1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

164 1,8K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thơ lục bát Đồng Đức Bốn
Tác giả Đồng Đức Bốn
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 803,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4et4456y

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

I Lí do chọn đề tài 1

II Lịch sử vấn đề 3

III Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 13

IV Phương pháp nghiên cứu 14

V Đóng góp của luận văn 15

VI Cấu trúc luận văn 15

PHẦN NỘI DUNG 16

CHƯƠNG I - THƠ LỤC BÁT CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN TRONG DÒNG LỤC BÁT HIỆN ĐẠI 16

1 Giới thuyết về thơ lục bát 16

2 Dòng lục bát hiện đại 18

2.1 Thơ lục bát trong phong trào Thơ mới (1932 - 1945) 19

2.2 Thơ lục bát từ 1945 đến 1975 24

2.3 Thơ lục bát từ sau 1975 27

3 Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn 34

3.1 Về tác giả Đồng Đức Bốn 34

3.2 Đồng Đức Bốn – mượn bút của trời phiêu du vào lục bát 36

3.2.1 Quan niệm của Đồng Đức Bốn về thơ và về thơ lục bát 36

3.2.2 Vị trí của thơ lục bát trong sự nghiệp thơ Đồng Đức Bốn 38

CHƯƠNG II – NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN 41

1 Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn – nồi niềm thương nhớ đồng quê 41

1.1 Cảnh quê trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 42

1.2 Người quê trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 62

2 Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn – thế giới của tình yêu, tình nhân 76

2.1 Em – hình bóng tình nhân ám ảnh đời thơ Đồng Đức Bốn 76

Trang 2

2.2 Tâm thế tình nhân Đồng Đức Bốn: hành trình tìm yêu không

ngừng nghỉ 78

3 Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn – thế giới của cái tôi tự khẳng định 89

3.1 Xưng Tôi như một cách thể hiện bản ngã 89

3.2 Bản sắc của cái tôi Đồng Đức Bốn: cái tôi mồ côi, cô đơn lạc lõng, có lúc nổi loạn 93

4 Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn - những vần thơ triết lí, chiêm nghiệm 99

CHƯƠNG III – NHỮNG ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN 105

1 Câu thơ, cách ngắt nhịp, gieo vần và phối thanh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 105

1.1 Về câu thơ và cách ngắt nhịp trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 105

1.1.1 Về câu thơ: 105

1.1.2 Về cách ngắt nhịp thơ 108

1.2 Về cách gieo vần và phối thanh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn113 1.2.1 Về cách gieo vần 113

1.2.2 Về cách phối thanh 116

2 Ngôn ngữ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 118

2.1 Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị mang phong vị ca dao 118

2.2 Ngôn ngữ tự nhiên mang đậm chất khẩu ngữ 133

2.3 Ngôn ngữ mang đậm dấu ấn cá nhân 136

3 Giọng điệu trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 139

2.1 Giọng điệu tâm tình, thở than 140

3.2 Giọng điệu cao ngạo có khi quyết liệt và nổi loạn 145

3.2 Những sắc điệu khác của giọng điệu 149

KẾT LUẬN 154

THƯ MỤC THAM KHẢO 157

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

1 Lục bát là một thể thơ truyền thống, một thể loại thi ca đặc thù củavăn học Việt Nam, mang trong nó hồn phách của dân tộc Việt Nam Thậm chí

có người còn cho rằng: “Nếu Đường thi là báu vật của Trung Quốc thì Lục

Bát là báu vật của Việt Nam” (Hoàng Trung Hiếu) và nói như nhà nghiên cứu

phê bình Chu Văn Sơn: “Nếu chọn loài cây Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn phải là

cây tre Nếu chọn loài hoa Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là hoa sen Nếu chọn trang phục Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là chiếc áo dài Nếu chọn nhạc khí Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là cây đàn bầu…Cũng như thế, nếu chọn trong nền thơ

ca phong phú của ta một thể thơ làm đại diện dự cuộc giao lưu thơ toàn cầu, hẳn đó phải là Lục bát” (Sức sống mãnh liệt của lục bát) Thể thơ được đa số

người cho là “quốc thi” này mang trong nó bao quốc hồn, quốc túy Đây là

thể loại có khả năng to lớn trong việc diễn tả những cung bậc, trạng thái cảmxúc của con người Nhịp của lục bát dường như khớp với nhịp của trái timcon người đất Việt, khớp với nhịp suy tư, nhịp cảm xúc của con người đấtViệt Ở đâu có buồn vui, ở đó có lục bát Ở đâu có nam thanh, nữ tú, ở đó cólục bát Cho nên, tâm hồn Việt Nam đến với lục bát như một lẽ tự nhiên Thơlục bát gần gũi với tâm hồn Việt cũng như vậy: lục bát ở bến nước, gốc đa;lục bát ở ruộng cày, ở cuối thác, đầu ghềnh, đỉnh dốc; lục bát ở trên cành senhay trên nụ tầm xuân xanh biếc… Lục bát là máu chảy trong huyết quản đểnuôi sống tâm hồn người Việt bao thế hệ

Do vậy, trong suốt quá trình phát triển của nền văn học dân tộc, thể thơnày luôn được đề cao và đã có rất nhiều thành công, những kết tinh Sự dung

dị, mềm mại và khả năng dung nạp được cùng lúc nhiều nội dung đa dạng củađời sống và tâm tư đã khiến cho thể thơ này có sức sống trường tồn Lục bát

Trang 4

quyện vào hồn người từ những điệu hát ru à ơi bên cánh võng đến những câu

ca dao ngọt lịm hương đồng trong những đêm sông nước đồng quê như: “ Cô kia tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”

Hay những câu ca dao đầy ắp nhớ mong, khắc khoải:

“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống rơm”

Thơ lục bát không chỉ kết tinh trong ca dao mà còn được sử dụng khánhiều trong văn học trung đại Những dòng sông lục bát đã chảy xuyên quatâm thức nhiều thế hệ Việt Nam, bồi đắp phù sa cho bao tâm hồn Việt Namnhư Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Hoa tiên ký, Phạm Công – Cúc Hoa… ĐếnThơ mới, các nhà thơ tìm đến lục bát như một sự hòa điệu Trong làn mưa Âugió Mĩ, họ đã bắt nhịp nhanh với lục bát, nâng cao lên theo thi pháp hiện đạivới những tên tuổi như Nguyễn Bính, Huy Cận, Thế Lữ, Xuân Diệu,…Trảiqua thời kì kháng chiến trường kì gian khổ (gắn với cây lục bát Tố Hữu), đếnhôm nay, các nhà thơ vẫn không ngừng ca lên những bài lục bát ngọt ngào,sâu lắng nhưng mang đậm hơi thở của cuộc sống hiện đại với những tên tuổinổi bật như Nguyễn Duy, Bùi Giáng, Đồng Đức Bốn, Nói như TS Chu Văn

Sơn thì : “Thơ lục bát qua một thế kỷ về sau càng hiện đại so với hồi đầu.

Chứng tỏ thơ lục bát vẫn trường tồn gắn bó máu thịt với tâm hồn Việt trên con đường hiện đại Lục bát là tài sản thiêng liêng của nền văn hoá Việt Chừng nào thế giới còn chưa thấu hiểu vẻ đẹp của lục bát Chừng ấy họ chưa hiểu vẻ đẹp của thơ Việt Nam Và chừng nào ta còn chưa làm cho thế giới tiếp nhận được vẻ đẹp của lục bát Chừng ấy nền thơ Việt vẫn còn chưa thực

sự làm tròn sứ mạng của mình”…

Thơ lục bát là nơi hội tụ tinh hoa của thơ ca Việt Nhưng trong xu

hướng dân chủ hóa và cách tân mạnh mẽ của văn học đương đại, liệu thể thơ

Trang 5

lục bát còn được nâng niu, trân trọng hay không? Liệu dòng chảy bạt ngàn

vô tận của lục bát có cập bến tâm hồn người Việt hôm nay hay không?

2 Đồng Đức Bốn là một trong những nhà thơ lục bát tiêu biểu của văn

học đương đại trong vài thập niên gần đây Ông “đại náo” ( Dư Thị Hoàn)làng văn Việt Nam bằng thanh gươm lục bát của riêng mình và dành được

một vị trí mà nhiều người ao ước Ông được coi là “vị cứu tinh của thơ lục

bát” ( Nguyễn Huy Thiệp), là người “xông thẳng vào trận địa lục bát và chỉ một thời gian ngắn đã trở thành ông vua trẻ của thể loại này” (Phạm Tiến

Duật) Ông sáng tác thơ lục bát với số lượng lớn và có nhiều bài thơ xuất sắc,được giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao và nhiều người thuộc lòng Thơlục bát của Đồng Đức Bốn có nét độc đáo riêng, khó lẫn về nội dung cảm xúc

và hình thức biểu đạt Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

có hệ thống và toàn diện về thơ lục bát của ông Mặt khác, đánh giá về thơ lụcbát Đồng Đức Bốn vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất Nghiên cứu về thơlục bát của Đồng Đức Bốn, do vậy, là một việc làm cần thiết - để người đọc

có được cái nhìn rõ hơn và toàn diện hơn về thơ lục bát của tác giả này

3 Chọn đề tài “Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn” còn xuất phát từ

niềm yêu thích thơ lục bát nói chung và thơ lục bát của Đồng Đức Bốn nói

riêng của người viết Mong muốn của chúng tôi là muốn tìm hiểu, lí giải, cắt

nghĩa cái hay cái đẹp của lục bát Đồng Đức Bốn; qua đó góp phần giới thiệumột hồn thơ lục bát tiêu biểu của nền thơ ca đương đại với bạn đọc

II Lịch sử vấn đề

1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ lục bát

Được mệnh danh là “mẹ của thi ca”, từ lâu, thể thơ lục bát đã được các

nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm Các tác giả Dương Quảng Hàm, HoaBằng, Đặng Việt Thanh, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Lân, Nguyễn Hồng

Phong,… nghiên cứu đến vấn đề nguồn gốc và bài thơ lục bát cổ nhất Các

Trang 6

tác giả Lê Bá Hán, Mã Giang Lân, Lục Nam, Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức,Phan Diễm Phương, Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy, Trần Khánh Thành,… lại

quan tâm hơn đến khía cạnh vần, nhịp, tiết tấu, âm hưởng, kết cấu và giọng

điệu của thơ lục bát Đi sâu vào góc độ ngôn ngữ, khả năng thể loại và bản

chất thể loại là các tác giả Nguyễn Tài Cẩn, Võ Bình (1985), Nguyễn PhanCảnh (1987), Mai Ngọc Chừ (1991), Hữu Đạt (1998), Nguyễn Thái Hòa

(1999), Hồ Hải (2008),…Vấn đề sự phát triển hoặc những phát hiện về mối

quan hệ với văn học dân gian, về sự tác động ảnh hưởng của thơ lục bát ca dao, lục bát cổ điển đối với thơ và thơ lục bát hiện đại,… đã được các tác giả

như Nguyễn Xuân Kính, Trần Đức Các, Xuân Diệu, Trần Đình Sử, Chu VănSơn, Lê Quang Hưng nhắc đến trong các bài nghiên cứu của mình Như vậy,nghiên cứu về thơ lục bát là quá trình nghiên cứu không chỉ có độ rộng màcòn có độ sâu Có thể nói, thơ lục bát chưa và không bao giờ ngừng trở thànhđối tượng quan tâm của các nhà nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ Đồng Đức Bốn

Đồng Đức Bốn thực sự nổi bật trên thi đàn trong vài thập niên gần đây.Cho đến nay, chưa có một cuốn sách giáo khoa nào đề cập đến tác giả ĐồngĐức Bốn Tuy nhiên, tác giả này cũng nhận được khá nhiều sự quan tâm củagiới nghiên cứu và bạn đọc xa gần Khen có, chê có! Nhưng mặc những ýkiến khen chê, thơ Đồng Đức Bốn vẫn nổi lên như một “ hiện tượng” đặc biệt.Thơ Đồng Đức Bốn xuất hiện trong những công trình nghiên cứu quy mô vàkhá bài bản cho đến những bài viết nhỏ in trên báo viết, báo mạng

Nghiên cứu về thơ Đồng Đức Bốn, ca ngợi thơ ông có thể kể đến cáctác giả như: Nguyễn Huy Thiệp, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Đăng Điệp, PhạmTiến Duật, Băng Sơn, Nguyễn Văn Quân, Lê Quang Trang, Vĩnh Quang Lê,Nguyễn Văn Quân,… Trong các bài viết hay các công trình nghiên cứu, cáctác giả đều hướng đến việc khẳng định những đóng góp của Đồng Đức Bốn

Trang 7

vào kho tàng thơ ca đương đại trên các phương diện như ngôn ngữ, giọngđiệu,…

Gần đây, có một số luận văn về thơ Đồng Đức Bốn như : “Thơ Đồng

Đức Bốn” (Nguyễn Thị Hạ - năm 2006), “Giọng điệu thơ Đồng Đức Bốn”

(Bùi Việt Phương – năm 2007), “ Xu hướng tìm về thi pháp thơ ca dân gian

trong thơ Việt Nam đương đại - Khảo sát qua ba trường hợp Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ” (Lê Thị Hoài – năm 2007), “Chất đồng quê trong thơ lục bát Việt Nam hiện đại – qua thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn” ( Phạm Mai Phong - năm 2008), “ Văn hóa làng quê trong thơ lục bát đương đại – qua thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ” (Nguyễn Văn Đồng – năm 2008), “ Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính và Đồng Đức Bốn dưới góc nhìn so sánh” (Lại Thị Thu Thủy – năm

2011),…

Đặc biệt, để thể hiện sự trân trọng với những đóng góp của Đồng ĐứcBốn cho văn học đương đại, ngày 15/5/2011, Hội Nhà văn Việt Nam, Liênhiệp văn học nghệ thuật Hải Phòng, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng

đã tổ chức cuộc hội thảo khá lớn về thơ Đồng Đức Bốn và thơ Mai Văn Phấnvới sự tham gia của khoảng 400 nhà thơ, nhà văn, nhà lí luận phê bình vănhọc Có tới mấy trăm bài tham luận từ Trung ương đến các địa phương , từnhà thơ lớn của Hội nhà văn đến các đơn vị ngoài văn chương, của các bạnthơ, khách thơ,… Tất cả những bài tham luận đều dành những lời đánh giá,ghi nhận, biểu dương những sáng tạo, những đóng góp của cả hai tác giả chonền thơ Việt Nam đương đại

Như vậy, thơ lục bát Đồng Đức Bốn thực sự nhận được khá nhiều sựquan tâm của độc giả Với người nghệ sĩ, còn điều gì vui hơn điều đó?

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Trang 8

Các công trình nghiên cứu về thơ Đồng Đức Bốn nói chung đều có ítnhiều nói đến thơ lục bát của ông Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ nhắc đến thơlục bát như một đóng góp nổi bật chứ chưa thực sự đi nghiên cứu sâu và hệthống

Xét riêng về thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, cũng có khá nhiều tác giảquan tâm nghiên cứu và triển khai đề tài này thành những chuyên luận

Mở đầu là bài viết: “Đồng Đức Bốn – vị cứu tinh của thơ lục bát”

của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Trong bài viết này, Nguyễn Huy Thiệp đã

chỉ ra “một cái gì khác người, hiếm và lạ”[1- I,238] trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn và khiến Đồng Đức Bốn trở thành “ một hiện tượng thơ đặc

biệt – có lẽ anh là người làm thơ lục bát hay nhất trong khoảng 50 năm trở lại đây ở nước ta, kể từ khi Nguyễn Bính – một nhà thơ chân quê đồng thời cũng là một thi sĩ đệ nhất lãng tử giang hồ qua đời”[1-I,239] Theo Nguyễn

Huy Thiệp, cái hay của thơ Đồng Đức Bốn là ở chỗ “Thơ Đồng Đức Bốn khá

giàu tình cảm… giàu nhịp điệu và giàu nội lực”

“ Đồng Đức Bốn là một nhà thơ khai sáng và sáng tạo ra những cái mới trong thơ lục bát”, đồng thời “Anh thuộc diện nhà thơ bảo tồn, bảo lưu các giá trị truyền thống”[1-I,546] Chính vì thế cho nên: “ Thơ lục bát hiện đại của Đồng Đức Bốn chính là hơi thở, là hồn vía trong cuộc sống hôm nay được quản thúc trong niêm luật cổ truyền lục bát”[1-I,546] Trong một bài

viết khác, Nguyễn Huy Thiệp lại dành cho người bạn thơ của mình những

dòng nồng nhiệt : “Đồng Đức Bốn xuất hiện trong làng thơ Việt Nam khoảng

mười năm nay Viết chừng 500 bài thơ, trong đó có tới 90 bài thơ được khách

sành văn chương xếp vào loại “Cực hay, tài tử vô địch!””[1 -I,654]

Cho đến nay, Nguyễn Huy Thiệp đã có khá nhiều bài viết về Đồng Đức

Bốn và thơ Đồng Đức Bốn Ông còn có cả truyện ngắn Đưa sáo sang sông,

lấy thơ Đồng Đức Bốn làm khung cảnh, làm vĩ thanh cho thơ Đồng Đức Bốn

Trang 9

Có thể nói, chưa ai đánh giá cao Đồng Đức Bốn như Nguyễn Huy Thiệp.Những nhận xét, đánh giá của Nguyễn Huy Thiệp trên đây có phần hơi cựcđoan nhưng nó đã chứng tỏ sức hấp dẫn của thơ lục bát Đồng Đức Bốn trongdòng chảy thơ đương đại nói chung và trong dòng chảy thơ lục bát đương đạinói riêng.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp trong công trình “Đồng Đức Bốn –phiêu du vào lục bát” có cái nhìn tỉnh táo hơn Sau khi chỉ ra cái khó trong

việc làm thơ lục bát: “ là một thể loại ai cũng quen mặt, ai cũng thuộc tên,

nếu không có cái mới, lập tức kẻ làm thơ sẽ bị đuổi khỏi chiếu”, tác giả

khẳng định chắc nịch “ Đồng Đức Bốn đã trụ lại được” [1-I,646] Tác giả viết

“ Tôi nghĩ, sức hấp dẫn đầu tiên của thơ Đồng Đức Bốn nói chung và thơ lục

bát nói riêng là sự quyết liệt và táo tợn, có khi bỗ bã trong giọng điệu”

[1-I,648] “Cái mới ở Đồng Đức Bốn là ở chất giọng: nó không mềm, ướt mà xù

xì, gai góc, có khi thô nháp” [1-I,656] “ Một điểm mới nữa trong lục bát của

Đồng Đức Bốn là ở chỗ : “Những câu chữ nhiều khi tưởng như vu vơ ấy được

nối lại trong một cảm xúc đột hứng, táo bạo, đem đến những hiệu quả thật bất ngờ” [1- I, 657] Sau khi phiêu du vào lục bát Đồng Đức Bốn, hút lấy cái

hồn cốt thơ ông, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp đã cho người đọc có cáinhìn sâu sắc hơn về Đồng Đức Bốn và thơ lục bát của ông, thể hiện rõ nhất ởgiọng điệu

Đỗ Minh Tuấn – nhà thơ, nhà phê bình văn học đã đánh giá rất cao thơ

lục bát của Đồng Đức Bốn trong bài viết : “ Đồng Đức Bốn – kẻ mượn bút của trời” Ông cho rằng : “Sự xuất hiện của Đồng Đức Bốn đã đem lại cho thơ

lục bát truyền thống một niềm tự tin đáng kể… Những câu lục bát của Đồng Đức Bốn điêu luyện vừa hồn nhiên, vừa bình dị tuôn chảy ra như những trải nghiệm của kẻ du ca, vừa gần gũi, tài hoa như con đồng buột miêng nói thay

lời kẻ khác” Trong bài “ Trời đưa anh đến cõi thơ”, tác giả đã một lần nữa

Trang 10

khẳng định : “ Lục bát với Bốn là một cái gì cao hơn mọi công cụ, một người

bạn, một chiến binh Bốn coi lục bát là thứ lộc trời cao sang, là ngai vàng một cõi, là bản thể văn hóa, là lưỡi gươm chinh phạt, là máu thịt gia đình và công đức mẹ cha” Từ lời nhận định trên đây, có thể thấy rằng, nói đến thơ Đồng

Đức Bốn là phải nói đến thơ lục bát của ông bởi hồn thơ Đồng Đức Bốn chính

là hồn thơ lục bát đã hóa thân thành vần, thành điệu Những nhận xét của tácgiả Đỗ Minh Tuấn cho chúng ta hình dung rõ hơn về đặc điểm thơ lục bátĐồng Đức Bốn và về giá trị của chúng trong văn học đương đại

Tác giả Nguyễn Thị Anh Thư trong bài viết “Đọc thơ lục bát của Đồng Đức Bốn” đã nhận xét : “Từng cặp câu thơ lục bát của Đồng Đức Bốn

rất chắc khỏe, đa phần từ ngữ được chắt lọc một cách tinh tế với một kiểu logic suy tư (cách liên tưởng) lạ thường đem lại cho người đọc sự bất ngờ, ngỡ ngàng về ý tứ, về ngôn từ, hình ảnh” [1-I,674] Thêm vào hành trang cho

chuyến du hành vào cõi thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, tác giả Nguyễn Thị

Anh Thư viết : “Đọc thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, ta như thấy mình đang

vén lên một bức rèm bí ẩn, mở ra một miền ca dao hoàn toàn mới kì thú, vừa

lạ đấy, vừa quen đấy Và cũng vẫn con đò ấy, dòng sông ấy, con cò ấy từ ngàn đời rồi nay bỗng hiện ra một cách sống động như có hồn, có xương thịt

và có số phận, tính cách” [1-I,674] Trong bài viết, tác giả cố gắng chỉ ra cái

hồn ca dao, chất ca dao vừa lạ vừa quen trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn, từ

đó đi đến khẳng định cái hay của thơ lục bát của ông

Với giọng điệu tự nhiên pha chút ngang tàng nhưng cũng không kém

phần trịnh trọng, trong bài “Đóng gạch nơi nao”, con chim đại bàng của núi

rừng Trường Sơn Phạm Tiến Duật đã khẳng định : “…một mình Đồng Đức

Bốn tự làm một cuộc trường chinh Gã xông thẳng vào trận địa lục bát và chỉ một thời gian ngắn, Đồng Đức Bốn trở thành ông vua trẻ của thể loại này”[1-

Trang 11

I,695] Cách nói này của Phạm Tiến Duật đã khẳng định được tài năng củaĐồng Đức Bốn và những đóng góp của thơ ông.

Tác giả Băng Sơn trong bài “ Đồng Đức Bốn thi sĩ đồng quê” cũng

nhận ra: “Đồng Đức Bốn là một nhà thơ kiệt xuất trong lục bát… Anh tung

hoành vào lục bát như rong chơi, như tình cờ, như bất chợt rút câu thơ 6 – 8

ra từ trong túi áo, những câu thơ mơ ngủ được đánh thức cho bật lên sự sống động, mà anh chẳng tốn bao nhiêu công sức, chẳng cần gọt giũa, chẳng cần cầu kì kĩ thuật”[1-I,728-729].

Tác giả Đinh Quang Tốn trong bài viết “ Những bài thơ cuối cùng của Đồng Đức Bốn” [55] đã trân trọng khẳng định: “ Đến nay, nhắc đến Đồng

Đức Bốn, ai cũng biết đấy là một hồn thơ lục bát Phải thừa nhận rằng: thơ lục bát của Đồng Đức Bốn có một vị trí riêng trong thơ Việt Nam hai thập kỷ nay” Cuối bài viết, tác giả đã dành cho Đồng Đức Bốn một vị trí xứng đáng :

“Nếu chọn lấy 100 thi nhân, hoặc chọn 100 bài thơ hay của thế kỷ XX; riêng

tôi, tôi đều bỏ phiếu cho Đồng Đức Bốn”.

Trong bài “ Đồng Đức Bốn, một thời đại náo làng văn”, tác giả Lưu

Quang Phổ đã gọi Đồng Đức Bốn là “tác giả của những vần thơ lục bát kì lạ,

đọc lên nghe rợn người [38] Dưới cái nhìn của Lưu Quang Phổ, Đồng Đức

Bốn đã làm “náo động” cả nền thơ Việt Nam Con người có sức mạnh làm

rung chuyển cả nền thơ Việt vốn đang rất náo nhiệt ấy hẳn phải là người cónăng lực đặc biệt nào chăng?

Ở một chỗ khác, nhà văn Tạ Quang Lập cũng viết : “ Với việc tạo ra

dòng thơ lục bát cho riêng mình, Đồng Đức Bốn đã đóng đinh tên tuổi mình vào lịch sử thơ Việt”.

Ngoài ra, thơ lục bát Đồng Đức Bốn còn trở thành đối tượng trong một

số bài viết khác như: “Lục bát tình của Đồng Đức Bốn” (Vĩnh Quang Lê ),

Trang 12

“Bốn, sáu, tám” (Nguyễn Việt Hà ), “Đồng Đức Bốn , đa đoan lục bát gọi nhau” (Bùi Kim Anh)…

Trên các website của Hội nhà văn, của các cá nhân, một số nhà văn,nhà thơ như Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Huy Thiệp, Văn Chinh,Nguyễn Hòa, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đình Minh, … đã viết về lục bátcủa Đồng Đức Bốn bằng giọng điệu trân trọng và cảm mến đặc biệt Sự quantâm của của giới nghiên cứu đối với thơ lục bát Đồng Đức Bốn đã chứng tỏsức hấp dẫn đặc biệt của thơ ông và gián tiếp khẳng định vị trí khó thay thếcủa gương mặt thơ lục bát Đồng Đức Bốn trong dòng chảy bộn bề của vườnthơ lục bát hiện đại nói riêng, của văn chương đương đại nói chung

Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn không chỉ được nghiên cứu trên mặttổng thể - tức là trên mặt bằng rộng với hàng trăm bài lục bát của ông mà cònđược nghiên cứu trên phạm vi từng bài lục bát Được các học giả nghiên cứu

cũng như nhắc đến nhiều nhất là bài “Chăn trâu đốt lửa” ,“ Trở về với mẹ ta

thôi” và bài “Vào chùa” Đây được coi là ba bài thơ lục bát hay nhất của

Đồng Đức Bốn

- Bài “Chăn trâu đốt lửa” của Đồng Đức Bốn được xếp vào danh sách

100 bài thơ hay thế kỉ XX [58] Đánh giá về tác phẩm này, dường như cácnhà nghiên cứu đều thống nhất: đây là bài thơ hay, tiêu biểu cho hồn thơĐồng Đức Bốn Tác giả Nguyễn Trọng Tạo (trong “Đồng Đức Bốn bắc cầu

lục bát”) viết : “Bài thơ lục bát này gieo được ấn tượng khó quên cho người

đọc chính là nhờ cái tâm trạng bất an được mất…” Tác giả Nguyễn Lâm

Cúc cho rằng : “Một trong những bài lục bát làm nên tên tuổi nhà thơ Đồng

Đức Bốn và được nhiều độc giả yêu thơ tán thưởng là bài “Chăn trâu đốt lửa” Bài thơ này, ngôn từ, hình ảnh như chăn trâu, đốt lửa, rạ rơm, con diều, củ khoai… là những từ ngữ thuộc dạng cũ kĩ trong kho tàng ngôn ngữ Việt nam và kể cả trong văn chương Việt” “Nhà thơ Đồng Đức Bốn đã rất

Trang 13

tài tình trong việc chộp lấy hình ảnh của buổi chiều, cánh đồng rồi với bốn câu lục bát, nhà thơ khắc hoạn nên một bức tranh đồng quê với cái hồn được neo lại trong câu chữ” Với những bài thơ như Chăn trâu đốt lửa, Đồng Đức

Bốn trụ vững trong lòng độc giả

- Với bài “Trở về với mẹ ta thôi”, tác giả Nguyễn Trọng Tạo (trong

“Đồng Đức Bốn bắc cầu lục bát”) viết : “Lời thơ viết về mẹ không thể làm

dáng làm điệu mà chân thành mộc mạc đến tận cùng”

- Với bài “Vào chùa”, tác giả Nguyễn Trọng Tạo (trong “Đồng Đức

Bốn bắc cầu lục bát”) viết : “Bài thơ Vào chùa chỉ bốn câu mà treo lên trước

cuộc đời cả một câu hỏi lớn về tình thương đồng loại”.

Ngoài ra, tác phẩm này cũng được phân tích trong bài nghiên cứu củamột số tác giả sau: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thành Phong, Nguyễn VănQuân, Nguyễn Đăng Điệp, Đoàn Hương, Phạm Khải, …

Gần đây, thơ lục bát của nhà thơ Đồng Đức Bốn đã được triển khainghiên cứu trong các khóa luận tốt nghiệp hay các luận văn Thạc sĩ Tiêu biểu

trong số đó là luận văn : “Xu hướng tìm về thi pháp thơ ca dân gian trong thơ Việt Nam đương đại - Khảo sát qua ba trường hợp Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ” của Lê Thị Hoài (năm 2007) Trong luận văn

này, sau khi khẳng định: tìm về thi pháp thơ ca dân gian là một hướng sángtạo tìm tòi đáng chú ý trong thơ Việt Nam đương đại và đây là một sự lựachọn tự giác của ba nhà thơ, tác giả đã đi sâu phân tích những biểu hiện củathi pháp thơ ca dân gian trên cả hai phương diện cảm hứng và thi pháp thểhiện Tác giả đặc biệt chú ý đến việc làm mới thể thơ lục bát của cả ba nhà

thơ Riêng Đồng Đức Bốn, tác giả Lê Thị Hoài viết : “ Thơ lục bát đối với

Đồng Đức Bốn là thứ lộc trời cho Nhưng anh dùng lộc đó để trả nghĩa cho đời chứ không phải mưu cầu danh lợi Anh dùng “đôi hài” lục bát để phiêu

Trang 14

lưu vào cõi lòng người bí ẩn để hiểu mình và hiểu người, tìm lại “bản lai diện mục của chính mình” [15]

Trong luận văn Thạc sĩ “ Chất đồng quê trong thơ lục bát Việt Nam hiện đại – qua thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn” (năm 2008), tác

giả Phạm Mai Phong đã khẳng định : “Có thể nói, đến Đồng Đức bốn, thơ lục

bát một lần nữa khẳng định được vị trí và sức sống lâu bền của mình” [37,3].

Ở một chỗ khác, tác giả nhận ra : “ Lục bát Đồng Đức Bốn ngoài sự bình dị,

mượt mà còn gợi ra sự gai góc, sắc nhọn của những chìm nổi đời người”

[37,21] Về ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn, tác giả viết : “Trước hết,

ngôn ngữ lục bát (của họ) là ngôn ngữ rất gần gũi lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân quê Tiếp đến, đó là thứ ngôn ngữ được gọt giũa và sử dụng nhiều trong ca dao… Những bài thơ lục bát mà họ sáng tác như những lời nói bộc phát từ sự ngẫu hứng trong cuộc sống hàng ngày” [37,12].

Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn tiếp tục được nghiên cứu trong luận văn

“ Văn hóa làng quê trong thơ lục bát đương đại” (qua thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ) (năm 2008) của tác giả Nguyễn Văn Đồng.

Trong luận văn này, sau khi khẳng định: “Tiếng thơ của Đồng Đức Bốn (và

của Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ) đã đưa tâm hồn ta trở về với những giá trị văn hoá đã toả bóng hàng ngàn năm trong tâm hồn dân tộc”, Nguyễn Văn

Đồng đã nhận ra: “những quy định “bất di bất dịch” của thơ lục bát truyền

thống nhưng cũng có nhiều cách tân, đổi mới sáng tạo để bắt kịp sự đổi thay của thơ ca đương đại” đồng thời mỗi nhà thơ là một “giọng điệu riêng, một giai tấu ngôn ngữ riêng – vừa dân gian vừa hiện đại Tuy nhiên, riêng về thơ

lục bát Đồng Đức Bốn, người nghiên cứu vẫn chưa làm nổi bật được nhữngcái riêng cũng như vị trí của tác giả này trong dòng chảy của thơ lục bátđương đại

Trang 15

Nhìn chung, càng ngày, thơ lục bát Đồng Đức Bốn càng nhận được sựquan tâm của độc giả Các nghiên cứu về thơ lục bát của Đồng Đức Bốnngày càng phong phú nhưng theo đánh giá của người viết, những nghiên cứu

về thơ lục bát Đồng Đức Bốn mới phần nào chú ý đến một vài phương diện

nào đó của thơ lục bát Đồng Đức Bốn như: nội dung cảm hứng, cảm xúc chủ

đạo, hình tượng nghệ thuật, chất đồng quê, ngôn ngữ, chất ca dao,… mà vẫn

chưa có cái nhìn toàn diện về thơ lục bát – một thứ “lộc trời”, một “đặc sản”

của ông Tuy nhiên, không phải mọi ý kiến đánh giá về thơ lục bát Đồng ĐứcBốn đều thống nhất Đó cũng là điều dễ hiểu trong cuộc sống và trong vănchương Một số tác giả đã thể hiện cách đánh giá khác về thơ Đồng Đức Bốn.Tiêu biểu là tác giả Nguyễn Hòa và Trần Đăng Khoa Nguyễn Hòa nhận định:

“Phải chăng sự dông dài của những câu thơ “rỗng ruột” là một trong những đặc điểm làm nên phong cách thơ Đồng Đức Bốn, và nếu trên đời có cái gọi

là “y bát thơ lục bát” thì dường như nó đã bị trao nhầm chỗ”[14] Còn Trần

Đăng Khoa trong một bài viết chưa (không) công bố thì cho rằng: thơ Đồng

Đức Bốn “chỉ óng ánh trang kim, nhưng nhẹ tếch chẳng có gì Gạt cái vỏ mạ

vàng ra, bên trong chỉ luễnh loãng một chút sương khói”[14].

Cho nên, đặt vấn đề “Thơ lục bát Đồng Đức Bốn” – tức là xem xét toàndiện cái hay, cái đẹp, nghiên cứu tính truyền thống và hiện đại trong thơ lụcbát của Đồng Đức Bốn, tìm hiểu những điểm riêng biệt của thơ lục bát ĐồngĐức Bốn… để người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn, thiết nghĩ, là một việc làm

Trang 16

Đức Bốn, để từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về thơ lục bát của ông Từ đóthấy được sự kế thừa và sáng tạo của Đồng Đức Bốn trong việc sử dụng mộtthể thơ truyền thống trong hành trình thơ đương đại.

Qua việc nghiên cứu thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, người viết đi đếnviệc khẳng định sức sống mạnh mẽ của thể loại lục bát trong văn học đươngđại

2 Đối tượng nghiên cứu:

Đồng Đức Bốn đã xuất bản sáu tập thơ, gồm có:

- Con ngựa trắng và rừng quả đắng (NXB Văn học, H, 1992 )

- Chăn trâu đốt lửa (NXB Lao động, H, 1993)

- Trở về với mẹ ta thôi (NXB Hội nhà văn, H, 2000)

- Cuối cùng vẫn còn dòng sông (NXB Hội nhà văn, H, 2000)

- Chuông chùa kêu trong mưa (NXB Hội nhà văn, H, 2002)

- Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (NXB Hội nhà văn, H, 2006)

Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận văn này là 144 bài thơ lục bát

trong tuyển tập thơ “Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc” của Đồng Đức Bốn.

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, để có cái nhìn toàn diện, ngoàinhững bài thơ lục bát của tác giả in trong tuyển “Chim mỏ vàng và hoa cỏđộc”, người viết còn tiến hành đối chiếu, so sánh thơ lục bát của Đồng ĐứcBốn với ca dao và thơ lục bát của một số tác giả như Nguyễn Bính, Huy Cận,

Tố Hữu, Nguyễn Duy, Bùi Giáng,…

IV Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình triển khai luận văn, người viết kết hợp sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu thể loại văn học

- Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học

Trang 17

- Phương pháp thống kê văn học

- Phương pháp so sánh văn học

- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học

V Đóng góp của luận văn

Tập trung nghiên cứu thơ lục bát Đồng Đức Bốn, luận văn nhằm:

- Tìm hiểu những đặc điểm riêng của thơ lục bát Đồng Đức Bốn (về mặtnội dung biểu hiện và hình thức biểu đạt) trong dòng chảy của thơ lụcbát hiện đại

- Chỉ ra những điểm kế thừa và những cách tân, sáng tạo của nhà thơĐồng Đức Bốn, đồng thời đánh giá những đóng góp, những sáng tạoriêng của nhà thơ trong việc làm mới thể thơ truyền thống trong dòngvăn học đương đại Từ đó, người viết đi đến khẳng định sức sốngtrường tồn của thể thơ truyền thống này trong thời hiện đại

VI Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Thư mục tham khảo, phần Nộidung của luận văn triển khai thành 3 chương:

Chương I - Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn trong dòng lục bát hiện đại

Chương II – Những cảm hứng chính trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn Chương III – Những đặc sắc nghệ thuật trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Trang 18

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I - THƠ LỤC BÁT CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN TRONG DÒNG

LỤC BÁT HIỆN ĐẠI

1 Giới thuyết về thơ lục bát

Lục bát là niềm kiêu hãnh của nền thơ ca Việt Nam Lục bát là nơi gửigắm, nương náu sâu nhất, đậm nhất những tâm tư tình cảm của con ngườiViệt Nam Cùng với bước vận động và phát triển của văn học Việt Nam, thơlục bát cũng mỗi ngày một đơm hoa kết trái Thơ lục bát trở thành một trongnhững yếu tố quan trọng làm nên bản sắc thi ca Việt, thể hiện bản sắc tâm lí –thẩm mĩ của người Việt, làm nên điệu tâm hồn Việt Chính điều đó làm chothơ lục bát trở thành một thể thơ có sức sống mãnh liệt và trường tồn dù đỉnhcao của thơ lục bát đã được khẳng định từ kiệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn

Thứ hai, về các thể thức chủ yếu của thơ lục bát:

- Gieo vần : thơ lục bát vừa gieo vần chân (được gieo vào cuối dòng thơ, gọi

là cước vận), vừa gieo vần lưng (được gieo ở giữa dòng thơ, gọi là yêu vận).Tiếng cuối câu lục gieo vần xuống tiếng thứ sáu câu bát, tiếng cuối câu bátgieo vần xuống tiếng cuối câu lục tiếp theo

VD: Trăng bao nhiêu tuổi trăng già

Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?

Xin ai tính cuộc vuông tròn

Trang 19

Dò sao cho đến ngọn nguồn khúc sông

Trong câu lục, các tiếng chẵn (2) và (6) là thanh B, đối nhau qua thanh T (4)

Trong câu bát, giữa thanh B của tiếng thứ (6) và tiếng thứ (8) phải đối nhau về

âm vực trầm bổng: hoặc là huyền – ngang, hoặc ngang – huyền Đối lập trầm –bổng là một nguyên tắc rất đặc trưng của thi luật dân tộc, thể hiện trước hết ở lụcbát

- Về ngắt nhịp: thể lục bát có một loại nhịp cơ bản, trực tiếp tạo nên âmluật cho nó là nhịp chẵn, tức là nhịp gồm 2 tiếng Như vậy, theo thông lệ,dòng lục gồm ba nhịp 2, dòng bát gồm 4 nhịp 2

Ví dụ: Một thương, hai nhớ, ba vì

Chín nhớ, mười đợi có khi vuông tròn

Tuy nhiên, thơ lục bát có các ngoại lệ:

Trang 20

Theo Nguyễn Xuân Kính trong chuyên luận “Thi pháp ca dao” thì có 95% cadao được sáng tác theo thể lục bát [27] Thể thơ dân tộc này cũng đem lạithành công cho các nhà thơ như Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Tố Hữu,Nguyễn Bính và gần đây nhất là Nguyễn Duy, Bùi Giáng, Đồng Đức Bốn,…Theo dòng chảy thời gian, thể thơ lục bát có thể không còn giữ nguyên hìnhhài như cũ nhưng nó vẫn nhịp bước đồng hành cùng những tâm hồn ngườiViệt hôm nay và mai sau.

Trong giai đoạn này, Truyện Kiều của Nguyễn Du được coi là “mô

hình lục bát chuẩn mực”, trở thành đỉnh cao của lục bát cổ điển Truyện Kiều

đã tôn vinh thể thơ lục bát, tôn vinh một thể thơ mang đậm bản sắc Việt Với

3254 câu thơ lục bát, Truyện Kiều trở thành một trường thiên lục bát về tâmtrạng và số phận con người có một không hai trong lịch sử thi ca tiếng Việt

Lạc vào đó “người ta có cảm tưởng Nguyễn Du đã sáng tạo ra một thứ ngôn

ngữ văn học cho cả thời đại” [17, 201]

Trang 21

Giai đoạn sau : Lục bát trong văn học hiện đại (từ những năm 30 của thế

kỉ XX - nay)

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu về thơ lụcbát trong văn học hiện đại

2.1 Thơ lục bát trong phong trào Thơ mới (1932 - 1945)

Phong trào Thơ mới được coi là một cuộc đánh giá lại các thể thơ cũ,tiếp thu những cái tốt đẹp của truyền thống cũ đồng thời học tập một cáchsáng tạo thơ ca nước ngoài Nhưng, dù làn sóng lãng mạn, tượng trưng, siêuthực có mạnh mẽ đến mức nào, nhu cầu đổi mới văn học, đổi mới thi pháp cónhững đột phá bao nhiêu thì những dòng lục bát truyền thống vẫn không bịlãng quên

Người đầu tiên đưa thể lục bát vào Thơ mới phải kể đến Tản Đà với bài

“Phong dao” thật đặc sắc Ở bài thơ này, Tản Đà đã giúp lục bát “thử lời, thửnhạc” với cảm hứng lãng mạn:

Con cò lặn lội bờ sông

Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha

Tác giả Phan Diễm Phương đã thống kê được ở “Thi nhân Việt Nam”(1941) của Hoài Thanh – Hoài Chân có 35 bài thơ lục bát trên tổng số168 bàithơ của tuyển tập, chiếm 12,5% [41] Trong “Tuyển tập Thơ mới”, tác giả

Trang 22

Châu Minh Hùng đã thống kê được 150 bài thơ lục bát trên 1045 bài (chiếm14,4%) [19] Thể thơ lục bát tuy không chiếm tỉ lệ lớn trong tập thơ của cáctác giả nhưng nó vẫn chưa hoàn toàn bị lãng quên: “Thơ Thơ” (1938) củaXuân Diệu có 4 bài thơ thơ lục bát; “Tiếng thu” (1939) của Lưu Trọng Lưcũng có 6 bài thơ lục bát; “Lửa thiêng” của Huy Cận có 50 bài thì lục bátđứng thứ 3 với 8 bài - trong đó bài “Ngậm ngùi” được xếp vào danh sáchnhững bài lục bát hay Ngoài ra, ta còn có thể gọi tên nhiều bài thơ lục bát haygiai đoạn này như “Thơ sầu rụng” (Lưu Trọng Lư), “Lũy tre xanh”, “Rằmtháng giêng” (Hồ Dzếnh), “Huế đa tình” (Bích Khê), “Bến Hàn Giang” (HànMặc Tử), “Đan áo cho chồng” (T.T.Kh), “ Gửi T.T.Kh” (Thâm Tâm),…

Đa số những bài lục bát trong phong trào Thơ mới đều có cách gieo vần

và phối thanh theo chuẩn mực của lục bát cổ điển (gieo vần bằng, vần lưng ởtiếng thứ 6 của câu bát, sử dụng vần chính để gieo trong cả bài) Có nhiều câuthơ lục bát của Nguyễn Bính nhiều người ngỡ là ca dao:

Gió mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Ở thời điểm này, trong một số trường hợp, thơ lục bát đã có sự thay đổi

về gieo vần, phối điệu, cách ngắt nhịp, cú pháp của dòng thơ, hình hài của cặplục bát,… khiến cho thơ lục bát giai đoạn này vừa mang hơi hướng cổ điển,vừa mới mẻ, hiện đại

Thứ nhất, đã có sự thay đổi về cách gieo vần, phối điệu ở lục bát của

một số nhà thơ:

Hôm nay lá thấy tôi buồn

Lìa cành theo gió lá luồn qua song

Hai tay ôm lá vào lòng

Than ôi chiếc lá cuối cùng là đây!

Trang 23

(Nguyễn Bính – Cây bàng cuối thu)

Dễ nhận thấy rằng trong những câu thơ lục bát vừa trích, số lượngthanh B – T có sự chênh lệch khá lớn: 20 thanh B và 8 thanh T (trên tổng 28tiếng) Sự xuất hiện nhiều thanh B ở đây gợi lên rõ hơn cảm giác buồn mênhmông lan tỏa, xa vắng của thi nhân Ở đây cũng cần phải nói thêm về cáchgieo vần của tác giả: ong (lòng) – ung (cùng) Rõ ràng, sự gieo vần của nhàthơ đã không còn chặt chẽ như trước

Đặc biệt, ta cũng gặp trường hợp “phạm luật” về thanh điệu B - T :tiếng thứ 2 , tiếng thứ 4 dòng lục từ B chuyển thành T:

…Cách mấy mươi con sông sâu

…Úp mặt vào hai bàn tay

Thứ hai, đa phần thơ lục bát hiện đại vẫn ngắt nhịp chẵn, nhưng sử

dụng nhiều nhịp 2/4, 4/2 ở câu lục và nhịp 4/4, 2/6 ở câu bát:

Khi cao, vút tận mây mờ

Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh…

(Thế Lữ - Tiếng sáo Thiên Thai)

Tương tư hướng lạc, phương mờ…

Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe…

(Buồn đêm mưa – Huy Cận)

Một số trường hợp, ta bắt gặp những nhịp lẻ:

Chuyến này chị bước sang ngang

Là tan vỡ / giấc mộng vàng từ nay

(Lỡ bước sang ngang – Nguyễn Bính)Việc ngắt nhịp lẻ (3/5) khiến lời thơ như đứt đoạn, cảm giác như những tiếngnấc nghẹn ngào của “em” vọng lại trong lời thơ thật xúc động

Thứ ba, sự biến đổi về cú pháp dòng thơ cũng là hiện tượng đáng chú ý:

Trời cao xanh ngắt Ô kìa

Hai con hạc trắng bay về bồng lai

Trang 24

(Tiếng sáo Thiên Thai – Thế Lữ)

Dòng thơ 6 tiếng vốn là đơn vị cú pháp hoàn chỉnh thì nay bị chẻ làmđôi Bốn tiếng đầu là một tổ hợp mà về mặt cú pháp không thể chấp nhậnđược Còn hai tiếng cuối nếu có thể đứng độc lập giải quyết trọn vẹn nghĩa ởcâu trên đằng này lại hướng tới đối tượng được nhắc đến ở câu dưới Sự thểnghiệm táo bạo này đã đưa đến sự mới lạ trong tư duy và cảm nhận của ngườiđọc, tạo ra sự hấp dẫn mới mẻ trong cái quen thuộc

Thứ tư, ở Thơ mới, hình hài cặp lục bát cũng có nhiều cách tân Một

dòng thơ xếp bậc thang, kiểu:

Đường xa ư cụ?

quản chi

Đi gần hạnh phúc là đi xa đường

(Uống rượu với Tản Đà – Trần Huyền Trân)Hay sự xuất hiện kết cấu ba dòng lục đi với một dòng bát:

Bẽ bàng, lá vẫn theo bên,

Tình si, lá vẫn theo bên

Thuyền trôi vẫn quyến sao đêm

Hào quang vẫn ngủ êm đềm trong mơ

(Tình si – Vũ Hoàng Chương)

Thơ lục bát trong phong trào Thơ mới không dừng lại ở những cách tân

về mặt hình thức đơn thuần Sự phá bỏ những hình thức cũ hay sáng tạo ranhững hình thức thơ lục bát mới là để phù hợp với kích cỡ tâm hồn, tâm trạng

và cảm xúc mới mẻ, thành thực đang bừng nở trong con người Đó là nhữngđắm say của người đang yêu với muôn vàn cảm xúc nhớ thương hờn giận haynhững tiếc nuối, những mộng mơ, những cung bậc, sắc thái tinh tế của tâmhồn con người được sống dậy trong từng câu, từng dòng Thơ lục bát giaiđoạn này không có những bài thơ trường thiên mà phổ biến là những bài trữ

Trang 25

tình quy mô nhỏ Nhưng trong quy mô có giới hạn của thể thơ, những cảmxúc của cái tôi cá thể cá tính lần đầu tiên xuất hiện được chuyển tải một cáchchân thành nhất, say sưa nhất đến tận cùng câu chữ Trong dàn đồng ca nhiềuhương sắc Thơ mới, người ta vẫn nhận ra tiếng thở dài cô đơn, ngậm ngùiđọng trong những vần lục bát nhuốm màu sắc tượng trưng, siêu thực của “

chiếc linh hồn nhỏ” Huy Cận, vẫn nhận ra giọng điệu “hào hùng, tràn đầy

chính khí, tráng khí, bi phẫn, bi hùng” của Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, đặc

biệt là vẫn nhận ra “điệu hồn chân quê của một cái tôi lãng mạn, điệu than

của một cái tôi lỡ làng, điệu thúc giục lên đường Nguyễn Bính” – nhà thơ lục

bát tiêu biểu nhất của giai đoạn này [2],…

Nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn đã mệnh danh Nguyễn Bính là “con đẻ

của câu lục bát nổi chìm nơi đồng quê” [47,171] và “ Hồn vía Nguyễn Bính kí thác nhiều nhất vào lục bát” [47,172] Về mặt chất lượng, độc giả và giới

nghiên cứu đánh giá cao những bài thơ lục bát như: Không đề, Lỡ bước sang

ngang, Tương tư, Chân quê, Xa cách, Mưa xuân, Qua nhà, Cô hái mơ, Người hàng xóm,… Nhà nghiên cứu Lê Đình Kị cho rằng : “So với các nhà thơ lãng mạn trước cách mạng, Nguyễn Bính đứng riêng một cõi Nếu có lẫn lộn thì chỉ lẫn lộn với các tác giả vô danh từ bao đời đã chung sức làm nên một kho tàng vô giá của ca dao dân tộc” “ Điệu hồn chân quê” (Bùi Thị Báu) là dấu

ấn đậm nét Nguyễn Bính in vào thơ lục bát

Về mặt hình thức nghệ thuật, thơ lục bát Nguyễn Bính quyện trong bầukhông khí của ca dao nhưng không vì thế mà nó không có những bứt phá.Trước hết phải nói đến sự cách tân về kết cấu:

Lạy giời đừng sáng đêm nay

Đò quên cập bến, tôi say suốt đời

Chiêu Quân lên ngựa mất rồi…

(Một con sông lạnh)

Trang 26

Tiếp theo là những cách tân trên phương diện dòng Những câu bát bị

chẻ ra làm đôi bởi những dấu câu khắc khoải giữa dòng:

Chị tôi im lặng đợi chờ

Tôi im lặng đến bao giờ? Đợi ai?

Thứ nữa là sự xuất hiện những nhịp rất lạ:

Nhớ nàng? / Không! /Quyết là không nhớ nàng

“Thơ Việt Nam 1945 – 1985 và Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng

Trang 27

Tám” thì thơ lục bát có tỉ lệ trung bình vào khoảng 14% [41] Trong “Tuyểnthơ Việt Nam” (Giai đoạn chống Mĩ) (Nxb Hội nhà văn, H, 1999), thơ lục bát

là 40 bài, chiếm 11% [41]

Khác với giai đoạn trước, nhìn chung, thơ lục bát trong thời kì này rấtgần với vè kể chuyện, chất thơ lắng lại đằng sau những hình ảnh giản dị, mộcmạc của con người và tình cảm với đất nước, với cách mạng Thơ lục bát giaiđoạn này đã ôm chứa những tình cảm lớn lao của thời đại như tình cảm quândân, lãnh tụ, tình đồng chí đồng đội,…tạc lên tư thế và tầm vóc lớn lao củanhân dân và đất nước Chẳng hạn như bài “Những người lính biên giới” (VănLê), “Nằm hầm” (Nguyễn Đức Mậu), “ Kể chuyện Vũ Lăng” (Anh Thơ),

“Tình Tháp Mười” (Bảo Định Giang)…

Tình thương đất nước mênh mang

Hồn vui như nắng trải vàng ruộng xanh

…Trăm cay nghìn đắng khôn sờn

Lòng người sau trước sắt son một lòng

(Tình Tháp Mười – Bảo Định Giang)

Âm hưởng chung của thơ lục bát giai đoạn này là giọng điệu ngợi cacủa chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam Bên cạnh chất giọng chủ đạo

ấy, người đọc cũng nhận ra những nốt trầm lắng lại khi các nhà thơ viết về

những mất mát, đau thương của dân tộc: “Mẹ dù ngã xuống một thân – Vẫn

còn ngàn vạn đứa con rửa hờn” (Mẹ Suốt – Nguyễn Thị Được).

Một đặc điểm quan trọng khác nữa của giai đoạn này là thơ lục bátđược những nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước dùng để viết thư chúctết, viết trong một số văn bản ngoại giao, di chúc…

Việt Lào hai nước chúng ta

Tình sâu hơn nước Hồng hà, Cửu Long

Trang 28

(Bác Hồ)

Về mặt hình thức, ở thời này xuất hiện những bài thơ lục bát phối xen:

“Bài ca vỡ đất, Bao giờ trở lại” (Hoàng Trung Thông), “Bầm ơi, Sáng thángnăm, Bài ca quê hương” (Tố Hữu), “Tình sông núi” (Trần Mai Ninh)

…Khoai trồng thắm rẫy

Lúa cấy xanh rừng

Hết khoai ta lại gieo vừng

Không cho đất nghỉ, không ngừng tay ta… (Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông)Đồng thời, ta cũng gặp ở một số tác giả một số cách tân như trong thơmới Ví dụ, lối vắt dòng (Mùa ô môi – Bảo Định Giang), lối thơ bậc thang(Dòng sông mặc áo – Nguyễn Trọng Tạo) hoặc những biến thể độc đáo vềdòng (Mẹ Suốt – Tố Hữu, Về Bến Tre – Lê Anh Xuân),…

Ở giai đoạn này nổi bật lên cây bút thơ lục bát Tố Hữu Thơ lục bát từ

ca dao, qua Truyện Kiều, được vun trồng qua Tản Đà, Nguyễn Bính, Huy Cậnđến Tố Hữu thì đã kết tinh những phẩm chất mới Kể từ tập thơ mới định hìnhđầu tiên – “Từ ấy”, đến tập “Nước non ngàn dặm” Tố Hữu đã làm một thửnghiệm để vượt lên những phẩm chất thể loại đã được dân gian khai thác triệt

để Thơ lục bát của Tố Hữu, theo tác giả Hồ Văn Hải, đó là “ một sự trở về

cùng những thuộc tính nguyên sơ của thể loại nhưng ở một cấp độ cao hơn”.

Nó không còn ủ ê, ảo não, trầm buồn như thơ lãng mạn mà chất tâm tình cadao đã hòa hợp một cách tài tình với hơi thở của cuộc sống toàn dân tộc trongcuộc cách mạng vĩ đại Đó là khúc tâm tình của thời đại mới Những bài thơlục bát của Tố Hữu lấy cái giọng quần chúng, cái tình quần chúng kết hợp vớicốt cách ca dao để kêu gọi, động viên, chia sẻ Thơ lục bát của ông tập trungnhất những nội dung và đặc điểm của thơ lục bát giai đoạn này: đó là lòng yêunước, là âm hưởng anh hùng ca thời đại:

Trang 29

Lớp cha trước, lớp con sau

Đã thành đồng chí chung câu quân hành

Khi bước chân ra khỏi hai cuộc kháng chiến, thơ lục bát Tố Hữu bắtngay vào nhịp thở của cuộc sống hàng ngày với biết bao suy tư, trở trăn vềcuộc đời và con người Thơ lục bát giai đoạn này tạm biệt chất giọng yêuthương hay anh hùng ca mà nghiêng về giọng triết lí, suy tư và chất chứa trăn

trở về sự đời, về nhân sinh: Nước non ngàn dặm, Bài ca quê hương,…

Tiểu kết:

Cùng với các nhà thơ vào chiến trường, thơ lục bát đã ghi lại nhữngtâm trạng, những cảnh ngộ, đã tái hiện thành công chân dung những conngười thời kì chống Pháp và chống Mĩ oai hùng của toàn dân tộc Lục bát vútlên giọng anh hùng ca hào sảng khi ngợi ca những con người thành đồng Tổquốc, chùng lại khi viết lên những đau thương mất mát của cả dân tộc Hìnhthức thơ lục bát cổ điển giai đoạn này đã có những đổi thay rất dễ nhận ra Sựcách tân ấy là để phù hợp với tâm tình và tầm vóc của con người trong thờiđại cách mạng

2.3 Thơ lục bát từ sau 1975

Sau thời kì hành quân vào chiến trường, cùng với cả nền văn học, thơlục bát đi vào chiều sâu trữ tình, khám phá những cảnh ngộ riêng tư, bám sátvào cuộc sống ở những mảng bị khuất, bị lấp nhằm tăng cường tính hiện thực

và yếu tố tự sự , đưa thơ lục bát về gần với đời sống thực Trong khoảng 25năm từ sau khi đất nước thống nhất, thơ lục bát vẫn là thể thơ được các nhàthơ tin dùng so với các thể thơ tự do và thơ văn xuôi

TS Phạm Quốc Ca đã thống kê về thể thơ trong 1144 bài thơ từ cuốn

“Thơ Việt Nam 1975 – 2000” (Nxb Hội nhà văn, H, 2001) [29]:

hợp thể

Thơ vănxuôi

Trang 30

Về mặt cảm hứng, thi liệu và quan niệm thẩm mĩ, trước hết, thơ lục bátgiai đoạn này vẫn quan tâm đến đề tài chiến tranh như một nhu cầu bù đắp Cácnhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy, Trần Mạnh Hảo, Phạm Dũng, HoàngNhuận Cầm,… là những cây bút có ý thức đổi mới lục bát trên chủ đề này Nén hương em thắp trong chiều

Nghĩa trang anh - một người yêu mãi nằm

(Lời người dưới mộ - Phạm Dũng)

Sau đề tài chiến tranh, thơ lục bát đi sâu vào mảng thế sự - đời tư Thơlục bát giai đoạn này đi thẳng vào cuộc sống, không hề né tránh những giọt

mồ hôi hay nước mắt:

Áo nâu phơi vẹo bờ rào

Cái phận đã bạc còn cào phải gai

Quả cà cõng mấy củ khoai

Con thút thít mẹ nghẹn hai ba lần

(Mẹ - Nguyễn Ngọc Oánh)

Rồi cả những suy tư, triết lí:

Trang 31

Một mai tôi khuất tôi rồi

Ai thay tôi để làm người giống tôi

Trăm buồn chưa đổi một vui

Trăm vui đổi lấy cái buồn vu vơ

(Bây giờ trời cuối một thu – Đỗ Trọng Khơi)Thơ lục bát đương đại đi sâu vào nhận thức lại hiện thực, nhận thức lạinhững thói quen, những giá trị mà từ lâu đã trở thành quen thuộc Các nhà thơlục bát thời này đã làm sống dậy nhiều nhân vật lịch sử, nhân vật văn học đểthể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức hiện tại: “Tâm sự nàng Thúy Vân”(Trương Nam Hương), “Nỗi niềm Thị Nở” (Quang Huy), chùm thơ về ThịKính - Thị Màu (Đinh Nam Khương), “Từ Hải” (Lê Bá Duy), “Nói giùm ThịNở” (Phạm Văn Nam), “Kính thưa liền thị” (Nguyễn Duy), “Ngồi nhớ ChíPhèo” (Đồng Đức Bốn),… Dưới con mắt Trương Nam Hương, Thúy Vânhiện lên thật đáng thương Nàng mang bi kịch của một tình yêu không trọnvẹn, oan khiên :

Ơ kìa sao chị ngồi im

Máu còn biết chảy về tim để hồng

Lấy người yêu chị làm chồng

Đời em thề thắt một vòng oan khiên…

Một dòng cảm hứng khá mạnh trong thơ lục bát giai đoạn này là cảm hứngtri âm với quá khứ Các nhà thơ giai đoạn này “vịn lời người xưa” để “némthơ về với đại ngàn” (Trần Vạn Giã ): “Kính gửi cụ Nguyễn Du” (Tố Hữu),

“Bên mộ Nguyễn Du” (Vương Trọng), “Bên mộ thi nhân” (Trần Cao Sơn),

“Đọc thơ Xuân Diệu” (Vũ Quần Phương), “Đọc Lỡ bước sang ngang” (GiangPhong), “Đọc Kiều” (Lê Bá Duy),… Các nhà thơ hiện đại lấy chính giọngđiệu của thi nhân xưa để tri âm, để ngợi ca họ khiến cho tiếng nói giữa hai thế

Trang 32

hệ, hai thời đại vượt qua khoảng cách của thời gian và không gian mà trở nênchân thành, xúc động.

Hỡi người xưa của ta nay

Khúc vui xin lại so dây cùng Người

(Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố Hữu)

Thơ tình tặng khắp người ta

Hại thay…trắng một vòng hoa trên mồ

(Đọc thơ Xuân Diệu – Vũ Quần Phương)

Đề tài tình yêu – một đề tài muôn thuở trong văn chương cũng khá nổibật ở giai đoạn này với sự góp mặt khá đông đảo của các nhà thơ như LâmThị Mĩ Dạ, Xuân Quỳnh, Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Lê Thị Mây,Nguyễn Thị Hồng Ngát,… Lục bát tình yêu giai đoạn này có nhiều bài đưa ta

về với ca dao bởi giọng điệu ngọt ngào của nó:

Bao giờ cho tới ngày xưa

Bao giờ tới thuở em chưa có chồng

Để rồi được nhớ được mong

Được hờn ghen nát tan lòng chưa thôi

(Ngu ngơ – Khúc Chí Dũng)

Ta giờ ánh mắt cài then

Ánh nào cũng lạ, chỉ quen một mình

Núi nho nhỏ, cỏ xinh xinh

Núi cùng hoa cỏ xếp hình lứa đôi

(Núi nho nhỏ - Đỗ Trọng Khơi)

Về mặt hình thức, sự trở về truyền thống thể hiện ở việc xuất hiệnnhững bài thơ lục bát hai câu - đây là lối đưa thơ lục bát hiện đại về với cadao truyền thống ở mặt câu thơ (với các tác giả như Nguyễn Duy, Đồng ĐứcBốn, Đỗ Trọng Khơi,…) hay ở giọng điệu tâm tình, ngọt ngào đậm chất ca

Trang 33

dao Người đọc không khó để nhận ra yếu tố dân gian – dòng chảy của ca daotrong những dòng thơ :

Nhớ em từ một đường khâu

Hai năm vai áo toạc đau xé lòng

Nhớ em từ miếng cơm không

Hai năm bát mẻ đũa còng chia nhau

(Ngày giỗ - Hoàng Cầm)Đồng thời, đây cũng là giai đoạn mà thơ lục bát có những cách tân rõrệt Nếu như Bùi Giáng làm mới lục bát bằng chữ nghĩa trùng trùng điệp điệp,bằng sự đan cài từ Hán Việt và thuần Việt hay đưa vào thơ lục bát Việt nhữngnhịp mới (nhịp lẻ), nhất là ở dòng bát:

Nửa người xa lạ người yêu

Nửa thân thể náo động liều lĩnh xương

(Mưa nguồn – Bùi giáng, Nxb Hội nhà văn, 1993, sách tái bản)

… thì Hoàng Cầm là người tiêu biểu cho sự phá vỡ cú pháp lục bát truyềnthống bằng cách ngắt dòng độc đáo

Trang 34

Lối thơ này còn xuất hiện trong thơ của Phạm Thị Ngọc Liên trong bài

“Lục bát ở Đèo Ngang” hay “Chia” của Nguyễn Trọng Tạo,…

Dập dềnh bóng núi Đèo Ngang

ở một số nhà thơ khác như: Du Tử Lê, Phạm Thiên Thư,…

Giai đoạn này nổi bật gương mặt thơ lục bát Nguyễn Duy Ông thuộcthế hệ những nhà thơ trẻ đi ra từ cuộc kháng chiến chống Mĩ hào hùng củadân tộc Ngòi bút Nguyễn Duy đã có một sự vận động kì diệu qua 10 tập thơđược sáng tác từ những năm 79 đến đầu những năm 90 Từ “Cát trắng” đến

“Bụi”, cảm hứng lục bát trong Nguyễn Duy không ngừng phát triển cả về sốlượng và chất lượng Trong số những nhà thơ lục bát đương đại, Nguyễn Duyđược đánh giá là nhà thơ học tập được nhiều nhất từ ca dao Thơ lục bát củaông toát ra một cái nhìn đa chiều, tỉnh táo trước những vấn đề nóng hổi của

cuộc sống dân sinh “Qua từng bài, từng khổ, từng dòng lục bát Nguyễn Duy,

những mảng hiện thực nham nhở, xót xa của xã hội được bật phơi và gợi bao suy nghĩ, bắt người đọc phải đối thoại, phải nghiêm túc trả lời những câu hỏi hóc búa và bức xúc nhất” [42] Nguyễn Duy đã sử dụng lục bát để thuần hóa

Trang 35

chất liệu của đời sống Lục bát trong tay Nguyễn Duy trở nên vừa êm ái, vừangang ngạnh, vừa quen thuộc, vừa biến hóa, “cựa quậy” Làm thơ lục bát đếnnhư Nguyễn Duy có thể xếp vào “bậc tài tình”.

Về mặt hình thức, thơ lục bát của Nguyễn Duy thiên về cảm hứng cánhân, cá thể, tư duy trên chất liệu ca dao và hiện đại hóa, cá biệt hóa, đẩy đếncực đoan mọi hình thức và mọi kiểu kết cấu ngôn ngữ Thơ lục bát củaNguyễn Duy vừa phảng phất âm điệu êm ái, ngọt ngào của ca dao vừa gồ ghề,gai góc với những lối kết hợp ngôn từ táo bạo, mới lạ

Dù xuất hiện trên thi đàn hơi muộn nhưng bằng “cây bút của trời”,Đồng Đức Bốn vẫn góp vào thơ lục bát đương đại một giọng điệu riêng, một

“giai tấu ngôn ngữ riêng, vừa dân gian, vừa hiện đại” với những câu thơ như:

- Chăn trâu đốt lửa trên đồng

Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều

Mải mê đuổi một con diều

Củ khoai nướng để cả chiều thành tro

- Chiều nay hồ Tây có giông

Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm

- Cánh hoa sắc một lưỡi dao

Vì yêu tôi cứ cầm vào như không

- Đừng buông giọt mắt xuống sông

Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm

- Trở về với mẹ ta thôi

Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ

… Đồng Đức Bốn đã làm một cuộc trường chinh vào miền thơ lục bát Và,

chẳng bao lâu ông đã được mệnh danh là “thần đồng muộn” (Đỗ Minh Tuấn), là “vị cứu tinh” (Nguyễn Huy Thiệp) của thơ lục bát đương đại.

Trang 36

Tiểu kết:

Có ý kiến cho rằng: trong văn học đương đại, “ thể lục bát đang giảm

xuống một cách nhanh chóng” (Nguyễn Bá Thành) Xem ra, ý kiến đánh giá

này có phần thiếu chính xác Thơ lục bát vẫn đồng hành với con người trongcuộc hành trình tìm lại chính mình và tìm kiếm những giá trị chân – thiện –

mĩ của con người Nó luôn phá và thay, làm vơi bớt những xưa cũ, lỗi thời vàlàm dầy thêm những mới mẻ, bất ngờ Từ lục bát truyện thơ Nôm đến lục bátTruyện Kiều của Nguyễn Du và thơ trung đại, từ lục bát của phong trào thơmới đến lục bát hiện đại (thời kì kháng chiến và cho đến ngày nay), qua taycác thi tài dân tộc, bao giờ lục bát cũng thể hiện được sức sống dẻo dai và bền

bỉ của mình Vậy cái gì đã làm nên điều kì diệu ấy của lục bát? Chính là sựkhôn ngoan, uyển chuyển và linh hoạt của thể loại, tức là nó luôn biết tự điểuchỉnh và thay đổi nội bộ cấu trúc chỉnh thể bài thơ trên nền 6 – 8 một cáchnghệ thuật, trong tương quan dân gian – dân tộc, nhưng đã có những bướctiến khá dài để tạo nên tương quan mới: dân gian – dân tộc – hiện đại Chínhnhờ vậy mà lục bát đã không bị cạn kiệt và nghèo nàn như một số thể loại thơkhác, trái lại, nó có sức sống trường cửu đến ngày nay

3 Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn

3.1 Về tác giả Đồng Đức Bốn

Đồng Đức Bốn (1948 - 2006) là con một gia đình nghèo thôn SongMai, xã An Đồng, huyện An Hải ngoại ô thành phố Hải Phòng Năm 1966,ông gia nhập lực lượng thanh niên xung phong Sau đó ông chuyển về làmviệc ở Hải Phòng Cuối những năm 1980, Đồng Đức Bốn bước vào văn đànbằng những bài thơ có phần “lấm láp” đầu tay nhưng chưa mấy thành công.Trong những năm 1987 – 1992, khi làn sóng đổi mới đang mạnh mẽ trên vănđàn, Đồng Đức Bốn cũng hăm hở mang bút, mực ra chốn thị thành những

Trang 37

mong ghi tên mình lên đó Những bước đi ban đầu chưa phải đã nhanh chóngthành công Khi Đồng Đức Bốn giong con ngựa trắng vào trong rừng quảđắng thì chưa phải ai cũng biết đến ông Mộng ước văn chương chưa thỏa, lại

va vào những lo toan cơm áo gạo tiền khiến nhà thơ đất Cảng không ít khi

lâm vào cảnh túng quẫn: “ Nỗi đời cơ cực giơ nanh vuốt - Cơm áo không đùa

với khách thơ” Đây cũng là thời điểm mà Đồng Đức Bốn phải chịu tang cha,

tang mẹ, tang con,…Những bước thăng trầm này cứ in hình lên trang thơĐồng Đức Bốn Nhưng, vượt lên những đau khổ cá nhân, vượt lên những khókhăn buổi đầu khi đi vào rừng thơ, với một niềm tự tin mãnh liệt và bằng cây

bút “mượn của trời”, Đồng Đức Bốn đã ghi được tên mình lên thi đàn bằng

tập thơ thứ hai “Chăn trâu đốt lửa” (1993)

Đồng Đức Bốn quan tâm đến khá nhiều mảng đề tài Có khi ông đưangòi bút của mình về với làng quê, nơi đó có mẹ, có cha, có vợ, có em, có bạn

bè để hát lên niềm thương nhớ và để trở về với những tình cảm nguyên sơ,bình dị ; có khi ông lại hướng ngòi bút đến chốn thị thành đầy mới lạ; có khithơ ông là những trải nghiệm về cái tôi cô đơn, về thân phận tan nát, bơ vơ

“mồ côi”, là những chiêm nghiệm về cõi người, về tình đời Và nhiều hơn cảtrong thơ Đồng Đức Bốn là cảm giác chia lìa mất mát, tổn thương do tình yêu

bị lỡ nhịp, lỡ đò

Về mặt nghệ thuật, đa số các ý kiến đều cho rằng, khi khai phá và trìnhbày nỗi niềm của mình, Đồng Đức Bốn đã sử dụng lục bát như một chiến binhtài năng Những câu thơ lục bát điêu luyện vừa hồn nhiên, vừa bình dị tuônchảy ra một cách rất tự nhiên như bất chợt rút câu thơ ra từ trong túi áo ThơĐồng Đức Bốn có giọng ngang, tưng tửng, bỗ bã, nhiều khi là nổi loạn Cónhà nghiên cứu gọi đó là giọng thơ dân gian hiện đại (Vương Trí Nhàn).Ngôn ngữ thơ Đồng Đức Bốn có dấu ấn riêng Khi viễn du cùng ngôn ngữ,

Trang 38

nhà thơ đã biến hóa trong ngôn ngữ đời thường để tạo thành những kết hợp từkhác lạ, mới mẻ vừa bản năng, vừa sáng tạo.

Những tác phẩm chính đã xuất bản:

- Con ngựa trắng và rừng quả đắng (NXB Văn học, H, 1992 )

- Chăn trâu đốt lửa (NXB Lao động, H, 1993)

- Trở về với mẹ ta thôi (NXB Hội nhà văn, H, 2000)

- Cuối cùng vẫn còn dòng sông (NXB Hội nhà văn, H, 2000)

- Chuông chùa kêu trong mưa (NXB Hội nhà văn, H, 2002)

- Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (NXB Hội nhà văn, H, 2006)

Những giải thưởng đã đạt được:

1 Giải thưởng cuộc thi báo Văn nghệ 1995

2 Giải thưởng cuộc thi báo Văn nghệ 1998 – 2000

3 Giải thưởng cuộc thi tạp chí Văn nghệ quân đội 1998 – 2000

4 Giải thưởng cuộc thi Tầm nhìn thế giới báo Tiền phong 1998 – 2000

5 Tặng thưởng thơ hay nhất của Tạp chí Văn nghệ quân đội 1998

Đồng Đức Bốn đã làm một cuộc trường chinh bằng thơ lục bát Với nội

lực của mình, ông được coi là “vị cứu tinh của thơ lục bát” (Nguyễn Huy Thiệp), là “nhà thơ có bản sắc mạnh và dám cách tân mạnh” (Bằng Việt), là

“một cá thể độc đáo, riêng biệt và ngạo nghễ” (Hà Linh – Theo Việt Báo).

Đồng Đức Bốn là hội viên Hội nhà văn Việt Nam Ngày 14 tháng 02năm 2006, một căn bệnh hiểm nghèo đã đưa con chim mỏ vàng ngậm hoa cỏđộc cùng tiếng chuông chùa trong mưa mãi mãi vào miền cát bụi

3.2 Đồng Đức Bốn – mượn bút của trời phiêu du vào lục bát

3.2.1 Quan niệm của Đồng Đức Bốn về thơ và về thơ lục bát

Đồng Đức Bốn là nhà thơ ý thức sâu sắc về giá trị của thơ ca cũng như

về thơ của ông Ông gọi đó là thứ “lộc thơ”- “lộc trời” cũng là cái “tội trời” mà

ông phải gánh Ông dùng những vần thơ mượn bút của trời để viết cho những

Trang 39

người yêu nhau Và bằng những câu thơ “của trời cho riêng mình”, ông đi mua

tự do cho bản thân – cái tự do trong thơ ca và trong tư tưởng Đồng thời, thơ

ông góp nhặt những nỗi buồn của con người: “Thơ tôi nhặt cái người ta vẫn

buồn” Và chính thơ đã đưa Đồng Đức Bốn đến với mọi người, chính thơ khiến

người ta nhớ đến ông và đời sống của ông – một cuộc đời nhiều dang dở, giankhổ, bể dâu như chính ông đã tâm sự trong rất nhiều bài thơ

Không chỉ ý thức về giá trị của thơ ca, Đồng Đức Bốn còn ý thức rất sâusắc về giá trị của thể thơ lục bát – thể thơ tạo nên diện mạo và hồn cốt thơ ông.Ông đem sự kì vọng và niềm kiêu hãnh lớn lao gửi hết vào thơ lục bát Những

câu lục bát êm đềm là thứ lộc trời để nhà thơ “đưa em qua trận bão người”:

Đưa em qua trận bão người

Bằng câu lục bát của Trời cho anh

(Đưa em qua trận bão người)

Hay những câu lục bát “hương hoa móng rồng” giúp ông sang dải Ngân hà:

Ước gì sang dải Ngân hà

Bằng câu lục bát hương hoa móng rồng

(Hãy về đây với bến sông)

Bắc cầu lục bát, thi nhân tìm lại nhân tính trong chính bản thân:

Gửi câu lục bát vào trời

Ta đi tìm lại con người trong ta

(Với cây xương rồng)

Lại có lúc, Đồng Đức Bốn chỉ coi lục bát là những câu thơ “trót dại với giời”:

Thôi thì trót dại với giời

Sinh ra lục bát cho người đọc chơi

(Những câu thơ dại)

Trang 40

Vào những ngày tháng phải chống chọi với tật bệnh để rồi cùng với trận mưarào ra đi, tiếng chuông chùa Đồng Đức Bốn vẫn vọng ngân lên những tiếngthơ tâm huyết cho đời cùng với một niềm tự tin kiêu hãnh về giá trị thơ lục

bát của mình: “ Cõi đời còn lắm bể dâu – Con lấy lục bát bắc cầu đi qua”

(Mẹ ơi)

Tóm lại, qua những vần thơ lục bát Đồng Đức Bốn viết về lục bát, chúng

ta có thể thấy: ông coi lục bát là cõi hóa thân, là bản mệnh của mình ĐồngĐức Bốn đến với đời qua lục bát và bằng lục bát bởi ông đã gửi tất cả hồnmình vào đó Vừa kì vọng vào lục bát lại vừa kiêu hãnh với lục bát nên ĐồngĐức Bốn đã thổi vào đó một sức sống, một sức mạnh mới, một năng lượngmới

3.2.2 Vị trí của thơ lục bát trong sự nghiệp thơ Đồng Đức Bốn

Lục bát là thể thơ truyền thống đã được định hình theo quy tắc thể loại.Khi sáng tác, nhà thơ nào cũng phải khuôn theo những quy tắc ấy, nhưng chỉ

khi nào nhà thơ “tiên quyết sự biến dạng của thể loại” (Khrapchenkô), “sáng

tạo ra quy tắc thơ ca” (Maiacôpxki) thì lúc ấy, phong cách của họ mới được

bộc lộ Như vậy, nghiên cứu phong cách nhà thơ từ phương diện thể loại có

nghĩa là tìm hiểu nhà thơ ấy đã “đổi mới trong việc kế thừa” (Phan Ngọc) như thế nào cái “khuôn mẫu rắn chắc” (M.Bakhtin) của thể loại Mặt khác, quá

trình sáng tạo (lựa chọn thể loại, đề tài, cấu tứ, hình ảnh ngôn ngữ,…) lại làquá trình lựa chọn tự giác của mỗi nhà thơ sao cho thích hợp với phút giâythần diệu của tâm hồn họ - để từ những sự lựa chọn đó, cảm xúc nghệ thuậtđược thăng hoa Vấn đề đặt ra ở đây là: tại sao Đồng Đức Bốn lại chọn thơlục bát và biến nó thành sở trường của ông?

Với những đặc trưng cấu trúc thể loại, thơ lục bát thích hợp để phô diễnnhững cảm xúc nhẹ nhàng tha thiết, những lời tâm sự, những khúc tâm tình,

…Thơ lục bát có thể là lời thở than cho thân phận, cho cảnh ngộ thất tình, là

Ngày đăng: 19/04/2014, 18:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng bố trí thanh điệu thơ lục bát: - THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN        LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Bảng b ố trí thanh điệu thơ lục bát: (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w