1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng của tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của nguyễn minh châu với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn trong nhà trường THPT

70 567 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 490,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vũ Ngọc Doanh Nguyễn Thị Anh 1 K31B - Ngữ Văn Đặc trưng của tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của nguyễn minh châu với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn trong nhà trường ptth

Trang 1

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 1 K31B - Ngữ Văn

Đặc trưng của tự sự hiện đại sau 1975

qua các sáng tác của nguyễn minh châu

với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn

trong nhà trường ptth

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học Th.s – GVC Vũ Ngọc doanh

Hà Nội - 2009

Trang 2

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 2 K31B - Ngữ Văn

Lời cảm ơn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc của mình tới

thầy giáo ThS _ GVC Vũ Ngọc Doanh - người đã trực tiếp hướng dẫn, tận

tình chỉ bảo để tôi hoàn thành khoá luận này

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa

Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn và

các bạn sinh viên trong nhóm khoá luận đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận

lợi để tôi hoàn thành khoá luận

Mặc dù đã có những cố gắng tìm tòi nhất định, song chắc chắn khoá

luận không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của

Trang 3

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 3 K31B - Ngữ Văn

Lời cam đoan

Khoá luận được trình bày dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS_GVC

Vũ Ngọc Doanh Tôi xin cam đoan rằng:

- Khoá luận này là kết quả nghiên cứu,tìm tòi của riêng tôi

- Những tư liệu được trích dẫn trong khoá luận là trung thực

- Kết quả nghiên cứu này không thể trùng khít với bất kì công trình

nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2009

Người thực hiện

Nguyễn Thị Anh

Trang 4

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 4 K31B - Ngữ Văn

Tr : Trang

Trang 5

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 5 K31B - Ngữ Văn Mục lục Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Giới hạn của đề tài 2

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của khoá luận 4

Nội dung 5

Chương 1 Những vấn đề chung 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Vấn đề tiếp nhận văn học 5

1.1.1.1 Khái niệm 5

1.1.1.2 Cơ sở tiếp nhận 6

 Con đường nhà văn làm ra tác phẩm 6

 Con đường bạn đọc chiếm lĩnh tác phẩm 7

1.1.2 Loại thể và vấn đề tiếp nhận 8

1.1.2.1 Khái niệm loại thể 8

1.1.2.2 Phân loại 8

1.1.2.3 Tiếp nhận văn học theo loại thể 9

1.1.2.4 Loại tự sự 9

 Khái niệm 9

 Sự phân chia loại tự sự 10

 Đặc điểm 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 12

Trang 6

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 6 K31B - Ngữ Văn 1.2.1 Dạy học tác phẩm trong nhà trường PTTH 12

1.2.2 Những hạn chế và hướng khắc phục trong việc tổ chức học sinh tiếp nhận tác phẩm tự sự trong nhà trường PTTH 13

Chương 2 Tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn trong nhà trường PTTH 15

2.1 Tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu 15

2.1.1 Cốt truyện 16

2.1.1.1 Cốt truyện xây dựng trên những nguyên tắc luận đề - những

luận đề về đạo đức, nhân văn, về tâm lí xã hội 17

2.1.1.2 Cốt truyện sinh hoạt thế sự 19

2.1.1.3 Cốt truyện dựa vào những số phận đời tư 20

2.1.1.4 Cốt truyện hồi tưởng và kí ức 22

2.1.1.5 Cốt truyện lắp ghép 23

2.1.2 Nhân vật 23

2.1.2.1 Đặc trưng nhân vật trong tác phẩm tự sự sau 1975 23

2.1.2.2 Đặc trưng nhân vật trong tác phẩm tự sự Nguyễn Minh Châu sau 1975 26

2.1.3 Ngôn ngữ 29

2.1.3.1 Ngôn ngữ miêu tả 30

2.1.3.2 Ngôn ngữ của cảm quan hiện thực đời thường 32

2.1.3.3 Ngôn ngữ triết lí 32

2.1.3.4 Giọng điệu 33

2.2 Giảng dạy tác phẩm tự sự sau 1975 nói chung và tác phẩm Nguyễn Minh Châu nói riêng trong nhà trường PTTH 35

2.2.1 Giúp học sinh đọc và nắm cốt truyện 36

Trang 7

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 7 K31B - Ngữ Văn 2.2.2 Giúp học sinh nhận diện, cảm thụ, đánh giá nhân vật trong tác phẩm 37

2.2.3 Giúp học sinh thẩm bình giá trị của nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 40

Chương 3 Thực nghiệm dạy học tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong nhà trường PTTH 42

3.1 Lí thuyết hoạt động và việc xây dựng thiết kế 42

3.2 Các giáo án thực nghiệm 42

3.2.1 Giáo án 1: Bến quê 43

3.2.2 Giáo án 2: Chiếc thuyền ngoài xa 50

Kết luận 59

Tài liệu tham khảo 60

Trang 8

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 8 K31B - Ngữ Văn

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Ngữ văn là một trong những bộ môn cơ bản của chương trình giáo dục

trong nhà trường PTTH Việc giảng dạy Ngữ văn ra sao và đâu là phương

pháp mang lại hiệu quả tối ưu khi thị hiếu thẩm mĩ, thước đo giá trị của thời

đại không ngừng thay đổi luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà giáo

dục

Hiện nay, chương trình Ngữ văn ở nhà trường phổ thông được tổ chức

theo nguyên tắc loại thể Trong khi đó, mọi hoạt động trong giảng dạy Ngữ

văn đều xoay quanh một đối tượng trung tâm là văn bản Mỗi văn bản thuộc

một loại thể nhất định Hiểu văn bản thuộc loại thể nào đồng nghĩa chúng ta

đã có được công cụ để giải mã văn bản, từ đó cảm nhận sâu sắc giá trị thẩm

mĩ cũng như tư tưởng văn bản ấy mang tải Vì vậy, vấn đề loại thể trong thực

tế giảng dạy ở trường PT đặt ra không những như một vấn đề tri thức mà còn

là một vấn đề phương pháp

Trong chương trình giáo dục PTTH, số lượng văn bản thuộc loại tự sự

chiếm tỉ lệ tương đối lớn nên việc quan tâm đến loại thể này có ý nghĩa rất

quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn

Bên cạnh đó, trên văn đàn Việt Nam sau năm 1975 trở lại đây, tự sự - với

những ưu thế của nó - đã có sự vận động và phát triển mạnh mẽ Những cách

tân táo bạo gây dư luận ồn ào và kéo dài, những tranh cãi gay gắt, những diễn

biến phức tạp và bất ngờ của quá trình tiếp nhận văn học hầu như diễn ra

chủ yếu trong loại hình này

Một trong những gương mặt tự sự có nhiều đóng góp quan trọng cho quá

trình đổi mới loại thể này là Nguyễn Minh Châu Với sự tự tin và bản lĩnh của

một ngòi bút tài năng, đam mê sáng tạo cùng những đánh giá sắc sảo về cuộc

sống, Nguyễn Minh Châu đã để lại một khối lượng tác phẩm phong phú

Trang 9

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 9 K31B - Ngữ Văn

khẳng định một phong cách sáng tạo riêng Và trong chương trình Ngữ văn

PTTH, sáng tác thuộc loại tự sự của nhà văn quân đội này luôn giữ vị trí xứng

đáng

Vì những lí do nêu trên, có thể khẳng định: việc nghiên cứu đề tài: "Đặc

trưng của tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu

với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn trong nhà trường PTTH" là việc làm

cần thiết và có ý nghĩa thiết thực Đó cũng là con đường thuận lợi để tác giả

khoá luận có thể tìm ra những nét đổi mới của tự sự sau 1975 và đánh giá

đúng về những đóng góp của Nguyễn Minh Châu vào tiến trình cách tân văn

học Việt Nam đương đại, từ đó có được phương pháp giảng dạy tác phẩm tự

sự nói chung và tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong nhà trường PT một cách

hiệu quả nhất

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Trên lĩnh vực lí luận, từ thời cổ đại, Arixtôt trong cuốn Nghệ thuật

thi ca đã đề cập đến "loại hình tự sự" Vì vậy, đến nay, những công trình

nghiên cứu về đặc trưng tự sự vô cùng phong phú Trong giới hạn khoá luận

này chúng tôi chỉ khảo sát một số công trình nghiên cứu:

Giáo trình Lí luận văn học (của ĐH Tổng hợp do Hà Minh Đức chủ

biên cũng như của ĐHSP do Phương Lựu chủ biên) đã đưa ra những đặc

trưng của tự sự Song vấn đề được bàn luận chỉ có tính chất lí thuyết chưa đề

cập đến phương pháp giảng dạy

Cuốn Chủ nghĩa cấu trúc và văn học cũng chỉ ra những đặc trưng

chung của thể loại tự sự Có điều đặc biệt, ở tác phẩm này, lí thuyết Trịnh Bá

Đĩnh đưa ra hoàn toàn mang tính chất chủ nghĩa duy vật siêu hình

Nguyễn Thị Bình với cuốn "Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995, những

đổi mới cơ bản" đã trình bày sự đổi mới trong quan niệm nhà văn, trong quan

Trang 10

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 10 K31B - Ngữ Văn

niệm nghệ thuật về con người và phương diện thể loại, đồng thời khảo sát sự

vận động, biến đổi của hơn 20 năm văn học đương đại bề bộn và phức tạp

2.2 Trên lĩnh vực phương pháp, những công trình nghiên cứu về phương

pháp giảng dạy tự sự khá đa dạng Song nhìn chung tất cả chỉ dừng ở tầm khái

quát, sơ lược Có thể kể đến: "Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại

thể" (Trần Thanh Đạm), "Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương"

(Nguyễn Viết Chữ), "Những vấn đề thi pháp của truyện" (Nguyễn Thái

Hoà)

2.3 Nguyễn Minh Châu là nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng chiến

chống Mỹ nên những công trình nghiên cứu về tác phẩm của ông khá phong

- Thi pháp hiện đại, Đỗ Đức Hiểu, NXB Hội nhà văn, H, 2002

Đây là nguồn tư liệu tham khảo quý giá, và, trên cơ sở tiếp thu những ý

kiến, kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước cùng với sự đánh giá, kiến

giải của riêng mình, tác giả khoá luận sẽ mạnh dạn triển khai khoá luận với đề

tài: "Đặc trưng của tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh

Châu với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn trong nhà trường PTTH"

3 Gới hạn của đề tài

3.1 Về nội dung:

Với đề tài đã chọn, tác giả khoá luận tiến hành tìm hiểu đặc trưng của tự

sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu Và, ở chừng

Trang 11

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 11 K31B - Ngữ Văn

mực nào đó, đề xuất được một số phương pháp giảng dạy tác phẩm tự sự sau

1975 nói chung và tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong nhà thường PT nói

riêng, từ đó xây dựng 2 giáo án thực nghiệm là "Bến quê" và "Chiếc thuyền

ngoài xa"

3.2 Về tư liệu:

Tư liệu mà tác giả khoá luận lựa chọn nghiên cứu bao gồm những tác

phẩm tự sự của VHVN hiện đại sau 1975 nói chung, đặc biệt là tác phẩm tự

sự Nguyễn Minh Châu

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Chỉ ra được những đặc trưng của tự sự sau 1975 qua các sáng tác của

Nguyễn Minh Châu, đề xuất được một số phương pháp giảng dạy tác phẩm tự

sự sau 1975 nói chung và tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong nhà trường PT

nói riêng, xây dựng được 2 giáo án thực nghiệm

4.2 Mục đích nghiên cứu:

Học tập và nắm vững lí luận về đặc trưng loại thể, về phương pháp dạy

học tác phẩm theo đặc trưng loại thể, cụ thể hơn là loại tự sự

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống

- Phương pháp phân tích tác phẩm

- Phương pháp thống kê, so sánh

6 Đóng góp của khoá luận:

Khái quát lí thuyết về tiếp nhận văn học, về tự sự và đặc trưng của tự sự,

vận dụng để tìm hiểu đặc trưng của tự sự sau 1975 qua các sáng tác của

Nguyễn Minh Châu Qua đó góp thêm tiếng nói khẳng định những đóng góp

quan trọng của Nguyễn Minh Châu vào quá trình vận động, phát triển của tự

sự hiện đại Việt Nam Đồng thời đề xuất được một số phương pháp giảng dạy

Trang 12

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 12 K31B - Ngữ Văn

tác phẩm tự sự sau 1975 nói chung và tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trong

nhà trường PT nói riêng

Trang 13

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 13 K31B - Ngữ Văn

Theo Từ điển tiếng Việt - Hoàng Phê (chủ biên), "tiếp nhận": đón nhận

cái từ người khác, nơi khác chuyển giao cho

" Tiếp nhận văn học", theo Từ điển thuật ngữ văn học là "hoạt động

chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự

cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, quan niệm nghệ

thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc, cách hiểu, ấn tượng

trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể"

Tiếp nhận văn học chính là cuộc trao đổi ngầm giữa bạn đọc - tác giả văn

học Thực chất của tiếp nhận văn học là hoạt động nhận thức của bạn đọc

nhằm lĩnh hội tri thức vốn tồn tại khách quan với chủ thể tiếp nhận Những tri

thức ấy sẽ làm phong phú đời sống tư tưởng, làm nảy sinh những tình cảm

thẩm mĩ nơi bạn đọc Trong "Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương",

Nguyễn Thanh Hùng khẳng định: "Tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình

đem lại cho người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động

để củng cố và phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới

tinh thần và năng lực cảm xúc của con người trước đời sống" Đi từ nhận thức

đến tình cảm, cao hơn sẽ có những hành động tương ứng ở mỗi cá nhân Tất

cả ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và phát triển nhân cách mỗi người

Với dạy học Ngữ văn trong nhà trường PTTH cũng vậy, mục đích cuối cùng

là góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh trên cơ sở các em hiểu và cảm

thụ sâu sắc các tác phẩm văn chương

Trang 14

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 14 K31B - Ngữ Văn

Tiếp nhận văn học trong nhà trường PT trong mối quan hệ với tiếp nhận

văn học trong đời sống mang đặc thù riêng: nếu trong đời sống, tiếp nhận văn

học thường do sự tự phát, bị chi phối bởi thị hiếu, mục đích tiếp nhận của cá

nhân là không giống nhau , thì tiếp nhận văn học trong nhà trường PT là hoạt

động mang tính tự giác cao và có mục đích rõ ràng

1.1.1.2 Cơ sở tiếp nhận

 Con đường nhà văn làm ra tác phẩm

Sáng tác văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần, theo

phương thức "cá thể" được diễn ra muôn màu muôn vẻ Tố Hữu nói: "Mỗi

người có cách làm của mình, cách sáng tạo của mình, không bắt chước của ai

được" Song, trong sự đa dạng này, ta vẫn bắt gặp những nét chung cơ bản

Yếu tố đầu tiên bắt nguồn cho sự ra đời của tác phẩm là cảm hứng sáng

tạo Cảm hứng phải mãnh liệt Bởi viết văn là gan ruột, tâm huyết, không thể

cho ra những sản phẩm của một tâm hồn bằng lặng, vô vị, miễn cưỡng

Khát vọng chủ quan của người nghệ sĩ, nung nấu ý định viết ra một tác

phẩm khi bắt gặp cảm hứng sẽ hình thành ý đồ sáng tạo Nó chỉ một ý định và

động cơ cụ thể có tác dụng xác định phương hướng chung cho một quá trình

sáng tác cụ thể ý đồ sáng tạo mang tính khả biến

ý đồ vốn đã phải dựa trên cơ sở ít nhiều tư liệu nhất định Khi ý đồ đã

hình thành thì tư liệu được tổ chức lại và có sự bổ sung Đây chính là lúc nhà

văn thu thập tài liệu, hệ thống hoá và lập sơ đồ Sơ đồ là bản phác thảo của

nhà văn trước khi viết

Sau khi mọi sự chuẩn bị chu tất, nhà văn bắt đầu viết Đây là công việc

khó khăn, phức tạp, một quá trình lao động căng thẳng với đầy đủ trạng thái

cung bậc cảm xúc cùng băn khoăn, suy tính vì "trong hàng tấn quặng chữ mới

có một chữ vàng"

Trang 15

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 15 K31B - Ngữ Văn

Chặng đường cuối - sửa chữa Nó giúp nhà văn nhìn lại đứa con tinh

thần một cách bao quát, xem xét lại các yếu tố để bổ sung hoặc loại bỏ các chi

tiết thừa Tác phẩm được hoàn thiện

 Con đường bạn đọc chiếm lĩnh tác phẩm

Nói đến tác phẩm văn chương là nói đến một văn bản trong chỉnh thể

Tác phẩm văn chương được cấu tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật nhằm xây

dựng nên một thế giới nghệ thuật riêng được kết cấu một cách chặt chẽ trong

những quan hệ nội dung và hình thức, giữa bộ phận và tổng thể, giữa yếu tố

hữu hình và vô hình, giữa văn bản và tiền văn bản

Có nhiều con đường để tiếp nhận tác phẩm văn học Đặc biệt trong thời

đại ngày nay, người ta có thể chiếm lĩnh tác phẩm văn học bằng cách xem các

bộ phim được chuyển thể từ các tác phẩm văn học, hoặc có thể nghe người

khác đọc lại tác phẩm hay trực tiếp đọc tác phẩm Trong đó, đọc - hiểu là con

đường đặc trưng giúp bạn đọc chiếm lĩnh tác phẩm Bởi lẽ những cách tiếp

cận khác có nhiều hạn chế, chỉ có con đường đọc - hiểu mới đúng với bản

chất của văn học - loại hình nghệ thuật ngôn từ Thông tin nghệ thuật trong

tác phẩm văn học được thể hiện ở hệ thống ngôn từ tạo thành cấu trúc văn bản

tác phẩm Trong văn bản văn học bao giờ cũng có những khoảng trống

buộc người đọc phải liên tưởng, tưởng tượng tạo cơ sở hình thành tác phẩm

của riêng mình

Đọc - hiểu là con đường đặc trưng để bạn đọc chiếm lĩnh giá trị thẩm mĩ,

sự muôn màu muôn vẻ của đời sống xã hội mà tác phẩm mang tải Điều này

chi phối đến dạy học Ngữ văn trong nhà trường PT Trong dạy học, giáo viên

phải giúp học sinh đọc văn, từ đó hình thành năng lực đọc, dần dần nâng cao

thành văn hóa đọc cho học sinh Và, tổ chức cho học sinh đọc văn đồng nghĩa

với việc giáo viên tổ chức cho các em tìm hiểu thế giới nghệ thuật, nhận thức

về đời sống tạo sự đồng điệu, đồng sáng tạo giữa tác giả và bạn đọc Đây

Trang 16

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 16 K31B - Ngữ Văn

cũng chính là cơ sở để người nghệ sĩ tìm được những tri âm, tri kỉ giữa đông

đảo độc giả yêu mến tác phẩm văn chương của mình

1.1.2 Loại thể và vấn đề tiếp nhận

1.1.2.1 Khái niệm loại thể

Loại thể (thể loại): Là một khái niệm kép bao gồm hai khái niệm có quan

hệ bao chứa

Loại (Loại hình): Là phương thức người nghệ sĩ sử dụng để nhận thức,

khám phá đời sống khách quan, tái hiện đời sống và sáng tạo hình tượng nghệ

thuật, thông qua hình tượng nghệ thuật để biểu hiện tư tưởng, tình cảm

Thể (Thể tài): Là hình thức tổ chức ngôn ngữ của tác phẩm

Trong đời sống văn học, loại thể được dùng như một khái niệm kép

Trong nghiên cứu, chúng được phân tách rạch ròi Mỗi một loại bao gồm

nhiều thể Số lượng thể nhiều hơn loại, sự biến động và thay đổi cũng lớn

hơn

1.1.2.2 Phân loại

Xung quanh vấn đề phân chia văn chương thành loại và thể có rất nhiều

ý kiến và sự luận giải khác nhau Song, ở đây, tác giả khoá luận xin đưa ra

một cách phân loại từ thời Cổ đại trong Nghệ thuật thi ca của Arixtôt

Arixtôt phân chia thành ba loại: trữ tình, tự sự, kịch

Theo Từ điển thuật ngữ văn học:

Trữ tình: Một trong ba phương thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự

và kịch)

Nếu tự sự thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả bằng con đường tái

hiện một cách khách quan các hiện tượng đời sống, thì trữ tình lại phản ánh

đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người

tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình

đối với thế giới và nhân sinh

Trang 17

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 17 K31B - Ngữ Văn

Kịch: ở cấp độ loại hình, kịch là một trong ba phương thức cơ bản của

văn học Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học

Hiểu được những tri thức trên, người viết sẽ có thêm cơ sở lí luận để

nghiên cứu đề tài này

1.1.2.3 Tiếp nhận văn học theo loại thể

Nếu vấn đề thể loại văn học thuộc phạm trù lí luận văn học thì hoạt động

tiếp nhận là cơ sở lí thuyết của phương pháp dạy học, thuộc về khoa học giáo

dục Nói chung giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Bất kì một tác

phẩm nào cũng chuyển tải một nội dung nào đó và được tổ chức trong một

hình thức đặc thù nhất định Nội dung và hình thức ấy quy định cách thức

chiếm lĩnh của bạn đọc

Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn PTTH được xây dựng hướng tới

mục tiêu người học Ngữ văn phải có năng lực học văn và làm văn Đặc điểm

này yêu cầu trong dạy học, giáo viên phải bám sát đặc trưng loại thể, giúp học

sinh vận dụng tri thức từ một bài học cụ thể trở thành phương tiện để các em

có thể khai thác và lĩnh hội các tác phẩm khác thuộc cùng thể loại Khi đó

giáo viên đã dạy cho các em cách thức để chiếm lĩnh tri thức chứ không đơn

thuần là dạy tri thức cho các em

1.1.2.4 Loại tự sự

 Khái niệm:

Đã có khá nhiều quan điểm khác nhau về loại tự sự trong giới nghiên

cứu Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát một số quan điểm trong các từ điển và

giáo trình lí luận văn học

Các tác giả Từ điển tiếng Việt đã xác nhận: "Tự sự là thể loại văn học

phản ánh hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách qua cốt truyện

tương đối hoàn chỉnh"

Trang 18

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 18 K31B - Ngữ Văn

Từ điển thuật ngữ văn học có đề xuất một cách nhìn khác mang tính

khái quát hơn cả: Tự sự là phương thức tái hiện một cách khách quan các

hiện tượng đời sống, bên cạnh hai phương diện trữ tình và kịch, được dùng

làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học

Theo giáo trình Lí luận văn học dành cho các trường ĐH, CĐ Sư phạm,

những người biên soạn rất coi trọng yếu tố con người - nhân vật: "Tác phẩm

tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó - qua con người, hành

vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó"

Như vậy, giới nghiên cứu trong nước đã đưa ra những quan niệm cụ thể

về loại tự sự trên cơ sở tìm hiểu nét nổi bật Song, xét một cách chung nhất,

các ý kiến đều gặp nhau trong sự khẳng định: Tự sự là thể loại văn học phản

ánh sắc nét hiện thực đời sống một cách khách quan bằng cách kể lại sự kiện,

sự việc, miêu tả tính cách nhân vật, chi tiết có đầu có đuôi thông qua cốt

truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lại bởi một người kể chuyện

 Sự phân chia loại tự sự:

Phân chia loại ra thành các thể ra sao không chỉ với loại tự sự mà ngay

cả loại trữ tình và kịch đến nay cũng chưa đi đến sự thống nhất Với tự sự, về

cơ bản, sự phân chia dựa vào một số tiêu chí sau:

Thứ nhất: dựa vào thời gian, tự sự gồm có: thần thoại, truyền thuyết,

truyện cổ tích, truyện Nôm

Thứ hai: dựa vào tính chất của xung đột và phục vụ những nhu cầu

thẩm mĩ khác nhau, tự sự được chia thành: truyện tâm lí xã hội, truyện trinh

thám

Thứ ba: dựa theo dung lượng tác phẩm ít hay nhiều, tự sự được phân

ra: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết

Sự phân chia trên chỉ mang tính tương đối

 Đặc điểm:

Trang 19

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 19 K31B - Ngữ Văn

Thứ nhất: Cốt truyện

Cốt truyện trong Từ điển tiếng Việt được cắt nghĩa: "Là một hệ thống sự

kiện, là nòng cốt cho diễn biến và các mối quan hệ, sự phát triển tính cách

nhân vật trong tác phẩm văn học thuộc loại tự sự"

Theo giáo trình Lí luận văn học (Hà Minh Đức chủ biên): "Cốt truyện

là hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là

các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và

phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng làm sáng tỏ chủ đề, tư

tưởng của tác phẩm"

Mọi sự cắt nghĩa trên đây đều hướng tới nhận định: cốt truyện, ở một

chừng mực nào đó, chính là các biến cố, các sự kiện có ý nghĩa quyết định

đến tính cách, cuộc đời nhân vật Cốt truyện là thành phần quan trọng của tác

phẩm tự sự

Thứ hai: Nhân vật

Hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nhân vật văn học:

Các tác giả Từ điển văn học (tập 2) nhận định: "Nhân vật là yếu tố cơ

bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng và đến

lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập

trung khắc hoạ"

Với định nghĩa này, các nhà biên soạn từ điển đã nhìn nhận nhân vật từ

khía cạnh vai trò, chức năng của nó với tác phẩm và từ quan hệ của nó với các

yếu tố hình thức Đây là một định nghĩa khá toàn diện

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, quan niệm về nhân vật văn học có

phần thu hẹp hơn: "Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong

tác phẩm văn học"

Trong một tác phẩm tự sự, nhân vật tồn tại song hành hai tư cách: vừa là

hình thức vừa là nội dung Vì thế tìm hiểu nhân vật phải dựa vào đặc điểm

Trang 20

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 20 K31B - Ngữ Văn

ngoại hình, ngôn ngữ, hành động của nhân vật để khẳng định tính cách nhân

vật đó; phải xem nhân vật là con đẻ tinh thần của nhà văn nào, là sản phẩm

của phương pháp sáng tác nào

Nhân vật luôn là đối tượng để nhà văn phân tích, khái quát đời sống và

tái hiện bằng các phương tiện đặc trưng của văn chương Nắm vững các đặc

điểm của nhân vật tự sự sẽ giúp ta tiếp nhận văn học theo loại thể hiệu quả

nhất

Thứ ba: Ngôn ngữ

Ngôn ngữ tự sự bao gồm ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể

chuyện

Phan Ngọc trong "Phong cách ngôn ngữ Nguyễn Du và Truyện Kiều"

khẳng định: Ngôn ngữ nhân vật là phát ngôn của nhân vật nhưng phải là

những phát ngôn chứa đựng thông tin thẩm mĩ

Các nhà lí luận văn học xét ngôn ngữ nhân vật trên cơ sở phân loại theo

các phương thức mà nhân vật ấy sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp chia

thành: ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại Ngôn ngữ chính là hình

thức bộc lộ tính cách, đời sống nội tâm của nhân vật

Cùng với ngôn ngữ nhân vật là ngôn ngữ của người kể chuyện (chiếm số

lượng chủ yếu trong tác phẩm tự sự) Ngôn ngữ của người kể chuyện tiếp tục

được chia ra gồm có:

Ngôn ngữ của người kể chuyện đứng bên ngoài diễn biến của câu

chuyện với tư cách của người quan sát và trần thuật, mang tính khách quan và

gián tiếp

Người kể chuyện cũng đồng thời là nhân vật Lúc này việc nghiên cứu

ngôn ngữ của người kể chuyện trùng khít với nghiên cứu về ngôn ngữ nhân

vật

Trang 21

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 21 K31B - Ngữ Văn

Những đặc điểm trên đây của loại tự sự là những chỉ dẫn cho chúng tôi

trong quá trình tìm hiểu đặc trưng của tự sự hiện đại sau 1975 nói chung và cụ

thể qua sáng tác của Nguyễn Minh Châu nói riêng

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Dạy học tác phẩm trong nhà trường PTTH

Nhận xét về thực trạng dạy học Ngữ văn rong nhà trường PTTH, Phúc

Nguyên trong báo Văn nghệ - số 36 (ra ngày 09/09/2006) có viết: "Theo một

lối mòn quá cũ, giáo viên chỉ làm nhiệm vụ "rót kiến thức vào bình chứa học

sinh mà không cần biết các em có tiêu hoá được kiến thức đó không Học sinh

thì tiếp thu kiến thức một cách thụ động để rồi trả bài cho thầy một cách

nguyên si như thế và làm theo những ý tưởng của thầy, theo những bài mẫu

khuôn sáo Cách dạy học kiểu này đã thủ tiêu vai trò chủ động sáng tạo của

học sinh trong học văn, không khơi dậy được tiềm năng văn học nơi các em"

Thực trạng ấy có căn nguyên một phần từ chỗ lâu nay giáo viên quen

giảng dạy các tác phẩm theo chủ đề, không bám sát vào đặc trưng loại thể Tệ

hại hơn, một bộ phận không nhỏ giáo viên còn mơ hồ về đặc trưng của từng

loại thể nói chung và của tự sự nói riêng dẫn đến hệ quả giáo viên coi nhẹ giá

trị thẩm mĩ của tác phẩm, yêu cầu về rèn luyện kĩ năng cho học sinh chưa

được quan tâm đúng mực Thực trạng ấy trái chiều với mục tiêu "Dạy học văn

không chỉ nhằm đạt đến những rung động thẩm mĩ mà còn là quá trình phát

triển về trí tuệ, về kiến thức, về kĩ năng được quy định" (Phan Trọng Luận)

Khắc phục thực trạng trên, hiện nay trong giáo dục đã thực hiện đổi mới

phương pháp dạy học Với việc giảng dạy các tác phẩm văn chương, một yêu

cầu cơ bản đặt ra là phải bám sát đặc trưng loại thể, từ đó tạo điều kiện cho

học sinh phát huy tài năng và sự sáng tạo

1.2.2 Những hạn chế và hướng khắc phục trong việc tổ chức học sinh

tiếp nhận tác phẩm tự sự trong nhà trường PTTH

Trang 22

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 22 K31B - Ngữ Văn

Cùng là phương thức thể hiện đời sống như trữ tình hay kịch, nhưng tự

sự mang những đặc điểm riêng không thể trộn lẫn Chẳng hạn với thơ (loại trữ

tình) đặc trưng hàng đầu là cảm xúc; với kịch là các mâu thuẫn, xung đột thì ở

tự sự lại là nghệ thuật kể chuyện Nếu giáo viên không nắm vững các đặc

trưng ấy sẽ dẫn tới đồng nhất trong cách giảng dạy các tác phẩm dù bản thân

chúng thuộc các loại thể khác nhau

Một tồn tại khác nữa là hiện nay, trong khi yêu cầu cơ bản đầu tiên khi

các em tiếp nhận tác phẩm văn học là phải đọc văn bản thì học sinh lại đọc

văn bản không nghiêm túc Hệ luỵ tất yếu là khi đi vào tìm hiểu tác phẩm tự

sự các em không nắm được các tình huống, chi tiết, sự kiện Do đó, việc tiếp

nhận tác phẩm tự sự với các em càng trở nên khó khăn hơn

Nhằm khắc phục những tồn tại trên, chúng tôi xin đưa ra một số giải

pháp để nâng cao hiệu quả học Ngữ văn của học sinh PTTH

Trước hết về phía giáo viên: bên cạnh yêu cầu về kĩ năng, nghiệp vụ

sư phạm, về mặt kiến thức, giáo viên phải nắm vững đặc trưng từng loại thể,

từ đó dạy học tác phẩm văn chương phải bám sát các đặc trưng này để có

được sự định hướng sát hợp và chính xác

Về phía học sinh: Là chủ thể của hoạt động học tập, các em phải phát

huy vai trò chủ động tích cực của mình, phải có thái độ tiếp nhận nghiêm túc

được thể hiện trước tiên ở việc đọc và nắm vững tác phẩm Từ những tri thức

về đặc trưng loại thể nói chung và đặc trưng của tự sự nói riêng, các em có thể

áp dụng vào việc tìm hiểu các tác phẩm cụ thể Khi đó, hoạt động học tập đạt

kết quả tối ưu

Trang 23

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 23 K31B - Ngữ Văn

Chương 2

Tự sự hiện đại sau 1975

qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu

Với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn

trong nhà trường PTTH

2.1 Tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu

Nếu trước 1975, đặc biệt giai đoạn 1945 - 1975, thơ trữ tình phát triển

mạnh và đạt được nhiều thành tựu tiêu biểu trong nền văn học dân tộc, thì sau

1975, ngôi vị quán quân ấy thuộc về tự sự Đây cũng là biểu hiện của thời đổi

mới trên văn đàn Văn học Việt Nam sau 1975 nhìn chung vẫn trượt theo

quán tính cũ nhưng đã bắt đầu có tín hiệu về nhu cầu đổi mới và sự đổi mới

ấy ngày càng được bộc lộ sắc nét Đổi mới là tất yếu

Có sự chuyển đổi trên bởi lẽ lúc này chiến tranh qua đi, độc lập dân tộc

được đảm bảo, nền kinh tế chuyển từ chế độ bao cấp về sản xuất sang nền

kinh tế thị trường Hiện thực đời thường được tấm gương văn học phản chiếu

Văn học cũng là chìa khoá mở ra những khuất tối trong xã hội thì văn xuôi là

thể loại hợp lí hơn cả Vì văn xuôi có thế mạnh ở sự kiện, ở việc tái hiện đời

sống, những trăn trở suy tư của con người Đội ngũ các nhà văn tài năng thời

kì này xuất hiện nhiều trên văn đàn với các tên tuổi nổi bật: Nguyễn Minh

Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Lê Lựu, Bảo

Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương Những cây bút ấy đã ra

mắt độc giả nhiều tác phẩm có giá trị, có sự đổi mới khá sâu sắc về tư tưởng,

thi pháp, phong cách

Văn học nói chung và loại tự sự nói riêng, sự đổi mới ở tư duy nghệ

thuật trong sáng tạo đã dẫn đến một hệ quả tất yếu là thay đổi các yếu tố thuộc

về đặc trưng loại thể Với tự sự, như trên đã khẳng định thì sự thay đổi diễn ra

trên các bình diện: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ

Trang 24

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 24 K31B - Ngữ Văn

Sau 1975, trạng thái sử thi phân rã Trước áp lực của đời sống đương đại

phức tạp, với lượng thông tin khổng lồ từ nhiều kênh, trước sự vượt thoát

mạnh mẽ của các nghệ thuật nghe nhìn tất cả điều đó khiến văn học phải đổi

thay, nghệ sĩ phải bứt phá, thậm chí phá cách Kéo theo quan niệm "nhìn

thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, bao quát được những vấn đề cơ bản

của đời sống xã hội và sự vận động, phát triển đáp ứng nhu cầu bức xúc của

con người thời đại", người ta nhìn nhận lại nhiều giá trị cũ, muốn đo đạc lại

bằng những tiêu chí mới Và, các nhà văn bằng cái nhìn trung thực, táo bạo

đã đi sâu khai thác, phân tích hiện thực bề bộn của đời thường

2.1.1 Cốt truyện

Như đã khẳng định ở phần cơ sở lí luận, trong tác phẩm tự sự, cốt truyện

giữ vai trò quan trọng Vì thế nghiên cứu sự vận động của tự sự trong thời kì

đổi mới không thể không xét đến sự đổi mới trên bình diện cốt truyện ở mỗi

giai đoạn lịch sử, mỗi trào lưu, hẹp hơn là trong thi pháp sáng tạo của nhà

văn, vai trò của cốt truyện trong thể tự sự cũng có những cách thể hiện đa

dạng

Cốt truyện trong các tác phẩm tự sự trước 1975 chủ yếu dựa vào những

hành động bên ngoài ở đó "xung đột được thể hiện trọn vẹn và biến mất trong

quá trình các sự kiện được miêu tả Nó xuất hiện trở nên gay gắt và được giải

quyết dường như ngay trước mắt người đọc" Tiêu biểu có thể kể đến cốt

truyện trong hàng loạt các tác phẩm: "Vợ chồng A Phủ" (Tô Hoài); "Người

mẹ cầm súng" (Nguyễn Thi); "Rừng xà nu" (Nguyễn Trung Thành) Cốt

truyện được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn, xung đột không thể dung

hoà giữa chính nghĩa - phi nghĩa, giữa ta - địch Cụ thể hơn trong "Vợ chồng

A Phủ" đó là mâu thuẫn giữa bọn thống lí thuộc giai cấp thống trị với những

người dân nghèo lương thiện thuộc tầng lớp bị trị ở một bản làng của người

Mèo

Trang 25

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 25 K31B - Ngữ Văn

Văn học sau 1975, trên cơ sở kế thừa và phát triển những đặc trưng của

cốt truyện truyền thống, tự sự Việt Nam tiếp cận với tự sự thế giới và có sự

đổi thay sâu sắc về mặt cốt truyện Cốt truyện không có những biến cố, chủ

yếu dựa vào những hành động bên trong, những thăng trầm trong tư tưởng,

tâm lí nhân vật "Tiểu thuyết ở ta gần đây có xu hướng mờ nhạt về tính

"chuyện", cốt truyện ("phân rã" cốt truyện) Những câu chuyện lớn, những sự

việc lớn được thay bằng những câu chuyện nhỏ kiểu "mảnh vỡ”, xoáy sâu vào

cảm giác hiện sinh, khai thác, tô đậm chiều sâu vô thức, những vùng mờ

trong thế giới tâm linh con người" ("Tiểu thuyết đương đại - một "cuộc chơi"

khó" - Văn nghệ số 15, ra ngày 12/04/2008) Đó cũng là đặc trưng của cốt

truyện tự sự sau 1975 nói chung Có thể khẳng định, tự sự từ sau đổi mới đa

dạng hơn trong nội dung phản ánh, phong phú hơn trong hình thức biểu đạt

Cốt truyện giàu tâm trạng, được viết một cách tự nhiên, không theo trật tự

thời gian, có thể đảo ngược theo ý tác giả tạo ra "truyện trong truyện" Về cơ

bản có thể phân ra một số loại cốt truyện như sau:

2.1.1.1 Cốt truyện xây dựng trên những nguyên tắc luận đề - những

luận đề về đạo đức, nhân văn, về tâm lí xã hội

Theo Từ điển tiếng Việt, luận đề là "mệnh đề hay thuyết coi là đúng và

được đưa ra để bàn luận"

Loại cốt truyện này được xây dựng trên cơ sở là xung đột đầy nghịch lí,

mang tính chất bi kịch với mục đích hướng người đọc đến sự phản tỉnh trong

nhận thức về một quan niệm, tư tưởng vốn có Pospelov cho rằng trong loại

cốt truyện này, "sự việc mà tác giả đề cập chỉ là sự bổ sung cho các mâu

thuẫn đã có sẵn, bất chấp sự việc đó có hay không"

Trong tiểu thuyết "Thoạt kì thuỷ" của Nguyễn Bình Phương, thế giới

người hỗn độn hiện lên trong cái bản năng nguyên thuỷ hoang dã Cõi sống

trong "Thoạt kì thuỷ" sa lầy trong chém giết, trong dốt nát tối tăm, trong dục

Trang 26

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 26 K31B - Ngữ Văn

vọng không được thoả mãn, trong bạo lực không kiềm chế được Qua tác

phẩm, Nguyễn Bình Phương lên tiếng cảnh báo về tình trạng tha hoá của con

người

Cốt truyện trong "Nguyễn Thị Lộ" hay "Trương Chi" được Nguyễn

Huy Thiệp xây dựng dựa trên quan điểm con người dù tài năng siêu phàm tột

bậc thì ở họ vẫn luôn tồn tại phần người không thể khuất lấp Nguyễn Trãi

cũng mang trong mình những ham muốn đời thường Trương Chi cũng văng

tục, chửi bậy

Ngoài ra, một số tác phẩm của Ma Văn Kháng: "Mưa mùa hạ", "Mùa

lá rụng trong vườn" cũng mang loại cốt truyện này

Với Nguyễn Minh Châu, mật độ những sáng tác của nhà văn sử dụng cốt

truyện xây dựng trên những nguyên tắc luận đề khá dày đặc Ngọc Trai trong

bài viết "Sự khám phá con người Việt Nam qua truyện ngắn" trên tạp chí Văn

nghệ quân đội (10/1987) đã nhận xét khái quát về xu hướng truyện ngắn sau

1975 của Nguyễn Minh Châu: "Phần lớn các truyện ngắn của Nguyễn Minh

Châu là loại truyện luận đề - những luận đề về đạo đức, nhân văn, về tâm lí

xã hội", có thể kể đến "Sắm vai", "Chiếc thuyền ngoài xa", tiểu thuyết

"Miền cháy"

Cốt truyện "Sắm vai" xoay quanh nhân vật anh T được xây dựng dựa trên

một triết lí nhân sinh sâu sắc từng khiến Nguyễn Minh Châu trăn trở nhiều

năm Đó là vấn đề lựa chọn cuộc sống - sống sao cho đích thực là mình dẫu

có thể với cuộc sống ấy chúng ta phải chấp nhận nhiều thua thiệt

Nguyên tắc luận đề lại được khai thác ở một khía cạnh khác trong tiểu

thuyết "Miền cháy" - câu chuyện của đất nước sau chiến tranh Bối cảnh của

tác phẩm là miền Trung gồng mình qua lửa đạn đau thương, miền Trung trước

những thử thách nghiệt ngã của sự hồi sinh "Miền cháy" khẳng định vẻ đẹp

bề sâu của phẩm giá con người Việt Nam: chúng ta chiến thắng kẻ thù vì

Trang 27

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 27 K31B - Ngữ Văn

chúng ta cao hơn kẻ thù về nhân cách, vì tư tưởng và hành động của chúng ta

mang đậm tinh thần nhân đạo

Sự phong phú về mặt số lượng các sáng tác xây dựng cốt truyện trên

những nguyên tắc luận đề đã góp phần khẳng định nét đẹp của sự chiêm

nghiệm, của tư duy triết lí trong ngòi bút tài hoa Nguyễn Minh Châu

2.1.1.2 Cốt truyện sinh hoạt thế sự

Văn học Việt Nam sau 1975 cùng với khuynh hướng nhận thức lại hiện

thực đã mở ra những hướng tiếp cận mới với hiện thực nhiều chiều, đặc biệt

là hiện thực đời thường, đã thu hẹp khoảng cách giữa văn học - đời sống Cốt

truyện sinh hoạt thế sự là sản phẩm tất yếu của thời đổi mới

Bản chất của những sáng tác mang loại cốt truyện sinh hoạt thế sự là kể

về những "sự việc đơn giản, bình thường", khắc hoạ những mảng màu khác

nhau của bức tranh đời sống Cốt truyện không có những mở đầu hay kết

thúc, vắng bóng những thắt mở nút hồi hộp

Cây bút tiêu biểu trong xây dựng loại cốt truyện này phải kể đến Nguyễn

Huy Thiệp với hàng loạt các truyện ngắn: "Tướng về hưu", "Không có

vua", "Những người thợ sẻ" Hiện thực trong "Không có vua" chứa đựng

sự đổ vỡ của trật tự gia đình, sự đổ vỡ những giá trị xã hội "Tất cả chỉ là một

mớ người, một đoàn kịch nhê nhếch, hủ bại và dâm đãng" ở đó, ranh giới, sự

tôn nghiêm trong quan hệ cha - con hầu như bị xoá nhoà Hay với "Tướng về

hưu", hiện thực được quan tâm là sự sụt giảm nghiêm trọng nhân tính của

con người trong xã hội hiện đại

Tiếp cận tiểu thuyết "Ngồi" của Nguyễn Bình Phương, tất cả những mặt

trái của đời sống đương đại dưới ngòi bút của nhà văn được phơi bày sắc nét:

cuộc sống thiếu thốn, tình trạng sống thử, đảng viên hủ hoá, cặp bồ Không

còn tồn tại một chuẩn mực giá trị nào Thay vào đó là sự chi phối của tiền

bạc, quyền lực, tình dục với cách hành xử của con người

Trang 28

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 28 K31B - Ngữ Văn

Ngược dòng thời gian một chút ta bắt gặp "Mảnh đất lắm người nhiều

ma" Muôn mảng của đời sống sinh hoạt được tái hiện sinh động đã giúp

Nguyễn Khắc Trường khắc hoạ sâu sắc bộ mặt nông thôn đầy lạc hậu những

năm bắt đầu thực hiện chính sách khoán Mười

Khai thác giá trị thẩm mĩ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau

1975, có lẽ chính tính triết lí đã chi phối tính chất của cốt truyện sinh hoạt thế

sự Bởi những cốt truyện sinh hoạt thế sự đều hướng tới chiêm nghiệm lẽ đời,

hướng tới sự cảnh tỉnh kín đáo với những lối sống tự nhiên, vô thức ở loại cốt

truyện này, dòng đời là sự kết dính từ chính những yếu tố nhỏ nhặt của đời

thường Đó là cốt truyện của "Những người đi từ trong rừng ra", của các

truyện ngắn: "Mẹ con chị Hằng", "Đứa ăn cắp"

Tiểu thuyết "Những người đi từ trong rừng ra" phản ánh những khó

khăn bề bộn của hiện thực cuộc sống sau giải phóng nói chung và là hiện thực

cuộc sống của những người lính trong thời bình đang làm quen với công việc

của người làm kinh tế với "lưới giã", "ngư trường" Cao hơn, tiểu thuyết đặt

ra một vấn đề có tính thời sự - đời sống của con ngưới sau chiến tranh

"Đứa ăn cắp" là một minh chứng tiêu biểu cho cốt truyện sinh hoạt thế

sự Cốt truyện rất đơn giản xoay quanh những lời bàn ra tán vào của những

người đàn bà tại một khu tập thể về cái chết đột ngột của Thoan - người bị

xem là chuyên ăn cắp vặt Qua đó bạn đọc cảm nhận được cuộc sống quẩn

quanh thời bao cấp

Có thể nói Nguyễn Minh Châu đã sử sụng thành công cốt truyện sinh

hoạt thế sự Điều này thể hiện sự nhạy bén, tinh tế của nhà văn trong việc bắt

kịp với sự đổi thay phức tạp, muôn màu vẻ của đời sống hiện thực

2.1.1.3 Cốt truyện dựa vào những số phận đời tư

Bakhtin khẳng định: "Văn học có hai khuynh hướng tiếp cận đời sống

Hướng về chủ đề lịch sử dân tộc, cộng đồng với thái độ cung kính, ngợi ca là

Trang 29

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 29 K31B - Ngữ Văn

khuynh hướng của sử thi, còn tiếp cận đời sống từ góc độ đời tư trong một

khoảng cách quan sát bình đẳng, gần gũi, đó là khuynh hướng của tiểu

thuyết"

Văn học 1945 - 1975 được giới nghiên cứu gọi "văn học khắc khổ" vì ít

viết về số phận, hạnh phúc cá nhân Sau 1975, văn học chuyển hướng quan

tâm sâu sắc hơn đến những số phận đời tư Cái nhìn tiểu thuyết được thể hiện

rõ Tính "chuyện" trong những sáng tác này cũng hết sức mờ nhạt, hầu như

không có mâu thuẫn, xung đột nào đáng kể Số lượng sáng tác sử dụng cốt

truyện đời tư khá đa dạng Có thể kể đến "Một người Hà Nội" (Nguyễn

Khải), "Chuyện ông Móng" (Nguyễn Huy Thiệp) "Một người Hà Nội"

không chú trọng tạo dựng mâu thuẫn, xung đột Tác phẩm khắc hoạ nhân vật

cô Hiền - "hạt bụi vàng lấp lánh" nơi "đất kinh kì chói sáng những ánh vàng"

Cô Hiền hiện lên chủ yếu trong những nét đẹp về tính cách, đặc biệt là suy

nghĩ, cách ứng xử trong từng thời đoạn của đất nước

Cùng chung nhịp vận động với những cây bút đương đại, những tác

phẩm tự sự của Nguyễn Minh Châu sau 1975 thể hiện sự tiếp cận đời sống từ

tầng sâu bí ẩn của hiện thực phồn tạp Ông đặc biệt đi sâu khai thác đời tư, số

phận cá nhân trong sự tác động ghê gớm của chiến tranh và những bi kịch đời

thường Đó là Lực trong "Cỏ lau", lão Khúng trong "Phiên chợ Giát"

"Cỏ lau" dẫn người đọc đến tâm sự của Lực - một cựu chiến binh Lực

bị "chặt lìa ra khỏi ngay cuộc đời của mình" bởi được xem là đã hi sinh trong

chiến tranh Đi suốt cuộc chiến, Lực mang theo tình yêu duy nhất dành cho

vợ Nhưng chiến tranh như một nhát dao phạt ngang hai nửa cuộc đời Thai đã

có gia đình riêng Lực lặng lẽ chấp nhận số phận - nơi thung lũng "có một

người lính già suốt đời ở đấy cùng ông bố, trồng sắn, gieo lúa, trên một vạt

đất có một ngôi mộ, thỉnh thoảng một mình chèo một chiếc thuyền gỗ xuôi

dòng Đồng Vôi về làng chơi"

Trang 30

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 30 K31B - Ngữ Văn

Nhân vật lão Khúng trong "Phiên chợ Giát" lại là một số phận khác

Quãng đời lão Khúng với những khổ đau, nước mắt, nhọc nhằn, những phi

lí được hồi tưởng trong cuộc hành trình trên quãng đường năm tiếng đồng

hồ khi lão nông chi điền ấy đến chợ Cầu Giát Điểm nhìn của tác giả có sự

thay đổi linh hoạt từ hiện tại về quá khứ rồi hướng đến tương lai, khắc hoạ

cuộc đời nhân vật với những xung đột tâm lí chồng chéo

Với kiểu cốt truyện này, Nguyễn Minh Châu đã góp thêm những tác

phẩm có giá trị vào nền văn học nước nhà, góp phần đưa văn học về gần với

cuộc đời, "vừa mở rộng khả năng phản ánh hiện thực của văn xuôi tự sự, vừa

làm giảm bớt tính loại biệt, ước lệ và sự gián cách của nội dung nghệ thuật

với hiện thực cuộc sống" Bởi lẽ "văn là đời"

2.1.1.4 Cốt truyện hồi tưởng và kí ức

Văn học sau 1975 đánh dấu sự trở lại mạnh mẽ của các yếu tố kì ảo,

hoang đường Vì đây là thủ pháp đắc địa để người nghệ sĩ gián tiếp bộc lộ thái

độ, tư tưởng trước hiện thực đời sống có quá nhiều vấn đề bất cập Cốt truyện

hồi tưởng và kí ức sử dụng đậm đặc các yếu tố kì ảo ấy ở loại cốt truyện này,

giấc mơ, kí ức, hồi ức của nhân vật giữ vai trò quan trọng trong tổ chức kết

cấu của tác phẩm

Trong công trình nghiên cứu "Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc

mơ", S Freud đã chia giấc mơ thành hai phần: nội dung biểu hiện và nội

dung tiềm ẩn Trong đó nội dung tiềm ẩn chính là nguyên nhân của giấc mơ

bao gồm một loạt ước muốn bị nhấn chìm trong vô thức của người nằm mơ

với những xung đột, khao khát, ưu tư bị dồn nén

Ma Văn Kháng với "Côi cút giữa cảnh đời" đã sử dụng hiệu quả kiểu

cốt truyện này Ngoài ra có thể kể đến một số tác phẩm trong sáng tác của

Chu Lai, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh

Trang 31

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 31 K31B - Ngữ Văn

Loại cốt truyện hồi tưởng và kí ức tuy không được Nguyễn Minh Châu

sử dụng nhiều nhưng có thể kể đến cốt truyện trong "Người đàn bà trên

chuyến tàu tốc hành" Cả truyện vừa này khắc hoạ hình ảnh người nữ quân y

sĩ chủ yếu qua những hồi tưởng, kí ức của chị Đó là một thời trong khói lửa

đạn bom, Quỳ khao khát kiếm tìm vô vọng những giá trị tuyệt đối hoàn mĩ

Càng đi tìm chị chỉ càng thấy chua chát thêm cho nỗi thất vọng của mình

2.1.1.5 Cốt truyện lắp ghép

Một đặc điểm quan trọng của cốt truyện tự sự hiện đại là không tuân theo

trật tự tuyến tính, không theo các bước của cốt truyện Các sáng tác không bị

ràng buộc bởi thi pháp truyền thống, có xu hướng lắp ghép liên văn bản

Những tình huống, sự kiện, số phận tưởng chừng không có quan hệ liên đới

được nối kết với nhau tạo thành mạch cốt truyện lôgic, hấp dẫn Ngòi bút nhà

văn có điều kiện tung hoành một cách phóng túng Cùng với đó là sự thoải

mái trong tiếp nhận của bạn đọc

"Đồng bạc trắng hoa xoè" và "Ngược dòng nước lũ" là hai tiểu thuyết

tiêu biểu Ma Văn Kháng sử dụng cốt truyện lắp ghép với hình thức bức thư

cùng thủ pháp lồng giai thoại, điển tích, ngụ ngôn

Với loại cốt truyện này, sáng tác của Nguyễn Minh Châu thể hiện không

thật sắc nét

Như vậy cốt truyện tự sự Việt Nam sau 1975 không biến mất mà được

tồn tại ở những kiểu loại khác nhau Đó là sản phẩm của những cá tính sáng

tạo độc đáo Sự vận động này đòi hỏi ở bạn đọc, để hiệu quả tiếp nhận đạt

được sự tối ưu, phải kết hợp vừa xem xét tính ổn định vừa thấy được sự đa

dạng, linh hoạt của cốt truyện

2.1.2 Nhân vật

2.1.2.1 Đặc trưng nhân vật trong tác phẩm tự sự sau 1975

Trang 32

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 32 K31B - Ngữ Văn

Trước 1975, cảm hứng lịch sử và tư duy sử thi đã hướng nhà văn tới cái

nhìn con người làm chủ dân tộc, đất nước Đó là con người lí tưởng, có đầy

đủ tài năng, ý chí và nghị lực để vượt qua mọi gian khổ vì sự nghiệp của cộng

đồng, luôn lạc quan tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng Trong thời đổi mới,

vấn đề con người cá thể được đặt ra một cách bức xúc trong cảm hứng sáng

tạo của người nghệ sĩ Đó là con người tự nhiên với biết bao nhu cầu của hạnh

phúc đời thường Có thể kể đến hàng loạt nhân vật của Nguyễn Minh Châu,

Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải

Hơn thế các cây bút tự sự đã có ý thức và dần hình thành khuynh hướng

tiếp cận con người trong đời sống hiện thực phồn tạp, đời sống bản năng tự

nhiên, đặc biệt trong đời sống tâm linh đã khẳng định sự đổi mới trong quan

niệm nghệ thuật về con người của văn học Các nhà văn đã phá vỡ cái nhìn

nguyên phiến, tĩnh tại, thay bằng cách nhìn đa diện hơn và vì thế sâu sắc hơn

về con người Con người xuất hiện trong tác phẩm với hàng loạt chất tự nhiên

vốn có của nó: ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức

Nhân vật tự sự giờ đây là những con người với trăm ngàn mảnh đời khác

nhau "đầy những vết dập xoá trên thân thể và trong tâm hồn" Tiêu biểu là

những nhân vật trong các sáng tác gần đây của Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp,

Nguyễn Bình Phương, Đỗ Hoàng Diệu Nhà văn đã nhận diện con người

đích thực với nhiều kiểu dáng nhân vật, trong đó có một số dạng thức nhân

vật cơ bản sau:

 Thứ nhất: Nhân vật dị biệt Thay vì xây dựng những nhân vật điển

hình, có khi "thật hơn cả con người thật" trong văn chương hiện thực chủ

nghĩa, thì các tác giả thời đổi mới đã tìm tòi và sáng tạo kiểu nhân vật "phản

nhân vật" để thể hiện quan niệm về tính phân mảnh, tính không hoàn kết của

thế giới Nhân vật từ chối đại diện cho một lực lượng xã hội nào đó và mang

Trang 33

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 33 K31B - Ngữ Văn

đặc điểm của cái cá biệt, cái "phi sử thi" Đó là những Tính trong "Thoạt kì

thuỷ" (Nguyễn Bình Phương), Cún trong "Cún" (Nguyễn Huy Thiệp)

 Thứ hai: Nhân vật cô đơn Nếu nhân vật trong các tác phẩm thời kì

1945 - 1975 không có cảm giác cô đơn trên con đường đi tìm chân lí, họ luôn

tìm được sự ủng hộ từ phía đồng loại, được tạo đầy đủ điều kiện để phát huy

năng lực của mình, ngược thời gian, trong văn chương lãng mạn, nhân vật có

cô đơn nhưng là nỗi cô đơn mang tính cá nhân, thì trong văn học sau 1975,

trạng thái cô đơn của con người được các nhà văn chú ý tái hiện dưới nhiều

góc độ Cô đơn trở thành nỗi ám ảnh của con người Những nhân vật cô đơn

xuất hiện ngày càng phổ biến, giữ vai trò ngày càng quan trọng trong việc

phản ánh tâm thức con người thời đại Đó là Kiên trong "Nỗi buồn chiến

tranh" (Bảo Ninh), Hiền trong "Thoạt kì thuỷ", Hoàn, Thắng, Kỷ trong

"Người đi vắng" (Nguyễn Bình Phương) Qua dạng thức nhân vật này, các

nhà văn góp phần thể hiện tình trạng rã đám, rời rạc của các quan hệ xã hội

trong đời sống hôm nay

 Thứ ba: Nhân vật lo âu sợ hãi Trong tác phẩm văn chương hiện đại

và hậu hiện đại, nhân vật luôn phải chịu một trạng thái tinh thần như trong

tiểu thuyết và kịch phi lí - luôn có cảm giác bất an, luôn xuất hiện "niềm kinh

hãi cho rằng có ai đó đang vẽ kiểu cho cuộc sống của mình" Nhân vật xưng

"tôi" trong "Bóng đè" (Đỗ Hoàng Diệu), Minh, Thuý trong "Ngồi" (Nguyễn

Bình Phương) là những đại diện tiêu biểu cho dạng thức nhân vật này

 Thứ tư: Nhân vật lưỡng hoá: kiểu nhân vật sống giữa lằn ranh thiện -

ác, ánh sáng - bóng tối Họ thường bị đặt vào tình huống có sự mâu thuẫn

giữa thực tại với khát vọng và buộc phải chọn lựa Trong tự sự Việt Nam thời

đổi mới, nhân vật lưỡng hoá ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc bộc

lộ cái nhìn biện chứng và quan niệm của nhà văn về con người đa trị, lưỡng

Trang 34

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 34 K31B - Ngữ Văn

cực Đó là Năm Thành trong "Ba lần và một lần" của Chu Lai, Khẩn trong

"Ngồi" và rất nhiều nhân vật khác trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu

 Thứ năm: Nhân vật bản năng, tha hoá: Là những nhân vật sống

thiên về bản năng hoặc bị những ham muốn bản năng chi phối đến mức dần

đánh mất mình, đánh mất bản chất người Qua dạng thức nhân vật này, nhà

văn muốn phơi bày mặt trái của đời sống con người thời hiện đại dưới tác

động của nền kinh tế thị trường và sự chi phối của đồng tiền

Tóm lại, thế giới nhân vật tự sự sau 1975 phong phú, đa dạng với nhiều số

phận, nhiều tính cách Thế giới nhân vật ấy đủ khả năng đảm đương vai trò là

phương tiện để khái quát hiện thực phồn tạp đương đại

2.1.2.2 Đặc trưng nhân vật trong tác phẩm tự sự của Nguyễn Minh

Châu sau 1975

Trên đây là một số dạng thức nhân vật xuất hiện nhiều trong những sáng

tác từ thời đổi mới trở lại đây Song, các tác phẩm tự sự của Nguyễn Minh

Châu hầu hết được viết trước năm 1986, riêng tập truyện "Cỏ lau" được hoàn

thành và in sau đó Vì thế, những dạng thức nhân vật mà chúng tôi trình bày

trên đây chỉ có ý nghĩa tham chiếu cho đặc trưng của nhân vật trong tác phẩm

tự sự Nguyễn Minh Châu sau 1975 Đọc tác phẩm của ông, ta cũng bắt gặp

những nhân vật cô đơn như Quỳ trong "Người đàn bà trên chuyến tàu tốc

hành", nhân vật lưỡng hoá như Toàn trong "Mùa trái cóc ở miền Nam",

nhân vật tôi trong "Bức tranh" Tuy nhiên sự thể hiện ấy không thật sắc nét

ở đây, chúng tôi xem xét dựa trên vai trò của nhân vật với nội dung và hình

thức của các sáng tác, theo lối truyền thống, chia ra: nhân vật chính và nhân

vật phụ

 Nhân vật chính

Hình tượng người lính:

Trang 35

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh

Nguyễn Thị Anh 35 K31B - Ngữ Văn

Điều đầu tiên cần khẳng định là không chỉ đến những sáng tác sau 1975

Nguyễn Minh Châu mới bắt đầu viết về người lính Trước đó, cũng như nhiều

cây bút khác trong dòng chảy chung của văn học phục vụ chính trị, nhà văn

đã cống hiến nhiều trang viết đẹp về người lính: tiểu thuyết "Dấu chân người

lính", tập truyện ngắn "Những vùng trời khác nhau" Tác giả viết "Dấu

chân người lính" bằng tất cả sức cảm nhận mãnh liệt về lịch sử hào hùng, về

vẻ đẹp tâm hồn đậm chất tráng ca Cùng với đó, "thiên hướng khai thác của

Nguyễn Minh Châu là thuận chiều và một chiều" (Hà Minh Đức) Những

người lính đều có gương mặt đẹp, thậm chí cả cái chết đẹp (giây phút hi sinh

của Lữ) ở họ là vẻ đẹp tâm hồn cao quý (Nguyệt, Lãm trong "Mảnh trăng

cuối rừng") Đó là hạn chế mang tính thời đại do khuynh hướng sử thi, cái

nhìn chiêm bái nhân vật chi phối

Trong những tác phẩm tự sự sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, hình

tượng người lính vẫn tiếp tục giữ vị trí trung tâm Dường như tác giả không

ngừng say sưa nói với bạn đọc về người chiến sĩ, người lính trong và sau

chiến tranh Nhưng giờ đây hình tượng người lính mang diện mạo mới, được

tiếp cận với cái nhìn biện chứng sâu sắc

Những sáng tác đề cập đến người lính trong chiến tranh mà Nguyễn

Minh Châu viết sau 1975 tức là có độ lùi về mặt thời gian Đó là khi người ta

muốn nhìn nhận lại những giá trị cũ Sự "nhìn nhận lại" ấy tuy không gay gắt

như trong "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh nhưng "Người đàn bà trên

chuyến tàu tốc hành" đã rung một hồi chuông cảnh tỉnh với chúng ta Đừng

đòi hỏi ở người lính (đại diện là Hoà), cao hơn ở con người nói chung, "như

một thánh nhân khi mà họ đang sống giữa cuộc đời"

Chiến tranh qua đi, những người lính nơi chiến trường năm xưa nay ra

sao? Hàng loạt tác phẩm "Những người đi từ trong rừng ra", "Bức tranh",

"Cỏ lau" như là lời giải cho câu hỏi đó

Ngày đăng: 30/11/2015, 21:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtôt (1999), Nghệ thuật thi ca (tái bản), NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Arixtôt
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
3. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995, những đổi mới cơ bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995, những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
4. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
5. Tôn Phương Lan (2002), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Tôn Phương Lan
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
6. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Hiểu văn dạy văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
7. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên) (2008), Ngữ văn 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12
Tác giả: Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2006), Phương pháp dạy học Ngữ văn (Tập 2), NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Tác giả: Phan Trọng Luận (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
9. Phương Lựu (Chủ biên) (2004), Lí luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
10. Hoàng Phê (Chủ biên) (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2006
11. Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) (2008), Ngữ văn 9, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 9
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên) (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
13. Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Long (Đồng chủ biên) (2007), Lịch sử văn học Việt Nam (Tập 3), NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Long (Đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
14. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (Đồng chủ biên) (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (Đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
15. Nhiều tác giả (1984), Từ điển văn học, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1984
17. “Tiểu thuyết đương đại - một "cuộc chơi" khó”, (2008), Văn nghệ, số 15, tr. 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết đương đại - một "cuộc chơi" khó
Tác giả: “Tiểu thuyết đương đại - một "cuộc chơi" khó”
Năm: 2008
18. “Văn học Việt Nam thời kì đổi mới”, kì 1: “Văn học đang có nhiều cơ hội để phóng thoát”, (2008), Văn nghệ Trẻ, số 14, tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thời kì đổi mới”", kì 1: “"Văn học đang có nhiều cơ hội để phóng thoát”
Tác giả: “Văn học Việt Nam thời kì đổi mới”, kì 1: “Văn học đang có nhiều cơ hội để phóng thoát”
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w