nền văn hóa này do nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret đặt ra sau cuộc khai quật vào tháng 4 năm 1944 ở cánh đồng Óc Eo (Thoại Sơn - An Giang) Cho đến nay, hàng loạt di tích ở khắp các tỉnh TNB khác được khai quật Các di tích khai quật đã làm lộ diện về sự tồn tại của một nền văn hóa khảo cổ, đều có chung đặc điểm, tính chất văn hóa với khu di tích Óc Eo (An Giang)
Văn hóa Óc Eo tồn tại trong một không gian rộng và một thời gian dài, trải qua nhiều thời kỳ khác nhau; nó được nhìn nhận là chứng cứ vật chất của một
“vương quốc” lớn có địa vực bao trùm cả một vùng Nam Đông Dương mà thư tịch
cổ Trung Quốc gọi là “Phù Nam” Bên cạnh đó, khu di tích Óc Eo luôn được coi như một điểm giao hội của văn hóa Đông - Tây, là “kho” hàng hoá lớn trên con đường thương mại quốc tế, giữa hai châu lục Âu - Á Cho đến nay, hàng trăm di tích Óc Eo đã được phát hiện, phân bố trên diện rộng, rộng hơn về không gian, nhiều hơn về số lượng các di tích phát hiện trước năm 1975 Thêm vào đó, số lượng các hiện vật đã được phát hiện, sưu tầm ngày một nhiều, hiện đang lưu giữ trong các bảo tàng trung ương và bảo tàng các tỉnh, tiêu biểu là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM, BTAG, BTKG, BTCT, BTĐT, BTLA
1.2 Các nguồn tư liệu quan trọng trên giúp cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu
nhiều lĩnh vực khác nhau về văn hóa Óc Eo Đến nay, đã có hàng ngàn bài viết, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội nghị và các báo cáo khảo sát điều tra liên quan tới nền văn hóa Óc Eo Đây là kết quả nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước, nội dung bao gồm: thông báo các phát hiện mới; tình trạng của các di tích, các loại hình
di vật phát lộ; nghiên cứu các vấn đề về nguồn gốc hình thành, sự phát triển của văn hóa Óc Eo; các quan hệ giao lưu văn hóa và thương mại với bên ngoài Một số khía cạnh về đời sống văn hóa xã hội của cư dân được đề cập tới qua việc nghiên cứu các tài liệu lịch sử và so sánh với tài liệu khảo cổ học
Trang 7Những thành quả này của các nhà khoa học về văn hóa Óc Eo rất đáng trân trọng Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu nói trên mới chủ yếu là dưới góc độ các nghiên cứu khảo cổ học Việc tìm hiểu khối tư liệu khảo cổ học từ hướng tiếp cận văn hóa học còn rất hạn chế Việc nghiên cứu phạm vi phân bố, nội dung và đặc điểm, niên đại và quá trình phát triển của các di tích, cội nguồn và truyền thống của văn hóa
Óc Eo trong mối liên hệ với cư dân - chủ nhân của nền văn hóa này còn chưa đầy
đủ Những vấn đề lịch sử liên hệ văn hóa Óc Eo với các thể chế chính trị đương thời như nước Phù Nam, đến Chân Lạp vẫn cần tiếp tục tìm tòi, lý giải, minh định Trong đó, vấn đề mối quan hệ giữa con người với dấu tích văn hóa mà cư dân Óc Eo
để lại; vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị DSVH đó trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế đang là những vấn đề có ý nghĩa khoa học
tư liệu khảo cổ học
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá các tư liệu và kết quả nghiên cứu văn hóa Óc Eo cả về mặt khảo cổ lẫn các nghiên cứu của các học giả trong cũng như ngoài nước, nhằm cung cấp cho các nhà khoa học nguồn tư liệu cập nhật về văn hóa Óc Eo
- Trên cơ sở nguồn tư liệu văn hóa Óc Eo, luận án hướng tới việc phân định các di tích di vật là minh chứng cho đời sống văn hóa xã hội Óc Eo Từ đó, tìm hiểu đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Óc Eo trong khung cảnh chung của quá trình phát triển từ giai đoạn tiền - sơ sử lên hình thức tổ chức nhà nước ở miền TNB; tìm hiểu sự biến đổi văn hóa của cư dân Óc Eo ở miền TNB trong quá trình giao lưu thương mại với các nền văn minh khác, nhằm xác định những nét đặc trưng của cư dân Óc Eo ở miền TNB
Trang 8- Bằng phương pháp tiếp cận văn hóa học, công trình làm rõ những khía cạnh đời sống văn hóa xã hội của cư dân Óc Eo ở miền TNB, góp phần nâng cao nhận thức về đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo ở một giai đoạn lịch sử quan trọng của vùng đất này
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các tư liệu khảo cổ học, bao gồm các di tích trọng điểm, các sưu tập hiện vật trong các bảo tàng, các bài báo cáo khảo cổ học, các công trình nghiên cứu di tích, di vật dưới góc độ khảo cổ học…
- Bên cạnh đó, các tư liệu thành văn như: thư tịch cổ và các công trình nghiên cứu có liên quan đến đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo ở miền TNB là những tài liệu bổ trợ, soi rọi thêm cho tư liệu khảo cổ học
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Dấu vết của văn hóa Óc Eo được phát hiện trong phạm vi rất rộng, bao trùm hầu hết các tỉnh Nam Bộ Trong luận án này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu các khía cạnh đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo ở các tỉnh miền TNB, bao gồm các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, trong đó, tập trung ở ba tỉnh có các di tích văn hóa Óc Eo tiêu biểu nhất là: An Giang, Đồng Tháp và Kiên Giang
- Về thời gian: Việc phân kỳ các giai đoạn của văn hóa Óc Eo còn chưa được giải quyết triệt để cho nên luận án tập trung tìm hiểu văn hóa Óc Eo chủ yếu ở giai đoạn từ khoảng thế kỷ II đến thế kỷ VII, là thời kỳ hình thành rõ nét và phát triển những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa này
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử trong nghiên cứu văn hóa quá khứ, nhằm nhìn nhận và đánh giá khách quan, khoa học về DSVH
4.2 Văn hóa học là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp, cần được áp dụng
nhiều phương pháp và có hướng tiếp cận đa ngành và liên ngành Tuy nhiên, các
Trang 9phương pháp nghiên cứu được lựa chọn tuỳ vào từng đối tượng cụ thể Do đối tượng đặc thù của luận án là các tư liệu khảo cổ học (di tích, các sưu tập di vật trong bảo tàng và các tư liệu viết có liên quan), luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành dân tộc học, xã hội học và nhân học Đặc biệt là sử dụng nhân học biểu tượng vào quá trình thu thập, phân tích tư liệu Trong đó, các phương pháp định tính và định lượng trên cơ sở quan sát, mô tả, thống kê, chụp ảnh v.v được đặc biệt chú trọng
Mặc dù phương pháp phỏng vấn không được áp dụng cho các đối tượng khảo
cổ học, tác giả luận án đã tham gia một số đợt khảo sát khảo cổ học tới các di tích và các bảo tàng, thảo luận cùng với các nhà khảo cổ học về mối liên hệ của các bộ sưu tập với di tích và địa tầng khảo cổ học, cũng như môi trường sinh thái cổ Từ đó có cơ
sở để phân tích và phục dựng lại đời sống văn hóa của một xã hội nay không còn
4.3 Trong quá trình phân tích tư liệu khảo cổ học, việc đối chiếu và so sánh
với các nguồn sử liệu và tư liệu thành văn khác được thực hiện trên cơ sở áp dụng một số kết quả nghiên cứu đa ngành về lịch sử nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng, phương thức sản xuất, giao lưu văn hóa … nhằm nhận ra hệ thống các hình thái biểu thị giá trị của xã hội và cư dân Óc Eo
5 NHỮNG KẾT QUẢ VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
5.1 Luận án tổng hợp, hệ thống hoá tư liệu khảo cổ học, kết quả nghiên cứu
văn hóa Óc Eo và các nguồn tư liệu khác, nhằm cung cấp một cách cập nhật và có
hệ thống nguồn tư liệu về văn hóa Óc Eo ở TNB; giúp cho việc nhận thức nội dung văn hóa Óc Eo ở TNB được rõ ràng hơn, nhất là lĩnh vực đời sống văn hóa - xã hội
5.2 Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, so sánh, đối chiếu những dấu tích
khảo cổ học và các sưu tập di vật của cư dân Óc Eo được phát hiện ở miền TNB, luận án cung cấp những kiến giải về đời sống vật chất, tinh thần và làm rõ các đặc điểm của nó nhằm có cái nhìn khách quan, toàn diện về bức tranh văn hóa thời sơ
sử ở TNB, Việt Nam
5.3 Bằng việc so sánh, đối chiếu với các tư liệu ở các khu vực khác, luận án
xác định những đặc trưng văn hóa của cư dân Óc Eo ở TNB và sự biến đổi đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo trong quá trình giao lưu với các cư dân láng giềng
Trang 105.4 Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp và góp thêm tư liệu cho việc
tìm hiểu văn hóa Óc Eo ở TNB, lịch sử văn hóa miền TNB nói chung, phổ biến kiến thức văn hóa - lịch sử Óc Eo cho nhân dân miền TNB, nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế, góp phần cung cấp các kiến giải và luận cứ khoa học cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay
Chương 2: Đặc điểm đời sống văn hóa vật chất của cư dân Óc Eo
Chương 3: Đặc điểm đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Óc Eo
Chương 4: Văn hóa Óc Eo ở Tây Nam Bộ trong bối cảnh giao lưu văn hóa với các nước láng giềng
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VỀ MIỀN TÂY NAM BỘ
VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ÓC EO 1.1 Những khái niệm liên quan đến đề tài
Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa khảo cổ Tiếp cận văn hóa Óc Eo dưới góc độ văn hóa học, cần làm rõ một số khái niệm: Văn hóa, văn hóa khảo cổ, văn hóa Óc Eo, đời sống văn hóa Chúng tôi xin đề cập một cách khái lược về những khái niệm này để làm công cụ lý luận cho nội dung luận án
Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hoá nhân loại
Ngay những bước đi lịch sử đầu tiên của mình, loài người đã gắn liền với văn hóa Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt
so với những con vật khác trong thế giới động vật Theo Từ điển tiếng Việt (Viện
1 Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (Thí dụ: kho tàng văn hóa Việt Nam)
2 Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần – nói một cách tổng quát (Thí dụ: phát triển văn hóa)
3 Tri thức, kiến thức khoa học (Thí dụ: Trình độ văn hóa)
4 Trình độ cao trong sinh hoạt văn hóa xã hội, biểu hiện của văn minh (Thí dụ: sống có văn hóa)
5 Nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (Thí dụ: văn hóa Đông Sơn)
Như vậy, có thể thấy văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa, thường được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau Đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa, trong đó có rất nhiều định nghĩa được các nhà khoa học ghi nhận, được nhiều giáo trình công bố, mà chúng tôi thấy phù hợp với nội dung của luận án
Quan niệm văn hóa của nguyên Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor
nêu ra nhân dịp phát động “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa” (1988 - 1997):
Trang 12Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [3, tr.15]
Với ý nghĩa đó, văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù
đó là hoạt động sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần hay trong quan hệ giao tiếp ứng
xử xã hội Trong quá khứ hay hiện tại, văn hóa là những hệ thống có giá trị; là cái bản sắc của mỗi cộng đồng, dân tộc; là cái không thể lẫn vào đâu được Như vậy,
theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 2000) văn hóa ở đây được
hiểu theo nghĩa thứ nhất là kho tàng văn hóa
Hay một quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh được nhiều nhà khoa học nhắc đến trong những năm gần đây:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của
đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [99, tr.431]
Vậy với khái niệm này, văn hóa ở đây được hiểu theo nghĩa thứ hai, là do con người sáng tạo ra, nhằm thích ứng với nhu cầu của cuộc sống Nó là sản phẩm của con người và chỉ dành riêng cho con người, cộng đồng người; nó được sinh ra, tồn tại
và phát triển với con người Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hóa Con người vừa là khách thể, vừa là chủ thể của
sự phát triển, hay vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện, điều đó chứng tỏ, con người và môi trường văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau
Theo Phan Ngọc, khái niệm văn hóa dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của những xã hội, dân tộc, bộ lạc cụ thể; đôi khi theo nghĩa hẹp, văn hóa chỉ liên quan đến đời sống tinh thần của con người [102, tr.14-17]
Trang 13Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng, mỗi định nghĩa
đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa Từ góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã cố gắng làm sáng tỏ những yếu tố căn cốt nhất của văn hóa Còn theo quan điểm của tôi, với hướng nghiên
cứu một nền văn hóa khảo cổ, thì Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất (văn hóa vật
thể) và tinh thần (phi vật thể) do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động, sản xuất, được tích luỹ từ thế hệ này sang thế hệ khác
Ở đây, tôi xem xét các giá trị tinh thần không phải ở những phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng và những giá trị văn hóa hiện hữu, mà tiếp cận nó thông qua những sản phẩm vật chất (văn hóa vật thể) đã nằm sâu dưới lòng đất để làm rõ yếu tố tinh thần trong đó
Khảo cổ học là ngành khoa học nghiên cứu những nền văn hóa của loài
người qua quá trình phục chế, tìm hiểu tài liệu và phân tích những dữ liệu như: di vật,
di tích, hài cốt… Mục đích của khảo cổ học là đưa ra những lời giải đáp đầy đủ về nguồn gốc, sự phát triển và tiến trình tiến hoá, bề dày lịch sử của loài người và của văn hóa loài người Đây là môn khoa học duy nhất đã thu thập và giải mã những thông tin về thời tiền sử Nó giúp cho con người hiểu biết về đời sống văn hóa - xã hội của cư dân cổ đại [101, tr.29]
Văn hóa khảo cổ: là nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác
định trên cơ sở tổng thể của một nhóm di tích khảo cổ có những đặc điểm giống nhau, phân bố liền khoảnh, tồn tại trong một khung thời gian nhất định, có một số
về đặc trưng di tích, di vật ổn định phân biệt rõ với các văn hóa khác và chủ nhân của chúng thường là một tộc người nhất định [118, tr.14-15]
Trong một nền văn hóa khảo cổ có thể tồn tại nhiều loại hình văn hóa khác nhau Mỗi loại hình văn hóa đều phản ánh những đặc tính của địa phương một cách
rõ nét Để xác định được một nền văn hóa khảo cổ, cần phải nghiên cứu một tập hợp các di tích khảo cổ, xác định giữa chúng có chung những đặc trưng, tính chất, niên đại, chủ nhân, nguồn gốc, các giai đoạn phát triển… Khi nghiên cứu nền văn hóa khảo cổ có thể phác thảo diện mạo văn hóa, làm rõ đời sống vật chất, tinh thần và
các hình thái kinh - tế xã hội của cư dân cổ
Trang 14Văn hóa Óc Eo: “Óc Eo” là tên gọi của một địa danh thuộc xã Vọng Khê,
huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Khái niệm“Văn hóa Óc Eo” được hiểu là một nền
văn hóa khảo cổ, có những đặc điểm chung về di tích, di vật, được L Malleret đặt
ra sau cuộc khai quật vào năm 1944 Nền văn minh này được hình thành và phát triển từ thế kỷ I đến thế kỷ VII SCN Nhiều công trình nghiên cứu khoa học dựa vào các kết quả khai quật khảo cổ đã chứng minh văn hóa Óc Eo là sản phẩm vật chất của Vương quốc Phù Nam
Theo các nhà nghiên cứu, Phù Nam là tên gọi theo cách phát âm “founan” của người Trung Hoa Còn phiên âm của tiếng Khmer cổ là “bnam”, ngày nay gọi là
“phnom” có nghĩa là “núi” Vua Phù Nam có nghĩa như “vua núi” theo tiếng Phạn là
“parvatabhûpala”, tiếng Khmer là “kurung bnam” [56, tr.84] Vương quốc Phù Nam
được coi là thể chế nhà nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á Nó hình thành từ thế
kỷ I SCN, suy vong từ khoảng thế kỷ VI và mất hẳn từ thế kỷ VII
Phù Nam được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa một bộ lạc Môn cổ sống bằng nghề săn bắn, thu hoạch lâm sản và một bộ lạc Nam Đảo làm nông nghiệp, đánh
cá và buôn bán trên biển Phù Nam là đế chế bao gồm nhiều tiểu vương quốc và lãnh địa Trong mỗi tiểu vương quốc thường có một vị tiểu vương làm thủ lĩnh lãnh đạo các thủ lĩnh khác (chư hầu) Lãnh vực của vương quốc Phù Nam bao trùm một vùng rộng lớn, gồm phía Nam Việt Nam, Malaysia, một phần Campuchia và Thái Lan
Đời sống văn hóa là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam từ
những năm 80, tuy nhiên đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa nào thống nhất, có tính chất thuyết phục
Theo tác giả Trần Độ thì “phải hiểu đời sống văn hóa theo nghĩa rộng, không
bó hẹp tính văn hóa vào một số lĩnh vực đời sống văn hóa nào đó mà coi đời sống văn hóa là một khái niệm rộng rãi, bao quát mọi mặt của đời sống xã hội: sản xuất, trao đổi, tiêu dùng, nhận thức, sáng tạo” [36; tr.24]
Theo GS.TS Hoàng Vinh “đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là một phức thể của những hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó” Trong đó “Nhu cầu vật
Trang 15chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức một nhân cách văn hóa” [153, tr.149] Như vậy, ở đây tác giả nhìn nhận đời sống văn hóa gắn liền với những nhu cầu cơ bản của con người, con người không thể tách rời hai nhu cầu thiết yếu, đó là nhu cầu về vật chất và tinh thần Tuy nhiên, sự phân biệt này cũng chỉ có
ý nghĩa tương đối vì thực chất, nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần thường thống nhất với nhau trong hoạt động sống của con người
Theo GS TS Đỗ Huy “đời sống văn hóa là hoạt động sản xuất của con người trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định Sản xuất của con người không chỉ duy nhất tạo ra cuộc sống cá nhân, còn tạo ra đời sống nhiều người khác Hoạt động sản xuất vật chất cũng như hoạt động sản xuất tinh thần đều tạo ra những mối quan hệ,
ra các hình thức giao tiếp mới” [141, tr.15] Như vậy, với quan điểm này, tác giả cho rằng, đời sống văn hóa phải bắt nguồn từ hoạt động sống của con người Theo tác giả, “để hình thành đời sống văn hóa thì phải hình thành đời sống của con người”, vì con người là một thực thể văn hóa
Ngoài ra, còn có rất nhiều quan điểm khác nhau về đời sống văn hóa, mỗi quan điểm đều có lý luận và thực tiễn riêng Tuy nhiên, có thể hiểu đời sống văn hóa là toàn bộ hoạt động văn hóa của con người, đáp ứng nhu cầu văn hóa vật chất
và tinh thần nhằm duy trì cuộc sống của con người Đời sống văn hóa và đời sống
xã hội có sự giao thoa với nhau, song điểm khác biệt là đời sống văn hóa gạn lọc dần những yếu tố phản tiến bộ của đời sống xã hội, nhằm đảm bảo các giá trị văn hóa được biểu hiện ở mức độ cao nhất
Đời sống văn hóa của một cộng đồng được thể hiện qua đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng đó
Đời sống văn hóa vật chất tồn tại hữu hình dưới dạng các sản phẩm văn hóa vật thể như các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, tác phẩm văn học, di tích lịch
sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, cổ vật, bảo vật, các di tích khảo cổ học…
Đời sống văn hóa tinh thần không hiện hữu một cách cố định, tồn tại dưới dạng các quan niệm về giá trị và chuẩn mực xã hội, được ghi nhận và lưu truyền trong ký ức của xã hội Đó là các huyền thoại, truyền thuyết, lễ hội, tín ngưỡng dân
Trang 16gian, anh hùng dân tộc, nhân thần có công dựng nước và giữ nước, loại hình nghệ thuật trình diễn như vũ điệu, âm nhạc, hò vè, sân chơi cổ truyền, đờn ca tài tử…; các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc như chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân đạo, ý thức cộng đồng, tinh thần khoan dung, đề cao nghĩa tình, đạo lý, lạc quan, yêu đời Đó là các giá trị về đạo đức, pháp lý và thẩm mỹ của dân tộc như lương tâm, phẩm giá, danh dự, trách nhiệm…Với đề tài này thì đời sống văn hóa tinh thần (những phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, các loại hình nghệ thuật…) được thể hiện thông qua các di vật, tức là thông qua đời sống vật chất
Như vậy, đời sống văn hóa mà chúng ta hiểu ở đây là một lát cắt trong đời
sống chung của xã hội Nó là tổng hoà của những yếu tố đời sống vật chất và đời sống tinh thần do con người sáng tạo ra
1.2 Điều kiện hình thành văn hóa Óc Eo
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Vùng ĐBSCL ngày nay là địa phận của 13 tỉnh, thành phố gồm: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau, với diện tích tự nhiên khoảng
nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo, có nền nhiệt độ cao và ổn định Nhiệt độ
tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4
Vùng TNB có hai con sông lớn chảy qua: sông Tiền (ở phía Bắc) và sông Hậu (ở phía Nam) là hạ lưu của hệ thống sông Mê Kông bắt nguồn từ Tây Trạng (Trung Quốc)
Sông Tiền nhận 2/3 lưu lượng nước của sông Mê Kông, từ biên giới Campuchia
đến cửa sông dài khoảng 200 km, chạy qua các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre Đến Cai Lậy (Tiền Giang), sông Tiền chia làm bốn con sông đổ ra biển bằng 6 cửa: sông Mỹ Tho (Cửa Đại, Cửa Tiểu); sông Cổ Chiên (cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu); sông Hàm Luông (cửa Hàm Luông) và sông Ba Lai (cửa Ba Lai)
Trang 17Sông Hậu chảy qua An Giang (Châu Đốc, Long Xuyên), đến Cần Thơ chia
thành nhiều nhánh làm ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh Đồng Tháp và Cần Thơ, Vĩnh Long và Cần Thơ, Hậu Giang và Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng rồi hội nhập lại, cuối cùng đổ ra biển Đông bằng cửa Ba Thắc (bị bồi lấp vào khoảng những năm 70 của thế kỷ XIX), cửa Định An và cửa Tranh Đề
Ngoài ra, còn có một số sông như: sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây; sông Sở Thượng, sông Sở Hạ; sông Giang Thành; sông Châu Đốc; sông Cái Lớn, sông Cái Bé và một hệ thống kênh đào chằng chịt thuận tiện cho việc đi lại và sản xuất nông nghiệp của cư dân nơi đây
TNB là sản phẩm bồi lắng phù sa của sông Mê Kông và bồi dần qua những
kỷ nguyên thay đổi mực nước biển Qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo ven sông lẫn một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười,
tứ giác Long Xuyên - Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau Địa hình khá bằng phẳng với đa phần diện tích có cao độ nằm khoảng 0,5 - 1,5m, thấp dần theo hướng Bắc - Nam và Tây - Đông
Dựa theo đặc tính về địa hình, TNB có thể được chia thành hai vùng chính
Đó là vùng cửa sông, ven biển và vùng ngập lũ:
Vùng cửa sông, ven biển có địa hình khá bằng phẳng và thấp Khu vực có
địa hình cao hơn là do quá trình hình thành các giồng cát ở cửa sông (Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng…), có độ cao từ 0,75 - 1,81m so với mực nước biển; khu vực có địa hình thấp hơn bởi quá trình bồi lắng trầm tích phù sa (khu vực Bán đảo Cà Mau, ven vịnh Thái Lan), có độ cao từ 0,25 - 0,50m so với mực nước biển
Vùng ngập lũ nằm phía Bắc và Tây Bắc TNB, chủ yếu thuộc các tỉnh Long
An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, An Giang và Kiên Giang Các khu vực dọc sông Hậu và sông Tiền có địa hình tương đối cao hơn (1 - 3m) do quá trình bồi đắp phù sa Dựa vào phân vùng sinh thái đất nông nghiệp, vùng ngập lũ TNB có thể chia thành 4 tiểu vùng chính: Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, khu vực Tây sông Hậu và khu vực giữa sông Tiền - sông Hậu [5, tr.3-4]
Trang 18Quá trình hình thành và biến đổi của vùng TNB cùng với những đặc điểm về môi trường sinh thái là một trong những yếu tố rất cần thiết để hiểu hơn về sự phân
bố và cuộc sống của các cộng đồng cư dân vùng này qua các thời kỳ lịch sử
Theo các nhà địa chất, quá trình hình thành vùng đất TNB diễn ra trong thời
gian khá dài và phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: quá trình biển tiến, biển thoái, vận động của vỏ trái đất qua hàng trăm triệu năm, các hoạt động bào mòn và tích tụ… đã tạo nên những vùng sụt lún như vùng Đồng Tháp Mười hay vùng trồi lên cao như dãy Bảy Núi (An Giang), đảo Phú Quốc (Kiên Giang)… Trong đó, các đợt biển tiến, biển thoái có tác động mạnh mẽ nhất đến sự hình thành vùng đất Nam Bộ [PL1.2, tr.190]
Đợt biển tiến đầu tiên cách nay khoảng 11.000 đến 6.000 năm thì đạt đến mức cực đại, cao hơn mực nước biển hiện tại 4 - 5m Thời điểm đó, toàn vùng TNB ngày nay tràn ngập nước mặn, trở thành vịnh biển nông rộng lớn Những ngọn đồi, quả núi trong vùng Bảy Núi (An Giang), Hà Tiên (Kiên Giang) đều trở thành những hòn đảo nhấp nhô trong vịnh biển Giai đoạn biển tiến này đã phân hoá đồng bằng thành nhiều vùng có đặc điểm khác nhau: biển nông, biển nông ven bờ, đầm lầy ven biển… Tại các vùng biển nông ven bờ động vật thân mềm, da gai, san hô phát triển rất phong phú Đặc biệt, thời kỳ này hình thành và phát triển phong phú thực vật nhiệt đới, tạo điều kiện cho sự hình thành các vùng chứa than bùn rộng lớn ở thời
kỳ tiếp theo [27, tr.18; 30, tr.16]…
Sau khi biển tiến đạt đến cực đại (+4 đến +5m), thì bắt đầu rút liên tục khỏi đồng bằng (khoảng 1.600 năm) và dừng ở mực cao +2m (trong vòng 700 năm) Quá trình mực nước biển rút và sự bồi lắng của phù sa mới từ hệ thống sông Mê Kông, miền TNB bắt đầu xuất lộ, hình thành nên các thềm phù sa ở độ cao +3, +2m lấn ra phía biển [27, tr.18] Quá trình này được thể hiện khá rõ trên các giồng cát từ Cai
có hướng song song với đường bờ hiện tại Khi mực nước biển rút đã để lại các vùng đầm lầy rộng lớn thuận lợi cho sự phát triển của thực vật tạo than [34, tr.16-17]
Sau đó, nước biển tiếp tục hạ thấp với tốc độ nhanh hơn (khoảng 250 năm), đây được xem là đợt biển thoái đầu tiên Từ năm 1650 - 1400 TCN (3650 - 3400
Trang 19năm cách nay), mực nước biển từ độ cao khoảng +2m đã hạ thấp dưới mực nước biển hiện nay Khi mực nước biển hạ thấp đến độ cao 1,5 - 1m thì cửa biển Châu Đốc, sông Mê Kông tách chia hai nhánh, đồng thời chuyển dòng chảy theo Tây Bắc
- Đông Nam Hai dòng chảy này về sau trở thành hai con sông chính ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển chung diện mạo của toàn vùng TNB… Tuy nhiên, phải tiếp tục trải qua quá trình trên dưới ngàn năm, sau đợt biển tiến, biển thoái thứ hai, vào khoảng TCN, bề mặt vùng TNB mới thực sự hiện rõ nét [27, tr.19]
Đợt biển thoái thứ ba kéo dài khoảng 500 năm đầu Công nguyên (từ năm 50 TCN đến năm 500 SCN) có thể được xem là thời điểm mở đầu một thời kỳ mới trong quá trình hình thành vùng TNB ngày nay Thời điểm đó, mực nước biển từ độ cao +0,4m (50 năm TCN) hạ thấp dần dưới mực nước biển hiện tại là -0,8m, vùng TNB theo đó lại được mở rộng thêm về phía Đông nhờ nước biển rút dần Phù sa của các dòng chảy ngày càng bồi tụ mạnh về phía biển
Tiếp đến, từ khoảng giữa thế kỷ VI, lại bắt đầu đợt biển tiến mới kéo dài đến
800 năm (từ khoảng năm 550 đến khoảng năm 1150 SCN), với mực nước biển dâng cao trung bình +0,8m Nước mặn đã tràn ngập các vùng đất thấp ven biển, có thể xâm nhập sâu vào những vùng trũng không có hệ thống giồng cát che chắn (vùng rừng U Minh, Tứ Giác Long Xuyên) Ngoài ra, nước mặn còn theo các sông rạch, lan toả vào các vùng trũng trong lòng châu thổ (vùng Đồng Tháp Mười) Sự xâm nhập của nước biển đã ảnh hưởng đến cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái tại những địa bàn thấp trũng của châu thổ Đến giữa thế kỷ XII về sau, mực nước biển dần hạ thấp rồi dừng lại ở mức hiện tại Vùng TNB bước vào thời kỳ phát triển mới theo chiều hướng không ngừng mở rộng, phù hợp với quy luật tự nhiên của nó [27, tr.20-21]
Theo thư tịch cổ: Khang Thái và Chu Ứng là quan triều đình nhà Ngô thời
Tam Quốc (230 - 280) được cử đi sứ đến nước Phù Nam Khi về nước, hai vị quan này viết một vài quyển sách nói về chuyến đi của mình đến đất nước Phù Nam như:
Phù Nam ký, Phù Nam thổ tục, Phù Nam thổ tục truyện, Phù Nam dị vật chí Tuy
nhiên, các sách này đều đã thất lạc, chỉ còn biết đến qua các trích dẫn trong một số
thư tịch cổ được ghi chép từ thế kỷ V - VI SCN như: Lương Thư, Nam Tề Thư, Tuỳ
Thư, Đường Thư Những nội dung này đã cho chúng ta những hình dung về địa
Trang 20hình, thiên nhiên và môi trường sinh thái vùng TNB thời bấy giờ (tương đương với thời kỳ biển thoái kéo dài khoảng 800 năm SCN)
Theo Nam Tề Thư: Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong vịnh
lớn phía Tây biển lớn, diện tích rộng hơn 3.000 dặm, nước ấy có một con sông lớn
chảy theo hướng tây ra biển [120, tr.268] Theo Lương thư: Nước phù Nam cách
Nhật Nam khoảng 7.000 dặm, ở phía Tây Lâm Ấp, cách nước ấy 3.000 dặm Kinh thành cách biển 500 dặm Trong nước có con sông lớn, rộng 10 dặm, chảy theo hướng Tây Bắc sang phía Đông đổ ra biển Diện tích cả nước rộng hơn 3.000 dặm Đất đai nước ấy thấp và bằng phẳng Khí hậu và phong tục giống như Lâm Ấp [120,
tr.273] Sách Tam Tạng kinh - Cao Tăng truyện còn có đoạn bổ sung “Phù Nam là
cửa biển có ngàn con sông” [27, tr.23]
Dựa vào những mô tả khái quát về nước Phù Nam qua các ghi chép của thư tịch cổ Trung Quốc, đa số các nhà khoa học đều có chung nhận định: vị trí của nước Phù Nam nằm ở phía Nam Đông Dương, phía Nam quận Nhật Nam (một phần đất phía Nam Việt Nam xưa) và Lâm Ấp (Nam Trung Bộ Việt Nam ngày nay) Trong
đó, vịnh lớn phía Tây biển lớn là vịnh Thái Lan; con sông lớn, rộng 10 dặm chảy theo hướng Tây đổ ra biển (hoặc chảy theo hướng Tây Bắc sang phía Đông rồi đổ ra biển) tương ứng với phần hạ lưu sông Mê Kông, với đất đai thấp, trũng và bằng phẳng Có thể suy đoán đây là vùng TNB ngày nay Từ đó có thể cho rằng, vào khoảng thế kỷ V - VI vùng TNB đã hình thành, với đồng bằng rộng lớn (có phần trũng thấp) Bên cạnh đó, theo thư tịch cổ, kinh thành cách biển 500 dặm (trên 200 km), chứng tỏ là vùng đất được con người khai phá với quy mô khá rộng lớn
Đến thời kỳ tiếp theo, vùng đất này được xem là vùng đất của Thuỷ Chân Lạp,
Tuỳ thư mô tả nước này có bờ biển bao quanh và có nhiều hồ lớn Tân Đường thư khi
viết về Thuỷ Chân Lạp thì viết là vùng đầm lầy rộng lớn Theo mô tả như trên vào khoảng thế kỷ VII - IX, vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn từ bằng phẳng, mênh mông, nhiều sông ngòi đã bị biến thành nhiều hồ lớn, vùng đầm lầy rộng [27, tr.23-24]
Sự biến động này có thể liên quan trực tiếp đến đợt biển tiến thứ tư dâng cao đến +1m diễn ra cùng thời
Trang 21Một số thư tịch cổ ghi lại cảnh quan vùng TNB từ thế kỷ XII trở về sau đều
có những mô tả khá giống nhau như: ký sự của Châu Đạt Quan trong“Chân Lạp
phong thổ ký” có đoạn viết: Từ Chân Bồ (Bà Rịa hay Vũng Tàu) theo hướng
Khôn-Thân (Tây Nam - 1/6 Nam), đi ngang qua biển Côn Lôn và vào cửa sông Sông này có hàng chục ngả, nhưng chỉ có thể vào được cửa thứ tư (Cửa Tiền Giang vào Mỹ Tho ngày nay), các ngả khác có nhiều bãi cát thuyền lớn không đi được Nhìn lên bờ thấy toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết được lối vào [116, tr.22] Có đoạn khác lại viết: Bắt đầu vào Chân Bồ hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những cây
cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê Tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi Vào nửa đường trong cửa sông, mới thấy lần đầu cánh đồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ cây đầy rẫy Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tụ họp từng bầy trong vùng này Tiếp
đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm [116, tr.73]… Đây là quang cảnh của vùng TNB mà Châu Đạt Quan ghi lại trong chuyến đi sứ đến nước Chân Lạp vào khoảng năm 1296 - 1297 SCN
Vào cuối thế kỷ XVIII, trong cuốn sách “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn có
những mô tả: Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ cửa biển Cần Giờ, Soài Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu… toàn là rừng rậm hàng mấy trăm dặm [27, tr.24] Qua mô tả từ các thư tịch cổ cho thấy, từ thế kỷ thứ XII đến cuối thế kỷ XVIII vùng TNB phát triển theo chiều hướng ngày càng hoang dã, cảnh vật thiên nhiên như chưa từng có ai khai phá
Về khí hậu, theo các nhà nghiên cứu, những đặc điểm của các nhóm cổ sinh đặc biệt là bào tử phấn hoa, cùng với đặc điểm của lớp vỏ phong hoá cổ có thể xác định được khí hậu thời kỳ Pleistocen ở đồng bằng Nam Bộ có chế độ nhiệt đới gió mùa rất rõ [34, tr.16-17] Thảm thực vật toàn vùng đã phản ánh điều kiện khí hậu thời kỳ Óc Eo mang tính nhiệt đới có sự xen kẽ nóng khô và nóng ẩm
Như vậy, có thể thấy, điều kiện thiên nhiên và khí hậu những thế kỷ đầu Công nguyên không khác nhiều so với ngày nay
Trang 22Trong các đợt khai quật những di chỉ sớm, thuộc giai đoạn tiền Óc Eo ở vùng Nam Bộ, các nhà khảo cổ học đã phát hiện một số mộ huyệt đất Đây có thể coi là nguồn tư liệu xác thực nhất, để xác định lớp người đầu tiên sinh sống ở vùng Nam
Bộ Việt Nam ngày nay
Tại di tích An Sơn (có niên đại 3820±70 BP và 2775±50 BP) vào những năm
1978, 2004, 2007, 2009 các nhà khảo cổ học đã phát hiện 35 mộ táng và nhiều di cốt nằm rải rác trong các hố khai quật Qua giám định về cổ nhân học cho biết, những di cốt này thuộc nhiều lứa tuổi (từ trẻ nhỏ 2 - 3 tuổi đến người lớn trên 50 tuổi), giới tính khác nhau (có nam, có nữ) và đều thuộc giống người có tên khoa học
là Indonesien [18] Như vậy từ những phát hiện trên, có thể xác định, người Indonesien chính là lớp người đầu tiên mở đất, lập nghiệp ở vùng đất này Đặc biệt, các di cốt người phát hiện trong cuộc khai quật tại An Sơn năm 2009 đã được phân tích bằng nhiều phương pháp khác nhau Kết quả cho thấy có 3 người trưởng thành (1 nữ 40-49 tuổi, 1 nữ 20-29 tuổi, 1 nam 30-39 tuổi), 3 trẻ em từ 1-4 tuổi và 1 thiếu niên từ 10-14 tuổi Việc phân tích nhân chủng cũng đi đến nhận định rằng trong khi người An Sơn có các chỉ số răng gần gũi với răng của cư dân Jomon và Hoà Bình thời kỳ Holocene, các số đo sọ cũng cho thấy sự gần gũi với cư dân Đông Sơn thời
kỳ Đồ Đồng, người Việt và những người Đông Á hiện đại Điều đó gợi ý rằng cư dân An Sơn bảo lưu một số đặc điểm gien của các nhóm cư dân bản địa Đông Nam
Trang 23Á sớm hơn, nhưng cũng xuất phát từ một quá trình di cư từ các khu vực khác của Đông Á [155, tr.165]
Tại địa điểm Giồng Phệt (Thành phố Hồ Chí Minh), trong đợt khai quật tháng 2 năm 1993 đã phát hiện 59 mộ chum nhưng cho đến nay, chưa có kết quả xác định Vào tháng 4 năm 1993, các nhà khảo cổ tiếp tục phát hiện 5 mộ táng và 1
mộ vò, tuy nhiên, các di cốt không còn nguyên vẹn Đến cuối năm 1993, cũng tại địa điểm này, các nhà khảo cổ học tiếp tục phát hiện 3 mộ đất và 3 mộ chum Trong
đó, có một bộ di cốt có hộp sọ còn tương đối nguyên được xác định giới tính nam, khoảng 50-60 tuổi, có quan hệ gần gũi với sọ của người Mongoloid, cư dân Đông Sơn (nhóm loại hình Đông Nam Á)
Tại địa điểm Giồng Cá Vồ, các cuộc khai quật trong các năm 1993, 1994 và
1997 đã phát hiện 359 mộ chum và mộ đất, trong đó 24 sọ (13 sọ nam và 11 sọ nữ)
đã được Nguyễn Lân Cường đưa đi nghiên cứu Tuy nhiên chỉ 6 sọ có đủ yếu tố xác định nhân chủng, trong đó có 5 sọ nữ khá gần với những sọ nữ thuộc nhóm loại hình Đông Nam Á của văn hóa Đông Sơn có đặc trưng của chủng tộc Mongoloid Nam Á [19, tr.187]
Tại địa điểm Lộc Giang (Long An) đã phát hiện một hộp sọ của phụ nữ khoảng 30 - 35 tuổi trong tầng văn hóa Óc Eo Tuy không còn nguyên vẹn, song Nguyễn Lân Cường cho rằng sọ có một số nét của người Mongoloid [19, tr.185]
Tại khu vực Gò Rạch Rừng, huyện Mộc Hoá, Long An, nhân dân đã phát hiện 8 bộ xương cốt cùng với một số đồ trang sức bằng đá, mảnh gốm, xương động vật Trong đó, có 3 sọ có thể nghiên cứu được: 1 sọ của một người phụ nữ khoảng
25 tuổi, cao 1,54m; 1 sọ của một người nam giới khoảng 60 tuổi, cao 1,65m; 1 sọ của một người phụ nữ khoảng 65 tuổi, cao 1,57m; Nguyễn Quang Quyền cho rằng
họ thuộc loại hình “thượng cổ” gần giống với Melanesien Tuy nhiên, Nguyễn Lân Cường có các số đo hơi khác và cho rằng đây chính là những người Indonesien cổ
Năm 1997 tại địa điểm Gò Ô Chùa, các nhà khảo cổ học đã phát hiện 2 di cốt (trong số 12 di cốt) được xác định là của một cá thể nam, khoảng 40 tuổi, cao 1,67m
và một cá thể nam, khoảng 18-20 tuổi, cao 1,63m Sọ của hai cá thể này gần nhất với sọ người Việt [19, tr.182]
Trang 24Tại di tích Cạnh Đền (Trăm Phố), Malleret phát hiện 7 sọ người và được xác định là thuộc thời đại Đồng – Đá, cách ngày nay 4000 năm Theo E Genet Varcin, đây là những sọ của người Indonesien Hai sọ và một số xương cốt do các nhà khảo
cổ học Việt Nam phát hiện sau này, cũng trong khu vực phát hiện được nhóm di cốt nói trên, được Nguyễn Quang Quyền cho là có các đặc điểm của người Thượng (Indonesien), với nhiều đặc điểm của đại chủng Australoid [59, tr.247-250]
Tại di tích Gò Tháp, các nhà khảo cổ học cũng đã phát hiện một số di cốt người cổ Trong đó, sọ kí hiệu ĐT.84.TS.X.03 có dáng rất giống sọ Cạnh Đền (sọ Thnal Mroy 24.359, nữ 30 tuổi) Lê Trung Khá cho rằng, sọ ở Gò Tháp và Cạnh Đền thuộc cùng thời kì văn hóa Óc Eo hay sớm muộn hơn đôi chút, có nhiều nét tương tự sọ nữ cổ ở An Sơn và Samrongsen và mang đặc điểm của người Thượng, nhóm người được xếp vào tiểu chủng hay loại hình nhân chủng Indonesien Di duệ của lớp người này hiện nay vẫn còn ở Đông Nam Á lục địa và hải đảo [59, tr.247-250]
Một sọ cổ (OE84.TS.X01) của cá thể nam, khoảng 30 tuổi phát hiện ở Lung Lớn cũng có dáng dấp giống sọ Gò Tháp nhưng kích thước lớn và thô hơn Kết quả nghiên cứu cho thấy sọ có thể có cùng niên đại với sọ Gò Tháp và Cạnh Đền, thuộc chủng Indonesian [59, tr.247-250]
Tại di tích Nhơn Thành (Cần Thơ), phát hiện 1 sọ nam khoảng 55-60 tuổi và 2 sọ trẻ em khoảng 8-11 tuổi, được Nguyễn Quang Quyền xác định thuộc loại hình Thượng hoặc Việt Cũng tại di tích này, 2 sọ khác của một nam và một nữ, đều ở độ tuổi 60 được Nguyễn Lân Cường và nguyễn Kim Thuỷ xác định thuộc nhóm người Việt
Tại địa điểm Gò Cây Tung (An Giang), trong các cuộc khai quật năm
1993-1994 đã phát hiện 19 ngôi mộ và có tới 23 cá thể, có niên đại khoảng thế kỉ 6-5 TCN đến 4-5 SCN Các di cốt đã được xác định gồm 7 nữ, 9 nam và 7 cá thể không xác định, hầu hết các cá thể ở độ tuổi 20-50, 1 cá thể gần 70 tuổi Các sọ thuộc loại ngắn, mặt thuộc loại rộng trung bình, nghiêng về hẹp ở nữ và rộng ở nam, được cho
là gần gũi với sọ của cư dân Thái Lan, Việt và cư dân Đông Sơn cổ (nhóm loại hình Đông Nam Á), khác biệt hẳn với người Thượng và người Khmer [19, tr.188-189]
Như vậy, từ những nghiên cứu nhân chủng, chủ yếu phát hiện trong các di tích tiền Óc Eo và Óc Eo sớm, có thể thấy sự có mặt của nhiều nhóm tộc người khác
Trang 25nhau trên vùng đất Nam Bộ Trong đó, các nhà nghiên cứu nhân chủng cho rằng, nét nổi bật của cư dân cổ ở vùng Nam Bộ là những người Mongoloid gần gũi với người Việt, nhóm loại hình Đông Nam Á của người Đông Sơn
Khi nói về chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo, thư tịch Trung Hoa cho biết
người Phù Nam có nước da đen, tóc quăn, mặt tròn, mũi ngắn Nam sử và Thông chí cũng mô tả người Phù Nam nước da đen, xấu, búi tóc (có lẽ là chỉ phụ nữ, như Lương
thư cũng nói đến), vẽ mình, ở trần, đi chân đất Những mô tả này cho thấy những
phong tục gần gũi với các nhóm cư dân vùng Tây Nguyên (người Thượng), theo chế
độ mẫu hệ, vốn là hậu duệ của lớp cư dân bản địa có nguồn gốc từ sự kết hợp giữa các tộc người nói tiếng Nam Đảo với các tộc người nói tiếng Môn-Khmer [132, tr.50-55]
Ngoài ra, qua các ghi chép của sứ thần Trung Hoa, truyền thuyết và bia kí, có thể thấy rằng từ khoảng đầu Công nguyên người Ấn Độ đã có mặt trên vùng đất này Điều này được thể hiện trước hết qua cuộc hôn nhân của thủ lĩnh địa phương (Liễu Diệp) với giới quý tộc người Ấn Độ (Hỗn Điền) Những dấu tích sớm của các ngôi nhà lợp ngói kiểu Ấn Độ, các loại đồ gốm cao cấp có bề mặt miết bóng màu vàng bò (buff ware) kiểu Ấn phủ thành lớp dày trong hố khai quật tại Gò Tư Trâm cho thấy ở đây có thể đã có những kiều dân Ấn hoặc ít nhất là những người mang hai dòng máu Ấn và bản địa Từ những đồ trang sức và một số điêu khắc thể hiện sâu đậm những ảnh hưởng Ấn Độ, có thể cho rằng đã có các nhóm thợ thủ công người Ấn cư trú trong vùng Các giáo sĩ và nhà sư người Ấn không chỉ theo các con tàu đi truyền giáo, mà còn định cư một số nơi trong vùng Đông Nam Á, trong đó có vùng đất Nam Bộ Họ đặc biệt được coi trọng trong triều đình Phù Nam Vào năm
484, vua Jayavarman (Đồ Gia Bạt Ma) còn cử nhà sư Na Gia Tiên (Nagasena) sang
sứ Trung Quốc Từ các nguồn tư liệu trên, không thể phủ nhận rằng có một số lượng cư dân gốc Ấn đáng kể trong thành phần dân cư nơi đây
Ngoài ra, các tác phẩm mang tính chất tôn giáo, những tượng đất nung nhỏ hoặc các hình nhân phát hiện ở Óc Eo (An Giang), Nhơn Thành (Cần Thơ), Gò Tháp (Đồng Tháp), cho thấy yếu tố của các nhóm cư dân ngoại lai từ Trung Hoa và các khu vực khác Các điêu khắc tôn giáo cũng đã phản ánh phần nào thành phần dân cư trong cộng đồng Óc Eo Điều này được thể hiện qua các điêu khắc của hai vị
Trang 26thần Vishnu và Siva trong khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I với khuôn mặt khá nặng
nề, có đôi má bầu, mũi to, mặt hơi ngắn Từ thế kỉ 7 trở đi, phát triển các điêu khắc nhân thể có khuôn mặt vuông vức hơi dài, trán phẳng Có thể cho rằng đây là các hình ảnh của hai tộc người khác nhau trong xã hội Óc Eo
Từ những kết quả phân tích cổ nhân học, khảo cổ học và tư liệu của thư tịch
cổ Trung Hoa cho thấy chủ nhân nền văn hóa Óc Eo - Phù Nam là người bản địa thuộc chủng Indonesien Trong quá trình phát triển, họ có sự tiếp xúc và cộng cư với những yếu tố nhân chủng khác tạo nên cộng đồng cư dân Óc Eo cùng nhau xây dựng nên vương quốc Phù Nam hùng mạnh
1.3 Lịch sử nghiên cứu và các dấu tích văn hóa Óc Eo
1.3.1 Lịch sử nghiên cứu
Lịch sử phát hiện và nghiên cứu nền văn hóa Óc Eo ở đồng bằng Nam Bộ không phải là một quá trình liên tục về thời gian Nó được biết đến từ rất sớm qua các thư tịch cổ Trung Quốc Người đầu tiên thu thập và dịch những tư liệu này chính là nhà nghiên cứu người Pháp P.Pelliot Ông đã thu thập từ 22 tư liệu cổ Trung Quốc liên quan đến vương quốc Phù Nam Đây là nguồn tư liệu chữ viết quý giá, các thông tin vô cùng phong phú, cho ta thấy được toàn cảnh đời sống xã hội của cư dân Phù Nam lúc bấy giờ Hầu hết các nhà nghiên cứu sau này đều sử dụng nguồn tư liệu này để nghiên cứu, xem nó như là một công cụ hữu hiệu để tìm hiểu
về vương quốc cổ đại này Tuy nhiên, những thông tin từ các thư tịch khá phức tạp,
vì có phần ghi trực tiếp qua các sứ giả, qua quan hệ bang giao, có phần ghi qua những truyền thuyết trong khu vực, những lời kể gián tiếp, hoặc người sau chép lại người trước [73, tr.178]…, không phải là những chứng cứ xác thực để xác minh nền văn minh cổ đại này
Đến nửa sau thế kỷ XVIII đầu thế XIX, nhiều nhà nghiên cứu người Pháp và các học giả phương Tây đã phát hiện một số bia ký và thu thập hàng loạt di vật khảo
cổ học có niên đại khoảng thế kỷ I đến thế kỷ X SCN ở nhiều tỉnh Nam Bộ: năm
1879, A.Corre đã lượm được một số cổ vật và thấy hai tấm bia đá khắc chữ Phạn; đến năm 1912, O.Connel đã phát hiện một pho tượng thần Vishnu khổng lồ; trong các năm 1922, 1928, 1936 Suzanne, Karpeles, Jean Bouchot, F.Fraisse, H.Parmenlier
Trang 27đã lần lượt tìm thấy nhiều di tích, di vật mà phần lớn là tượng thần, linh vật thờ bằng đá, tấm đá có chạm trổ Những di vật này chủ yếu nằm ở khu vực Ba Thê Điều này đã phần nào chứng minh cho giả định ở vùng ĐBSCL đã từng có một
vương quốc tồn tại mà thư tịch cổ Trung Quốc nhắc đến là “vương quốc Phù Nam”
Cũng trong khoảng thời gian này, ở vùng đồng bằng miền Tây như Cạnh Đền, Tân Long, Prasat pream Loven (Gò Tháp), di tích những đường nước cổ từ Angkor Borei đến Ba Thê cũng đã được phát hiện Chính từ những phát hiện này đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, trong đó, nhà khảo cổ học người Pháp L Malleret - là người có những đóng góp quan trọng trong việc phát hiện và có những nghiên cứu tiên phong cho nền văn hóa này
Những năm sau đó (1938 - 1945), L.Malleret và các cộng sự đã tổ chức nhiều cuộc thăm dò, khảo sát, khai quật và phát hiện nhiều di tích mới ở vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Đến năm 1959 - 1963, những nghiên cứu trước đó của ông, chủ yếu là cuộc khai quật ở Óc Eo, lần lượt được giới thiệu trong 4 tập
sách: “L’archéologie du Delta du Mékong” Tập I (1959) mô tả khá chi tiết các loại
hình di tích, di vật được phát hiện ở vùng Hậu Giang Tập II (1960) trình bày những nghiên cứu của mình về các hiện vật thu được, đặc biệt là đồ gốm Tập III (1962) khảo cứu các loại hình đồ trang sức bằng kim loại quý, đá quý… Tập IV (1963) ngoài phần trình bày những phát hiện mới ở vùng Tiền Giang, ông còn phân tích diện mạo của nền văn minh Óc Eo ở vùng ĐBSCL Công trình này (4 tập) đã công
bố những phát hiện, mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà khoa học Nhiều dấu vết kiến trúc bằng gạch, bằng đá; nhiều cọc gỗ, nhà sàn; nhiều di vật bằng gốm, đất nung, đá, đồng, chì, thiếc, vàng, bạc, đá quý, thuỷ tinh…; nhiều tàn tích thực vật, xương cốt động vật nằm trong hai lớp cư trú khác nhau, ở độ sâu từ 0,60 - 2,20m đã được L.Malleret phân tích, từ đó đưa ra nhận định: Óc Eo là một đô thị có hoạt động mậu dịch, thương mại - là một thành phố cảng có vị trí quan trọng về kinh tế, văn hóa và chính trị Tại địa điểm di tích Óc Eo đã có một quá trình cư trú lâu dài
và đây được coi là một cảng biển quốc tế đặc biệt phát triển lúc bấy giờ Thông qua các hiện vật, nội dung của tập sách đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến đời sống của cư dân Óc Eo Tuy nhiên, tập sách chủ yếu trình bày những phát hiện khảo
Trang 28cổ ở vùng châu thổ sông Cửu Long trong vòng mấy chục năm trước đó Còn rất nhiều vấn đề mang tính chất khoa học về nền văn hóa này chưa được làm rõ như phạm vi phân bố, đặc điểm, nội dung, quá trình phát triển và suy vong của văn hóa
Óc Eo Vấn đề cuội nguồn và mối liên hệ của văn hóa Óc Eo với vương quốc Phù Nam, Chân Lạp và Chămpa… vẫn cần chúng ta tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu
Từ sau các hoạt động nói trên của các nhà khảo cổ người Pháp, vì chiến tranh
và các lý do khác nhau nên trong vài thập niên sau đó, không có một cuộc khai quật, nghiên cứu nào về văn hóa Óc Eo ở vùng TNB Các công trình nghiên cứu trước đó chỉ mang tính chất mô tả, giới thiệu, giải thích sơ lược dưới nhiều giác độ khác nhau
về nền văn hóa Óc Eo ở miền TNB, là hướng gợi mở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo, chưa đi sâu vào phân tích từng khía cạnh và minh định một cách có hệ thống về nền văn hóa này
Sau năm 1975, khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước hoà bình thống nhất, việc nghiên cứu các nền văn hóa cổ trong cả nước được nhiều cơ quan khoa học, cơ quan quản lý nhà nước và các nhà khoa học, các cuộc hội thảo đặc biệt quan tâm Không ít nghiên cứu sinh chọn những vấn đề có liên quan đến nền văn hóa Óc Eo làm đề tài nghiên cứu của luận án Có nhiều NXB, tạp chí khoa học đã đăng tải những công trình nghiên cứu của các tác giả viết về văn hóa Óc Eo như Đào Linh Côn, Lê Xuân Diệm, Võ Sĩ Khải, Lê Thị Liên, Nguyễn Thị Hậu, Bùi Phát Diệm, Đặng Văn Thắng…; một số cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu chuyên ngành cũng đã triển khai nghiên cứu các đề tài, dự án cấp Nhà nước, cấp bộ như Viện Khảo cổ học, Viện KHXH tại TP.HCM… Đến nay, có thể cho rằng, đã có hàng trăm công trình nghiên cứu liên quan đến từng mặt của văn hóa Óc Eo, trong
đó, chủ yếu là của các nhà khảo cổ học nghiên cứu về các di tích, di vật đang nằm sâu dưới lòng đất Bức tranh về vương quốc Phù Nam và nền văn minh Óc Eo ngày càng hiện ra một cách rõ ràng hơn
- Nghiên cứu về đời sống văn hóa vật chất của văn hóa Óc Eo
Về lương thực, thực phẩm: Đã được một số tác giả nhắc đến qua việc phát
hiện dấu tích lúa gạo và các loại xương động vật trong các di tích cư trú Trong một bài viết, Võ Sĩ Khải đã đề cập đến, Óc Eo “là một xã hội nông nghiệp trồng lúa
Trang 29nước, lương thực chính hiển nhiên là cơm Thức ăn gồm cả các loại thịt rừng, hải sản và thú nuôi (tôm, cá, sò, ốc, trâu, bò, hươu, nai, lợn rừng, lợn nhà, chó và cả voi), các loại rau củ (dừa, trám, củ năng )” [65, tr.399] Trong một nghiên cứu khác, tác giả cùng với Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn cũng đã khẳng định việc “phát hiện dấu vết của nhiều cánh hoa, cọng hoa và lá cây tương đối còn nguyên dạng” và hàng chục tiêu bản xương răng động vật như: “lợn rừng, lợn nhà, hươu đầm lầy, voi, trâu, bò, cá sấu, cá, rùa, chuột ” [26, tr.429]
Tuy nhiên, trong những công trình này, các tác giả chỉ đề cập đến các dấu tích lúa gạo, di cốt động vật, các loại rau củ dưới dạng báo cáo khảo cổ học hoặc
là những phát hiện mới về mặt khảo cổ học Đây sẽ là những cứ liệu xác thực nhất
mà luận án kế thừa nhằm làm rõ những đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của cư dân
Óc Eo ở miền TNB
Về trang phục, theo Võ Sĩ Khải, trang phục của cư dân Óc Eo có sự khác
biệt, tuỳ theo tầng lớp trong xã hội mà có những cách mặc khác nhau “phụ nữ mặc váy dài, phần trên để trần hoặc phủ kín; đàn ông đóng khố ngắn, phần trên để trần,
cả nam lẫn nữ đều đeo nhiều đồ trang sức, bùa đeo” [149, tr.399] Theo các tác giả
Lê Thị Liên [85], Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải [26], có thể nhận biết trang phục trong xã hội Óc Eo thông qua các tượng người, tượng thần và tượng Phật Tượng nam thần và nữ thần đều có trang phục tương đối giống nhau: đầu đội
mũ, phần trên cơ thể để trần, phía dưới quấn sampot (nam) hay mặc váy (nữ) và đeo thắt lưng Với tượng Phật, tác giả chia làm hai loại trang phục: Loại thứ nhất khoác
áo cà sa hở một bên vai; loại thứ hai khoác áo cà sa kín hai vai, dài đến mắt cá chân
Như vậy, qua những di vật tìm thấy ở các di tích cư trú, di tích kiến trúc văn hóa Óc Eo như các pho tượng người, tượng thần, tượng Phật và các hình vẽ trên một
số di vật khác các tác giả đã đưa ra những nhận định về trang phục của cư dân Óc Eo Tuy nhiên, những nhận định này chỉ được các tác giả nhắc đến một cách khái quát trong quá trình phân tích các di vật Tác giả luận án dựa vào các báo cáo khảo cổ, những nhận định của các tác giả đi trước về trang phục của các vị thần, phật để phân tích các loại trang phục của cư dân Óc Eo, thông qua đó làm rõ thái độ ứng xử của con người với môi trường tự nhiên vùng TNB những thế kỷ đầu Công nguyên
Trang 30Về cư trú, các tác giả Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải [26] đã lần
lượt liệt kê các di chỉ cư trú, kiến trúc tôn giáo, mộ táng trong văn hóa Óc Eo Theo các tác giả, cư dân Óc Eo chủ yếu sống trên nhà sàn, có một số dấu vết của kiến trúc gạch ngói, nhưng đó có thể là kiến trúc của các đền thờ Tác giả Lê Thị Liên cũng cho rằng, “kiến trúc nhà sàn là một trong những hình thức cư trú của cư dân Óc Eo” còn cấu trúc kiên cố chủ yếu ở “trên gò hoặc vùng cao, dấu vết kiến trúc chỉ được nhận thấy qua các mảnh gạch vỡ trong tầng văn hóa hoặc trên bề mặt” [80, tr.437-442] Còn theo Võ Sĩ Khải, cư dân Óc Eo sống chủ yếu trên nhà sàn hoặc thuyền
bè, chỉ có những ngôi đền, chùa mới được xây dựng kiên cố [149, tr.400] Cũng trên quan điểm cư dân Óc Eo cư trú trên nhà sàn, Huỳnh Công Bá cho rằng, “cư trú trên nhà sàn là một truyền thống lâu đời” và họ còn biết “đắp đất thành các gò rộng hàng hécta làm nền móng cho kiến trúc đền thờ hay khu mộ táng” [1, tr.288]
Những công trình này đã đề cập đến một số hình thức cư trú của cư dân Óc
Eo như: cư trú trên nhà sàn, thuyền bè và nền gạch Tuy nhiên, nó chỉ dừng lại ở việc nêu lên một cách sơ lược về các hình thức cư trú, chứ chưa đi sâu phân tích, lý giải tại sao cư dân Óc Eo lại chọn những hình thức cư trú này Trên cơ sở các công trình đi trước, tác giả luận án sẽ kế thừa, làm rõ hơn về mô hình cư trú, các hình thức
cư trú và thái độ ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên mà họ đang sinh sống thông qua việc lựa chọn các hình thức cư trú thích hợp với môi trường sống
Về giao thông, Các tác giả Võ Sĩ Khải [65], Đào Linh Côn [14] đều cho rằng,
cư dân Óc Eo đi lại bằng cả đường thuỷ (đường biển, đường sông và các kênh đào) lẫn đường bộ (sử dụng các loài voi, ngựa và có thể cả trâu bò) Các tác giả khẳng định rằng, giao thông đường sông và đường biển trong thời đại Óc Eo khá phát triển
và đóng vai trò thiết yếu trong việc giao lưu văn hóa, kinh tế giữa các vùng trong khu vực với nhau Đặc biệt, theo Bùi Phát Diệm, chức năng của hệ thống kênh đào không chỉ là tiêu, thoát nước cho đồng bằng ngập nước mà còn phục vụ rất hữu hiệu cho việc đi lại Người ta còn “thiết kế nhiều con tàu có thể di chuyển trên chính những dòng kênh đó” [152, tr.363]
Trong một công trình khác [148], Dương Văn Truyện, Võ Sĩ Khải, Lưu Nghĩa cho rằng, những di chỉ khảo cổ học thuộc văn hóa Óc Eo phần lớn được phân
Trang 31bố ở các điểm tụ, đầu mối của những tuyến giao thông và được nối liền với nhau bằng những đường nước cổ tạo thành một hệ thống đường thuỷ rộng lớn trên phần châu thổ phía nam sông Hậu
Về phương tiện giao thông, hiện nay, 3 di tích văn hóa Óc Eo đã tìm thấy dấu tích thuyền gỗ Đó là địa điểm Xoa Ảo, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang Tại đây, Phan Thanh Toàn và các đồng nghiệp ở BTKG đã phát hiện phần mũi thuyền gỗ, đầu mũi thuyền có xích và neo sắt, trong thuyền tìm thấy khá nhiều gốm
Óc Eo và tiền Óc Eo Do chưa khai quật nên di tích tại thời lấp lại [139, tr.706-708] Phát hiện thuyền thứ hai ở Giàn Gừa, Kiến Lương, Kiên Giang và thứ ba là ở xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ Những phát hiện này được Nguyễn Quốc Mạnh, khoa Khảo cổ, trường Đại học KHXH Tp Hồ Chí Minh công
bố trong các bài báo cáo khảo cổ học
Những phát hiện và các công trình nghiên cứu này sẽ là gợi ý quan trọng, là chứng cứ xác thực để chúng tôi mạnh dạn đưa ra những lý giải của mình trong vấn
đề đi lại của cư dân Óc Eo
Về các ngành sản xuất, thông qua những di vật phát hiện được có thể thấy,
các ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đặc biệt phát triển
Các tác giả đều cho rằng, nông nghiệp có vị trí, vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của cư dân Óc Eo, đặc biệt là nền nông nghiệp lúa nước Theo Võ Sĩ Khải “cảng thị Óc Eo đã hình thành từ một xã hội nông nghiệp lúa nước, thuộc dạng trồng lúa đầm lầy với một hệ thống kênh đào hỗ trợ cho cây lúa”,
cư dân Óc Eo đã biết cấy các loại lúa (Oryza sativa) và khai thác các loại lúa trời (Oryza prosativa và Oryza nivara proparte) Tác giả còn khẳng định “nền kinh tế
nông nghiệp của cư dân Óc Eo đã thoát khỏi tình trạng tự phát, đã có tính cộng đồng, có tổ chức quy mô rộng lớn trên toàn miền TNB vào những thế kỷ đầu Công nguyên” [149, tr.394-395]
Theo tác giả Huỳnh Công Bá [1] và Đinh Trung Kiên [67]: Óc Eo chính là quê hương của các loài lúa nổi, người Óc Eo có thể trồng nhiều loại lúa khác nhau, còn có thể làm nương rẫy, khai thác thuỷ, hải sản Còn tác giả Nguyễn Xuân Hiển thì cho rằng, nghề trồng lúa ở ĐBSCL đã phát triển từ rất sớm, khoảng từ thế kỷ I
Trang 32đến thế kỷ VII SCN “Nghề trồng lúa có nhiều phần chắc chắn là một nội dung
chính của hoạt động nông nghiệp, chi phối toàn bộ hoạt động này trong một môi
trường phổ biến là sình lầy, ẩm thấp” [38, tr.239]
Cùng chung quan điểm này, tác giả Đào Linh Côn [14] cho rằng, xã hội Óc Eo
đã có nghề trồng lúa phát triển ở cả vùng cao lẫn vùng thấp Trong đó, tác giả đã phân tích bốn khía cạnh của nghề nông: nghề trồng lúa của cư dân Óc Eo đã phát triển đến một trình độ nhất định, họ biết sản xuất nhiều giống lúa khác nhau (lúa cạn, lúa nước và lúa nổi); có hệ thống kênh đào chằng chịt trên khắp vùng, vừa đáp ứng nhu cầu trong sinh hoạt, giao thông, vừa đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho nghề nông; nghề làm vườn trồng các loại cây ăn củ, ăn quả, trồng hoa đã khá phát triển (dừa, cau, mãng cầu xiêm, các loại hoa sen, Actisô, cúc ); nghề nông phát triển, lương thực dồi dào là cơ sở cho hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển theo…
Để so sánh sự khác nhau trong sản xuất nông nghiệp của một số nước thuộc vùng Nam Bộ cổ đại, Lê Thị Liên và Tống Trung Tín cho rằng, Phù Nam và Chân Lạp đều là những nước có nền nông nghiệp phát triển Trong đó, “Người Phù Nam trồng lúa nước đại trà, phải đương đầu với việc thoát thuỷ cho cả một vùng đất châu thổ rộng lớn hơn là việc dẫn thuỷ nhập điền”; còn “Người Chân Lạp, trái lại, quen khai thác đất núi đồi, lợi dụng nước thiên nhiên chảy theo sườn dốc Họ phải dự trữ nước mùa mưa để tưới ruộng vào mùa khô” [4, tr.19]
Trong khuôn khổ các bài báo cáo khoa học, bài tạp chí, những kiến thức mà các tác giả đưa ra là những thông tin khoa học, với cách lý giải xác đáng Các tác giả không chỉ dựa vào những dấu tích lúa gạo mà còn dựa vào các tư liệu thư tịch cổ
để lý giải, phân tích Vì vậy, đây là những tư liệu quan trọng bên cạnh tư liệu khảo
cổ học, để giúp chúng tôi mạnh dạn thực hiện luận án của mình
Về thủ công nghiệp, tác giả Võ Văn Khải [64] khẳng định, các nghệ nhân ở đây có tay nghề rất cao, có thể nói đã đạt đến trình độ tinh xảo Bằng chứng là những vật dụng trong sinh hoạt thường ngày và trong sản xuất hay những đồ trang sức được các nghệ nhân trang trí bằng nhiều đề tài hoa văn từ đơn giản đến tinh vi Theo tác giả, người thợ thủ công ở đây đã để lại những dấu ấn riêng của cá nhân và của nhóm thợ Còn theo tác giả Đào Linh Côn [14], có thể phân loại được nhiều
Trang 33ngành nghề: mộc, đá, tạc tượng, xây dựng, đóng thuyền, gốm, dệt, đúc thuỷ tinh, luyện kim Thời kỳ này đã có những người thợ với tay nghề khéo léo và sự phân công lao động rõ ràng trong từng ngành nghề Tuy nhiên, những công trình này cũng chỉ đề cập một cách khái quát, chưa đi sâu phân tích sự thể hiện của từng ngành nghề thông qua các di vật Những gợi ý của những công trình trên có ý nghĩa quan trọng để luận án kế thừa và có hướng đi đúng đắn
Theo tác giả Vương Thu Hồng, “ngay từ đầu Công nguyên, vùng Đồng Tháp Mười đã có một cụm di tích xưởng chế tác hạt chuỗi và đồ kim hoàn có mối quan hệ gần với di chỉ Óc Eo (An Giang), Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ (Cần Giờ, Tp HCM) và có mối quan hệ xa với các di chỉ sản xuất hạt chuỗi nổi tiếng của Thái Lan [150, tr.823]
Khi phân tích các loại hình gốm ở di chỉ cư trú Gò Tháp, Nguyễn Quốc Mạnh [95] khẳng định, đồ gốm trong di tích Gò Tháp rất đa dạng, phong phú về chủng loại cũng như công dụng của nó, được thể hiện qua các hiện vật: bình, nồi,
vò, chậu có quai cầm, bát bồng, bát, tô nhỏ, nắp đậy, ly cốc, chum nhỏ, chai gốm, cà ràng, khuôn làm gốm Đồ gốm ở đây được sản xuất rất tinh xảo; hoa văn đa dạng về
loại hình, “được tạo bởi nhiều kỹ thuật tạo văn khắc khác nhau, gồm: văn đập, in,
vạch, đắp nổi, cắt lộng và vẽ - tô màu” [tr.78] đã thể hiện được tay nghề điêu luyện của người thợ làm gốm Tác giả khẳng định rằng, “đồ gốm được sản xuất tại chỗ”, tuy nhiên, nó lại được “tiếp nhận mạnh mẽ các yếu tố văn hóa từ bên ngoài, đặc biệt
là từ văn hóa Ấn Độ” [tr.122]
Các công trình nêu trên đã đề cập đến các ngành nghề thủ công một cách khá
cụ thể, thông qua việc phân tích các di vật được phát hiện Đây là tài liệu liên quan, xuyên suốt đề tài Bởi các di vật được phát hiện và những phân tích trong các công trình trên không chỉ sử dụng cho các ngành nghề thủ công mà còn là minh chứng cho những phong tục, tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, giao lưu văn hóa mà luận án sẽ choc hiện Các tác giả mô tả, phân tích các di vật để người đọc thấy được sự phát triển phong phú, đa dạng của nhiều ngành nghề thủ công khác nhau và làm tăng tính tin cậy của tư liệu Nhưng điều mà chúng tôi còn thấy trăn trở ở đây chính là cách giải mã văn hóa của các di vật tìm thấy trong văn hóa Óc Eo Nhìn chung, các di vật còn ẩn chứa nhiều ý nghĩa hơn thế
Trang 34Cùng với nông nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển rực rỡ trong xã hội Óc
Eo Tại đây đã xuất hiện những trung tâm thương mại mang tầm cỡ quốc tế, điều này được các tác giả Hà Văn Tấn [148], Võ Sĩ Khải [150] chứng minh qua một số
di vật ngoại nhập phát hiện trong các di tích Óc Eo Các tác giả Cao Xuân Phổ [113, tr.238], Bùi Phát Diệm [150] cũng cho rằng, Óc Eo đã từng phồn thịnh trong 4 thế
kỷ đầu Công nguyên, họ đã biết tổ chức thu mua các loại hàng hoá từ sản phẩm thô đến qua chế biến; trao đổi hàng hoá thông qua các thương nhân bên ngoài Theo các tác giả, “Sự thịnh vượng của Óc Eo chủ yếu là dựa trên buôn bán” và sự suy thoái của Óc Eo chủ yếu cũng chỉ vì dựa trên buôn bán” Tuy nhiên, sự suy thoái của vương quốc Phù Nam không chỉ vì sự suy thoái nền thương nghiệp mà còn nhiều lý
do khác Song các bài viết này là những tư liệu quý giá, gợi ý cho nghiên cứu của chúng tôi trong việc tìm hiểu về nguyên nhân suy vong của vương quốc Phù Nam
và tầm quan trọng của việc giao thương đối với Phù Nam và các quốc gia cổ đại
- Nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Óc Eo
Khi nghiên cứu về tôn giáo và tín ngưỡng của cư dân, các tác giả đều thống
nhất, thời kỳ này, cả Phật giáo và Hindu giáo đều đã phát triển một cách mạnh mẽ Điều này được tác giả Lê Thị Liên [85; 139] phân tích một cách khá cụ thể trong một
số công trình đã công bố Theo tác giả, khi lan truyền đến vùng ĐBSCL thì Phật giáo
và Hindu giáo đã biến đổi không còn giống như nơi phát sinh nữa Đồng nhất quan điểm này, tác giả Trương Sỹ Hùng [51] cho rằng, ở Phù Nam, các tôn giáo được du nhập từ rất sớm, chủ yếu là Ấn Độ giáo và sau đó là Phật giáo Ấn Độ giáo có vai trò rất quan trọng trong đời sống của cư dân Phù Nam Theo tác giả, khi được du nhập vào vùng đất này, các tôn giáo đều được thế tục hoá, bản địa hoá cho phù hợp với đời sống văn hóa và con người nơi đây
Nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Duy Hinh [40] cho rằng, Phật giáo truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam rất sớm, sau đó mới tiếp thu một số ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc Cảng thị Óc Eo được xem là trung tâm thương mại quốc tế, các thuyền buôn muốn đến Trung Quốc đều phải qua cảng Óc Eo Theo
ông, “Cửa biển Óc Eo là nơi thuyền buôn từ Ấn Độ đến đậu Nhiều nhà sư Ấn Độ mang theo kinh Phật cung cấp nguồn tư liệu cho người Phù Nam…” [tr.169-170]
Trang 35Trong công trình này, tác giả còn cho rằng, Phù Nam và Trung Quốc có mối quan hệ rất mật thiết thể hiện qua việc các “kinh Phật được đưa từ Phù Nam sang triều đình nhà Lương để dịch” [tr.163] Tuy nhiên, công trình chỉ giới thiệu một cách sơ lược mối quan hệ của Phật giáo giữa hai nước, còn mối quan hệ đó diễn ra như thế nào và
sự thể hiện mối quan hệ đó qua các di vật thì chưa được đề cập đến Đây là khoảng trống cho luận án tiếp tục nghiên cứu
Trong bài viết đăng trên tạp chí Khảo cổ học, tác giả Đặng Văn Thắng và Võ
Thị Huỳnh Như [127], Dương Thị Ngọc Minh [98] khẳng định, Gò Tháp là một trung tâm tôn giáo của cư dân Óc Eo ở miền TNB Các tác giả đã thống kê một số lượng lớn các di vật tìm thấy để chứng minh cho điều này
Chúng tôi được chỉ dẫn và kế thừa nhiều qua những lý giải, phân tích sâu sắc
từ các công trình này Bên cạnh hệ thống các tượng thờ trong các bảo tàng, các bài viết này góp thêm những thông tin, minh chứng cho những nhận định mà chúng tôi
sẽ phân tích trong luận án
Khi nghiên cứu về nghệ thuật, Lê Thị Liên [85] đã phân tích những nét đặc
sắc của tượng tròn và phù điêu, trang trí trên vật liệu kiến trúc và các hiện vật nhỏ Tác giả đã chia sự phát triển nghệ thuật ở khu vực này ra làm bốn thời kỳ: thời kỳ thứ nhất, từ khởi đầu đến thế kỷ IV SCN; thời kỳ thứ hai, từ thế kỷ V đến đầu thế
kỷ VII SCN; thời kỳ thứ ba, từ cuối thế kỷ VII đến thế kỷ VIII SCN; thời kỳ thứ tư, vào thế kỷ IX đến thế kỷ X Công trình này đã phân tích một cách sâu sắc, cụ thể các trường phái nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở vùng ĐBSCL
Theo tác giả Lê Xuân Diệm “các tượng thần được tạc với trình độ nghệ thuật cao, điêu luyện, với tầm vóc lớn thể hiện đầy đủ trình độ cao của nghệ thuật tạc tượng và phản ánh tập trung nhất sự phát triển của Ấn Độ giáo trong cộng đồng người sáng tạo nên nền văn hóa Óc Eo” [148, tr.57-58] Cũng quan điểm này, Võ Sĩ Khải [64] đã phân tích những biểu hiện nghệ thuật trong văn hóa Óc Eo Trước hết
là nghệ thuật trang trí, công trình đi sâu vào phân tích tính nghệ thuật và trình độ thẩm mỹ của các đề tài hoa văn được trang trí trên các vật dụng gốm, đồ trang sức của cư dân Óc Eo Ngoài ra, công trình còn đề cập đến tính thẩm mỹ trong các phong cách nghệ thuật tạc tượng của văn hóa Óc Eo
Trang 36Tác giả Trương Sỹ Hùng cho rằng, nghệ thuật Ấn Độ giáo và Phật giáo trước thế kỷ X ở Đông Nam Á nói chung, miền Nam Việt Nam (Phù Nam) nói riêng đã đạt được những thành tựu đáng kể Đó là sự xuất hiện hàng loạt những pho tượng mang phong cách nghệ thuật Amaravati và Gupta… Sự hiện diện này chứng tỏ, nền văn minh Ấn Độ đã có mặt ở đây từ rất sớm, đặc biệt nghệ thuật Ấn Độ đã “gieo mầm” làm nền tảng cho giai đoạn sau, nghệ thuật bản địa sẽ “nhân giống” Theo tác giả, tất cả những tác phẩm nghệ thuật nơi đây đều “được diễn tả bằng những hình khối cơ thể no đầy, tạo dáng khoẻ với nét mặt mơ mộng… tác phẩm chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Gupta và hậu Gupta rõ nét Bước đầu những đặc tính của nền nghệ
thuật bản địa đã được thể hiện trên từng chi tiết” [51, tr.370]
Những công trình này làm điểm tựa vững chắc cho luận án khi nghiên cứu về
nghệ thuật của cư dân Óc Eo, đặc biệt là công trình “Nghệ thuật Phật giáo và
Hindu giáo ở ĐBSCL trước thế kỷ X” của tác giả Lê Thị Liên Bởi lẽ, nghệ thuật Óc
Eo chủ yếu được thể hiện qua các đề tài tôn giáo
Về phong tục tập quán, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một
cách hệ thống Một số phong tục được đề cập sơ lược trong thư tịch cổ Chỉ có cách thức mai táng được rất nhiều tác giả đề cập đến, đặc biệt là trong các báo cáo khảo
cổ học về loại hình mộ táng, hay các tư liệu thư tịch cổ Trung Hoa cũng từng nhắc đến vấn đề này Trong các công trình, các tác giả miêu tả một cách cụ thể về hình dáng huyệt, xây cất bằng gạch, đá hoặc ghép bằng thanh gỗ và chôn theo loại hình nào, trong các hố huyệt mộ chôn theo những vật tuỳ táng gì
Tác giả Đào Linh Côn đã phân tích từ quá trình phát hiện, cấu tạo của các loại hình mộ nơi đây cho đến các vật tuỳ táng chôn theo ở di tích Nền Chùa Tác giả cho rằng, “Trong các huyệt mộ, ở đáy hộc hoặc đáy huyệt thường có ít than tro Đó
là dấu tích thể hiện những mộ ở khu di tích Nền Chùa được chôn theo tục hoả táng”
[148, tr.187]
Nguyễn Thị Lệ Hằng [146] cũng giới thiệu sơ lược quan niệm về cái chết và tục hoả táng của người Ấn Độ và Phù Nam để đưa ra sự so sánh về điểm khác biệt: đối với người Phù Nam sau khi chết được thiêu và cho tro cốt vào tope hay stupa rồi xây huyệt mộ chôn cất kiên cố để trường tồn với thời gian; người Ấn Độ thì xem
Trang 37nước là một chất thiêng liêng, có thể tẩy uế thân xác và linh hồn, cho nên sau khi hoả táng, tro cốt được đem rải xuống sông
Còn các tác giả Lương Ninh, Võ Sĩ Khải thì cho rằng, người Phù Nam có
“phong tục để tang thì cắt tóc, cạo râu; tang lễ thì có 4 cách: thuỷ táng, hoả táng, thổ
táng, điểu táng” [104, tr.21] Cư dân cổ nơi đây quan niệm “cái chết là một chuyến
đi, đi đến một thế giới khác” [65, tr.62], nên khi chết họ chôn theo các vật dụng thường ngày, những biểu tượng thần linh và vật điêu khắc thể hiện cảnh vật, hoạt
động chăn nuôi, sản xuất
Nguyễn Văn Long [88] đã phân tích cấu trúc các ngôi mộ ở đây và thống kê các vật tuỳ táng Từ đó, tác giả đưa ra giả thuyết “người chết đã được cúng, tế, hoả thiêu rồi đem chôn” Bên cạnh đó, Nguyễn Lân Cường [46], Huỳnh Phước Huệ [146] lại cho rằng, cư dân cổ Nam Bộ thường có hai hình thức mai táng là hung táng trong chum và huyệt mộ đất
Tác giả Nguyễn Trung Chiến và Lê Hải Đăng [10] lại bắt đầu từ việc thống kê các địa điểm di tích mộ táng trên các hải đảo vùng biển miền Nam Việt Nam theo trục dọc từ biển Đông đến vịnh Thái Lan đã chỉ ra sự phân bố các di tích, dung lượng,
số lượng, tình trạng phát hiện, nghiên cứu và bảo tồn các di tích
Qua các cuộc khai quật mộ táng, các tác giả có những giả thuyết về cách thức chôn cất của cư dân Óc Eo Tuy nhiên, các bài viết chỉ dừng lại ở việc miêu tả các ngôi mộ, số lượng các vật tuỳ táng dưới góc độ khảo cổ, chưa làm rõ được những phong tục tập quán trong việc chôn cất người chết của cư dân nơi đây, và việc chôn cất như vậy đã nói lên điều gì Đó chính là những khoảng trống mà luận
án cần tiếp tục nghiên cứu
Chữ viết của cư dân Óc Eo chủ yếu được nhận biết qua các bản văn khắc,
trên những miếng vàng, miếng niêm hàng Phạm Đức Dương cho rằng, nền văn hóa Ấn Độ được chuyển tải qua con đường truyền giáo và buôn bán hoà bình Vì vậy, con đường tiếp xúc ngôn ngữ và văn tự chủ yếu qua đạo Bàlamôn, đạo Phật
Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, vương quốc Phù Nam tiếp nhận nhiều yếu tố văn hóa Ấn Độ Các tôn giáo đóng vai trò quốc giáo Con đường vay mượn ngôn ngữ được chuyển tải qua chữ viết trước hết là các kinh sách Các vua quan bản địa
Trang 38đều thiết lập chế độ vương quyền kết hợp với thần quyền, do đó, nhà vua cùng với tăng lữ rất giỏi ngôn ngữ và văn tự Ấn Độ Chính quyền triều đình và tăng lữ đã du nhập hệ thống chữ viết miền Đông Nam Ấn Độ thuộc kiểu chữ Brahmi, “chữ
Brahmi thể hiện ngôn ngữ Sanskrit, là chữ của thần linh” [32, tr.230] Cũng với
quan điểm này, Võ Sĩ Khải cho rằng, “chữ viết ở vùng châu thổ sông Mekong vào khoảng đầu Công nguyên là một sản phẩm của sự giao lưu văn hóa do các thương nhân, các tu sĩ Phật giáo và Ấn giáo đem đến Văn tự ở di tích Óc Eo là loại chữ Phạn cổ” [65, tr.49]
Tác giả Đào Linh Côn, Bùi Xuân Long cho rằng, trong số 8 bản văn khắc chữ Phạn cổ trên đá phát hiện ở Gò Tháp, có 7 bản nói đến vấn đề liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng, chỉ có một bản là liệt kê các loại tô, thuế mà các làng xã phải đóng góp cho một ngôi đền, được định niên đại vào thế kỷ VI - VII [150; tr.878-879] Còn các tác giả Bùi Phát Diệm, Đào Linh Côn, Vương Thu Hồng đề cập đến bản minh văn xuất hiện ở Gò Xoài Các tác giả đưa ra nhiều cách lý giải khác nhau, nhưng đều thống nhất đây là một bài kệ Pháp thân trong kinh Phật Theo các tác giả, bản minh văn này “được viết bằng ngôn ngữ Pali lai (hybrid Phali) có dấu vết Sanskrit và một thứ văn tự Deccan (Nam Ấn) [25, tr.195-196]
Nhìn chung, những công trình trên chủ yếu là các bài viết mang tính chất giới thiệu khái quát về chữ viết trên các bia ký ở miền TNB Đây là những định hướng quan trọng giúp chúng tôi hiểu sâu sắc hơn khi tiếp xúc với các bản minh văn cổ Đặc biệt, trong một công trình nghiên cứu chuyên biệt về chữ viết cổ tác giả Thái Văn Chải [9] đã thống kê, phân tích, nhận định và giới thiệu một số bia ký ở Đông Dương Đây là nguồn tư liệu quý giá, tác giả đã kế thừa và tiếp thu có phê phán, chọn lọc những thành tựu nghiên cứu về chữ viết của cư dân Óc Eo ở TNB
- Mối quan hệ giữa các nước trong khu vực với vương quốc Phù Nam
Từ những kết quả khai quật cho thấy, chủ nhân nền văn hóa Óc Eo - Phù Nam có quan hệ kinh tế và văn hóa với các nước trong khu vực Phạm Đức Dương
đã phân tích khá đa chiều để giải thích những vấn đề về ngôn ngữ, văn hóa ở Đông Nam Á; minh chứng về sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người và xem Đông Nam
Á là ngã tư đường của sự giao lưu; phân tích sự tiếp xúc văn hóa giữa Việt Nam,
Trang 39Đông Nam Á với Trung Hoa và Ấn Độ thời cổ đại Tác giả cho rằng, nhờ tính cởi
mở, không kỳ thị các tôn giáo mà cư dân Óc Eo đã tiếp nhận các tôn giáo, khoa học
kỹ thuật, nghệ thuật, văn hóa đến từ bên ngoài và đồng thời, bản địa hoá những yếu tố văn hóa ngoại lai tạo nên một nét văn hóa rất riêng của cư dân nơi đây
Tác giả Ngô Văn Doanh cũng đã đề cập đến vai trò của Ấn Độ đối với sự ra đời các quốc gia Hindu giáo cổ đại đầu tiên ở Đông Nam Á, phân tích vai trò của Brahman trong việc truyền bá và phổ biến văn hóa, tôn giáo Tuy nhiên, chỉ có ở Phù Nam, những người Bàlamôn (Brahman) Ấn Độ mới trở thành các vị vua quan trọng của vương quốc Tác giả còn cho rằng, “để củng cố và phát triển nhà nước của mình, các vị vua của vương quốc Phù Nam đã tiếp nhận những thành tựu của Ấn
Độ về tổ chức vương quyền Vì vậy mà, dù không phải là thuộc địa của Ấn Độ, vương quốc Phù Nam vẫn tiếp nhận những thành tựu về mọi mặt chính trị, xã hội và văn hóa của Ấn Độ để xây dựng đất nước của mình” [30, tr.26] phù hợp với hoàn
cảnh lịch sử của địa phương
Các tác giả Lương Ninh [110], Bùi Phát Diệm [150] cho rằng, cư dân Óc Eo
có mối quan hệ rộng rãi với các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Vịnh Bengal, La Mã và các nước Địa Trung Hải Từ các hiện vật lạ, có nguồn gốc xuất
xứ từ bên ngoài được phát hiện trong các di chỉ thuộc văn hóa Óc Eo, các tác giả cho rằng, những hiện vật này chủ yếu được đưa đến đây qua giao lưu mua bán, có một số di vật được chế tạo tại chỗ với kỹ thuật được du nhập từ các nước bên ngoài
Nói về khả năng tiếp nhận nền văn hóa từ bên ngoài, Hà Văn Tấn [148], Đặng Ngọc Kính cũng cho rằng, sự hình thành của nước Phù Nam dựa vào hai yếu
tố nội sinh và ngoại sinh Yếu tố nội sinh là bắt nguồn từ nền văn hóa tiền sử và bắt đầu có mối quan hệ với Trung Hoa, Đông Sơn vào thời kỳ sắt sớm; yếu tố ngoại sinh “chính là sự vay mượn từ Ấn Độ những yếu tố kiến trúc thượng tầng như kết
cấu nhà nước, chữ viết và tôn giáo” [152, tr.368]
Hai tác giả Lê Đình Phụng và Nguyễn Thị Lệ Hằng [146] cho rằng, hai vùng văn hóa Champa và Óc Eo được hình thành và phát triển trên cơ sở văn hóa tín ngưỡng bản địa, đồng thời tiếp thu nền văn hóa Ấn Độ nên hai nền văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau
Trang 40Khi nói đến mối quan hệ giữa Óc Eo và Ấn Độ, tác giả G.Coedès cho rằng,
“Đây không chỉ là một ảnh hưởng đơn thuần, mà là của một công cuộc thực dân hoá
thực thụ” [56, tr.51] Tác giả phân tích khái niệm về Ấn Độ hoá, và đưa ra những
nguyên nhân của việc bành trướng, phương thức và những tuyến đường bành trướng của người Ấn Độ, mức độ thâm nhập của nền văn minh Ấn Độ vào các xã hội bản địa, trong đó có Phù Nam
Cũng nói về mối quan hệ này, tác giả Geetesh Sharma cho rằng, “Phù Nam
là một quốc gia có tổ chức đầu tiên ở vùng Đông Nam Á và là một cầu nối quan
trọng nhất trong thương mại hàng hải giữa các nước phương Đông với phương Tây”
[57, tr.57]
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu có liên quan ở nhiều góc độ khác nhau, có thời gian tồn tại song song, có nền văn hóa tương đồng với nền văn hóa Óc Eo ; phân tích vị trí địa lý, địa hình, đặc điểm và môi trường vùng đất Nam Bộ thời
cổ đại, cũng như những nghiên cứu, thống kê dưới góc độ tài liệu khảo cổ học thông qua các di vật tìm thấy, nghiên cứu từng di tích riêng lẻ của các tác giả trong nước,
ngoài nước
Từ sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, nền văn hóa cổ Óc Eo ngày càng được quan tâm, các công trình nghiên cứu văn hóa Óc
Eo càng ngày nhiều Tất cả các công trình nghiên cứu đã được công bố trên đều rất
có ý nghĩa, góp phần quan trọng trong việc bổ sung những kiến thức cho luận án cả
về phương diện nhận định lẫn cung cấp tư liệu Liên quan đến vấn đề đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo, nhiều vấn đề được gợi mở, chủ yếu là phân tích các di tích di vật dưới góc độ khảo cổ học, hoặc chỉ nghiên cứu văn hóa Óc Eo dưới cái nhìn riêng lẻ, từng mảng, chưa đi sâu nghiên cứu đời sống văn hóa Óc Eo trong cái nhìn tổng thể dưới góc độ văn hóa học Vì vậy, khi nghiên cứu văn hóa Óc Eo thì đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo ở miền TNB là khoảng trống mà chúng tôi cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án của mình
Tóm lại, trên cơ sở tổng quan những nội dung và kết quả chính của các công
trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo, cho thấy: những công trình nghiên cứu chuyên biệt, mang tính học thuật về đời sống văn hóa