1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn (TT)

27 460 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 456,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát, miêu tả và phân tích cách tổ chức vần, nhịp, phối thanh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn, chỉ ra sự kế thừa và cách tân về hình thức thơ theo khuynh hướng hiện đại hóa thông qua

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Tình

Phản biện 1: GS TS Vũ Đức Nghiệu

Phản biện 2: PGS TS Hà Quang Năng

Phản biện 3: PGS TS Nguyễn Thị Ngân Hoa

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại: Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội

Vào hồi giờ ngày tháng năm 2016

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU 0.1 Lí do chọn đề tài

0.1.1 Lục bát là thể thơ rất gần gũi, quen thuộc với mọi người dân Việt Nam Một nhà thơ chọn thể thơ này nghĩa là chấp nhận một thử thách về tài năng và năng lực tìm tòi cái mới trong tư duy thơ Sự xuất hiện của Đồng Đức Bốn đã đem lại cho thơ lục bát, thơ truyền thống một sức sống mới, góp phần khẳng định giá trị lâu bền của thể loại thơ này trong dòng thơ dân tộc Vậy nên, thơ lục bát Đồng Đức Bốn trở thành một đối tượng nghiên cứu

lí tưởng xét từ nhiều góc độ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau, trong đó có cách tiếp cận của ngôn ngữ học

0.1.2 Đồng Đức Bốn đã tạo nên một phong cách riêng, một giọng điệu riêng giàu sức ám ảnh trong thơ mà đặc biệt là thơ lục bát Việt Nam hiện đại Thơ của Đồng Đức Bốn xứng đáng được quan tâm nghiên cứu một cách nghiêm túc, đầy đủ, toàn diện để thấy được đóng góp của thơ ông với nền văn học nước nhà Đây là một hướng đi cần thiết vừa mang tính chuyên sâu vừa mang tính liên ngành

0.1.3 Nghiên cứu về thể thơ lục bát theo cách tiếp cận ngôn ngữ học hiện nay vẫn còn những khoảng trống có nhu cầu đòi hỏi được nghiên cứu

Đó là những lí do đã thúc đẩy chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát của tác giả Đồng Đức Bốn

0.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.2.1 Mục đích nghiên cứu

Thứ nhất, thông qua việc ứng dụng lý thuyết nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động

hành chức để khám phá được vai trò đặc biệt của ngôn ngữ thơ lục bát trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Thứ hai, đề tài góp phần xác nhận tính phổ quát, tính sáng tạo trong thơ lục bát Đồng

Đức Bốn nói riêng Với mỗi tác phẩm văn chương, vai trò của ngôn ngữ lại được tác giả thể hiện theo cách riêng của mình Điều đó giúp người đọc nhận biết được phong cách cá nhân của từng tác giả

Thứ ba, đề tài góp phần khẳng định thể thơ lục bát tồn tại và có sức sống lâu bền nhất

trong lịch sử văn học Việt Nam Nó từng được mệnh danh là “quốc túy” “quốc phong” và đang có xu hướng trở thành di sản văn hóa của dân tộc

0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo sát và làm rõ đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát truyền thống và thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Khảo sát, miêu tả và phân tích cách tổ chức vần, nhịp, phối thanh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn, chỉ ra sự kế thừa và cách tân về hình thức thơ theo khuynh hướng hiện đại hóa thông qua việc so sánh thơ lục bát hiện đại với thơ lục bát truyền thống; Xem xét thanh điệu trong mối quan hệ với vần và nhịp để thấy được sự chi phối của các yếu tố trong việc

tổ chức nhạc tính trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Khảo sát việc sử dụng ngôn từ, một số biện pháp tu từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

0.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích diễn ngôn, phương pháp phân tích định lượng, phương pháp thống kê, thủ pháp

so sánh đối chiếu

Luận án sử dụng các thủ pháp thống kê toán học, phân loại và hệ thống hóa, mô hình hóa để dựng lên bức tranh toàn cảnh đặc điểm vầ vần, nhịp, hài thanh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Trang 4

0.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

0.4.1 Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ lục bát và thơ lục bát Đồng Đức Bốn (tổ chức, mô hình, niêm luật, vần, nhịp, thanh điệu) là chủ yếu nhưng đồng thời cũng đặt việc nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ thơ lục bát trong mối tương quan với thi pháp học ngôn ngữ thơ, phân tích diễn ngôn ngôn ngữ thơ, chức năng ngôn ngữ thơ lục bát…

0.4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát của Đồng Đức Bốn trên cơ sở đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát, gồm: vần, nhịp, hài thanh và một số phương tiện tạo nghĩa, ngôn từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

0.5 Tư liệu nghiên cứu

Tư liệu nghiên cứu gồm 198 bài thơ lục bát Đồng Đức Bốn để khảo sát.Ở phương diện so sánh thơ lục bát Đồng Đức Bốn và thơ lục bát truyền thống, đề tài sử dụng một số

tư liệu đã được xử lý của một số luận văn, khóa luận tốt nghiệp vì những tư liệu này phù hợp, đáp ứng với mục đích nghiên cứu của đề tài

0.6 Đóng góp của luận án

Thứ nhất, luận án cung cấp một bức tranh tương đối toàn diện về ngữ âm trong lục bát

Đồng Đức Bốn với những đặc điểm riêng mang tính đặc thù

Thứ hai, kết quả nghiên cứu của luận án có thể có những đóng góp mới vào việc

nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát với lối tiếp cận ngôn ngữ học, hướng tới việc nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ lục bát nhưng đồng thời cũng đặt việc nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ thơ lục bát trong mối tương quan với thi pháp học ngôn ngữ thơ, phân tích diễn ngôn ngôn ngữ thơ, chức năng ngôn ngữ thơ…

Thứ ba, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ phủ nhận quan niệm cho rằng: lục bát được

định hình trong ca dao và đến Truyện Kiều thì nó hoàn thành sứ mệnh lịch sử và nhường chỗ cho thể loại thơ khác

0.7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung của luận

án gồm 4 chương: Chương I Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ lục bát, lục bát Đồng

Đức Bốn và cơ sở lý thuyết của luận án; Chương II Vần và nhịp trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn; Chương III Luật phối thanh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn; Chương IV Cấu

tứ và ngôn từ Một số biện pháp tu từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ LỤC BÁT, THƠ LỤC BÁT

ĐỒNG ĐỨC BỐN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thơ lục bát

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về thơ và ngôn ngữ thơ Việt Nam rất phong phú và đa dạng Tác giả Dương Quảng Hàm đã đề cập đến những nét cơ bản của các thể loại thi ca tiếng Việt Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này cùng với những kết quả nghiên cứu đã có của Phan Kế Bính, Bùi Kỉ, đến năm 1971, các tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã nghiên cứu về cấu trúc hình thức phổ quát và giản yếu lịch sử phát triển của các thể thơ nói chung Gần hơn nữa, một số công trình nghiên cứu của các tác giả như Trần Đình Sử, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Lưu Oanh, Mã Giang Lân, Nguyễn Phạm Hùng, Bùi Công Hùng…đều hướng tới nghiên cứu một hoặc một vài tác giả, tác phẩm thơ ở các

Trang 5

góc độ như: tiến trình văn học; phê bình lí luận văn học; sự cách tân thơ văn; nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học văn học

Tuy nhiên, việc nghiên cứu chú ý đến những tiếp cận mới về nghệ thuật thi ca và các yếu tố ngôn ngữ trong thơ đã có mầm mống ở Nga từ đầu thế kỉ XX Các nhà hình thức Nga như R Jacobson, V Girmunski đã đi sâu nghiên cứu các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nhịp điệu thơ, phân tích chức năng ngôn ngữ thông qua các đơn vị cấu trúc hệ thống

Ở Việt Nam, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thi ca tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ Trước tiên phải kể đến Phan Ngọc (1985) Một số tác giả với cách nhìn mới từ góc độ ngôn ngữ học, lấy phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học ứng dụng vào việc phân tích để nhận ra các tầng bậc và các mối quan hệ về tổ chức ngôn ngữ bên trong của thể thơ này Đó là các tác giả Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình (2001), Nguyễn Phan Cảnh (2006), Mai Ngọc Chừ (1986), Hữu Đạt (2000), Nguyễn Thái Hòa (1999), Lý Toàn Thắng (2002), Phan Diễm Phương (1998), Hồ Văn Hải (2008)…

Từ góc độ lí luận văn học, các nhà nghiên cứu đã xem xét thi luật của lục bát gồm vần

và nhịp, tiết tấu và âm hưởng, kết cấu và giọng điệu,… Đó là các tác giả Bùi Văn Nguyên,

Hà Minh Đức (1971), Đỗ Lai Thuý, Trần Khánh Thành (1982), Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Lạc Nam (1993), Bùi Văn Nguyên, Phan Diễm Phương (1998),

Mã Giang Lân (2000)…Gần đây, một số khoá luận, luận văn ở các trường đại học cũng có những nghiên cứu thơ lục bát từ góc độ ngôn ngữ học

1.1.2 Những nghiên cứu thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam

Có nhiều lối nghiên cứu về thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại ở Việt Nam Trong

đó, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến mọi vấn đề lý luận của thể thơ lục bát như vần, nhịp, luật phối thanh, các biến thể…Đó là các tác giả Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình (2001), Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992)

1.1.3 Tình hình nghiên cứu thơ lục bát Đồng Đức Bốn

1.1.3.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Từ trước đến nay có không ít các nhà nghiên cứu, phê bình cũng đã đi tìm hiểu về cách thức thể hiện trong từng tập thơ, từng bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn Điểm qua các nghiên cứu về ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn chúng tôi thấy có các ý kiến, bài viết của các tác giả : Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Anh Thư, Nguyễn Thanh Toàn, Lê Quốc Hán, Chu Nhạc, Chu Toàn, Chử Văn Long, Trần Huy Tản…

Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết của các tác giả thể hiện sự đánh giá, sự cảm nhận của mình về một trong những bài thơ lục bát tiêu biểu của Đồng Đức Bốn như các tác giả Nguyễn Đăng Điệp (2007), nhà nghiên cứu Đinh Quang Tốn (2006) Trên các website của Hội nhà văn, của các cá nhân, một số nhà văn, nhà thơ như Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Huy Thiệp, Văn Chinh,… đã viết về lục bát của Đồng Đức Bốn

1.1.3.2 Những ý kiến trái chiều khi nghiên cứu thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà, nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh (2006), Nhà văn Đình Kính (2006) đều có những nhận

xét trái chiều khi tìm hiểu, nghiên cứu về thơ lục bát Đồng Đức Bốn

1.2 Các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

1.2.1 Thể thơ lục bát

1.2.1.1 Quá trình hình thành thể lục bát

Hiện nay, chưa có một nhà nghiên cứu nào xác định được niên đại ra đời của thể thơ lục bát trong văn học viết Qua các cứ liệu để lại, có thể nói, thể thơ lục bát trong văn học viết Việt Nam tồn tại và phát triển qua ba thời kì lớn: thế kỉ XIII- XVII, thế kỉ XVIII- XIX

Trang 6

và thế kỉ XX cho đến nay Ba thời kì này đồng thời cũng là quá trình vận động và phát triển của thể lục bát trên cả ba phương diện: chức năng, nội dung và thi pháp thể loại thơ lục bát

1.2.1.2 Quá trình vận động của thể thơ lục bát

Về thể lục bát truyền thống trong ca dao, đó là những tác phẩm thơ ca dân gian, ca

dao được sáng tác dưới nhiều hình thức thơ khác nhau: song thất, song thất lục bát, bốn chữ, hỗn hợp, tuy nhiên được vận dụng phổ biến hơn cả là thể lục bát

Về thể thơ lục bát trong văn học trung đại: trong văn học trung đại cuối thế kỉ XVIII-

đầu thế kỉ XIX, các nhà thơ đã phát huy tối đa sức mạnh tự sự (kể chuyện) của thể thơ lục bát Lịch sử giai đoạn này đã chứng kiến sự nở rộ của thể loại truyện thơ Nôm với những tác phẩm xuất sắc

Về thể thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới: chức năng nổi trội của lục bát thời kì này

là bày tỏ tình cảm tâm trạng cá nhân của cái tôi trữ tình (chức năng trữ tình) Ưu thế của vai trò kể chuyện thuật kể trong lục bát truyền thống giờ đây đã được nhường vị trí cho chức năng trữ tình Đây cũng là một trong những căn cứ khu biệt lục bát hiện đại với lục bát truyền thống

Về thể thơ lục bát trong thời hiện đại: Thể lục bát với những cách thức xử lý phong

phú, đa dạng đang duy trì được sức sống và hòa nhập vào đời sống chung của thơ ca hiện đại Thơ lục bát hiện đại tồn tại dưới hai dạng: Dạng thứ nhất, lục bát nguyên thể; Dạng thứ hai, lục bát phối xen Cả hai dạng đều có thể được xem xét trên các phương diện cấu trúc, thi pháp dòng thơ và chức năng biểu đạt nội dung của chúng

1.2.1.3 Biến thể và biến dạng của lục bát

Tác giả Bùi Kỷ (gọi hát xẩm là biến thể của lục bát Tác giả Dương Quảng Hàm (2002) khẳng định hát nói và lục bát gieo vần ở tiếng thứ tư là hai biến thể của lục bát Tác

giả Bùi Văn Nguyên (1971), ngoài điểm lưu ý là “tiếng thứ hai có thể linh động bằng hay trắc”, còn đưa ra “hệ thống đặc biệt” với hai trường hợp: lục bát gieo vần trắc và gieo vần bằng ở tiếng thứ tư Tác giả Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình (2001) cho rằng “có thể có hiện tượng biến thể” ở ba bậc: bậc vị trí, bậc bước (tức nhịp) và bậc dòng Tác giả Nguyễn Xuân Kính (1996) lưu ý “một kiểu gieo vần khác” (tức là gieo vần lưng ở tiếng thứ tư dòng bát)

và nêu lên ba biến thể của dòng lục bát trong ca dao

Như vậy, dù gọi bằng nhiều tên khác nhau nhưng cũng là để chỉ những hiện tượng biến đổi của thể lục bát Quan sát những biến đổi đó, tác giả Phan Diễm Phương (1998) nhận

thấy chúng cần được phân biệt thành hai loại khác nhau: một loại tạo nên biến thể, và một loại tạo nên biến dạng của thể lục bát

1.2.2 Một số vấn đề ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa

1.2.2.1 Ngữ âm học và âm vị học

Về ngữ âm, ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính Thơ là hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt mang thuộc tính thẩm mĩ về ngữ âm Nói đến thơ là nói đến các yếu tố nằm trong sự vận dụng nghệ thuật hình thức âm thanh ngôn ngữ Đó là sự hoà phối về âm thanh, là ngắt dòng, ngắt nhịp, là sự hiệp vần

1.2.2.2 Bình diện ngữ nghĩa

Trong thơ, ngôn ngữ cô đọng, từ ngữ và hình ảnh súc tích, đa nghĩa Ngữ nghĩa và ngữ âm là hai mặt cơ bản cấu thành tác phẩm thi ca Dù âm thanh và ý nghĩa trong thơ được nghiên cứu một cách cô lập thì hai bình diện này bao giờ cũng được bao hàm một cách tất yếu Bởi vì, sự tương đồng giữa các âm thanh được chiếu lên chuỗi tiết tấu như là nguyên lí cấu thành nó thế nào cũng bao hàm tính tương đồng ngữ nghĩa

1.2.2.3.Bình diện ngữ pháp

Trang 7

Sự lặp lại một hình tượng ngữ pháp (figure grammaticale) cùng với sự lặp lại một hình tượng ngữ âm (figure phonique) là nguyên tắc cấu tạo của một tác phẩm thơ Đôi khi, những tương phản trên bình diện tổ chức ngữ pháp đã tạo áp lực đối với việc phân chia bài thơ thành những khổ thơ hoặc những phần của khổ thơ như câu thơ (dòng thơ)

1.2.2.4 Cấu trúc âm luật của thể thơ lục bát

Theo tác giả Phan Diễm Phương (1998), hai nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình (2001)có ba yếu tố tạo nên cấu trúc âm luật của thể thơ lục bát, đó là: sự tổ hợp các dòng, phối điệu, gieo vần, ngắt nhịp như sau:

Về sự tổ hợp các dòng ở thể lục bát: Dòng trong thể lục bát là một trong hai vế song

hành lập thành một khổ thơ, dòng lục (6 tiếng) trên, và dòng bát (8 tiếng) dưới

Về cách gieo vần ở thể lục bát: Gieo vần trong thơ lục bát thực hiện theo hai nguyên tắc: Về thanh điệu: Đó là vần bằng, tức là những những bộ vần trong đó các tiếng tham gia hiệp vần mang thanh bằng (ngang, huyền); Về vị trí gieo vần: Lục bát vừa có vần chân (còn gọi là cước vận) được gieo vào cuối dòng thơ, vừa có vần lưng (còn gọi là yêu vận),

được gieo ở giữa dòng thơ, thường là vào tiếng thứ sáu dòng bát Sự chắp dính giữa các vần có thể được hình dung theo mô hình sau đây:

Sơ đồ 1.1 Mô hình vần thơ trong thể thơ lục bát truyền thống

1 2 3 4 5 6

1 2 3 4 5 6 7 8

1 2 3 4 5 6

1 2 3 4 5 6 7 8

Về ngắt nhịp ở thể lục bát: Một vế tương đương nhỏ nhất trong ngôn từ thi ca được

gọi là một nhịp (bước thơ) Nhịp là đơn vị cơ bản tạo nên độ dài các dòng thơ

Về phối điệu ở thể lục bát: Ba nguyên tắc phối điệu của lục bát là:

Nguyên tắc thứ nhất là các tiếng chẵn 2, 4, 6 và 8 phải theo quy định về thanh điệu (B hoặc T); trong khi đó, các tiếng lẻ 1, 3, 5 và 7 được hoàn toàn tự do Cụ thể là tiếng thứ

2 mang thanh bằng, tiếng 4 mang thanh trắc, tiếng 6 và tiếng 8 mang thanh bằng

Nguyên tắc thứ hai, là hệ quả của nguyên tắc thứ nhất, là các tiếng chẵn 2, 4, 6 của mỗi dòng, theo quan hệ chiều dọc phải niêm (dính kết) với nhau theo từng cặp: tiếng thứ 2 đều bằng, tiếng thứ 4 đều trắc và tiếng thứ sáu đều bằng

Nguyên tắc thứ ba, là theo quan hệ chiều ngang, ngoài đối lập bằng - trắc, thể hiện ở các tiếng chẵn 2, 4, 6 của mỗi dòng, việc phối điệu còn dựa trên sự đối lập trầm bổng giữa hai tiếng 6 và 8 của dòng bát

1.2.3 Hướng tiếp cận nghiên cứu thể lục bát

1.2.3.1 Hướng nghiên cứu thi pháp học và theo lý thuyết hệ thống và cấu trúc

Thứ nhất là: Quan niệm của Ferdinand de Saussure về hệ thống và cấu trúc trong

giáo trình “Ngôn ngữ học đại cương”; Thứ hai là: Quan niệm về ngôn ngữ học và thi học của R Jakobson; Thứ ba là: Các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phan Cảnh về thơ theo hướng ngôn ngữ học, phong cách học; Thứ tư là: Quan niệm của Ju.M Lotman trong “Cấu

trúc văn bản nghệ thuật”:

1.2.3.2 Lý thuyết ngữ cảnh và phân tích diễn ngôn

Trang 8

Ngữ cảnh, theo quan niệm của David Nunan, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp: Các quan niệm về ngữ cảnh trên đây được chúng tôi vận dụng tùy theo mức độ để phân tích bài thơ, khổ thơ, câu thơ trong các mối quan hệ, liên hệ xung quanh nó, trong thế tương tác nhiều chiều với các yếu tố trong và ngoài nó

George Yule trong “Dụng học- một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ” đã trình bày khái

quát: “phân tích diễn ngôn (discourse analysis) bao trùm một phạm vi hoạt động cực kỳ rộng lớn” Đó là những nội dung làm cơ sở quan trọng cho đề tài vận dụng để phân tích một bài thơ, khổ thơ, câu thơ theo hướng phân tích diễn ngôn

1.2.3.3 Lý thuyết về phong cách học

Trong phạm vi đề tài, chúng tôi vận dụng lý thuyết về phong cách học của Khrapchencô, về phong cách nghệ thuật của các tác giả Bùi Công Hùng, Lại Nguyên Ân, Phan Ngọc, Đỗ Lai Thúy… để tìm hiểu phong cách nghệ thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn, bao gồm các nhân tố trong cuộc đời ảnh hưởng đến sáng tác của nhà thơ, tư tưởng triết học, tâm lý học và ngôn ngữ nghệ thuật được thể hiện qua văn bản tác phẩm

1.2.4 Đồng Đức Bốn và thơ lục bát Đồng Đức Bốn

1.2.4.1 Vài nét về nhà thơ Đồng Đức Bốn

Đồng Đức Bốn sinh ngày 30- 3- 1948, quê quán ở thôn Song Mai, xã An Hồng, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng trong một gia đình nghèo Trải qua nhiều ngành, nghề, cuối những năm 1980, Đồng Đức Bốn bắt đầu làm những bài thơ đầu tay Trong những năm 1987-1992, văn đàn thủ đô ở đâu cũng nói đến đổi mới (Perestroika) Đồng Đức Bốn lúc bấy giờ đang hoang mang dò dẫm từng bước một trên con đường thơ như vô tình mới tìm ra Đây cũng là thời kì Đồng Đức Bốn làm quen với các nhà thơ có tên tuổi như Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Lưu Quang Vũ, …chơi thân với các nhà văn, nhà nghiên cứu như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Xuân Nguyên, Hoàng Thu Phổ, Đinh Quang Tốn,….Được các nhà thơ, nhà văn khích lệ, năm 1992, Đồng Đức Bốn in tập thơ đầu tiên

Con ngựa trắng và rừng quả đắng, Phạm Tiến Duật viết lời giới thiệu Tập thơ có nhiều

bài thơ lục bát khá độc đáo chen lẫn các bài thơ tự do Đồng Đức Bốn đã trở thành nhà thơ

lục bát Đồng Đức Bốn khi trình làng tập thơ thứ hai Chăn trâu đốt lửa (1993) Đồng Đức

Bốn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Ông mất ngày 14 tháng 2 năm 2006 vì một căn bệnh hiểm nghèo

1.2.4.2 Hiện tượng thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Là một nhà thơ hiện đại, Đồng Đức Bốn đã tiếp bước lớp đàn anh đi trước góp vào thơ lục bát những sáng tác ghi lại dấu ấn trong lòng độc giả Trong khoảng hơn 10 năm xuất hiện trong làng thơ Việt Nam, Đồng Đức Bốn đã cho ra mắt bạn đọc chừng 600 bài thơ lục bát Trong đó có tới trên dưới 90 bài thơ được khách sành văn chương xếp vào loại “Cực hay, tài tử, vô địch”

1.3 Tiểu kết

1.3.1 Lịch sử nghiên cứu thơ lục bát từ lâu đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm với những góc độ khác nhau Gần đây, hướng nghiên cứu thơ lục bát trong sự vận động và phát triển của xã hội đang được nhiều học giả quan tâm Đây là hướng nghiên cứu kết hợp cả thi pháp học và lý thuyết tính hệ thống và cấu trúc Do đó, việc áp dụng các mô hình lí thuyết đối với hướng nghiên cứu này là sự kết hợp cả ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp

1.3.2 Luận án sử dụng các lí thuyết của ngữ âm học, từ vựng và ngữ pháp để làm cơ sở cho việc nghiên cứu thơ lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn Các cơ sở lí thuyết của ngữ âm học, từ vựng học giúp cho việc miêu tả đặc điểm về vần, nhịp và luật phối thanh trong thơ lục bát Các cơ sở lí thuyết của từ vựng học và ngữ pháp còn giúp cho việc tìm hiểu các phương thức tạo nghĩa trong thơ lục bát

Trang 9

1.3.3 Những khái niệm về thể thơ lục bát cũng như con người và sự nghiệp thơ của Đồng Đức Bốn cũng được áp dụng để nhằm lí giải những vấn đề liên quan đến thơ lục bát và hiện tượng thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Chương 2: vần và nhịp trong thơ lục bát đồng đức bốn 2.2 Vần trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2 2.1 Dẫn nhập

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng tôi xin được sử dụng định nghĩa về vần thơ của

các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học

Về chức năng, vần thơ thực hiện 3 chức năng sau đây: Chức năng liên kết; Chức năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp và xác lập mối quan hệ giữa vần và nhịp; Chức năng biểu trưng ngữ nghĩa Về phân loại vần thơ, nhìn chung các tác giả đều thống nhất dựa vào một trong ba tiêu chí cơ bản: vị trí, thanh điệu và sự hòa âm

2.2.2 Vần trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn xét theo vị trí của tiếng hiệp vần

Tư liệu khảo sát: 1.963 cặp vần trong 198 bài thơ lục bát và kết quả thống kê như sau:

Bảng 2.1: Các loại vần trong lục bát Đồng Đức Bốn xét theo vị trí của tiếng hiệp vần

2.2.3 Vần trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn xét theo âm vực thanh điệu

Bảng 2.2: Các loại vần trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn xét theo âm vực thanh điệu

Thanh điệu

Kết quả

Thanh bằng

Tổng cộng Bằng cao Bằng thấp Cao/thấp

Khảo sát 1.963 cặp vần, chúng tôi thấy nhận thấy có khá nhiều vần thơ Đồng Đức Bốn đều cùng thanh: Cùng thanh ngang (bằng bổng) có trong 701/1963 cặp vần, chiếm 35,7%; Cùng thanh huyền (bằng trầm) có trong 381/1963 cặp vần, chiếm 19,4%

2.2.4 Vần trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn xét theo mức độ hoà âm

2.2.4.1 Vần chính

Khảo sát 1.963 cặp vần trong lục bát Đồng Đức Bốn, xét về mức độ hoà âm, chúng tôi thu được số liệu sau: Vần chính gồm 1.142/1.963 cặp (chiếm 58,17%); Vần thông gồm 781/1.963 cặp (chiếm 39,78%); Vần ép gồm 40/1.963 cặp (chiếm 2,05%)

a, Vần chính trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn có các kiểu sau:

- Kiểu 1: Các kiểu cặp vần trong loại vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn:

Bảng 2.3: So sánh các kiểu cặp vần trong loại vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn với các kiểu vần trong âm tiết tiếng Việt (Có/không có âm đệm):

Vần có âm đệm Vần không có âm đệm

Trang 10

Trong âm tiết

tiếng Việt

Trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn (cặp)

Trong âm tiết tiếng Việt

Trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn (cặp)

Nhận xét: Tỉ lệ các kiểu cặp vần trong vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn với các kiểu

vần trong âm tiết tiếng Việt có sự chênh lệch nhau Cặp vần có âm đệm chiếm số lượng và

tỉ lệ rất ít so với số lượng và tỉ lệ cặp vần không có âm đệm

- Kiểu 2: Các kiểu nguyên âm hiệp vần trong vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn:

Bảng 2.4: So sánh các kiểu nguyên âm chính trong vần chính lục bát Đồng Đức Bốn với các kiểu nguyên âm chính trong âm tiết tiếng Việt:

Âm chính là nguyên âm đơn Âm chính là nguyên âm đôi

Trong âm tiết

tiếng Việt

Trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn (cặp)

Trong âm tiết tiếng Việt

Trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn (cặp)

Nhận xét: Cặp vần chính phổ biến là những cặp vần có âm chính là nguyên âm đơn Tỉ lệ

nguyên âm đơn/nguyên âm đôi của vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn so với tỉ lệ nguyên âm đơn/nguyên âm đôi (trong vai trò âm chính) của âm tiết tiếng Việt là gần như nhau

- Kiểu 3: Âm cuối hiệp vần trong vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Bảng 2.5: So sánh âm cuối kết hợp với âm chính trong âm tiết tiếng Việt và các âm cuối tham gia các vần chính của thơ lục bát Đồng Đức Bốn:

tiết tiếng Việt

Trong lục bát ĐĐB

Trong âm tiết tiếng Việt 141= 100%

Trong lục bát ĐĐB

311 (36,58%)

439 (63,42%)

0 (0%)

NhËn xÐt: Âm cuối hiệp vần trong vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn là bán nguyên âm

và các phụ âm mũi Như vậy, tiếng vang trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn được tạo ra chủ yếu nhờ phụ âm mũi- là những phụ âm có độ vang lớn

b, Xác định khuôn vần trong vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Bảng 2.6 : So sánh giữa kiểu vần trong vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn với kiểu vần trong âm tiết tiếng Việt :

Vần mở Vần nửa mở Vần nửa khép Vần khép

Trong âm Trong Trong âm Trong Trong âm Trong Trong âm Trong

Trang 11

tiết tiếng

Việt (vần)

lục bát ĐĐB (cặp vần)

tiết tiếng Việt (vần)

lục bát ĐĐB (cặp vần)

tiết tiếng Việt (vần)

lục bát ĐĐB (cặp vần)

tiết tiếng Việt (vần)

lục bát ĐĐB (cặp vần)

18

(11,32%)

392 (34,32%)

27 (16,98%)

311 (27,23%)

57 (35,85%)

439 (38,45%)

57 (35,85%)

0 (0%)

Nhận xét : Trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn không có vần khép Tỉ lệ các kiểu vần không

chênh lệch nhau nhiều Tỉ lệ vần mở, vần nửa mở, vần nửa khép giữa vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn và vần trong âm tiết tiếng Việt chênh lệch nhau, và thơ lục bát Đồng Đức Bốn không có vần khép

d, Vai trò của vần chính trong lục bát Đồng Đức Bốn

Trong lục bát Đồng Đức Bốn, hiệp vần chính đảm bảo sự hòa âm ở mức độ cao làm cho các dòng thơ nối nhau liên tục, dòng lục cứ gọi dòng bát như một mạch dòng chảy tuôn trào

2.2.4.2 Vần thông

Vần thông trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn có 781/1963 cặp ( tỉ lệ 39,78%)

a, Các kiểu cặp vần trong vần thông thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Bảng 2.7: So sánh kiểu vần thông lục bát Đồng Đức Bốn với vần âm tiết tiếng Việt

Vần có âm đệm Vần không có âm đệm

Trong âm tiết tiếng Việt (vần)

3

(0,38%)

47 (29,56%)

778 (99,62%)

112 (70,44%)

Nhận xét : Âm đệm tham gia hiệp vần là rất ít Tỉ lệ vần có âm đệm, vần không có âm đệm

giữa vần thông lục bát Đồng Đức Bốn và vần âm tiết tiếng Việt chênh lệch nhau

Bảng 2.8: So sánh giữ kiểu vần trong vần thông lục bát Đồng Đức Bốn và kiểu vần trong âm tiết tiếng Việt

Trong âm tiết tiếng Việt vần)

Trong lục bát ĐĐB (Cặp vần)

Trong âm tiết tiếng Việt vần)

Trong lục bát ĐĐB (Cặp vần)

Trong âm tiết tiếng Việt vần)

Trong lục bát ĐĐB (Cặp vần)

18

(11,32%)

392 (34,32%)

27 (16,98%)

311 (27,23%)

57 (35,85%)

439 (38,45%)

57 (35,85%)

0 (0%)

Nhận xét : Tỉ lệ vần mở, vần nửa mở, vần nửa khép, vần khép giữa vần thông lục bát Đồng

Đức Bốn và kiểu vần trong âm tiết tiếng Việt không đều nhau

b, Vai trò của vần thông trong lục bát Đồng Đức Bốn

Từ ca dao đến truyện Kiều, vần thông đã có sự gia tăng rất lớn và đến lục bát Đồng Đức Bốn lại tiếp tục gia tăng Kết quả thống kê cho thấy, vần thông trong lục bát Đồng Đức Bốn chủ yếu xuất hiện ở dòng bát trên với dòng lục dưới

2.2.4.3 Vần ép

a, Khảo sát vần ép trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Vần ép là loại vần được sử dụng rất ít (40/1.963 cặp, chiếm 2,05%) Nó có hai dạng: Có

âm cuối giống nhau; Âm cuối gần giống nhau

Trang 12

b, Vai trò của vần ép trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Do áp lực lựa chọn ngôn từ thể hiện chính xác sắc thái cảm xúc- ngữ nghĩa nên thơ lục bát Đồng Đức Bốn sử dụng một số vần ép (40 cặp vần= 2,05% tổng số các cặp vần)

c, Tổng kết phân loại theo kiểu vần trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Kết quả khảo sát cho thấy: Loại vần mà Đồng Đức Bốn sử dụng trong sáng tác của mình nhiều nhất là loại vần chính (58,17%), tiếp đó là vần thông (39,78%), vần ép ít được

sử dụng Điều đó cho thấy trong sáng tác thì Đồng Đức Bốn muốn tạo nên sự hoà âm cao

Trong âm tiết tiếng Việt (vần)

Trong lục bát ĐĐB (Cặp vần)

Trong âm tiết tiếng Việt (vần)

Trong lục bát ĐĐB (Cặp vần)

Trong âm tiết tiếng Việt (vần)

Trong lục bát ĐĐB (Cặp vần)

18

(11,32%)

524 (27,24%)

27 (16,98%)

615 (31,98%)

57 (35,85%)

784 (40,78%)

57 (35,85%)

0 (0%)

Nhận xét: Vần trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn không có vần khép, nhưng có 40 cặp vần

ép trong tổng số 1.963 cặp vần Tỉ lệ các loại vần không đều nhau

Tỉ lệ giữa các kiểu vần trong thơ lục bát ĐĐB và trong âm tiết tiếng Việt là không đều nhau Tỉ lệ giữa cặp vần mở, vần nửa mở, vần nửa khép có sự tương đồng

2.2.4 Cách hiệp vần từ lục bát truyền thống đến lục bát Đồng Đức Bốn

Trước hết là cách hiệp vần cùng thanh Đây là cách hiệp vần được sử dụng nhiều nhất

trong lục bát ca dao Trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn, hiện tượng hiệp vần cùng thanh cũng tạo được hiệu quả biểu đạt rõ rệt

Thứ hai, hiệp vần khác thanh làm cho nhạc điệu câu thơ lục bát biến đổi nhịp nhàng,

linh hoạt và phong phú hơn Trong ca dao, hiệp vần khác thanh đã tạo nên sự độc đáo khác thường Trong lục bát của Đồng Đức Bốn chủ yếu ông hiệp vần khác thanh điệu

Thứ ba, sự đồng nhất của các yếu tố đoạn tính tham gia hiệp vần Trong ca dao, vần

chính hiệp vần chiếm tỉ lệ cao nhất (86,5%), nó là loại vần đặc trưng của lục bát truyền thống Với 3.254 câu lục bát Truyện Kiều, Nguyễn Du đã huy động hầu hết các bộ vần trong tiếng Việt vào tác phẩm Trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, vần chính tham gia hiệp vần chiếm tỉ lệ 74,1% Về vần thông, từ ca dao đến Truyện Kiều, vần thông đã có sự gia tăng rất lớn Trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn, vần thông chiếm tỉ lệ 39,78% Nếu trong lục bát ca dao và Truyện Kiều, vần ép rất ít xuất hiện, nó chiếm một tỉ lệ rất nhỏ thì trong lục bát Đồng Đức Bốn có 40/1.963 cặp vần trường hợp các âm chính hiệp vần không có quan hệ âm vị học (tỉ lệ 2,05%)

2.3 Nhịp điệu trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.3.1 Dẫn nhập

Dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, chúng ta có cách ngắt nhịp thơ nói chung và thơ lục bát nói riêng Cụ thể, trong luận án này, chúng tôi sử dụng cơ sở ngắt nhịp của Nguyễn Thị Phương Thùy với 14 dấu hiệu được thể hiện ngay trên văn bản thơ

2.3.2 Diện mạo và vai trò của nhịp điệu trong thơ Đồng Đức Bốn

Trang 13

Khảo sát nhịp thơ lục bát Đồng Đức Bốn, dùng phương pháp thống kê định lượng, chúng tôi xác lập cách tổ chức nhịp trong câu lục, trong câu bát và trong cặp lục bát Kết quả như sau: Câu lục: có 10 loại nhịp; Câu bát: có 27 loại nhịp; Trong cặp lục bát: có 84 loại nhịp

2.3.2.1 Nhịp trong câu lục

Khảo sát trong 1.963 câu lục của Đồng Đức Bốn, chúng tôi xác định được 10 loại nhịp:

Bảng 1: Thống kê các loại nhịp trong câu lục, thơ lục bát Đồng Đức Bốn:

Trong 1.963 câu bát của Đồng Đức Bốn, chúng tôi xác lập được 27 loại nhịp:

Bảng 2: Thống kê các loại nhịp trong câu bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn:

Ngày đăng: 25/06/2016, 15:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Các loại vần trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn xét theo âm vực thanh điệu - Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn (TT)
Bảng 2.2 Các loại vần trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn xét theo âm vực thanh điệu (Trang 9)
Bảng 2.6 : So sánh giữa kiểu vần trong vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn với kiểu  vần trong âm tiết tiếng Việt : - Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn (TT)
Bảng 2.6 So sánh giữa kiểu vần trong vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn với kiểu vần trong âm tiết tiếng Việt : (Trang 10)
Bảng 2.7: So sánh kiểu vần thông lục bát Đồng Đức Bốn với vần âm tiết tiếng Việt - Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn (TT)
Bảng 2.7 So sánh kiểu vần thông lục bát Đồng Đức Bốn với vần âm tiết tiếng Việt (Trang 11)
Bảng 2.8: So sánh giữ kiểu vần trong vần thông lục bát Đồng Đức Bốn và kiểu vần  trong âm tiết tiếng Việt - Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn (TT)
Bảng 2.8 So sánh giữ kiểu vần trong vần thông lục bát Đồng Đức Bốn và kiểu vần trong âm tiết tiếng Việt (Trang 11)
Bảng 2.9:  Bảng so sánh kiểu vần trong thơ lục bát với kiểu vần âm tiết - Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn (TT)
Bảng 2.9 Bảng so sánh kiểu vần trong thơ lục bát với kiểu vần âm tiết (Trang 12)
Bảng 2: Thống kê các loại nhịp trong câu bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn: - Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn (TT)
Bảng 2 Thống kê các loại nhịp trong câu bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn: (Trang 13)
Bảng 3:  Thống kê các loại nhịp trong cặp câu lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn: - Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn (TT)
Bảng 3 Thống kê các loại nhịp trong cặp câu lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn: (Trang 14)
Bảng 3.1: Phối thanh tiếng thứ ba trong câu lục: - Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn (TT)
Bảng 3.1 Phối thanh tiếng thứ ba trong câu lục: (Trang 18)
Bảng 3.2: Phối thanh tiếng thứ tư trong câu lục: - Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn (TT)
Bảng 3.2 Phối thanh tiếng thứ tư trong câu lục: (Trang 19)
Bảng 4.2: Các mô hình cấu trúc của so sánh tu từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn - Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn (TT)
Bảng 4.2 Các mô hình cấu trúc của so sánh tu từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w