Đề tài "Đặc điểm thơ lục bát trong sách giáo khoa Ngữ Văn trung học " có mục đích tiếp tục tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ ca dao lục bát cũng như những sáng tác có ghi danh theo hình thức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Trí Dõi
SƠN LA - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Vũ Thị Kim Oanh
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Trường Đại học Tây Bắc, những thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, quan tâm tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn Thạc sĩ
Lai Châu, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Thị Kim Oanh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Giả thuyết khoa học 6
8 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 6
9 Bố cục của luận văn: 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN PHỤC VỤ CHO VIỆC THỰC HIỆN LUẬN VĂN 7
1.1 Thơ và thơ lục bát 7
1.1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ 7
1.1.2 Cách hiểu về thơ lục bát 16
1.1.3 Thơ lục bát là một thể thơ đặc trưng của tiếng Việt 17
1.2 Những đặc điểm chính của thơ lục bát 21
1.2.1 Tiếng và câu trong thơ lục bát 21
1.2.3 Phối thanh và ngắt nhịp trong thơ lục bát 23
1.3 Tiến trình lịch sử của thể loại thơ lục bát 25
1.3.1 Tính thuần Việt của thơ lục bát 25
1.3.2 Lục bát trong ca dao 26
1.3.3 Lục bát trong văn học trung đại 28
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ LỤC BÁT TRONG SGK NGỮ VĂN TRUNG HỌC THEO TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN 37
Trang 52.1 Thơ lục bát trong SGK Ngữ văn trung học 37
2.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát ca dao trong SGK 38
2.2.1 Về ngắt nhịp trong thơ lục bát ca dao 38
2.2.2 Về gieo vần trong thơ lục bát ca dao 40
2.2.3 Về phối thanh trong thơ lục bát ca dao 43
2.3 Thơ lục bát giai đoạn trung đại 44
2.3.1 Về ngắt nhịp, gieo vần, phối thanh trong thơ lục bát của tác giả Nguyễn Du 45
2.3.2 Về ngắt nhịp, gieo vần, phối thanh trong thơ lục bát của tác giả Nguyễn Đình Chiểu 52
2.4 Đặc điểm ngôn ngữ trong lục bát hiện đại 56
2.4.1.Thơ lục bát của tác giả Nguyễn Bính 56
2.4.2 Thơ lục bát của tác giả Tố Hữu 60
2.5 Nhận xét chung về đặc điểm ngôn ngữ lục bát trong SGK 66
2.5.1 Về cách ngắt nhịp: 67
2.5.2 Về cách gieo vần 68
2.5.3 Về phối thanh 68
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VÀ NỘI DUNG PHẢN ÁNH CỦA THƠ LỤC BÁT TRONG SGK TRUNG HỌC 70
3.1 Cảm hứng chính trong lục bát ca dao 71
3.1.1 Những câu thơ lục bát nói về tình cảm gia đình 71
3.1.2 Những câu lục bát hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người 72
3.1.3 Những câu lục bát than thân 73
3.1.4 Những câu lục bát châm biếm 75
3.1.5 Những câu lục bát hài hước 77
3.2 Ngôn ngữ thơ lục bát và nội dung trong văn học trung đại 78
Trang 63.2.1 Ngôn ngữ thơ lục bát Truyện Kiều góp phần làm nên thành công
nội dung tác phẩm 79
3.3 Ngôn ngữ thơ lục bát trong văn học hiện đại 84
3.3.1 Thơ lục bát Nguyễn Bính 84
3.3.2 Thơ lục bát Tố Hữu 90
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Hệ thống lục bát ca dao và thơ lục bát trong sách giáo khoa 37Bảng 2.2 Tổng hợp tình trạng ngắt nhịp và biến nhịp của lục bát
trong SGK 67Bảng 2.3 Tổng hợp tình trạng gieo vần của ca dao và 4 nhà thơ 68Bảng 2.4 Tổng hợp phối thanh của ca dao và 4 nhà thơ 68
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học dân gian nằm trong tổng thể văn hóa dân gian ra đời từ thời viễn cổ và tiếp tục được bảo tồn, phát triển về sau này, nên nó có vị trí quan trọng trọng đời sống văn hóa của dân tộc, in đậm dấu ấn bản sắc văn hóa dân tộc Nền văn học dân tộc nào cũng có văn học dân gian Ở Việt Nam, văn học dân gian có vị trí và vai trò rất quan trọng Trong những năm Bắc thuộc và ở thời kỳ dân tộc chưa có chữ viết hoặc chữ viết chưa phổ cập, nó có đóng góp
to lớn trong việc phát triển ngôn ngữ dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn người dân Tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc của văn học dân gian từ nội dung tới hình thức đã có tác động lớn tới sự hình thành và phát triển của văn học viết dân tộc Trong mười hai thể loại của văn học dân gian Việt Nam thì ca dao là thể loại phong phú, đa dạng cả về số lượng, nội dung, chủ đề và đề tài Nó đã được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, văn học, ngôn ngữ học tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá, phát hiện cái hay, cái đẹp Trong thực tế nhiều giá trị nội dung như lí tưởng xã hội, đạo đức truyền thống được ẩn chứa trong hình
thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ nên thực sự đi sâu vào lòng người
Ngay từ thời thơ ấu, ca dao đã gắn với cuộc đời của mỗi chúng ta Ca dao Việt Nam là kho tàng vô giá, làm giàu thêm tiếng Mẹ đẻ cho nên ca dao
là loại hình nghệ thuật ngôn từ được nhiều người tìm hiểu, là nguồn tài liệu vô cùng quý giá được khai thác từ nhiều khía cạnh Trong ca dao, dạng thức thơ lục bát là một kiểu loại điển hình Dạng thức văn hóa dân gian này cũng đã
ảnh hưởng đến sự sang tác của các nhà thơ được ghi danh Đề tài "Đặc điểm
thơ lục bát trong sách giáo khoa Ngữ Văn trung học " có mục đích tiếp tục
tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ ca dao lục bát cũng như những sáng tác có ghi danh theo hình thức này được giới hạn trong một chương trình giảng dạy cụ
thể - chương trình Ngữ Văn trung học
Trang 10Ở Việt Nam, việc tìm hiểu về ca dao nói chung, ca dao và thơ lục bát
nói riêng đã khá phổ biến Đó là các công trình nghiên cứu về ca dao như bình
giảng ca dao, Ca dao Việt Nam và những lời bình, thi pháp ca dao, tìm hiểu Thơ lục bát Việt Nam hiện đại từ góc nhìn ngôn ngữ v,v Tuy nhiên, hiện
chưa có công trình nào coi ngôn ngữ ca dao và thơ lục bát trong sách giáo
khoa Ngữ Văn trung học là đối tượng nghiên cứu độc lập Hiểu rõ đặc điểm
thơ lục bát trong chương trình Ngữ Văn trung học sẽ giúp chúng tôi giảng dạy tốt hơn môn Ngữ Văn ở bậc học này Và đó là lý do khiến chúng tôi lựa chọn
đề tài nói trên cho luận văn của mình
Với những lí do như vậy, việc chúng tôi lựa chọn đề tài "Đặc điểm thơ
lục bát trong sách giáo khoa Ngữ Văn trung học" làm đề tài luận văn của
mình là thực sự hữu ích Khi lựa chọn đề tài như thế, chúng tôi hy vọng có những đóng góp, tìm tòi xét từ phương diện ngôn ngữ để tìm hiểu thêm các giá trị của ca dao và thơ lục bát trong chương trình mà mình giảng dạy ở nhà trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
Khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu về thơ lục bát Việt Nam chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu thơ lục bát đã và đang được rất nhiều người quan tâm Theo đó, có nhiều nhà nghiên cứu về thơ lục bát ở bình diện văn hóa dân gian, thi pháp học, văn hóa học v.v như Tăng Tấn Lộc, Vũ Ngọc Phan v.v Đồng thời, cũng có những công trình nghiên cứu cao dao và thơ lục bát từ góc độ ngôn ngữ học như Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh vv và gần đây nhất là Hồ Văn Hải
Cụ thể, Tăng Tấn Lộc trong bài Đi tìm thể lục bát Việt Nam đã khẳng
định lục bát được hình thành và phát triển trong ca dao, dân ca, được thi hào Nguyễn Du nâng tới đỉnh cao qua "Truyện Kiều" và càng trở nên phong phú,
đa dạng nhờ những đóng góp của các thế hệ nhà thơ nổi tiếng như: Tản Đà,
Trang 11Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Huy Cận, Nguyễn Duy,…Nói về quá trình phát triển của lục bát từ lục bát ca dao đến lục bát trong văn học hiện đại, người ta đã có thể chia sự phát triển của thơ lục bát thành ba giai đoạn là giai đoạn lục bát ca dao, giai đoạn lục bát trung đại và giai đoạn lục bát hiện đại
Còn nghiên cứu về ca dao và thơ lục bát ở góc độ ngôn ngữ học thì
phải kể đến cuốn "Thơ lục bát Việt Nam hiện đại từ góc nhìn ngôn ngữ" (Nhà
xuất bản văn hóa thông tin, tác giả Hồ Văn Hải) là công trình mới xuất bản gần đây nhất Với cuốn sách này, tác giả đã tìm hiểu về ngôn ngữ thơ tiếng Việt nói chung và thơ lục bát nói riêng Tác giả cho rằng thơ lục bát Việt Nam
đã đạt đến độ tinh túy lần thứ nhất trong ca dao, lần thứ hai trong Truyện Kiều, và lần thứ ba trong lục bát hiện đại (Qua bốn tác giả đại diện cho thơ lục bát là Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu và Nguyễn Duy) Ngôn ngữ lục bát hiện đại đã có được sự tương hỗ giữa nhạc điệu và ý nghĩa Một bài lục bát hiện đại hay là khi nó đạt được sự thống nhất cao giữa hai mặt ngữ âm và ngữ
nghĩa Đây là xu hướng chung của thơ ca hiện đại nói chung: Đi tìm cảm thức
thời đại trong nhạc điệu, thứ âm thanh hòa quyện một cách chặt chẽ với ý nghĩa Ngôn ngữ lục bát hiện đại đã kế thừa ngôn ngữ lục bát truyền thống
trên cả hai bình diện nhạc điệu và phương thức, phương tiện tạo nghĩa Về nhạc điệu khi ngữ âm là cơ sở hình thành, tồn tại tính cách luật và tạo thể thì
nó chính là mặt cấu thành bền vững nhất trong thơ cách luật Vì vậy, lục bát nói chung và lục bát hiện đại tuân thủ nguyên lí ngữ âm thể loại để duy trì bản thể của mình Đó là lý do vì sao giữa lục bát hiện đại và lục bát ca dao lại có
sự tương đồng căn bản về hình thức ngữ âm Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng âm điệu lục bát có nguồn gốc sâu xa từ trong ngôn ngữ và văn hóa của người Việt cổ Nhờ đó mà các biểu hiện cơ bản của nó trong lục bát hiện đại
là hết sức bền vững Có thể nói công trình của Hồ Văn Hải đã dường như tập
Trang 12hợp được những gì mà các nhà nghiên cứu đã khảo sát về ngôn ngữ thơ lục bát nói chung và thơ lục bát hiện đại nói riêng
3 Mục tiêu nghiên cứu
Với việc giới hạn đối tượng là ngôn ngữ thơ lục bát trong sách giáo
khoa Ngữ Văn trung học, mục tiêu của chúng tôi là khảo sát để nhận biết đặc
điểm ngôn ngữ của các bài ca dao, các bài thơ dạng lục bát được tập hợp trong
sách giáo khoa Ngữ Văn của bậc trung học
Sau đó, từ việc khảo sát để nhận biết đặc điểm các bài ca dao, các bài
thơ dạng lục bát được tập hợp trong sách giáo khoa của bản thân, chúng tôi sẽ
đề xuất ra những thao tác cụ thể để giảng dạy cho học sinh, giúp họ dễ dàng
tiếp cận, cảm thụ thơ lục bát trong việc học của mình
Như vậy, đề tài mà chúng tôi lựa chọn sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên cho học sinh Đồng thời qua đề tài, người viết muốn trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp để từ đó tìm ra phương pháp hiệu quả nhất khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đặc điểm thơ lục bát trong chương trình
Ngữ Văn trung học
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Như đã trình bày, đối tượng nghiên cứu của luận văn này là tất cả các
bài ca dao, thơ lục bát có trong sách giáo khoa chương trình trung học của
văn học Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nguồn tư liệu chính là các bài thơ lục bát trong ca dao của tác giả dân gian trong chương trình Ngữ văn 6, Ngữ văn 7, Ngữ văn 8, Ngữ văn 9, Ngữ văn 10, bài thơ lục bát của các tác giả truyền thống trong văn học trung đại
như Truyện Kiều của tác giả Nguyễn Du và bài thơ lục bát của tác giả hiện
đại trong văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến cách
Trang 13mạng tháng 8 năm 1945 như Tương Tư của nhà thơ Nguyễn Bính, bài thơ lục
bát của tác giả hiện đại trong văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn từ 1945
đến 1975 như bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tập hợp một cách có hệ thống về những nghiên cứu đã có trong việc giải thích nguyên tắc thơ lục bát, làm cơ sở lí luận cho việc thực hiện luận văn
5.2 Tìm hiểu đặc điểm thơ lục bát trong ca dao, thơ lục bát trung đại, thơ lục bát hiện đại được lựa chọn trong SGK
5.3 Từ đó, tìm ra điểm khác biệt giữa đặc điểm của thơ lục bát trong ca dao và thơ lục bát của mỗi tác giả được lựa chọn trong SGK
6 Phương pháp nghiên cứu
Ở luận văn "Đặc điểm thơ lục bát trong sách giáo khoa Ngữ Văn trung
học" tôi sử dụng những phương pháp sau:
6.1 Phương pháp mô tả: Mô tả kết hợp với việc phân tích các âm điệu,
nhịp điệu, vần điệu trong thơ lục bát của tác giả dân gian, bài thơ lục bát của các tác giả truyền thống trong văn học trung đại, bài thơ lục bát của các tác
giả hiện đại trong văn học Việt Nam hiện đại
6.2 Phương pháp phân tích: Được sử dụng trong quả trình phân tích để
rút ra đặc điểm thơ lục bát của tác giả dân gian, đặc điểm thơ lục bát của các tác giả truyền thống trong văn học trung đại Việt Nam, đặc điểm thơ lục bát
của các tác giả hiện đại trong văn học Việt Nam hiện đại
6.3 Thủ pháp thống kê, phân loại và so sánh: Thống kê có định hướng,
phân loại định lượng, kết hợp với định tính được sử dụng trong quá trình thu thập và xử lí tài liệu So sánh đặc điểm thơ lục bát dân gian và đặc điểm thơ
lục bát của các tác giả để từ đó tìm ra điểm khác biệt
Trang 147 Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu kĩ về đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát Việt Nam trong sách giáo khoa thuộc chương trình trung học phổ thông thì chất lượng dạy học nội dung này của người giáo viên sẽ được nâng cao
8 Đóng góp của đề tài nghiên cứu
Đề tài là một bài tập thực tế để qua đó có được phương pháp cụ thể hóa
về điểm khác biệt về thơ lục bát của tác giả dân gian, với đặc điểm thơ lục bát của các tác giả truyền thống trong văn học trung đại Việt Nam và đặc điểm thơ lục bát của các tác giả hiện đại trong văn học Việt Nam hiện đại được lựa chọn trong SGK Với luận văn này, tôi hi vọng đây sẽ là nghiên cứu đúng
đắn, đạt hiệu quả cao trong việc giảng dạy về thể thơ lục bát
9 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận phục vụ cho việc thực hiện đề tài
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát trong SGK Ngữ văn trung
học theo tiến trình phát triển
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ và nội dung phản ánh của thơ lục bát
trong SGK trung học
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN PHỤC VỤ CHO VIỆC THỰC HIỆN LUẬN VĂN 1.1 Thơ và thơ lục bát
1.1.1 Thơ và đặc điểm của ngôn ngữ thơ
Thơ là một hình thức sáng tạo văn học đầu tiên của loài người Chính vì vậy mà có một thời gian rất dài thuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn học Thơ có lịch sử lâu đời như thế nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện hết đặc trưng bản chất của nó cho việc nghiên cứu thơ ngày nay thì thật không dễ đối với nhà nghiên cứu
Trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa, khái niệm “thơ là gì” đã
được đề cập từ rất sớm Tuy nhiên để định nghĩa chính xác, khách quan sẽ giúp ta xác định được các bình diện của ngôn ngữ thơ cần tiếp cận và khai
thác.“Công trình lý luận về thi ca sớm nhất của phương Đông cách đây 1500
năm là Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp đã đề cập tới ba phương diện cơ bản cấu thành tác phẩm thơ là hình văn, thanh văn và tình văn Ngôn từ thơ có sự vật (hình văn), nhạc ( thanh văn) và cảm xúc ( tình văn) Đến đời Đường, Bạch Cư Dị đã cụ thể hóa thêm một bước các yếu tố cấu thành thơ ca : Cái cảm hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa” [17- tr 18] Quan niệm này không chỉ dừng lại ở việc nêu lên
các yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa chúng, giống như gốc rễ, mầm lá, hoa, quả gắn liền với nhau trong một thể thống nhất hoàn chỉnh và sống động Đây có thể coi là quan niệm về thơ toàn diện
và sâu sắc nhất trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa
Các nhà Cấu trúc chủ nghĩa Châu Âu lại thay thế câu hỏi “Thơ là gì”
bằng một câu hỏi khác: tính thơ là gì? Và nó được thể hiện ra như thế nào?
Trang 16Theo cái cách từ ngữ được cảm nhận như là từ ngữ chứ không phải như vật thay thế đơn giản của đối tượng chỉ định, theo cách những từ, những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng, hình thức bên trong và bên ngoài của chúng không phải là các dấu hiệu vô hồn của hiện thực mà còn có trọng lượng riêng, mang một giá trị riêng Tiếp tục triển khai lý thuyết tự quy chiếu, Jacobson sau khi nhắc lại hai kiểu sắp xếp cơ bản của hoạt động ngôn ngữ là tuyển chọn và kết hợp đã đi đến kết luận chức năng thi ca đêm nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp Mặc dù có lưu ý ít nhiều đến hoạt động nguyên lý tương đương về ý nghĩa nhưng trong tư duy nghiên cứu của Jacobson, cái ý nghĩa ở đây chỉ là ý nghĩa của đối tượng gọi tên và ý nghĩa ngữ pháp nảy sinh tờ những mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc có tính chất khép kín của văn bản Điều đó cũng có nghĩa là khái niệm ý nghĩa được hiểu một cách hạn hẹp Bởi trong thực tế, như ta thấy, ý nghĩa của thơ nhiều khi vượt ra ngoài giới hạn của văn bản và trong một chừng mục nhất định phụ thuộc vào nhận thức của người đọc
Ở Việt Nam, khái niệm “thơ là gì” cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề
cập với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau Lý giải về bản chất
của thơ, các tác giả nhóm Xuân thu nhã tập cho rằng Thơ là cái gì huyền ảo,
tinh khiết, thâm thúy, cao siêu Dưới cái nhìn cấu trúc, trong chuyên luận Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học nhà thơ Phan Ngọc cho rằng: thơ
là cách tổ chức và sắp xếp ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này Quan
niệm trên của giáo sư Phan Ngọc đã kế thừa được những khám phá quan
trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua Đặc biệt đã gợi ra một trường nghiên cứu thơ hết sức rộng rãi: thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học thuần túy mà chủ yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy
đủ của từ này
Trang 17Lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã chứng kiến rất nhiều định nghĩa về thơ, các định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn từ điển thuật ngữ văn học có thể xem là chung
nhất “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống thể hiện tâm
trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [16- tr210] Định nghĩa này đã định danh một cách đày
đủ về thơ ở cả nội dung và nghệ thuật Đặc biệt đã khu biệt được đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong thể loại văn học khác
Từ sự nhận diện về thơ như trên, ta có điều kiện để đi vào tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ So với ngôn ngữ văn xuôi, chúng
ta nhận thấy ngôn ngữ thơ có những đặc điểm khác biệt như:
Thứ nhất, ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính Thơ trữ tình phản ánh cuộc
sống qua những rung động của tình cảm Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn cả bằng âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Nếu như trong văn xuôi, các đặc tính thanh lọc của ngôn ngữ như cao độ, cường độ, trường độ không được tổ chức hay sử dụng ở mức cần thiết thì trong thơ, trái lại những đặc tính ấy được tổ chức một cách chặt chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không nói hết Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là một trong những đặc trưng chủ yếu mang tính loại biệt rõ nét trong ngôn ngữ thơ ca
Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ở ba khía
cạnh cơ bản Đó là sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp
Sự cân đối là sự tương xứng hài hòa giữa các dòng thơ Sự hài hòa đó
có thể là hình ảnh, âm thanh, chẳng hạn:
“Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm) Cũng có thể là cách sắp xếp tổ chức mà chúng ta dễ dàng nhận thấy ở cặp câu thực, câu luận trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú Đối với thơ
Trang 18hiện đại, yêu cầu này không thật sự khắt khe Tuy vậy, nhà thơ vẫn hết sức chú ý đến hiệu quả nghệ thuật của phép đối xứng trong thơ của mình
Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hòa âm, sự thay đổi độ cao giữa hai nhóm thanh điệu Xuân Diệu với hai dòng toàn vận dụng thanh bằng đã biểu biện được cảm xúc lâng lâng, bay bổng theo tiếng đàn du dương, nhẹ êm khi người ta đọc thơ ông:
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”
Chính Tố Hữu đã có lần nói đến ngữ âm của từ “xôn xao” trong câu
“Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa” (Mẹ Tơm) Đó đâu chỉ là âm vang của
tự nhiên mà là âm vang của tâm hồn, cái làm nên âm vang đó chính là âm
thanh, âm thanh của từ “xôn xao” đã cùng với ý nghĩa của nó làm nên điều kì
diệu ấy Sự trầm bổng của ngôn ngữ còn thể hiện ở nhịp điệu:
“Sen tàn/ cúc lại nở hoa Sầu dài/ ngày ngắn/ đông đà sang xuân”
Dòng thơ cắt theo nhịp 2/4 và 2/2/4 đều đặn như nhịp chuyển vần đều đặn của tháng năm bốn mùa Nhịp thơ ở đây là nhịp của cảm xúc, cảm nhận Như vậy, âm thanh, nhịp điệu trong thơ không đơn thuần là hình thức mà là những yếu
tố góp phần biểu hiện khía cạnh tinh vi của đời sống tình cảm con người
Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng vần, điệp từ, ngữ và điệp cấu trúc Chúng có tác dụng như phương tiện kết dính các dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống nhất, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho trí nhớ vừa tạo nên ve trùng điệp cho ngôn ngữ thơ:
“Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn
Nước non rả rích giọt đàn mưa xuân”
(Tiếng đàn mưa - Bích Khê)
Trang 19Lối điệp từ, ngữ và điệp cấu trúc ở đây vừa diễn tả được hình ảnh cơn mưa của đất trời vừa tạo nên một ấn tượng vương vấn không dứt trong lòng người
Như vậy, tính nhạc hay nhạc điệu trong thơ là đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Ngày nay nhu cầu của thơ có phần đổi khác, một số người đổi vần để tạo cho câu thơ sự tự do hóa triệt để Nhưng nếu như một bài thơ không có một nhạc điệu nội tại nào đó như sự đối xứng giữa các dòng, các đoạn thơ, tiết tấu, nhịp điệu của câu thơ thì bài thơ đó không còn là bài thơ giầu nhạc điệu của ngôn ngữ thơ nữa
Thứ hai, ngôn ngữ thơ có tính hàm súc Đây là đặc điểm chung của
ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương nói chung, nhưng do đặc trưng của thể loại mà nó biểu hiện một cách tập trung với yêu cầu cao nhất trong ngôn ngữ thơ, bởi thơ là thể loại có dung lượng ngôn ngữ hạn chế nhất trong các loại tác phẩm văn học, nhưng thơ lại có tham vọng chiếm lĩnh nhiều tình cảm trong thế giới bao la Nói như Ô-giê-rốp ở trong một bài thơ là một lượng thông tin
lớn nhất trong một diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất và chính sự hạn định số tiếng
trong câu thơ, bài thơ buộc người nghệ sỹ phải phát huy sự tư duy ngôn ngữ
để lựa chọn từ ngữ cho tác phẩm Bởi thế, Maiacopxki gọi lao động nghệ
thuật ngôn từ của nhà thơ là “trả chữ với giá cắt cổ”:
“Nhà thơ trả chữ với giá cắt cổ Như khai thác chất hiếm radium Lấy một gam phải mất hàng bao công lực Lấy một chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ”
( Maiacôpski - nhà thơ Nga)
Như vậy, tính hàm súc được hiểu là khả năng của ngôn ngữ có thể miêu
tả mọi hiện tượng của cuộc sống một cách cô đọng, ít lời mà nói được nhiều
ý, ý tại ngôn ngoại Đây chính là cách dùng từ sao cho đắt nhất, có giá trị biểu trưng cao nhất
Trang 20Hàm súc trong thơ nghĩa là phải chính xác, giàu hình tượng, có tính truyền cảm và thể hiện cá tính của người nghệ sỹ Chẳng hạn, từ “khô” trong
câu thơ của Tản Đà “Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày” là một từ có
tính hàm súc cao mà những yếu tố tương đương với nó (như “tuôn”) không thể thay thế Nó không chỉ diễn tả tình cảm còn gọi lên cả chiều dài của những tháng năm chờ đợi.Nó vừa đảm bảo tính chính xác, tính hình tượng và
có tính truyền cảm
Để đạt được tính hàm súc cao nhất, có thể biểu hiện được cái vô tận của cuộc sống trong những cái hữu hạn của đơn vị ngôn ngữ, thơ ca phải tính đến
kiểu tố chức đặc biệt mà nhà nghiên cứu Phan Ngọc gọi là kiểu tổ chức “quái
đản” Dưới áp lực của cấu trúc ngôn ngữ khác thường này, ngữ nghĩa của từ
trong thơ không dừng lại ở nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa trong từ điển mà mang thêm những nét nghĩa phong phú, sâu sắc và đôi khi rất tinh tế Đó là thứ nghĩa được tạo sinh nhờ quan hệ và trong quan hệ giữa từ ngữ với nhau
Ví dụ, khi tác giả Hồng Nguyên viết “Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau” thì chính trong quan hệ với những yếu tố trước và sau nó mà từ “ đột kích”
được cấp cho một nét nghĩa mới chỉ có trong bài thơ, gợi lên những rung
động thẩm mỹ đặc biệt Hay trong câu thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ “Em đã lấy
tình yêu của mình thắp lên ngọn lửa” thì sự kết hợp bất thường về nghĩa “tình yêu … thắp… lửa” đã mở ra cho người đọc những liên tưởng hết sức thú vị
Trong đời thường, khi nói tới việc “thắp lửa” người ta nghĩ đến phương tiện
như: cái bật lửa, que diêm hay là dùng nguyên liệu như dầu hỏa Ở đây, nhà thơ lại thay nó bằng một chất liệu rất trừu tượng thuộc lĩnh vực tinh thần Và trong quan hệ với chất liệu trừu tượng đó, nghĩa bề mặt của ngọn lửa bị mờ
đi, mở ra những nghĩa mới Đó là chân lý, niềm tin, lý tưởng cuộc đời
Định lượng số tiếng trong thơ cũng là tiền đề tạo ra sự xuất hiện với một mật độ dày đặc các phương tiện nghệ thuật trong thơ so với văn xuôi
Trang 21Nhiều lúc trong một bài thơ, người ta có thể thấy sự xuất hiện cùng một lúc các phương tiện tu từ khác nhau như ẩn dụ, nhân hóa, tượng trưng, điệp từ, điệp ngữ Ví dụ như bài ca dao sau đã đã thể hiện rõ điều đó:
“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yên Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề.”
(Bài ca dao số 4 - Ngữ văn 10- tập 1- trang 83) Bài ca dao ngắn, với số lượng từ không nhiều nhưng bằng các biện pháp tu từ (cách sử dụng ngôn ngữ) đã thể hiện được tâm trạng khắc khoải nhớ mong của nhân vật trữ tình, nó sẽ là ấn tượng không phai mờ trong lòng độc giả
Hay trong bài thơ “Ta đi tới” của nhà thơ Tố Hữu, với biện pháp tu từ
(Tố Hữu, Ta đi tới)
Rồi, cũng bài thơ “Ta đi tới” của nhà thơ Tố Hữu, với biện pháp tu từ
Trang 22hoán dụ đã khắc họa sâu sắc được tâm trạng của nhân vật trữ tình nói riêng,
và tâm trạng của người dân Việt Nam nói chung:
Ta đã lớn lên rồi trong khói lửa
Chúng nó chẳng còn mong được nữa Chặn bàn chân một dân tộc anh hùng
Những bàn chân từ than bụi, lầy bùn
Đã bước dưới mặt trời cách mạng
(Tố Hữu, Ta đi tới)
Thứ ba, ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm Tính truyền cảm cũng là đặc
trưng chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, bởi tác phẩm văn học
là sản phẩm thể hiện của cảm xúc của người nghệ sỹ trước cảnh đời, cảnh người, trước thiên nhiên Cho nên, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện được cảm xúc của tác giả và phải truyền được cảm xúc của tác giả đến người đọc, khơi dậy trong lòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ theo cách của họ Tuy nhiên, do đặc trưng của thơ là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, trái tim nên ngôn ngữ thơ ca có tác dụng gợi cảm đặc biệt hơn
Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ ưu tiên chú trọng miêu tả cái khách quan như ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự Nếu nhà văn dùng ngôn ngữ
để thuyết minh, miêu tả, nhắn nhủ, giải thích thì thay vào đó nhà thơ dùng ngôn ngữ chủ yếu để truyền cảm Khi Quang Dũng viết:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
(Quang Dũng,Tây Tiến)
Quang Dũng không có ý hỏi ai lên Châu Mộc trong buổi chiều sương nào đó có nhìn thấy phong cảnh hữu tình không mà tác giả khơi trong ta nỗi
Trang 23nhớ thương mất mát , nuối tiếc ngậm ngùi, những ngày tháng, những kỉ niệm, những ảo ảnh đã tan biến trong đời Quang Dũng đã gợi trong ta một trạng thái tâm lý liên tưởng bằng cách hồi sinh những gì đã mất, đồng thời phản ánh tâm trạng của chính mình
Lời thơ thường là lời đánh giá trực tiếp thể hiện quan hệ chủ thể với cuộc đời Là lời đánh giá trực tiếp, thể hiện tâm trạng cho nên sự lựa chon từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán, ca ngơi trở nên nổi bật:
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều”
(Nguyễn Đình Thi, Đất nước)
Ở đây, mỗi câu thơ như đều mang một từ tập trung sức nặng của tình cảm Những tập từ đó như là những tiêu điểm để ta nhìn thấu vào tâm hồn tác giả Tính truyền cảm của ngôn ngữ không chỉ biểu hiện qua cách lựa chọn từ ngữ, các phương thức tu từ mà còn biểu hiện qua nhạc điệu của thơ Chẳng hạn như hai câu thơ:
“ Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn”
(Tố Hữu, Em ơi Ba Lan)
Sự tập trung dày đặc các nguyên âm có độ mở rông và phụ âm mũi vang khiến câu thơ nghe giàu tính nhạc, ngân dài như âm vang của sóng biển
vỗ bờ Nhạc tính đó không đơn thuần chỉ là sự ngân nga của ngôn ngữ mà chính là khúc nhạc hát lên trong lòng người đọc
Tóm lại, thơ là một hình thái nghệ thuật ngôn từ đặc biệt cao quý, tinh
vi và sáng tạo của văn học nghệ thuật Vì vậy, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật Nó là thứ ngôn ngữ trước hết vừa mang đầy đủ thuộc tính của ngôn ngữ cộng đồng vừa mang đặc trưng chung của văn học nghệ thuật Nhưng nó là thứ ngôn ngữ văn học nghệ thuật đặc biệt, theo đó vừa
Trang 24chứa đựng tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, vừa có tính tạo hình và tính biểu cảm cao Tuy nhiên ở mỗi loại tác phẩm thơ khác nhau, những đặc điểm ấy lại biểu hiện dưới những sắc thái và mức độ khác nhau
1.1.2 Cách hiểu về thơ lục bát
Lục bát là thể thơ dân tộc mang đậm bản sắc và phong vị quê hương Thơ lục bát rất dễ thuộc và dễ nhớ vì lời thơ giản dị, mộc mạc, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường Câu thơ đọc lên mà cứ ngỡ là câu hát hay một bản nhạc, vừa có vần vừa có điệu nghe rất thanh thoát và êm tai
Có nhiều câu lục bát đã đi vào lòng người như một lời ru:
Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
(Ca dao)
Đó còn là hình ảnh của đôi thanh niên nam nữ trong buổi đầu làm quen:
Gặp đây mận mới hỏi đào, Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ? Mận hỏi thì đào xin thưa, Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
(Ca dao)
Trong quyển "Từ điển Thuật ngữ Văn học" thì định nghĩa về lục bát như sau: "Lục bát là thể thơ câu trên sáu chữ, câu dưới tám chữ" Riêng ở quyển "Từ điển Văn học", tác giả Phương Lựu lại khẳng định như sau: "Đây
là một thể thơ cách luật cổ điển thuần tuý Việt Nam"
Còn ý kiến về thơ lục bát của Phương Lựu - Trần Đình Sử - Nguyễn Xuân Nam - Lê Ngọc Trà - La Khắc Hòa - Thành Thế Thái Bình trong quyển
"Lí luận văn học" như một định nghĩa ngắn gọn, dễ hiểu và đầy đủ "Lục bát là
Trang 25thể thơ cứ một dòng sáu chữ tiếp đến một dòng tám chữ Thơ dài bao nhiêu cũng được miễn là dừng lại ở dòng tám Đó là thể thơ quen thuộc của dân tộc mang cốt cách thuần túy Việt Nam Chữ cuối của dòng sáu hiệp vần với chữ thứ sáu của dòng tám Chữ cuối của dòng tám lại hiệp vần với chữ cuối của dòng sáu dưới Như thế ngoài vần chân (cước vận)có cả hai dòng sáu và tám, lại có vần lưng (yêu vận) ở dòng tám Cứ hiệp vần như thế cho đến hết bài ".[24 - tr.451]
Nhìn chung, những khái niệm về thơ lục bát trên đây là tương đối thống nhất với nhau Vì thế đã có thể giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về thể thơ lục bát để từ đó góp phần nhận diện về lục bát một cách sâu sắc và rõ ràng hơn
1.1.3 Thơ lục bát là một thể thơ đặc trưng của tiếng Việt
Thông thường mỗi dân tộc đều có một thể thơ đặc trưng (tương hợp lớn nhất với tiếng nói của chính cộng đồng ấy) Lục bát chính là thể thơ đặc trưng cho nền thơ ca tiếng Việt Chính vì vậy, người luyện đan chữ nghĩa – Nguyễn
Tuân đã từng nói rằng, làm cho tôi món luộc tôi sẽ cho anh biết thịt hàng anh
như thế nào và cho tôi xin một ít lục bát, tôi sẽ thưa anh có phải nhà thơ thứ thiệt hay không Tại sao lấy thơ lục bát mà không phải thể thơ nào khác để sát
hạch tay nghề của các nghệ sĩ ngôn từ? Bởi vì ở Việt Nam, văn học dân gian
có vị trí và vai trò rất quan trọng Trong những năm Bắc thuộc và ở thời kỳ dân tộc chưa có chữ viết hoặc chữ viết chưa phổ cập, nó có đóng góp lớn trong việc phát triển ngôn ngữ dân tộc, thể hiện và nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân Tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc của văn học dân gian từ nội dung tới hình thức đã có tác động lớn tới sự hình thành và phát triển của văn học viết Trong mười hai thể loại của văn học dân gian Việt Nam thì ca dao là thể loại phong phú, đa dạng cả về số lượng, nội dung, chủ đề, đề tài Nó đã được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, văn học, ngôn ngữ học tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá, phát hiện cái hay, cái đẹp Trong thực tế nhiều giá trị nội dung như
Trang 26lí tưởng xã hội, đạo đức truyền thống được ẩn chứa trong hình thức ngắn gọn,
có vần, dễ nhớ nên đi sâu vào lòng người
Ngay từ thời thơ ấu, ca dao đã gắn với cuộc đời của mỗi chúng ta Ca dao Việt Nam là kho tàng vô giá, làm giàu thêm tiếng Mẹ đẻ cho nên ca dao
là loại hình nghệ thuật ngôn từ được nhiều người tìm hiểu, là nguồn tài liệu vô cùng quý giá được khai thác từ nhiều khía cạnh Trong ca dao, dạng thức thơ lục bát là một kiểu loại điển hình Nó thể hiện được đặc trưng của tiếng Việt
là thứ ngôn ngữ âm tiết tính mà mỗi âm tiết có thể có tới sáu cung bậc tương ứng với sáu thanh điệu
Dạng thức văn hóa dân gian đặc trưng này cũng đã ảnh hưởng đến sự sáng tác của các nhà thơ được ghi danh Phải chăng các thuộc tính tiêu biểu của tiếng Việt được dung dưỡng trong thể thơ này, cho nên đã là nhà thơ thì không thể không thành thạo và nắm bắt được những tinh hoa của ngôn ngữ
mẹ đẻ kết tinh trong một thể loại thơ ca đặc sắc nhất của dân tộc Vốn là một thể thơ bình dân, ra đời từ rất sớm, thoát thai từ ca dao là những giai điệu đồng quê đã được tinh luyện đến độ tinh khiết, lục bát đã không ngừng phát triển để tồn tại, chiếm lĩnh cảm thức thi ca chính thống và khẳng định vị trí không thể thay thế của mình trong nền thi ca dân tộc Giữa các thể loại thi ca, lục bát đứng ở vị trí trung tâm của thi hứng Một thể loại thơ để có được sự trường cửu của mình, cần phải có tính đại chúng, được đại chúng chấp nhận, nuôi dưỡng và bồi đắp tinh thần của cộng đồng Để chiếm được vị trí quan trọng như thế, thơ lục bát phải và đã đạt đến độ sử dụng ngôn ngữ ở trình độ tinh hoa Với sự phù hợp ở mức độ cao nhất về cấu trúc ngôn ngữ, nhạc tính
và nội dung biểu hiện, lục bát đáp ứng trọn vẹn yêu cầu đó Từ nền tảng vững chắc của ca dao đã được hình thành và thanh lọc qua hàng ngàn năm, đến nay lục bát đã trở nên phong phú và đa dạng nhờ những đóng góp của các tác giả tên tuổi như Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn
Trang 27Duy và hàng loạt tác giả trẻ khác Khi một thể thơ đồng hành cùng với tiến trình lịch sử - văn hóa dân tộc thì nó cũng đồng thời trở thành một giá trị văn hóa có tính ổn định và được xem như là thực chứng cho sự tồn tại hay tiêu vong của cộng đồng dân tộc ấy Vì vậy, phát triển lục bát là trau dồi bản sắc
và phát triển văn hóa Việt Nam Thực tế thời gian đã bào mòn một số lượng khổng lồ ca dao về mặt hình thức âm thanh và ý nghĩa để nó trở thành những câu thơ sáu - tám trong sáng như những viên ngọc quý, một món quà đặc biệt
mà Thượng đế đã trao cho tiếng Việt
Trong một chừng mực nhất định, những đặc trưng ngôn ngữ của một thể loại thơ ca thể hiện tập trung nhất đặc điểm tâm lí – thẩm mỹ của đời sống tinh thần dân tộc Thể thơ không phải là kết quả của một tác động cơ học mà
là một quá trình chọn lọc tự nhiên cảm xúc con người trước hiện thực Thơ
lục bát là một trong những biểu tượng văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thi ca và đời sống tinh thần dân tộc Trong nhiều chuyên luận nghiên
cứu về thơ Việt Nam, các kết luận đều nhất trí cho rằng sự chọn lọc tự nhiên
đã kết tinh thơ Việt ở những thể từ 5 đến 8 tiếng Điều này không còn phải
bàn cãi Vậy thơ lục bát nằm ở vị trí nào trong chuỗi những thể loại đã có rất nhiều kiến giải ấy Những nhận định có giá trị thường xuất phát từ việc xem xét thể thơ này từ phương diện nguồn gốc và cách thức sản sinh Nhưng như thế vẫn chưa đủ sức thuyết phục chúng ta Nếu chỉ căn cứ vào mặt cấu trúc ngôn ngữ và nhạc điệu thì trong một cặp dòng (lục và bát), sự phân bố thanh
điệu, hiệp vần, ngắt nhịp một cách hài hòa đã hàm chứa các tham số của
quá trình chọn lọc tự nhiên kia Vì vậy có thể khẳng định một cách chắc chắn
rằng, lục bát là thể thơ thuần túy Việt Nam, là thể thơ đặc trưng của tiếng
Việt Dân tộc ta có thể tự hào về thơ lục bát như người Trung Hoa tự hào về
thơ Đường Câu thơ Sáu – Tám thuần Việt đã được thử thách qua thời gian và
nó đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình Là nhịp thở giống nòi, lục bát
Trang 28được dùng để ví, để hát ru, hát giao duyên hay để ngâm để đọc Lục bát quyện chặt vào đời sống tinh thần của người Việt Đây là một thể thơ song hành với sự phát triển của ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam cần phải được nghiên cứu một cách đầy đủ, để từ đó tôn vinh và giúp cho nó trường tồn, đông hành cùng dân tộc Thơ lục bát được các thế hệ văn nghệ sĩ quan tâm từ rất sớm Đặc biệt từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, tiếng Việt
có một vị trí xứng đáng, cộng với sự thuận tiện trong ghi âm tiết của chữ quốc ngữ đối với một ngôn ngữ đơn lập đã dấy lên một phong trào sưu tầm, biên soạn, sáng tác và thi thơ lục bát Tố Hữu – một con người của thời kì đầu cách mạng, là tác giả của rất nhiều bài lục bát hay, bài Việt Bắc là một minh chứng
về thành công của ông:
Mình về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuối từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
(Tố Hữu, Việt Bắc)
Là trung tâm của thi hứng (được gọi là linh hồn dân tộc), hiện nay lục bát tiếp tục trở thành đối tượng nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu Nhiều người cho rằng thể loại thơ ca này chỉ phát triển rực rỡ trong văn học dân gian, đến khi Truyện Kiều ra đời thì nó đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử và nhường chỗ cho những thể loại thơ ca khác Trên thực tế,
Trang 29thành tưu lục bát hiện đại tiếp tục đạt được những đỉnh cao mới và trở thành niềm tự hào của cả một dân tộc và nó, như cách nói của Nguyễn Tuân, luôn
luôn là thước đo để biết ai đó có phải nhà thơ tiếng Việt thứ thiệt hay không
1.2 Những đặc điểm chính của thơ lục bát
1.2.1 Tiếng và câu trong thơ lục bát
Theo cách gọi của ngôn ngữ học thì tiếng cũng là âm tiết Đây là đơn vị
ngữ pháp ngữ nghĩa cơ cở của tiếng Việt Thơ lục bát có đơn vị cơ bản là một
tổ hợp gồm hai câu, trong đó câu đầu là sáu tiếng và câu tiếp theo là tám
tiếng Vì thế, nói đến thơ lục bát tiếng Việt là nói đến đơn vị tiếng
Trong một bài thơ lục bát, số lượng câu dài ngắn không hạn định Nhưng một bài thơ lục bát ít nhất phải có một đơn vị cơ bản gồm hai câu, một
câu lục và một câu bát kết hợp lại với nhau Còn một bài thơ lục bát dài đôi
khi có đến hàng ngàn câu
1.2.2 Gieo vần (cách hiệp vần) trong thơ lục bát
- Thơ lục bát có cách gieo vần là hai dòng lục bát hiệp theo vần lưng
Tức là, tiếng thứ sáu của dòng lục (dòng thứ nhất trong đơn vị cơ bản) bên trên hiệp vần với tiếng thứ sáu của dòng bát (dòng thứ nhất trong đơn vị cơ bản) bên dưới
- Nếu tiếp tục có những đơn vị cơ bản nối theo thì tiếng cuối của câu bát bên trên lại hiệp vần với tiếng cuối của câu lục kế tiếp mà người ta gọi là cách hiệp vần chân Ví dụ:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
(Việt Bắc - Tố Hữu)
- Ngoài thể thơ lục bát nguyên thể như vừa mô tả ở trên, còn có thể thơ lục bát biến thể; theo đó người ta có thể thêm bớt một số tiếng hoặc xê dịch về cách hiệp vần, cách phối thanh Ví dụ:
Trang 30Cơm ăn mỗi bữa lưng lưng Uống nước cầm chừng, để dạ thương em Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua
(Ca dao)
Khi đề cập đến cấu trúc của thể loại lục bát, Mã Giang Lân nhấn mạnh đến yếu tố vần trong thơ lục bát: bao giờ cũng là vần bằng, tạo cho câu thơ có thế nhịp nhàng, uyển chuyển Theo ông, cách gieo vần phổ biến nhất là: tiếng thứ 6 trong câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát và tiếng thứ 8 trong câu bát vần với tiếng thứ 6 của câu lục kế tiếp:
1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6 7 8
1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6 7 8 Lối gieo vần này được thể hiện điển hình trong những vần thơ lục bát
có chủ hay nội dung nói về tình cảm:
Chồng sang vợ được đi giày,
Vợ ngoan chồng được tối ngày cậy trông
Trai khôn kén vợ chợ đông, Gái khôn kén chồng giữa chốn ba quân
(Ca dao) Hoặc:
Nhà em cách một quả đồi, Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng
Nhà em xa cách quá chừng,
Em van anh đấy anh đừng thương em
(Nguyễn Bính, Xa cách)
Trang 31Vẫn là lối gieo vần quen thuộc nhưng đôi khi người ta vẫn thấy có một vài trường hợp hợp vần ngoại lệ Chẳng hạn như tiếng thứ 6 ở câu lục vần với tiếng thứ 4 của câu bát theo trật tự như sau:
1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6 7 8
Trường hợp ngoại lệ này có thể thấy trong câu sau đây:
Núi cao chi lắm núi ơi, Che khuất mặt trời chẳng thấy người thương
(Ca dao) Hay như câu :
Tò vò mà nuôi con nhện, Ngày sau nó lớn, nó quện nhau đi"
(Ca dao)
Trong cách gieo vần truyền thống của thơ lục bát, ở câu 8 tiếng tuy
tiếng thứ sáu (hay tiếng thứ tư ở trường hợp ngoại lệ) và tiếng thứ tám đều là thanh có đường nét bằng cả nhưng không được gjống nhau mà phải là, chẳng hạn, một tiếng là thanh huyền, một tiếng phải là thanh không dấu Tức là nếu
tiếng thứ sáu là thanh huyền (\) thì tiếng thứ tám phải là thanh không dấu
Nguyên tắc gieo vần mà chúng tôi vừa mô tả ở trên là đặc điểm giữ vai quan trọng của thơ lục bát
1.2.3 Phối thanh và ngắt nhịp trong thơ lục bát
Trang 32Phối thanh là một kỹ thuật không thể thiếu trong thơ lục bát Đây là
một kỹ thuật dùng sự phối hợp thanh điệu để tạo ra âm điệu (nhạc điệu) cho thơ lục bát Cụ thể:
- Trong hai câu trong một đơn vị cơ bản, sự phối thanh phải thực hiện
theo “nguyên tắc” tiếng thứ hai thanh bằng (thanh huyền, thanh không dấu), tiếng thứ tư thanh trắc (thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng), tiếng thứ
sáu và tám là thanh bằng Các tiếng ở vị trí số lẻ thì thanh điệu tự do (có thể
thanh bằng hoặc thanh trắc) Ví dụ:
Bần thần hương huệ thơm đêm
(Nguyễn Duy - Mẹ và em)
Thân em như củ ấu gai, Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
(Ca dao) Hay:
Trải qua bao cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
(Nguyễn Du - Truyện Kiều )
-Tuy nhiên, trong trường hợp nếu có hiện tượng tiểu đối ở câu lục thì luật phối thanh bằng trắc vừa mô tả ở trên có thể thay đổi.Ví dụ:
Trang 33Khi tựa gối, khi cúi đầu
Vì mây / cho núi / lên trời
Vì chưng / gió thổi / hoa cười / với trăng
Gió sao / gió mát / sau lưng
Dạ sao / dạ nhớ / người dưng / thế này?
(Ca dao) Tuy nhiên, nhịp thơ lục bát cũng có thể được biến đổi linh hoạt để tạo
ra dự đa dạng của kỹ thuật này và đó chính là sự thể hiện tài năng của tác giả các bài thơ lục bát Thế nhưng trong thực tế, sự biến đổi linh hoạt không phải bao giờ cũng là việc dễ làm Ví dụ:
Dễ dàng / là thói / hồng nhan Càng / cay nghiệt lắm / càng / oan trái nhiều
(Nguyễn Du - Truyện Kiều )
Như vậy, thể thơ lục bát với những đặc điểm chính vừa được phản ánh
ở trên là sự đúc kết kỹ thuật sáng tạo của người Việt dựa trên khả năng sử dụng tinh hoa ngôn ngữ tiếng Việt Với cách gieo vần, phối thanh, ngắt nhịp phong phú và đa dạng, thơ lục bát dồi dào khả năng diễn tả, diễn cảm để phản ánh đời sống tinh thần đa dạng của người Việt
1.3 Tiến trình lịch sử của thể loại thơ lục bát
1.3.1 Tính thuần Việt của thơ lục bát
Trang 34Các thể loại khác nhau của văn học Việt Nam như thơ Đường, Chiếu,
biểu, hịch, cáo, văn tế đều có nguồn gốc hoặc vay mượn từ văn học Trung
Quốc Vậy lục bát vay mượn hoàn toàn hay thuần túy của dân tộc Việt Nam?
Đã có nhiều học giả, nhiều nhà biên khảo tìm cách làm sáng tỏ để trả lời cho
câu hỏi này Ngay từ thế kỷ XIX, Phạm Đình Toái đã khẳng định “ lục bát là
thể văn tuyệt diệu của ta” Sang thế kỷ XX, các cụ Bùi Kỉ, Dương Quảng
Hàm đều trả lời đó là lối “văn riêng của ta mà tàu không có” Giáo trình Lí
luận văn học cũng khẳng định “Lục bát là thể thơ quen thuộc của dân tộc
mang cốt cách thuần túy Việt Nam” [24 - tr 451]
Đến công trình nghiên cứu Lục bát và song thất lục bát của Phan Diễm
Phương, với các cơ sở khoa học, lịch sử - xã hội như đặc điểm ngữ âm tiếng Việt và xu hướng thẩm mĩ mang tính chất tâm lí - xã hội riêng của dân tộc mình trong việc xây dựng âm luật thơ ca, nhất là sử dụng vần và nhịp, thì chúng ta có thể khẳng định lục bát là thể thơ hoàn toàn của dân tộc được hình thành trên những điều kiện cụ thể từ những đặc trưng ưu việt riêng của tiếng
ta và những đặc điểm mĩ cảm, văn hóa truyền thống của người Việt
Và sự khẳng định nói trên về tính thuần Việt của thơ lục bát còn có thể
nhận thấy khi chúng ta theo dõi tiến trình lịch sử của thể loại mà chúng ta sẽ theo dõi ở những tiểu mục dưới đây
1.3.2 Lục bát trong ca dao
Theo thống kê của nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian thì có đến trên 90% ca dao, dân ca là thể thơ lục bát Do đó, cũng có thể xem ca dao dân
ca chính là "cái nôi" của thể thơ lục bát và nó có tuổi đời tính đến nay có thể
là hàng nghìn năm Ở cái tuổi "nằm nôi" này lục bát có những đặc điểm rất
riêng của nó Có lẽ vì ra đời trong môi trường truyền miệng và lại đồng hành cùng với nhiều hình thức diễn xướng dân gian khác nên lục bát dân gian có khá nhiều dạng thức hay biến thể Đó rất có thể là dấu tích của sự chưa định
Trang 35hình hay là sự tương tác qua lại lẫn nhau giữa thơ và các hình thức diễn xướng khác
Tuy đại bộ phân ca dao đã là câu trên 6 tiếng câu dưới 8 tiếng nhưng
khả năng mở rộng dung lượng câu của lục bát dân gian cũng khá lớn Có
những câu vẫn tồn tại ở cả hai dạng, rất có thể nguyên dạng chúng là một cặp
lục bát trên 6 dưới 8 điển hình như "Yêu nhau mấy núi cũng trèo / Mấy sông
cũng lội mấy đèo cũng qua"; nhưng ở dạng biến thể, chúng lại thành một cặp
“lục bát” trên 7 dưới 11 hoặc 13 là "Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo / Ngũ lục
sông cũng lội thất bát (cửu thập lục) đèo cũng qua" Với hai biến thể này,
căn cứ vào từ ngữ dùng trong câu, người ta nghiêng về cách hiểu biến thể sau
là cách thức thêm giặm vào biến thể thứ nhất
Như đã nói ở cách gieo vần, lục bát dân gian có trong ca dao cũng có 2
dạng biến thể Dạng biến thể vần bằng thì thay đổi vị trí tiếng mang vần của câu tám từ tiếng thứ 6 lên tiếng thứ 4 Ở vị trí này, tiếng mang vần nhất
thiết phải mang thanh huyền (trầm bình thanh) và để tương thích với nó các tiếng thứ 8 bắt buộc phải mang thanh không dấu (phù bình thanh) Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng dạng biến thể này khá phổ biến trong lục bát dân gian Ví dụ:
- Con cò mà đi ăn đêm
Đỗ phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông sẽ sáo măng
Còn dạng biến thể vần trắc ít gặp hơn, nhất là ở hình thức nguyên dạng
thì lại càng hiếm thấy Người chỉ có thể nêu ra một vài ví dụ như:
-Tò vò mà nuôi con nhện
Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi
Trang 36Tò vò ngồi khóc tỉ ti Nhện ơi nhện hỡi nhện đi đằng nào
Lí do chính khiến cho lục bát dân gian chưa ổn định và nhiều biến thể
có lẽ chỉ là vì nó được sáng tác và lưu truyền trong không gian truyền miệng Người sáng tác cũng thường là ứng tác rồi xuất khẩu thành chương Có khi lại
là xuất khẩu thành chương trong một lần hát đúm, hát ví, hát phường vải, hát trống quân v.v Nếu là những câu hay, có giá trị thì nó sẽ được nhập tâm vào những người nghe nó Có dịp thì những người nghe và thuộc nó lại đọc lại hoặc diễn lại ở một nơi khác cho nhiều người khác cùng nghe Cứ thế mà những câu lục bát dân gian được lưu truyền trong xã hôi và luôn luôn sống ở trong lòng người đọc Cho nên có thể nói ở một chừng mực nào đó lục bát dân gian có đặc điểm là tự do và linh hoạt
1.3.3 Lục bát trong văn học trung đại
1.3.3.1 Từ thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII
Mãi đến thế kỷ XV, tiếng Việt mới có chữ viết nên chỉ có thể nói về hiện tượng này từ thời điểm này Xét về cấu trúc âm luật, do là đang ở giai đoạn hình thành, khởi sự của văn học viết nên lục bát còn linh hoạt trong phối điệu, ngay vần là yếu tố quan trọng bậc nhất của lục bát cũng còn ở thế
“lưỡng khả” câu bát Khi thì người ta gieo vần ở tiếng thứ 6, khi thì ở tiếng thứ 4, thậm chí có khi cả ở tiếng thứ 2 Và có khi không phải là vần bằng mà
là vần trắc
Xét về chức năng biểu đạt và qui mô thì nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng thực ra ở giai đoạn này chức năng riêng của thể loại chưa được xác định
rõ ràng Bấy giờ nó chỉ nằm trong ý nghĩa chung cùng thể song thất lục bát là
đã “cung cấp được những phương tiện biểu đạt không quá gò bó, chặt chẽ
như thơ cách luật chữ Hán, vừa phù hợp với cảm thức âm thanh của người Việt, vừa đáp ứng yêu cầu của nhà thơ muốn bộc lộ không hạn chế những
Trang 37cảm xúc của mình trước thiên nhiên, đất nước, con người, mà kết quả là đã tạo nên những tác phẩm trữ tình tụng ca có dung lượng lớn ” [4 - tr 20]
1.3.3.2 Thời kì nửa cuối thế kỉ XVII đến thế kỷ XIX
Xét về cấu trúc âm luật, ngay từ đầu thời kỳ này (như trong Thiên Nam
ngữ lục) thì chưa có sự tiến bộ rõ rệt Nhưng từ đầu thế kỷ XVIII, với sự ra
đời của truyện thơ thì nó đã có “sự đấu tranh để đi đến một mô hình lục bát mẫu mực, “loại bỏ bớt”, rồi “tiệt tiêu hẳn” lục bát gieo vần ở tiếng thứ 4, do
có sự quyết tâm lựa chọn việc gieo vần ở tiếng thứ 6 (câu bát) Nó còn
“muốn khẳng định tính nguyên tắc trong việc sử dụng thanh điệu vươn tới thống nhất, ổn định về thanh bằng/ trắc cho các tiếng thứ 2,4,6,8 là tiếng chẵn cuối nhịp” [4 - tr 21] Xét về chức năng và qui mô của một “bài” thì từ gần
cuối thế kỉ XVII trở đi tác phẩm Thiên Nam ngữ lục là “dấu hiệu đầu tiên của
việc hình thành chức năng riêng”cho thể lục bát [4 - tr 21] Là diễn ca lịch sử
nhưng “nó vượt qua tính chất một thể văn vần có mục đích truyền bá tư
tưởng’’[4 - tr 21] ; ở đây lịch sử đã được phát triển thành những câu chuyện
nhỏ nối tiếp nhau, nhiều chuyện đã có sự kiện ít nhiều được phát triển và các nhân vật phần nào đã có số phận, nhiều truyện có đầu, có đuôi, có cảnh trí và tình tiết cụ thể.Rõ ràng ở thời kỳ này ngoài khả năng biểu đạt trữ tình Lục bát
còn nhận thêm chức năng kể chuyện và Thiên Nam ngữ lục đã đạt đến mức kỉ
lục ở thể lục bát 8136 câu, chứng minh sức chứa vô hạn và khẳng định khả năng kể chuyện của thể lục bát Từ đầu thế kỷ XVIII, thể lục bát chính thức được đảm nhận chức năng kể chuyện Thế kỷ XVIII - XIX, hàng loạt truyện thơ viết bằng lục bát ra đời với quy mô từ mấy trăm đến mấy ngàn câu,
“chúng đảm bảo diễn tả được một cốt truyện với một hệ thống sự kiện được
phát triển mạch lạc trong mối liên hệ khăng khít, chi tiết cụ thể làm cho câu chuyện trở nên sống động và gọi cảm hơn, nhân vật có tính cách được bộc lộ dần trong không gian và qua biến cố, xung đột cùng mọi chi tiết của đời
Trang 38sống” [4 -tr 21] Như vậy, lục bát cho thể loại truyện thơ tồn tại và phát triển
suốt gần 2 thế kỉ, “tung hoành” rộng rãi trên văn đàn Như thế nó một mặt vừa
khai thác triệt để chức năng chuyên biệt là kể chuyện, mặt khác lại tranh thủ
phát huy thêm chức năng phụ như trữ tình Trong thể loại truyện thơ, Truyện
Kiều của Nguyễn Du được xem là đỉnh cao lí tưởng
Truyện Kiều là một mô hình lục bát chuẩn mực Nói một cách khác, với tác phẩm này, trước hết lục bát lập được một thường thể mẫu mực, đánh dấu sự trưởng thành của thể loại về mặt âm luật Nó dường như xác định địa
vị độc tôn của vần lưng ở tiếng thứ 6 Nhờ đó, nó gần như xóa hết dấu vết của loại lục bát gieo vần tiếng thứ 4 Việc phối thanh hoàn toàn đúng luật, đúng niêm, nhuần nhuyễn, phù hợp với cảm hứng, giọng điệu tạo ra thứ nhạc điệu đặc trưng cho lục bát: êm đềm, nhẹ nhàng, quấn quýt Một thành công trong truyện Kiều là Nguyễn Du đã tạo được tỉ lệ đối ngẫu cao, ví dụ:
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen đua thắm, liễu hờn kém xanh
Xét về chức năng biểu đạt, ở Truyện Kiều thật khó xác định giữa tự sự
và trữ tình cái nào là chính yếu Là truyện thơ, tác phẩm đã tải được hết các
sự kiện, diễn biến cốt truyện, phản ánh được bức tranh xã hội bằng các chi tiết, tình tiết sống động, xây đựng được cả một hệ thống nhân vật phong phú
có số phận trọn vẹn, có cá tính sắc sảo, có nội tâm tinh tế phức tạp chứng minh được khả năng kể chuyện và qui mô của thể loại
Ngoài ra, Truyện Kiều đi sâu vào lòng người đọc Bao thế hệ xưa, Truyện Kiều được người dân Việt coi là cuốn sách gối đầu giường, là người bạn thân hữu Truyện Kiều có được cái giá trị ấy là bởi chất trữ tình sâu đậm
của tác phẩm
1.3.3.3 Nửa sau thế kỉ XIX đến những năm 30 của thế kỉ XX
Xét về âm luật, lục bát thời kỳ này đều đi theo hình mẫu đã được khẳng
Trang 39định chắc chắn trong Truyện Kiều Cuối thế kỉ XIX lục bát xuất hiện trong một số bài diễn ca, vè Thập kỷ đầu của thế kỷ XX, khi truyện, kí, tiểu thuyết bằng văn xuôi tiếng Việt đã xuất hiện “ tác dụng chủ yếu của lục bát đương nhiên là không kể chuyện được nữa Nhưng đã được chuẩn bị từ trước, lục bát chuyển sang nhận chức năng trữ tình làm chức năng chủ yếu của mình” Thể hiện qua thơ ca yêu nước cách mạng với những cảm xúc, suy nghĩ về trạng thái đất nước, ước mơ chấn hưng xã hội Sau đó là những cảm xúc diễn
ra trong tâm hồn con người (Tản Đà, Tương Phố) Giai đoạn này chứng tỏ được khả năng phong phú của lục bát trong việc biểu đạt nội dung của các tác phẩm trữ tình nhỏ
1.3.4 Lục bát trong văn học hiện đại
Trong văn học hiện đại, chúng ta có thể chia ra theo hai thời kỳ Đó là
thời kỳ “phong trào Thơ mới” và thời kỳ từ “năm 1945” đến nay
1.3.3.1 Lục bát trong phong trào Thơ mới (1932-1945)
Hầu như các nhà thơ trong phong trào Thơ mới đều sáng tác lục bát Có
lẽ họ là những tác giả rất yêu thích thơ lục bát Sáng tác sau đây của Huy Cận
rõ ràng là nhuần nhuyễn cao độ về thơ lục bát:
Nắng chia nửa bãi; chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau
Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây
( Huy Cận, Ngậm ngùi)
Cùng với Huy Cận, Thế Lữ cũng đã đem lại sự mới mẻ cho thể thơ này Ranh giới dòng thơ và đơn vị cú pháp ở bài thơ ông sáng tác không còn trùng khít nữa, biểu hiện ở hai hướng: thứ nhất, dòng thơ nhỏ hơn đơn vị cú pháp trong hiện tượng câu thơ vắt dòng; thứ hai, dòng thơ lớn hơn đơn vị cú pháp trong hiện tượng chấm câu giữa dòng thơ Cặp lục bát thể hiện được hiện tượng trên:
Trang 40Trời cao xanh ngắt Ô kìa Hai con hạc trắng bay về bồng lai
(Tiếng sáo thiên thai- Thế Lữ)
Đặc biệt là Trần Huyền Trân hay Vũ Hoàng Chương, trong hình hài câu thơ lục bát của các ông, cách tổ chức dòng thơ có nhiều cách tân lạ mắt
Đó là sự cắt chia các dòng thơ thành nhiều dòng chữ, xếp bậc thang hay đến
ba câu lục mới hợp với một câu bát:
Đường xa ư cụ?
Quản chi
Đi gần hạnh phúc là đi xa đường
(Uống rượu với Tản Đà - Trần Huyền Trân)
Bẽ bàng, lá vẫn theo bên, Tình si, lá vẫn theo bên, Thuyền trôi vẫn quyến sao đêm, Hào quang vẫn ngủ êm đềm trong mơ
(Tình si - Vũ Hoàng Chương)
Như vậy, lục bát trong Thơ mới 1932-1945 đã khai thác triệt để, đa dạng chức năng thể loại nhằm thể hiện những cung bậc cảm xúc, những trạng thái tâm hồn phong phú, tinh vi phù hợp với những “hồn thơ” mới
1.3.4.2 Lục bát từ 1945 đến nay
Về chức năng biểu đạt, chúng ta có thể nhận thấy lục bát giai đoạn từ
1945 đến nay, bên cạnh dòng trữ tình có một số tác phẩm thể hiện chức năng
kể chuyện để biểu dương vẻ đẹp của những con người bình dị mà cao cả trong điều kiện xã hội mới Trong khi đó, nếu như ở giai đoạn trước đây điểm nhấn của lục bát thường nói về nỗi đau thân phận cá nhân thì ở giai đoạn này nó lại vút lên âm hưởng hùng tráng sử thi phản ánh hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ của dân tộc: