1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn

193 521 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chọn nghiên cứu đề tài “Lục bát và ngôn ngữ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn”, chúng tôi mong muốn được đưa ra một cách nhìn đầy đủ hơn, hệ thống hơn mối tương quan biện chứng giữa hình th

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Học viên

Trần Thị Thúy Liễu

Trang 3

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các phụ lục

Danh mục sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ LỤC BÁT, THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 7

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn 7

1.2 Các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài 15

1.3 Tiểu kết 37

Chương 2: VẦN VÀ NHỊP TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN 39

2.1 Vần trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 39

2.2 Nhịp điệu trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 69

2.3 Tiểu kết 82

Chương 3: LUẬT PHỐI THANH TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN 83

3.1 Dẫn nhập 83

3.2 Luật phối thanh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 85

3.3 Luật phối thanh trong lục bát truyền thống và trong lục bát Đồng Đức Bốn 108

3.4 Tiểu kết 113

Chương 4: CẤU TỨ VÀ NGÔN TỪ - MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC TẠO NGHĨA TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN 115

4.1 Cấu tứ và ngôn từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 115

4.2 Một số biện pháp tu từ từ vựng ngữ nghĩa và cỳ phỏp trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 127

4.3 Tiểu kết 144

KẾT LUẬN 146

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

2.1: Các loại vần xét theo vị trí của tiếng hiệp vần 40

2.2: Các loại vần xét theo âm vực thanh điệu 43

2.3: So sánh các kiểu cặp vần trong loại vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn với các kiểu vần trong âm tiết tiếng Việt 46

2.4: So sánh các kiểu nguyên âm chính trong vần chính lục bát ĐĐB với các kiểu nguyên âm chính trong âm tiết tiếng Việt 46

2.5: So sánh các kiểu nguyên âm chính (nguyên âm đôi) trong vần chính lục bát ĐĐB với các kiểu nguyên âm chính (nguyên âm đôi) trong âm tiết tiếng Việt 47

2.6: So sánh các âm chính (là nguyên âm đôi) trong vần chính lục bát ĐĐB với âm chính là nguyên âm đơn trong vần âm tiết tiếng Việt 47

2.7: So sánh các âm chính hiệp vần mở trong loại vần chính thơ lục bát ĐĐB 48

2.8: So sánh âm chính hiệp vần nửa mở trong loại vần chính thơ lục bát ĐĐB với các âm chính vần nửa mở trong âm tiết tiếng Việt 49

2.9: So sánh âm chính hiệp vần nửa khép trong vần chính thơ lục bát ĐĐB với âm chính trong vần âm tiết tiếng Việt 49

2.10: So sánh âm cuối kết hợp với âm chính trong âm tiết tiếng Việt và các âm cuối tham gia các vần chính của thơ lục bát ĐĐB 49

2.11: So sánh giữa kiểu vần trong vần chính thơ lục bát ĐĐB với kiểu vần trong âm tiết tiếng Việt 51

2.12: So sánh kiểu cặp vần thông lục bát ĐĐB với vần âm tiết 54

213: So sánh giữa kiểu vần trong vần thông lục bát ĐĐB và kiểu vần trong âm tiết tiếng Việt 55

2.14 : Hiệp vần thông của các âm chính 55

2.15 : Hiệp vần thông của các nguyên âm- âm chính cùng dòng 56

2.16 : Hiệp vần thông của các âm chính giống nhau 57

2.17 : Hiệp vần thông của các nguyên âm- âm chính cùng độ mở 57

2.18 : Hiệp vần thông của các nguyên âm- âm chính không cùng dòng không cùng độ mở 58

2.19: Hiệp vần thông của các âm cuối 58

2.20: Các loại vần trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn xét theo mức độ hoà âm 62

Trang 6

2.21: So sánh kiểu vần trong thơ lục bát với kiểu vần âm tiết 62

2.2.2: So sánh kiểu vần thơ lục bát Đồng Đức Bốn và vần âm tiết tiếng Việt 62

3.1: Mô hình lý tưởng luật phối thanh truyền thống 86

3.2: Phối thanh tiếng thứ ba trong câu lục 88

3.3: Phối thanh tiếng thứ tư trong câu lục 89

4.1: thống kê từ và chữ 124

4.2: Mô hình cấu trúc so sánh tu từ 129

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ

1.1 Mô hình vần thơ trong thể thơ lục bát truyền thống 31

3.1 Phân bước dòng thơ, bậc bước thơ, bậc vị trí 84

3.2 Sơ đồ luân phiên thanh điệu theo tiếng chính 84

3.3 Sắp đặt tiếng bằng, tiếng chắc theo âm luật 85

3.4 Sự phân bố bằng chắc ở vị trí tam, ngũ, thất 91

3.5 Sự phân bố bằng chắc ở vị trí nhất, tam, ngũ, thất 92

Trang 8

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

2.1: Phân loại vần trong âm tiết tiếng Việt

2.2: Phân loại khuôn vần âm tiết tiếng Việt theo kiểu kết thúc của vần

2.3: Các kiểu nguyên âm chính trong vần âm tiết tiếng Việt

2.4: Thống kê các loại nhịp trong câu lục, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.5: Thống kê các loại nhịp trong câu bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.6: Thống kê các loại nhịp trong cặp câu lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.7: Phối thanh trong câu lục, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.8: Phối thanh trong câu bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.9: Phối thanh trong cặp lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.10: Thống kê các câu lục lệch chuẩn trong truyện Kiều của Nguyễn Du Tổng cộng: 10 phần phụ lục

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Lục bát là thể thơ rất gần gũi, quen thuộc với mọi người dân Việt Nam Một nhà thơ chọn thể thơ này nghĩa là chấp nhận một thử thách về tài năng và năng lực tìm tòi cái mới trong tư duy thơ Đồng Đức Bốn là một nhà thơ lục bát chính danh Sự xuất hiện của Đồng Đức Bốn đã đem lại cho thơ lục bát, thơ truyền thống một sức sống mới, góp phần khẳng định giá trị lâu bền của thể loại thơ này trong dòng thơ dân tộc Bằng những tình cảm “ngẩn ngơ, ngây ngất, dại khờ” và bằng giọng điệu nửa quê, nửa tỉnh, Đồng Đức Bốn đã làm mới một thể thơ tưởng như đã cũ Có lẽ không quá lời khi Nguyễn Huy Thiệp viết: Đồng Đức Bốn vị cứu tinh của thơ lục bát [156] Có thể nhận thấy Đồng Đức Bốn làm mới lục bát cổ truyền ở cách ngắt nhịp, dùng từ, hình ảnh giàu chất thơ, Sự hiện đại của lục bát Đồng Đức Bốn còn là ở nội lực bên trong của từng câu thơ, bài thơ Đã có nhiều nhà nghiên cứu cùng chung một nhận định: lục bát của Đồng Đức Bốn có một giọng điệu riêng, hiếm và lạ, thực sự chinh phục được người đọc Vậy nên, thơ lục bát Đồng Đức Bốn trở thành một đối tượng nghiên cứu lí tưởng xét từ nhiều góc độ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau, trong đó có cách tiếp cận của ngôn ngữ học

1.2 Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn chính là hơi thở, là điệu tâm hồn của cuộc sống hôm nay Đến với thơ, Đồng Đức Bốn lặng lẽ miệt mài sáng tạo và đã tìm thấy niềm tin yêu cuộc đời theo cách riêng của mình Thể hiện điều đó trong các tác phẩm của mình, Đồng Đức Bốn đã tạo nên một phong cách riêng, một giọng điệu riêng giàu sức ám ảnh trong thơ mà đặc biệt là thơ lục bát Việt Nam hiện đại Thơ của Đồng Đức Bốn xứng đáng được quan tâm nghiên cứu một cách nghiêm túc, đầy đủ, toàn diện để thấy được đóng góp của thơ ông với nền văn học nước nhà Chính lí do đó đã thúc đẩy chúng tôi đi vào nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát của tác giả Đồng Đức Bốn Từ đó, chúng ta thấy được sự khác biệt, sự tài hoa trong việc sử dụng ngôn ngữ của Đồng Đức Bốn với các nhà thơ khác Đây là một hướng đi cần thiết vừa mang tính chuyên sâu vừa mang tính liên ngành

1.3 Nghiên cứu về thể thơ lục bát hiện nay vẫn còn những khoảng trống có nhu cầu đòi hỏi được nghiên cứu Chọn nghiên cứu đề tài “Lục bát và ngôn ngữ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn”, chúng tôi mong muốn được đưa ra một cách nhìn đầy đủ hơn,

hệ thống hơn mối tương quan biện chứng giữa hình thức và nội dung thể loại thơ lục bát, về gương mặt thơ độc đáo của tác giả Đồng Đức Bốn dưới góc độ ngôn ngữ thơ

ca

Trang 10

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1.2 Không rõ tự bao giờ lục bát ra đời và trở thành âm hưởng chủ đạo của thơ ca dân tộc Dù hiện tại còn nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của thể thơ lục bát nhưng lục bát tồn tại và có sức sống lâu bền nhất trong lịch sử văn học Việt Nam Là thể thơ truyền thống mang hồn của dân tộc, lục bát từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Tuy thế, các bài viết về sự cách tân và hiện đại hóa thơ lục bát thì lẻ tẻ, rải rác còn những công trình nghiên cứu văn học theo hướng loại hình- thể loại dưới góc

độ ngôn ngữ học kể cả hai phương diện lý luận và thực tiễn khảo cứu, nhìn chung, còn ít ỏi và thiếu tính hệ thống Đây là một khó khăn khi tiếp cận, tìm hiểu về thể loại văn học, nhất là các thể loại thơ truyền thống đã từng đạt đến giá trị điển phạm trong văn học trung đại như thể thơ lục bát

2.1.3 Với đề tài “Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn”, luận án tập trung nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát của nhà thơ Đồng Đức Bốn trên cơ sở đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát- một “điểm nóng” của mảng nghiên cứu ngôn ngữ trong tâm điểm thời gian là thế kỷ XXI- thời kỳ diễn ra sự tự do hóa ngôn ngữ thơ nổi bật nhất- để tìm hiểu, khai thác và tìm ra sự trường tồn và sức sống của thơ lục bát trong thời kỳ hội nhập văn hóa sâu rộng của thế kỷ XXI Luận án chọn hướng nghiên cứu

về lục bát và đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát của Đồng Đức Bốn với mục đích trên sẽ góp phần làm rõ mối tương quan biện chứng giữa hình thức và nội dung: chính sự cách tân về hình thức là nhằm thể hiện, phản ánh sự cách tân về nội dung Hướng nghiên cứu này không chỉ để nhận thấy bản chất và sự vận động của thể thơ lục bát

Trang 11

truyền thống mà còn để thấy được diện mạo đặc sắc của thơ Việt Nam hiện đại khi có

sự tham gia của các thể thơ truyền thống

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nêu trên, luận án có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:

Thứ nhất, làm rõ đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát truyền thống và thơ lục bát Đồng

Đức Bốn; Thu thập, thống kê, xác định tần số xuất hiện các loại vần, nhịp, phối thanh trong các bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn

Thứ hai, qua miêu tả và phân tích cách tổ chức vần, nhịp, phối thanh trong thơ lục

bát Đồng Đức Bốn, chỉ ra sự kế thừa và cách tân về hình thức thơ theo khuynh hướng hiện đại hóa thông qua việc so sánh thơ lục bát hiện đại với thơ lục bát truyền thống; Xem xét thanh điệu trong mối quan hệ với vần và nhịp để thấy được sự chi phối của các yếu tố trong việc tổ chức nhạc tính trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Thứ ba, khảo sát việc sử dụng ngôn từ, một số biện pháp tu từ trong thơ lục bát

Đồng Đức Bốn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thơ Đồng Đức Bốn chủ yếu là thơ tự do và thơ lục bát nhưng thành công của ông

là ở thể thơ lục bát Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát của Đồng Đức Bốn trên cơ sở đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát truyền thống

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nói về đặc điểm ngôn ngữ thơ, người ta thường nhắc đến các bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp được tổ chức có tính nghệ thuật Với phạm vi rộng như vậy, luận

án sẽ chỉ giới hạn nghiên cứu, khảo sát trong phạm vi sau:

- Nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ lục bát (tổ chức, mô hình, niêm luật, vần, nhịp, thanh điệu) là chủ yếu nhưng đồng thời cũng đặt việc nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ thơ lục bát trong mối tương quan với thi pháp học ngôn ngữ thơ, phân tích diễn ngôn ngôn ngữ thơ, chức năng ngôn ngữ thơ lục bát…Từ đó có một cách tiếp cận ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn theo hướng ngôn ngữ học rõ ràng hơn

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận án

Đây là một đề tài nghiên cứu ngôn ngữ thơ nên phương pháp nghiên cứu chủ đạo

là một hệ phương pháp của ngôn ngữ học ứng dụng vào việc phân tích để nhận ra các tầng bậc và các mối quan hệ về tổ chức ngôn ngữ bên trong của thể thơ lục bát Đồng Đức Bốn Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 12

- Phương pháp miêu tả: phương pháp này sử dụng miêu tả kết hợp với phân tích

mô hình các bài thơ, mô tả về câu thơ, khổ thơ, bài thơ với phép đối thanh điệu bằng- trắc, âm vực cao- thấp, cách gieo vần, luật niêm, miêu tả các khả năng ngắt nhịp thơ

Đề tài mô tả cấu trúc, mô tả định lượng để có những nghiên cứu định tính về các quan

hệ, phương thức tổ chức và giá trị tạo lập ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: phương pháp này nghiên cứu thơ lục bát trong

mối liên hệ đa chiều giữa thơ với người sáng tác, người tiếp nhận, với ngữ cảnh, môi trường giao tiếp, môi trường tồn tại của thơ lục bát Đây là phương pháp chính, giữ vai trò chủ đạo trong việc khảo sát, phân tích giá trị ngôn từ (từ ngữ, câu, liên kết văn bản) trong một loại văn bản đặc thù là thơ lục bát - một thể thơ độc đáo của Việt Nam

- Phương pháp phân tích định lượng: thực hiện phương pháp thống kê định lượng

để phục vụ việc mô tả, so sánh và bàn luận về các bình diện của ngôn ngữ thơ lục bát

- Phương pháp thống kê: được thực hiện để thống kê số lượng, tỉ lệ phần trăm các

trường hợp xuất hiện và không xuất hiện phép đối thanh điệu bằng trắc ở từng cặp lục bát, bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn và tổng hợp lại, khái quát lên thành các mô hình; Thống kê các hiện tượng gieo vần ở từng cặp lục bát, các bài thơ lục bát (số lượng, tỉ lệ phần trăm, mô hình gieo vần); Thống kê về các cách ngắt nhịp câu thơ: xét cách ngắt nhịp ở câu lục, câu bát, cặp lục bát; đưa ra mô hình các cách ngắt nhịp khác nhau

- Thủ pháp so sánh: được sử dụng để so sánh đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát Đồng

Đức Bốn với thơ lục bát truyền thống (lục bát trong ca dao, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy) để nhận diện cá tính ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn

5 Đóng góp của luận án

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu, khảo sát một cách đầy đủ về thơ lục bát của tác giả Đồng Đức Bốn Vì vậy, luận án có thể có những đóng góp sau:

Thứ nhất, luận án mong muốn đóng góp vào lý luận ngôn ngữ thơ ở chỗ khảo sát

và tìm kiếm ra những đặc điểm, những vấn đề cụ thể, cơ bản của thơ lục bát hiện đại như: Sự biến đổi ngôn ngữ thơ lục bát ở vần, nhịp, hài thanh; Đặc điểm phong cách thơ của tác giả Đồng Đức Bốn, góp phần làm rõ hơn lịch sử ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại Việt Nam: sự cách tân về hình thức nhằm đáp ứng sự phát triển về tư tưởng và sự đổi mới về nội dung

Thứ hai, luận án có những đóng góp mới vào việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát

với lối tiếp cận ngôn ngữ học, hướng tới việc nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ lục bát (tổ chức, mô hình, niêm luật, vần, nhịp, thanh điệu) là chủ yếu nhưng đồng thời

Trang 13

cũng đặt việc nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ thơ lục bát trong mối tương quan với thi pháp học ngôn ngữ thơ, phân tích diễn ngôn ngôn ngữ thơ, chức năng ngôn ngữ thơ…

Thứ ba, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ phủ nhận quan niệm cho rằng: lục bát

được định hình trong ca dao và đến Truyện Kiều thì nó hoàn thành sứ mệnh lịch sử và nhường chỗ cho thể loại thơ khác Từ các kết quả nghiên cứu, luận án giúp người đọc thấy được những đóng góp của Đồng Đức Bốn trong việc làm mới thể thơ lục bát và khẳng định thể thơ lục bát sẽ trường tồn và phát triển không ngừng bởi nó còn tiềm ẩn nhiều điều mới lạ trong thi pháp và sẽ được các thế hệ nhà thơ như Đồng Đức Bốn và các thế hệ tiếp nối khai phá, bồi đắp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Những kết quả nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này giúp góp thêm tư liệu

để chứng minh vào lý luận ngôn ngữ thơ lục bát ở chỗ tìm ra những đặc điểm cụ thể,

cơ bản của thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại, qua đó mở rộng biên độ nhận thức

về phong cách nghệ thuật của Đồng Đức Bốn trong tiến trình đổi mới thơ Việt và ngôn ngữ thi ca tiếng Việt

6.2 Những kết quả nghiên cứu là những phân tích, đánh giá dựa trên lượng tư liệu hạn chế đã được khảo sát cũng như năng lực nghiên cứu còn hạn hẹp của chúng tôi

Về thơ lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn vẫn còn nhiều đặc điểm thú vị

mà chúng tôi chưa có điều kiện để khảo sát và nghiên cứu Đặc biệt là xem xét ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn ở mặt ngữ nghĩa và so sánh đối chiếu với các nhà thơ lục bát hiện đại Chúng tôi xem đây là những vấn đề còn bỏ ngỏ và hy vọng có những nghiên cứu tiếp theo sẽ đề cập đến

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung của luận án gồm 4 chương:

Chương I Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ lục bát, lục bát Đồng Đức Bốn và

cơ sở lý thuyết của luận án

Chương này bao gồm phần tổng quan về tình hình nghiên cứu thơ lục bát, lục bát Đồng Đức Bốn cũng như các nội dung lý thuyết về cấu trúc của thơ lục bát (dạng tồn tại và nguyên tắc tổ chức cơ bản của thơ: Cặp câu lục bát, bài thơ lục bát)

Chương II Vần và nhịp trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Chương này bao gồm các nội dung sau:

- Khảo sát và miêu tả vần thơ lục bát Đồng Đức Bốn xét theo vị trí tiếng hiệp vần, theo đường nét thanh điệu, theo mức độ hòa âm

Trang 14

- Khảo sát các cách ngắt nhịp trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

- Khái quát những đặc điểm cơ bản của vần và nhịp trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Chương III Luật phối thanh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Chương này trình bày các nội dung sau:

- Kết quả khảo sát bằng phương pháp định lượng về luật phối thanh, đặc biệt là đối thanh điệu bằng- trắc, luật niêm trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

- Khái quát những đặc trưng cơ bản của luật phối thanh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Chương IV Cấu tứ và ngôn từ Một số biện pháp tu từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Chương này gồm những nội dung sau:

- Tìm hiểu, khảo sát về cấu tứ và ngôn từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

- Tìm hiểu một số biện pháp tu từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

- Khái quát về xu hướng biến đổi ngôn ngữ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ LỤC BÁT,

THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thơ lục bát

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về thơ và ngôn ngữ thơ Việt Nam rất phong phú và đa dạng Bắt đầu từ thời kỳ Thơ Mới (1932- 1945), cái Tôi cá nhân trong Thơ Mới đã được khẳng định mạnh mẽ với ngôn ngữ thơ phóng khoáng, “thoát xác” khỏi những khuôn thước về câu chữ, niêm luật, vần…do các nhà Thơ Mới đã dám bứt phá

ra khỏi những ràng buộc, câu thúc của thơ Đường luật và thơ Cổ phong Trong cuốn

“Việt Nam văn học sử yếu” [55], tác giả Dương Quảng Hàm đã đề cập đến những nét

cơ bản của các thể loại thi ca tiếng Việt Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này cùng với những kết quả nghiên cứu đã có của Phan Kế Bính, Bùi Kỉ, đến năm 1971, các tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã nghiên cứu về cấu trúc hình thức phổ quát và

giản yếu lịch sử phát triển của các thể thơ nói chung trong cuốn “Thơ ca Việt Nam-

Hình thức và thể loại” [115] Gần hơn nữa, một số công trình nghiên cứu của các tác

giả như Trần Đình Sử, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Lưu Oanh, Mã Giang Lân, Nguyễn Phạm Hùng, Bùi Công Hùng…đều hướng tới nghiên cứu một hoặc một vài tác giả, tác phẩm thơ ở các góc độ như: tiến trình văn học; phê bình lí luận văn học; sự cách tân thơ văn; nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học văn học

Ngoài ra, cần phải kể đến những bài phê bình trong những năm gần đây được đăng tải trên các trang web, trên internet, tuy ngắn gọn nhưng khá hấp dẫn trên diễn đàn văn học Các góc cạnh, các phương diện của thơ hiện đại Việt Nam được quan tâm,

tạo ra nhiều bàn luận, thậm chí là sự tranh cãi ở các bài viết như “Liệu pháp thơ” [169], “Thơ Việt Nam chờ phiên đổi gác” [74], “Thơ tự do, thơ có vần, và thơ tân hình

thức” [168], “Khoảng tối của thi ca” [79] Các công trình và bài viết nói trên đã đề

cập đến “ngôn từ” và “ngôn ngữ” khi bàn về thơ Việt Nam thế kỷ XX Tuy nhiên, việc nghiên cứu chú ý đến những tiếp cận mới về nghệ thuật thi ca và các yếu tố ngôn ngữ trong thơ đã có mầm mống ở Nga từ đầu thế kỉ XX Các nhà hình thức Nga như R.Jacobson, V.Girmunski đã đi sâu nghiên cứu các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nhịp điệu thơ, phân tích chức năng ngôn ngữ thông qua các đơn vị cấu trúc hệ thống Những quan điểm nghiên cứu của trường phái này thể hiện rõ nét và tập trung nhất

trong bài viết về “Những con mèo” của Ch.Baudelaire Bên cạnh đó, có thể thấy

những luận điểm của Roman Jakobson về chức năng của ngôn ngữ thơ có vai trò như

Trang 16

một cánh cửa gợi mở đường hướng cho các nhà nghiên cứu bước sang một con đường nghiên cứu thơ Việt Nam: nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học kết hợp với lý thuyết về chức năng ngôn ngữ thơ Như vậy, có thể nói, “Các công trình nghiên cứu theo hướng cấu trúc- chức năng mặc dù chưa làm cho những người quan tâm đến lĩnh vực thi ca thỏa mãn hoàn toàn, song nó cũng đã tạo ra được những tiền đề quan trọng cho việc xây dựng một lí thuyết vững chắc giúp các nhà nghiên cứu thơ có thể thực hiện tốt những mục tiêu chưa hoàn thiện và các mục tiêu nghiên cứu mới.” [81; 51]

Ở Việt Nam, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thi ca tiếng Việt từ góc

độ ngôn ngữ Trước tiên phải kể đến chuyên luận “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du

trong Truyện Kiều” (1985) của Phan Ngọc [111] Phan Ngọc đã dùng những thao tác

nghiên cứu định lượng, định tính của ngôn ngữ để tạo ra một hướng đi hợp lý trong việc đánh giá tác phẩm thơ Ngoài ra, còn có thể kể đến một số tên tuổi mà đề tài này quan tâm như: Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Hữu Đạt, Mai Ngọc Chừ, Lý Toàn Thắng…đã có những bài viết hoặc công trình nghiên cứu, bình luận về thơ theo hướng nghiên cứu thi pháp hoặc ngôn ngữ học

Trong cuốn “Ngôn ngữ thơ”[16], Nguyễn Phan Cảnh đã đề cập đến vấn đề khai

thác hệ kết hợp của thơ hiện đại, cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa (tính đa trị của ngôn ngữ) Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa, đặt nền móng cho lý thuyết nghiên cứu ngôn ngữ một thể loại văn học đặc thù (trong cái nhìn phân

biệt giữa ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi) Với Hữu Đạt, trong cuốn “Ngôn ngữ

thơ Việt Nam” [35], đã có những nghiên cứu nhất định về đặc điểm cơ bản của ngôn

ngữ thơ tiếng Việt trên cơ sở vận dụng khá nhuần nhuyễn các lý thuyết quan hệ hệ

hình, quan hệ cú đoạn…Bên cạnh đó, cuốn “Phong cách học và các phong cách chức

năng tiếng Việt”[37], “Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình văn học”[38] của Hữu Đạt cũng là những công trình nghiên cứu có giá trị nền tảng, cơ sở

cho việc nghiên cứu về thơ lục bát từ phương diện phong cách học của ngôn ngữ học

Trong cuốn “Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học” [24], với một

phương pháp làm việc khoa học, logic của ngôn ngữ học, Mai Ngọc Chừ đã khai thác tương đối triệt để vấn đề vần thơ Việt Nam: Chức năng của vần, mối quan hệ của nó với các yếu tố khác; Đơn vị hiệp vần, hai mặt đồng nhất và khác biệt của vần thơ; Vai trò và quy luật phân bố các yếu tố cấu tạo âm tiết tiếng Việt trong việc tạo lập vần thơ; Vấn đề phân loại vần, vị trí và sự hoạt động của các loại vần trong các thể thơ, khổ thơ, vần xét về mặt hòa âm Đây là một trong những công trình khẳng định được

Trang 17

vai trò của ngôn ngữ học trong việc nghiên cứu thơ Việt ở cấp độ vần thơ Công trình này cũng là một gợi ý và tạo cơ sở cho đề tài này khi nghiên cứu về thơ lục bát ở nhiều cấp độ khác nhau: cặp lục bát, bài thơ, khổ thơ

Gần đây còn có một số các đề tài, các bài báo của tác giả Lý Toàn Thắng như “Thơ

Mới bảy chữ của Xuân Diệu: khổ thơ và luật thơ” [147; 3,7], “Thử đo đếm thơ”, [148;

42, 49], “Tìm về linh hồn tiếng Việt: Âm luật bằng trắc lục bát Truyện Kiều” [146] cũng chú ý đến ngôn ngữ thơ Ngoài ra, một số bài viết và công trình tiêu biểu: Tiếp

nhận ảnh hưởng của thơ truyền thống của Xuân Diệu[25]; Lục bát và song thất lục bát của Phan Diễm Phương [126]; Những đóng góp mới trong việc nghiên cứu thể loại thơ lục bát và Về việc vận dụng thi pháp ca dao trong thơ trữ tình hiện nay của

Nguyễn Xuân Kính [86]; Chuyên khảo: Thơ lục bát trong Truyện Kiều từ góc nhìn

của thi học và thi luật của Lý Toàn Thắng [144]; Một số cách tân trong thơ lục bát hiện đại của Hà Quảng[128]; Thơ lục bát Việt Nam, lạm bàn và Lục bát, một thể thơ anh minh của Nguyễn Trọng Tạo [141,142]…đã nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát

theo hướng ngôn ngữ học Một số tác giả với cách nhìn mới từ góc độ ngôn ngữ học, lấy phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học ứng dụng vào việc phân tích để nhận

ra các tầng bậc và các mối quan hệ về tổ chức ngôn ngữ bên trong của thể thơ này Đó

là các công trình Thử bàn thêm về thể lục bát của Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình [12],

Tiếng Việt và thể thơ lục bát của Nguyễn Thái Hòa [65], Lục bát Huy Cận: Ngậm ngùi của Lý Toàn Thắng [149], Thơ lục bát Việt Nam hiện đại từ góc nhìn ngôn ngữ

và Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại (trên tác phẩm của một

số nhà thơ) của Hồ Văn Hải [53, 54]…Ở các bài viết này các tác giả mới chỉ tập trung

miêu tả, đánh giá kết cấu vần luật của thể thơ lục bát Các công trình này đặt cơ sở nền tảng cho việc “thử nghiệm và kiểm chứng” một số hướng nghiên cứu mà đề tài này hướng tới

Từ góc độ lí luận văn học, các nhà nghiên cứu đã xem xét thi luật của lục bát gồm vần và nhịp, tiết tấu và âm hưởng, kết cấu và giọng điệu,… Đó là các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi [57], Mã Giang Lân [96], Lạc Nam [92], Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức [114], Đỗ Lai Thuý, Trần Khánh Thành[157, 152]…Các bài nghiên cứu về thơ Việt Nam theo hướng ngôn ngữ học đăng trên tạp chí Khoa học- Đại học Quốc gia Hà Nội, Tạp chí Ngôn ngữ, của các tác giả Đinh Văn Đức, Nguyễn Thị Phương Thùy là những công trình nghiên cứu có giá trị nền tảng cho hướng nghiên cứu của đề tài này Gần đây, một số khoá luận, luận văn ở các trường

Trang 18

đại học cũng có những nghiên cứu thơ lục bát từ góc độ ngôn ngữ học Tuy nhiên, những nghiên cứu về thơ lục bát, trong đó gồm những nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học vẫn chưa khai thác hết những bí ẩn về thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc

1.1.2 Những nghiên cứu thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam

Lục bát là thể thơ của dân tộc mang cốt cách thuần túy Việt Nam Đơn vị cơ bản của nó là một cặp câu “tức hai câu thơ” chiếm hai dòng so với tiếng (chữ) cố định: Câu lục ở dòng trên có 6 tiếng, câu bát dòng dưới có 8 tiếng Số lượng câu thơ của một bài thơ lục bát không hạn định, có thể từ hai đến hàng ngàn câu Nhưng có ý kiến cho rằng: không chỉ dân tộc Việt mới có lục bát mà là dân tộc khác cũng có lục bát như lục bát Chăm chẳng hạn Thực ra, lục bát Chăm là để chỉ thơ Ariya Chăm Theo Insara, “Ariya” trong tiếng Chăm có nghĩa là: 1 Trường ca Ariya cam- Bini (trường

ca Chăm Bacni); 2 Thơ: Sakadha Ariya; 3 Thể thơ: thể Ariya, cặp sáu- tám Chăm (Insara- lục bát Chăm) [80]

Ariya Chăm và lục bát Việt Nam theo phân tích của Insara có nhiều điểm khá giống nhau như: a đều có hiện tượng gieo vần lưng; b đều có thể gieo vần bằng và vần trắc và thanh điệu phát triển khá thoải mái Tuy nhiên, tiếng Chăm là một ngôn ngữ đa âm tiết khác với tiếng Việt, số lượng được đếm trong Ariya cũng khác Hiện nay, các nhà nghiên cứu cũng chưa khẳng định được lục bát Việt và Ariya Chăm thể nào có trước thể nào có sau và cũng không biết dân tộc nào sinh ra nó Nhưng ta có thể hiểu rằng giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau

Có nhiều lối nghiên cứu về thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại ở Việt Nam Trong đó, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến mọi vấn đề lý luận của thể thơ lục bát như vần, nhịp, luật phối thanh, các biến thể…Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ sẽ thấy còn rất nhiều vấn đề chưa có ý kiến thống nhất, nhất là vần luật và âm luật

Theo tác giả Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình trong “Thử bàn thêm về thể lục bát”

[12], muốn hiểu vận luật của thể thơ lục bát không thể dùng khái niệm bài, khác với thể thơ Đường luật Vì thể lục bát thoát thai từ văn học dân gian nên đơn vị tế bào của

nó là cặp 6- 8 Do đó, một tác phẩm lục bát (bài) gồm nhiều chu kỳ lặp đi lặp lại; mỗi chu kỳ như vậy tạo thành một đơn vị tế bào, tức là một chỉnh thể tối thiểu Bài lục bát đơn giản nhất (gồm một chu kỳ) bao giờ cũng có hình thức 6 + 8, tức là đơn vị có độ dài 14 tiếng: mở đầu bằng một dòng 6 và kết thúc bằng một dòng 8

Thành tố trực tiếp của đơn vị tối thiểu thể thơ lục bát là dòng thơ Kết quả phân tích

về mặt bằng trắc và về vần cho thấy: đằng sau tiếng thứ 6 có một đường ranh giới cấu trúc đi qua, tách 6 tiếng đầu thành một bộ phận riêng (sau tiếng thứ 6 là một chỗ nghỉ

Trang 19

hơi khá rõ), sau tiếng thứ 6 cũng là chấm dứt quy tắc luân phiên thanh điệu của bộ phận trước Việc cắt đôi chu kỳ thành dòng 6, dòng 8 là có cơ sở vận luật rõ ràng và cái gọi là “dòng” đúng là một khái niệm chỉ thành tố trực tiếp của đơn vị tối thiểu Dưới dòng là bước thơ Thành tố trực tiếp của bước thơ là vị trí của tiếng Dòng 6 gồm ba bước: 2- 2- 2, còn dòng 8 gồm bốn bước: 2- 2- 2- 2 Căn cứ chủ yếu để cắt dòng thành bước thơ là quy tắc chi phối sự nhấn mạnh và sự luân phiên thanh điệu ở các tiếng thứ 2, thứ 4 (cả dòng 6 và dòng 8) cũng như quy tắc luân phiên thanh điệu

và hiệp vần ở các tiếng thứ sáu (cả hai dòng) và tiếng thứ 8 (của dòng 8) Quy tắc đó dẫn đến hệ quả là xem các tiếng ở các vị trí 2, 4, 6, 8 như là những tiếng quan trọng, được phát âm rõ hơn và có vai trò đặc biệt hơn: vai trò làm cột mốc để chia cắt dòng thơ thành các bước thơ Hệ quả tiếp theo là, trong mỗi bước tồn tại hai vị trí: đã tách các vị trí 2, 4, 6, 8 xem là quan trọng thì các vị trí 1, 3, 5, 7 cũng được tách ra Các bước thơ trong lục bát nói chung có độ dài như nhau, bước nào cũng gồm hai tiếng Chính vì thế mà từ lâu người ta đã rút ra nhận định khái quát là thơ tiếng Việt ưa nhịp chẵn, trước hết được thể hiện ở lục bát

Về hiệp vần, nếu xét theo vị trí gieo vần, thơ lục bát có hai loại vần: vần lưng và vần chân Cụ thể, vần chân (cuối dòng 6) và vần lưng (giữa dòng 8) là sự kết hợp dòng với dòng để tạo thành chu kỳ Còn vần chân (cuối dòng 6) chính là vần có chức năng làm phương thức trực tiếp nối với chu kỳ trước, còn vần chân (cuối dòng 8) chính là vần có chức năng làm phương thức nối chặt với chu kỳ sau Nếu xét theo

mức độ hòa âm, thơ lục bát chia làm hai loại: vần chính và vần thông Theo “Từ điển

thuật ngữ văn học” [57; 293], vần chính là phần vần của hai âm tiết hiệp vần hoàn

toàn trùng nhau, trừ thanh điệu Vần thông là loại vần được tạo nên bởi sự hòa phối

âm thanh giữa các tiếng được gieo vần, trong đó bộ phận vần cái (kể từ nguyên âm chính đến cuối âm tiết) không lặp lại hoàn toàn mà có thể khác nhau chút ít

Về nhịp trong thơ lục bát được thể hiện hoàn chỉnh qua hai dòng thơ Xét về tính hoàn chỉnh của thể lục bát, về mặt ngữ nghĩa cũng như về âm và ngữ điệu thì cặp lục bát mười bốn tiếng được coi như là một đơn vị nhịp điệu, một “chỉnh thể về nhịp”

1.1.3 Tình hình nghiên cứu thơ lục bát Đồng Đức Bốn

1.1.3.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Từ xưa đến nay các nhà thơ Việt Nam ai cũng có thể sáng tác được bằng thể lục bát, nhưng làm thơ hay bằng thể này thì không dễ dàng Tương truyền rằng, hầu như Nguyễn Khuyến (1835-1909) không làm bài nào theo thể lục bát Con cháu nhà thơ

Trang 20

thắc mắc thì ông giải thích rằng, bao nhiêu cái hay của thể thơ này đã nằm cả ở

Truyện Kiều rồi, vì thế ông không làm thơ lục bát nữa.[117]

Nếu như thơ lục bát Đồng Đức Bốn nói chung được các nhà nghiên cứu quan tâm

một cách đặc biệt thì vấn đề ngôn ngữ trong thơ ông lại chưa được quan tâm nhiều

Đây là một vấn đề chưa được nghiên cứu một cách quy mô

Từ trước đến nay có không ít các nhà nghiên cứu, phê bình cũng đã đi tìm hiểu về

cách thức thể hiện trong từng tập thơ, từng bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn Điểm

qua các nghiên cứu về ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn chúng tôi thấy có các ý

kiến, bài viết của các tác giả: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Anh Thư, Nguyễn

Thanh Toàn, Lê Quốc Hán, Chu Nhạc, Chu Toàn, Chử Văn Long, Trần Huy Tản…

Trước hết là sự đánh giá của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với tập thơ đầu tay “Con

ngựa trắng và rừng quả đắng” in năm 1992 do Phạm Tiến Duật viết lời giới thiệu

Tập thơ bộc lộ rõ tâm thế của chàng thi sĩ tương lai lúc này: Đồng Đức Bốn hoàn toàn

chưa nhận ra mình, anh đang đi như một người mê ngủ Chen lẫn giữa những bài thơ

lục bát khá độc đáo là rất nhiều bài thơ tự do ỡm ờ, nửa dơi, nửa chuột Đây là lời

đánh giá thật đúng về Đồng Đức Bốn trong thời kỳ anh hoang mang dò dẫm từng

bước một trên con đường thơ, chẳng biết đâu là sở trường, sở đoản của mình Nhưng

đến tập thơ “Chăn trâu đốt lửa” xuất bản năm 1993 là một tập thơ thuần lục bát thì

nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã phải thốt lên : Đồng Đức Bốn là một nhà thơ lục bát có

một không hai, là vị cứu tinh của thơ lục bát.[156]

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng đã có những nhận xét khá sắc sảo về tập thơ

“Trở về với mẹ ta thôi” của Đồng Đức Bốn do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản

tháng 11 năm 2000 Đặc biệt, Nguyễn Huy Thiệp đã đi sâu vào tìm hiểu bài thơ lục

bát “Vào chùa”, từ đó ông đi đến nhận định : Y bát của Ngộ năng của Môn phái lục

bát- của Đồng Đức Bốn giá trị không sao kể xiết

Cũng có những cảm nhận sâu sắc về tập thơ lục bát “Trở về với mẹ ta thôi”, nhà

văn Nguyễn Thị Anh Thư bước đầu đã có sự đánh giá về thể thơ lục bát của Đồng

Đức Bốn : Từng cặp câu thơ (6-8) của Đồng Đức Bốn rất chắc khoẻ đa phần từ ngữ

được chắt lọc một cách tinh tế với một kiểu logic suy tư (cách liên tưởng) lạ thường

đem lại người đọc sự bất ngờ, ngỡ ngàng về ý tứ, về ngôn từ, về hình ảnh

Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn trong bài viết :“Vài ý nghĩ tản mạn về thơ Đồng Đức

Bốn” đã có những tìm hiểu về cách dùng từ, về cái hồn lục bát của Đồng Đức Bốn:

Lục bát khó Thơ tứ tuyệt (4 câu) càng đòi hỏi kết cấu chặt chẽ, cũng rất khó Đồng

Đức Bốn có nhiều bài tứ tuyệt lục bát có nhiều mặt ngữ nghĩa như thế

Trang 21

Cùng quan điểm như Nguyễn Thanh Toàn, tác giả Nguyễn Ánh Ngân trong bài

viết: “Lục bát Đồng Đức Bốn: còn một cõi không?”, đã có những nhận xét, đánh giá

về tập thơ “Chuông chùa kêu trong mưa” : Đồng Đức Bốn có ý thức sâu sắc về hình

thức thể hiện, tránh sa đà vào cường điệu hoá cảm xúc bằng những hình ảnh bóng bẩy Anh đằm hơn và vẫn giữ được cái sự ngẩn ngơ, nó có sức hút của một thứ bùa mê

Nhà thơ Trần Huy Tản trong bài viết về người bạn thơ của mình “Vẫn còn những

tiếng chuông chùa gọi xanh”, đã viết : Chơi mà học các văn sĩ, song thơ Đồng Đức

Bốn không bị trộn lẫn, hay hoà tan vào cái mớ thơ hay, dở, lập dị, oái oăm, ghềnh thác, kín hở hoặc ngộ năng hay y bát gì đó Người ta dễ cảm nhận được những câu thơ lục bát thật tài hoa và đầy tính đời sống, trữ tình sâu sắc đến ngỡ ngàng trong thơ anh Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết của các tác giả thể hiện sự đánh giá, sự cảm nhận của mình về một trong những bài thơ lục bát để đời của Đồng Đức Bốn Trước

tiên phải kể đến nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong bài viết : “Khổ câu thơ cứ đến rồi

lại đi” đã có những cảm nhận khá sâu sắc về bài thơ “Vào chùa” của Đồng Đức Bốn

và ông đánh giá đó là một bài thơ Thiền Đây cũng là tuyên ngôn của Đồng Đức Bốn

khi sáng tác tập thơ : Chuông chùa kêu trong mưa Tác giả Chu Nguyễn lại có những cảm nhận về bài thơ : “Chờ đợi tháng ba” Theo tác giả thì đó là bài thơ Đồng Đức

Bốn viết hay nhất về cảnh sắc đồng quê đồng bằng Bắc Bộ Tác giả Chu Nhạc khi đọc

bài thơ “Chăn trâu đốt lửa” lại có những cảm nhận khá sâu sắc về nội dung của bài

thơ nhưng không đi sâu vào hình thức ngôn ngữ của một bài thơ lục bát

Với nhà thơ Đồng Đức Bốn- một nhà thơ mà được Trời cho anh cái lộc thơ thì cho

đến nay tác giả Đồng Đức Bốn chưa có một cuốn sách giáo khoa nào đề cập đến cả, nhưng những sáng tác của ông được bạn đọc đón nhận, đặc biệt nhiều bài thơ lục bát của ông chỉ cần đọc một một lần là nhớ mãi Thơ lục bát Đồng Đức Bốn cũng đã được một số nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ giới thiệu trong một số công trình, trên báo

viết, báo mạng Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Đăng Điệp, trong bài Đồng Đức Bốn

phiêu du vào lục bát khẳng định: Cái mới của Đồng Đức Bốn là ở chất giọng Nó

không mềm, ướt mà xù xì, gai góc, có khi thô nháp nhưng lại làm ấm lòng người đọc

[41] Nhà nghiên cứu Đinh Quang Tốn [164], khi giới thiệu Những bài thơ cuối cùng

của Đồng Đức Bốn, cho rằng những đóng góp về thơ lục bát của Đồng Đức Bốn là

đáng trân trọng Tác giả viết: Nếu chọn lấy 100 thi nhân, hoặc chọn 100 bài thơ hay

của thế kỷ XX tôi bỏ phiếu cho Đồng Đức Bốn/www.evan Trên các website của Hội

nhà văn, của các cá nhân, một số nhà văn, nhà thơ như Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Huy Thiệp, Văn Chinh,… đã viết về lục bát của Đồng Đức Bốn Trong số đó,

Trang 22

Nguyễn Huy Thiệp có đến dăm bảy bài giới thiệu về Đồng Đức Bốn và lục bát Đồng

Đức Bốn Ông còn có cả truyện ngắn Đưa sáo sang sông lấy thơ lục bát Đồng Đức

Bốn làm khung cảnh Hơn một lần, Nguyễn Huy Thiệp khẳng định nhiều bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn là cực hay, tài tử, vô địch [156]

1.1.3.2 Những ý kiến trái chiều khi nghiên cứu thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Nếu như trước đây khi đọc thơ lục bát Đồng Đức Bốn, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp quả quyết rằng: có 4 người giữ “y bát” thơ lục bát là Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính, Đồng Đức Bốn thì sau đó chúng ta thấy nhà văn viết một bài khác về thơ Đồng Đức Bốn, ký một bút danh khác và tìm cớ để phê phán Nguyễn Huy Thiệp như sau:

“Trong tập thơ Trở về với mẹ ta thôi ngoài ý kiến đánh giá của Vương Trí Nhàn còn

có bài viết có phần nào thái quá của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp” Điều đó cho thấy Nguyễn Huy Thiệp tự thấy mình thẩm thơ không phải lúc nào cũng chuẩn

Nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà nhận định: “Phải chăng sự dông dài của những câu thơ “rỗng ruột” là một trong những đặc điểm làm nên phong cách thơ Đồng Đức Bốn, và nếu trên đời có cái gọi là “y bát thơ lục bát” thì dường như nó đã bị trao nhầm chỗ” Ông cho rằng Đồng Đức Bốn làm thơ theo “cớ”, chứ ít làm thơ theo “tứ” giống như người hát rong, gặp gì hát nấy

Nhà thơ Trần Đăng Khoa, trong một bài viết chưa/không công bố thì lại cho rằng

thơ lục bát Đồng Đức Bốn: “Chỉ óng ánh trang kim, nhưng nhẹ tếch chẳng có gì Gạt

cái vỏ mạ vàng ra, bên trong chỉ luễnh loãng một chút sương khói.” [Dẫn theo

Từ những ý kiến trên, chúng ta thấy thơ Đồng Đức Bốn được khen, được chê rất khác nhau Vậy, đâu là thành tựu của Đồng Đức Bốn?

1.1.4 Nhận thức của tác giả đề tài

Trang 23

1.1.4.1 Thơ lục bát hiện đại đã có đóng góp to lớn cho nền thi ca Việt Nam hiện đại, đặc biệt là về ngôn ngữ thơ Do vậy, nhiều công trình nghiên cứu cùng hướng tới mục đích lý giải và chỉ ra các đặc trưng của ngôn ngữ thơ Từ góc nhìn lý luận phê bình để xem xét thơ cũng có những ưu điểm riêng mà các hướng tiếp cận khác nhiều khi không có được Tiếp cận thơ từ góc độ ngôn ngữ là đi vào các quan hệ nội tại và ngoại tại của chất liệu, dùng các thao tác định lượng của ngôn ngữ học để giải mã các bình diện của ngôn ngữ thơ Cách tiếp cận này dựa vào những căn cứ cụ thể sẽ tránh được những cảm nhận nhiều khi mang tính chủ quan Từ góc độ ngôn ngữ học, người nghiên cứu có thể trừu tượng hóa một biểu hiện ngữ âm đặc trưng nào đó trong thơ để đem đến những kết quả thiết thực Đề tài đã đưa ra kết quả nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu, nhà phê bình lý luận về thể thơ lục bát để có thể chọn lựa và có cách tiếp cận về thể thơ lục bát một cách rõ ràng hơn, nhất là khi có sự so sánh các góc nhìn,

các quan điểm, nhận định khác nhau về một vấn đề

1.1.4.2 Đồng Đức Bốn có sở trường với thể thơ truyền thống và ông đã thăng hoa từ lục bát Đến với lục bát, một mặt, Đồng Đức Bốn trở về với cái mạch nguồn của dân tộc, cái nhịp thở nhẹ nhàng, sâu lắng của giống nòi, nhưng mặt khác, ông cũng rất có

ý thức vượt thoát khỏi cái nhẹ nhàng, đều đều đã trở thành quen thuộc của thể thơ Câu thơ lục bát của Đồng Đức Bốn không đọc theo kiểu lướt qua mà phải dừng lại ngẫm nghĩ từ cách tổ chức vần thơ, cách ngắt nhịp, hài thanh…Đề tài đưa ra một số cách đánh giá, thẩm định của các nhà nghiên cứu, nhà phê bình về thơ lục bát Đồng Đức Bốn làm cơ sở cho những nghiên cứu, phân tích, luận giải thấu đáo cụ thể trên góc độ ngôn ngữ học của đề tài, qua đó cùng giải mã một số quan niệm nhất định về thơ lục bát và thơ lục bát Đồng Đức Bốn, góp phần mở ra hướng sáng tạo cho thơ lục bát hiện đại

1.2 Các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

1.2.1 Thể thơ lục bát

1.2.1.1 Quá trình hình thành thể lục bát

Sự vận động của mỗi thời kỳ văn học luôn gắn liền với sự biến động về thể loại D.Likhasôp khẳng định: “Thể loại là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện vào một giai đoạn nhất định của văn học và sau đó biến đổi và được thay thế” Thể lục bát không nằm ngoài quỹ đạo vận động chung đó Dù là một thể loại cũ, ra đời từ rất xa xưa, có những thành công tưởng như khó có thể vượt qua nhưng lục bát vẫn khẳng định được sức sống, vẫn bộc lộ ưu điểm và lợi thế riêng của mình trong việc thể hiện cảm xúc Từ khi hình thành đến nay, trải qua nhiều quá trình phát sinh, phát triển,

Trang 24

thăng trầm biến đổi, thể lục bát đã “dung nạp” và thu nhận trong nó rất nhiều kiểu cảm xúc và biểu đạt thành nội dung phong phú

Hiện nay, chưa có một nhà nghiên cứu nào xác định được niên đại ra đời của thể

thơ lục bát trong văn học viết Theo Phạm Đình Toái, người có lời tựa “Quốc âm từ

điệu” (1886) thì từ đời Trần- Lê (thế kỉ XIII- XVI) thơ lục bát đã được sáng tác rất

nhiều Nhưng hiện nay, chưa có cứ liệu cụ thể về thể thơ lục bát trong thơ Nôm đời Trần Trên thư tịch còn lại ngày nay, người ta thấy thể lục bát được ghi lại sớm nhất trong một bài hát cửa đình của Lê Đức Mao (1462- 1529) xen kẽ giữa thể nói lối và song thất Trần Danh Án trong sách Nam Phong giải trào cũng ghi được một số bài ca dao lục bát rút từ các bài hát cửa đình thời Lê Các cứ liệu trên cho thấy thể lục bát khá phổ biến đối với thơ Nôm cuối thế kỉ XV- đầu XVI Các tác phẩm Nôm dùng thể

thơ này ở nửa cuối thế kỉ XVI là Lâm tuyền vãn (gồm 2000 câu) của Phùng Khắc Khoan; Ngọa Long cương vãn (136 câu) và Tư dung vãn (236 câu) của Đào Duy Từ Cuối thế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII xuất hiện Thiên Nam ngữ lục- một tập diễn ca lịch

sử dài 8136 câu thơ lục bát Nếu ở giai đoạn này (XIII- XVII) thơ lục bát mới hình thành và đi vào ổn định thì bước sang thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, thơ lục bát phát triển mạnh và đạt đến trình độ cổ điển

Cũng như mọi thể thơ khác, lục bát có quá trình hình thành phát triển và biến đổi theo những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể nhất định Giai đoạn đầu tiên, với ca dao thì lục bát còn xô bồ, lỏng lẻo về cấu trúc âm luật nhưng trải qua chặng đường dài, thể lục bát đã dần đi vào ổn định, tìm và xác lập cho mình một khuôn mẫu chặt chẽ Lục bát có kết cấu truyền thống là một cặp câu gồm hai dòng thơ, dòng trên sáu chữ và dòng dưới tám chữ nhưng số câu kéo dài không hạn chế Sự phối hợp hài hòa làm thành một cấu trúc trọn vẹn thống nhất từ ý đến lời; từ vần điệu, thanh điệu đến nhịp điệu Hình thức lục bát dần hoàn chỉnh qua thời gian và có biến đổi cho phù hợp với mục đích biểu đạt trong từng hoàn cảnh cụ thể Âm luật lục bát có những đặc trưng cơ bản về gieo vần, về ngắt nhịp, về phối điệu Trong cái hình thức tưởng như cố định của mình, lục bát vẫn có những sáng tạo linh hoạt và đa dạng Trong dòng chảy hàng nghìn năm và quá trình vận động, lục bát đã ngấm ngầm sinh sôi và tồn tại Có thể nói lục bát là khối nam châm với từ trường cực rộng và lớn Bất kể người làm thơ ở mọi trình độ khác nhau đều làm được thơ lục bát, còn hay hay dở tùy thuộc vào độc giả và thời gian Lục bát dung nạp tất cả những vận động thường nhật, hàng ngày, hàng giờ trở thành những câu nói có vần, có nhịp để di dưỡng tâm hồn cho nên lục bát đã nâng lên thành ca từ của các làn điệu cuộc sống

Trang 25

Những thay đổi về chức năng và nội dung của thể loại lục bát đã bắt đầu manh nha

từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX Vai trò tự sự của lục bát cũng như các thể loại thơ và văn vần nói chung thực sự tỏ ra không ưu thế bằng các thể loại văn xuôi khi mà các thể loại văn xuôi bằng chữ quốc ngữ đã xuất hiện qua các truyện kể của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của Lục bát lúc này đứng trước những thử thách quan trọng trong đó diễn ra sự “tranh chấp” vị trí giữa các chức năng Trong cuộc tranh chấp ấy, các nhà thơ thời hiện đại có vẻ ưu ái hơn cho lục bát trữ tình Đó chính là sự ra đời của dòng thơ ca yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ

Bước sang giai đoạn 1932-1945, khi phong trào Thơ Mới xuất hiện, được tiếp thu ánh sáng văn hóa phương Tây, các nhà thơ tìm về cái Tôi cá nhân và khẳng định nó trong thi ca Thể loại lục bát lúc này vẫn thích hợp để bộc lộ cái tôi cá nhân cá thể và nhu cầu phát huy bản ngã của nhà thơ Họ làm mới chức năng nội dung thể lục bát bằng cách thổi “cái hơi thở cá nhân” của mình vào đó Quả thật, khi đọc những vần thơ lục bát của Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ…chúng ta nhận thấy cơ bản thì cấu trúc thể thơ vẫn ổn định, nét mới nhất của lục bát lúc này là những “dòng cảm xúc mới” Các nhà thơ mới như Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân đã tìm về những giá trị văn hóa truyền thống trên cơ sở kế thừa có cách tân Các nhà thơ mới đã biết đặt những mối liên tưởng với mẫu hình ca dao lục bát truyền thống trong ý thức sáng tạo của mình Chính vì thế, những câu lục bát của các nhà thơ mới vẫn mang đặc trưng hiện đại, khác hẳn với thể lục bát ca dao Đấy chính là ý thức về bản ngã, nhu cầu khẳng định cái tôi ngay trên mảnh đất của những giá trị văn hóa cổ truyền

Như vậy, cùng với lục bát truyền thống thì lục bát hiện đại đã phát triển lên một bước mới với sự cách tân của các nhà thơ hiện đại Ở lục bát, giữa cấu trúc ngôn ngữ đầy nhạc tính và nội dung biểu hiện có sự phù hợp cao Cấu trúc ngôn ngữ giàu nhạc tính được thể hiện qua phân bố thanh điệu, hiệp vần, ngắt nhịp đã hàm chứa tham số của quá trình chọn lọc tự nhiên của người Việt suốt trường kỳ lịch sử cho đến ngày nay Từ xưa đến nay, trong các thể loại thơ ca Việt Nam, lục bát vẫn được đánh giá là thể loại xuất hiện sớm nhất và đậm đà tính dân tộc nhất, thể hiện sâu sắc tinh tế cách

nhìn, cách cảm của người Việt Nam ta Năm 1963, Diên Hương trong “Luật làm thơ”-

NXB Khai Trí đã nhận xét: “Thơ thượng lục- hạ bát là một thứ thơ thuần túy riêng biệt của người Việt Nam chúng ta, từ già chí trẻ, từ người biết đọc cho đến kẻ dốt, ai

ai cũng nói qua” (Tr.48) Nguyễn Văn Hạnh trong “Lý luận văn học, vấn đề và suy

nghĩ” [56; 77] lại tiếp tục khẳng định: “Trải qua bao nhiêu biến thiên, đảo lộn về xã

hội, tư tưởng, tâm lý, suốt mấy trăm năm, người Việt Nam vẫn coi lục bát như một thể

Trang 26

thơ đặc trưng nhất của dân tộc, và có khả năng tuyệt vời để diễn tả những rung động sâu xa, tinh tế nhất của tâm hồn Việt Nam” Khi tìm hiểu thể thơ thể hiện đậm đà bản sắc dân tộc này, các nhà nghiên cứu thường căn cứ vào hai cột mốc quan trọng: lục bát trong ca dao- điểm đánh dấu bước khởi đầu- và lục bát trong “Truyện Kiều”- biểu hiện của sự phát triển đến đỉnh cao rực rỡ

Lục bát là thể thơ chủ yếu của ca dao và truyện Nôm mà đỉnh cao là kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du- người đã đưa thể lục bát đạt đến trình độ cổ điển trong văn học Nôm bác học trung đại Ở thế kỉ XX, thơ lục bát vẫn tiếp tục phát triển, vẫn là một thể thơ tiếng Việt phổ biến được nhiều nhà thơ sử dụng và quần chúng yêu thích

Ta có thể tìm gặp những hồn thơ lục bát tài hoa như Tản Đà, Nguyễn Bính, Huy Cận, Trần Huyền Trân,…và từ sau 1945, nhiều cây bút lục bát mới lạ độc đáo như Nguyễn Duy, Bùi Giáng, Hoàng Xuân Sơn, Đồng Đức Bốn,…Như vậy, thể thơ lục bát trong văn học viết Việt Nam tồn tại và phát triển qua ba thời kì lớn: thế kỉ XIII- XVII, thế kỉ XVIII- XIX và thế kỉ XX cho đến nay Ba thời kì này đồng thời cũng là quá trình vận động và phát triển của thể lục bát trên cả ba phương diện: chức năng, nội dung và thi pháp thể loại thơ lục bát Xem xét chức năng và nội dung của thể thơ lục bát, tác giả Cao Huy Đỉnh cho rằng: “Từ thế kỉ XVII, lục bát trở nên vạn năng, dùng để diễn tả mọi thức cảm nghĩa, tự sự, trữ tình, nghị luận cũng như diễn kịch dù dung lượng dài ngắn, rộng hẹp, khó dễ đến đâu cũng thích nghi được” [43] Thừa nhận lục bát là thể thơ đa năng với sự biểu hiện phong phú nhiều loại hình nội dung nhưng cũng cần thấy rằng lục bát cũng như những thể loại khác luôn lựa chọn và tỏ ra ưu thế riêng của mình trong việc biểu đạt một loại nội dung cụ thể nhất định nào đó tại từng thời điểm lịch sử xác định

1.2.1.2 Quá trình vận động của thể thơ lục bát

Về thể lục bát truyền thống trong ca dao, đó là những tác phẩm thơ ca dân gian, ca

dao được sáng tác dưới nhiều hình thức thơ khác nhau: song thất, song thất lục bát, bốn chữ, hỗn hợp, tuy nhiên được vận dụng phổ biến hơn cả là thể lục bát Khảo sát cuốn “Ca dao Việt Nam” của Đinh Gia Khánh [88], chúng tôi thấy trong tổng số 1.015 lời, có 973 lời được sáng tác theo thể lục bát, chiếm tới 95,86% số lượng tác phẩm Đây cũng là điều dễ hiểu vì thơ lục bát là “những lời nói có vần” gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, dễ nhớ, dễ thuộc

Các tác phẩm ca dao theo thể lục bát được vận dụng linh hoạt và nhiều vẻ nhất trong dân ca, trong những giai điệu ngâm ngợi, ca xướng uyển chuyển Sở dĩ như vậy

là do kết cấu đặc trưng riêng biệt về âm luật của thể loại thơ này Dưới góc độ thi

Trang 27

pháp, có thể thấy lục bát mang đầy đủ dáng dấp của một thể thơ cách luật với những

yếu tố đặc thù về tổ chức âm thanh: gieo vần, ngắt nhịp, phối điệu trong hình thức tối

thiểu là một cặp lục bát gồm 2 câu với số tiếng cố định: 6 tiếng (câu lục) và 8 tiếng

(câu bát) Vì vậy, mọi nguyên tắc tổ chức ngôn từ thơ ca của thể lục bát được tạo

dựng theo một thể thức nhất định, lặp đi lặp lại trong tác phẩm, tuân thủ nghiêm ngặt

cơ cấu tổ chức âm luật về phương thức gieo vần, ngắt nhịp, phối điệu, cơ sở quan

trọng để tạo dựng lên những lời dân ca giàu chất dân gian Phương thức gieo vần 6/8

là thao tác đặc biệt tạo nên vẻ nhịp nhàng trong ngôn ngữ thơ, là phương tiện tổ chức

văn bản và là chỗ dựa cho sự phát triển nhạc tính để hình thành nên những âm hưởng

nhiều màu sắc vang vọng trong thơ Lối ngắt nhịp chẵn (chủ yếu là nhịp hai) có một ý

nghĩa quan trọng tạo nên sự phân bố và lặp đi lặp lại ngắt quãng các đơn vị ngôn từ,

tạo điều kiện cho sự chuẩn hóa về mặt thẩm mỹ trong lời thơ Phối điệu mang lại âm

điệu trầm bổng trong thơ bằng sự sắp xếp phối hợp các thanh điệu bằng trắc theo

nguyên tắc nhất định thể hiện tính cân đối hài hòa về âm thanh giữa các nhịp và các

vế tương đương

Về vần, khuôn hình điển hình và phổ biến nhất của thể thơ lục bát trong ca dao

được sơ đồ hóa như sau:

Dòng 6 tiếng bằng trắc bằng

(vần) Dòng 8 tiếng bằng trắc bằng

(vần)

bằng (vần)

Ngoài ra, còn một kiểu gieo vần khác: tiếng thứ sáu của câu lục với tiếng thứ tư của

câu bát Sơ đồ như sau:

Dòng 6 tiếng trắc bằng (vần)

Dòng 8 tiếng bằng (vần) trắc bằng (vần)

Phương thức ngắt nhịp hai trong lục bát ca dao là loại nhịp phổ biến Vì vậy, nhiều

nhà nghiên cứu cho rằng nhịp điệu lục bát là lặp lại nhàm chán theo kiểu: Câu lục: 2/2/2; Câu bát: 2/2/2/2

Trang 28

Nhưng trên thực tế, nhịp điệu thơ lục bát uyển chuyển, linh hoạt vô cùng Sự phân chia đều đặn của nhịp câu thơ là cơ sở trực tiếp cho nhịp điệu âm nhạc để rồi từ đó hình thành nên những giai điệu thích ứng với từng thể loại: “Trong tất cả những yếu

tố khách quan tác động đến nhịp điệu âm nhạc trong dân ca thì yếu tố của nhịp điệu thơ là quán xuyến và trực tiếp hơn cả và là một cái khung đồ thị làm chỗ dựa cho nhịp điệu âm nhạc.” Vì lẽ đó, nhịp điệu thơ trong ca dao có một vai trò quan trọng đối với nhịp điệu âm nhạc trong dân ca Đó là nhịp điệu của những ngôn từ mang sắc thái bình dị, dân dã dưới thể thơ lục bát của ca dao

Về thể thơ lục bát trong văn học trung đại: Ứng với từng thời kì, từng giai đoạn

lịch sử khác nhau, chức năng và nội dung của thể lục bát cũng có những thay đổi Do cấu trúc thơ lục bát cho phép có thể kéo giãn bài thơ đến vô cùng, trong văn học trung đại cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX, các nhà thơ đã phát huy tối đa sức mạnh tự sự (kể chuyện) của thể thơ lục bát Lịch sử giai đoạn này đã chứng kiến sự nở rộ của thể loại truyện thơ Nôm với những tác phẩm xuất sắc như: Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Công Cúc Hoa, Mai Đình mộng kí, Quan âm Thị Kính, Lục Vân Tiên, Truyện Kiều,…Ở các tác phẩm này, nội dung đã được phát triển thành những câu chuyện trong đó diễn ra nhiều biến cố, sự kiện có thắt nút, mở nút và có các nhân vật mang số phận Nghĩa là, các câu chuyện hoàn chỉnh, có cốt truyện và tình tiết rõ ràng Câu chuyện đó đã được diễn Nôm, diễn ca bằng thể thơ lục bát Hầu hết truyện Nôm đều được sử dụng thể loại lục bát không chỉ vì nó tỏ ra thích hợp cho việc tự sự mà mặt khác nó còn cho phép thể hiện tâm trạng một cách thoải mái

Từ cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, thể thơ lục bát được các nho sĩ bình dân sử dụng để viết truyện, tạo ra một thể loại văn học mới thời bấy giờ, đó chính là Truyện thơ Nôm Thực chất đó là một dạng Tiểu thuyết cổ được viết bằng thể thơ lục bát Đa

số loại truyện này thường khuyết danh, chỉ có Truyện Kiều và Lục Vân Tiên là còn thấy có tên tác giả Truyện Kiều của Nguyễn Du chính là một đỉnh cao rực rỡ của loại Truyện thơ Nôm, đồng thời cũng là một đỉnh cao rực rỡ của văn học Việt Nam Thể thơ lục bát đến Truyện Kiều cũng được quy chuẩn và hoàn thiện hơn Ở Truyện Kiều, chúng ta cảm nhận được những gì hài hòa, êm dịu nhất của lục bát ca dao bằng lối ngắt nhịp chẵn và lối gieo vần bằng, tạo cho câu thơ dáng dấp uyển chuyển, cân đối,

dễ thuộc và dễ nhớ:

Trăm năm/ trong cõi/ người ta,

Chữ tài/ chữ mệnh/ khéo là/ ghét nhau

Trải qua/ một cuộc bể dâu,

Trang 29

Những điều/ trông thấy/ mà đau đớn lòng

Thông thường, một tác phẩm văn chương hay phải đạt được hai yêu cầu: có sự đổi mới trong nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, đồng thời phải kế thừa được những nét văn hóa truyền thống của dân tộc Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đáp ứng được hai yêu cầu đó Ngoài việc sử dụng những yếu tố của lục bát ca dao, Truyện Kiều còn mang đến cho người đọc sự đổi mới đầy sáng tạo Câu thơ lục bát trong Truyện Kiều ngoài cách gieo vần bằng và cách ngắt nhịp chẵn còn có cách ngắt nhịp lẻ Câu thơ lục bát với những cách ngắt nhịp: nhịp 3/3; 1/5; 2/1/3; 3/5; 3/3/2; 5/3, v.v trở nên linh hoạt và sinh động hơn cùng với cách gieo vần đa dạng có thể thay đổi trong phạm

vi cho phép mà vẫn giữ được cái hay, cái đẹp, cái độc đáo, mượt mà thắm thiết vốn có của thể thơ lục bát truyền thống trong ca dao:

- Mai cốt cách/ tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ/, mười phân vẹn mười

- Cửa người/ đầy đọa chút thân,

Sớm/ ngơ ngẩn bóng/ đêm/ năn nỉ lòng

Mặt khác, so với lục bát ca dao, sự sáng tạo trong Truyện Kiều còn thể hiện đó là một tác phẩm sử dụng nhiều và thành công nhất hệ thống thành ngữ thuần Việt lẫn thành ngữ Hán Việt Theo thống kê chưa đầy đủ các loại thành ngữ từ 3- 8 âm tiết được sử dụng nhiều, trong đó thành ngữ nguyên dạng là 106, thành ngữ cải biến sáng tạo là 41 Việc sử dụng thành công vào một tác phẩm thơ số lượng thành ngữ lớn như vậy thì trước Nguyễn Du và sau Nguyễn Du chưa từng có Nguyễn Du đã thâu tóm được trong tác phẩm của mình những tinh hoa của ngôn ngữ bác học với ngôn ngữ bình dân Có thể khẳng định rằng, với lục bát Truyện Kiều, Nguyễn Du đã kế thừa nền văn học dân gian, nhất là lục bát ca dao, cùng với sự sáng tạo không mệt mỏi đã đưa lục bát Truyện Kiều trở thành mẫu mực, phát triển đến đỉnh cao rực rỡ

Về thể thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới: Đến phong trào Thơ Mới (1932-

1945), chức năng và nội dung của thể lục bát đã được thay đổi Khác với chức năng chủ yếu là tự sự của lục bát trong truyện thơ Nôm, chức năng nổi trội của lục bát thời

kì này là bày tỏ tình cảm tâm trạng cá nhân của cái tôi trữ tình (chức năng trữ tình)

Ưu thế của vai trò kể chuyện thuật kể trong lục bát truyền thống giờ đây đã được nhường vị trí cho chức năng trữ tình Đây cũng là một trong những căn cứ khu biệt lục bát hiện đại với lục bát truyền thống

Những thay đổi về chức năng và nội dung của thể loại lục bát đã bắt đầu manh nha

từ những thập kỉ đầu của thế kỉ XX Vai trò tự sự của lục bát cũng như các thể loại

Trang 30

thơ và văn vần nói chung thực sự tỏ ra không ưu thế bằng các thể loại văn xuôi khi mà các thể loại văn xuôi bằng chữ quốc ngữ đã xuất hiện qua các truyện kể của Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của Các thể loại văn xuôi tự sự hiện đại (truyện ngắn và tiểu thuyết hiện đại) ngày càng xuất hiện nhiều qua các tác phẩm dịch, sáng tác của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Tản Đà, Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách,…Truyện

thơ lục bát dù có mặt thêm vài lần nữa với U tình lục (1909) của Hồ Biểu Chánh và

Giai nhân kỳ ngộ (1915) của Phan Chu Trinh cũng không có nghĩa là nó có thể tồn tại

song song với truyện ngắn và tiểu thuyết văn xuôi hiện đại Lục bát lúc này đứng trước những thử thách quan trọng trong nó diễn ra sự “tranh chấp” vị trí giữa các chức năng Sự ra đời của dòng thơ ca yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ với những tác

phẩm: Ái chủng, ái quần của Phan Bội Châu; Địa dư lịch sử nước nhà của Ngô Quý Siêu; Khóc những người hy sinh trong vụ Hà Thành đầu độc (khuyết danh),…là

những tác phẩm viết theo thể thơ lục bát để nói lên những cảm xúc, suy nghĩ của các bậc chí sĩ, các trí thức và quần chúng cách mạng về hiện trạng đau thương của đất nước của dân tộc Bên cạnh đó là sự xuất hiện trên thi đàn công khai những nhà thơ muốn tìm về các thể thơ dân tộc để gửi vào đó những khát vọng cảm xúc đang diễn ra

trong tâm hồn Đó là các tác giả như Tản Đà với bài Phong dao, Thề non nước, Nói

chuyện với bóng, Rau sắng chùa Hương…; Trần Tuấn Khải với Phong dao, Hỡi cô bán nước,…; Tương Phố với Giọt lệ thu, Tái tiếu sầu ngâm, Tình quê,…

Bước sang giai đoạn 1932- 1945, khi phong trào Thơ Mới xuất hiện, được tiếp thu ánh sáng văn hóa phương Tây, các nhà thơ tìm về cái Tôi cá nhân và tìm mọi cách đấu tranh giành địa vị cho cái tôi đó Trong thơ ca, bên cạnh sự sáng tạo những thể loại mới, việc các nhà thơ mới tìm đến những thể thơ cổ truyền như lục bát không phải là điều ngẫu nhiên Thể loại lục bát thời kì này vẫn thích hợp để bộc lộ cái tôi cá nhân cá thể và nhu cầu phát huy bản ngã của nhà thơ Họ làm mới chức năng nội dung thể lục bát bằng cách thể hiện cái tôi cá nhân của mình Nhận diện xu hướng thể tài của lục bát trong Thơ Mới 1932- 1945, Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã phân chia: “Nhìn chung về hình thức thể thơ lục bát trong thời kì Thơ Mới được khai thác theo hai khuynh hướng: khuynh hướng “hiện đại hóa” và khuynh hướng trở về với ca dao với truyền thống” [114] Khuynh hướng “hiện đại hóa” được thể hiện khá rõ trong những bài thơ lục bát của Huy Cận, Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê,…Thực ra, các tác giả này cũng không đem lại cho thơ lục bát một cái gì thật mới lạ về hình thức mà chủ yếu là khai thác đặc trưng “trữ tình” vốn có của thể thơ này để thể hiện những “cảm xúc mới” Trên cái nền riêng của thể thức truyền thống,

Trang 31

các nhà thơ đã bộc lộ những bản sắc riêng của mình một cách mạnh mẽ trong thơ Bên cạnh khuynh hướng lãng mạn, Thơ Mới còn trở về với làn điệu ca dao mà tiêu biểu là các tác giả Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ,…Đây là một nét kế thừa đặc trưng thể loại truyền thống của các nhà Thơ Mới các nhà Thơ Mới tìm về những giá trị văn hóa truyền thống trên cơ sở kế thừa có cách tân, biết đặt những mối liên tưởng với mẫu hình lục bát ca dao truyền thống trong ý thức sáng tạo của mình

Đó chính là ý thức về bản ngã, nhu cầu khẳng định cái tôi ngay trong một thể thơ cổ truyền của dân tộc

Về thể thơ lục bát trong thời hiện đại: Thể lục bát với những cách thức xử lý phong

phú, đa dạng đang duy trì được sức sống và hòa nhập vào đời sống chung của thơ ca hiện đại Thơ lục bát hiện đại tồn tại dưới hai dạng: Dạng thứ nhất, các dòng thơ dắt nối nhau từ đầu đến cuối, tạo thành những bài thơ lục bát trọn vẹn (lục bát nguyên thể); Dạng thứ hai, các dòng lục bát được dùng phối hợp, xen kẽ với các thể thơ khác (4 tiếng, 5 tiếng, 7 tiếng, tự do…) để làm thành bài thơ (lục bát phối xen) Cả hai dạng đều có thể được xem xét trên các phương diện cấu trúc, thi pháp dòng thơ và chức năng biểu đạt nội dung của chúng Theo thống kê của Phan Diễm Phương: Trong năm

1994, có một tuyển tập thơ riêng cho thể thơ lục bát (Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam

đã có mặt 149 bài lục bát thuộc giai đoạn hiện đại/160 bài) Trong “Tố Hữu- tác

phẩm” (1979) có trên 30 bài thơ lục bát; Tuyển tập Nguyễn Bính (1986) có 37/89 bài

thơ lục bát; Tập thơ Sáu và Tám của Nguyễn Duy (1994) có 99 bài thơ lục bát Trên

báo Văn nghệ, tỉ lệ các bài thơ lục bát dự thi chiếm tỉ lệ khá cao từ 23%- 47,6% (thống kê năm 1995) Có thể khẳng định, trong thời hiện đại, thể thơ lục bát càng tỏ ra

có sức sống mạnh mẽ Các nhà thơ đã cố gắng để ngòi bút của mình đi ung dung giữa những khuôn mẫu định sẵn, bảo đảm được cái ấn tượng chuẩn mực cho thể thơ Và khi cần thiết, họ đã có những cách xử lý linh hoạt, đa dạng các yếu tố trong cơ cấu âm luật của thể lục bát trên những dòng thơ cụ thể Với trường hợp Đồng Đức Bốn, thơ lục bát được làm mới ở một số phương diện mà ở các chương sau chúng tôi sẽ chứng minh làm rõ

1.2.1.3 Biến thể và biến dạng của lục bát

Là một thể thơ cách luật được định hình bằng một cấu trúc âm luật khá hoàn chỉnh, song lục bát cũng không quá ngặt nghèo trong việc thi hành các nguyên tắc “luật định” Nó có thể chấp nhận một số khác biệt, thay đổi nào đó do lịch sử để lại, hoặc

do những yêu cầu lâm thời được đặt ra, hoặc do các tác giả đôi khi muốn tôn trọng cái

tự nhiên mà không muốn gò vào luật lệ Đây cũng là hiện tượng được nhiều nhà

Trang 32

nghiên cứu nói tới Tác giả Bùi Kỷ gọi hát xẩm là biến thể của lục bát [87; 30] Tác giả Dương Quảng Hàm khẳng định hát nói và lục bát gieo vần ở tiếng thứ tư là hai

biến thể của lục bát Ngoài ra ông còn xem xét cả biến thể về thanh điệu [55; 143, 146] Tác giả Bùi Văn Nguyên, ngoài điểm lưu ý là “tiếng thứ hai có thể linh động bằng hay trắc”, còn đưa ra “hệ thống đặc biệt” với hai trường hợp: lục bát gieo vần trắc và gieo vần bằng ở tiếng thứ tư [115; 220, 221] Tác giả Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình cho rằng “có thể có hiện tượng biến thể” ở ba bậc: bậc vị trí, bậc bước (tức nhịp)

và bậc dòng [12; 17] Tác giả Nguyễn Xuân Kính [86] lưu ý “một kiểu gieo vần khác” (tức là gieo vần lưng ở tiếng thứ tư dòng bát) và nêu lên ba biến thể của dòng lục bát trong ca dao

Như vậy, dù gọi bằng nhiều tên khác nhau nhưng cũng là để chỉ những hiện tượng biến đổi của thể lục bát Quan sát những biến đổi đó, tác giả Phan Diễm Phương nhận

thấy chúng cần được phân biệt thành hai loại khác nhau: một loại tạo nên biến thể, và một loại tạo nên biến dạng của thể lục bát

Theo tác giả Phan Diễm Phương [126]: Biến thể là các yếu tố âm luật có thể lặp lại

nhưng không chiếm tỉ lệ áp đảo Lục bát có 6 biến thể như sau:

Hai biến thể về vần: vần trắc và vần bằng ở tiếng thứ tư dòng bát

Ba biến thể về phối điệu: tiếng thứ hai dòng lục từ bằng chuyển thành trắc, tiếng

thứ tư dòng lục từ trắc chuyển thành bằng, tiếng thứ hai dòng bát từ bằng chuyển thành trắc

Một biến thể về nhịp: nhịp 2 chuyển thành nhịp 3

Biến dạng là yếu tố âm luật biến hóa đa dạng mang tính chất lâm thời trên những

dòng thơ cụ thể Chẳng hạn lục bát có biến dạng về tổ hợp các dòng: hai dòng được thêm bớt tiếng không theo một quy luật nhất định nào mà theo sự xử lý riêng của từng trường hợp cụ thể làm biến dạng dòng thơ

Về lục bát biến thể, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi chọn cách hiểu của tác giả Mai Ngọc Chừ [24]: “Lục bát biến thể ở đây được quan niệm là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt “trên sáu dưới tám” mà

có sự co giãn nhất định về số lượng âm tiết (tiếng).”

Trong ca dao có một số lời lục bát biến thể, trong đó khuôn hình về vần vẫn được giữ, còn số tiếng trong mỗi dòng thơ có thể thay đổi Lục bát biến thể trong ca dao có

3 loại như sau:

+ Dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên: 7- 8/8 tiếng:

Tưởng giếng sâu, nối sợi dây dài

Trang 33

Hay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây

+ Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi: 6/11- 12 tiếng:

Bao giờ rừng quế hết cay

Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình

+ Cả hai dòng đều thay đổi: 7/9 tiếng

Em thương anh thầy mẹ ngăm nghe

Cậu, cô, chú, bác đòi đậu bè thả trôi

Theo các nhà nghiên cứu, chức năng của hình thức lục bát biến thể có tác dụng thể hiện được rõ hơn một lời than da diết hay nêu những khó khăn trùng điệp trong tình yêu, thể hiện lòng quyết tâm vượt khó Ngoài ra, lục bát biến thể còn có chức năng trong tranh luận, đấu lí và có khả năng tạo ra tiếng cười châm biếm, trào phúng

Kế thừa hình thức lục bát biến thể trong ca dao với những chức năng ưu việt của

nó, các nhà thơ đã sử dụng sáng tạo hình thức này trong các sáng tác của mình Thi sĩ Tản Đà đã sử dụng hình thức lục bát biến thể trong những sáng tác theo phong cách

dân gian, trong việc dịch thơ ca dân gian Trung Quốc Ví dụ: bài Câu hát dậm đò; bài

Sẩm nhà trò; các đoạn dịch Quan thư Trong các sáng tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh

bằng tiếng Việt, thể lục bát biến thể cũng được Người sử dụng nhiều (7/27 bài) với mục đích phổ biến kinh nghiệm, kể chuyện, phát biểu cảm tưởng Trong diễn văn chính trị, trong Di chúc, Người cũng sử dụng hình thức này:

Còn non, còn nước, còn người

Thắng giặc Mĩ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay

So với lục bát ca dao thì lục bát Truyện Kiều không còn các dạng biến thể nữa Có thể xem lục bát Truyện Kiều là một thứ lục bát thuần khiết Có thể thấy, câu thơ lục bát đến Truyện Kiều mới phát triển thành luật, một thứ luật cũng chặt chẽ nghiêm ngặt không kém gì luật thơ Đường Nhưng kỳ lạ thay chính những câu thơ lục bát Truyện Kiều, những câu thơ luôn luôn phục tùng đúng luật lại là những câu thơ mềm mại, uyển chuyển và hay đến hiếm có Như vậy là luật thơ không hề trói buộc thơ Nó chỉ tạo điều kiện cho thơ hay hơn Bởi vì suy cho cùng thì luật thơ chính là những khuôn hình mẫu mực nhất, tối ưu nhất mà thơ nên có và cần phải có Trong lịch sử phát triển thơ ca, luật thơ chỉ thấy xuất hiện ở những thời kỳ phát triển đỉnh cao: ở Trung Quốc là trường hợp thơ Đường luật và ở Việt Nam là lục bát Truyện Kiều Có thể nói lục bát Truyện Kiều vừa khuôn mẫu mực thước lại vừa linh hoạt biến hóa

1.2.2 Một số vấn đề ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa

1.2.2.1 Ngữ âm học và âm vị học

Trang 34

Về ngữ âm, ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính F de Saussure nhận xét: Chất liệu ngữ

âm cũng chẳng cố định và hữu hình hơn tư duy, nó không phải là một cái khuôn trong

đó tư duy nhất thiết phải được đúc thành hình thành khối, mà là một chất liệu mềm dẻo: chất liệu này được phân chia ra từng phần tách biệt để cung cấp những cái biểu hiện mà tư duy cần đến [127; 123] Theo R Jakobson: Chức năng thi ca đem nguyên

lí tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp Tức là các yếu tố đồng vị trên trục tuyển lựa (hệ hình) có thể được xuất hiện trong một thế tương quan nhất định trên trục kết hợp (cú đoạn) tạo ra những hình tượng âm thanh lặp lại những cấu trúc ngữ âm mang tính biểu trưng [81] Dĩ nhiên, nếu qui những ước lệ thi ca như khổ thơ,

sự điệp âm, vần thơ, nhịp điệu,… vào mỗi một bình diện âm thanh thì sẽ rơi vào tình trạng suy lí tự biện một cách không có căn cứ Việc chiếu nguyên lí tương đương lên chuỗi kế tiếp có một ý nghĩa rộng hơn và sâu hơn rất nhiều Nó phải được hiểu như công thức của P.Valery: Thơ là sự phân vân giữa âm và nghĩa Nhưng, để nhận diện các mặt của ngôn ngữ thơ, chúng ta tạm trừu tượng hoá để hình dung các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp trong ngôn ngữ thơ

Trước hết, thơ là hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt mang thuộc tính thẩm mĩ về ngữ âm Nói đến thơ là nói đến các yếu tố nằm trong sự vận dụng nghệ thuật hình thức âm thanh ngôn ngữ Đó là sự hoà phối về âm thanh, là ngắt dòng, ngắt nhịp, là sự hiệp vần Thơ căn bản khác với văn xuôi ở tính nhạc nên các yếu tố ngữ âm trong thơ

là hết sức quan trọng Các đơn vị âm thanh như thanh điệu, nguyên âm, phụ âm cùng với các thuộc tính âm thanh như cao độ, cường độ, trường độ góp phần tạo nên nhạc điệu cho thơ Tiếng Việt có số lượng thanh điệu phong phú (6 thanh); các thanh có phẩm chất về âm vực (cao/thấp) và đường nét (bằng phẳng /gãy); có số lượng nguyên

âm và phụ âm đa dạng, số lượng lớn (13 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi, 22 phụ âm đầu, 8 âm cuối ) được khai thác và tổ chức trong thơ nhằm tạo nên âm hưởng, tiết tấu, nhạc điệu cho thơ, khi du dương trầm bổng, khi dìu dặt ngân nga, khi dào dạt dồn dập Khi khai thác nhạc tính trong thơ, ta cần chú ý đến những sự đối lập sau: đối lập

về trầm bổng, khép/ mở của các nguyên âm làm đỉnh vần; đối lập về tắc- vang, tắc - điếc (vô thanh) giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh trong các âm cuối kết vần; đối lập cao thấp, bằng / trắc của các thanh điệu

Ngoài việc tổ chức các đơn vị âm thanh theo sự đối lập, vần và nhịp thơ cũng góp phần quan trọng tạo nên nhạc tính cho thơ ca Như đã biết, phát ngôn bao giờ cũng phải thể hiện bằng một ngữ điệu Mỗi dòng thơ, câu thơ chứa trong bản thân nó một loại ngữ điệu đặc biệt, người ta gọi đó là nhạc thơ Khi nhạc thơ của một thể thơ đạt đến tính ổn định và làm nên nét khác biệt thì chúng trở thành âm luật của thể thơ đó

Trang 35

Nhạc thơ được tạo nên bởi ba yếu tố chính là âm điệu, vần điệu và nhịp điệu Tuỳ thuộc từng bài thơ cụ thể mà một trong ba yếu tố đó có vai trò nổi bật hơn Trong bất

cứ bài thơ nào, vai trò của ba yếu tố này cùng được xác lập thì thi phẩm càng giàu nhạc điệu và ấn tượng ngữ nghĩa càng phụ thuộc nhiều hơn ấn tượng ngữ âm Về âm điệu, tính đối lập của âm tiết tiếng Việt được quy định bởi các thành phần cấu tạo nên chứ không phải đơn vị nào khác, là cơ sở tạo nên âm điệu trong thơ cách luật tiếng Việt Âm điệu là một khái niệm được xác lập trong thế tương quan với vần điệu, nhịp điệu và thanh điệu (tức sự phối thanh) Âm điệu còn có thể được hiểu là sự hoà âm được tạo ra từ sự luân phiên xuất hiện giữa các đơn vị âm thanh (nguyên âm, phụ âm, thanh điệu) có những phẩm chất ngữ âm tương đồng và khác biệt trên trục tuyến tính

Về vần điệu, đây là khái niệm chưa có tính ổn định cao Trước hết cần hiểu khái niệm vần trong âm tiết Theo Đoàn Thiện Thuật: Âm tiết tiếng Việt bao gồm ba bộ phận độc lập: thanh điệu, âm đầu và phần còn lại Bộ phận thứ ba mang âm sắc chủ yếu của

âm tiết Nó là bộ phận đoạn tính duy nhất kết hợp với thanh điệu tạo nên vần thơ, nên tạm gọi là phần vần [158; 65] Như vậy, phần vần của âm tiết (cùng với thanh điệu) là yếu tố quan trọng nhất tạo nên vần thơ Vần thơ có thể được hiểu như sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau, do đó giúp người đọc được thuận miệng, nghe được thuận tai và làm cho người nghe dễ thuộc, dễ nhớ [9; 21, 22] Vần thơ là do nhu cầu thực sự của tâm hồn muốn nhìn thấy mình được biểu lộ rõ ràng hơn, có sự vang động đều đặn… [70] Vần là yếu tố lặp lại của một bộ phận âm tiết theo một vị trí nhất định trong dòng thơ (câu thơ) có chức năng tổ chức, liên kết các câu thơ (dòng thơ) thành khổ thơ, các khổ thơ thành bài thơ Vần là yếu tố quan trọng tạo nên sự hòa âm giữa các câu thơ Dù hiểu theo cách nào, vần luôn là yếu tố quan trọng tạo nên sự hòa âm giữa các câu thơ, dòng thơ Dựa vào thanh điệu, người ta chia vần thơ thành vần bằng (âm tiết có thanh ngang và thanh huyền) và vần trắc (âm tiết có thanh sắc, ngã, hỏi, nặng) bao gồm nhóm trắc thường (âm tiết có thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc và thanh nặng và nhóm trắc nhập (âm tiết có các âm cuối p, t, ch, c mang thanh sắc và thanh nặng) Dựa vào vị trí hiệp vần ta có vần chân (vần liền, vần cách, vần ôm) và vần lưng Dựa vào mức độ hòa âm giữa các âm tiết, ta có vần chính, vần thông và vần ép Dựa vào cách kết thúc âm tiết tham gia hiệp vần có vần mở (vần đơn), vần nửa mở, vần nửa khép, vần khép (vần phức)

Về nhịp điệu, theo F de Saussure [127], nhịp điệu của giao tiếp thông thường được hình thành từ tính phân phối ngữ nghĩa Nghĩa là, căn cứ vào ý nghĩa có thể phân chuỗi ngữ lưu ra từng đoạn Trong thơ, nhịp điệu là kết quả của sự hòa phối âm thanh

Trang 36

được tạo ra từ sự ngắt nhịp Sự ngắt nhịp có thể theo cú pháp và theo tâm lý (tình cảm, cảm xúc của tác giả) Có thể hiểu nhịp điệu là cái được nhận thức thông qua toàn

bộ sự lặp lại có tính chu kì, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng nghỉ, chỗ ngắt hơi trên những đơn vị cơ bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, thậm chí đoạn thơ Tùy từng thể thơ mà có cách ngắt nhịp khác nhau và có cả sự chi phối của cá tính sáng tạo của nhà thơ Chẳng hạn, thơ lục bát truyền thống phù hợp diễn tả những cảm xúc êm đềm, trong sáng nên thường ngắt nhịp chẵn (2/2/2, 2/2/2/2) Khi nhịp thơ biến đổi sang nhịp lẻ thì đã có sự thay đổi trong cảm xúc Thơ

tự do phù hợp với sự tự do trong tâm hồn Vì vậy, sự ngắt nhịp trong thơ tự do rất phong phú và đa dạng Yếu tố tạo nên nhịp điệu là những chỗ ngừng nghỉ trong sự phân bố mau thưa theo sự chế định của thể thơ hoặc sự biến thiên đa dạng của cảm xúc, thi hứng Chuỗi âm thanh của lời thơ được chia tách thành những đơn vị tiết tấu, tức là khoảng ngừng hơi, ngắt hơi nhỏ nhất (hay còn gọi là bước thơ) Sự ngắt nhịp ngoài sự chi phối của cú pháp, cảm xúc còn có sự chi phối của vần thơ, tạo nên tính nhạc cho lời thơ Cách ngắt nhịp, tạo nhịp trong thơ đa dạng, muôn màu, tuỳ câu, tuỳ khổ, tuỳ bài thơ cụ thể Nhịp là yếu tố cơ bản, là xương sống của bài thơ và là tiền đề cho hiện tượng hiệp vần trong thơ

Tính nhạc là đặc trưng quan trọng của thơ trong sự phân biệt với ngôn ngữ văn xuôi Đúng như nhận xét của Hữu Đạt: Muốn chuyển một đoạn văn xuôi thành một bài hát, một bản nhạc thành công thì trước hết phải là thứ văn xuôi giàu nhịp điệu, một thứ văn xuôi tiếp cận với thơ ca Điều đó là hiển nhiên, vì không có một nhạc sĩ nào, dù có tài, lại chuyển một đoạn văn xuôi chính luận thành một bài hát cả [35; 201]

1.2.2.2 Bình diện ngữ nghĩa

Trong thơ, ngôn ngữ cô đọng, từ ngữ và hình ảnh súc tích, đa nghĩa Mỗi từ ngữ khi được đưa vào thơ đều đã trải qua cân nhắc lựa chọn của tác giả và được đặt vào những vị trí nhất định Nhà thơ phải chấp nhận một thứ lao động nhọc nhằn, khổ sai vì

Thơ là một lạng cảm xúc cộng với một tạ mồ hôi [33;110] Và nhà thơ phải một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổ bát mồ hôi lấy từng hạt chữ [33;

118] Nhà thơ Lê Đạt tự nhận mình là phu chữ, bởi theo ông: Bất cứ một chữ nào

cũng phải có phần ngày của kí hiệu và phần đêm của sự vật Bóng chữ có thể coi là phần tiền kiếp không được hoá giải của chữ như bóng con thuyền Trương Chi thiếu

nợ hò khoan mãi lòng chén nước Mị Nương [33; 13] Chữ hay bóng chữ mà Lê Đạt

nói ở đây là các đơn vị từ ngữ Nhưng “Chức năng thi ca là đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp”(R.Jakobson) [81;58] nên các từ ngữ

Trang 37

khi đi vào thơ chúng kết hợp với nhau thì tính võ đoán của ngôn ngữ bị phá vỡ, không còn nét nghĩa nguyên trạng nữa Một thực tại mới đã được hiện ra Về điều này, chính

R Jakobson cũng đã xác nhận: “Trong ngôn ngữ thi ca, kí hiệu tự bản thân nó đã

hoàn tất một giá trị độc lập (Ngôn ngữ và thi ca, Cao Xuân Hạo dịch)[82] Cũng vậy,

khi J.P.Sartre khẳng định nhà thơ khước từ sử dụng ngôn ngữ là ý muốn nói tuyệt đối không coi ngôn ngữ như một kí hiệu, một công cụ giao tiếp đơn thuần Nhà thơ ít quan tâm đến phần biểu thị tự vị của chữ mà chủ yếu quan tâm đến phần hình dung, đến diện mạo, âm hưởng, độ vang vọng, sự gợi cảm quá khứ và tương lai của chữ

trong quan hệ hữu cơ với câu thơ, bài thơ Chữ dùng trong thơ là chữ Chẳng mơ gác

tía, lọng vàng/Chỉ mơ một chữ xốn xang hồn người (Bùi Minh Quốc)

Không phải là thơ không cần ý tưởng Nhưng cái ý tưởng hay cảm xúc cũng như sự quan sát khách quan của nhà thơ phải trở thành máu huyết của mình Nhà thơ phải sống với nó mỗi ngày, rồi nó tự bật ra, thơ tự nhiên bật ra thôi Muốn thế, nhà thơ phải sống với chữ nghĩa, phải ăn nằm với chữ (Dương Tường) để rồi chữ bầu nên nhà thơ Theo Hoàng Cầm: Thơ tôi không có thông điệp Không hề có có ý định diễn đạt một ý tưởng ra thành thơ (…) Các chữ bao giờ cũng bật ra từ tâm linh, có khi đi trước nghĩa của chúng (…) Nhưng nếu coi thông điệp là những ý nghĩa của bài thơ, người đọc nhận ra mỗi người một cách khác nhau, thì tất nhiên, bài thơ nào cũng có thông điệp

cả Khi các chữ của nhà thơ được viết ra từ những rung động của tâm hồn, từ nhịp đập của trái tim thì cũng làm cho trái tim người đọc rung động theo Như vậy, thơ không phải là có sẵn ý nghĩa (đa nghĩa, theo cách nói của Dương Tường), thơ trước hết là sự rung động Nó còn đi trước cả ngôn ngữ biểu đạt rồi trở thành một với nó Nói khác

đi, nếu coi mỗi bài thơ là một từ vựng (vocabulaire) tức là cái biểu đạt để định danh cái được biểu đạt thì tính cách võ đoán của mỗi từ vựng - thơ đó là tuỳ thuộc vào tiếng lòng của nhà thơ Vậy là, ngữ nghĩa trong thơ phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong văn xuôi và có sự khác biệt với ngữ nghĩa trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Ngữ nghĩa và ngữ âm là hai mặt cơ bản cấu thành tác phẩm thi ca Dù âm thanh

và ý nghĩa trong thơ được nghiên cứu một cách cô lập thì hai bình diện này bao giờ cũng được bao hàm một cách tất yếu Bởi vì: “Sự tương đồng giữa các âm thanh được chiếu lên chuỗi tiết tấu như là nguyên lí cấu thành nó thế nào cũng bao hàm tính tương đồng ngữ nghĩa” [83]

1.2.2.3.Bình diện ngữ pháp

Trang 38

Trong ngôn ngữ thơ, nếu như bình diện ngữ âm tương liên với bình diện ngữ nghĩa thì bình diện ngữ âm cũng có quan hệ với ngữ pháp Sự lặp lại một hình tượng ngữ pháp (figure grammaticale) cùng với sự lặp lại một hình tượng ngữ âm (figure phonique) là nguyên tắc cấu tạo của một tác phẩm thơ Đôi khi, những tương phản trên bình diện tổ chức ngữ pháp đã tạo áp lực đối với việc phân chia bài thơ thành những khổ thơ hoặc những phần của khổ thơ như câu thơ (dòng thơ)

Đi vào cụ thể, về phương diện ngữ pháp, câu thơ, dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ, ngược lại, cũng có những dòng thơ chứa nhiều câu thơ Nhà thơ có thể sử dụng nhiều kiểu câu bất thường về cú pháp như đảo ngữ, tách câu, câu vắt dòng, câu trùng điệp,…mà không ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận văn bản, trái lại, chính những bất thường về cú pháp lại tạo nên những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn từ thi ca Sử dụng các kiểu câu bất thường về cú pháp

có khả năng vô tận trong việc chuyển tải những trạng thái tinh tế, bí ẩn trong thế giới nội tâm con người, giúp nhà thơ diễn đạt được những thành phần ngữ nghĩa đa dạng trong sự hữu hạn về số lượng câu chữ Nguyễn Lai đã khái quát đặc trưng ngữ pháp của thơ: chính do cái chủ quan xen vào bộc lộ để bình phẩm cái khách quan bằng con đường cảm xúc, nên ở đây, kết hợp ngữ pháp, nhất là mạch ngữ pháp thiên về hướng logic thông thường, không thể thực hiện được dễ dàng như văn xuôi Ngữ pháp trong câu thơ rất khó phân tích rạch ròi, phải chăng một phần chính là vì lí do này! [93; 49] Tóm lại, qua ba bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp, ta thấy ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù Qua ba bình diện này, các nhà thơ đã đem lại cho dân tộc mình một ngôn ngữ thơ sinh động và mới mẻ Nói như Hêghen: Nhà thơ là người đầu tiên đã làm cho dân tộc mình mở miệng và thiết lập mối quan hệ giữa biểu tượng

và ngôn ngữ.(Dẫn theo [121])

1.2.2.4 Cấu trúc âm luật của thể thơ lục bát

Theo Phan Diễm Phương [126], có ba yếu tố tạo nên cấu trúc âm luật của thể thơ lục bát, đó là: sự tổ hợp các dòng, phối điệu, gieo vần, ngắt nhịp như sau:

Về sự tổ hợp các dòng ở thể lục bát: Dòng trong thể lục bát là một trong hai vế

song hành lập thành một khổ thơ, dòng lục (6 tiếng) trên, và dòng bát (8 tiếng) dưới Việc chia tách thành hai dòng như vậy là có nguyên tắc Đúng như hai nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình [12] đã viết: Tiếng thứ sáu dòng lục là vị trí của vần; sau

vị trí này là một chỗ nghỉ hơi tương đối rõ và đến đây cũng chấm dứt một quy tắc luân phiên thanh điệu B-T-B Khi được sử dụng trong các tác phẩm, các khổ lục bát không

Trang 39

bị hạn định về số lượng, ít nhất là một khổ và kéo dài bao nhiêu cũng được Trong thơ ca thành văn ở cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI và cho đến những tác phẩm thuộc ba mươi năm đầu thế kỷ XX, tổ hợp các dòng lục bát được duy trì một cách thống nhất

Tuy nhiên, trong ca dao, chúng ta lại tìm thấy tổ hợp các dòng có nhiều thay đổi như: Dòng lục co lại, dòng bát giữ nguyên; Dòng lục giữ nguyên, dòng bát dãn ra; Dòng lục dãn ra, dòng bát giữ nguyên; Cả hai dòng đều dãn ra Do chỗ vần điệu của

tổ hợp các dòng thơ này đã rất quy củ nên sự dãn duỗi các dòng thơ như thế không hề phá vỡ âm luật của thể thơ lục bát thông thường

Về cách gieo vần ở thể lục bát: Vần là một phương tiện tổ chức văn bản thơ ca dựa

trên cơ sở lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa và liên kết giữa các dòng thơ Gieo vần trong thơ lục bát thực hiện theo hai nguyên tắc:

Về thanh điệu: Đó là vần bằng, tức là những những bộ vần trong đó các tiếng tham

gia hiệp vần mang thanh bằng (ngang, huyền)

Về vị trí gieo vần: Lục bát vừa có vần chân (còn gọi là cước vận) được gieo vào cuối dòng thơ, vừa có vần lưng (còn gọi là yêu vận), được gieo ở giữa dòng thơ,

thường là vào tiếng thứ sáu dòng bát Sự chắp dính giữa các vần có thể được hình dung theo mô hình sau đây:

Sơ đồ 1.1 M« h×nh vÇn th¬ trong thÓ th¬ lôc b¸t truyÒn thèng

chu kỳ vừa diễn ra Đó là mô hình vần của lục bát thường thể Ngoài ra còn có thể có

vần ở tiếng thứ tư và vần trắc

Về ngắt nhịp ở thể lục bát: Một vế tương đương nhỏ nhất trong ngôn từ thi ca được

gọi là một nhịp [24; 62] Tác giả Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình gọi là “bước thơ” [12; 12] Nhịp là đơn vị cơ bản tạo nên độ dài các dòng thơ

Ngắt nhịp là sự chia cắt dòng thơ ra thành các vế tương đương Đó là hiện tượng xảy ra theo quy luật sắp xếp tổ chức âm thanh nhằm tạo nên sự hài hòa, nhịp nhàng

Trang 40

cho ngôn từ thơ ca Thể lục bát có một loại nhịp cơ bản, trực tiếp tạo nên âm luật cho

nó là nhịp gồm hai tiếng (gọi tắt là nhịp hai), nghĩa là các dòng lục bát dựa trên sự tổ hợp trực tiếp từ các nhịp gồm hai âm tiết Như vậy, dòng lục gồm 3 nhịp hai, dòng bát gồm 4 nhịp hai

Nếu căn cứ vào thanh điệu của tiếng cuối nhịp, ta có thể gọi nhịp có tiếng cuối thuộc thanh bằng là nhịp bằng, và nhịp có tiếng cuối thuộc thanh trắc là nhịp trắc Quy tắc tổ chức âm thanh ở nhịp hai của lục bát dựa trên hai căn cứ:

Căn cứ thứ nhất là sự luân phiên thanh điệu Ở dòng lục- là một nhịp bằng rồi một nhịp trắc, cuối cùng lại đến một nhịp bằng Còn ở dòng bát là một nhịp bằng, một nhịp trắc, một nhịp bằng bổng (hoặc trầm), kết thúc là một nhịp bằng trầm (hoặc bổng) Căn cứ thứ hai là sự nhấn mạnh ở các tiếng thứ hai, thứ tư, thứ sáu và thứ tám Quy tắc ngắt nhịp này nhìn chung là trùng hợp với phân đoạn cú pháp và phù hợp với ngữ nghĩa dòng thơ

Tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức lại cho rằng “nhịp điệu dù tính theo đơn

vị nào cũng gắn chặt với cảm xúc và tư duy được diễn đạt qua lời thơ”, đã đưa ra kết luận là “sự tổ hợp câu lục và câu bát sẽ cho ta tối thiểu là 60 dạng câu lục bát khác nhau” [115; 16, 17] Song thực tế lại cho thấy, đối với thơ cách luật, mà lục bát là một trong số đó, thì âm luật chi phối ngữ điệu lời nói đến mức tối đa Ngữ điệu lời nói nhằm biểu đạt ý nghĩa logic, ý nghĩa ngữ pháp và sắc thái tình cảm nhiều khi phải biến đổi đi rất nhiều cho phù hợp với âm luật thể thơ đã thành khuôn mẫu

Hai nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình cũng khẳng định quy tắc ngắt nhịp hai ở thể lục bát: “nói chung các bước trong thơ lục bát đều có độ dài ngang nhau, bước nào thường cũng chỉ gồm hai tiếng như bước nào Không phải ngẫu nhiên

mà từ lâu người ta đã đi đến nhận định khái quát: tính ưa nhịp chẵn của câu thơ Việt Nam, trước hết là những câu thơ lục bát”[12; 13]

Tuy nhiên, cũng không hoàn toàn loại trừ khả năng có những trường hợp nào đó, các dòng lục bát không nhất thiết ngắt nhịp hai Đó là trường hợp ở các dòng lục có tiểu đối và ở các dòng bát có hình thức đối ở 6 tiếng đầu như vậy thì việc ngắt nhịp ba (mỗi nhịp gồm ba tiếng) là hết sức tự nhiên Và ngắt nhịp ba là một biến đổi trong nguyên tắc gieo vần của thể lục bát

Về phối điệu ở thể lục bát: Phối điệu là sự sắp xếp, phối hợp các thanh điệu theo những nguyên tắc nhất định để tạo nên ấn tượng cân đối hài hòa về âm thanh giữa các nhịp, các vế tương đương.[126; 46] Ba nguyên tắc phối điệu của lục bát là:

Ngày đăng: 25/06/2016, 15:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.14 : Hiệp vần thông của các âm chính - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
Bảng 2.14 Hiệp vần thông của các âm chính (Trang 63)
Bảng  2.18 :  Hiệp  vần  thông  của  các  nguyên  âm-  âm  chính  không  cùng  dòng,  không cùng độ mở - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
ng 2.18 : Hiệp vần thông của các nguyên âm- âm chính không cùng dòng, không cùng độ mở (Trang 66)
Sơ đồ 3.2: Sự luân phiên thanh điệu theo tiếng chính - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
Sơ đồ 3.2 Sự luân phiên thanh điệu theo tiếng chính (Trang 92)
Sơ đồ 3.1: - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
Sơ đồ 3.1 (Trang 92)
Sơ đồ 3.3: Sắp đặt tiếng bằng tiếng trắc theo âm luật: - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
Sơ đồ 3.3 Sắp đặt tiếng bằng tiếng trắc theo âm luật: (Trang 93)
Bảng 3.1:          Mô hình lý tưởng: - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
Bảng 3.1 Mô hình lý tưởng: (Trang 94)
Bảng 4.1: Thống kê từ và âm tiết : - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
Bảng 4.1 Thống kê từ và âm tiết : (Trang 133)
Bảng 2: Phân loại khuôn vần âm tiết tiếng Việt theo kiểu kết thúc của vần - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
Bảng 2 Phân loại khuôn vần âm tiết tiếng Việt theo kiểu kết thúc của vần (Trang 173)
Bảng 5: Thống kờ cỏc loại nhịp trong cõu bỏt, thơ lục bỏt Đồng Đức Bốn: - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
Bảng 5 Thống kờ cỏc loại nhịp trong cõu bỏt, thơ lục bỏt Đồng Đức Bốn: (Trang 175)
Bảng 6: Thống kờ cỏc loại nhịp trong cặp cõu lục bỏt, thơ lục bỏt Đồng Đức Bốn: - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
Bảng 6 Thống kờ cỏc loại nhịp trong cặp cõu lục bỏt, thơ lục bỏt Đồng Đức Bốn: (Trang 176)
BẢNG 7:  Phối thanh trong câu lục, thơ lục bát Đồng Đức Bốn - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
BẢNG 7 Phối thanh trong câu lục, thơ lục bát Đồng Đức Bốn (Trang 181)
BẢNG 8: Phối thanh trong câu bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
BẢNG 8 Phối thanh trong câu bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn (Trang 187)
BẢNG 9: Phối thanh trong cặp lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn: - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
BẢNG 9 Phối thanh trong cặp lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn: (Trang 188)
BẢNG 10: Thống kê các câu lục lệch chuẩn trong truyện Kiều của Nguyễn Du - Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn
BẢNG 10 Thống kê các câu lục lệch chuẩn trong truyện Kiều của Nguyễn Du (Trang 192)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w