Vũ Ngọc Doanh Nguyễn Thị Anh 1 K31B - Ngữ Văn Đặc trưng của tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của nguyễn minh châu với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn trong nhà trường ptth
Trang 1Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 1 K31B - Ngữ Văn
Đặc trưng của tự sự hiện đại sau 1975
qua các sáng tác của nguyễn minh châu
với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn
trong nhà trường ptth
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học Th.s – GVC Vũ Ngọc doanh
Hà Nội - 2009
Trang 2Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 2 K31B - Ngữ Văn
Lời cảm ơn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc của mình tới
thầy giáo ThS _ GVC Vũ Ngọc Doanh - người đã trực tiếp hướng dẫn, tận
tình chỉ bảo để tôi hoàn thành khoá luận này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa
Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn và
các bạn sinh viên trong nhóm khoá luận đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận
lợi để tôi hoàn thành khoá luận
Mặc dù đã có những cố gắng tìm tòi nhất định, song chắc chắn khoá
luận không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của
Trang 3Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 3 K31B - Ngữ Văn
Lời cam đoan
Khoá luận được trình bày dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS_GVC
Vũ Ngọc Doanh Tôi xin cam đoan rằng:
- Khoá luận này là kết quả nghiên cứu,tìm tòi của riêng tôi
- Những tư liệu được trích dẫn trong khoá luận là trung thực
- Kết quả nghiên cứu này không thể trùng khít với bất kì công trình
nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Người thực hiện
Nguyễn Thị Anh
Trang 4Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 4 K31B - Ngữ Văn
Tr : Trang
Trang 5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 5 K31B - Ngữ Văn Mục lục Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Giới hạn của đề tài 2
4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khoá luận 4
Nội dung 5
Chương 1 Những vấn đề chung 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Vấn đề tiếp nhận văn học 5
1.1.1.1 Khái niệm 5
1.1.1.2 Cơ sở tiếp nhận 6
Con đường nhà văn làm ra tác phẩm 6
Con đường bạn đọc chiếm lĩnh tác phẩm 7
1.1.2 Loại thể và vấn đề tiếp nhận 8
1.1.2.1 Khái niệm loại thể 8
1.1.2.2 Phân loại 8
1.1.2.3 Tiếp nhận văn học theo loại thể 9
1.1.2.4 Loại tự sự 9
Khái niệm 9
Sự phân chia loại tự sự 10
Đặc điểm 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
Trang 6Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 6 K31B - Ngữ Văn 1.2.1 Dạy học tác phẩm trong nhà trường PTTH 12
1.2.2 Những hạn chế và hướng khắc phục trong việc tổ chức học sinh tiếp nhận tác phẩm tự sự trong nhà trường PTTH 13
Chương 2 Tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn trong nhà trường PTTH 15
2.1 Tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu 15
2.1.1 Cốt truyện 16
2.1.1.1 Cốt truyện xây dựng trên những nguyên tắc luận đề - những
luận đề về đạo đức, nhân văn, về tâm lí xã hội 17
2.1.1.2 Cốt truyện sinh hoạt thế sự 19
2.1.1.3 Cốt truyện dựa vào những số phận đời tư 20
2.1.1.4 Cốt truyện hồi tưởng và kí ức 22
2.1.1.5 Cốt truyện lắp ghép 23
2.1.2 Nhân vật 23
2.1.2.1 Đặc trưng nhân vật trong tác phẩm tự sự sau 1975 23
2.1.2.2 Đặc trưng nhân vật trong tác phẩm tự sự Nguyễn Minh Châu sau 1975 26
2.1.3 Ngôn ngữ 29
2.1.3.1 Ngôn ngữ miêu tả 30
2.1.3.2 Ngôn ngữ của cảm quan hiện thực đời thường 32
2.1.3.3 Ngôn ngữ triết lí 32
2.1.3.4 Giọng điệu 33
2.2 Giảng dạy tác phẩm tự sự sau 1975 nói chung và tác phẩm Nguyễn Minh Châu nói riêng trong nhà trường PTTH 35
2.2.1 Giúp học sinh đọc và nắm cốt truyện 36
Trang 7Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 7 K31B - Ngữ Văn 2.2.2 Giúp học sinh nhận diện, cảm thụ, đánh giá nhân vật trong tác phẩm 37
2.2.3 Giúp học sinh thẩm bình giá trị của nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 40
Chương 3 Thực nghiệm dạy học tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong nhà trường PTTH 42
3.1 Lí thuyết hoạt động và việc xây dựng thiết kế 42
3.2 Các giáo án thực nghiệm 42
3.2.1 Giáo án 1: Bến quê 43
3.2.2 Giáo án 2: Chiếc thuyền ngoài xa 50
Kết luận 59
Tài liệu tham khảo 60
Trang 8Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 8 K31B - Ngữ Văn
Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Ngữ văn là một trong những bộ môn cơ bản của chương trình giáo dục
trong nhà trường PTTH Việc giảng dạy Ngữ văn ra sao và đâu là phương
pháp mang lại hiệu quả tối ưu khi thị hiếu thẩm mĩ, thước đo giá trị của thời
đại không ngừng thay đổi luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà giáo
dục
Hiện nay, chương trình Ngữ văn ở nhà trường phổ thông được tổ chức
theo nguyên tắc loại thể Trong khi đó, mọi hoạt động trong giảng dạy Ngữ
văn đều xoay quanh một đối tượng trung tâm là văn bản Mỗi văn bản thuộc
một loại thể nhất định Hiểu văn bản thuộc loại thể nào đồng nghĩa chúng ta
đã có được công cụ để giải mã văn bản, từ đó cảm nhận sâu sắc giá trị thẩm
mĩ cũng như tư tưởng văn bản ấy mang tải Vì vậy, vấn đề loại thể trong thực
tế giảng dạy ở trường PT đặt ra không những như một vấn đề tri thức mà còn
là một vấn đề phương pháp
Trong chương trình giáo dục PTTH, số lượng văn bản thuộc loại tự sự
chiếm tỉ lệ tương đối lớn nên việc quan tâm đến loại thể này có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn
Bên cạnh đó, trên văn đàn Việt Nam sau năm 1975 trở lại đây, tự sự - với
những ưu thế của nó - đã có sự vận động và phát triển mạnh mẽ Những cách
tân táo bạo gây dư luận ồn ào và kéo dài, những tranh cãi gay gắt, những diễn
biến phức tạp và bất ngờ của quá trình tiếp nhận văn học hầu như diễn ra
chủ yếu trong loại hình này
Một trong những gương mặt tự sự có nhiều đóng góp quan trọng cho quá
trình đổi mới loại thể này là Nguyễn Minh Châu Với sự tự tin và bản lĩnh của
một ngòi bút tài năng, đam mê sáng tạo cùng những đánh giá sắc sảo về cuộc
sống, Nguyễn Minh Châu đã để lại một khối lượng tác phẩm phong phú
Trang 9Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 9 K31B - Ngữ Văn
khẳng định một phong cách sáng tạo riêng Và trong chương trình Ngữ văn
PTTH, sáng tác thuộc loại tự sự của nhà văn quân đội này luôn giữ vị trí xứng
đáng
Vì những lí do nêu trên, có thể khẳng định: việc nghiên cứu đề tài: "Đặc
trưng của tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu
với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn trong nhà trường PTTH" là việc làm
cần thiết và có ý nghĩa thiết thực Đó cũng là con đường thuận lợi để tác giả
khoá luận có thể tìm ra những nét đổi mới của tự sự sau 1975 và đánh giá
đúng về những đóng góp của Nguyễn Minh Châu vào tiến trình cách tân văn
học Việt Nam đương đại, từ đó có được phương pháp giảng dạy tác phẩm tự
sự nói chung và tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong nhà trường PT một cách
hiệu quả nhất
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Trên lĩnh vực lí luận, từ thời cổ đại, Arixtôt trong cuốn Nghệ thuật
thi ca đã đề cập đến "loại hình tự sự" Vì vậy, đến nay, những công trình
nghiên cứu về đặc trưng tự sự vô cùng phong phú Trong giới hạn khoá luận
này chúng tôi chỉ khảo sát một số công trình nghiên cứu:
Giáo trình Lí luận văn học (của ĐH Tổng hợp do Hà Minh Đức chủ
biên cũng như của ĐHSP do Phương Lựu chủ biên) đã đưa ra những đặc
trưng của tự sự Song vấn đề được bàn luận chỉ có tính chất lí thuyết chưa đề
cập đến phương pháp giảng dạy
Cuốn Chủ nghĩa cấu trúc và văn học cũng chỉ ra những đặc trưng
chung của thể loại tự sự Có điều đặc biệt, ở tác phẩm này, lí thuyết Trịnh Bá
Đĩnh đưa ra hoàn toàn mang tính chất chủ nghĩa duy vật siêu hình
Nguyễn Thị Bình với cuốn "Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995, những
đổi mới cơ bản" đã trình bày sự đổi mới trong quan niệm nhà văn, trong quan
Trang 10Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 10 K31B - Ngữ Văn
niệm nghệ thuật về con người và phương diện thể loại, đồng thời khảo sát sự
vận động, biến đổi của hơn 20 năm văn học đương đại bề bộn và phức tạp
2.2 Trên lĩnh vực phương pháp, những công trình nghiên cứu về phương
pháp giảng dạy tự sự khá đa dạng Song nhìn chung tất cả chỉ dừng ở tầm khái
quát, sơ lược Có thể kể đến: "Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại
thể" (Trần Thanh Đạm), "Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương"
(Nguyễn Viết Chữ), "Những vấn đề thi pháp của truyện" (Nguyễn Thái
Hoà)
2.3 Nguyễn Minh Châu là nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng chiến
chống Mỹ nên những công trình nghiên cứu về tác phẩm của ông khá phong
- Thi pháp hiện đại, Đỗ Đức Hiểu, NXB Hội nhà văn, H, 2002
Đây là nguồn tư liệu tham khảo quý giá, và, trên cơ sở tiếp thu những ý
kiến, kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước cùng với sự đánh giá, kiến
giải của riêng mình, tác giả khoá luận sẽ mạnh dạn triển khai khoá luận với đề
tài: "Đặc trưng của tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh
Châu với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn trong nhà trường PTTH"
3 Gới hạn của đề tài
3.1 Về nội dung:
Với đề tài đã chọn, tác giả khoá luận tiến hành tìm hiểu đặc trưng của tự
sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu Và, ở chừng
Trang 11Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 11 K31B - Ngữ Văn
mực nào đó, đề xuất được một số phương pháp giảng dạy tác phẩm tự sự sau
1975 nói chung và tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong nhà thường PT nói
riêng, từ đó xây dựng 2 giáo án thực nghiệm là "Bến quê" và "Chiếc thuyền
ngoài xa"
3.2 Về tư liệu:
Tư liệu mà tác giả khoá luận lựa chọn nghiên cứu bao gồm những tác
phẩm tự sự của VHVN hiện đại sau 1975 nói chung, đặc biệt là tác phẩm tự
sự Nguyễn Minh Châu
4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Chỉ ra được những đặc trưng của tự sự sau 1975 qua các sáng tác của
Nguyễn Minh Châu, đề xuất được một số phương pháp giảng dạy tác phẩm tự
sự sau 1975 nói chung và tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong nhà trường PT
nói riêng, xây dựng được 2 giáo án thực nghiệm
4.2 Mục đích nghiên cứu:
Học tập và nắm vững lí luận về đặc trưng loại thể, về phương pháp dạy
học tác phẩm theo đặc trưng loại thể, cụ thể hơn là loại tự sự
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
- Phương pháp phân tích tác phẩm
- Phương pháp thống kê, so sánh
6 Đóng góp của khoá luận:
Khái quát lí thuyết về tiếp nhận văn học, về tự sự và đặc trưng của tự sự,
vận dụng để tìm hiểu đặc trưng của tự sự sau 1975 qua các sáng tác của
Nguyễn Minh Châu Qua đó góp thêm tiếng nói khẳng định những đóng góp
quan trọng của Nguyễn Minh Châu vào quá trình vận động, phát triển của tự
sự hiện đại Việt Nam Đồng thời đề xuất được một số phương pháp giảng dạy
Trang 12Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 12 K31B - Ngữ Văn
tác phẩm tự sự sau 1975 nói chung và tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trong
nhà trường PT nói riêng
Trang 13Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 13 K31B - Ngữ Văn
Theo Từ điển tiếng Việt - Hoàng Phê (chủ biên), "tiếp nhận": đón nhận
cái từ người khác, nơi khác chuyển giao cho
" Tiếp nhận văn học", theo Từ điển thuật ngữ văn học là "hoạt động
chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự
cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, quan niệm nghệ
thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc, cách hiểu, ấn tượng
trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể"
Tiếp nhận văn học chính là cuộc trao đổi ngầm giữa bạn đọc - tác giả văn
học Thực chất của tiếp nhận văn học là hoạt động nhận thức của bạn đọc
nhằm lĩnh hội tri thức vốn tồn tại khách quan với chủ thể tiếp nhận Những tri
thức ấy sẽ làm phong phú đời sống tư tưởng, làm nảy sinh những tình cảm
thẩm mĩ nơi bạn đọc Trong "Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương",
Nguyễn Thanh Hùng khẳng định: "Tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình
đem lại cho người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động
để củng cố và phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới
tinh thần và năng lực cảm xúc của con người trước đời sống" Đi từ nhận thức
đến tình cảm, cao hơn sẽ có những hành động tương ứng ở mỗi cá nhân Tất
cả ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và phát triển nhân cách mỗi người
Với dạy học Ngữ văn trong nhà trường PTTH cũng vậy, mục đích cuối cùng
là góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh trên cơ sở các em hiểu và cảm
thụ sâu sắc các tác phẩm văn chương
Trang 14Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 14 K31B - Ngữ Văn
Tiếp nhận văn học trong nhà trường PT trong mối quan hệ với tiếp nhận
văn học trong đời sống mang đặc thù riêng: nếu trong đời sống, tiếp nhận văn
học thường do sự tự phát, bị chi phối bởi thị hiếu, mục đích tiếp nhận của cá
nhân là không giống nhau , thì tiếp nhận văn học trong nhà trường PT là hoạt
động mang tính tự giác cao và có mục đích rõ ràng
1.1.1.2 Cơ sở tiếp nhận
Con đường nhà văn làm ra tác phẩm
Sáng tác văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần, theo
phương thức "cá thể" được diễn ra muôn màu muôn vẻ Tố Hữu nói: "Mỗi
người có cách làm của mình, cách sáng tạo của mình, không bắt chước của ai
được" Song, trong sự đa dạng này, ta vẫn bắt gặp những nét chung cơ bản
Yếu tố đầu tiên bắt nguồn cho sự ra đời của tác phẩm là cảm hứng sáng
tạo Cảm hứng phải mãnh liệt Bởi viết văn là gan ruột, tâm huyết, không thể
cho ra những sản phẩm của một tâm hồn bằng lặng, vô vị, miễn cưỡng
Khát vọng chủ quan của người nghệ sĩ, nung nấu ý định viết ra một tác
phẩm khi bắt gặp cảm hứng sẽ hình thành ý đồ sáng tạo Nó chỉ một ý định và
động cơ cụ thể có tác dụng xác định phương hướng chung cho một quá trình
sáng tác cụ thể ý đồ sáng tạo mang tính khả biến
ý đồ vốn đã phải dựa trên cơ sở ít nhiều tư liệu nhất định Khi ý đồ đã
hình thành thì tư liệu được tổ chức lại và có sự bổ sung Đây chính là lúc nhà
văn thu thập tài liệu, hệ thống hoá và lập sơ đồ Sơ đồ là bản phác thảo của
nhà văn trước khi viết
Sau khi mọi sự chuẩn bị chu tất, nhà văn bắt đầu viết Đây là công việc
khó khăn, phức tạp, một quá trình lao động căng thẳng với đầy đủ trạng thái
cung bậc cảm xúc cùng băn khoăn, suy tính vì "trong hàng tấn quặng chữ mới
có một chữ vàng"
Trang 15Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 15 K31B - Ngữ Văn
Chặng đường cuối - sửa chữa Nó giúp nhà văn nhìn lại đứa con tinh
thần một cách bao quát, xem xét lại các yếu tố để bổ sung hoặc loại bỏ các chi
tiết thừa Tác phẩm được hoàn thiện
Con đường bạn đọc chiếm lĩnh tác phẩm
Nói đến tác phẩm văn chương là nói đến một văn bản trong chỉnh thể
Tác phẩm văn chương được cấu tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật nhằm xây
dựng nên một thế giới nghệ thuật riêng được kết cấu một cách chặt chẽ trong
những quan hệ nội dung và hình thức, giữa bộ phận và tổng thể, giữa yếu tố
hữu hình và vô hình, giữa văn bản và tiền văn bản
Có nhiều con đường để tiếp nhận tác phẩm văn học Đặc biệt trong thời
đại ngày nay, người ta có thể chiếm lĩnh tác phẩm văn học bằng cách xem các
bộ phim được chuyển thể từ các tác phẩm văn học, hoặc có thể nghe người
khác đọc lại tác phẩm hay trực tiếp đọc tác phẩm Trong đó, đọc - hiểu là con
đường đặc trưng giúp bạn đọc chiếm lĩnh tác phẩm Bởi lẽ những cách tiếp
cận khác có nhiều hạn chế, chỉ có con đường đọc - hiểu mới đúng với bản
chất của văn học - loại hình nghệ thuật ngôn từ Thông tin nghệ thuật trong
tác phẩm văn học được thể hiện ở hệ thống ngôn từ tạo thành cấu trúc văn bản
tác phẩm Trong văn bản văn học bao giờ cũng có những khoảng trống
buộc người đọc phải liên tưởng, tưởng tượng tạo cơ sở hình thành tác phẩm
của riêng mình
Đọc - hiểu là con đường đặc trưng để bạn đọc chiếm lĩnh giá trị thẩm mĩ,
sự muôn màu muôn vẻ của đời sống xã hội mà tác phẩm mang tải Điều này
chi phối đến dạy học Ngữ văn trong nhà trường PT Trong dạy học, giáo viên
phải giúp học sinh đọc văn, từ đó hình thành năng lực đọc, dần dần nâng cao
thành văn hóa đọc cho học sinh Và, tổ chức cho học sinh đọc văn đồng nghĩa
với việc giáo viên tổ chức cho các em tìm hiểu thế giới nghệ thuật, nhận thức
về đời sống tạo sự đồng điệu, đồng sáng tạo giữa tác giả và bạn đọc Đây
Trang 16Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 16 K31B - Ngữ Văn
cũng chính là cơ sở để người nghệ sĩ tìm được những tri âm, tri kỉ giữa đông
đảo độc giả yêu mến tác phẩm văn chương của mình
1.1.2 Loại thể và vấn đề tiếp nhận
1.1.2.1 Khái niệm loại thể
Loại thể (thể loại): Là một khái niệm kép bao gồm hai khái niệm có quan
hệ bao chứa
Loại (Loại hình): Là phương thức người nghệ sĩ sử dụng để nhận thức,
khám phá đời sống khách quan, tái hiện đời sống và sáng tạo hình tượng nghệ
thuật, thông qua hình tượng nghệ thuật để biểu hiện tư tưởng, tình cảm
Thể (Thể tài): Là hình thức tổ chức ngôn ngữ của tác phẩm
Trong đời sống văn học, loại thể được dùng như một khái niệm kép
Trong nghiên cứu, chúng được phân tách rạch ròi Mỗi một loại bao gồm
nhiều thể Số lượng thể nhiều hơn loại, sự biến động và thay đổi cũng lớn
hơn
1.1.2.2 Phân loại
Xung quanh vấn đề phân chia văn chương thành loại và thể có rất nhiều
ý kiến và sự luận giải khác nhau Song, ở đây, tác giả khoá luận xin đưa ra
một cách phân loại từ thời Cổ đại trong Nghệ thuật thi ca của Arixtôt
Arixtôt phân chia thành ba loại: trữ tình, tự sự, kịch
Theo Từ điển thuật ngữ văn học:
Trữ tình: Một trong ba phương thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự
và kịch)
Nếu tự sự thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả bằng con đường tái
hiện một cách khách quan các hiện tượng đời sống, thì trữ tình lại phản ánh
đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người
tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình
đối với thế giới và nhân sinh
Trang 17Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 17 K31B - Ngữ Văn
Kịch: ở cấp độ loại hình, kịch là một trong ba phương thức cơ bản của
văn học Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học
Hiểu được những tri thức trên, người viết sẽ có thêm cơ sở lí luận để
nghiên cứu đề tài này
1.1.2.3 Tiếp nhận văn học theo loại thể
Nếu vấn đề thể loại văn học thuộc phạm trù lí luận văn học thì hoạt động
tiếp nhận là cơ sở lí thuyết của phương pháp dạy học, thuộc về khoa học giáo
dục Nói chung giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Bất kì một tác
phẩm nào cũng chuyển tải một nội dung nào đó và được tổ chức trong một
hình thức đặc thù nhất định Nội dung và hình thức ấy quy định cách thức
chiếm lĩnh của bạn đọc
Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn PTTH được xây dựng hướng tới
mục tiêu người học Ngữ văn phải có năng lực học văn và làm văn Đặc điểm
này yêu cầu trong dạy học, giáo viên phải bám sát đặc trưng loại thể, giúp học
sinh vận dụng tri thức từ một bài học cụ thể trở thành phương tiện để các em
có thể khai thác và lĩnh hội các tác phẩm khác thuộc cùng thể loại Khi đó
giáo viên đã dạy cho các em cách thức để chiếm lĩnh tri thức chứ không đơn
thuần là dạy tri thức cho các em
1.1.2.4 Loại tự sự
Khái niệm:
Đã có khá nhiều quan điểm khác nhau về loại tự sự trong giới nghiên
cứu Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát một số quan điểm trong các từ điển và
giáo trình lí luận văn học
Các tác giả Từ điển tiếng Việt đã xác nhận: "Tự sự là thể loại văn học
phản ánh hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách qua cốt truyện
tương đối hoàn chỉnh"
Trang 18Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 18 K31B - Ngữ Văn
Từ điển thuật ngữ văn học có đề xuất một cách nhìn khác mang tính
khái quát hơn cả: Tự sự là phương thức tái hiện một cách khách quan các
hiện tượng đời sống, bên cạnh hai phương diện trữ tình và kịch, được dùng
làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học
Theo giáo trình Lí luận văn học dành cho các trường ĐH, CĐ Sư phạm,
những người biên soạn rất coi trọng yếu tố con người - nhân vật: "Tác phẩm
tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó - qua con người, hành
vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó"
Như vậy, giới nghiên cứu trong nước đã đưa ra những quan niệm cụ thể
về loại tự sự trên cơ sở tìm hiểu nét nổi bật Song, xét một cách chung nhất,
các ý kiến đều gặp nhau trong sự khẳng định: Tự sự là thể loại văn học phản
ánh sắc nét hiện thực đời sống một cách khách quan bằng cách kể lại sự kiện,
sự việc, miêu tả tính cách nhân vật, chi tiết có đầu có đuôi thông qua cốt
truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lại bởi một người kể chuyện
Sự phân chia loại tự sự:
Phân chia loại ra thành các thể ra sao không chỉ với loại tự sự mà ngay
cả loại trữ tình và kịch đến nay cũng chưa đi đến sự thống nhất Với tự sự, về
cơ bản, sự phân chia dựa vào một số tiêu chí sau:
Thứ nhất: dựa vào thời gian, tự sự gồm có: thần thoại, truyền thuyết,
truyện cổ tích, truyện Nôm
Thứ hai: dựa vào tính chất của xung đột và phục vụ những nhu cầu
thẩm mĩ khác nhau, tự sự được chia thành: truyện tâm lí xã hội, truyện trinh
thám
Thứ ba: dựa theo dung lượng tác phẩm ít hay nhiều, tự sự được phân
ra: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết
Sự phân chia trên chỉ mang tính tương đối
Đặc điểm:
Trang 19Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 19 K31B - Ngữ Văn
Thứ nhất: Cốt truyện
Cốt truyện trong Từ điển tiếng Việt được cắt nghĩa: "Là một hệ thống sự
kiện, là nòng cốt cho diễn biến và các mối quan hệ, sự phát triển tính cách
nhân vật trong tác phẩm văn học thuộc loại tự sự"
Theo giáo trình Lí luận văn học (Hà Minh Đức chủ biên): "Cốt truyện
là hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là
các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và
phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng làm sáng tỏ chủ đề, tư
tưởng của tác phẩm"
Mọi sự cắt nghĩa trên đây đều hướng tới nhận định: cốt truyện, ở một
chừng mực nào đó, chính là các biến cố, các sự kiện có ý nghĩa quyết định
đến tính cách, cuộc đời nhân vật Cốt truyện là thành phần quan trọng của tác
phẩm tự sự
Thứ hai: Nhân vật
Hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nhân vật văn học:
Các tác giả Từ điển văn học (tập 2) nhận định: "Nhân vật là yếu tố cơ
bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng và đến
lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập
trung khắc hoạ"
Với định nghĩa này, các nhà biên soạn từ điển đã nhìn nhận nhân vật từ
khía cạnh vai trò, chức năng của nó với tác phẩm và từ quan hệ của nó với các
yếu tố hình thức Đây là một định nghĩa khá toàn diện
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, quan niệm về nhân vật văn học có
phần thu hẹp hơn: "Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong
tác phẩm văn học"
Trong một tác phẩm tự sự, nhân vật tồn tại song hành hai tư cách: vừa là
hình thức vừa là nội dung Vì thế tìm hiểu nhân vật phải dựa vào đặc điểm
Trang 20Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 20 K31B - Ngữ Văn
ngoại hình, ngôn ngữ, hành động của nhân vật để khẳng định tính cách nhân
vật đó; phải xem nhân vật là con đẻ tinh thần của nhà văn nào, là sản phẩm
của phương pháp sáng tác nào
Nhân vật luôn là đối tượng để nhà văn phân tích, khái quát đời sống và
tái hiện bằng các phương tiện đặc trưng của văn chương Nắm vững các đặc
điểm của nhân vật tự sự sẽ giúp ta tiếp nhận văn học theo loại thể hiệu quả
nhất
Thứ ba: Ngôn ngữ
Ngôn ngữ tự sự bao gồm ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể
chuyện
Phan Ngọc trong "Phong cách ngôn ngữ Nguyễn Du và Truyện Kiều"
khẳng định: Ngôn ngữ nhân vật là phát ngôn của nhân vật nhưng phải là
những phát ngôn chứa đựng thông tin thẩm mĩ
Các nhà lí luận văn học xét ngôn ngữ nhân vật trên cơ sở phân loại theo
các phương thức mà nhân vật ấy sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp chia
thành: ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại Ngôn ngữ chính là hình
thức bộc lộ tính cách, đời sống nội tâm của nhân vật
Cùng với ngôn ngữ nhân vật là ngôn ngữ của người kể chuyện (chiếm số
lượng chủ yếu trong tác phẩm tự sự) Ngôn ngữ của người kể chuyện tiếp tục
được chia ra gồm có:
Ngôn ngữ của người kể chuyện đứng bên ngoài diễn biến của câu
chuyện với tư cách của người quan sát và trần thuật, mang tính khách quan và
gián tiếp
Người kể chuyện cũng đồng thời là nhân vật Lúc này việc nghiên cứu
ngôn ngữ của người kể chuyện trùng khít với nghiên cứu về ngôn ngữ nhân
vật
Trang 21Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 21 K31B - Ngữ Văn
Những đặc điểm trên đây của loại tự sự là những chỉ dẫn cho chúng tôi
trong quá trình tìm hiểu đặc trưng của tự sự hiện đại sau 1975 nói chung và cụ
thể qua sáng tác của Nguyễn Minh Châu nói riêng
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Dạy học tác phẩm trong nhà trường PTTH
Nhận xét về thực trạng dạy học Ngữ văn rong nhà trường PTTH, Phúc
Nguyên trong báo Văn nghệ - số 36 (ra ngày 09/09/2006) có viết: "Theo một
lối mòn quá cũ, giáo viên chỉ làm nhiệm vụ "rót kiến thức vào bình chứa học
sinh mà không cần biết các em có tiêu hoá được kiến thức đó không Học sinh
thì tiếp thu kiến thức một cách thụ động để rồi trả bài cho thầy một cách
nguyên si như thế và làm theo những ý tưởng của thầy, theo những bài mẫu
khuôn sáo Cách dạy học kiểu này đã thủ tiêu vai trò chủ động sáng tạo của
học sinh trong học văn, không khơi dậy được tiềm năng văn học nơi các em"
Thực trạng ấy có căn nguyên một phần từ chỗ lâu nay giáo viên quen
giảng dạy các tác phẩm theo chủ đề, không bám sát vào đặc trưng loại thể Tệ
hại hơn, một bộ phận không nhỏ giáo viên còn mơ hồ về đặc trưng của từng
loại thể nói chung và của tự sự nói riêng dẫn đến hệ quả giáo viên coi nhẹ giá
trị thẩm mĩ của tác phẩm, yêu cầu về rèn luyện kĩ năng cho học sinh chưa
được quan tâm đúng mực Thực trạng ấy trái chiều với mục tiêu "Dạy học văn
không chỉ nhằm đạt đến những rung động thẩm mĩ mà còn là quá trình phát
triển về trí tuệ, về kiến thức, về kĩ năng được quy định" (Phan Trọng Luận)
Khắc phục thực trạng trên, hiện nay trong giáo dục đã thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học Với việc giảng dạy các tác phẩm văn chương, một yêu
cầu cơ bản đặt ra là phải bám sát đặc trưng loại thể, từ đó tạo điều kiện cho
học sinh phát huy tài năng và sự sáng tạo
1.2.2 Những hạn chế và hướng khắc phục trong việc tổ chức học sinh
tiếp nhận tác phẩm tự sự trong nhà trường PTTH
Trang 22Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 22 K31B - Ngữ Văn
Cùng là phương thức thể hiện đời sống như trữ tình hay kịch, nhưng tự
sự mang những đặc điểm riêng không thể trộn lẫn Chẳng hạn với thơ (loại trữ
tình) đặc trưng hàng đầu là cảm xúc; với kịch là các mâu thuẫn, xung đột thì ở
tự sự lại là nghệ thuật kể chuyện Nếu giáo viên không nắm vững các đặc
trưng ấy sẽ dẫn tới đồng nhất trong cách giảng dạy các tác phẩm dù bản thân
chúng thuộc các loại thể khác nhau
Một tồn tại khác nữa là hiện nay, trong khi yêu cầu cơ bản đầu tiên khi
các em tiếp nhận tác phẩm văn học là phải đọc văn bản thì học sinh lại đọc
văn bản không nghiêm túc Hệ luỵ tất yếu là khi đi vào tìm hiểu tác phẩm tự
sự các em không nắm được các tình huống, chi tiết, sự kiện Do đó, việc tiếp
nhận tác phẩm tự sự với các em càng trở nên khó khăn hơn
Nhằm khắc phục những tồn tại trên, chúng tôi xin đưa ra một số giải
pháp để nâng cao hiệu quả học Ngữ văn của học sinh PTTH
Trước hết về phía giáo viên: bên cạnh yêu cầu về kĩ năng, nghiệp vụ
sư phạm, về mặt kiến thức, giáo viên phải nắm vững đặc trưng từng loại thể,
từ đó dạy học tác phẩm văn chương phải bám sát các đặc trưng này để có
được sự định hướng sát hợp và chính xác
Về phía học sinh: Là chủ thể của hoạt động học tập, các em phải phát
huy vai trò chủ động tích cực của mình, phải có thái độ tiếp nhận nghiêm túc
được thể hiện trước tiên ở việc đọc và nắm vững tác phẩm Từ những tri thức
về đặc trưng loại thể nói chung và đặc trưng của tự sự nói riêng, các em có thể
áp dụng vào việc tìm hiểu các tác phẩm cụ thể Khi đó, hoạt động học tập đạt
kết quả tối ưu
Trang 23Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 23 K31B - Ngữ Văn
Chương 2
Tự sự hiện đại sau 1975
qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu
Với việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn
trong nhà trường PTTH
2.1 Tự sự hiện đại sau 1975 qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu
Nếu trước 1975, đặc biệt giai đoạn 1945 - 1975, thơ trữ tình phát triển
mạnh và đạt được nhiều thành tựu tiêu biểu trong nền văn học dân tộc, thì sau
1975, ngôi vị quán quân ấy thuộc về tự sự Đây cũng là biểu hiện của thời đổi
mới trên văn đàn Văn học Việt Nam sau 1975 nhìn chung vẫn trượt theo
quán tính cũ nhưng đã bắt đầu có tín hiệu về nhu cầu đổi mới và sự đổi mới
ấy ngày càng được bộc lộ sắc nét Đổi mới là tất yếu
Có sự chuyển đổi trên bởi lẽ lúc này chiến tranh qua đi, độc lập dân tộc
được đảm bảo, nền kinh tế chuyển từ chế độ bao cấp về sản xuất sang nền
kinh tế thị trường Hiện thực đời thường được tấm gương văn học phản chiếu
Văn học cũng là chìa khoá mở ra những khuất tối trong xã hội thì văn xuôi là
thể loại hợp lí hơn cả Vì văn xuôi có thế mạnh ở sự kiện, ở việc tái hiện đời
sống, những trăn trở suy tư của con người Đội ngũ các nhà văn tài năng thời
kì này xuất hiện nhiều trên văn đàn với các tên tuổi nổi bật: Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Lê Lựu, Bảo
Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương Những cây bút ấy đã ra
mắt độc giả nhiều tác phẩm có giá trị, có sự đổi mới khá sâu sắc về tư tưởng,
thi pháp, phong cách
Văn học nói chung và loại tự sự nói riêng, sự đổi mới ở tư duy nghệ
thuật trong sáng tạo đã dẫn đến một hệ quả tất yếu là thay đổi các yếu tố thuộc
về đặc trưng loại thể Với tự sự, như trên đã khẳng định thì sự thay đổi diễn ra
trên các bình diện: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ
Trang 24Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 24 K31B - Ngữ Văn
Sau 1975, trạng thái sử thi phân rã Trước áp lực của đời sống đương đại
phức tạp, với lượng thông tin khổng lồ từ nhiều kênh, trước sự vượt thoát
mạnh mẽ của các nghệ thuật nghe nhìn tất cả điều đó khiến văn học phải đổi
thay, nghệ sĩ phải bứt phá, thậm chí phá cách Kéo theo quan niệm "nhìn
thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, bao quát được những vấn đề cơ bản
của đời sống xã hội và sự vận động, phát triển đáp ứng nhu cầu bức xúc của
con người thời đại", người ta nhìn nhận lại nhiều giá trị cũ, muốn đo đạc lại
bằng những tiêu chí mới Và, các nhà văn bằng cái nhìn trung thực, táo bạo
đã đi sâu khai thác, phân tích hiện thực bề bộn của đời thường
2.1.1 Cốt truyện
Như đã khẳng định ở phần cơ sở lí luận, trong tác phẩm tự sự, cốt truyện
giữ vai trò quan trọng Vì thế nghiên cứu sự vận động của tự sự trong thời kì
đổi mới không thể không xét đến sự đổi mới trên bình diện cốt truyện ở mỗi
giai đoạn lịch sử, mỗi trào lưu, hẹp hơn là trong thi pháp sáng tạo của nhà
văn, vai trò của cốt truyện trong thể tự sự cũng có những cách thể hiện đa
dạng
Cốt truyện trong các tác phẩm tự sự trước 1975 chủ yếu dựa vào những
hành động bên ngoài ở đó "xung đột được thể hiện trọn vẹn và biến mất trong
quá trình các sự kiện được miêu tả Nó xuất hiện trở nên gay gắt và được giải
quyết dường như ngay trước mắt người đọc" Tiêu biểu có thể kể đến cốt
truyện trong hàng loạt các tác phẩm: "Vợ chồng A Phủ" (Tô Hoài); "Người
mẹ cầm súng" (Nguyễn Thi); "Rừng xà nu" (Nguyễn Trung Thành) Cốt
truyện được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn, xung đột không thể dung
hoà giữa chính nghĩa - phi nghĩa, giữa ta - địch Cụ thể hơn trong "Vợ chồng
A Phủ" đó là mâu thuẫn giữa bọn thống lí thuộc giai cấp thống trị với những
người dân nghèo lương thiện thuộc tầng lớp bị trị ở một bản làng của người
Mèo
Trang 25Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 25 K31B - Ngữ Văn
Văn học sau 1975, trên cơ sở kế thừa và phát triển những đặc trưng của
cốt truyện truyền thống, tự sự Việt Nam tiếp cận với tự sự thế giới và có sự
đổi thay sâu sắc về mặt cốt truyện Cốt truyện không có những biến cố, chủ
yếu dựa vào những hành động bên trong, những thăng trầm trong tư tưởng,
tâm lí nhân vật "Tiểu thuyết ở ta gần đây có xu hướng mờ nhạt về tính
"chuyện", cốt truyện ("phân rã" cốt truyện) Những câu chuyện lớn, những sự
việc lớn được thay bằng những câu chuyện nhỏ kiểu "mảnh vỡ”, xoáy sâu vào
cảm giác hiện sinh, khai thác, tô đậm chiều sâu vô thức, những vùng mờ
trong thế giới tâm linh con người" ("Tiểu thuyết đương đại - một "cuộc chơi"
khó" - Văn nghệ số 15, ra ngày 12/04/2008) Đó cũng là đặc trưng của cốt
truyện tự sự sau 1975 nói chung Có thể khẳng định, tự sự từ sau đổi mới đa
dạng hơn trong nội dung phản ánh, phong phú hơn trong hình thức biểu đạt
Cốt truyện giàu tâm trạng, được viết một cách tự nhiên, không theo trật tự
thời gian, có thể đảo ngược theo ý tác giả tạo ra "truyện trong truyện" Về cơ
bản có thể phân ra một số loại cốt truyện như sau:
2.1.1.1 Cốt truyện xây dựng trên những nguyên tắc luận đề - những
luận đề về đạo đức, nhân văn, về tâm lí xã hội
Theo Từ điển tiếng Việt, luận đề là "mệnh đề hay thuyết coi là đúng và
được đưa ra để bàn luận"
Loại cốt truyện này được xây dựng trên cơ sở là xung đột đầy nghịch lí,
mang tính chất bi kịch với mục đích hướng người đọc đến sự phản tỉnh trong
nhận thức về một quan niệm, tư tưởng vốn có Pospelov cho rằng trong loại
cốt truyện này, "sự việc mà tác giả đề cập chỉ là sự bổ sung cho các mâu
thuẫn đã có sẵn, bất chấp sự việc đó có hay không"
Trong tiểu thuyết "Thoạt kì thuỷ" của Nguyễn Bình Phương, thế giới
người hỗn độn hiện lên trong cái bản năng nguyên thuỷ hoang dã Cõi sống
trong "Thoạt kì thuỷ" sa lầy trong chém giết, trong dốt nát tối tăm, trong dục
Trang 26Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 26 K31B - Ngữ Văn
vọng không được thoả mãn, trong bạo lực không kiềm chế được Qua tác
phẩm, Nguyễn Bình Phương lên tiếng cảnh báo về tình trạng tha hoá của con
người
Cốt truyện trong "Nguyễn Thị Lộ" hay "Trương Chi" được Nguyễn
Huy Thiệp xây dựng dựa trên quan điểm con người dù tài năng siêu phàm tột
bậc thì ở họ vẫn luôn tồn tại phần người không thể khuất lấp Nguyễn Trãi
cũng mang trong mình những ham muốn đời thường Trương Chi cũng văng
tục, chửi bậy
Ngoài ra, một số tác phẩm của Ma Văn Kháng: "Mưa mùa hạ", "Mùa
lá rụng trong vườn" cũng mang loại cốt truyện này
Với Nguyễn Minh Châu, mật độ những sáng tác của nhà văn sử dụng cốt
truyện xây dựng trên những nguyên tắc luận đề khá dày đặc Ngọc Trai trong
bài viết "Sự khám phá con người Việt Nam qua truyện ngắn" trên tạp chí Văn
nghệ quân đội (10/1987) đã nhận xét khái quát về xu hướng truyện ngắn sau
1975 của Nguyễn Minh Châu: "Phần lớn các truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu là loại truyện luận đề - những luận đề về đạo đức, nhân văn, về tâm lí
xã hội", có thể kể đến "Sắm vai", "Chiếc thuyền ngoài xa", tiểu thuyết
"Miền cháy"
Cốt truyện "Sắm vai" xoay quanh nhân vật anh T được xây dựng dựa trên
một triết lí nhân sinh sâu sắc từng khiến Nguyễn Minh Châu trăn trở nhiều
năm Đó là vấn đề lựa chọn cuộc sống - sống sao cho đích thực là mình dẫu
có thể với cuộc sống ấy chúng ta phải chấp nhận nhiều thua thiệt
Nguyên tắc luận đề lại được khai thác ở một khía cạnh khác trong tiểu
thuyết "Miền cháy" - câu chuyện của đất nước sau chiến tranh Bối cảnh của
tác phẩm là miền Trung gồng mình qua lửa đạn đau thương, miền Trung trước
những thử thách nghiệt ngã của sự hồi sinh "Miền cháy" khẳng định vẻ đẹp
bề sâu của phẩm giá con người Việt Nam: chúng ta chiến thắng kẻ thù vì
Trang 27Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 27 K31B - Ngữ Văn
chúng ta cao hơn kẻ thù về nhân cách, vì tư tưởng và hành động của chúng ta
mang đậm tinh thần nhân đạo
Sự phong phú về mặt số lượng các sáng tác xây dựng cốt truyện trên
những nguyên tắc luận đề đã góp phần khẳng định nét đẹp của sự chiêm
nghiệm, của tư duy triết lí trong ngòi bút tài hoa Nguyễn Minh Châu
2.1.1.2 Cốt truyện sinh hoạt thế sự
Văn học Việt Nam sau 1975 cùng với khuynh hướng nhận thức lại hiện
thực đã mở ra những hướng tiếp cận mới với hiện thực nhiều chiều, đặc biệt
là hiện thực đời thường, đã thu hẹp khoảng cách giữa văn học - đời sống Cốt
truyện sinh hoạt thế sự là sản phẩm tất yếu của thời đổi mới
Bản chất của những sáng tác mang loại cốt truyện sinh hoạt thế sự là kể
về những "sự việc đơn giản, bình thường", khắc hoạ những mảng màu khác
nhau của bức tranh đời sống Cốt truyện không có những mở đầu hay kết
thúc, vắng bóng những thắt mở nút hồi hộp
Cây bút tiêu biểu trong xây dựng loại cốt truyện này phải kể đến Nguyễn
Huy Thiệp với hàng loạt các truyện ngắn: "Tướng về hưu", "Không có
vua", "Những người thợ sẻ" Hiện thực trong "Không có vua" chứa đựng
sự đổ vỡ của trật tự gia đình, sự đổ vỡ những giá trị xã hội "Tất cả chỉ là một
mớ người, một đoàn kịch nhê nhếch, hủ bại và dâm đãng" ở đó, ranh giới, sự
tôn nghiêm trong quan hệ cha - con hầu như bị xoá nhoà Hay với "Tướng về
hưu", hiện thực được quan tâm là sự sụt giảm nghiêm trọng nhân tính của
con người trong xã hội hiện đại
Tiếp cận tiểu thuyết "Ngồi" của Nguyễn Bình Phương, tất cả những mặt
trái của đời sống đương đại dưới ngòi bút của nhà văn được phơi bày sắc nét:
cuộc sống thiếu thốn, tình trạng sống thử, đảng viên hủ hoá, cặp bồ Không
còn tồn tại một chuẩn mực giá trị nào Thay vào đó là sự chi phối của tiền
bạc, quyền lực, tình dục với cách hành xử của con người
Trang 28Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 28 K31B - Ngữ Văn
Ngược dòng thời gian một chút ta bắt gặp "Mảnh đất lắm người nhiều
ma" Muôn mảng của đời sống sinh hoạt được tái hiện sinh động đã giúp
Nguyễn Khắc Trường khắc hoạ sâu sắc bộ mặt nông thôn đầy lạc hậu những
năm bắt đầu thực hiện chính sách khoán Mười
Khai thác giá trị thẩm mĩ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau
1975, có lẽ chính tính triết lí đã chi phối tính chất của cốt truyện sinh hoạt thế
sự Bởi những cốt truyện sinh hoạt thế sự đều hướng tới chiêm nghiệm lẽ đời,
hướng tới sự cảnh tỉnh kín đáo với những lối sống tự nhiên, vô thức ở loại cốt
truyện này, dòng đời là sự kết dính từ chính những yếu tố nhỏ nhặt của đời
thường Đó là cốt truyện của "Những người đi từ trong rừng ra", của các
truyện ngắn: "Mẹ con chị Hằng", "Đứa ăn cắp"
Tiểu thuyết "Những người đi từ trong rừng ra" phản ánh những khó
khăn bề bộn của hiện thực cuộc sống sau giải phóng nói chung và là hiện thực
cuộc sống của những người lính trong thời bình đang làm quen với công việc
của người làm kinh tế với "lưới giã", "ngư trường" Cao hơn, tiểu thuyết đặt
ra một vấn đề có tính thời sự - đời sống của con ngưới sau chiến tranh
"Đứa ăn cắp" là một minh chứng tiêu biểu cho cốt truyện sinh hoạt thế
sự Cốt truyện rất đơn giản xoay quanh những lời bàn ra tán vào của những
người đàn bà tại một khu tập thể về cái chết đột ngột của Thoan - người bị
xem là chuyên ăn cắp vặt Qua đó bạn đọc cảm nhận được cuộc sống quẩn
quanh thời bao cấp
Có thể nói Nguyễn Minh Châu đã sử sụng thành công cốt truyện sinh
hoạt thế sự Điều này thể hiện sự nhạy bén, tinh tế của nhà văn trong việc bắt
kịp với sự đổi thay phức tạp, muôn màu vẻ của đời sống hiện thực
2.1.1.3 Cốt truyện dựa vào những số phận đời tư
Bakhtin khẳng định: "Văn học có hai khuynh hướng tiếp cận đời sống
Hướng về chủ đề lịch sử dân tộc, cộng đồng với thái độ cung kính, ngợi ca là
Trang 29Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 29 K31B - Ngữ Văn
khuynh hướng của sử thi, còn tiếp cận đời sống từ góc độ đời tư trong một
khoảng cách quan sát bình đẳng, gần gũi, đó là khuynh hướng của tiểu
thuyết"
Văn học 1945 - 1975 được giới nghiên cứu gọi "văn học khắc khổ" vì ít
viết về số phận, hạnh phúc cá nhân Sau 1975, văn học chuyển hướng quan
tâm sâu sắc hơn đến những số phận đời tư Cái nhìn tiểu thuyết được thể hiện
rõ Tính "chuyện" trong những sáng tác này cũng hết sức mờ nhạt, hầu như
không có mâu thuẫn, xung đột nào đáng kể Số lượng sáng tác sử dụng cốt
truyện đời tư khá đa dạng Có thể kể đến "Một người Hà Nội" (Nguyễn
Khải), "Chuyện ông Móng" (Nguyễn Huy Thiệp) "Một người Hà Nội"
không chú trọng tạo dựng mâu thuẫn, xung đột Tác phẩm khắc hoạ nhân vật
cô Hiền - "hạt bụi vàng lấp lánh" nơi "đất kinh kì chói sáng những ánh vàng"
Cô Hiền hiện lên chủ yếu trong những nét đẹp về tính cách, đặc biệt là suy
nghĩ, cách ứng xử trong từng thời đoạn của đất nước
Cùng chung nhịp vận động với những cây bút đương đại, những tác
phẩm tự sự của Nguyễn Minh Châu sau 1975 thể hiện sự tiếp cận đời sống từ
tầng sâu bí ẩn của hiện thực phồn tạp Ông đặc biệt đi sâu khai thác đời tư, số
phận cá nhân trong sự tác động ghê gớm của chiến tranh và những bi kịch đời
thường Đó là Lực trong "Cỏ lau", lão Khúng trong "Phiên chợ Giát"
"Cỏ lau" dẫn người đọc đến tâm sự của Lực - một cựu chiến binh Lực
bị "chặt lìa ra khỏi ngay cuộc đời của mình" bởi được xem là đã hi sinh trong
chiến tranh Đi suốt cuộc chiến, Lực mang theo tình yêu duy nhất dành cho
vợ Nhưng chiến tranh như một nhát dao phạt ngang hai nửa cuộc đời Thai đã
có gia đình riêng Lực lặng lẽ chấp nhận số phận - nơi thung lũng "có một
người lính già suốt đời ở đấy cùng ông bố, trồng sắn, gieo lúa, trên một vạt
đất có một ngôi mộ, thỉnh thoảng một mình chèo một chiếc thuyền gỗ xuôi
dòng Đồng Vôi về làng chơi"
Trang 30Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 30 K31B - Ngữ Văn
Nhân vật lão Khúng trong "Phiên chợ Giát" lại là một số phận khác
Quãng đời lão Khúng với những khổ đau, nước mắt, nhọc nhằn, những phi
lí được hồi tưởng trong cuộc hành trình trên quãng đường năm tiếng đồng
hồ khi lão nông chi điền ấy đến chợ Cầu Giát Điểm nhìn của tác giả có sự
thay đổi linh hoạt từ hiện tại về quá khứ rồi hướng đến tương lai, khắc hoạ
cuộc đời nhân vật với những xung đột tâm lí chồng chéo
Với kiểu cốt truyện này, Nguyễn Minh Châu đã góp thêm những tác
phẩm có giá trị vào nền văn học nước nhà, góp phần đưa văn học về gần với
cuộc đời, "vừa mở rộng khả năng phản ánh hiện thực của văn xuôi tự sự, vừa
làm giảm bớt tính loại biệt, ước lệ và sự gián cách của nội dung nghệ thuật
với hiện thực cuộc sống" Bởi lẽ "văn là đời"
2.1.1.4 Cốt truyện hồi tưởng và kí ức
Văn học sau 1975 đánh dấu sự trở lại mạnh mẽ của các yếu tố kì ảo,
hoang đường Vì đây là thủ pháp đắc địa để người nghệ sĩ gián tiếp bộc lộ thái
độ, tư tưởng trước hiện thực đời sống có quá nhiều vấn đề bất cập Cốt truyện
hồi tưởng và kí ức sử dụng đậm đặc các yếu tố kì ảo ấy ở loại cốt truyện này,
giấc mơ, kí ức, hồi ức của nhân vật giữ vai trò quan trọng trong tổ chức kết
cấu của tác phẩm
Trong công trình nghiên cứu "Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc
mơ", S Freud đã chia giấc mơ thành hai phần: nội dung biểu hiện và nội
dung tiềm ẩn Trong đó nội dung tiềm ẩn chính là nguyên nhân của giấc mơ
bao gồm một loạt ước muốn bị nhấn chìm trong vô thức của người nằm mơ
với những xung đột, khao khát, ưu tư bị dồn nén
Ma Văn Kháng với "Côi cút giữa cảnh đời" đã sử dụng hiệu quả kiểu
cốt truyện này Ngoài ra có thể kể đến một số tác phẩm trong sáng tác của
Chu Lai, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh
Trang 31Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 31 K31B - Ngữ Văn
Loại cốt truyện hồi tưởng và kí ức tuy không được Nguyễn Minh Châu
sử dụng nhiều nhưng có thể kể đến cốt truyện trong "Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành" Cả truyện vừa này khắc hoạ hình ảnh người nữ quân y
sĩ chủ yếu qua những hồi tưởng, kí ức của chị Đó là một thời trong khói lửa
đạn bom, Quỳ khao khát kiếm tìm vô vọng những giá trị tuyệt đối hoàn mĩ
Càng đi tìm chị chỉ càng thấy chua chát thêm cho nỗi thất vọng của mình
2.1.1.5 Cốt truyện lắp ghép
Một đặc điểm quan trọng của cốt truyện tự sự hiện đại là không tuân theo
trật tự tuyến tính, không theo các bước của cốt truyện Các sáng tác không bị
ràng buộc bởi thi pháp truyền thống, có xu hướng lắp ghép liên văn bản
Những tình huống, sự kiện, số phận tưởng chừng không có quan hệ liên đới
được nối kết với nhau tạo thành mạch cốt truyện lôgic, hấp dẫn Ngòi bút nhà
văn có điều kiện tung hoành một cách phóng túng Cùng với đó là sự thoải
mái trong tiếp nhận của bạn đọc
"Đồng bạc trắng hoa xoè" và "Ngược dòng nước lũ" là hai tiểu thuyết
tiêu biểu Ma Văn Kháng sử dụng cốt truyện lắp ghép với hình thức bức thư
cùng thủ pháp lồng giai thoại, điển tích, ngụ ngôn
Với loại cốt truyện này, sáng tác của Nguyễn Minh Châu thể hiện không
thật sắc nét
Như vậy cốt truyện tự sự Việt Nam sau 1975 không biến mất mà được
tồn tại ở những kiểu loại khác nhau Đó là sản phẩm của những cá tính sáng
tạo độc đáo Sự vận động này đòi hỏi ở bạn đọc, để hiệu quả tiếp nhận đạt
được sự tối ưu, phải kết hợp vừa xem xét tính ổn định vừa thấy được sự đa
dạng, linh hoạt của cốt truyện
2.1.2 Nhân vật
2.1.2.1 Đặc trưng nhân vật trong tác phẩm tự sự sau 1975
Trang 32Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 32 K31B - Ngữ Văn
Trước 1975, cảm hứng lịch sử và tư duy sử thi đã hướng nhà văn tới cái
nhìn con người làm chủ dân tộc, đất nước Đó là con người lí tưởng, có đầy
đủ tài năng, ý chí và nghị lực để vượt qua mọi gian khổ vì sự nghiệp của cộng
đồng, luôn lạc quan tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng Trong thời đổi mới,
vấn đề con người cá thể được đặt ra một cách bức xúc trong cảm hứng sáng
tạo của người nghệ sĩ Đó là con người tự nhiên với biết bao nhu cầu của hạnh
phúc đời thường Có thể kể đến hàng loạt nhân vật của Nguyễn Minh Châu,
Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải
Hơn thế các cây bút tự sự đã có ý thức và dần hình thành khuynh hướng
tiếp cận con người trong đời sống hiện thực phồn tạp, đời sống bản năng tự
nhiên, đặc biệt trong đời sống tâm linh đã khẳng định sự đổi mới trong quan
niệm nghệ thuật về con người của văn học Các nhà văn đã phá vỡ cái nhìn
nguyên phiến, tĩnh tại, thay bằng cách nhìn đa diện hơn và vì thế sâu sắc hơn
về con người Con người xuất hiện trong tác phẩm với hàng loạt chất tự nhiên
vốn có của nó: ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức
Nhân vật tự sự giờ đây là những con người với trăm ngàn mảnh đời khác
nhau "đầy những vết dập xoá trên thân thể và trong tâm hồn" Tiêu biểu là
những nhân vật trong các sáng tác gần đây của Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp,
Nguyễn Bình Phương, Đỗ Hoàng Diệu Nhà văn đã nhận diện con người
đích thực với nhiều kiểu dáng nhân vật, trong đó có một số dạng thức nhân
vật cơ bản sau:
Thứ nhất: Nhân vật dị biệt Thay vì xây dựng những nhân vật điển
hình, có khi "thật hơn cả con người thật" trong văn chương hiện thực chủ
nghĩa, thì các tác giả thời đổi mới đã tìm tòi và sáng tạo kiểu nhân vật "phản
nhân vật" để thể hiện quan niệm về tính phân mảnh, tính không hoàn kết của
thế giới Nhân vật từ chối đại diện cho một lực lượng xã hội nào đó và mang
Trang 33Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 33 K31B - Ngữ Văn
đặc điểm của cái cá biệt, cái "phi sử thi" Đó là những Tính trong "Thoạt kì
thuỷ" (Nguyễn Bình Phương), Cún trong "Cún" (Nguyễn Huy Thiệp)
Thứ hai: Nhân vật cô đơn Nếu nhân vật trong các tác phẩm thời kì
1945 - 1975 không có cảm giác cô đơn trên con đường đi tìm chân lí, họ luôn
tìm được sự ủng hộ từ phía đồng loại, được tạo đầy đủ điều kiện để phát huy
năng lực của mình, ngược thời gian, trong văn chương lãng mạn, nhân vật có
cô đơn nhưng là nỗi cô đơn mang tính cá nhân, thì trong văn học sau 1975,
trạng thái cô đơn của con người được các nhà văn chú ý tái hiện dưới nhiều
góc độ Cô đơn trở thành nỗi ám ảnh của con người Những nhân vật cô đơn
xuất hiện ngày càng phổ biến, giữ vai trò ngày càng quan trọng trong việc
phản ánh tâm thức con người thời đại Đó là Kiên trong "Nỗi buồn chiến
tranh" (Bảo Ninh), Hiền trong "Thoạt kì thuỷ", Hoàn, Thắng, Kỷ trong
"Người đi vắng" (Nguyễn Bình Phương) Qua dạng thức nhân vật này, các
nhà văn góp phần thể hiện tình trạng rã đám, rời rạc của các quan hệ xã hội
trong đời sống hôm nay
Thứ ba: Nhân vật lo âu sợ hãi Trong tác phẩm văn chương hiện đại
và hậu hiện đại, nhân vật luôn phải chịu một trạng thái tinh thần như trong
tiểu thuyết và kịch phi lí - luôn có cảm giác bất an, luôn xuất hiện "niềm kinh
hãi cho rằng có ai đó đang vẽ kiểu cho cuộc sống của mình" Nhân vật xưng
"tôi" trong "Bóng đè" (Đỗ Hoàng Diệu), Minh, Thuý trong "Ngồi" (Nguyễn
Bình Phương) là những đại diện tiêu biểu cho dạng thức nhân vật này
Thứ tư: Nhân vật lưỡng hoá: kiểu nhân vật sống giữa lằn ranh thiện -
ác, ánh sáng - bóng tối Họ thường bị đặt vào tình huống có sự mâu thuẫn
giữa thực tại với khát vọng và buộc phải chọn lựa Trong tự sự Việt Nam thời
đổi mới, nhân vật lưỡng hoá ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc bộc
lộ cái nhìn biện chứng và quan niệm của nhà văn về con người đa trị, lưỡng
Trang 34Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 34 K31B - Ngữ Văn
cực Đó là Năm Thành trong "Ba lần và một lần" của Chu Lai, Khẩn trong
"Ngồi" và rất nhiều nhân vật khác trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
Thứ năm: Nhân vật bản năng, tha hoá: Là những nhân vật sống
thiên về bản năng hoặc bị những ham muốn bản năng chi phối đến mức dần
đánh mất mình, đánh mất bản chất người Qua dạng thức nhân vật này, nhà
văn muốn phơi bày mặt trái của đời sống con người thời hiện đại dưới tác
động của nền kinh tế thị trường và sự chi phối của đồng tiền
Tóm lại, thế giới nhân vật tự sự sau 1975 phong phú, đa dạng với nhiều số
phận, nhiều tính cách Thế giới nhân vật ấy đủ khả năng đảm đương vai trò là
phương tiện để khái quát hiện thực phồn tạp đương đại
2.1.2.2 Đặc trưng nhân vật trong tác phẩm tự sự của Nguyễn Minh
Châu sau 1975
Trên đây là một số dạng thức nhân vật xuất hiện nhiều trong những sáng
tác từ thời đổi mới trở lại đây Song, các tác phẩm tự sự của Nguyễn Minh
Châu hầu hết được viết trước năm 1986, riêng tập truyện "Cỏ lau" được hoàn
thành và in sau đó Vì thế, những dạng thức nhân vật mà chúng tôi trình bày
trên đây chỉ có ý nghĩa tham chiếu cho đặc trưng của nhân vật trong tác phẩm
tự sự Nguyễn Minh Châu sau 1975 Đọc tác phẩm của ông, ta cũng bắt gặp
những nhân vật cô đơn như Quỳ trong "Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành", nhân vật lưỡng hoá như Toàn trong "Mùa trái cóc ở miền Nam",
nhân vật tôi trong "Bức tranh" Tuy nhiên sự thể hiện ấy không thật sắc nét
ở đây, chúng tôi xem xét dựa trên vai trò của nhân vật với nội dung và hình
thức của các sáng tác, theo lối truyền thống, chia ra: nhân vật chính và nhân
vật phụ
Nhân vật chính
Hình tượng người lính:
Trang 35Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Ngọc Doanh
Nguyễn Thị Anh 35 K31B - Ngữ Văn
Điều đầu tiên cần khẳng định là không chỉ đến những sáng tác sau 1975
Nguyễn Minh Châu mới bắt đầu viết về người lính Trước đó, cũng như nhiều
cây bút khác trong dòng chảy chung của văn học phục vụ chính trị, nhà văn
đã cống hiến nhiều trang viết đẹp về người lính: tiểu thuyết "Dấu chân người
lính", tập truyện ngắn "Những vùng trời khác nhau" Tác giả viết "Dấu
chân người lính" bằng tất cả sức cảm nhận mãnh liệt về lịch sử hào hùng, về
vẻ đẹp tâm hồn đậm chất tráng ca Cùng với đó, "thiên hướng khai thác của
Nguyễn Minh Châu là thuận chiều và một chiều" (Hà Minh Đức) Những
người lính đều có gương mặt đẹp, thậm chí cả cái chết đẹp (giây phút hi sinh
của Lữ) ở họ là vẻ đẹp tâm hồn cao quý (Nguyệt, Lãm trong "Mảnh trăng
cuối rừng") Đó là hạn chế mang tính thời đại do khuynh hướng sử thi, cái
nhìn chiêm bái nhân vật chi phối
Trong những tác phẩm tự sự sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, hình
tượng người lính vẫn tiếp tục giữ vị trí trung tâm Dường như tác giả không
ngừng say sưa nói với bạn đọc về người chiến sĩ, người lính trong và sau
chiến tranh Nhưng giờ đây hình tượng người lính mang diện mạo mới, được
tiếp cận với cái nhìn biện chứng sâu sắc
Những sáng tác đề cập đến người lính trong chiến tranh mà Nguyễn
Minh Châu viết sau 1975 tức là có độ lùi về mặt thời gian Đó là khi người ta
muốn nhìn nhận lại những giá trị cũ Sự "nhìn nhận lại" ấy tuy không gay gắt
như trong "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh nhưng "Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành" đã rung một hồi chuông cảnh tỉnh với chúng ta Đừng
đòi hỏi ở người lính (đại diện là Hoà), cao hơn ở con người nói chung, "như
một thánh nhân khi mà họ đang sống giữa cuộc đời"
Chiến tranh qua đi, những người lính nơi chiến trường năm xưa nay ra
sao? Hàng loạt tác phẩm "Những người đi từ trong rừng ra", "Bức tranh",
"Cỏ lau" như là lời giải cho câu hỏi đó