1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại

166 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt tiến trình văn học Việt Nam, thơ lục bát là một trong những thể thơ truyền thống đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của nền thi ca dân tộc.. Vì những

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN VĂN TRỌNG

THƠ LỤC BÁT

TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN VĂN TRỌNG

THƠ LỤC BÁT

TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 62 22 01 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Lý Hoài Thu

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

TRẦN VĂN TRỌNG

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, cơ quan

đã cử tôi đi học và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận án này Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đồng môn, phật hữu, những người đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và làm luận án Tiến sĩ

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận án

TRẦN VĂN TRỌNG

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp mới của luận án 7

6 Cấu trúc luận án 7

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8

1 1 Tổng quan vấn đề thể loại, thể thơ và thể lục bát 8

1.1.1 Thể loại nói chung và thơ nói riêng 8

1.1.2 Các thể thơ và thể lục bát 13

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ lục bát 19

1.2.1 Nghiên cứu các vấn đề chung của thơ lục bát 19

1.2.2 Nghiên cứu các hiện tượng, tác giả, tác phẩm, phong cách tiêu biểu của thơ lục bát 24

1.2.3 Nghiên cứu về truyền thống và hiện đại trong thơ lục bát 26

Chương 2 THƠ LỤC BÁT - LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN, ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 29

2.1 Lịch sử hình thành, phát triển thể lục bát 29

2.1.1 Nguồn gốc, sự hình thành thể lục bát 29

2.1.2 Các giai đoạn phát triển của thể lục bát 32

2.2 Đặc trưng thể loại của thơ lục bát 43

2.2.1 Cấu trúc hình thức thể lục bát 43

2.2.2 Biến thể lục bát 50

Chương 3 GIÁ TRỊ CỦA THƠ LỤC BÁT TRUYỀN THỐNG 62

3.1 Khái luận về truyền thống và giá trị truyền thống trong thơ 62

3.1.1 Khái niệm truyền thống và truyền thống văn học 62

3.1.2 Truyền thống trong thơ và những giá trị truyền thống trong thơ Việt Nam 63

Trang 6

3.2 Thơ lục bát truyền thống - những giá trị cốt lõi 70

3.2.1 Những giá trị cốt lõi trên phương diện nội dung 70

3.2.2 Những giá trị cốt lõi trên phương diện nghệ thuật 77

3.3 Thơ lục bát truyền thống - những trường hợp điển hình 81

3.3.1 Lục bát ca dao, dân ca 81

3.3.2 Lục bát kinh sách Phật giáo 85

3.3.3 Lục bát truyện thơ Nôm 90

3.3.4 Lục bát Truyện Kiều 94

3.3.5 Lục bát Lục Vân Tiên 97

Chương 4 TIẾP BIẾN CỦA THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI 102

4.1 Khái luận về hiện đại, tiếp biến truyền thống và hiện đại 102

4.1.1 Khái niệm hiện đại và tính hiện đại 102

4.1.2 Tiếp biến truyền thống và hiện đại 103

4.2 Thơ lục bát hiện đại - truyền thống và cách tân 104

4.2.1 Truyền thống và hiện đại trong nội dung phản ánh 104

4.2.2 Kế thừa và cách tân về nghệ thuật biểu hiện 110

4.3 Thơ lục bát hiện đại - những hiện tượng tiêu biểu 115

4.3.1 Lục bát Tản Đà 115

4.3.2 Lục bát Thơ mới và Nguyễn Bính 118

4.3.3 Lục bát Tố Hữu 127

4.3.4 Lục bát Bùi Giáng 133

4.3.5 Lục bát Nguyễn Duy 136

4.3.6 Lục bát Đồng Đức Bốn 141

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Trong suốt tiến trình văn học Việt Nam, thơ lục bát là một trong

những thể thơ truyền thống đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của nền thi ca dân tộc Thơ ca truyền thống dân tộc các quốc gia trên thế giới luôn thể hiện được những đặc trưng của cốt cách, tâm hồn, người dân các quốc gia Nếu từ Á đến Âu, Đường thi là đặc trưng của Trung Hoa, Haikư là đặc trưng thi ca của Nhật Bản, Sonnet là đặc trưng của dân tộc Anh

và Italia, thì Việt Nam tự hào vì có thơ Lục bát Xuyên suốt dòng chảy thi pháp thơ Việt, lục bát chính là tâm hồn, cốt cách, “quốc phong”, “quốc túy” của người dân nước ta Xét về mặt lịch sử, lục bát có từ lâu đời, được hình thành, tồn tại, phát triển dựa trên ngôn ngữ, giai điệu, lời ăn, tiếng nói, văn hóa truyền khẩu với các câu hò, điệu ví, làn điệu dân ca, ca dao, tục ngữ của người thôn quê ở mọi miền Tổ quốc qua nhiều thế hệ Lục bát góp phần hình thành cội nguồn, bản sắc của văn hóa dân tộc Đó cũng là thể thơ gần gũi, quen thuộc với đời sống, sinh hoạt, lao động, sản xuất của người dân Việt Nam Các thế hệ nhà thơ đã và luôn tìm thấy được ở thể thơ này những cách thức để biểu đạt suy nghĩ, tâm tư, tình cảm, sự rung động của tâm hồn Do đó, lục bát đã chiếm được tình cảm yêu mến và lôi cuốn sự sáng tạo của họ để có thể làm mới, cải biến nó thông qua cách sử dụng từ ngữ, âm điệu

Lục bát trở nên thân thuộc, tưởng như ngấm vào máu thịt mỗi người dân Việt Nam Từ thuở ấu thơ qua những câu ca dao của bà, lời ru của mẹ, hầu hết

ai cũng được nghe, được đọc, nhớ và thuộc dăm ba câu lục bát, lại có người

có thể sáng tác được bài thơ lục bát từ những chất liệu dân gian của cuộc sống Lục bát của dân ca trữ tình mượt mà, lục bát của làn điệu xẩm ký, lục bát của hò vè, quan họ, giao duyên, điệu lý đến các tác phẩm văn học… đều cho thấy sự sâu sắc, đậm đà tính cách thôn dã, là đặc trưng trong kho tàng thi

ca nước ta Người Việt Nam đều biết đến và trân trọng những áng thi ca của

Trang 8

các thi hào dân tộc như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên (Nguyễn

Đình Chiểu) Lục bát có mặt trong nhiều lĩnh vực từ gia phả, y thuật, đến những ý chỉ truyền thừa của đạo giáo

1.2 Truyện Kiều (Nguyễn Du) ra đời và sự xuất hiện của các nhà thơ tài

danh khác đã góp phần làm mới mẻ lục bát, từng bước hình thành niêm luật bằng - trắc, nguyên tắc và quy định, kể từ đây nó được công nhận là một thể thơ riêng và đặc biệt của Việt Nam Nếu như trước đây, trong chế độ khoa cử

và dạy học, lục bát chưa được chú trọng đưa vào chương trình giáo dục, tuyển chọn nhân tài thì trong thời kỳ cận và hiện đại, lục bát được đưa vào giảng dạy trong trường học, nhiều thế hệ thi sĩ nước ta đã thử sức, sáng tác và xây dựng lối đi riêng cho phong cách thi ca của mình trong thể thơ này Rất nhiều tác phẩm thơ lục bát ra đời với những chất liệu, giọng điệu, đặc trưng mang màu sắc riêng của từng tác giả đã trường tồn mãi với thời gian, với lịch sử và đời sống dân tộc

Vốn xây dựng được cho mình những nguyên tắc, quy luật chặt chẽ, lại vận động theo sát những bước chuyển biến của đời sống xã hội, lục bát tạo được

sự phát triển mới, là sự kết nối đi lên từ truyền thống đến hiện đại Trong thi

ca cổ truyền, thơ lục bát thể hiện được truyền thống đặc thù, nhưng đến phong trào Thơ mới, lục bát lại mang màu sắc hiện đại, trẻ trung, mới mẻ ở câu chữ, ngôn từ, cảm xúc và màu sắc, đáp ứng nhu cầu của thế hệ người đọc mới Lục bát trong thời kỳ hiện đại được biết đến với những thi nhân có nhiều sáng tác

để đời, tạo được sức ảnh hưởng đối với nền thi ca Việt Nam qua các thế hệ từ Tản Đà, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Bùi Giáng, đến Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Tiếp đó là những cây bút trẻ với phong cách hiện đại đã tạo nên những thi phẩm lục bát đáng chú ý như Bùi Đức Ánh, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Phước Lý, Đinh Thị Thu Vân, Chiêu Hoa, Nguyễn Thị Kim Quy, Vũ Hữu Định, Đoàn Hữu Nam, Trần Thị Lợi, Nhật Hưng, Từ Nhật Thảo, Trịnh Hoài Giang v.v…

Trang 9

1.3 Lục bát được hình thành trong bối cảnh văn hóa, lịch sử dân tộc, trải dài theo không gian, thời gian và quá trình biến đổi, chọn lọc văn hóa, văn học, thể thơ này chính là thứ “vàng mười” trường tồn, chứng minh cho vẻ đẹp

và sự trong sáng của tiếng Việt, cho tâm hồn và văn hóa dân tộc Việt Nam Nếu như lục bát trong ca dao thể hiện ngọt ngào mà mộc mạc, đằm thắm, giản dị mà tha thiết, trong sáng mà sâu lắng thì lục bát trong thơ hiện đại lại tồn tại và luôn tạo dựng được phong cách, vị thế của mình ở tính mới

mẻ, sáng tạo và phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ của xã hội đương đại, là quá trình vận động, biến đổi không ngừng cùng với những trở mình của không gian văn hóa xã hội trong thời đại mới Lục bát Việt Nam chính là tâm hồn

và cốt cách của thi ca dân tộc, là tiếng nói, cảm xúc và những ước vọng cao đẹp, chân thiện, sâu sắc của người Việt Thể thơ này đã ăn sâu vào trong lối sống, ngôn ngữ, ứng xử và hành động của mỗi người dân qua cách nói vần nói vè Đặc biệt, lục bát cũng đi vào các làn điệu dân ca cổ truyền mọi vùng miền, những lối đối đáp giao duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền, trào lộng giải trí của người dân Lục bát ăn sâu bám rễ trong lời ru của mọi thế hệ, là tiếng nói, tiếng lòng và hơi thở, là đời sống tinh thần bất diệt của bao lớp cháu con Sự kế thừa truyền thống lục bát của cha ông trong đời sống hiện đại đã góp phần định hình nên sắc màu thi ca Việt, vừa mang bóng dáng của lịch sử, bóng dáng thời đại, vừa phản ánh hồn non sông, tâm hồn con người, cốt cách người dân

Quá trình thiên biến của lục bát từ truyền thống đến hiện đại là sự hòa quyện, tích hợp những tinh hoa của cha ông để biến đổi, sáng tạo, hình thành những giá trị bền vững của thơ ca Việt Nam Vì những lý do trên, trong luận án của mình, chúng tôi thấy rằng việc nghiên cứu có hệ thống, toàn diện và tìm hiểu thơ lục bát nhằm chỉ rõ được những cái hay, cái đẹp của giá trị truyền thống, đồng thời nêu bật các yếu tố, màu sắc sáng tạo hiện đại chính là nhu cầu cấp thiết của tiến trình văn học Việt Nam, của đời sống dân tộc Việt Nam

Trang 10

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Thể thơ lục bát với các phương diện biểu hiện từ khi mới hình thành, qua các giai đoạn phát triển, cho đến hôm nay là đối tượng nghiên cứu của luận án

mỹ của thơ lục bát truyền thống, làm rõ sự tiếp biến của thơ lục bát hiện đại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Luận án phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về thể loại thơ ca và thể lục bát, nêu rõ nét độc đáo của thể lục bát trong các thể thơ, đồng thời đánh giá các xu hướng nghiên cứu thơ lục bát với các vấn đề chung, đặc biệt là vấn

đề truyền thống và hiện đại

- Luận án lý giải nguồn gốc, sự hình thành, các giai đoạn phát triển của thể lục bát, đồng thời làm rõ đặc trưng thể loại của lục bát ở cấu trúc hình thức và các kiểu dạng biến thể

- Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm truyền thống và những giá trị truyền thống trong thơ, luận án làm sáng tỏ những giá trị cốt lõi, những trường hợp điển hình của thơ lục bát truyền thống

- Từ cái nhìn khái quát về hiện đại, tính hiện đại, sự tiếp biến truyền thống

và hiện đại trong thơ, luận án đi sâu phân tích mối quan hệ truyền thống và cách tân, những hiện tượng tiêu biểu của thơ lục bát hiện đại

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Các phương pháp nghiên cứu chính được kết hợp sử dụng trong quá trình thực hiện luận án:

Trang 11

- Phương pháp lịch sử - xã hội: nhằm nêu rõ những tác động của hoàn cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam đến sự hình thành, phát triển, kế thừa và cách tân của thơ lục bát

- Phương pháp loại hình: nhằm nhận diện đặc trưng thể loại, các đặc điểm, tính chất của thơ lục bát trong tương quan với loại hình thơ trữ tình

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: để đi sâu vào một số tác giả, tác phẩm, một vài khía cạnh độc đáo, những biểu hiện cụ thể, đồng thời có một cái nhìn khái quát, mang tính hệ thống cho vấn đề được đề cập đến

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: nhằm làm rõ yếu tố “hình thức mang tính quan niệm” của các hiện tượng thơ lục bát

4.2 Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn học với văn hoá, tâm lý học, ngôn ngữ học), phương pháp cấu trúc, phương pháp nghiên cứu trường hợp,… và các thao tác nghiên cứu khác để đạt được mục tiêu khoa học của đề tài

5 Đóng góp mới của luận án

5.1 Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống thơ lục bát với cấu trúc, đặc trưng thể loại, những giá trị bền vững, những hiện tượng tiêu biểu trong quá trình vận động lịch sử từ truyền thống đến hiện đại

5.2 Những nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định vị thế và đóng góp to lớn của thơ lục bát cho cuộc sống đất nước, văn hoá dân tộc, văn nghệ, thi ca từ xa xưa đến hôm nay

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được thực hiện với 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Thơ lục bát - lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại

Chương 3: Giá trị của thơ lục bát truyền thống

Chương 4: Tiếp biến của thơ lục bát hiện đại

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan vấn đề thể loại, thể thơ và thể lục bát

1.1.1 Thể loại nói chung và thơ nói riêng

Đối với các tác phẩm văn học, việc xác định thể loại đóng vai trò vô cùng quan trọng, bởi nó chính là yếu tố góp phần tạo nên tính đa dạng và phong phú cho nền văn học của mỗi quốc gia, dân tộc Chỉnh thể tác phẩm văn học được đánh giá thông qua thể loại, đó là dạng thức phản ánh sự tồn tại, khuynh hướng phát triển ổn định, bền vững của văn học Tiến trình vận động, biến đổi

và tồn tại của văn học trong mỗi thời kỳ cho thấy sức sống bền bỉ của nó trong một nền văn hóa quốc gia Thể loại văn học đa dạng, phong phú cũng cho thấy rõ sự phản ánh hiện thực nhiều màu sắc của mỗi giai đoạn, thời kỳ, hay một nền văn học trong suốt tiến trình lịch sử nhân loại

Cùng với yêu cầu đổi mới và sự đòi hỏi của biến đổi xã hội, thể loại vừa mang tính truyền thống nhưng cũng đảm bảo được sự mới mẻ, thích ứng với nhu cầu thị hiếu của đời sống con người Cách thức biểu hiện, sự sáng tạo và những thay đổi của thể loại chính là quá trình sáng tạo, năng động và biến hóa khôn lường của cảm hứng, tư duy nghệ thuật, những quan niệm của con người hướng tới các giá trị thẩm mỹ cao đẹp trong cuộc sống, trong lao động, sản xuất và hoạt động thực tiễn Trong mỗi giai đoạn lịch sử xã hội nhất định, việc lựa chọn và ưu tiên từng thể loại cũng luôn có sự khác nhau,

do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của đời sống xã hội quy định Thể loại có thể xuất hiện, thống trị lâu dài, để lại dấu ấn sâu sắc, đậm nét, bền vững, nhưng cũng có một số thể loại (mang tính chất thể nghiệm) xuất hiện nhanh chóng, tức thời và tan biến, không để lại dấu ấn, bị chìm vào lãng quên Tuy nhiên, để tồn tại và khẳng định được vị trí của mình, thể loại buộc phải có nhiều biến đổi trong quá trình phát sinh, phát triển để tạo ra sự phong phú, đa dạng về nội dung cũng như hình thức Trong các loại hình

Trang 13

nghệ thuật, sự đề cao mỗi thể loại tùy thuộc vào từng thời điểm mà có thể được thịnh hành hay không Đối với kịch thì có thể kể đến bi kịch, hài kịch, chính kịch… Đối với văn xuôi, có thể loại truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết… Còn đối với thơ, thể loại thơ lại có phần phức tạp hơn, có nhiều sự phân chia, tùy theo số lượng câu chữ sẽ thành thể bốn chữ, năm chữ, bảy chữ hay tám chữ, thể lục bát, thể tự do,… Tùy thuộc vào phương thức phản ánh sẽ thành thể loại thơ tự sự, thơ trữ tình, thơ chính luận… Xét trong toàn

bộ tiến trình lịch sử phát triển của văn học, sự hình thành thể loại luôn gắn liền với vai trò, diện mạo, đặc điểm và bản sắc đặc thù theo không gian và thời gian Đại diện cho mỗi thời kỳ là một số thể loại và cũng có một số thể loại bị triệt tiêu, thay thế vì không có khả năng cách tân để thích ứng với

môi sinh văn hóa mới Từ xa xưa nhân loại đã biết đến thể loại anh hùng ca

(sử thi), một thể loại từng tồn tại trong một thời gian dài và đạt được nhiều thành tựu tiêu biểu, đại diện cho một giai đoạn lịch sử Trải dài theo trục thời gian, sử thi dần đi vào truyền thống và được tiếp thu, chọn lọc, biến đổi

để tạo ra những phương thức biểu đạt khác biệt và mới mẻ hơn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn Chẳng hạn, với sự xuất hiện của tiểu thuyết hiện đại thì sử thi

đã biến đổi các đặc trưng cơ bản và hình thành thể loại mới là tiểu thuyết sử

thi Tiêu biểu cho thể loại này với sức sống trường tồn, thể hiện đỉnh cao cho

thời đại, có thể kể đến: Chiến tranh và hòa bình của L Tolstoy, Sông Đông

êm đềm của M Sholokhov,… Đặc biệt, con đường hình thành, phát sinh,

phát triển của quy luật lịch sử thể loại cũng luôn đúng đối với các thể loại khác như thơ Đường luật, thơ Sonnet,…

Mỗi thể loại đều cho thấy những yếu tố thể hiện tính lịch sử và sắc thái dân tộc, đồng thời luôn có sự kế thừa, sáng tạo, biến đổi để mới mẻ hơn, hiện đại hơn Sự vận động thể loại không chỉ cho thấy dấu ấn sâu đậm của lịch sử mà còn cho thấy tư duy dân tộc Từ cổ tới kim, từ Đông sang Tây, dựa vào thể loại, người ta cũng thấy trình độ phát triển và đặc điểm văn minh của xã hội Đối với Hy Lạp cổ đại, sự phát triển của nền nghệ thuật để lại những giá trị và

Trang 14

sức ảnh hưởng mạnh mẽ Đây cũng là thời kỳ chưa có sự xuất hiện của bàn in

và máy in, những tác phẩm nghệ thuật hoàn toàn được tạo ra một cách thủ công và thô sơ Bản sắc văn hóa, tư duy cộng đồng, hình thái ngôn ngữ, tâm

lý, thị hiếu nghệ thuật mỗi dân tộc trong lịch sử phát triển đều có những thể loại phản ánh nhất định,… Nếu như thơ Haikư (chỉ có 3 câu) là đặc trưng của Nhật Bản, thì tiểu thuyết chương hồi và Đường thi lại là đặc trưng của Trung Quốc, còn đối với Việt Nam thì đó là lục bát Suốt quá trình phát triển của mình, bản thân thể loại luôn tự biến đổi, điều chỉnh và sáng tạo để hoàn thiện,

đó là sự kết hợp giữa các yếu tố của truyền thống và hiện đại nhằm tạo ra cái mới, cái đặc trưng cho thời đại để phù hợp với thực tiễn

Bên cạnh đó, thể loại luôn có sự đan xen, giao thoa để cùng tồn tại Rất khó

có thể xác định được ranh giới của chúng, bởi sự giao thoa đó luôn là tương đối, không tách biệt hoàn toàn Quá trình kết hợp, hỗn dung, chuyển hóa, vay mượn của thể loại này với thể loại khác chính là cầu nối nhằm tạo ra sự gắn kết giữa hai thể loại Có thể là sự kết hợp của thơ văn xuôi, kịch thơ, tiểu thuyết phóng sự, ca dao, dân ca v.v…

Với đặc trưng của một thể loại chính trong văn học, thơ được phân chia theo nhiều phương thức biểu hiện Theo khả năng phản ánh hiện thực và vận dụng ngôn ngữ, thơ (trong loại hình trữ tình) đặt ngang hàng với loại hình tự

sự, loại hình kịch Cũng có thể phân chia một cách chi tiết hơn về thể của thơ

để hình thành thể bi ca, tụng ca, thơ trào phúng,… hay các thể thơ trữ tình trong thời kỳ hiện đại Là hình thái văn học đầu tiên của loài người, thơ tồn tại, kéo dài qua nhiều thế kỷ Chính vì vậy, đã có những giai đoạn người ta đồng nhất văn học với thơ ca, đó là cách hiểu từ thế kỷ XVII trở về trước, nói đến văn học tức là nói đến thơ ca

Trong tiến trình lịch sử văn học nhân loại, thơ là một trong những thể loại

có thời gian xuất hiện khá sớm Đối với Việt Nam, thơ có thể được hình thành

từ ca dao, tục ngữ và lối nói vần, điệu dân dã, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thuộc của người nông dân dựa trên những kinh nghiệm trong đời sống lao động, sản

Trang 15

xuất và chiến đấu Ví như câu: “Trăng quầng thời hạn, trăng tán thời mưa”

được rút ra từ kinh nghiệm quan sát hiện tượng thiên nhiên và truyền khẩu qua nhiều thế hệ Các câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hò vè được cha ông chúng ta tổng kết và đúc rút trên cơ sở kỹ năng quan sát và thực hành thuộc

về nhiều lĩnh vực của cuộc sống, luôn mang tính văn nghệ, giải trí, đồng thời cũng chứa đựng những tri thức thực tiễn theo kinh nghiệm dân gian

Thơ là tiếng lòng, là tâm tư, tình cảm, là “hơi thở” của cuộc sống, được tạo nên bởi tâm hồn người nghệ sĩ luôn hướng tới giá trị chân, thiện, mỹ Thơ cũng phản ánh xúc cảm, tư duy, trí tuệ và sự sáng tạo, đồng thời là sự kết nối của người nghệ sĩ với thế giới hiện thực Thơ giúp “thanh lọc” tâm hồn con người và hướng thiện, như cách nói của Aristotle Mỗi loại hình nghệ thuật đều có vai trò quan trọng góp phần nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn, nhân cách, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ và đời sống tinh thần của con người;

là một thể loại thuộc văn học, thơ đã làm rất tốt vai trò đó

Những sắc thái và biến đổi của thơ rất đa dạng và phong phú, thể hiện được vị thế của mình trong dòng chảy loại hình trữ tình Đặc trưng của mỗi thể thơ cho thấy tính ưu việt trong bộc lộ, thể hiện xúc cảm, tình cảm là khác nhau Thông qua thơ, người thi sĩ bộc lộ được thế giới nội tâm của mình, thể hiện được bản thân mình Nội dung của thơ có thể là phản ánh tình yêu cuộc sống, con người, cũng có thể là sự giãi bày, chia sẻ nỗi lòng, tự sự về tình yêu đôi lứa Nhưng cao hơn cả, thơ còn là tình cảm thiêng liêng, bài ca yêu mến, trân trọng tình quê hương, tình đất nước Thơ đôi khi lại là những cảm xúc, khoảnh khắc tức thì, niềm vui chợt đến, chợt đi, hay tâm trạng mòn mỏi chờ mong, hoặc là sự dồn nén thương đau, sự cô đơn muốn gửi gắm trong từng câu, từng chữ, tất cả đã mượn đến thơ để trải lòng… Chính những cảm xúc, rung động đó góp phần làm cho cách biểu đạt của thơ đạt hiệu quả thẩm mỹ cao, là tiếng lòng, là người bạn tri kỉ, tri tâm của thi sĩ trước những chông chênh của cuộc sống, là điểm tựa tinh thần và khát vọng thoát khỏi, vượt qua, vươn lên của con người trong hiện thực Thơ ca nuôi dưỡng tâm hồn trước

Trang 16

những bi kịch của con người trong thời đại mới; phải đâu con người chỉ cần phát triển trí tuệ mà không cần đến trái tim biết rung cảm sâu sắc, đúng như

câu nói của Octavio Paz trong Diễn từ khi nhận giải Nobel: “Bi kịch của con

người trong thời đại chúng ta là thừa trí tuệ mà thiếu tâm hồn”

Trong kho tàng văn học Việt Nam, thơ ca đóng vai trò quan trọng theo mỗi bước đi đầy tự hào, trường tồn của lịch sử Thể loại thơ ca rất phong phú và đa dạng, từ ca dao, sử thi, dân ca,… dân dã đến thi ca bác học tuân theo luật vần đăng đối chặt chẽ được du nhập từ Trung Quốc, hay lối phóng khoáng của thi ca tự do cổ, trung, cận hiện đại được du nhập từ phương Tây Nhưng với tính cách của mình, trong mỗi giai đoạn, ở từng thời kỳ lịch sử của dân tộc, người Việt luôn tìm cách bản địa hóa để tạo ra những thay đổi và sắc thái dân tộc cho thi ca nước nhà Những thể thơ cổ truyền được sử dụng phổ biến bởi tính bình dân và gần gũi của nó, được lấy làm tiền đề cơ sở cho những sáng tạo hình thành nên một phong trào thơ mới đa dạng về thể thức, giàu có về nội dung, phong phú về cấu trúc và cách thức thể hiện Hình bóng, hơi hướng của truyền thống, dân gian nhanh chóng được thể hiện, sáng tạo để phù hợp với tiến trình phát triển của cảm xúc, tư duy, lối suy nghĩ và nhu cầu của xã hội đương đại Những thể thơ truyền thống của Việt Nam như thể bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ, thể lục bát, thể song thất lục bát,… đều đã và đang trong quá trình chuyển biến mạnh mẽ, biến đổi liên tục Tuy nhiên, bước ngoặt đánh dấu sự thay da đổi thịt của nền thi ca cổ truyền phải kể đến là giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX và kéo dài cho đến ngày nay Thể thơ Việt Nam trải qua quá trình phát triển lâu dài, lại chịu ảnh hưởng của cả yếu tố nội sinh và ngoại nhập nên luôn có những sự cách tân, biến đổi và được ghi nhận bởi những thành tựu rực rỡ trong mỗi giai đoạn, có ảnh hưởng sâu rộng, sức sống bền vững, trường tồn theo không gian và thời gian trong xã hội Việt Nam

Trang 17

1.1.2 Các thể thơ và thể lục bát

Văn học, nghệ thuật là sự kết tinh của điệu hồn và tạng thức tư duy đặc trưng của mỗi dân tộc, được biểu hiện dưới nhiều hình thức, thể loại khác nhau Sự phong phú và đa dạng của chúng phản ánh đời sống, tâm tư, tình cảm, ước mơ, khát vọng, tâm hồn, tiếng nói của người nghệ sĩ và quần chúng nhân dân Trong nền văn học của mỗi dân tộc, bên cạnh các thể loại kịch hay

tự sự, bên cạnh tiểu thuyết, sử thi, thần thoại,… thì thơ chính là một hình thức biểu hiện đặc sắc Bằng cách sử dụng từ ngữ một cách chọn lọc, tinh tế và logic, chặt chẽ, phản ánh sự sáng tạo và tính năng động của tư duy, thơ đã góp phần tạo nên món ăn tinh thần phong phú cho con người Thơ không chỉ là sự trau chuốt về ngôn ngữ, mà còn giàu âm thanh, hình ảnh, màu sắc để mang lại giá trị thẩm mỹ cho người nghệ sĩ sáng tạo và người tiếp nhận nghệ thuật Đơn vị nhỏ nhất của thơ là từ, nhiều từ hiệp vần và thống nhất ý nghĩa, nội dung, liên kết, bổ ngữ cho nhau để tạo thành cấu trúc ngữ pháp của câu thơ Dòng thơ là hình thức tồn tại của câu thơ, nhưng dòng thơ là đơn vị ngữ đoạn logic về ngôn từ, còn câu thơ là đơn vị nội dung hoàn chỉnh về ngữ nghĩa, một câu thơ có thể gồm một hoặc nhiều dòng thơ Nhiều câu thơ cô đọng, truyền đạt được một hoặc nhiều chủ đề, hình ảnh, gợi ý nghĩa, cảm hứng cho người đọc với những cách quãng, nhịp ngắt, dừng khác nhau để tạo thành bài thơ Như vậy, về cơ bản một bài thơ chính là tổ hợp của các câu thơ Với các câu thơ được trau chuốt, súc tích bởi số lượng từ ngữ, tính hình tượng và âm thanh, ngữ điệu, màu sắc, thơ là một phương thức nghệ thuật biểu cảm độc đáo, đặc trưng và khác biệt so với các hình thức, thể loại khác trong cơ cấu hình thành của nền văn học

Những yếu tố làm nên đặc trưng của từ ngữ, câu thơ, bài thơ và thể thơ là

âm, thanh, vần, điệu Sự phối hợp của chúng một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn, thống nhất cho thấy được ý nghĩa và phương thức sáng tác, loại hình

nghệ thuật, nội dung của mỗi thể thơ Âm được hiểu là tiết tố hình thành của

một chữ Âm bao gồm nguyên âm và phụ âm Một âm luôn bắt đầu bằng một

Trang 18

hoặc nhiều nguyên âm, thường kết thúc bằng một hoặc nhiều phụ âm Thanh

thể hiện độ cao thấp khác nhau của một âm Đối với tiếng Việt thì mỗi chữ có thể mang 6 thanh là không dấu, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng; lại được chia thành nhóm thanh bằng và thanh trắc Dấu hiệu nhận biết thanh bằng (bình) là các chữ có dấu huyền và không dấu, còn lại thanh trắc gồm các chữ có dấu sắc, hỏi, ngã và nặng Một câu gồm thành tố tạo nên từ chữ, các chữ có cách phát âm giống nhau hay gần nhau, có chức năng tạo âm điệu cho thơ, được

dùng để nối các câu trong bài thơ với nhau thì được gọi là Vần Vận chính là

kiểu gieo vần trong câu Có thể phân chia một cách tương đối những cách gieo vần cho câu bao gồm: câu có vần chân, gieo ở cuối câu là cước vận; câu

có vần lưng, gieo vần giữa câu là yêu vận; câu có vần gieo ở hai câu kế tiếp nhau được gọi là vần liền; câu có vần gieo ở hai câu cách nhau được gọi là vần cách; câu có vần chính là vần được tạo thành bởi hai chữ hoàn toàn giống nhau về âm thì được gọi là chính vận; câu có vần thông được hình thành bởi hai chữ có vần, âm tương tự như nhau là cưỡng vận; cuối cùng cách gieo vần nối tiếp nhau liên hoàn thành chuỗi được gọi là liên châu vận Bên cạnh âm, vần, vận, thì mỗi câu thơ đều có trong mình âm thanh của từ, cách ngắt nhịp,

ngắt câu, tiết tấu, từ cũng tạo nên nhạc điệu, gọi tắt là Điệu

Thơ được hình thành mang tính đặc trưng cho mỗi nền văn hóa, tuy nhiên trong quá trình phát triển, sự nối kết, xích lại gần nhau, hỗn dung, giao thoa văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc đã góp phần cải biến và hình thành nên các thể thơ mới ngày càng đa dạng, bên cạnh những thể thơ truyền thống, cấu trúc của thơ cũng có quá trình đi từ giản đơn đến phức tạp nhưng vẫn nhất quán Ở Việt Nam, ngoài những thể thơ du nhập, ảnh hưởng từ truyền

thống Trung Quốc và phương Tây như thơ Đường luật gồm thất ngôn bát

cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú, hay các thể thơ mới và thơ tự do,

thì chúng ta đã xây dựng được bản sắc thơ riêng cho dân tộc mình, đó là lục

bát, song thất lục bát Ở mỗi thể thơ đều có những nguyên tắc và quy chuẩn

riêng; nếu như thi sĩ có thể thỏa sức sáng tạo và vùng vẫy không giới hạn,

Trang 19

thả trôi theo cảm hứng ở thể thơ tự do không tuân theo một cấu trúc rõ rệt nào khác, thì ở những thể thơ truyền thống lại ngược lại, cấu trúc định hình chặt chẽ, nguyên tắc, niêm luật vần đối rõ ràng Ví như thể thơ Đường luôn đặt ra những yêu cầu chặt chẽ về nội dung, cấu trúc, luật về số chữ, số câu trong bài, những quy định khắt khe trong cách gieo vần, ngắt nhịp, ngắt câu, nhả chữ

Thể thơ được hình thành dựa trên cấu trúc đặc trưng, tùy từng thể loại mà

có những cấu trúc khác biệt, giúp cho người đọc có thể nhận diện và phân loại khi tiếp cận một bài thơ Từ xa xưa cho tới hiện nay, nghiên cứu về thể thơ, các học giả đã đưa ra nhiều quan điểm khác biệt và chưa thể ngã ngũ Tuy nhiên, quan điểm phổ biến, được đông đảo giới nghiên cứu chấp nhận hơn khi hiểu thể thơ được nhận diện qua số lượng chữ để tạo nên một câu thơ Mỗi thể thơ đều có quy luật định hình đặc thù về âm, thanh, vần, điệu Dựa vào đó, có thể định danh các thể thơ một cách tương đối: thơ bốn chữ, thơ năm chữ, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ lục bát, thơ song thất lục bát v.v… Sự phá cách có thể xuất hiện trong trường hợp kết hợp giữa các thể thơ, nhưng vẫn đảm bảo ý tứ, ngữ nghĩa và nội dung của bài thơ Một số trường hợp dưới đây cho thấy điều đó rất rõ

Thể thơ bốn chữ theo quy định rất chuẩn xác về số từ, chữ trong một câu

Sự đăng đối và âm vận được cụ thể hóa, nếu thanh trắc ở tiếng thứ 2, bắt buộc thanh bằng sẽ ở tiếng thứ 4; và ngược lại, thanh bằng ở tiếng thứ 2 thì thanh

trắc lại ở tiếng thứ 4:

Bão đến ầm ầm/

Như đoàn tàu hoả

Bão đi thong thả

Như con bò gầy

(Mặt bão - Trần Đăng Khoa)

Ở thể thơ năm chữ hay còn gọi thơ ngũ ngôn, sự hình thành luật thơ cũng khá rõ ràng và chặt chẽ:

Trang 20

Hôm nay đi chùa Hương

Hoa cỏ mờ hơi sương

Cùng thầy me em dậy

Em vấn đầu soi gương

(Chùa Hương - Nguyễn Nhược Pháp)

Ở câu cuối, cách gieo vần, có khi là vần ôm, có khi là vần chéo:

Nắng hè đỏ hoa gạo

Nước sông Thương trôi nhanh

Trên đường đê bước rảo

Gió nam giỡn lá cành

(Tiếng chim tu hú - Anh Thơ)

Trong thơ sáu chữ, vần chéo được sử dụng để gieo ở cuối câu:

Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi miệng ta

Thằng giặc Tây, thằng chúa đất

Đứa đè cổ, đứa lột da

(Đất nước - Nguyễn Đình Thi)

Cũng có khi gieo vần ôm:

Tôi tựa cửa chờ chính tôi

Tuổi thơ đi không trở lại

Trong trắng xa rồi xa mãi

Xa rồi xa mãi mà thôi

(Giã từ tuổi thơ - Hoàng Nhuận Cầm)

Thể thơ bảy chữ cho thấy sự ảnh hưởng sâu đậm của thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, vì vậy quy định rất chặt chẽ về thi luật, vần, đối, âm, thanh Đặc biệt, luật thanh hạn định cụ thể theo tiếng bằng tiếng trắc trong câu thơ, có đối, có vần, cả bài theo một vần, thường là vần bằng:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Trang 21

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

(Thương vợ - Tú Xương)

Đôi khi chữ cuối câu thứ hai vần với chữ cuối câu thứ tư để tạo thành một cặp hiệp vần dễ đọc, dễ nhớ, dễ hiểu:

Xa quá rồi em người mỗi ngả

Bên này đất nước nhớ thương nhau

Em đi áo mỏng buông hờn tủi

Dòng lệ thơ ngây có dạt dào

(Đôi bờ - Quang Dũng)

Đối với thể thơ tám chữ hay còn gọi là bát ngôn, lối liên vận hoặc cách vận được sử dụng và phát huy hiệu quả tối ưu Thông thường, đối với liên vận, người sáng tác buộc phải tuân theo nguyên tắc bỏ qua bắt vần câu đầu, cặp vần chỉ được hình thành từ câu thứ hai, thứ tự trắc - bằng cũng được đảm bảo

2 bằng/2 trắc hoặc ngược lại:

Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm

Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em

Không gì buồn bằng những buổi chiều êm

Mà ánh sáng đều hoà cùng bóng tối

Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối

Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành

Mây theo chim về dãy núi xa xanh

Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ…

(Tương tư chiều - Xuân Diệu)

Trong lối cách vận, hiệp vần được gieo theo cách lẻ - lẻ; chẵn - chẵn, tuy nhiên trong một số trường hợp cũng có thể theo vần ôm:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Trang 22

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

(Áo lụa Hà Đông - Nguyên Sa)

Lối sáng tác thơ theo kiểu song thất lục bát thường bố trí cấu trúc theo kiểu hai câu bảy chữ và tiếp đó là hai câu lục bát Kiểu hiệp vần câu thất có nguyên tắc chặt chẽ Ở câu trên, tiếng thứ 3 phải là trắc, tiếng thứ 5 là bằng, tiếng thứ 7 là trắc Câu thất dưới có tiếng thứ 3 là bằng, tiếng thứ 5 là trắc, tiếng thứ 7 lại là bằng Riêng đối với 2 câu lục vẫn giữ nguyên theo lệ truyền thống Hơn nữa, chúng ta cũng dễ thấy rằng, ở câu thất trên tiếng cuối buộc phải vần với tiếng thứ 5 của câu thất dưới Tiếng cuối của câu thất dưới lại buộc phải vần với tiếng thứ 6 của câu bát Tương tự, tiếng cuối của câu bát cũng bắt buộc phải vần với tiếng thứ 5 của câu thất kế tiếp Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, tiếng 3 câu thất lại vần với tiếng cuối câu bát và ngược lại Chính điều này tạo ra kiểu biến tiếng nhằm mục đích đổi sang vần bằng, do đó, tiếng thứ 3 của câu thất trên thường là linh hoạt lúc là bằng

nhưng có khi lại là trắc Có thể kể đến thi phẩm Trưa vắng của Hồ Dzếnh tiêu biểu cho kiểu sáng tác này:

Cỏ mấy bận xanh rồi lại tạ Gió lùa thu trong lá bao lần…

Bạn trường những bóng phù vân Xót thương mái tóc nay dần hết xanh

Thơ lục bát cấu tạo theo nguyên tắc trên sáu dưới tám nhằm tạo thành mạch liên tiếp để truyền tải nội dung, cảm xúc và ý nghĩa nhắn nhủ của người sáng tác Thường lệ bắt đầu của thể thơ này bao giờ cũng sử dụng câu lục để bắt đầu, đồng thời câu bát để kết thúc Tuy nhiên, để diễn đạt dụng ý tư tưởng nghệ thuật nhằm nhấn mạnh nội dung nào đó, người ta cũng có thể sử dụng câu lục để kết thúc Đây là thể thơ thông dụng, bởi cách sáng tác và gieo vần khá giản đơn, dung dị Ở các bài lục bát, chúng ta dễ dàng gặp, chữ thứ sáu

Trang 23

của câu lục và câu bát luôn được hiệp vần với nhau Đồng thời trong câu bát chữ thứ tám phải được hiệp vần với chữ thứ sáu của câu kế tiếp Quy luật đó được lặp đi lặp lại cho đến kết thúc bài thơ Đối với người Việt Nam, thơ lục bát là tiếng lòng, tâm hồn và bản sắc dân tộc Với ngôn ngữ giản dị là sự giao thoa của ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ thi ca tạo cho lời thơ mộc mạc, ý thơ giàu hình ảnh, cảm xúc, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ hiểu, mỗi câu lục bát tựa như bản nhạc, câu hát ngân nga, du dương, nhẹ nhàng, êm dịu về màu sắc, giai điệu và âm thanh Lục bát trong ca dao, trong lời ru của bà, lời ca của mẹ thắm đượm trữ tình, gợi nhớ, gợi thương:

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Lục bát hiện đại cũng không kém phần sâu sắc, thâm thúy và thanh thoát diễn đạt những ẩn ý tối ưu:

Anh ngồi uống cạn dòng sông

Lo em nhan sắc về không có đò

(Lời ru năm tháng - Trương Nam Hương)

Nhận định về điều này, thi sĩ Bùi Giáng từng cho rằng: “Lục bát Việt Nam

là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển ba bảy sông

hồ” (Thi ca tư tưởng) Câu nói đó nêu bật những ảo diệu và sở trường, sắc

thái và đặc điểm, bản sắc và sự ứng biến không ngừng trong thơ lục bát của dân tộc ta

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ lục bát

1.2.1 Nghiên cứu các vấn đề chung của thơ lục bát

Trong dòng chảy lịch sử nghìn năm văn hiến của văn học và văn hóa dân tộc, thơ lục bát đã có từ xa xưa, gắn với lời ru của bà, câu ca của mẹ, tạo sức sống trường tồn, mãnh liệt Lục bát như ngấm vào da thịt, máu xương của

Trang 24

người dân thôn quê Việt Nam, là “hơi thở” (Nguyễn Đình Thi) tâm hồn của con người Lục bát cũng là thể thơ được nhiều thi nhân tài danh và thi sĩ bình dân lựa chọn để gửi gắm cảm xúc sáng tác của mình Hàng năm trên các báo, tạp chí có đến cả trăm, nghìn bài thơ thể lục bát được công bố Và rất nhiều tác phẩm thơ lục bát được xuất bản thành các đầu sách tuyển tập, toàn tập, phát hành rộng rãi nhằm đáp ứng nhu cầu của độc giả Đặc biệt, lục bát cũng

là thể thơ sáng tác của nhiều cuộc thi lớn Năm 1998, báo Giáo dục và thời

đại phát động cuộc thi thơ lục bát và xuất bản ấn phẩm Những tác phẩm vào chung khảo cuộc thi thơ lục bát sau cuộc thi này Năm 2000, các tác giả

Quang Huy, Nguyễn Bùi Vợi, Võ Văn Trực cũng tuyển chọn và cho ra đời tác

phẩm Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam (Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội)

Trong Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, đây là dịp nhiều báo, tạp chí phát động cuộc thi sáng tác thơ theo thể lục bát với chủ đề “Ngàn năm thương nhớ”, sự kiện này đã thu hút sự tham gia đông đảo của người yêu thơ Trong 6 tháng phát động cuộc thi, Ban tổ chức nhận được trên 15.500 tác phẩm dự thi của hơn 1.000 tác giả Tổng kết cuộc thi vào tháng 7 năm 2010, Ban Tổ chức trao 4 giải Nhì (không có giải Nhất), 7 giải Ba, 7 giải Tư cho các tác giả đoạt giải Thơ lục bát là dòng chảy liên tục và bất tận kết nối những tâm hồn trong quá khứ, hiện tại và tương lai Sự giản dị, nhẹ nhàng, tinh tế, đằm thắm, mượt

mà nhưng cũng không kém phần du dương, giàu xúc cảm của thể lục bát đã góp phần làm nên sức sống bền bỉ, lâu dài của nó qua nhiều thế hệ người dân Việt Nam Lục bát đã, đang và sẽ không ngừng khẳng định được vị trí đặc biệt quan trọng của mình trong nền thơ ca dân tộc Chính vì vậy, bằng những

cố gắng, nỗ lực của những người yêu lục bát, thể thơ này đang được Câu lạc

bộ Thơ Việt Nam đề nghị Nhà nước công nhận là Quốc Thi, đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới

Lục bát ra đời ở Việt Nam, là tiếng nói, tâm hồn, bản sắc của dân tộc Lục bát là một trong những thể thơ cho thấy tư duy, cốt cách, tính sáng tạo, trí tuệ

Trang 25

và khả năng ứng xử, lối sống mềm dẻo của người Việt Lục bát cũng là thể thơ mang lại những thành công lớn cho dân tộc ta trên vũ đài thi văn nhân loại Chính vì vậy, nhà thơ Nguyễn Du - Đại thi hào lục bát Việt Nam nổi

tiếng với truyện thơ lục bát trường thiên là Truyện Kiều đã được nhân loại tôn

vinh là Danh nhân văn hóa thế giới Đến với lục bát là đến với tinh hoa hội tụ của thơ ca dân tộc, lục bát đậm đà bản sắc, tâm hồn, trí tuệ, tính cách con người Việt Nam

Nghiên cứu về nguồn gốc, lịch sử, đặc trưng thể loại của thơ lục bát là một khuynh hướng quan trọng đối với các học giả quan tâm tới thể thơ này Khi

xem xét về sự ra đời của lục bát, trong cuốn Tục ngữ Việt Nam, học giả Chu

Xuân Diên nhận định nguồn gốc ra đời của lục bát chịu ảnh hưởng ít nhiều và rất có thể được bắt nguồn từ tục ngữ: “Tục ngữ (vần và nhịp) là nguồn gốc ra đời lục bát và song thất lục bát” Tác giả Bửu Cầm, cũng đồng quan điểm này

và đã có những chia sẻ qua bài viết Ca dao, nền tảng văn học dân tộc (Nội

san Viện khảo cổ, số 2, Sài Gòn, tháng 3/1956) như sau: “Lục bát sinh thành

từ ca dao” Một số nhà nghiên cứu văn học và văn hóa dân gian có tên tuổi như Hoa Bằng, Nguyễn Đổng Chi,… đều nhất trí với ý kiến đó Nguyễn Văn

Hoàn trong bài viết Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều, thể hiện rõ quan điểm thừa nhận rằng lục bát bắt nguồn từ ca dao (Tạp chí Văn học, số

1/1974) Các học giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức, mặc dù chưa có nhiều đóng góp cũng như sự đầu tư nghiên cứu hệ thống vấn đề này, nhưng cũng đã thể hiện rõ lập trường của mình, cho rằng lục bát chính là thể thơ dân

tộc (Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,

1978) Đặc biệt, Nguyễn Xuân Kính có cái nhìn khái quát và hệ thống hơn về

thể lục bát Trong tác phẩm Thi pháp ca dao (Nxb Đại học và THCN, Hà Nội,

1991), ông đã dành 20 trang khảo sát thể thơ này trong ca dao, mặc dù đây mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu, phác thảo sơ bộ, nhưng cũng cho thấy được quan điểm thống nhất khẳng định thể lục bát là thể thơ dân gian Nhận định sắc sảo và hệ thống, bài bản hơn về lịch sử, nguồn gốc của thể thơ lục

Trang 26

bát phải kể đến tác giả Nguyễn Xuân Đức với bài viết Đi tìm nguồn gốc thể

lục bát Việt Nam (Tạp chí Văn học, số 6/2004); trên cơ sở những phát hiện,

tìm tòi một cách công phu, so sánh quan điểm nghiên cứu, kế thừa các công

bố đi trước về vấn đề này, tác giả rút ra kết luận: “Cả trong tục ngữ lẫn trong

ca dao người Việt vẫn còn lưu giữ rất nhiều dấu tích của quá trình hình thành, hoàn thiện thể thơ lục bát Việt Nam Hay nói cách khác, những gì đã được hoàn thiện trong thể lục bát ngày nay đều in dấu bàn tay sáng tạo của người Việt qua tục ngữ, ca dao Thể thơ lục bát Việt Nam do người Việt sáng tạo ra đầu tiên trong văn học dân gian và được góp sức hoàn thiện thêm bởi nền văn học viết” Trên phương diện phương pháp luận khoa học nghiên cứu thơ lục

bát, tác giả Phan Diễm Phương thông qua chuyên luận Lục bát và song thất

lục bát - lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,

1998), cũng chỉ rõ về lịch sử và những đặc trưng thể loại của thơ lục bát Nghiên cứu diễn trình lịch sử thơ lục bát chính là sự phác họa cho người đọc mường tượng về dòng chảy và những biến đổi của thể thơ này xuyên suốt hành trình tồn tại và phát triển của nền văn học Việt Nam Có rất nhiều tác giả

đi theo khuynh hướng nghiên cứu này và đưa ra những công trình nghiên cứu

có giá trị và nhiều đóng góp cho văn hóa Việt Nam Có thể kể đến các bài viết

của các tác giả: Phan Ngọc với Thể thơ lục bát - một vài suy nghĩ (Báo Giáo

dục và thời đại, số 32/1996), Nguyễn Duy Bắc với Bản sắc dân tộc trong thơ

ca Việt Nam hiện đại (Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1998), Mã Giang Lân

với Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000), Ngô Văn Phú với Thơ lục bát sẽ đi tới đâu (lucbat.vn, 17/9/2013)… Nhìn chung, những

bài viết của các nhà nghiên cứu đều đưa ra được những nhận xét, phân tích và nhận định một cách hệ thống, logic, góp phần làm sáng tỏ tiến trình phát triển

và sự biến đổi linh hoạt, tài tình của thể thơ lục bát Tác giả Nguyễn Văn

Hoàn trong bài viết Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều [67], đã tập trung

chỉ rõ sự tiến triển đi lên và đổi thay của lục bát Việt Nam Phạm Quốc Ca

Trang 27

trong Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 - 2000 [16] cho thấy quá trình vận động

qua các giai đoạn trong thế kỷ XX của thể thơ lục bát

Nghiên cứu về hoạt động sáng tác, nguyên tắc và quy luật sáng tác của thơ lục bát, những đặc trưng nghệ thuật của chúng, có các tác giả: Nguyễn Bính

với Cách làm thơ lục bát (Nxb Văn nghệ, 1955); Lam Giang, Sơn Quang với

Khảo luận luật thơ (Nxb Sài Gòn, 1967); Hồng Diệu với Chung quanh mấy quan niệm về luật bằng trắc trong thơ lục bát (Tạp chí Văn học, số 4/1986);

Nguyễn Thái Hòa với Tiếng Việt và thể thơ lục bát (Tạp chí Văn học, số 2/1999); Hoàng Xuân Soạn với Giới thiệu các thể thơ, luật thơ và cách làm

thơ (Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2004) v.v… Các tác giả đã nhận diện và

cho người đọc thấy được tính đặc thù của thể thơ này Đối với giới nghiên cứu, lục bát là một thể thơ mới mẻ do đan xen giữa cổ điển với hiện đại, lại là

sự kết hợp các yếu tố mộc mạc của dân gian với uyên thâm của bác học, say đắm của tình cảm với tỉnh táo của lý trí Lục bát là thể thơ mượt mà, sâu lắng, bình dị, dân dã cho nên nó luôn khẳng định được vị thế của mình trong dòng chảy văn học dân tộc, thu hút và hấp dẫn được độc giả quan tâm, thưởng thức Mặt khác, để có thể sáng tác được thơ lục bát dường như cũng không hề đơn giản, Nguyễn Quang Sáng từng viết: “Lục bát là thể thơ ngỡ như dễ làm, ai cũng làm được nhưng để đạt tới hay thì khó thay, nếu không nói là khó nhất”

Là thể thơ coi trọng cảm xúc tự nhiên, cho nên việc sáng tác thơ lục bát đòi hỏi thi sĩ không được gò ép khuôn âm, luật định, cũng như không dụng công,

“khôn chữ quá”, và ngược lại cũng không được dễ dãi bởi như vậy “dễ tuồn tuột trở thành bài thơ thường” (Đinh Nam Khương) Với đặc điểm linh hoạt, biến hóa năng động và cởi mở tiếp thu, cách tân, lục bát đã đạt được nhiều thành tựu rõ rệt trong đời sống văn hóa văn nghệ Việt Nam Tuy nhiên, lục bát là thể thơ tiếp nối từ truyền thống đến hiện đại, vì vậy trong nghiên cứu những vấn đề như âm luật, vần, ngôn ngữ, nhịp điệu, chức năng,… của lục bát cần được xem xét dưới nhiều góc độ Các công trình, bài viết của các tác giả

Trang 28

Võ Bình (Vần trong thơ lục bát, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2/1985), Mai Ngọc Chừ (Vần, nhịp, thanh điệu và sức mạnh biểu hiện ý nghĩa của lục bát biến

thể, Tạp chí Văn hoá dân gian, Hà Nội, số 2/1989),… rất công phu, mang tính

khái quát và hệ thống, khoa học cũng nói lên phần nào diện mạo và tầm quan

trọng của thể lục bát Đặc biệt, Hồ Văn Hải với luận án Tiến sĩ Khảo sát một

số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại (Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN,

2004) có nhiều đóng góp, tìm tòi và khai thác thể thơ lục bát dưới góc độ của chuyên ngành ngôn ngữ học Những giá trị thẩm mỹ và phẩm chất, đặc điểm, tính ưu việt của thơ lục bát là kết tinh tinh hoa văn hoá - ngôn ngữ dân tộc Lục bát gợi nên những xúc cảm chân thực, bình dị và nguồn hứng khởi, cảm thức của cộng đồng trong mọi thời đại Lục bát đồng hành, kề vai sát cánh, hòa quyện vào lối sống, văn hóa, ứng xử của người dân trong suốt chiều dài lịch sử phát triển đất nước ta

1.2.2 Nghiên cứu các hiện tượng, tác giả, tác phẩm, phong cách tiêu biểu của thơ lục bát

Mảng đề tài quan trọng khi nghiên cứu thơ lục bát được nhiều học giả quan tâm đó là các hiện tượng, tác giả, tác phẩm và phong cách tiêu biểu Đây

là một nội dung đặc sắc cho thấy những dấu ấn và tiến trình vận động, phát triển của thể thơ này đặt trong mối tương quan với những thể thơ khác trong nền thi ca Việt Nam Khi đề cập đến lĩnh vực này, không ít nhà nghiên cứu truy lần về cơ sở sơ khai và loại hình phổ biến của thể lục bát, đó là lục bát ca dao mang tính dân gian và bình dân của người Việt Nam từ thuở xa xưa Nhiều nhà phê bình thơ đã khai thác và khám phá vẻ đẹp nội dung, nghệ thuật của lục bát ca dao, cho người đọc thấy được sự sáng tạo bình dân và gần gũi của văn hóa dân gian Tiêu biểu có thể thấy một số tác giả như Sơn Tùng với

bài viết “Thử tìm cái đẹp trong ca dao” trên báo Tiểu thuyết Thứ bảy (loại

mới, số 10, ngày 4/6/1949) Vũ Ngọc Phan trong cuốn sưu tầm và khảo luận

Tục ngữ - ca dao - dân ca Việt Nam (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978),

Trang 29

đã dành một phần nội dung không nhỏ để phân tích, đánh giá và giải thích về vai trò của ca dao trong việc phản ánh hiện thực và thổ lộ tâm hồn người Việt

Tác giả Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình cũng công bố loạt bài viết Thử bàn thêm

về thể thơ lục bát văn hoá dân gian (Tạp chí Ngôn ngữ, số 3+4/1985) đánh

giá những giá trị văn hóa của lục bát dân gian Nguyễn Xuân Đức trong bài

viết Về thể lục bát trong ca dao (Tạp chí Văn học, số 2/2002) cho thấy rõ

những đặc trưng nghệ thuật của lục bát ca dao Đỗ Đình Tuân gây chú ý về vẻ đẹp dung dị, thanh thoát và bình dân, trữ tình của lục bát ca dao qua bài viết

Lục bát dân gian (lucbat.vn, 31/1/2012)

Bên cạnh lục bát ca dao, các nhà nghiên cứu còn đặc biệt chú ý đến lối tự

sự, trữ tình mà nội dung của thể thơ lục bát có thể truyền tải được, đó là lục bát truyện thơ Nôm Người dân thôn quê cũng như các nhà nghiên cứu đã rất

quen thuộc với các truyện Nôm khuyết danh như Nhị độ mai, Bích Câu kỳ

ngộ, Phạm Công - Cúc Hoa, … và truyện Nôm của các tác giả lớn để lại dấu

ấn sâu sắc trong nền văn học nước nhà như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm,

Lục Vân Tiên,… Mảng đề tài nghiên cứu về nội dung này có thể kể đến Lại

Nguyên Ân với Nhu cầu diễn Nôm - diễn ca và khả năng của thơ lục bát (Tạp chí Văn học, số 6/1995); Nguyễn Văn Hoàn với Thể lục bát từ ca dao đến

Truyện Kiều (Tạp chí Văn học, số 1/1974); Nguyễn Xuân Kính với Lục bát từ

ca dao đến Truyện Kiều (Tạp chí Văn học, số 9/1999)… Đây là những công

trình nghiên cứu triển khai theo hướng phân tích các mạch nguồn lục bát tạo nên những truyện thơ Nôm nổi tiếng Tác giả Phan Ngọc trong sách chuyên

luận Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (Nxb Thanh Niên,

Hà Nội, 2003), dành một nội dung lớn để phân tích những thành công của thể lục bát qua tác phẩm đỉnh cao truyện thơ Nôm này Đỗ Đình Tuân cũng có bài

viết Lục bát Truyện Kiều (lucbat.vn, 30/8/2011) góp phần làm sáng tỏ hơn

nữa vấn đề trên Lục bát truyện thơ Nôm ở phương Nam nổi tiếng với thi

phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu Nhận định và phân tích về tác

Trang 30

phẩm này, Nguyễn Văn Bon có bài viết Vài suy nghĩ về nền đạo lý nhân bản

nhân đọc lại truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (Tạp chí Nghiên

cứu văn hoá Đồng Nai và Cửu Long, số 4/2006), Dương Thuỳ Linh viết Đặc

điểm truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (Luận văn Thạc sĩ, Đại

học Cần Thơ, 2015) Các tác giả đều nhất trí trong cách tiếp cận và làm sáng

tỏ lối văn hóa dân gian cũng như những đặc điểm nổi bật để tạo nên những thành công cho thể lục bát qua truyện thơ này Đối với thể lục bát ở khu vực

Nam Bộ, tác giả Bông Tràm có bài viết Thơ lục bát - một cõi trời mênh mông (Diễn đàn văn học nghệ thuật đồng bằng sông Cửu Long, 12/12/2014) cho

thấy tính vùng miền và văn hóa dân gian Nam Bộ đi vào thơ lục bát một cách

tự nhiên, dân dã Xem xét, nghiên cứu thơ lục bát trong phong trào Thơ mới những năm ba mươi đầu thế kỷ XX cho thấy với xu hướng thể thơ tự do được

ưu tiên phát triển nhưng lục bát cũng không hề thua kém Lục bát vẫn đi vào

bài viết, nghiên cứu của nhiều tác giả như: Đặng Diệu Trang với Về sự khác

nhau giữa lục bát trong ca dao và lục bát trong Thơ mới (Tạp chí Văn hoá dân gian, số 1/1999), Vũ Thị Hằng với Thơ lục bát Việt Nam trong Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 (Luận văn Thạc sĩ, Đại học KHXH&NV,

ĐHQGHN, 2011) v.v…

1.2.3 Nghiên cứu về truyền thống và hiện đại trong thơ lục bát

Đến từ truyền thống, lục bát hiện đại đã trải qua tiến trình lịch sử lâu dài Lục bát hiện đại là sự kế thừa, phát huy giá trị truyền thống nhưng cũng có những biến đổi đột phá để thích ứng với nhu cầu thời đại và làm tròn sứ mệnh của mình Nghiên cứu về truyền thống và hiện đại trong thơ lục bát phải kể

đến sự kế thừa và phát triển của các tác giả tiêu biểu: Hà Quảng với Một số

cách tân thể thơ lục bát hiện đại (Tạp chí Văn học, số 4/1987); Vũ Duy

Thông với Về sự phá vỡ truyền thống trong thể lục bát (Tạp chí Văn hoá

Nghệ thuật, số 5/1996) Phan Diễm Phương với Thể lục bát ở một thế hệ nhà thơ hiện đại (Tạp chí Văn học, số 2/1996) đã cho thấy ý chí và bản lĩnh sáng

Trang 31

tạo của các nhà thơ thời nay Họ không chỉ táo bạo, mạnh dạn tìm tòi, dám nghĩ dám làm mà còn giàu cảm xúc, khát vọng, và tinh thần sẵn sàng đổi mới nhằm thổi hồn, tạo cho lục bát một màu sắc, khoác cho nó một chiếc áo mới góp phần phản ánh hiện thực cuộc sống một cách sinh động và những tâm tư, nguyện vọng, ý chí của con người mới trong xã hội đương đại Tác giả

Nguyễn Hoà Bình với bài viết Về sự đổi mới của thơ lục bát (Báo Văn Nghệ,

số 51/2003) đã cho thấy hành trình đi tìm lại mình và những nét mới về phong cách, nội dung cũng như cảm xúc của lục bát hiện đại Đặc biệt, Đoàn Minh

Tâm với luận án Tiến sĩ Nghệ thuật thơ lục bát Việt Nam thế kỷ XX (qua một

số tác giả tiêu biểu) (Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN, 2018) đã chỉ ra những

thành công nghệ thuật của thơ lục bát hiện đại trên cái nền vững chắc của truyền thống

Tóm lại, các công trình nghiên cứu nói trên đều ít nhiều đề cập, đi sâu phân tích và làm sáng tỏ những phương diện, bộ mặt và vấn đề cụ thể của lục bát Tuy nhiên, để có một công trình mang tầm khái quát và hệ thống về thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại thì dường như vẫn còn là mảnh đất trống, chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu xứng tầm với những nội dung của vấn đề

Trang 32

Tiểu kết chương 1

Phương thức tồn tại của thơ được thể hiện thông qua thể thơ Thể thơ là một quá trình sáng tạo, kết quả của sự tìm tòi, sàng lọc và thích ứng cùng thời gian, không gian văn hóa, lịch sử, con người Các thể thơ trường tồn cùng chiều dài đất nước trong tiến trình thơ ca phản ánh được bản sắc và niềm tự hào về một nền văn hóa đậm đà của văn học dân tộc Đặt trong bối cảnh với các thể thơ khác của nền thi ca Việt Nam như song thất lục bát, thể thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, tám chữ, thơ tự do,… lục bát vẫn là một trong những thể thơ mang thương hiệu bình dân, sâu lắng, nhẹ nhàng, trữ tình

và phổ biến, nhưng cũng không kém phần trang trọng, lịch thiệp, tế nhị, đáp ứng nhu cầu văn hóa, ứng xử và thị hiếu cảm thụ nghệ thuật của nhân dân ta Lục bát là thể thơ dễ nhận diện nhất và thành công nhất khi đã để lại cho văn hóa dân tộc rất nhiều các tác phẩm văn chương cùng với thời gian đã trở thành kinh điển Những công trình nghiên cứu về thơ lục bát được khai thác trên nhiều khía cạnh, từ những vấn đề chung, các hiện tượng, tác giả, tác

phẩm, phong cách tiêu biểu đến những vấn đề chuyên biệt như truyền thống

và hiện đại, cũng đều tập trung khẳng định giá trị của thể thơ này, sự tiếp biến mạnh mẽ, mới mẻ của nó trong tiến trình văn học, trong diễn trình lịch sử dân tộc Việt Nam

Trang 33

Chương 2 THƠ LỤC BÁT - LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN, ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 2.1 Lịch sử hình thành, phát triển thể lục bát

2.1.1 Nguồn gốc, sự hình thành thể lục bát

Trên thi đàn Việt Nam, đặc biệt với những người quan tâm nghiên cứu thơ lục bát, vấn đề xác định nguồn gốc, lịch sử hình thành của thể thơ này trong tiến trình văn học dân tộc luôn được đặt ra Trong quan điểm các nhà “lục bát học”, hiện có nhiều ý kiến tranh luận trái chiều về nguồn gốc, khởi thủy của thể thơ này Những băn khoăn, trăn trở của phần lớn các nhà nghiên cứu là câu hỏi thường được đặt ra: phải chăng lục bát là thể thơ hoàn toàn thuần Việt hay là thể thơ ngoại lai vay mượn từ Trung Hoa? Có nhiều ý kiến phân tích và tìm hiểu dưới nhiều góc độ về nguồn gốc thể thơ này

Nhà thơ Phạm Đình Toái cách đây khoảng hơn 120 năm, cũng như một số học giả yêu thơ lục bát, từng đặt ra câu hỏi: “Không biết thể này bắt đầu từ

đời nào, được người nào xướng xuất?” (Quốc âm từ điệu) Đến đầu thế kỷ

XX, Dương Quảng Hàm trong bài viết và phân tích của mình mới mạnh dạn

đưa ra nhận định: “Lục bát là lối văn riêng của ta mà Tàu không có” (Việt

Nam văn học sử yếu) Kế tiếp đến tác giả Nguyễn Xuân Kính cũng đồng ý với

quan điểm đó và nhấn mạnh: “Ở văn học người Hán của Trung Quốc không

có thể lục bát Trong lịch sử văn học Việt Nam, lục bát có vai trò đặc biệt và

có sức sống mạnh mẽ” [79; tr.215] Cho đến thời kỳ hiện đại, lại một lần nữa

trong công trình nghiên cứu Ngọn nguồn của hai thể thơ dân tộc: lục bát và

song thất lục bát (Tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 12-2000), Phan Diễm

Phương cũng cho rằng: “Trên thực tế chưa ai tìm thấy ở Trung Hoa những bài thơ như thế”

Trên thực tế, tổng hợp các nghiên cứu về nguồn gốc thể thơ lục bát, có thể thấy nổi bật hai hướng tiếp cận chính yếu:

Trang 34

Thứ nhất, từ khía cạnh ca dao, tục ngữ, có thể thấy màu sắc, hơi hướng,

âm điệu lục bát chịu ảnh hưởng rất sâu đậm, vì vậy phải chăng lục bát có

ngọn nguồn từ văn học dân gian Nguyễn Can Mộng trong công trình Ngạn

ngữ phong dao đã viết: “Văn vần nước ta phôi thai từ ngạn ngữ, rồi đến

phong dao/ca dao thì thành điều, thành chương, có thể ngân nga được Văn

lục bát, hay song thất sau này đều từ ở đấy cả” Nguyễn Xuân Đức trong Đi

tìm nguồn gốc thể loại lục bát Việt Nam (Tạp chí Văn học, số 6-2004…), Chu

Xuân Diên trong Tục ngữ Việt Nam… đều tán thành quan điểm đó Đối với

văn học dân gian, văn học truyền khẩu, tục ngữ, ca dao chiếm đa số và thường

có vần, điệu, tình, ý dễ hiểu được truyền tải thông qua thể lục bát Lục bát dân gian trở thành khẩu ngữ hàng ngày, lời ăn tiếng nói của người dân, giúp truyền tải những xúc cảm, tâm tư, kinh nghiệm sống và triết lý dân dã cũng như thể hiện ước muốn, nguyện vọng, lý tưởng và chức năng giáo dục, khuyên răn con người những điều tốt đẹp trong cuộc đời Xét về cấu trúc và hình thức thì thể lục bát có nguồn gốc sâu xa từ thành ngữ và được định hình, bắt đầu biểu hiện rõ nét ở tục ngữ Nếu dựa vào loại vần cách 3/5 của tục ngữ

để đối chiếu với quy tắc hiệp vần trong lục bát thì dễ dàng thấy được dấu vết của sự phối thanh, hội ý thường sử dụng trong thể thơ này Quá trình hình thành và phát triển của thể thơ lục bát được bắt đầu từ tục ngữ Theo cách hiểu đó, tục ngữ là lời nói hàng ngày, bình dân với lối nói vần, điệu và có trước so với các sáng tạo văn chương, nó cũng là cơ sở hình thành các tác phẩm văn chương dài hơi hơn so với lời nói ngắn gọn nhằm đáp ứng nhu cầu truyền tải cảm xúc, nội dung và ý nghĩa của con người trong cuộc sống, giao tiếp, ứng xử hàng ngày

Mặc dù có nguồn gốc hình thành từ tục ngữ, nhưng chúng ta thấy rằng giữa lục bát và tục ngữ là hai thể loại khác nhau, có sự phân biệt rõ ràng Không thể đồng nhất lục bát là sự hoàn thiện của tục ngữ được Bởi tục ngữ,

ca dao đều có thời điểm và quá trình ra đời khác nhau xét về cả phương diện

Trang 35

thể loại cũng như lịch sử hình thành, phát triển của chúng Cả tục ngữ và ca dao đều là những cách nói dân dã, giản dị và bình dân phổ biến trong cuộc sống người Việt, do đó chúng có lịch sử đồng hành lâu đời cùng với tiến trình phát triển của văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, tục ngữ và ca dao tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau đã góp phần hoàn thiện và cho ra đời thể thơ lục bát Chính điều này cho phép chúng ta có thể giải thích được hiện tượng nhiều câu tục ngữ, ca dao có kết cấu hoàn chỉnh của thể lục bát nhưng không thể được gọi là một bài thơ lục bát Chúng mới chỉ thể hiện hình thức sơ khai của lục bát thuở ban đầu Lục bát trong ca dao cổ thường có cấu trúc hình thành lỏng

lẻo, chưa rõ ràng, thông thường là theo thể câu 4/4+4 (Người đẹp như tiên/

Tắm nước Đồng Triền cũng xấu như ma) hoặc 4+4/6 (Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò/ Chín tháng lò dò biết đi), trải qua quá trình sàng lọc, gọt giũa

và sáng tạo, lục bát ca dao mới đi đến cấu trúc hoàn chỉnh ở thể 6/8

Thứ hai, trong quá trình hoàn thiện và hình thành ngôn ngữ dân tộc, những

đặc trưng, sự vận động nội tại của tiếng Việt, văn hóa Việt Nam cũng góp phần tạo tiền đề xuất phát để lục bát ra đời Tác giả Phan Diễm Phương trong

Ngọn nguồn của hai thể thơ dân tộc: lục bát và song thất lục bát, Nguyễn

Thái Hoà trong Tiếng Việt và thể lục bát (Tạp chí Văn học số 2/1999)… đã

dành nhiều công sức và lập luận để lý giải một cách thuyết phục luận điểm này Cũng đồng quan điểm đó, Nguyễn Phan Cảnh khẳng định thơ lục bát

luôn mang trong mình “những đặc trưng dân tộc về mặt văn hóa đã nén lại

trong dạng dân gian để tồn tại” [17; tr.188-189]

Dòng chảy và ngọn nguồn của lục bát được hợp lưu từ chính hai ngọn nguồn kể trên Lục bát chính là một trong những thành tố quan trọng của tiến trình vận động văn học dân gian Việt Nam, đồng thời là tiếng nói, đặc điểm ngữ âm trong sáng của tiếng Việt Lục bát cũng thể hiện được nhu cầu, tâm lý

xã hội và xu hướng thẩm mỹ đặc sắc của người Việt Đó là quá trình tạo dựng

Trang 36

và hoàn thiện những quy tắc, chuẩn mực riêng cho âm luật thơ ca dân tộc với đặc trưng yêu thích vận dụng vần và nhịp trong ngôn ngữ nước nhà

2.1.2 Các giai đoạn phát triển của thể lục bát

Trong kho tàng thơ ca Việt Nam, lục bát là thể thơ đặc sắc, mang đậm tính dân tộc và gắn với mỗi bước thăng trầm của lịch sử đất nước, qua nhiều thế

hệ Bản chất và đặc điểm của lục bát toát lên những tính chất của truyền thống dân dã nhưng cũng không kém phần hiện đại Tìm đến với lục bát, chính là người nghệ sĩ đã tìm thấy một phương thức biểu cảm, phương tiện truyền đạt tối ưu cho những giá trị nhận thức và thẩm mỹ của bản thân mình, của mọi người xung quanh Chính vì vậy, từ lục bát ca dao đến lục bát hiện đại, thể thơ này luôn được giới trí thức, thi sĩ Việt Nam sử dụng và cảm nhận như một món ăn tinh thần vô giá của dân tộc

Bắt nguồn từ ca dao, tục ngữ, lục bát Việt Nam đã thể hiện tính ưu việt của mình nhằm tạo ra những thành công nhất định về cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Lục bát đã tạo ra sự đa dạng và phong phú cho văn học dân gian qua những câu thơ mang đậm sắc thái trữ tình, bộc bạch, phản ánh tâm tư, tình cảm của người bình dân lam lũ, chăm chỉ, cần mẫn Lục bát đi vào bài hát ru, các câu hò, điệu lý Lục bát thấm nhuần trong lời ngâm vịnh ngân nga hay là những làn điệu dân ca trữ tình đằm thắm Sự gần gũi của lục bát được phổ biến trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày, gắn với những hoạt động lao động sản xuất, văn hóa, văn nghệ và ứng xử của người bình dân Trong lục bát, người ta thấy phổ biến nguyên tắc gieo vần đúng vị trí của chữ thứ 6 câu lục với chữ thứ 6 câu bát và chữ thứ 8 của câu bát với chữ thứ 6 câu lục tạo thành lối ngắt nhịp chẵn nhằm thể hiện rõ cảm xúc, tâm tình của người bình dân trong cuộc sống thường nhật:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng

Trang 37

Lục bát ca dao với ngôn ngữ giản dị, giọng điệu nhẹ nhàng, đôi khi là những cảm xúc về tình yêu cuộc sống, con người hay những lời khuyên bảo, nhắn nhủ, tâm tình, kể lể, triết lý dân gian nhằm hướng con người tới một tinh thần lạc quan, niềm tin yêu và sự bình an, cái đẹp tận thiện tận mỹ:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Đặc trưng của lục bát là lối sử dụng ngôn từ giản dị, mộc mạc, êm tai, nhịp nhàng Cách nhả chữ, nối câu liên tiếp 6/8 còn tạo nên âm thanh trầm bổng tựa tiếng đàn thanh thoát thấm sâu vào tâm hồn Với màu sắc dân ca đậm nét, lục bát ca dao đôi khi vẫn sử dụng nhịp lẻ trong một số trường hợp cần thiết, còn phần lớn là nhịp chẵn:

Râu tôm/ nấu với ruột bầu

Chồng chan/ vợ húp/ gật đầu/ khen ngon

Như vậy, lục bát ca dao thuở sơ kỳ đã cho thấy được những nội dung phong phú, đa dạng lôi cuốn người đọc Mặc dù, xét về hình thức và giá trị nghệ thuật thì còn bộc lộ không ít những hạn chế, đó là chủ yếu được sáng tác theo khuôn mẫu định sẵn, cứng nhắc và đôi khi là sự lặp lại nhàm chán Tuy vậy, nó vẫn tạo dựng cơ sở và đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của thể lục bát trong những giai đoạn tiếp theo

Nếu phân chia tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của thơ lục bát thành các giai đoạn cụ thể, chúng ta có thể dựa vào đặc điểm và sự biến đổi của nó mà định hình các mốc thời gian một cách tương đối như sau:

Một là, giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, lục bát được định hình rõ rệt

Đây là khoảng thời gian mà giới trí thức Việt Nam do chịu ảnh hưởng, chi phối của văn hóa, văn học và thi ca Trung Quốc cho nên các nhà thơ Việt Nam đã sáng tác thể thơ gốc Hán và ngôn ngữ bằng chữ Hán là chủ yếu

Trang 38

Ngược lại, trong văn chương bình dân, người dân truyền khẩu những câu tục ngữ quen thuộc nhưng có giá trị đạo lý sâu sắc Ban đầu, chúng chưa có làn điệu, âm vận, nhưng dần dần cũng được chỉnh sửa, hoàn thiện để thành ca dao

có tiết tấu, âm vận chặt chẽ

Hai là, thơ lục bát giai đoạn từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX Lục bát

trong giai đoạn này có những biến đổi tích cực để hoàn chỉnh và định hình cụ thể, do vậy mà vẫn chưa thoát khỏi tình trạng lỏng lẻo, xô bồ, tự do và phóng khoáng Các chức năng riêng của thể loại cũng chưa được xác định, do vậy được dùng một cách tùy tiện, ngẫu nhiên Xét về cơ cấu thể lục bát cũng chưa

được thuần nhất, ví dụ: “Hễ đến tuần tế-lễ này” (Thiên Nam ngữ lục, câu 4963), hoặc “Thái hậu mừng rỡ bội phần” (Thiên Nam ngữ lục, câu 4703), lối dùng chữ đến và hậu trong hai câu thơ trên về sau khi lục bát định hình và ổn

định đều bị coi là thất luật Ra đời trong thời kỳ này cho nên có thể bắt gặp kiểu

thất luật rất nhiều trong tác phẩm Thiên Nam ngữ lục Qua đó, cho phép chúng

ta hiểu rằng chưa có sự thuần nhất của âm luật trong lục bát ở thế kỷ XVII Tương tự, trong cách gieo vần của lục bát cũng vậy, vần thường được đặt ở chữ thứ 4 trong câu bát, ví dụ:

Nghe nhau, ai nấy ngó nhau

Một đứa nhổ sào, cả vạn cũng xuôi

(Thiên Nam ngữ lục, câu 4685-4686)

Đây là cách gieo vần cổ và chỉ tồn tại cho đến thế kỉ XVIII Một số nhà nghiên cứu về lục bát cho rằng đó là kiểu lục bát biến thể, như tác giả Phạm

Văn Hải trong bài viết Sơ lược về thể lục bát, (Virginia, 1994, tr.10) cho rằng

thực chất đó là “lục bát cổ thể”, cách gieo vần của các câu thơ như vậy chỉ có thể được sáng tác trước thế kỷ XVIII Điều này không còn tìm thấy trong

Truyện Kiều của Nguyễn Du ở giai đoạn xuất hiện sau này

Trang 39

Từ nửa cuối thế kỉ XVIII, Trần Danh Án (hiệu Liễu Am) là một trong những người rất yêu thơ lục bát nên đã dày công sưu tầm, nghiên cứu và biên

soạn cuốn Quốc phong giải trào và Nam phong nữ ngạn thi

Từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, lục bát đã phát triển thêm diện mạo mới đó là thể lục bát truyện thơ Có thể kể đến một loạt các tác phẩm tên tuổi

như: Thạch Sanh, Phạm Công - Cúc Hoa, truyện Phan Trần… Các tác phẩm

truyện thơ lục bát này được viết theo quy mô lớn với hàng trăm, hàng ngàn câu theo các quy định nghiêm ngặt về niêm luật, về vần và nhịp điệu Đặc

biệt, sự xuất hiện Truyện Kiều của Nguyễn Du và truyện Lục Vân Tiên của

Nguyễn Đình Chiểu đã đánh dấu bước tiến lớn trong sự hoàn thiện của thể thơ lục bát Những tiến bộ và thay đổi trong cách ngắt nhịp, gieo vần đã tạo nên thành công đánh dấu bước ngoặt, với các quy chuẩn của lục bát ngày càng chặt chẽ

Ba là, lục bát thời kỳ nửa sau thế kỷ XIX đến những năm 30 của thế kỷ XX

Từ nửa sau thế kỷ XIX đến những năm 30 của thế kỷ XX, thơ lục bát Việt Nam đã xây dựng cho mình những quy chuẩn và nguyên tắc, mẫu mực trong hình thức, cấu trúc và nội dung thể hiện Trong giai đoạn này, lối thơ truyện lục bát cũng dần đi vào thoái trào và thưa vắng, nhường chỗ cho xu hướng thơ lục bát trữ tình Lục bát đã thể hiện rõ những khả năng phong phú của mình trong việc biểu đạt nội dung của tác phẩm trữ tình nhỏ Đặc biệt, sự ra đời của chữ quốc ngữ theo mẫu tự La tinh đã tạo cơ hội mới cho một trào lưu sáng tạo thơ lục bát hồi đầu thế kỷ XX Việc sử dụng chữ Quốc ngữ thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm đã làm xuất hiện nhiều nhà thơ mới, tiêu biểu là Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu) Là một nhà thơ có nhiều sáng tạo và giảu cảm xúc, các bài thơ của ông thể hiện được nhiều hình thức vần điệu tạo hiệu ứng mạnh

mẽ, khiến cho người đọc có sự rung động, thấu cảm với những tâm tư, tình cảm của thi sĩ Chính vì vậy, nó có ảnh hưởng sâu rộng trong mọi giai tầng xã hội và đông đảo tầng lớp nhân dân lao động lúc bấy giờ Tản Đà đã rất thông

Trang 40

minh, tài tình và uyển chuyển, linh hoạt trong cách sáng tác kết nối giữa truyền thống văn học dân gian, ca dao, tục ngữ với thơ ca hiện đại

Bốn là, lục bát trong phong trào Thơ mới giai đoạn 1932-1945 Phong trào

Thơ mới xuất hiện trong giai đoạn 1932 - 1945, có những diện mạo thay đổi theo hoàn cảnh xã hội và lịch sử dân tộc Cuộc đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến giành lại chính quyền và chống Pháp xâm lược đang bước vào thời kỳ gay

cấn Các nhà thơ lục bát lãng mạn đã đưa “cái tôi” tiểu tư sản vào trong những

sáng tác của mình Lối gieo vần, ngắt nhịp nhẹ nhàng hơn, ngôn ngữ thơ cũng trau chuốt hơn Mặc dù tồn tại trên nửa thế kỷ, từ khi xuất hiện cho đến nay, lục bát Thơ mới vẫn còn nguyên cái hay, cái đẹp và đặc sắc của nó Đó là những hạt ngọc sáng lấp lánh giữa dòng thơ dân tộc bất tận không ngừng chảy

với các tác phẩm, tác giả tên tuổi như Ngậm ngùi, Buồn đêm mưa (Huy Cận),

Chiều (Xuân Diệu), Tiếng sáo Thiên Thai (Thế Lữ), Thơ sầu rụng (Lưu Trọng

Lư), Luỹ tre xanh, Rằm tháng giêng (Hồ Dzếnh), Huế đa tình (Bích Khê), Bến

Hàn giang (Hàn Mặc Tử), Đan áo cho chồng (T.T.Kh), v.v… Những cách tân

phong phú, đa dạng về cả hình thức thể hiện (gieo vần, phối điệu…) lẫn nội

dung biểu đạt của lục bát Thơ mới đã tạo nên thành công và bước ngoặt quan trọng cho thể thơ này

Tiêu biểu trong phong trào Thơ mới phải kể đến Nguyễn Bính Là một nhà thơ tài hoa, một hồn thơ chân quê mộc mạc, bình dị nhưng cũng không kém phần sâu lắng, thiết tha và tình cảm, ông đã có nhiều sáng tác lục bát thành công Trong thơ ông, người ta bắt gặp sự vận dụng nhuần nhuyễn các yếu tố của ngôn ngữ ca dao, dân ca với nhịp chẵn được phát huy một cách tối ưu:

Sáng giăng/ chia nửa vườn chè

Một gian nhà nhỏ/ đi về có nhau

(Thời trước)

Mặc dù mang âm hưởng đậm đà của ca dao nhưng thơ lục bát Nguyễn Bính vẫn tạo cho mình một sắc thái, một phong cách riêng; ông đã rất tài tình,

Ngày đăng: 31/08/2020, 11:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristotle (1964), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hoá Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristotle
Nhà XB: Nxb Văn hoá Nghệ thuật
Năm: 1964
2. Hoài Anh (2000), “Diệu kỳ lục bát”, Tạp chí Nhà văn (3), tr.28-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diệu kỳ lục bát”, "Tạp chí Nhà văn
Tác giả: Hoài Anh
Năm: 2000
3. Lại Nguyên Ân (1995), “Nhu cầu diễn nôm - diễn ca - và khả năng của thơ lục bát”, Tạp chí Văn học (6), tr.29-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu diễn nôm - diễn ca - và khả năng của thơ lục bát”," Tạp chí Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1995
4. Lê Bảo (1992), Thơ lãng mạn Việt Nam - các tác giả tiêu biểu, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ lãng mạn Việt Nam - các tác giả tiêu biểu
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1992
5. Nguyễn Duy Bắc (1998), Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại 1945 - 1975, Nxb Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại 1945 - 1975
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 1998
6. Bêse (1974), Lý luận thơ ca, bản in roneo, Tài liệu dịch của Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận thơ ca
Tác giả: Bêse
Năm: 1974
7. Võ Bình (1985), “Vần trong thơ lục bát”, Tạp chí Ngôn ngữ (2), tr.32-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần trong thơ lục bát”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Võ Bình
Năm: 1985
8. Nguyễn Hoà Bình (2003), “Về sự đổi mới của thơ lục bát”, Báo Văn nghệ (51), tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự đổi mới của thơ lục bát”, "Báo Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Hoà Bình
Năm: 2003
9. Nguyễn Văn Bon (2006), “Vài suy nghĩ về nền đạo lý nhân bản nhân đọc lại truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu”, Tạp chí Nghiên cứu văn hoá Đồng Nai và Cửu Long (9), tr.41-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về nền đạo lý nhân bản nhân đọc lại truyện "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu”, "Tạp chí Nghiên cứu văn hoá Đồng Nai và Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Văn Bon
Năm: 2006
10. Đồng Đức Bốn (1992), Con ngựa trắng và rừng quả đắng, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ngựa trắng và rừng quả đắng
Tác giả: Đồng Đức Bốn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1992
11. Đồng Đức Bốn (1993), Chăn trâu đốt lửa, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn trâu đốt lửa
Tác giả: Đồng Đức Bốn
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1993
12. Đồng Đức Bốn (2000), Trở về với mẹ ta thôi; Cuối cùng vẫn còn dòng sông, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở về với mẹ ta thôi; Cuối cùng vẫn còn dòng sông
Tác giả: Đồng Đức Bốn
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000
13. Đồng Đức Bốn, Chuông chùa kêu trong mưa (2002); Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuông chùa kêu trong mưa" (2002); "Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc
Tác giả: Đồng Đức Bốn, Chuông chùa kêu trong mưa (2002); Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2006
14. Nguyễn Bính (1955), Cách làm thơ lục bát, Nxb Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách làm thơ lục bát
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1955
15. Nguyễn Bính (1986), Tuyển tập, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1986
16. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 - 2000, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 - 2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
17. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1987
18. Bửu Cầm (1956), “Ca dao, nền tảng văn học dân tộc”, Nội san Viện khảo cổ, bản in roneo, Sài Gòn (2), tr.49-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao, nền tảng văn học dân tộc”, "Nội san Viện khảo cổ
Tác giả: Bửu Cầm
Năm: 1956
19. Nguyễn Tài Cẩn, Võ Bình (1985), “Thử bàn thêm về thể thơ lục bát văn hoá dân gian”, Tạp chí Ngôn ngữ (3+4), tr.42-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử bàn thêm về thể thơ lục bát văn hoá dân gian”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn, Võ Bình
Năm: 1985
20. Hoàng Minh Châu (1990), Bàn về thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thơ
Tác giả: Hoàng Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1990

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w