1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỪ XƯNG hô TRONG m ột số tác PHẨM của NGUYỄN MINH CHÂU

97 169 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 495,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.3 Đặc điểm của từ xưng hô trong tiếng Việt1.2 Sự nghiệp văn chương NGUYỄN MINH CHÂU 2.1 Từ xưng hô dùng trong gia tộc, thân tộc 2.1.1 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ giữa ông b à với

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM

CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

Luận văn tốt nghiệp Đại học

Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn:

Ths Bùi Thị Tâm Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thị KhánhLy Mssv: 6075498

Trang 2

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT PHẦN MỞ ĐẦU

TIẾNG VIỆT

1.1 Các quan niệm khác nhau về từ tiếng Việt

1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt

1.3 Các loại từ tiếng Việt

1.3.1 Theo Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp Tiếng Việt – tập một”

2.1 Khái niệm về từ xưng hô trong tiếng Việt

2.2 Các cách phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt

2.2.1 Phân loại theo từ loại

2.2.1.1 Quan điểm của Ngữ pháp học

2.2.1.2 Quan điểm của Ngữ dụng học

2.2.1.3 Quan điểm của Phong cách học

2.2.2 Phân loại theo phạm vi sử dụng

2.2.2.1 Những từ xưng hô dùng trong gia t ộc, thân tộc

2.2.2.1.1 Xưng hô giữa ông, bà và cháu trong gia đình

2.2.2.1.2 Xưng hô giữa cha mẹ và con cái trong gia đình

2.2.2.1.3 Xưng hô giữa vợ chồng trong gia đ ình

2.2.2.1.4 Xưng hô giữa anh – chị - em trong gia đình

2.2.2.2 Những từ xưng hô dùng trong mối quan hệ xã hội

2.2.2.2.1 Dùng từ chỉ quan hệ thân tộc l àm lời xưng hô

2.2.2.2.2 Cách xưng hô dùng ch ức danh

Trang 3

2.3 Đặc điểm của từ xưng hô trong tiếng Việt

1.2 Sự nghiệp văn chương

NGUYỄN MINH CHÂU

2.1 Từ xưng hô dùng trong gia tộc, thân tộc

2.1.1 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ giữa ông b à với cháu

2.1.2 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ giữa cha mẹ đối với con cái trong gia đ ình2.1.3 Từ xưng hô trong mối quan hệ vợ chồng

2.1.4 Từ xưng hô trong mối quan hệ anh - chị - em

2.2 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ xã hội

2.2.1 Từ xưng hô trong mối quan hệ làng xóm

2.2.2 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ giữa những ng ười đồng đội

2.2.3 Từ xưng hô dùng để định danh kẻ thù

CHƯƠNG 3

GIÁ TRỊ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỪ X ƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC

PHẨM CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

CÁC NHÂN VẬT ĐỐI VỚI NHAU VÀ GIỮA NHÀ VĂN ĐỐI VỚI NHÂN VẬT CỦA MÌNH

2.1 Sử dụng từ xưng hô để bộc lộ tình cảm, thái độ giữa các nhân vật trong tác phẩm đối với nhau

2.2 Sử dụng từ xưng hô để bộc lộ tình cảm, thái độ giữa nhà văn đối với nhân vật của mình

TIẾP CỦA MỖI VÙNG MIỀN

3.1 Sử dụng từ xưng hô thể hiện đặc trưng văn hóa giao tiếp của vùng Bắc Bộ

3.2 Sử dụng từ xưng hô thể hiện đặc trưng văn hóa giao tiếp của vùng Trung Bộ

3.3 Sử dụng từ xưng hô thể hiện đặc trưng văn hóa giao tiếp của vùng Nam Bộ

PHẦN KẾT LUẬN

Trang 4

Tài liệu tham khảo

Từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng cả về số lượng lẫn chất lượng

Nó không chỉ đơn thuần dùng để “xưng” và “hô” nhằm thể hiện mối quan hệ giữa các đốitượng khi giao tiếp mà còn là phương tiện bộc lộ tình cảm, thái độ, tính cách của mỗingười Nhờ có từ xưng hô mà nhịp cầu giao cảm giữa đôi bờ tâm hồn được nối liền vàthắt chặt hơn Mặt khác, việc sử dụng từ xưng hô còn là cơ sở để đánh giá sự chuẩn mựctrong lời nói cũng như văn hóa ứng xử trong giao tiếp của người Việt

Chính vì sự phong phú và đa dạng nhưng lại không kém phần phức tạp đó mà từ xưng

hô đã cuốn hút người viết ngay từ những lần đầu làm quen với nó trong quá trình học tập

Từ việc muốn tìm hiểu rõ ràng, thấu đáo hơn về chức năng, giá trị vận dụng và nhữnghiệu quả độc đáo mà từ xưng hô mang lại, người viết đã chọn đề tài luận văn: “Từ xưng

hô trong một số tác phẩm của Nguyễn Minh Châu”

Sở dĩ người viết chọn các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu vì ông là ngòi bút tiêubiểu của thời kỳ văn học đổi mới Với một loạt những tác phẩm không chỉ minh họa xuấtsắc cho bước chuyển âm thầm nh ưng quyết liệt trong quan niệm sáng tác m à còn đạt tới

sự hoàn thiện nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu đ ã tạo cho mình một vị trí không thể thaythế trong giai đoạn quá độ của văn học tr ước và sau 1975, trở thành một nhà văn đặt nềnmóng toàn diện và sâu sắc cho sự đổi mới cả về quan niệm nghệ thuật lẫn ph ương thứcbiểu đạt trong đó bao gồm việc sử dụng từ x ưng hô Các tác phẩm của ông trong mấy thập

kỷ qua đã thu hút sự tìm tòi, nghiên cứu của những người quan tâm ở nhiều khía cạnh vàmức độ khác nhau Là một độc giả trung thành và rất mực yêu quí những trang văn của

Trang 5

ông, người viết cũng không ngoại lệ Ng ười viết chọn đề tài này không chỉ bắt nguồn từlòng mê say tác phẩm của Nguyễn Minh Châu m à bên cạnh đó người viết còn muốnkhẳng định tầm quan trọng của từ x ưng hô trong cuộc sống nói chung và trong tác phẩmvăn học nói riêng.

Trong hệ thống ngôn ngữ, từ xưng hô được xem là một bộ phận khá phong phú v àphức tạp Ngoài việc là đối tượng chính của ngữ pháp tiếng Việt, từ x ưng hô còn đượcnghiên cứu từ góc độ của hai phân môn l à ngữ dụng học và phong cách học tiếng Việt.Xét từ góc độ Ngữ pháp tiếng Việt thì hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứuriêng về từ xưng hô Các nhà ngữ pháp học chỉ nhìn nhận và xem xét từ xưng hô về mặt

từ loại, chủ yếu là từ loại đại từ Vì vậy mà các tác giả như Diệp Quang Ban, Đỗ Thị KimLiên, Nguyễn Hữu Quỳnh, Lê Biên… đã đồng nhất từ xưng hô với đại từ nhân xưng, haycòn gọi là đại từ xưng hô Cụ thể là các ý kiến như sau:

Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt tập 1 có nhận xét: “Đại từ xưng hô

dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp” [2; tr.111] Theo

ông thì đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách chungnhất ở cương vị ngôi (đại từ xưng hô dùng ở một ngôi xác định: ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3 v àđại từ xưng hô dùng ở nhiều ngôi linh hoạt)

Cùng quan điểm với Diệp Quang Ban, Đỗ Thị Kim Li ên với Ngữ pháp tiếng Việt

đã nhận định đại từ xưng hô dùng để thay thế và “chỉ trỏ người khi giao tiếp” [29; tr.58].

Điểm khác biệt là tác giả đã chỉ ra bên cạnh đại từ xưng hô thì các danh từ thân tộc như:ông, bà, cha, mẹ, anh, em, cô, bác cũng c òn được dùng để xưng hô và những cặp từ như:anh / em, cha / mẹ, ông / bà, cô / bác, chú / thím, ông / cháu, bà / cháu… ngoài vi ệc được

sử dụng xưng hô trong phạm vi gia đình, thân tộc thì còn được dùng xưng hô ngoài x ãhội

Quyển Ngữ pháp tiếng Việt của Trung tâm Khoa học X ã hội và Nhân văn Quốc gia

cũng có những nhận xét về đại từ x ưng hô khá giống với hai quyển tr ên Tuy nhiên quyển

này còn nhận định: “Cách xưng hô có chú ý tới những quan hệ xã hội, tình cảm rất tế nhị

chứ không phải chỉ phân biệt các “ngôi” thứ nhất, thứ hai, thứ ba v à các “số” nhiều, ít”

[17; tr.110] Đặc biệt các tác giả đã đặt đại từ xưng hô nằm trong nhóm “đại từ sự vật”.

Trang 6

Cùng chung với các quan điểm trên là quan điểm của Nguyễn Hữu Quỳnh trong

Ngữ pháp tiếng Việt nhưng tác giả đã đặt các danh từ thân tộc v ào nhóm các đại từ xưng

hô lâm thời, và theo ông thì: “Đại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm các đại từ chuy ên dùng để xưng hô và các đại từ xưng hô lâm thời” [36; tr.151] Các đại từ xưng hô lâm thời

ở đây được hiểu là các danh từ thân tộc

Đinh Văn Đức trong Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại) ngoài những quan điểm khá

giống với các tác giả tr ên còn cho rằng các đại từ chỉ định nh ư: “đây, đấy, đó, kia, kìa,

vậy, thế… nhiều khi cũng được dùng để chỉ người” [15; tr.204].

Lê Biên với Từ loại tiếng Việt hiện đại đã có những nghiên cứu khá sâu về đại từ

xưng hô Theo tác gi ả thì có thể chia đại từ xưng hô trong tiếng Việt thành hai lớp là đại

từ xưng hô gốc đích thực và các yếu tố được đại từ hóa dùng để xưng hô như: những danh

từ lâm thời đảm nhận chức năng đại từ, các từ chỉ chức danh, nghề nghiệp, các t ên riêngcủa người… Ngoài ra, ông còn chia từ xưng hô trong tiếng Việt thành hai lớp có phạm vi

sử dụng khác nhau, gồm: những từ x ưng hô dùng trong gia t ộc và những từ xưng hô dùng

ngoài xã hội Và ông còn nhận định rằng: “Xưng hô trong giao tiếp là một vấn đề lớn, liên quan đến nhiều nhân tố” [3; tr.123].

Xét từ góc độ Ngữ dụng học th ì nổi bật là các tài liệu của Đỗ Hữu Châu:

Trong quyển Đại cương ngôn ngữ học – tập 2, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “ Trước hết

để xưng hô tất cả các ngôn ngữ đều có các đại từ x ưng hô Đại từ xưng hô trong tiếng

Việt ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai là: Tôi, tao, ta, mình, mày, bay, chúng tôi, chúng mày, chúng tao, chúng mình, b ọn mình… ý nghĩa biểu cảm trong các đại từ x ưng hô của tiếng Việt quá đậm Tiếng Việt thiếu hẳn một đại từ ngôi thứ hai ho àn toàn trung tính như You tiếng Anh Cho nên chúng không được dùng trong giao tiếp ở ngữ vực quy thức v à phi quy thức, theo phép lịch sự trang t rọng, tôn kính, chúng th ường chỉ được dùng trong ngữ vực thân tình với thái độ từ thân mật đến suồng s ã hoặc khinh rẻ Tùy theo ngữ cảnh mà tiếng Việt còn dùng các phương tiện sau đây để xưng hô: tên riêng, các danh t ừ thân tộc, các từ chỉ chức nghiệp, những từ chuyên dùng để xưng hô, một số tổ hợp dân dã” [6;

tr.75 – tr.77] Bên cạnh đó, tác giả cũng có những nghi ên cứu khác khá sâu về từ x ưng hô

như việc đề cập đến vấn đề chiếu vật v à chỉ xuất Theo tác giả th ì: “Bằng cách lựa chọn

từ để tự xưng và để “hô” người giao tiếp, người nói định một khung quan hệ li ên cá nhân

Trang 7

cho mình và cho người đối thoại với mình” [6; tr.78] Tác giả đã nghiên cứu từ xưng hô

trên các bình diện: hệ thống các từ x ưng hô, những nhân tố chi phối việc d ùng các từxưng hô trong giao tiếp và một phần của sự khác nhau trong cách d ùng từ xưng hô trong

tiếng Việt và tiếng Anh Tác giả còn chỉ ra: “Vì phải thể hiện quan hệ li ên cá nhân cho

nên các ngôn ngữ mới có nhiều từ xưng hô và việc dùng từ xưng hô trở nên rắc rối” [6;

tr.78] Và hơn nữa: “Xưng hô phải thể hiện được tình cảm của người nói đối với người

nghe Trong giao tiếp, người nói thường hướng người đối thoại vào hai thái độ: lịch sự / không lịch sự mà từ đó lựa chọn từ xưng hô tương ứng” [6; tr.79].

Trong Cơ sở ngữ dụng học, Đỗ Hữu Châu đã đi sâu vào phân tích khá t ỉ mỉ và sâu

sắc hệ thống từ xưng hô, nêu lên được những đặc điểm cũng nh ư phạm vi, cách thức sử

dụng của các từ xưng hô trong tiếng Việt Tác giả đánh giá: “ Xưng hô là hành vi chi ếu

vật, ở đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn với ng ười nói,

người tiếp thoại Xưng hô thể hiện vai giao tiếp” [5; tr.264].

Xét từ góc độ phong cách học th ì từ xưng hô cũng như các phương tiện ngôn ngữ khác,đều được phong cách học nh ìn nhận và xem xét dưới dạng phương tiện: đặc điểm tu từ(bao gồm màu sắc phong cách, sắc thái biểu cảm) v à phong cách chức năng ngôn ngữ Ởgóc độ này có các ý kiến tiêu biểu như sau:

Đinh Trọng Lạc trong Phong cách học tiếng Việt đã đi sâu vào phân tích màu s ắc

phong cách và sắc thái biểu cảm của hệ thống đại từ x ưng hô trong một số từ như: “tôi,

mình, hắn…” Bên cạnh đó, tác giả còn miêu tả cách sử dụng các từ x ưng hô và đại từ

xưng hô trong một số tình huống thân mật, xã giao Tác giả khẳng định: “Tiếng Việt còn

dùng lối trống không, dùng tên riêng và nh ững từ trống (người ta, đây, đấy, đằng ấy …)

để xưng và hô nữa Vì vậy, chỉ có thể miêu tả bằng tình huống giao tiếp thì mới có thể đầy đủ” [24; tr.172].

Cù Đình Tú nhận xét trong quyển Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việ t rằng ngoài các đại từ nhân xưng và các từ chỉ quan hệ họ hàng, thân thuộc thì còn “lấy cả

tiếng đệm giữa họ và tên của nữ giới (thị) để dùng làm từ xưng hô, thậm chí còn dùng cách nói trống không (từ xưng hô zêrô) để xưng hô” Và ông còn cho rằng: “Trong tiếng Việt, từ xưng hô, cách xưng hô, mô h ình xưng hô là phương tiện biểu cảm, là phương tiện phong cách” [46; tr.168].

Trang 8

Đặc biệt, nhiều năm trở lại đây tr ên Tạp chí ngôn ngữ, Tạp chí Khoa học X ã

hội,…,diễn đàn của Ngữ học trẻ hay ở các công trình nghiên cứu khác cũng đã xuất hiện

khá nhiều bài viết và những ý kiến nghiên cứu xoay quanh về từ x ưng hô, tiêu biểu là một

số tác giả như sau:

Trương Thị Diễm với bài viết Khảo sát các từ xưng hô thân tộc “thím, mợ, dượng” có nhận định: “Cách sử dụng từ xưng hô luôn luôn thay đổi của xã hội Hệ thống

ngôn ngữ nói chung và hệ thống từ xưng hô nói riêng luôn là h ệ thống động và mở Sự

thay đổi về lượng của các yếu tố trong hệ thống x ưng hô tất yếu kéo theo sự thay đổi về

chất – cấu trúc của hệ thống” [11; tr.33].

Nguyễn Minh Hoạt với bài viết Nhóm từ xưng hô chuyên dụng (Đại từ nhân xưng)

trong tiếng Êđê đã đề cập: “Xưng hô là một hành động ngôn ngữ được thực hiện trong giao tiếp ở tất cả các cộng đồng ng ười Song, mỗi ngôn ngữ đều có hệ thống từ x ưng hô

và có cách dung riêng để một mặt thực hiện chức năng x ưng gọi, mặt khác thể hiện những

đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp của dân tộc đó” [22; tr.197].

Bùi Thùy Linh với bài viết Ý nghĩa của sự thay đổi cách x ưng hô và tha xưng

(khảo sát gia đình người Việt) có đề cập: “Trong giao tiếp, việc người nói tự đưa mình vào diễn ngôn bằng các từ x ưng hô không chỉ thể hiện vai giao tiếp m à còn có tác dụng xác lập khung quan hệ giữa những ng ười tham gia giao tiếp Các mức độ thân cận, các mối quan hệ thân sơ cũng từ đó mà hình thành, chi phối mạnh đến khả năng tiến triển hội thoại Kết quả của việc thay đổi cách x ưng hô là một khung quan hệ mới đ ược thiết lập,

đồng thời kéo theo cả sự thay đổi trong cách gọi các đối t ượng thứ ba có quan hệ với cả

hai bên tham gia giao ti ếp” [30; tr.115].

Đặng Quang Hàm với bài viết Giao tiếp ngôn ngữ trong các t ình huống giao tiếp

xã hội có nhận định: “Khi bàn về giao tiếp ngôn ngữ, chúng ta có thể gọi l à hình thức giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất trong xã hội loài người” [19; tr.41] Ông còn cho

rằng: “… giao tiếp ngôn ngữ về nguy ên tắc mang tính xã hội Để có thể giao tiếp đ ược

với nhau, con người phải có những quan hệ nhất định, đó l à quan hệ giao tiếp” [19;

tr.41] Và ông kết luận: “… giao tiếp là hành vi xã hội của con người Con người luôn ở

vị thế quan hệ giao tiếp đa dạng với nhiều lớp ng ười, loại người khác nhau về địa vị x ã

Trang 9

hội, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, học vấn… V ì thế mỗi cá nhân bao giờ cũng có một

bộ vai xã hội để phản ảnh quan hệ ứng xử của cá nhân đó ” [19; tr.44].

Tạ Văn Thông với bài viết Hệ thống từ ngữ xưng gọi trong tiếng Hrê (so sánh với

tiếng Việt) đã chỉ ra: “… Khi giao tiếp các nhân vật nói v à nghe được những gì, nói và

nghe như thế nào, có phần chịu ảnh hưởng từ vị thế xã hội của họ Trong giao tiếp bằng

lời, mối quan hệ này được xác lập và thể hiện ra thành vai giao tiếp, trước hết là nhờ hệ thống xưng gọi” Và ông cho rằng: “xưng gọi” hiểu theo ý nghĩa phổ thông, l à cách tự

xưng đối với mình và gọi người khác, để biểu thị tính chất của các mối quan hệ với nhautrong giao tiếp” [40; tr.22]

Phạm Ngọc Thưởng trong bài viết Cách sử dụng đại từ xưng hô ngôi thứ nhất số ít

trong tiếng Nùng (xét trong mối liên hệ với tiếng Việt) đã cắt nghĩa và xác định vai trò của

từng yếu tố như sau:

“Xưng” là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đ ưa mình vào

trong lời nói, để người nghe biết rằng mình đang nói và mình chịu trách nhiệm về lời nói của mình Đó là hành động tự quy chiếu của ng ười nói (ngôi 1).

“Hô” là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe

vào trong lời nói (ngôi 2) [42; tr12].

Đồng thời tác giả cũng nhận định: “Đối với người Việt, tuổi càng cao thì những

nghi thức xã giao càng được xem trọng Xu hướng chung của người Việt là ưa sử dụng những nghi thức xã giao sao cho vừa thân mật, gần gũi m à vẫn giữ được thái độ trang trọng, lịch sự Lời ch ào cao hơn mâm cỗ - đó là ý thức văn hóa – giao tiếp của người Việt Việc sử dụng từ x ưng hô cũng không thể vượt ra khỏi ý thức văn hóa n ày” [42;

tr.47]

Trong bài viết Các biểu hiện lịch sự chuẩn mực trong x ưng hô, Vũ Tiến Dũng cho rằng: “Xưng hô là một hoạt động diễn ra li ên tục, thường xuyên trong khi trò chuyện và là

lời của người nói lẫn người nghe Hành động xưng hô chỉ xảy ra trong cuộc thoại v à một

người có thể (hoặc thường) thực hiện cả hai hành động: xưng (tự quy chiếu đến mình) và

hô (quy chiếu đến người đối thoại) Ngôi thứ ba không phải l à nhân vật hội thoại do đó nhân vật này không tham dự vào hoạt động xưng hô Như vậy, chức năng của xưng hô là chỉ thị người nói, người nghe trong một cuộc thoại” [12; tr.329].

Trang 10

Nguyễn Ngọc Ẩn có bài viết Xác định từ xưng gọi với người dạy học nhận định rằng: “… Người Việt Nam thường mượn các từ chỉ quan hệ gia đ ình, nghề nghiệp, chức

vụ, học hàm, học vị… để xưng gọi, đặc biệt là các từ chỉ quan hệ gia đình chiếm số lượng lớn và xuất hiện trong mọi môi tr ường hoạt động của con ng ười Trong tâm lý của ng ười Việt Nam, mọi người dân sống trên đất nước Việt Nam đều có quan hệ gần gũi, thân

thích, xem như “người một nhà” Cho nên trong giao ti ếp, các nhân vật tham gia giao tiếp thường “nhắm nhắm” xem người nói chuyện với mình khoảng bao nhiêu tuổi để chọn từ

mà xưng hô “cho phải đạo” – ai lớn tuổi hơn mình một tí thì gọi bằng “anh”, bằng “chị”,

ai lớn hơn nữa thì gọi bằng “chú”, bằng “bác”… v à xưng mình là “em”, là “con”, là

“cháu”…” [1; tr.18]

Theo Bùi Minh Yến trong bài viết Từ xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài xã

hội có nhận định: “Khái niệm xưng hô được ý thức như là một hành

vi ngôn ngữ có chức năng xác lập vị thế x ã hội của những người tham gia giao

tiếp và tương quan tâm thế giữa họ với nhau ttrong quá tr ình giao tiếp Khi

thực hiện chức năng này, hành vi ngôn ngữ xưng hô đồng thời đảm nhận nhiệm

vụ khởi sự tạo sự tương tác ngôn ngữ cho cuộc thoại, điều chỉnh cuộc thoại

theo đích đã định, bảo đảm hiệu lực h ành vi” [49; tr.17].

Nguyễn Thị Hương trong bài viết Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Nam

Cao đã khảo sát về từ xưng hô trong một số tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đồng thời

đồng thời cũng có nhận xét qua về từ x ưng hô trong tiếng Việt: “Cách xưng hô của người

Việt rất phong phú và linh hoạt Ngoài các đại từ xưng hô, tiếng Việt còn có một số lượng khá lớn các danh từ và một số ít các loại từ khác nhau để sử dụng l àm từ xưng hô” [23;

tr.532]

Hơn thế nữa, từ xưng hô là vấn đề không chỉ có ý nghĩa ngôn ngữ đ ơn thuần mànâng lên một bậc, nó còn là vấn đề văn hóa ứng xử của cả một dân tộc trong quá tr ìnhgiao tiếp với nhau Vì lẽ đó, mà nhiều công trình nghiên cứu khác về từ xưng hô dưới gócnhìn văn hóa cũng đã được ra đời:

Cao Xuân Hạo với Tiếng Việt – Văn Việt – Người Việt (Mục “Mấy vấn đề về văn hóa trong cách xưng hô c ủa người Việt”) đã đề cập đến một số vấn đề về cách x ưng hô

của người Việt trong xã hội hiện nay và đề cập đến một số vấn đề xung quanh đại từ x ưng

Trang 11

hô Ông cho rằng: “Tất cả các từ thường dùng để xưng hô trong điều kiện giao tiếp bình thường đều là những danh từ, trước hết là những thuật ngữ chỉ quan hệ thân tộc (trừ:

dâu, rể, vợ, chồng, ông nhạc, b à nhạc…) rồi đến những thuật ngữ chỉ chức vụ hay c ương

vị có ít nhiều màu sắc tôn vinh như: thầy giáo, giáo sư, chủ tịch, bác sĩ, sếp, thủ tr ưởng,

sư ông, sư cụ rồi đến các cấp bậc quân đội – nếu không kể một vài trường hợp dùng

danh từ chỉ người nhà như: vú” [20; tr.298].

Lê Biên trong Từ loại tiếng Việt hiện đại đã cho rằng: “Xem trong cách xưng hô, ta

thấy có một lối sống, một tr ình độ văn hóa của mỗi cá nhân đ ã đành Bên cạnh đó còn là của toàn xã hội nữa” [3; tr.123].

Phan Hồng Liên trong Để tiếng Việt ngày càng trong sáng có đưa ra nhận xét:

“Người Việt không chỉ sử dụng một nhóm từ x ưng hô là danh từ thân tộc mà sử dụng tất

cả các nhóm từ xưng hô nhưng linh ho ạt trong từng tình huống cụ thể, tạo ra cho hệ thống từ xưng hô Việt Nam một diện mạo hết sức phong phú, mới mẻ ” [28; tr.46].

Như vậy, nhìn chung, với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, các nh à ngôn ngữ học

đã tạo nên sự sôi động trên văn đàn nghiên cứu về từ xưng hô, phần nào đã làm rõ vấn đề

từ xưng hô trong tiếng Việt Và dù là nghiên cứu sâu hay sơ lược thì các công trình trêncũng đã trở thành nguồn tư liệu quý báu cho phần lý thuyết của luận văn, giúp ng ười viết

có cái nhìn bao quát và toàn di ện hơn về từ xưng hô để hoàn thành tốt hơn đề tài luận văncủa mình

Còn về nhà văn Nguyễn Minh Châu thì những tác phẩm của ông cũng đ ã được tiếpcận khá kỹ lưỡng ở nhiều góc độ khác nhau như việc đi tìm “yếu tố tiểu thuyết trongtruyện ngắn” (Phạm Vĩnh C ư), phân tích tác phẩm bằng việc giải mã các hình tượng ámảnh ngay trong văn bản tác phẩm của ông (Đỗ Đức Hiểu – Chu Văn Sơn), một số bài viết

đã đi vào tìm hiểu cấu trúc và tình huống của truyện ngắn (B ùi Việt Thắng), về chất thơ

trong truyện ngắn của ông (Nguyễn Thanh H ùng) Đặc biệt truyện ngắn Phiên chợ Giát

được ông hoàn tất trong những ngày cuối cùng trên giường bệnh thực sự đã thu hút sự chú

ý của nhiều cây bút phê bình Một số bài viết tiếp cận tác phẩm n ày theo phương pháp

mới như Đọc Phiên chợ Giát của Đỗ Đức Hiểu, Đọc Nguyễn Minh Châu: Từ bức tranh đến Phiên chợ Giát của Hoàng Ngọc Hiến, luận án Phó tiến sĩ v à sau đó là chuyên luận Văn học hiện đại – Văn học Việt Nam – Giao lưu và gặp gỡ của Trần Thị Mai Nhi Nghệ

Trang 12

thuật xây dựng truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu thời kỳ sau 1975 cũng đ ã được một

số sinh viên và nghiên cứu sinh tiếp cận qua những luận án khoa học H ành trình tư

tưởng, nghệ thuật của ông cũng đ ã được khảo sát khá thấu đáo trong Nguyễn Minh Châu

qua phê bình tiểu luận Những ý kiến nghiên cứu cụ thể như sau:

Nguyên Ngọc đã từng nói: “Thế hệ nhà văn chúng tôi có th ể chia ra thành ba loại người: Loại thứ nhất họ đang dũng cảm tự v ượt lên mình, để tiếp tục sáng tác, chất lượng

ngày càng cao Loại thứ hai là người viết hoặc không viết nữa nh ưng họ tâm huyết với

văn học Loại thứ ba là những người mà chỉ riêng việc xuất hiện những tài năng kiểu

Nguyễn Huy Thiệp họ cũng không chịu đ ược Người xếp hàng đầu loại thứ nhất là Nguyễn Minh Châu” [8; tr.3].

Tôn Phương Lan có ý kiến đánh giá về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu nh ư

sau: “Hướng nội đã trở thành nguyên tắc để ông khám phá những bí ẩn sâu xa trong tâm

hồn con người” [25; tr.37].

Viết về sự chuyển hướng trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Trần Đ ình Sử

cho rằng: “Trong những nhà văn trăn trở, tìm tòi, đổi mới tư duy nghệ thuật, Nguyễn

Minh Châu là một cây bút gây nhiều hứng thú Bắt đầu từ truyện ngắn: Bức tranh v à nay

là tập Bến quê, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện như một hiện tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới (…) Ba h ướng khái quát của Nguyễn Minh Châu

là chiêm nghiệm những chân lý của đời sống, khái quát những tính cách, phát hiện vấn đề tồn tại xã hội như đã nói ở trên đều có ý nghĩa quan trọng như nhau Vấn đề đặt ra là làm sao cho yếu tố lịch sử và yếu tố triết học kết hợp với nhau h ài hòa hơn nữa” [37; tr.15].

Tác giả Phạm Quang Long nhận định về Nguyễn Minh Châu: “ Dấu ấn ông để lại trong văn học nước nhà không phải chỉ là số đầu sách đã xuất bản mà là một vệt tư tưởng

về con người, một sự thức tỉnh cho cả x ã hội và cho văn chương nói chung” [31; tr.15].

Tác giả Lã Nguyên thì cho rằng: “Nguyễn Minh Châu còn hàng loạt tác phẩm

chứa đựng cái ý nghĩa rộng lớn, sâu xa: Nó khiến người ta giật mình nếu quen nghĩ rằng cuộc đời đã hết đau thương, nó khơi gợi người cầm bút nên nhìn kĩ vào những gì ẩn sau

vẻ điền viên bề ngoài để nhớ tới trách nhiệm của ng ười nghệ sĩ trước cuộc đời” [33;

tr.57]

Trang 13

Cũng theo Lã Nguyên thì truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu hầu hết l à những

truyện mang tính luận đề L ã Nguyên nhận xét thêm: “Ngay cả khi miêu tả cái ác, trực

tiếp chống lại cái ác trong x ã hội, truyện ngắn của ông bao giờ cũng kh ơi gợi, thức tỉnh

lương tri” [33; tr.59].

Trong một nhận xét về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Ngô Thảo viết: “ Đưa

nhân vật cũng như người đọc đối diện với cuộc sống trần thế đang l à một xu hướng trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu Cách nh ìn ấy làm cho truyện ngắn có chiều sâu

(…) Dẫn người đọc nhìn rõ, nhìn kĩ sự tầm thường, thói tật của đời th ường để nhắc nhở lương tri và trách nhi ệm là rất cần thiết” [39; tr.70].

Phong Lê có nhận định: “Nguyễn Minh Châu đào sâu vào tầng tâm, tham gia vào

cuộc đấu tranh giữa cái xấu v à cái tốt Trong mấp mé hàng ngày giữa cái xấu và cái tốt Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu giúp níu chúng ta lại ” [43; tr.326].

Khi đọc Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ki ên phân chia tác phẩm của ông ra thành ba

loại: “Một loại tác phẩm đại để nh ư các truyện ngắn anh viết có kết cấu thông th ường nhưng sâu hơn (Hai con nhóc, M ẹ con chị Hằng, Đứa ăn cắp) cái đáng chú ý l à mức đi sâu hơn của tác giả Một loại có thể gọi l à sự tự vấn lương tâm (Dấu vết nghề nghiệp,

Bức tranh), tôi tự vấn tôi để rồi vấn đề lây lan ra xung quanh Một loại nữa không biết gọi tên như thế nào, đây là loại anh ta đưa ra những nhân vật dị thường Đây cũng là sự khai phá” [43; tr.326].

Đọc những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Trịnh Thu Tuyết nhận xét: “ Để tự

thú và chiêm nghiệm lẽ đời, có lẽ không g ì hữu hiệu bằng việc để nhân vật tự s uy gẫm trong dòng độc thoại nội tâm” [47; tr.78].

Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn trong quyển Nguyễn Minh Châu về tác gia v à tác

phẩm có đưa ra ý kiến đánh giá: “Khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ng ười nghiên cứu nhận thấy ranh giới giữa lời trần thuật v à lời thoại bị “nhòe” Những lời thoại trong truyện ngắn của ông có thể tham gia v ào nhiệm vụ của người trần thuật Rất nhiều truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu giọng điệu kể chuyện rất sáng tạo, tác giả vận dụng lối đối thoại trực tiếp của nhân vật l àm cho cuộc sống trong truyện của anh không diễn ra theo những quy định của những động c ơ, ý muốn chủ quan, mà là tác động khách quan nhiều mặt” [9; tr.167].

Trang 14

Cao Xuân Hải trong bài viết Bước đầu tìm hiểu đặc trưng lời thoại nhân vật trong

truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã khảo sát 19 truyện ngắn của nh à văn Nguyễn

Minh Châu in trong Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu do NXB Văn học tuyển chọn và

giới thiệu năm 2003 có 130 cuộc thoại (đối thoại) lớn nhỏ, trung b ình 6,9 cuộc thoại /truyện Con số đó chứng tỏ nh à văn Nguyễn Minh Châu rất cẩn trọng trong việc sử dụnglời thoại để cá thể hóa tình huống truyện Chính điều đó m à nhà văn đã đem lại cho ngườiđọc những lời thoại hay, có chiều sâu v à mang tính triết học

Điểm qua một số công tr ình trên, người viết nhận thấy xưng hô được nghiên cứu dướinhững góc nhìn khác nhau trong đời sống Tuy nhiên, theo khảo sát của người viết thì cácphương tiện dùng để xưng hô trong một tác phẩm chưa được đề cập nhiều, đặc biệt l à hầunhư chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống các phương tiệndùng để xưng hô trong các tác ph ẩm của các tác giả ở những v ùng miền khác nhau Điểnhình là Nguyễn Minh Châu Nhà văn đã được xem xét khá hoàn chỉnh và chi tiết ở từngtác phẩm cụ thể, từng giai đoạn sáng tác, chân dung co n người và cả khu vực phê bìnhtiểu luận Nhưng nghiên cứu về từ xưng hô trong các sáng tác c ủa ông một cách chuyênbiệt thì chưa có một bài viết công phu hoặc một công tr ình khoa học nào Kế thừa thànhquả các công trình của những nhà nghiên cứu trước đây, người viết hi vọng luận văn n ày

sẽ có hướng đi mới trong việc t ìm hiểu các phương tiện dùng để xưng hô của người Việtnói chung và các tác ph ẩm văn học nói riêng

Khảo sát đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Nguyễn Minh C hâu”, ngườiviết bước đầu thử vận dụng những kiến thức về ngôn ngữ v ào việc khai thác, khám phánhững nét nổi bật về ph ương diện sử dụng từ xưng hô trong tác phẩm Nguyễn MinhChâu Qua việc nghiên cứu đề tài, một mặt người viết có thể bổ sung, nâng cao th êmnhững kiến thức về mảng từ x ưng hô đồng thời có thể tìm hiểu thêm về văn phong, lốidùng từ của Nguyễn Minh Châu Qua đó, ng ười viết sẽ phần nào thấu hiểu được nhữngtâm tư, tình cảm mà nhà văn đã gửi gắm vào tác phẩm của mình

Trang 15

Nguyễn Minh Châu để lại cho đời một số l ượng tác phẩm khá lớn vừa có tiểu thuyếtvừa có truyện ngắn Sáng tác của nh à văn đã tạo nên một dòng chảy vừa là của riêng ông

ở sự sáng tạo cá nhân, vừa góp v ào dòng sông văn học nước nhà một lượng phù sa khôngnhỏ Hơn thế nữa, Nguyễn Minh Châu cũng l à một trong số không nhiều những tác giảđương đại mà mỗi sáng tác ra đời luôn luôn gây đ ược sự chú ý và hấp dẫn đối với bạn đọcnói chung và giới phê bình nghiên cứu nói riêng, đặc biệt là những vấn đề được thể hiện ởphương diện nghệ thuật Tuy nhi ên trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp v à từgóc độ của một sinh viên nghiên cứu, người viết chỉ có thể khảo sát ở một phần vấn đềnhỏ đó là mảng từ xưng hô Mặt khác, những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu th ì rấtnhiều, do thời gian có hạn nên người viết chỉ có thể chọn lọc một số tác phẩm của ông

như: Mẹ con chị Hằng, Mùa trái cóc ở miền Nam, Cửa sông,Bến qu ê,Chiếc thuyền ngoài

xa,Giao thừa… bởi đó không chỉ là những sáng tác nổi bật của Nguyễn Minh Châu đ ược

nhiều người biết đến và thể hiện được tài năng, phong cách c ủa chính tác giả mà hơn hếtcòn có thể giúp cho người viết làm rõ được đề tài của mình Mặt khác, trong hoạt độnggiao tiếp, các vai giao tiếp phải trực tiếp giao thiệp với nhau bằng lời, trong đó cácphương tiện xưng hô sẽ được sử dụng Do đó, những nhân vật, những đối t ượng khôngtrực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp trong cuộc thoại sẽ không đ ược chú ý, khôngphải là đối tượng khảo sát của luận văn

5 Phương pháp nghiên cứu

Dù trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp c òn hạn hẹp nhưng người viết luôntìm hiểu, lựa chọn những ph ương pháp nghiên cứu hợp lý trong quá tr ình làm luận văn đểbài nghiên cứu có tính khoa học v à chuyên sâu hơn

Để nghiên cứu luận văn này, người viết sử dụng những ph ương pháp chủ yếu sau:

_ phương pháp thống kê – phân loại: phương pháp này giúp tập hợp các phương tiện dùng

để xưng hô đã khảo sát được rồi phân loại chúng theo những ti êu chí đã định sẵn Từ đó,người viết có thể đánh giá giá trị những lớp từ x ưng hô được Nguyễn Minh Châu sử dụngtrong tác phẩm của mình

_ phương pháp so sánh – đối chiếu: phương pháp này được dùng để so sánh, đối chiếugiữa các tác phẩm với nhau bởi lẽ chỉ có nh ư thế mới tìm ra cái hay, cái độc đáo trongcách vận dụng từ xưng hô của mỗi tác phẩm Hơn nữa, bằng cách đó, người viết có thêm

Trang 16

những phán đoán, chứng minh cụ thể để đánh giá chính xác vai tr ò, vị trí quan trọng mà

từ xưng hô mang lại

_ phương pháp tổng hợp: phương pháp này được dùng để miêu tả đối tượng nghiên cứu

và bước đầu tổng kết những kết quả đã nghiên cứu được

Tóm lại, tất cả các phương pháp trên mà ngư ời viết sử dụng đều nhằm mục đíchnghiên cứu, khai thác đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Nguyễn Minh Châu”đạt hiệu quả cao nhất

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ V À TỪ XƯNG HÔ TRONG

TIẾNG VIỆT

Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, mang những đặcđiểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với nhữngkiểu nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt v à nhỏ nhất để tạo câu

Từ là những đơn vị mà với chúng, ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp v à tưduy thông qua thao tác k ết hợp chúng với nhau Những đ ơn vị như vậy là “từ” và ta có thểtạm thời đưa ra các khái niệm về từ như sau:

1.1 Các quan niệm khác nhau về từ tiếng Việt

Theo tác giả Nguyễn Nguyên Trứ: "Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có ý nghĩa v à độc lập trong lời nói, đ ược vận dụng một số cách tự do theo quy luật kết hợp của ngữ

pháp" [44; tr.58].

Theo quan niệm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh

thể nhỏ nhất có ý nghĩa để tạo ra câu nói; nó có h ình thức, có một âm tiết, một khối viết liền” [16; tr.168].

Theo tác giả Nguyễn Văn Tu: “Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật

chất (vỏ âm thanh và hình thức) và có nghĩa, có tính biện chứng v à lịch sử” [45; tr.20].

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định

bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong một ph ương thức (hoặc kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng v à nhỏ nhất để tạo câu” [4; tr.14].

Theo tác giả Nguyễn Hữu Chỉnh – Nguyễn Thị Thu Thủy: “Từ là đơn vị cơ bản và

quan trọng nhất của ngôn ngữ, l à đơn vị có sẵn, có tính hiện thực cao nhất của ngôn ngữ” [10; tr.192].

Trang 18

Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có

nghĩa, mang tính có sẵn, cố định, bắt buộc, nhỏ nhất trực tiếp tạo câu” [41; tr.6].

Theo tác giả Lưu Vân Lăng, ông có cách định nghĩa: “Những đơn vị dùng tách biệt

nhỏ nhất mới là từ Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất Nói cách khác, từ l à ngữ

đoạn (tĩnh) nhỏ nhất” [25; tr.213] Và “Từ có thể gồm nhiều tiếng không tự do hoặc chỉ

một tiếng chỉ tự do hay nhiề u tiếng tự do kết hợp lại không theo quan hệ thuần cú pháp tiếng Việt” [26; tr.214].

Theo tác giả Hồ Lê thì: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi li ên

kết hiện thực, hoặc có chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa” [27; tr.104].

Theo tác giả Đái Xuân Ninh: “Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa

hình vị và cụm từ Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều đ ơn vị ở hang ngay sau nó tức l à hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh” [34; tr.24].

Dựa vào các quan niệm về từ đã khái quát lên phần nào về sự phức tạp của t ìnhhình nghiên cứu về từ trong tiếng Việt Do đứng từ góc độ đồng đại hay lịch đại khácnhau, do cách hiểu về khái niệm hình vị trong ngôn ngữ học đại c ương khác nhau dẫn đếncách chọn đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các tác giả khác nhau

1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt

Qua các quan niệm về từ cho thấy được đặc điểm chung của từ l à: đơn vị nhỏ nhấtcủa ngôn ngữ có nghĩa, mang tính cố định, sẵn có, bắt bu ộc, đơn vị nhỏ nhất tạo câu,được thể hiện ở các đặc điểm

Từ tiếng Việt có thể đ ơn tiết hoặc đa tiết

Ví dụ: bàn, ghế, sách vở, đi, đứng,…

Quốc gia, sơn hà, dễ dàng, cà phê, a-xít,… là những tiếng được vay mượn từ tiếngHán Trong nguyên ng ữ chúng được sử dụng như từ, nhưng khi được tiếp nhận vào tiếngViệt, với tinh thần độc lập dân tộc, với sự sáng tạo của ng ười Việt, với đơn vị cấu tạo từchúng phải kết hợp với một yếu tố khác mới hoạt động đ ược tự do trong câu nh ư quốcgia, sơn thủy… những yếu tố như dàng, dãi, phê, xít… c ũng vậy Như vậy, bên cạnhnhững từ đơn âm tiết như nhà, xe, tập… trong tiếng Việt cũng c òn những từ đa âm tiếtnhư dễ dãi, dễ dàng, quốc gia, tổ quốc…

Trang 19

Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nh ưng không có biến thểhình thái học Trong các ngôn ngữ tiếng Anh, từ có biến thể về mặt h ình thái.

Ví dụ: to go có thể biến th ành goes, going, gone, went theo các quan h ệ ngữ phápkhác nhau trong câu Nhưng trong ti ếng Việt không có biến thể hình thái học

Nghĩa ngữ pháp của từ không được biểu hiện trong nội bộ từ m à được biểu hiệngiữa các từ trong câu Trong các ngôn ngữ biến h ình, nhìn vào hình thái c ủa từ, người taxác định được nghĩa ngữ pháp của chúng

Trong tiếng Anh danh từ dựa v ào hậu tố như –ion, -er, -or…, tính từ dựa vào –ive,-fid, -al… còn trong tiếng Việt phải dựa vào các loại từ hay phó từ như con, cái, chiếc…(đối với danh từ), đã, đang, sẽ… (đối với động từ v à tính từ)

1.3 Các loại từ tiếng Việt

1.3.1 Theo Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp Tiếng Việt – tập một”

Có hai loại từ tiếng Việt thuộc hai nhóm:

Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá tr ình của sự việc hiện tượng

Về khả năng kết hợp, động từ th ường có các phụ từ đi k èm để biểu thị các ý nghĩaquan hệ có tính tình thái giữa quá trình với cách thức và với các đặc trưng vận động củaquá trình trong không gian, thời gian và hiện thực

Cũng như danh từ, động từ có khả năng đảm nhiệm nhiều chức năng cú pháp khácnhau Nhưng phổ biến và quan trọng nhất là làm vị ngữ trong cấu tạo câu Có hai lớpđộng từ: động từ độc lập v à động từ không độc lập

Trang 20

Ví dụ: chạy, nhảy, ngồi,…

Đại từ có thể đảm nhận chức năng cú pháp của thực từ đ ược thay thế Ngoài ra, đại

từ còn dùng để thay thế và chỉ trỏ vào người và vật tham gia vào quá trình giao tiếp Đại

từ được chia thành hai lớp nhỏ: Đại từ xưng hô và đại từ chỉ định

Ví dụ: mày, tao, chúng tao, chúng mày,…

_Vị từ

Trang 21

Vị từ biểu thị quá trình và biểu thị đặc trưng và có quan hệ thong báo với chủ thểcủa quá trình hay đặc trưng đó.

Vị từ có khả năng kết hợp phổ biến với phụ từ: đ ã, đang, sẽ, vẫn, còn,… và khôngkết hợp với đại từ ch ỉ định: này, kia, ấy, nọ,…

Về chức năng cú pháp: vị từ có quan hệ thông báo với chủ thể trong chức năng vịngữ, thường đứng trực tiếp sau chủ ngữ

Định từ là những từ biểu thị quan hệ về số lượng với danh từ được nêu ở danh từ

Số lượng định từ tuy không nhiều nh ưng chúng có tác dụng dạng thức hóa một số

ý nghĩa ngữ pháp quan trọng của từ loại danh từ Định từ đ ược chia thành các nhóm:

Nhóm những, các, mộtNhóm mỗi, từng, mọiNhóm cái, mấy

Ví dụ: Làng tranh mỗi năm một khá giả

Phó từ

Phó từ là hư từ thường dùng kèm với thực từ (động từ, tính từ)

Phó từ không có khả năng l àm trung tâm ngữ nghĩa – ngữ pháp trong kết hợp thực

từ, và rất ích có khả năng làm thành phần chính trong câu Mà chỉ có thể dùng phó từ làmchứng để phân loại động từ v à tính từ Phó từ chia thành các nhóm nhỏ sau:

Nhóm phó từ thời gian: đã, từng, mới, sẽ, sắp,…

Nhóm phó từ so sánh và phó từ chỉ tiếp diến: cũng, đều, vẫn, chứ, c òn, nữa,cùng,…

Nhóm phó từ phủ định, khẳng định: không, chẳng, ch ưa, có,…

Nhóm phó từ trình độ: rất, lắm, quá, cực k ì, hơi, khá,…

Nhóm phó từ sai khiến: hãy, đừng, chớ,…

Nhóm phó từ chỉ kết quả: mất, được, ra đi,…

Trang 22

Nhóm phó từ chỉ tần số: thường, nặng, ít, hiếm, luôn , luôn luôn, thườngthường,…

Về khả năng kết hợp v à chức năng cú pháp, kết từ đ ược dùng nối các từ, các kếthợp từ, các câu và đoạn văn có quan hệ cú pháp Có hai lớp kết từ l à kết từ chính phụ vàkết từ đẳng lập

Ví dụ: Quần áo của tôi để đấy tôi tự giặt lấy

Ví dụ: Rồi lại cả vợ tôi nữa, ông ạ

1.3.2 Theo Đinh Văn Đức trong “Ngữ pháp Tiếng Việt từ loại”

Đã chia hệ thống từ loại ra thành ba loại: thực từ, hư từ, tình thái từ

1.3.2.1 Thực từ

_Danh từ

Danh từ là từ loại quan trọng bậc nhất trong số các từ loại của ngôn ngữ nói chung

và của tiếng Việt nói ri êng

Trang 23

Hư từ là một tập hợp không lớn về số lượng của các từ, bản chất của ý nghĩa h ư từ

là tính chất ngữ pháp, là phương tiện biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong t ưduy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của bản ngữ H ư từ có hai loại là từ phụ và từnối

1.3.2.3 Tình thái từ

Tình thái từ là một tập hợp rất nhỏ về mặt số l ượng từ, nhưng tập hợp ấy có mộtđặc trưng riêng về bản chất ngữ pháp T ình thái từ tuy ít về số lượng nhưng căn cứ vàobản chất ngữ pháp có thể vạch đ ược đối lập giữa một b ên là các tiểu từ tình thái và mộtbên là các trợ từ

2.1 Khái niệm về từ xưng hô trong tiếng Việt

“Đại từ điển tiếng Việt” định nghĩa x ưng hô là: “Tự xưng mình và gọi người khác

trong giao tiếp hoặc trong thư từ” [48; tr.1880] Còn “Từ điển tiếng Việt” thì định

nghĩa xưng hô là: “Tự xưng và gọi người khác là ai đó với nhau nhằm làm rõ mối

quan hệ giữa hai bên” [38; tr 1872] Trong khi đó, “T ừ điển tiếng Việt 1999 – 2000”

cho rằng xưng hô là : “Biểu thị bằng lời bậc của m ình (xưng) và bậc của người khác

(hô) trong trật tự xã hội, gia đình, họ hàng” [13; tr 954].

Với một cách định nghĩa khác, tác giả Đỗ Hữu Châu trong “C ơ sở ngữ dụng học”

đã viết: “Xưng hô là hành vi chi ếu vật, ở đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ

Trang 24

cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn với n gười nói, người tiếp thoại Xưng hô thể hiện vai giao tiếp” [5; tr 264].

Từ những định nghĩa tr ên, ta nhận thấy có sự phong phú trong cách định nghĩakhái niệm xưng hô

Như đã biết, để thực hiện hành động xưng hô người nói cần phải có ph ương tiện,

và phương tiện ở đây chính là từ xưng hô Thế nhưng khác với các định nghĩa về x ưng

hô, định nghĩa về từ xưng hô rất ít được đề cập đến Hầu hết các công tr ình, tài liệunghiên cứu về từ xưng hô đều xoay quanh những khía cạnh nh ư: hệ thống, cách thức

và các nhân tố chi phối việc sử dụng từ x ưng hô,…

Trong giáo trình “Phong cách h ọc tiếng Việt”, tác giả Nguyễn Văn Nở đ ã định

nghĩa: “Từ xưng hô là lớp từ dùng để tự xưng và gọi đối tượng khi giao tiếp” [35; tr.

53] Hai tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy v à Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong “Ngữ dụng

học” – Tài liệu đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại học, cho rằng: “ Từ xưng hô là

những từ dùng để xưng gọi, với tư cách ngôi, một yếu tố có liên quan đến nhân tố giao tiếp Từ xưng hô dùng để chiếu vật và giao tiếp” [14; tr 30].

Từ những định nghĩa tr ên, trong luận văn này, người viết quan niệm: “Từ x ưng hô

là những từ dùng để tự xưng và gọi đối tượng khi giao tiếp

2.2 Các cách phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt

2.2.1 Phân loại theo từ loại

Đây là cách phân chia ph ổ biến nhất, vì xét trong tổng thể thì từ xưng hô là một bộphận trong hệ thống từ loại tiếng Việt Các nh à Việt ngữ trong các phân môn mặc d ù

đã có sự đồng nhất với nhau trong việc phân chia từ x ưng hô theo từ loại, nhưng dotính chất đặc thù của từng phân môn nên giữa các tác giả đã có những sự nghiên cứu ởnhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau

2.2.1.1 Quan điểm của Ngữ pháp học

Ngữ pháp học truyền thống th ường đồng nhất từ xưng hô với đại từ xưng hô Cáctác giả chia nó thành hai nhóm: đại từ xưng hô chuyên dụng và đại từ xưng hô lâmthời

Nhóm đại từ xưng hô chuyên dụng, theo Lê Biên, có thể được tóm tắt qua bảngsau:

Trang 25

Chúng taoChúng tôiChúng tớChúng mìnhChúng ta

Tau (tao)Tui (tôi) (1)

………… (Tôi) = ChoaMin, Qua (2)Ngôi

thứ

hai

(người nghe)

MàyBay(mi)

TaMìnhChúng ta

ChúngMình

Chúng màyChúng bay

Mi (mày)Bây (bay) (1)(mày): Bậu (2)

Chúng nóHọ

chúng

(Nó) = Va,Nghỉ (2)

(1): Biến thể ngữ âm

(2): Biến thể từ vựng (phương ngữ)

Tác giả Lê Biên gọi nhóm đại từ xưng hô chuyên dụng này là các đại từ xưng hô

gốc, đích thực và nó có số lượng khá ít Các đại từ nh ư: tao, ta, mày, nó, hắn chỉ xuất

hiện ở những sắc thái biểu cảm không lịch sự (thân mật, suồng s ã – thô tục, khinhthường)

Nhóm đại từ xưng hô chuyên dụng theo quan điểm của ngữ pháp học có các đặcđiểm sau:

- Những từ tôi, tao, tớ, chúng tôi, chúng tớ là những từ chuyên dùng làm lời

“xưng” của người nói

- Những từ mày, bay, cậu… (tớ - cậu), (tao – mày) là những từ chuyên dùng

cho người nghe (gọi hô)

Trang 26

- Có những từ vừa dùng gộp cả người nói (xưng) và người nghe như: ta, chúng

ta, chúng mình…

- Đại từ “mình” có thể chỉ người nói, là đại từ tự xưng Có thể chỉ người nghe khi dùng trong sự đối xứng với đại từ “ta” Có thể chỉ người đã được nói đến trước

đó ở trong câu, tức là tự xưng của ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3

- Đại từ “nó” chưa được dùng rộng rãi và phổ biến, còn là một trở ngại cho

giao tiếp xã hội

- Đại từ “tôi” dùng để “xưng” trong giao tiếp xã hội có khác trong quan hệ thân

thuộc

Đối với nhóm đại từ xưng hô lâm thời thì ở mỗi tác giả lại có cách phân chia khácnhau Theo hai tác giả Đỗ Thị Kim Liên và Nguyễn Hữu Quỳnh thì đại từ xưng hô

lâm thời bao gồm các danh từ thân tộc nh ư: ông, bà, cha, mẹ, anh, em, cô, bác… Tác

giả Đinh Văn Đức thì cho rằng đại từ xưng hô lâm thời còn bao gồm cả những đại từ

chỉ định như: đây, đấy, kia, kìa.

Đầy đủ và chi tiết hơn là cách phân chia của tác giả Lê Biên Trong “Từ loại tiếng

Việt hiện đại”, Lê Biên đã gọi nhóm đại từ xưng hô lâm thời là những “yếu tố được đại từ hóa dùng để xưng hô” [3; tr 123] Bao gồm:

- Những từ nguyên là danh từ đã trở thành đại từ thực sự: tôi, tớ, m ình, hoặc còn

dấu ấn danh từ khá rõ: chàng, nàng, thiếp, người, ngài, người ta…

- Những danh từ lâm thời đảm nhận chức năng đại từ, đó l à những danh từ chỉ

người thuộc quan hệ gia tộc, thân thuộc nh ư: cụ, ông, bà, cha, mẹ, chú, bác, cậu,

cô, dì, mợ, thím, anh, chị, e m, con, cháu… Những từ như: trai, gái, ruột, họ…không được sử dụng xưng hô trong gia đình và ngoài xã hội Hai yếu tố “nội, ngoại” chỉ được dùng để xưng hô trong phương ng ữ Nam Bộ như:

Tôi hỏi nội tôi: “Dừa có tự bao giờ?”

Nội nói: “Lúc nội còn con gái,

Đã thấy bóng dừa mát rượi trước sân…”

(Lê Anh Xuân)

Những từ: dâu, rể, vợ, chồng cũng không được dùng làm từ xưng hô.

- Các danh từ: bạn, đồng chí; tính từ danh hóa: lão.

Trang 27

- Các từ chỉ học hàm, học vị, tước hiệu: giáo sư, tiến sĩ, đại tướng…

- Các từ chỉ chức danh, nghề nghiệp: bác sĩ, tổ trưởng…

- Các tên riêng của người: Hồng, Hà, Hằng…

- Các từ ngữ chỉ nơi chốn: ấy, đây, đấy, đằng ấy… Chẳng hạn: “Này, đây nói cho

mà biết đấy mà không trả thì không xong đâu!”.

- Một số từ có nguồn gốc vay m ượn:

+ moa (moi), toa (toi).

Theo tác giả Nguyễn Minh Hoạt trong “Ngữ học trẻ 2007” th ì nhìn chung, cách

phân chia từ xưng hô theo từ loại của ngữ pháp học truyền th ống “là kết quả của giai đoạn nghiên cứu cấu trúc luận” [22; tr 197]… Theo ông, các tác gi ả của ngữ pháp học “chưa lý giải rõ vấn đề từ xưng hô và hiện tượng xưng hô trong giao tiếp ngôn

ngữ” [22; tr 197] Việc đồng nhất từ xưng hô với đại từ xưng hô là không thỏa đáng.

Bởi vì khái niệm “ngôi” ngữ pháp học của hai nhóm đại từ x ưng hô chuyên dụng và đại từ xưng hô lâm thời “không xác định như các đại từ nhân xưng của tiếng Anh,

tiếng Pháp mà ngôi của các từ này chỉ xác định trong ngữ cảnh” [22; tr 197]

2.2.1.2 Quan điểm của Ngữ dụng học

Tác giả Đỗ Hữu Châu là một đại diện tiêu biểu cho quan điểm này Theo ông, “Để xưng hô, ngoài các đ ại từ, các ngôn ngữ c òn có thể dùng các từ thuộc từ loại khác như tên riêng, tên chức danh, tên nghề nghiệp, các từ chỉ qua n hệ thân tộc, các từ chỉ

không gian như đây, đấy, ấy, đằng này, thậm chí cả sự trống vắng từ x ưng hô… [5; tr.

266] Cụ thể như sau:

- Đại từ nhân xưng: Theo tác giả thì: “Các đại từ nhân xưng tiếng Việt không có sự

phân chia rạch ròi về ngôi như trong tiếng Anh, gồm các đại từ: tôi, tớ, tao, tui, qua,

Trang 28

mày, mi, mình; choa, chúng tao, chúng tôi, chúng ta, chúng mình, chúng t ớ, bầy (bi) choa chúng mày; bay, h ắn, nó, y, thị, va, chúng nó, nhau” [4; tr 266].

Nhóm đại từ này theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu có c ác đặc điểm sau đây:

+ Đại từ nhân xưng phân chia theo ngôi mà chúng bi ểu đạt, nhưng để biểuđạt ngôi không nhất thiết bao giờ cũng phải d ùng đại từ

+ Nghĩa chiếu vật của các đại từ (v à các từ khác) chỉ ngôi thứ ba phải cómặt trong tiền ngôn cảnh

+ Trong các từ xưng hô của tiếng Việt có những từ chuy ên ngôi và kiêm

ngôi Từ chuyên ngôi là những từ chỉ dùng cho một ngôi: tôi, tớ, mày… Từ kiêm ngôi

là từ dùng được cho nhiều ngôi Đại từ “mình” là một ví dụ điển hình:

Ví dụ:

(1) Mình mới nói thế mà cậu đã xị mặt xuống rồi.

Mình ở (1) được dùng để chỉ người nói (ngôi thứ nhất) Lúc n ày mình phải mượn từ

thân tộc hoặc từ chỉ xuất không gian lập th ành cặp tương ứng: mình – cậu, mình – đằng ấy.

(2) Mình về mình có nhớ ta.

Mình ở (2) được dùng để chỉ người tiếp thoại (ngôi thứ hai).

Hay như đại từ “người”, vốn là một đại từ ngôi thứ ba phiếm chỉ (phi chỉ xuất) Có

thể dùng ở ngôi thứ nhất:

(3) Hẹn 8 giờ mà bắt người ta đợi đến 10 giờ.

Có thể dùng ở ngôi thứ hai:

(4) Đã định về nhưng sợ người ta dỗi.

+ Có sự phân biệt đại từ xưng hô ngôi thứ nhất số nhiều bao gộp (inclusive)

và không bao gộp (exclusive) Từ xưng hô ngôi thứ nhất số nhiều bao gộp gồm mộtnhóm người, kể cả người nghe lấy người nói làm trung tâm Từ xưng hô không bao

gộp gồm một nhóm ng ười với người nói là trung tâm không kể người nghe “Chúng ta” là đại từ bao gộp, “chúng tôi” là đại từ không bao gộp, “chúng mình” vừa là đại

từ bao gộp vừa là đại từ không bao gộp

Ví dụ:

(5) Nam ơi, chúng mình đi chơi đây,cậu trông nhà nhé!

Trang 29

Chúng mình ở (5) là đại từ không bao gộp.

(6) Nam ơi, chúng mình đi chơi đi!

Chúng mình ở (6) là đại từ bao gộp.

+ Các đại từ xưng hô thực sự tiếng Việt, kể cả những đại từ ngôi thứ ba

khác với các từ xưng hô lấy từ các từ thân tộc nh ư: cha, me, ông, bà, anh, em… ở chỗ

chúng không mang nét ngh ĩa chỉ quan hệ gia đình, họ tộc Chúng lập thành từng cặp

tự xưng và đối xưng ( Đỗ Hữu Châu gọi “Hành vi người nói dùng từ để chỉ mình là

hành vi tự xưng, dùng từ để chỉ người tiếp thoại là đối xưng và dùng từ chỉ ngôi thứ

ba là tha xưng”) [4; tr 265, 266] Cụ thể như sau:

Tao (Tui) mày (mi)

Chúng tao Chúng mày, chúng bay, bay, b ọn bay

Choa (bầy choa) Bay, chúng bay, bọn bay…

Và một vài cặp khác nữa Tất cả các cặp n ày đều mang một nét nghĩa hoặ c khinhthị, hoặc thân tình Đáng chú ý là, ở tiếng Việt các cặp đại từ khinh thị đều có thể d ùngcho sự xưng hô thân tình, thân tình đến mức suồng sã, không cần đến lễ nghi Những

cặp xưng hô thân tình: ta – mình, tớ - cậu (cậu không phải là đại từ thực sự) thì

không được dùng để bày tỏ sự khinh thị Chính những nét nghĩa k èm theo này khiếncho tiếng Việt không có cặp đại từ x ưng hô thực sự trung tính chỉ vai nh ư I và Youtrong tiếng Anh Đại từ tôi vốn đ ược xem là trung tính nhưng lại không lập thành cặp

với bất kì đại từ ngôi thứ hai nào khác (tôi không đi với cậu, với mày, với mình, với ngươi…) Ngược lại, tôi lại lập thành cặp với tất cả các từ thân tộc để x ưng hô (tôi đi với anh, với chị, với ông, bà…) Nó luôn luôn là m ột đại từ đối thoại trong khi mình,

ta có thể dùng trong độc thoại Trong một cặp đại từ, đại từ ngôi thứ nhất khống chế

đại từ ngôi thứ hai và ngược lại

+ Các đại từ xưng hô tiếng Việt không phân định về tuổi tác, về giới tính Ngo àihai nét nghĩa thân tình và khinh thị đi kèm với nghĩa vai, đại từ xưng hô còn có sự đối

Trang 30

lập về số: choa, bay và các đại từ có hình vị: chúng, bọn, bầy (bi) đều có nghĩa số

nhiều, còn lại là số ít

+ Đại từ xưng hô chính thức tiếng Việt chỉ đ ược dùng ngoài xã hội trong ngữ vựccực thân tình hoặc “xung đột”, một ngữ vực chua được đưa vào bảng xếp loại các ngữvực

- Các từ chỉ quan hệ thân tộc (gọi tắt từ thân tộc) : “Từ chỉ quan hệ thân tộc trong

tiếng Việt là những từ chỉ người trong gia đình, họ tộc có quan hệ huyết thống, nội ngoại xa gần với nhau” [5; tr 274] Trong “Đại cương ngôn ngữ học”, Đỗ Hữu Châu

chia từ thân tộc trong tiếng Việt chi th ành ba nhóm: thứ nhất là nhóm gồm những từ

như: u, bầm, bủ, tía, ba, má ; thứ hai là nhóm gồm các từ như: anh, chị, em, chú,

bác, cha, mẹ, cháu, con ; thứ ba là nhóm gồm các từ như: anh họ, ông nội, chị họ, dâu, rể… [6; tr 76]

Theo tác giả, đặc điểm của nhóm từ n ày là:

+ Chỉ những từ thuộc nhóm thứ nhất v à thứ hai mới dùng để xưng hô, nhóm thứ bakhông thể dùng xưng hô được

+ Nhóm thứ nhất chỉ dùng để xưng hô, không dùng để miêu tả quan hệ, còn nhómthứ ba chỉ dùng để miêu tả quan hệ, không dùng để xưng hô Nhóm thứ hai vừa dùng

để miêu tả vừa dùng để xưng hô Đặc biệt, Đỗ Hữu Châu đ ã đưa ra hai cách sử dụng

từ thân tộc để xưng hô, đó là xưng hô trong gia đ ình, họ tộc và xưng hô ngoài xã hội

“Các từ thân tộc khi dùng thay cho đại từ xưng hô có thể dùng để xưng hô giữa những người trong gia đình, họ tộc và những người ngoài xã hội” [5; tr 28].

+ Xưng hô trong gia đ ình, họ tộc: Theo Đỗ Hữu Châu, có hai cách x ưng hô bằng từthân tộc: xưng hô theo chỉ xuất chủ quan và xưng hô theo chỉ xuất khách quan

 Khi xưng hô theo chỉ xuất chủ quan, ngôi thứ nhất tự đồng nhất m ình với Ego

(Đỗ Hữu Châu gọi “Ego là một khái niệm dân tộc học chỉ bản thân cái ng ười được xem là trung tâm để xác định tư cách của người khác xét theo quan hệ họ

tộc… Ego cũng tức l à điểm mốc, là trung tâm định vị của các từ thân tộc” [5;

tr.276, 277] và gọi ngôi thứ hai bằng từ thân tộc nghịch đảo với từ m à Ego đãdùng để chỉ mình Ví dụ khi ngôi thứ nhất tự gọi mình là con thì gọi ngôi thứhai là cha (mẹ), nếu tự xưng mình là cha (mẹ) thì gọi ngôi thứ hai là con

Trang 31

 Xưng hô theo chỉ xuất khách quan còn được gọi là xưng hô thay ngôi.

Ví dụ:

(7) Cả chăn, màn, mũ, áo của bố và Tùy em xếp ở giường gian ngoài cho nó đông vui.

Em nằm ở cái giường một ấy mà phía nào cũng thấy thừa, thấy lạnh quá.

(Lê Lựu)Đây là một đoạn trong bức thư của một bà vợ gửi cho chồng (đại tá) đang ở ngo ài mặt

trận cùng với con trai tên là Tùy Bà tự xưng là em, nên theo chỉ xuất chủ quan sẽ gọi chồng là anh (hoặc mình), nhưng vì xưng hô theo chỉ xuất khách quan cho n ên đã gọi chồng là bố Bà đối xưng chồng thay con, thay T ùy, bởi vì ông đại tá chồng bà là bố

của Tùy

Trang 32

Trong gia đình, họ tộc, xưng hô bằng từ thân tộc luôn luôn thể hiện sự đối lập bậctrên, bậc dưới Tuy nhiên, sự đối lập theo bậc này chỉ chặt chẽ khi người bậc dưới cònnhỏ tuổi, chưa gia đình, chưa con cái và chưa có danh ph ận.

Lối gọi thay ngôi theo ngôi con, cháu th ường chỉ được dùng trong ngữ vực cựcthân tình và hoàn toàn trong không khí gia đình, không có sự có mặt của những ng ườingoài gia đình, họ hàng

Có thể nói sự xuất hiện của từ “tôi” trong xưng hô gia đình, họ tộc là sự xã hội hóa

xưng hô gia đình, họ tộc

+ Xưng hô ngoài xã hội: Đỗ Hữu Châu cho rằng có hai cách sử dụng từ thântộc để xưng hô với người ngoài gia đình, họ tộc (nói tắt là người ngoài), đó là: xưng

hô thân tộc hóa và xưng hô phi thân tộc hóa

 Xưng hô thân tộc hóa: tức là cách người nói mượn một quan hệ thân tộc n ào

đo, tự đặt mình và người tiếp thoại của mình vào rồi dùng các từ thân tộctương ứng mà tự xưng và đối xưng

Ví dụ:

(8) Cậu ơi, cháu nghe tiếng chim gáy sau chùa cậu ạ.

Ở đây, đứa trẻ chăn trâu ng ười làng tự đặt mình vào quan hệ cậu - cháu với người điền

chủ để tự xưng là “cháu” và đối xưng là “cậu”.

Cách xưng hô thân tộc hóa thường chỉ được dùng khi người nói và người tiếp thoại

có sự chênh lệch nhau rõ rệt về tuổi hay về vị thế x ã hội

 Xưng hô phi thân tộc hóa: theo cách này người nói không đặt mình với ngườitiếp thoại của mình vào một quan hệ thân tộc n ào cả, tự xưng và đối xưng nhưnhững người ngoài xã hội với nhau Đối với ngôi thứ nhất, khi x ưng hô phi

thân tộc hóa với người ngoài thường tự xưng “tôi” và đối xưng bằng các từ thân tộc khác như: cụ, ông, bà, bác, cô, anh, chị, em, con…

Ví dụ: Trong truyện ngắn “Tôi cũng không hiểu tại l àm sao”, ông sếp hỏi ngườithư ký tên là Nghĩa mà ông ta bắt được quả tang đang ăn sáng trong giờ l àm việc ởvăn phòng:

(9) Ông nói cho tôi biết ông đã làm gì từ sáng tới giờ?

Và Sinh – đồng nghiệp của Nghĩa nói với Nghĩa sau giờ l àm việc:

Trang 33

(10) Đi bộ, tôi muốn hỏi anh cái này.

Ông sếp gọi Nghĩa bằng “ông” và tự xưng bằng “tôi” Sinh cũng tự xưng bằng “tôi”

và gọi Nghĩa bằng “anh”.

Cách xưng hô phi thân t ộc hóa với người ngoài hiện nay tập trung chỉ yếu vào các

từ: ông, bà, anh, chị Đặc biệt là hai từ ông, bà.

Từ những cách dùng trên, có thể khái quát: “Bốn danh từ thân tộc: anh, chị, ông,

bà là lõi xưng hô của các từ thân tộc, chúng l à những yếu tố để tạo ra cá c biểu thức

xưng hô khác, ngoại trừ biểu thức xưng hô dùng đại từ xưng hô” [6; tr 78].

- Tên riêng: Trước đây ở Việt Nam có nhiều loại t ên: tên hèm (tên cúng cơm), tênhúy, tên thụy, tên tự, tên hiệu, tên tục Những người theo đạo Thiên chúa còn có tênthánh, các Phật tổ thường có pháp danh

Hiện nay, để xưng hô trong đời thường, theo Đỗ Hữu Châu th ường được dùng làcác tên chính (tên khai sinh) Tr ẻ nhỏ trong thoại trường gia đình thường được xưng

hô bằng tiểu danh (Cu, Cò, Hĩm, Ti, Cún, Bin…) Tên chính phổ biến là một âm tiết,

nhiều người có tên chính hai âm tiết Đàn bà khi chưa có con, đư ợc gọi tên bằng tênchồng Khi có con bố v à mẹ thường được gọi tên bằng tên của con đầu lòng Tuynhiên, cách gọi bằng tên chồng hay tên con hiên nây không ph ổ biến nữa

Đỗ Hữu Châu quan niệm, tên chính có thể dùng một mình để tự xưng, đối xưng vàtha xưng

Ví dụ:

Hạc ở nhà đi ra cười, hỏi:

(11) Bảo nói xấu gì Hạc với chị đấy?

(Khái Hưng)

ở đây, Hạc - tên riêng được người chồng dùng để tự xưng và Bảo – tên riêng của

người vợ được người chồng dùng để đối xưng

(12) Tôi nói thế nào, tôi thề thế nào, Bảo cũng không tin, Bảo cứ nhất định cho tôi bậy

bạ… Anh tính thế thì có vô lý không?

(Khái Hưng)

Ở đây, Bảo được dùng để tha xưng.

Trang 34

Khi được dùng để tự xưng và đối xưng, các âm chính thư ờng được dùng ở dạngmột âm tiết Việc dùng tên riêng một mình để xưng hô chủ yếu chỉ diễn ra trong ngữvực thân tình như các ví dụ (11), (12) đã cho thấy Nó cũng không kéo d ài suốt cuộchội thoại Chỉ sau một v ài lượt lời, các đối ngôn sẽ chuyển sang cách x ưng hô kháckhông phải bằng một mình tên riêng.

Đặc biệt, người Việt ta có tục kiêng gọi tên tục Trước đây, chỉ khi xung đột dữ dộingười ta mới lôi tên tục nhau ra mà chửi Cho đến nay, đối xưng và tha xưng người có

vị thế cao trong xã hội hoặc trong gia đình, họ tộc chỉ bằng tên riêng là vô lễ với ngườiđó

Thường gặp là cách xưng hô tên riêng k ết hợp với các yếu tố khác:

 Từ thân tộc + tên riêng

 Từ thân tộc + từ chức danh, nghề nghiệp +t ên riêng

- Từ chỉ người theo chức danh, nghề nghiệp (gọi tắt l à từ chức danh, nghề nghiệp):

Trong “Cơ sở ngữ dụng học”, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ chức danh, nghề nghiệp

lập thành bốn kết cấu sau đây để x ưng hô:

Thứ nhất: từ chức danh, nghề nghiệp d ùng một mình;

Thứ hai: từ chức danh, nghề nghiệp kết hợp với từ thân tộc hoặc từ “ngài”, từ “quan”

ở trước;

Thứ ba: từ chức danh, nghề nghiệp d ùng với tên riêng ở sau;

Thứ tư: từ chức danh, nghề nghiệp kết hợp với từ thân tộc hoặc từ “ngài” (từ

“quan”) ở trước và tên riêng ở sau” [5; tr 300].

Cũng theo tác giả thì cả bốn kết cấu trên đều có thể được dùng để tha xưng với cácsắc thái biểu cảm, trong những thoại tr ường, trong ngữ vực v à quan hệ liên cá nhânkhác nhau Đáng chú ý l à việc dùng các kết cấu từ chức danh, nghề nghiệp để đốixưng

Trước đây, kết cấu thứ nhất hầu nh ư không bao giờ được dùng một mình để đối

xưng (trừ trường hợp “bá tước”, “nam tước”, nhưng “công tước, hầu tước, tử tước…” lại không được dùng như vậy) Hiện nay, kết cấu từ chức danh, nghề nghiệp

một mình đã được dùng để đối xưng

Ví dụ:

Trang 35

(13) Xin Chủ tịch rẽ lối này.

(14) Bộ trưởng đã căn dặn, chúng tôi xin chấp h ành.

(15) Chào Bác sĩ!

Tuy nhiên, kết cấu này được dùng vẫn rất có hạn

Thuộc kết cấu thứ hai l à những tổ hợp từ thân tộc + từ chức danh nh ư: cụ bá, ông

lí, bác phán, chú tham, th ầy thừa, quan đốc… và những tổ hợp từ thân tộc + từ

nghề nghiệp: bác tài, bác lái, thầy kí…

Trước Cách Mạng Tháng Tám, đây l à những kết cấu đối xưng (và tha xưng) ph ổbiến và bắt buộc Áp lực của việc phải có từ chức danh sau từ thân tộc để x ưng hô (cảvới người trong gia đình, họ tộc và ngoài xã hội) mạnh đến nỗi tiếng Việt phải đặt ramột số danh phận dân d ã cho những người đàn ông không vai vế, không nghề nghiệp

gì đặc biệt ngoài nghề nông để đối xưng: cu, cò, hoe, đĩ, cháu, chắt trong những tổ hợp như: cố hoe Chín, anh chắt Em, anh cu B ưởi (và cả danh phận người mới lấy

vợ, chưa có con: đỏ trong tổ hợp: anh đỏ Câu…) Những kết cấu từ chức danh n ày được dùng cho đàn ông Phụ nữ được gọi theo chức danh của chồng: bà phán, bà

huyện, chị đỏ Câu, chi chắt Em…

Cả hai thành phần: từ chức danh, nghề n ghiệp và từ thân tộc (ngài, thầy, quan…)

trong kết cấu này đều chịu trách nhiệm thể hiện ý nghĩa trọng, khinh nh ưng trọng tráchthể hiện ý nghĩa này rơi vào thành phần thứ nhất, thành phần khởi đầu kết cấu Bằngchứng là khi đối xưng, người ta có thể bỏ từ chức danh, nghề nghiệp chứ không thể bỏcác từ thân tộc

Ví dụ:

(16) Bẩm ông lớn, tên lí trưởng này tệ quá.

Một số tổ hợp từ thân tộc + từ nghề nghiệp cũ nh ư: ông tài, bác lái và những tổ hợp mới như: anh tắc xi, bác xích lô, anh hải quan, anh kiểm lâm, anh c ông an

được dùng chủ yếu để gọi

Kết cấu thứ ba: từ chức danh, nghề nghiệp + t ên riêng và kết cấu thứ tư: từ thân tộc+ từ chức danh, nghề nghiệp + t ên riêng trước kia và hiện nay đều không được dùng

để đối xưng, chủ yếu chỉ được dùng để tha xưng Chúng cũng được dùng để thưa hoặcgiới thiệu những người có vị thế xã hội cao

Trang 36

Ví dụ:

(17) Xin trân trọng giới thiệu bộ trưởng Nguyễn Văn H lên phát biểu ý kiến.

- Bán đại từ: Đỗ Hữu Châu tạm dùng tên gọi này để chỉ những từ xưng hô tiếngViệt không phải là từ thân tộc, cũng không phải là các đại từ thực sự

Theo tác giả, có ba nhóm đại từ:

+ Thứ nhất là các từ như: ngài, người, trẫm, khanh, thiếp, ch àng, nàng…

“Ngài” hiện nay đã được dùng trở lại, kết hợp với từ chức danh hoặc t ên riêng để đối

xưng hoặc tha xưng trong ngữ vực cực kì quy thức, chủ yếu với người nước ngoài

“Người” dùng để tha xưng những bậc gần như thần tượng của Việt Nam và của thế giới “Tiên sinh” từ sau 1945 không còn được dùng để đối xưng và tha xưng nữa.

“Trẫm, khanh” là từ vua tự xưng và đối xưng quan lại (“ái khanh” là từ vua dùng để

đố xưng phi tần của mình)

+ Thứ hai là những tổ hợp Hán Việt nh ư: ngu đệ, hiền huynh…

Trong nhóm này có nh ững từ chuyên dùng để tự xưng theo nguyên tắc tự hạ: ngu đệ,

ngu huynh, quả nhân, cô gia, hạ nhân, hạ q uan… có những từ chuyên dùng để đối

xưng theo nguyên tắc hô tôn: hiền đệ, hiền huynh… hoặc chuyên dùng để tha xưng cũng theo nguyên tắc hô tôn: lệnh đệ, lệnh huynh (em hoặc anh của người tiếp

thoại)… Tất cả các từ nhóm thứ hai n ày không được dùng trong giao tiếp miệng đờithường, nay chỉ gặp trong văn viết

+ Thứ ba là những từ chỉ xuất không gian hoặc những tổ hợp có từ chỉ xuất

không gian ở sau để tự xưng: đây, thằng này (con này), để tha xưng: đấy, đằng ấy.

Những bán đại từ này được dùng trong ngữ vực thân tình hoặc xung đột Có thể đ ưa

vào nhóm này các tổ hợp tha xưng trong đó có từ chỉ xuất không gian “ấy” hoặc với đại từ “ta”: ông ấy, con ấy… ông ta, b à ta… Những tổ hợp với “ấy” là những tổ hợp

tha xưng trung tính nh ất

Các bán đại từ bị đánh dấu chặt chẽ về ngôi, không có hiện t ượng kiêm ngôi Nói

“lệnh huynh, lệnh tỉ” bao giờ cùng là nói tới anh hoặc chị của ng ười tiếp thoại.

2.2.1.3 Quan điểm của Phong cách học

Quan điểm của các nhà phong cách học khá giống với quan điểm của các nh à ngữdụng học, nhưng có khác với quan điểm của các nh à ngữ pháp học Họ không đồng

Trang 37

nhất từ xưng hô với đại từ xưng hô như các nhà ng ữ pháp học, nhưng phạm vi nghiêncứu về các từ loại khác nhau đ ược dùng để xưng hô thì khá ít so với các nhà ngữ dụnghọc.

Cù Đình Tú trong “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt” cho rằng: “Bên

cạnh các đại từ nhân x ưng: tôi, tao, ta, chúng tôi, chúng ta, chúng tao, chúng ông,

chúng anh, chúng chị (ngôi 1), mày, bay, chúng mày, chúng bay (ngôi 2), nó, hắn,

y, va, nghỉ, chúng nó (ngôi 3), tiếng Việt còn lấy tất cả các từ chỉ quan hệ họ h àng,

thân thuộc dùng làm từ xưng hô như: cụ, ông, bà, cha, chú, mẹ, bác, thím, cô, dì,

cậu, mợ, anh, em, chị, cháu… ” [46; tr.166].

Đinh Trọng Lạc trong “Phong cách học tiếng Việt” cũng có những nhận xét khá

giống với Cù Đình Tú, tác giả viết: “Bên cạnh các đại từ nhân x ưng (tôi, tao, mày, nó/

hắn…) trong tiếng Việt còn dùng những từ chỉ quan hệ gia đ ình huyết tộc (ông, bà, cha, me, con, cháu…) để xưng hô” [24; tr.170].

Các đại từ xưng hô, theo Đinh Trọng Lạc có thể sắp xếp như sau:

Số / Ngôi Số ít Ngôi gộp Số nhiều

Ngôi thứ 1

Ngôi thứ 2

Taomày

tôi,/

ta,chúng ta

chúng taochúng mày

và cách nói trống không (zero)còn được dùng để xưng hô

2.2.2 Phân loại theo phạm vi sử dụng

Bên cạnh việc phân loại từ x ưng hô theo từ loại, Lê Biên còn phân chia nhóm t ừ

này theo phạm vi sử dụng Theo tác giả th ì “Có thể chia những từ xưng hô tiếng Việt

thành hai lớp có phạm vi sử dụng khác nhau: Những từ x ưng hô dùng trong gia tộc và những từ xưng hô dùng ngoài xã hội” [3; tr.127].

Trang 38

Dưới góc độ ngôn ngữ học x ã hội, có một số vấn đề x ưng hô trong gia đình ngườiViệt như xưng hô giữa vợ chồng, xưng hô giữa anh chị em hay xưng hô giữa ông, bà vàcháu, giữa cha mẹ vơi con cái Trong từng mối quan hệ vừa n êu lại có những cách xưng

hô khác nhau như cách xưng hô nhà, xưng hô bằng vai anh hoặc em, xưng hô bằng vai

bố mẹ thay cho con trong quan hệ vợ chồng; cách gọi thay vai con: bác, cậu, dì, cô…, cách xưng gọi bằng vai tương ứng: anh, chị, em trong quan hệ của anh chị em trong gia

đình Trong xưng hô giữa vợ chồng và giữa anh chị em trong gia đ ình người Việt có

những điểm tương đồng như việc gọi anh và xưng em, hay có cách gọi khác là anh ấy và

cô ấy Như vậy, suy cho cùng, từ xưng hô giữa những người khác bậc ở những mức độ

không giống nhau, theo những quan hệ khác nhau với những đặc điểm ri êng nhưng gầnnhư thuộc cùng một hệ Xưng hô giữa ông, bà và cháu trong gia đ ình người Việt thuộcmột khía cạnh khác, không h òa đồng, các thành viên ít có xu hư ớng hòa nhập và ở hairanh giới khác nhau

2.2.2.1 Những từ xưng hô dùng trong gia t ộc, thân tộc

Theo Lê Biên, trong quan h ệ gia tộc, thân tộc “chủ yếu d ùng các danh từ thânthuộc, rất ích dùng đại từ xưng hô gốc, theo một tôn ti chặt c hẽ, tương đối ổn định” [3;tr.127]

Như những khuôn hình sẵn có, ràng buộc mọi người phải châp nhận, tuân theo, các

từ xưng hô cũng phản ánh các quan hệ: thứ bậc (tr ên / dưới), tuổi tác, giới tính, địa vị x ãhội… Trong đó, quan hệ thứ bậc (gia tộc) quyết định chi phối các quan hệ khác

Lê Biên cho rằng cái tôn ti trật tự: tr ên ra trên, dưới ra dưới chi phối cách ứng xử,

xưng hô Cho dù có đ ịa vị cao trong xã hội thì “phép vua cũng thua lệ làng”, phải

“nhập gia tùy tục”, theo kiểu “bố con nhà bác, lớn xác con nhà chú” Do đó, những đại từ xưng hô đích thực (tao, mày, nó) chỉ thể hiện quan hệ một chiều: tao (trên); nó,

mày (dưới) chỉ dùng nói về những người ở bề dưới; “tôi” chỉ những người ở bậc trên

được dùng để xưng với những người ở bậc dưới

Theo tác giả, trong phạm vi thân tộc, các từ: ông, bà, bố, mẹ, chú, bác, cô, anh,

em, chị, con, cháu… được dùng với ý nghĩa gốc, cơ bản của chúng để xưng và hô (như

các đại từ xưng hô lâm thời) với những người trong gia tộc

Trang 39

Tuy nhiên, cách xưng hô trong m ột số gia đình hiện nay thường không thống nhất,đôi khi tuỳ tiện, thiếu chuẩn mực.

Trong gia đình Việt Nam truyền thống, quan hệ x ưng hô là một trong những nétđặc trưng, không kể đó là miền Bắc, miền Trung hay miền Nam, miền xuôi hay miềnngược Các thế hệ sống chu ng dưới một mái nhà với các mối quan hệ nh ư: ông bà - cha

mẹ ; ông bà - cháu; cha mẹ - con cái; anh chị em với nhau với cách x ưng hô tương ứng

đã tạo nên một lối hành xử bất thành văn nhưng được đảm bảo thực hiện bằng bổn phận

và trách nhiệm Đây được xem là “luật pháp” của gia đình mà ta thường gọi là gia pháp,gia phong hay gia giáo Truy ền thống “tôn sư trọng đạo”, “trên kính dưới nhường”, “gọi

dạ bảo vâng”, qua những cách x ưng hô thể hiện tính trật tự, văn hoá v à điều đó tạo nên sựbền vững trong cơ cấu của gia đình Đất nước có luật pháp, gia đ ình có gia pháp, có nhưvậy mới giữ được nếp nhà, truyền thống đạo lý của dân tộc, ổn định x ã hội, đất nước

Ngày nay, khi mà mô hình gia đình ngày càng có xu hướng hạt nhân hoá mạnh, th ì

cơ cấu gia đình cũng có sự thay đổi nhanh chóng v à theo đó là quan hệ trong gia đìnhcũng thay đổi Gia đình hạt nhân với cơ cấu có hai thế hệ là vợ chồng và con, đã tỏ rathích nghi với xu thế xã hội mới, các thành viên ít chịu sự “giám sát” lẫn nhau, mặt khác

sự năng động để thích nghi với môi trường xã hội luôn tạo cho các th ành viên sự tự dotheo cả nghĩa chủ quan và khách quan Tuy nhiên bên c ạnh những mặt tích cực của môhình gia đình hạt nhân, đã bộc lộ những nét khiếm khuyết Một trong các mặt hạn chế đó

là quan hệ xưng hô giữa các thành viên với nhau đã “có vấn đề”, chính điều này đã tạo ra

sự lỏng lẻo trong quan hệ gia đ ình

Như vậy, xây dựng cơ cấu gia đình bền vững bao gồm nhiều yếu tố, nh ưng rõ ràngquan hệ xưng hô trong gia đình là một yếu tố rất quan trọng, v ì thông qua đó chúng ta cóthể dạy bảo con cái biết lễ phép, kính trọng, tuân thủ các chuẩn mực x ã hội, còn mỗichúng ta sẽ tự hoàn thiện mình hơn Đồng thời, thông qua cách x ưng hô trong gia đình,chúng ta có thể đánh giá một gia đình có nề nếp, gia phong hay một con người có văn hoákhi ra ngoài xã hội, làm tốt từ những việc tưởng như nhỏ đó cũng sẽ góp phần xây dựngmột đời sống văn hoá mới trong gia đ ình và cộng đồng xã hội

2.2.2.1.1 Xưng hô giữa ông, bà và cháu trong gia đình

Trang 40

Trong gia đình có thể có nhiều thế hệ giao tiếp với nhau V ì vậy, họ bị bắt buộctrong khuôn khổ của thế hệ mình Tuy nhiên, các thành viên giao ti ếp ở đây lại lệ thuộc

vào các thế hệ cách quãng, giữa họ là cả một thế hệ khác (cha, mẹ) Bên cạnh đó, xưng

hô còn tuân thủ chuẩn mực để có cơ hội xích lại gần nhau giữa các th ành viên trong giađình

Các thành viên giao ti ếp luôn có sự định hướng và ổn định, ít bị mơ hồ hay quátrớn, đi quá giới hạn trong cách x ưng hô Vả lại, xưng hô còn phải căn cứ vào tuổi tác, địa

vị, nghề nghiệp hay sự từng trải… Ngoài ra, còn dựa vào quan hệ trong những độ tuổinhất định

Ông, bà và cháu trong gia đ ình người Việt thường có những cặp từ x ưng hô có tính

chất thuận nghịch để x ưng hô với nhau: ông, bà – cháu Người ông ( người bà) tự xưng mình là ông hoặc bà và gọi cháu mình là cháu Hay nói cách khác, mỗi người tự xưng vai

của mình và gọi bằng chính vai của đối t ượng

Trong quá trình giao ti ếp với một người thứ ba khi nhắc đến ng ười ông hoặc người

bà thì người cháu sẽ xưng hô theo cách khác và ngư ợc lại Khi xưng hô như vậy, ngườicháu dựa vào các đặc điểm xã hội của người thứ ba để xưng hô so với bản thân ông, bà.Những trường hợp ông, bà và cháu giao tiếp với người thứ ba lớn tuổi hơn cháu sẽ có các

cách gọi thay vai như: cháu nó, cháu nó nhà tôi, cháu – tên, cháu – tên – nhà tôi, em

nó, em – tên, em…, dù có lúc cũng gọi là cháu nhưng không ph ải là cháu trong mối

tương quan với ông, bà trong gia đình mà là cháu trong mối quan hệ với cô, bác, chú…

ngoài xã hội

Trước người thứ ba lớn tuổi hơn mình thì ông, bà thường gọi cháu mình một cách

nghiêm chỉnh như: cháu hoặc em kèm với tên cháu, tùy người thứ ba ở hàng trên ông hay

ở hàng cha, mẹ hoặc ở cùng thế hệ với chúng ta Như vậy, thể hiện sự lịch sự trong giaotiếp và mang sắc thái biểu cảm thân thiện

Tóm lại việc xưng hô giữa ông, bà và cháu tưởng chừng như khô cứng và đơn giảnnhững trên thực tế lại khá phong phú v à đa dạng Khi một vai đóng vai tr ò lịch sự và giữmột vị trí quan trọng th ì vai kia trở nên cơ động, mềm mại và uyển chuyển tạo ra cáchxưng hô mới làm tăng khả năng giao tiếp theo quan hệ vai n ày Tuy nhiên sự thay đổi đólại hoàn toàn do vai trên vốn đã bị đóng chặt ở một vị trí tiến h ành chủ yếu thông qua

Ngày đăng: 02/04/2018, 05:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w