1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật thơ lục bát đồng đức bốn

103 455 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 711,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng theo đánh giá của người viết thơ Đồng Đức Bốn mới phần nào chú ý đến một vài phương diện như: nội dung cảm hứng, chất ca dao, chất đồng quê, ngôn ngữ…mà vẫn chưa có cái nhìn toàn d

Trang 1

NGUYỄN THỊ LỘC

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đoàn Đức Phương

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

Tôi xin cam đoan luận văn này là do kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo PGS.TS.Đoàn Đức Phương Luận văn này không trùng với bất kì công trình nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 8 năm 2016

Học viên thực hiện

NGUYỄN THỊ LỘC

Trang 3

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS.Đoàn Đức Phương – người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo cho tôi để hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa ngữ văn, phòng sau Đại học – Trường ĐHSP Hà Nội 2, cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 8 năm 2016

Học viên thực hiện

NGUYỄN THỊ LỘC

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của đề tài 3

7 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ SÁNG TÁC CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN 5

1.1 Khái lược về thế giới nghệ thuật 5

1.1.1 Thế giới nghệ thuật 5

1.1.1.1 Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật 7

1.1.1.2 Nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật 9

1.1.1.3 Các cấp độ của thế giới nghệ thuật 12

1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình 16

1.2 Sự nghiệp sáng tác của Đồng Đức Bốn 17

1.2.1 Hành trình sáng tác 17

1.2.2 Quan niệm sáng tác 20

Chương 2 HÌNH TƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN 23

2.1 Hình tượng cuộc sống 23

2.1.1 Hình tượng thiên nhiên 23

2.1.1.1 Đường quê 26

2.1.1.2 Cánh đồng với mưa, nắng, gió 27

2.1.1.3 Trăng, sao chốn nhà quê 31

Trang 5

2.1.2 Hình tượng quê hương, đất nước 39

2.1.2.1 Những cánh diều quê 39

2.1.2.2 Đình quê, chùa quê 40

2.1.2.3 Mái nhà và mảnh vườn quê 43

2.1.2.4 Những con vật gần gũi với người dân quê 46

2.1.3 Cảnh sinh hoạt, lao động, chiến đấu 48

2.2 Hình tượng con người 53

2.2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Đồng Đức Bốn 53

2.2.2 Các hình tượng khác 59

Chương 3 PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN 69

3.1 Thể thơ lục bát 69

3.1.1 Khái lược về thể thơ lục bát 69

3.1.2 Đặc điểm thơ lục bát Đồng Đức Bốn 71

3.2 Ngôn ngữ, giọng điệu thơ lục bát Đồng Đức Bốn 74

3.2.1 Ngôn ngữ, giọng điệu thơ 74

3.2.2 Ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn 78

3.2.3.Giọng điệu thơ lục bát Đồng Đức Bốn 81

3.3 Không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 84

3.3.1 Khái lược về không gian, thời gian nghệ thuật 84

3.3.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 84

3.3.1.2 Khái niệm thời gian nghệ thuật 87

3.3.2 Không gian nghệ thuật trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 88

3.3.3.Thời gian nghệ thuật trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn………90

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xưa tới nay, thơ ca luôn chiếm vị trí quan trọng trong nền văn học dân tộc cũng như trong đời sống tinh thần của người dân việt Từ sau 1975, cùng với sự đổi mới của nền văn học, thơ ca cũng có những bước chuyển mình đáng kể Thơ ca giai đoạn này tuy không còn giữ vị trí tiên phong, trụ cột trong đời sống văn học, nhưng vẫn rất phong phú và đa dạng, có nhiều tìm tòi, cách tân mạnh mẽ với nhiều phong cách nghệ thuật mới mẻ, độc đáo trong tiến trình phát triển của thơ hiện đại Việt Nam

Đồng Đức Bốn là nhà thơ đương đại nổi bật Tuy tác phẩm của ông chưa được đưa vào giảng dạy ở trường trung học phổ thông, nhưng tên tuổi đã được nhiều nhà phê bình và đông đảo độc giả chú ý, đánh giá cao Bởi trong khi những cây bút đương đại đưa nhau đi tìm cho thơ mình những hình thức thể hiện riêng, mới lạ thì Đồng Đức Bốn lại thực hiện quá trình lội ngược dòng tìm về với những nguồn mạch trong trẻo của thể thơ lục bát truyền thống, với những hình ảnh thơ gần gũi, bình dị trong đời sống hàng ngày nhưng vẫn toát lên hơi thở rất hiện đại Vẫn thấy bên cạnh chất tình trong trẻo

là cả một nỗi đau đáu với đời và cả cái ngông của thi sĩ, tất cả đã làm nên một thế giới nghệ thuật rất riêng, mang đậm phong cách thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Nghiên cứu về thơ Đồng Đức Bốn, ca ngợi thơ ông có thể kể đến các tác giả như: Nguyễn Huy Thiệp, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Đăng Điệp, Phạm Tiến Duật, Băng Sơn…Trong các công trình nghiên cứu hay bài viết các tác giả đều hướng đến việc khẳng định những đóng góp của Đồng Đức Bốn Ngoài ra, thơ lục bát Đồng Đức Bốn còn trở thành đối tượng nghiên cứu trong

các khóa luận hay luận văn thạc sĩ Tiêu biểu là luận văn: Xu hướng tìm về thi

Trang 8

pháp thơ ca dân gian trong thơ Việt Nam đương đại – khảo sát qua ba trường hợp Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công trứ của Lê Thị Hoài (năm

2007), hay luận văn: Chất đồng quê trong thơ lục bát Việt Nam hiện đại – qua

thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn ( năm 2008), tác giả Phạm Mai

Phong…Nhìn chung, càng ngày thơ lục bát Đồng Đức Bốn càng nhận được

sự quan tâm của độc giả Nhưng theo đánh giá của người viết thơ Đồng Đức Bốn mới phần nào chú ý đến một vài phương diện như: nội dung cảm hứng, chất ca dao, chất đồng quê, ngôn ngữ…mà vẫn chưa có cái nhìn toàn diện về thế giới nghệ thuật trong thơ lục bát của thi sĩ

Từ nhận thức trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu “Thế giới nghệ

thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn” làm luận văn thạc sĩ

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung trên các phương diện đặc điềm nổi bật trong thế giới nghệ thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn Thể hiện về thiên nhiên, cuộc sống và con người trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn Từ đó thấy được cái hay, nét độc đáo trong phương thức biểu hiện thế giới nghệ thuật thơ lục bát của ông vừa

có sự kế tục thành tựu của thể thơ lục bát truyền thống vừa có sự sáng tạo trong thế giới nghệ thuật

Qua việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn, người viết đi đến khẳng định sự tài hoa, độc đáo trong cách khám phá thế giới nghệ thuật của một thể thơ truyền thống là lục bát nhưng có cách thể hiện rất đương đại

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết các nội dung sau đây:

- Tìm hiểu khái lược về thế giới nghệ thuật và sáng tác của Đồng Đức Bốn

Trang 9

- Tìm hiểu hình tượng cuộc sống và con người trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

- Tìm hiểu phương thức biểu hiện thế giới nghệ thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thơ Đồng Đức Bốn chủ yếu là thơ tự do và thơ lục bát Nhưng đóng góp của ông tập trung thăng hoa nhất ở thể loại “lục bát” Đối tượng nghiên

cứu của luận văn là: thế giới nghệ thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đồng Đức Bốn sáng tác nhiều và ở mỗi tập thơ đều có những nét đặc sắc riêng trong thế giới nghệ thuật Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, người viết khai thác thế giới nghệ thuật thơ Đồng Đức Bốn thể hiện thông qua

một số bài thơ tiêu biểu của ông

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình triển khai luận văn, người viết kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Trang 10

khá đầy đủ những nét đặc sắc, sáng tạo mới mẻ trong thế giới nghệ thuật thơ Đồng Đức Bốn

Luận văn khẳng định về phương diện nghệ thuật, thế giới thơ Đồng Đức Bốn thực sự rất phong phú, cá tính, là một thế giới mới lạ và độc đáo của

sự hăng say, sáng tạo không ngừng, là nơi để cho sự mộc mạc, chân quê lột tả hết vẻ đẹp thuần khiết, nơi cái hay cái đẹp quyện hòa với sự sáng tạo

Các kết quả của luận văn còn giúp cho người đọc thấy được những cống hiến đóng góp của Đồng Đức Bốn trong sự nghiệp phát triển của thơ ca dân tộc nói chung, trong thể thơ truyền thống của dân tộc nói riêng

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung luận văn được triển khai thành

Trang 11

Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ SÁNG TÁC

sự tiếp cận các hiện tượng và các tác giả văn học

Đáp ứng yêu cầu đó, ở Liên Xô cũ vào những năm 70 đã có một số

công trình nghiên cứu về khái niệm này như các công trình: Thế giới nghệ

thuật của M.Gorki, Thế giới nghệ thuật của Sôlôkhốp,… Ở Việt Nam khái

niệm được nhắc đến vào những năm 80 nhưng cách hiểu của các tác giả chưa hoàn toàn cụ thể về nội dung của nó

Năm 1985 trong luận án Tiến sĩ khoa học: Sự hình thành và những vấn

đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại

Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác định hàm nghĩa khái niệm thế giới nghệ thuật

như sau: “Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất cả các yếu

tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm

mĩ Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực- đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh hiện thực, tư tưởng, tình cảm của nhà văn Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương đối với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn

Trang 12

bản thân nó Nó có thể bao quát gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kỳ nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan đến nhiều yếu tố khác của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là nhiên thứ hai mà người nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người… là thế giới sinh động, đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học, mỗi dân tộc, mỗi thời kỳ lịch sử để có thế giới nghệ thuật của riêng mình”

Đây là một khái niệm rộng được triển khai với nhiều cấp độ Tuy còn dừng ở mức khái quát song quan niệm sẽ là những gợi ý hết sức quý giá, phù hợp với nhiều luận điểm mà chúng tôi sẽ triển khai trong luận văn

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ

tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác tác giả, một trào lưu).Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng…chỉ xuất hiện ước lệ trong các sáng tác nghệ thuật Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới… Khái niệm “thế giới nghệ thuật” giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan, văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cả tính sáng tạo của nghệ sĩ ” [14; tr.302]

Ngoài những cách hiểu tiêu biểu trên còn một số công trình nghiên cứu

khác cũng đề cập đến khái niệm này như: Nguyễn Đăng Mạnh với Con đường

đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn (1996), Trần Đình Sử với Những thế giới nghệ thuật thơ (1997)

Trang 13

Như vậy “thế giới nghệ thuật” là một phạm vi rộng, thể hiện qua nhiều phương diện: nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, không gian, thời gian nghệ thuật, quan điểm nghệ thuật các yếu tố này thể hiện đan xen vào trong các tác phẩm, phụ thuộc vào tư duy nghệ thuật của nhà văn, nó góp phần tạo nên tính sinh động cho cái được miêu tả

Là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều yếu tố nên việc tìm hiểu kĩ trong dung lượng luận văn cao học là rất khó Vì thế, trong chương này chúng tôi chỉ trình bày khái quát các vấn đề của khái niệm thế giới nghệ thuật Một

số yếu tố được trình bày nhằm đảm bảo tính hệ thống nên còn dừng lại ở mức

sơ giản Trên cơ sở đó tập trung làm rõ một số vấn đề như tính chủ quan, tính thể loại, trong thế giới nghệ thuật thơ trữ tình Từ đó, chúng tôi vận dụng vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Đồng Đức Bốn

1.1.1.1 Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật

Trong tiếng Việt chỉnh thể được cắt nghĩa là “Thể, khối thống nhất trong

đó các bộ phận có liên quan chặt chẽ với nhau không tách rời” [21; tr.156]

Trong triết học, nó được hiểu “là khái niệm đặc trưng cho tính thống

nhất nội tại toàn vẹn, đầy đủ, biệt lập của khách thể Sự tổng hợp những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ vốn có của khách thể tạo ra tính thống nhất bên trong của nó với môi trường bên ngoài” [30; tr.21]

Trong nghiên cứu văn học “chỉnh thể” là thuật ngữ chuyên ngành có ý

nghĩa là “Là tổng thể bao gồm các yếu tố có mối quan hệ mật thiết với nhau

tương đối bền vững, bảo đảm cho hoạt động của nó như môi trường xung quanh…” Vận dụng khái niệm này vào tìm hiểu chỉnh thể thế giới nghệ thuật

cho thấy thế giới này bao gồm rất nhiều cấp độ Tác phẩm, tác giả, giai đoạn, thời kỳ văn học, nền văn học dân tộc, trào lưu… Mỗi cấp độ lại là một chỉnh thể toàn vẹn, thống nhất Mọi yếu tố trong hệ thống chỉnh thể có quan hệ ràng buộc, quy định và tác động lẫn nhau Mối quan hệ này đã tạo ra một thế giới

Trang 14

với nội dung và chức năng mới vốn không có khi đem tách rời các yếu tố Nói như vậy, thì chỉnh thể thế giới nghệ thuật là sự liên kết “siêu tổng cộng” của các chỉnh thể nhỏ trong hệ thống từ quan niệm, mô hình, hình tượng đến các chỉnh thể nhỏ hơn khái niệm hình tượng Chỉnh thể thế giới nghệ thuật là kết quả của quá trình tư duy của người nghệ sĩ khi biến những cảm xúc, những tình điệu thẩm mĩ, những cách khám phá, cắt nghĩa, lí giải đời sống thành

“thiên nhiên thứ hai”, để người đọc chiêm nghiệm, suy ngẫm, soi ngắm các vấn đề mà người nghệ sĩ đã gửi vào trong đó Là sản phẩm của nhà văn nhưng thế giới nghệ thuật tồn tại độc lập với nhà văn đó theo cách riêng của mình

Trong thế giới nghệ thuật, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức là hệ quả tất yếu nhằm thống nhất nội tại giữa các yếu tố, thể hiện tính quy luật của chỉnh thể Đây là cơ sở để đánh giá đúng chân giá trị của tác phẩm Nó giúp người sáng tác tránh được những lắp ghép máy móc, khiên cưỡng vô cảm và giúp người nghiên cứu tránh được những đánh giá chủ quan, cứng nhắc

Như vậy khi nội dung và hình thức phù hợp, thống nhất với nhau thì mới tạo nên chỉnh thể và cũng chỉ trong chỉnh thể thì mối quan hệ này mới

xuất hiện Đúng như Biêlinxki nhà phê bình Nga đã viết: “Khi hình thức là

biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt tới mức nếu tách nó ra khỏi nội dung thì có nghĩa là hủy diệt hình thức” [32; tr.256] Từ mối quan hệ này đã mở ra

một hướng khám phá thế giới nghệ thuật bắt đầu từ hình thức, tức là tiếp cận

Trang 15

nên nó cần có một quá trình cảm thụ Trong quá trình cảm thụ mới xuất hiện các mối quan hệ ngược xuôi giữa các lớp, các yếu tố Các mối quan hệ này vừa đan xen vừa đồng hóa để tạo ra một chỉnh thể toàn vẹn có chức năng, nội dung mới Nằm trong chỉnh thể các yếu tố vừa mang ý nghĩa của bản thân nó vừa mang ý nghĩa của chỉnh thể Do sự chi phối phụ thuộc lẫn nhau nên một

số yếu tố trong chỉnh thể thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các yếu tố khác Chẳng hạn, trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự, do yêu cầu tái hiện cuộc sống đầy đủ, chi tiết nên nó không bị giới hạn thời gian, không gian, số lượng nhân vật Các nhân vật được xây dựng chi tiết, tỉ mỉ với nhiều quan hệ phức tạp…Nhưng ở tác phẩm kịch do phản ánh cuộc sống bằng hình thức diễn xướng nên hạn chế về thời gian, không gian đã kéo theo số lượng nhân vật ít, các tình tiết khắc họa chỉ tập trung ở các mâu thuẫn đã lên tới đỉnh điểm…

Như vậy, thế giới nghệ thuật chỉ được xem là chỉnh thể khi các yếu tố, các lớp có sự ràng buộc, quy định lẫn nhau theo một quy luật nhất định Coi tính chỉnh thể là phẩm chất không thể thiếu của sáng tạo nghệ thuật cho phép

ta nhìn nhận thế giới này ở dạng đầy đủ, nhiều mặt nhất

1.1.1.2 Nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật

Tác phẩm nghệ thuật là thế giới chủ quan với những tìm tòi độc đáo, mới

mẻ, những hư cấu tưởng tượng kỳ diệu, nó không phải là sự lắp ghép tùy tiện

mà là một chỉnh thể toàn vẹn thống nhất được tạo nên bởi các nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật riêng Những nguyên tắc này có ý nghĩa tương đối ổn định trong từng thời kỳ Đây cũng là một trong những căn cứ để nhận biết giai đoạn văn học Trong sáng tạo nghệ thuật, nghệ thuật và tư tưởng không bao giờ tách rời nhau mà nó là một thể thống nhất cùng biểu hiện tư tưởng và sáng tạo của

nhà văn Tất nhiên tư tưởng sẽ định hướng cho sáng tạo Tsekhov đã nói: “Nếu

như có một tác giả nào đó mà khoe với tôi rằng anh ta đã viết một thiên truyện không có dự định từ trước thì tôi sẽ gọi anh ta là thằng rồ” [41; tr.11]

Trang 16

Nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật là vấn đề của phương pháp sáng tác

Nguyên tắc này “không phải là sự tổng hợp những phương thức, thủ pháp,

biện pháp nghệ thuật mà gắn chặt với thế giới quan nhưng không phải bị đồng nhất với thế giới quan… Thế giới quan này được thể hiện bằng các nguyên tắc cụ thể ” [32; tr.6] Như vậy nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật chịu sự

chi phối của quan điểm tư tưởng thế giới quan, nhân sinh quan, quan niệm, quan điểm nghệ thuật của cá nhân và thời đại Do quan niệm ở mỗi thời kỳ thay đổi đã kéo theo sự thay đổi của các nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật

Trong phương pháp sáng tác huyền thoại dân gian (theo Hà Minh Đức) nguyên tắc thần thánh hóa là chủ yếu Từ quan niệm con người là sản phẩm của thượng đế đã tạo ra cho các tác giả dân gian một thế giới quan thần thoại lẫn thế giới quan dựa trên chủ nghĩa duy vật chất phác Thế giới quan này làm nảy sinh tư tưởng cảm hứng lớn về sức mạnh và tin vào số mệnh Sản phẩm của nó là những nhân vật khác người như thần, thánh, tiên, phật Nếu là người thì có phép thuật kỳ lạ như cô Tấm, Sọ Dừa… Các nhân vật này được tạo nên

từ trí tưởng tượng phong phú nhằm giải thích những điều con người chưa biết

và thể hiện ước mơ của họ Ước lệ tượng trưng là một nguyên tắc “xơ cứng” mang tính quy phạm, nghiêm ngặt, chặt chẽ của phương pháp sáng tác cổ điển Từ quan niệm con người là con người chung, gắn liền với thiên nhiên vũ trụ, họ đã lấy vẻ đẹp của thiên nhiên vũ trụ làm thước đo giá trị con người Do lấy cảm quan vũ trụ làm chủ đạo để giãi bày quan điểm, tư tưởng nên hệ thống nhân vật đầy tính ước lệ tượng trưng, mang tính lý hóa cao Chẳng hạn, nói về vẻ đẹp con người là tùng, cúc, trúc, mai Nói về người con gái là cây

bồ, cây liễu Nói về nữ sĩ là “mắt phượng mày ngài”… Nguyễn Du khi miêu

tả tài sắc của chị em Thúy Kiều cũng gắn chặt với thiên nhiên, Thúy Vân là:

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da

Trang 17

Thúy Kiều là:

Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen đua thắm liễu hờn kém xanh …

Không phải chỉ có con người mà thiên nhiên cũng bị gò bó trong khuôn

khổ, phong, vân, tuyết, nguyệt, tùng, cúc, trúc, mai

Trong phương pháp sáng tác lãng mạn, các nghệ sĩ lấy việc biểu hiện

“cái tôi nội cảm” làm nguyên tắc chủ yếu Từ chỗ thất vọng với thực tại, họ

hoặc quay về với quá khứ hoặc hướng tới tương lai Họ coi nghệ thuật là nơi trú ngụ của tâm hồn mình và quan niệm nghệ thuật chỉ sống với mình hơn là sống với đời Vì thế đối với họ nghệ thuật chỉ chủ yếu biểu hiện cái tôi với tất

cả những biến thái dù nhỏ nhất của tâm hồn và lấy luôn cái tôi làm thước đo giá trị muôn loài Nguyên tắc này phổ biến trong dòng văn học lãng mạn của nước ta, nhất là phong trào Thơ mới những năm 1932 – 1945

Không đề cao tư tưởng phóng túng và cái tôi như phương pháp lãng mạn, xuất phát từ hiện thực đời sống, từ quan niệm văn học phải phản ánh trung thực đời sống, phương pháp sáng tác hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa lấy nguyên tắc tả thực làm cơ bản Nguyên tắc này yêu cầu việc xây dựng hệ thống nhân vật phải được bắt đầu từ những chi tiết chân thực nhưng

đó phải là các chi tiết đắt, tiêu biểu và có ý nghĩa cao trong việc phản ánh đời sống cũng như tư tưởng thái độ của người viết Các chi tiết chân thực điển hình rất quan trọng trong việc xây dựng hình tượng điển hình Chi tiết càng điển hình thì giá trị biểu hiện cuộc sống càng lớn

Đây là những nguyên tắc cơ bản nhưng không phải là độc quyền của bất kỳ phương pháp nào Trong sáng tác, các nguyên tắc này vẫn có sự giao thoa với nhau Mức độ giao thoa ít hay nhiều là tùy thuộc vào ý đồ của người sáng tác Việc xây dựng các nguyên tắc cơ bản vừa thể hiện thế giới quan của nhà văn vừa biểu hiện thế giới quan niệm chung có tính thời đại

Trang 18

1.1.1.3 Các cấp độ của thế giới nghệ thuật

* Cấp độ quan niệm nghệ thuật

Quan niệm nghệ thuật thể hiện các giới hạn cách hiểu thế giới, con người thuộc một hệ thống nghệ thuật của nhà văn được thông qua mức độ, phạm vi, khả năng chiếm lĩnh đời sống của nhà văn đó Quan niệm nghệ thuật

là hạt nhân bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật

Quan niệm nghệ thuật bao gồm nhiều vấn đề như: thế giới, con người, nghệ thuật, các phạm trù thẩm mỹ Tùy theo quan niệm mà có những thế giới nghệ thuật tương ứng

Thứ nhất, quan niệm về thế giới: Thế giới được tạo nên bởi thiên nhiên,

vũ trụ và con người Nhưng quan niệm về thế giới lại không giống nhau Trong triết học, chủ nghĩa duy tâm quan niệm thế giới là hiện tượng tinh thần, tồn tại bất biến Chủ nghĩa duy vật quan niệm thế giới là hiện tượng vật chất luôn vận động biến đổi Trong văn học, mặc dù chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hôi khá đặc biệt là triết học nhưng quan niệm về thế giới không đơn giản là vật chất hay tinh thần mà nó được thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật Nó dựa trên sự cảm nhận của cá nhân về một thế giới để thỏa mãn sự tồn tại của nó Ứng với mỗi quan niệm về thế giới là một thế giới nghệ thuật,

vì thế việc tìm hiểu quan niệm này phải xem xét trong từng thế giới nghệ thuật cụ thể

Thứ hai, quan niệm về con người: Con người là đối tượng hướng tới

của văn học nhưng con người trong văn học không phải là con người nguyên

bản của đời sống “mà là quan niệm về con người ấy một cách thẩm mỹ và

nghệ thuật” (theo Trần Đình Sử) Quan niệm về con người thay đổi theo từng

thời kỳ lịch sử Quan niệm nghệ thuật về con người gắn chặt với cái nhìn của người nghệ sĩ Nó chỉ có giá trị trong hoàn cảnh, một giai đoạn hay một thời

kỳ lịch sử nhất định

Trang 19

Thứ ba, quan niệm về nghệ thuật: Nghệ thuật là sản phẩm của tinh thần

nên giá trị của nó cũng là giá trị tinh thần Quan niệm về nghệ thuật rất phức

tạp; Platon cho rằng: “nghệ thuật là bản sao của một bản sao, là sự bắt chước

của sự bắt chước” Aristote quan niệm: “nghệ thuật là sự bắt chước nhưng mang lại niềm vui” Hêghen nhấn mạnh: “nghệ thuật là phản ánh đời sống”

Đây là quan niệm có cơ sở thực tế cao bởi vì nó cho thấy ngay từ khi mới ra đời văn học đã hướng vào cuộc sống, phản ánh, cải tạo đời sống

Thứ tư, quan niệm về các phạm trù thẩm mỹ: Phạm trù thẩm mỹ là khái

niệm thể hiện nhận thức khái quát của con người về những hiện tượng thẩm

mỹ có trong tự nhiên, xã hội, con người và nghệ thuật Trong nghệ thuật, phạm trù này được xác định qua cái thẩm mỹ (những đặc trưng của quan hệ giá trị của con người đối với thế giới xung quanh) Cái thẩm mỹ gồm cái hài, cái hùng, cái bi, cái cao cả, cái xấu…Mỗi cái thẩm mỹ gắn liền với cảm xúc của người nghệ sỹ được người nghệ sỹ khái quát để mang một ý nghĩa biểu trưng ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống Cái thẩm mỹ “vừa bất biến”(một cảm hứng duy nhất xét về loại hình), “vừa khả biến” (có bản chất xã hội, lịch

sử về các xung đột tinh thần, tư tưởng mà nó biểu hiện) [40; tr.35]

* Cấp độ mô hình nghệ thuật

Mô hình nghệ thuật là sản phẩm của quan niệm nghệ thuật Nó ra đời

và tồn tại cùng với thế giới nghệ thuật Mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật tương ứng Mô hình này sẽ chi phối đến việc người nghệ sĩ chọn lựa nguyên tắc nào để phản ánh hiện thực khách quan Từ đó, mọi tư tưởng, ý đồ, cách thức tổ chức sắp xếp tình tiết, ngôn từ đều phụ thuộc vào

mô hình đã chọn Mỗi mô hình nghệ thuật mang một dấu ấn của hình thức đời sống văn hóa xã hội, là một kiểu quan niệm, một cách cắt nghĩa, lý giải về thế giới và con người Điều này có nghĩa là mỗi mô hình sẽ có những đặc điểm riêng không lặp lại với những mô hình trước, nó luôn mang một hình thức

Trang 20

mới Việc xác định mô hình nghệ thuật phải dựa vào các phạm trù thời gian, không gian, con người được mô tả trong đó Từ các phạm trù này tìm ra các đặc điểm chung như mở đầu và kết thúc của hình tượng ở đâu, góc độ tiếp cận nào, mối quan hệ ra sao… qua đó hợp thành các mô hình nghệ thuật Chẳng hạn trong mô hình văn học trung đại các nghệ sĩ hay dùng nguyên tắc ước lệ

để miêu tả nhân vật Nguyễn Du miêu tả Thúy Vân “Khuôn trăng đầy đặn nét

ngài nở nang”… Trong văn học dân gian kiểu xây dựng nhân vật theo hai

tuyến thiện – ác cũng là một kiểu mô hình Đặc trưng của văn học hiện thưc phê phán là kiểu kết thúc nhân vật không có lối thoát như chị Dậu, anh Pha, Chí Phèo, Lão Hạc…Giai đoạn chống Mỹ có mô hình nhân vật hay hy sinh tình cảm riêng vì nghĩa lớn như chị Tư Hậu, anh Trỗi… Mô hình nghệ thuật rất đa dạng, nó có thể là của thời đại, giai đoạn, tác giả… Chẳng hạn, mô hình nhân vật trong sáng tác của Nam Cao là người nông dân tri thức nghèo…Việc

đi sâu tìm hiểu mô hình nghệ thuật sẽ giúp ta nhận ra những đặc điểm chung,

khái quát trong từng hình tượng nghệ thuật cụ thể

* Cấp độ hình tượng nghệ thuật

Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh và tái

tạo hiện thực riêng biệt vốn có và chỉ có trong nghệ thuật Hình tượng “vừa là

sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ vừa là con đẻ của hiện thực khách quan” [32; tr.27]

Hình tượng nghệ thuật là các khách thể của đời sống được người nghệ

sĩ tái hiện hoặc tái tạo và tồn tại độc lập như một thực thể văn hóa xã hội (tức

là nó tách khỏi hoạt động nghệ thuật của nhà văn) mà con người có thể thưởng thức, ngắm nghía Hình tượng nghệ thuật chỉ thấm vào ý thức của con người khi họ cảm thấy cuộc sống ở trong đó

Như vậy, chỉ thông qua hoạt động tưởng tượng của người nghệ sĩ thì

một “cuộc sống thứ hai” mới ra đời Cuộc sống này không chỉ định hướng về

Trang 21

tinh thần con người để hoạt động có chủ định, có lý tưởng, để lý giải thế giới hiện thực mà còn mang đến cái có thể có, muốn có, phải có

Hình tượng nghệ thuật chỉ sống khi được đặt trong thời gian, không gian sinh tồn (đây vừa là hình thức nội tại vừa là thuộc tính tất yếu của hình tượng nghệ thuật) Bị cắt đứt khỏi thời gian, không gian vật lí, tách khỏi thế giới hiện thực xung quanh, lại bị giới hạn trong khuôn khổ của tính ước lệ nên thời gian, không gian của hình tượng chỉ có thể cảm nhận chứ không thể nhìn

thấy trực tiếp bằng mắt Đọc câu thơ của Nguyễn Du “Buồn trông nội cỏ rầu

rầu – chân mây mặt đất một màu xanh xanh” người đọc hình dung ra một

không gian xa xôi cách trở, cô lẻ đến nao lòng…

Nói tóm lại, hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất cao độ giữa các mặt đối lập: chủ quan – khách quan; lí trí – tình cảm; cá biệt – khái quát; hiện thực – lí tưởng; tạo hình – biểu hiện… Bản thân của mỗi hình tượng là một quan

hệ thẩm mỹ vô cùng phức tạp bao gồm: Quan hệ giữa các yếu tố và chỉnh thể giữa thế giới thực tại và thế giới nghệ thuật, giữa tác giả hình tượng, cuộc sống… Với tư cách là cấp độ hạt nhân của chỉnh thể thế giới nghệ thuật, hình tượng là yếu tố trọn vẹn nhất vừa phản ánh đầy đủ cuộc sống vừa thể hiện gương mặt nghệ sĩ

* Cấp độ ngôn từ nghệ thuật

Ngôn từ nghệ thuật là lớp lời văn trong tác phẩm do người nghệ sĩ sáng tạo ra Nó là hình thức biểu đạt duy nhất vừa là xác, vừa là hồn của văn chương Xét về mặt chất liệu, ngôn từ nghệ thuật sử dụng các phương tiện của ngôn ngữ toàn dân như: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng nhưng mang phẩm chất thẩm mĩ và

mục đích nghệ thuật nên nó có thể “truyền đạt một thông tin và không một phát

ngôn đúng nghĩa nào có thể thay thế được” (theo G.V.Xtêpanôp)

Lời văn trong tác phẩm không phải là lời nói thường ngày Nó chịu sự quy định của nhà văn và phục tùng cấu trúc của văn bản nghệ thuật Do đó lời

Trang 22

nói ấy có thể là lời nói trực tiếp, gián tiếp nhưng cũng có khi là lời nói nửa trực tiếp, lời độc thoại, lời của tác giả, của nhân vật, của người trần thuật Lớp lời văn trong tác phẩm được tạo nên từ thứ ngôn ngữ hàm súc, biểu tượng và gợi hình Tính gợi hình là phẩm chất hàng đầu không thể thiếu trong lời văn Nếu các môn khoa học khác như: triết học, pháp luật… phản ánh cuộc sống

bằng các khái niệm, công thức thì văn học phản ánh cuộc sống bằng “lời văn

biểu cảm hình tượng” [30; tr.355] Trước hết, tính gợi hình thể hiện trong chính

lời văn bởi thông qua lời văn người đọc sẽ hình dung ra được các mối quan hệ, các cung bậc cảm xúc khác nhau của nhân vật Để đạt được mục đích nghệ thuật và tinh thần thẩm mĩ cao, lời văn có một hình thức tổ chức đặc biệt Nó

sử dụng đậm đặc các hiện tượng cú pháp, các từ tượng hình tượng thanh, từ mô

tả trạng thái, cảm xúc, cảm giác… nhất là các phương thức thêm nghĩa, chuyển nghĩa như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng… làm cho lời văn mềm mại, uyển chuyển, bay bổng, và có tính đa nghĩa và hàm ngôn

Hình thức tổ chức lời văn ở mỗi một thể loại có những nét đặc thù riêng Trong thơ trữ tình, tổ chức lời thơ phải có tách dòng, có nhạc, có vần Trong tự sự, tổ chức lời văn là đoạn, chương, hồi… Trong kịch, tổ chức lời văn là màn, lớp, cảnh… Theo giáo sư Trần Đình Sử, lời văn nghệ thuật còn

đóng vai trò “biểu diễn” sự vật Điều này có nghĩa lời văn làm cho sự vật hiện

hình (đây là sự khác nhau cơ bản với ngôn ngữ hàng ngày)

Như vậy, lời văn nghệ thuật giữ vai trò lưu giữ làm phong phú thêm cho ngôn ngữ dân tộc vừa thể hiện sự kết tinh, sàng lọc ngôn ngữ của tác giả vừa thể hiện năng lực, sở trường, phong cách và quan niệm của người nghệ sĩ

1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình

Trong văn học, căn cứ vào phương thức phản ánh người ta chia văn học

ra làm ba thể loại lớn: tự sự, trữ tình và kịch Trong mỗi thể loại lại bao gồm nhiều thể loại nhỏ Tự sự có sử thi, tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa,

Trang 23

truyện dài… Kịch có hài kịch, bi kịch, chính kịch…Trữ tình có thơ văn xuôi, thơ cách luật, thơ trữ tình… Ứng với mỗi thể loại lớn là các thể nhỏ và những loại hình thế giới nghệ thuật riêng, có quy luật vận động riêng và hình thức tổ chức biểu hiện riêng Thơ trữ tình là một thể nhỏ nằm trong thể loại trữ tình Khái niệm thế giới nghệ thuật của nó cũng bao hàm đầy đủ các cấp độ, các yếu tố của thế giới nghệ thuật nói chung Nhưng các cấp độ, các yếu tố này có hình thức biểu hiện riêng Việc tìm hiểu khái niệm thế giới nghệ thuật thơ trữ

tình chính là tìm hiểu tính chủ quan và những đặc trưng thể loại của nó

Thơ trữ tình là thuật ngữ nhằm để phân biệt với các thể loại khác nhau

trong thể loại trữ tình và thơ tự sự Nó có ý nghĩa “là phương tiện để con người

ta tự khẳng định bản chất của mình, xác định chí hướng, lập trường, giá trị trước cuộc sống, đồng thời là phương tiện để xây dựng thế giới tinh thần của con người” [32; tr.112] Thơ trữ tình có khả năng khêu gợi và bộc lộ cảm xúc

rất lớn Tuy cảm xúc là của từng cá thể nhưng lại bắt nguồn từ cuộc sống nên trong thơ trữ tình có tất cả mọi chuyện, chuyện thế sự, chuyện đời tư, chuyện

chung, chuyện riêng…Dù nói gì đi nữa thì nổi bật trong thơ vẫn là “bản tự

thuật của tầm trạng” (Poxpelop),“những vương quốc chủ quan” (Bielinxki)

1.2 Sự nghiệp sáng tác của Đồng Đức Bốn

1.2.1 Hành trình sáng tác

Đồng Đức Bốn sinh ngày 30-3-1948, tại thôn Song Mai, xã An Đồng, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của bề dày lịch sử và bề sâu nền văn minh lúa nước – văn minh sông Hồng, tình cảm của một vùng đất in dấu rất đậm nét trong hành trình văn hóa Việt để trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ thời kỳ đổi mới

Đồng Đức Bốn xuất thân trong một gia đình thuần nông Tuổi thơ của ông gắn bó chặt chẽ với ruộng đồng, bờ bãi làng quê Đó là những bờ bãi làng quê, những buổi chiều lang thang trên đồng cỏ hoe vàng, bắt châu chấu về

Trang 24

nướng ăn hay tát cá mang ra chợ bán kiếm tiền Mẹ thi sĩ là người phụ nữ chân đất nhưng thuộc nhiều ca dao, tục ngữ và những khúc hát ru Cha cũng tập tành làm thơ nhưng không thành Đồng Đức Bốn là sự hoàn thiện của cả hai tâm hồn Có lẽ kỷ niệm tuổi thơ ấy đã là một dấu ấn không thể phai mờ trong tâm hồn của nhà thơ vì thế mà tiếng thơ của ông luôn có một nỗi buồn giăng mắc

Tạm biệt tuổi thơ lắm bùn đất nhiều khó nhọc, nhà thơ bước vào thời trai trẻ cống hiến sức mình để xây dựng Tổ quốc Trở thành người lính, qua nhiều sóng gió cuộc đời, người trai miền biển với ước vọng mạnh mẽ, tâm hồn luôn khao khát được cất tiếng Những tiếng thơ đầu tiên của chàng thanh niên quê mùa ấy vì không đủ độ vang, sự quyến rũ nên đã nhanh chóng rơi vào quên lãng Phận nghèo quấn riết lấy nhà thơ khiến nhà thơ không thể để hồn ràng buộc với thiên nhiên, hoa lá cỏ cây được mãi, ông phải lo vật lộn với cuộc sống làm đủ thứ nghề từ thợ gò, sửa chữa ôtô và cả kí kết những hợp đồng kinh tế

Thời gian trôi đi, sự đời từng trải “khi cuộc sống đã đầy”, hai mươi năm sau Đồng Đức Bốn làm thơ trở lại và ngay lập tức tỏa sáng, gây tiếng

vang lớn trở thành “một hiện tượng lạ” với tập thơ Chăn trâu đốt lửa Nhà

thơ tâm sự: “Con người tôi đã nếm trải đủ mọi đắng cay ở đời rồi Bây giờ chỉ chạm vào cây là ra quả, chạm vào lá là thành sương, vào dòng sông thì hóa phù sa” Làm thơ giúp Đồng Đức Bốn nghĩ về cuộc đời tốt đẹp hơn Đồng Đức Bốn đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một giọng điệu riêng, tạo một phong thái riêng cho thơ hiện tại của mình, biến nó trở thành hơi thở, hồn vía của cuộc sống hôm nay thông qua sự quản thúc trong nghiêm luật cổ

truyền lục bát Qua các tập thơ Con ngựa trắng và rừng quả đắng (1992),

sản phẩm đầu tiên chưa gây được sự chú ý của dư luận nhưng đã thể hiện rõ

thiên hướng thơ lục bát của thi sĩ đồng quê Rồi đến Chăn trâu đốt lửa

Trang 25

(1993), Trở về với mẹ ta thôi (2000), Cuối cùng vẫn còn dòng sông (2000),

Chuông chùa kêu trong mưa (2002), Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006) ta

bắt gặp những suy tư của ông về cuộc đời, về nhân tình thế thái, về cuộc sống

và tình yêu

Nói đến Đồng Đức Bốn, ai cũng dễ dàng nhận ra một phong cách lục bát rất riêng biệt với chất giọng lúc thiết tha, lúc tưng tửng, ngạo nghễ… với

sự nối kết những câu từ bình dị nhưng mang đến cho người đọc một cấu tứ lạ, vừa triết lí, vừa hóm hỉnh, thâm trầm Đậm đặc ở thơ ông – những câu chữ như gọi hồn người, là bề sâu văn hóa trong mối liên tưởng sâu sắc Cái nôi của nền văn minh sông Hồng cùng với điệu hò ru vỗ về của mẹ qua những câu ca điệu hát của dân gian đã hòa quyện, xuyên thấm bám chặt lấy tâm hồn thi sĩ, tạo nên chất nhựa của thơ Đồng Đức Bốn Chính cái chất văn hóa sâu đậm ấy càng khiến thơ ông làm mê mẩn biết bao thế hệ độc giả Lí giải điều này Đồng Đức Bốn đã nói: “Thơ phải đạt đến độ giản dị Không có nghĩa là nghĩ sao nói vậy, mà giản dị chính là cách tiếp cận để đến với bản chất cuộc đời cũng như cõi sâu xa của tâm hồn Lối nói giản dị là lối nói của dân gian.Tri thức kinh nghiệm dân gian, chính là tiềm thức trong mối con người hiện đại” Gắn bó với cuộc sống lang thang, phiêu bạt, hiểu mọi căn nguyên của những nỗi đời, Đồng Đức Bốn cảm nhận rất rõ về sự ảnh hưởng sâu sắc của dân ca đối với thơ ca

Với sự cống hiến hết mình cho nghệ thuật thơ ca, đến nay, ông đã làm khoảng 600 bài thơ lục bát và 200 bài thơ theo thể tự do, trong đó có nhiều

bài đặc sắc được coi là tác phẩm để đời như Chăn trâu đốt lửa, Chuồn

chuồn cắn rốn biết bơi, Nhà quê, Chợ buồn, Trở về với mẹ ta thôi… Ông

cũng đã kịp đoạt rất nhiều giải thưởng về thơ như giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1995, giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1998 – 2000, giải

thưởng cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ quân đội 1998 – 2000, Giải thưởng

Trang 26

cuộc thi thơ “Tầm nhìn thế kỷ” báo Tiền Phong, tặng thưởng hay nhất của Tạp chí Văn nghệ quân đội Với tất cả những gì đã cống hiến, ông xứng đáng

được liệt vào bậc thi sĩ đồng quê kì tài về thơ lục bát

Và rồi giữa lúc sức viết và tài năng đang ở độ chín, Đồng Đức Bốn đã vội vã ra đi Vào ngày 14 tháng 02 năm 2006, một căn bệnh hiểm nghèo đã đưa con chim mỏ vàng ngậm hoa cỏ độc cùng với tiếng chuông chùa kêu trong mưa mãi mãi vào miền cát bụi

1.2.2 Quan niệm sáng tác

Cũng như Nguyễn Bính trước đây, Đồng Đức Bốn không cố tình dụng công tạo nên ý thức cầu kỳ về mặt chữ nghĩa, không nhặt góp chữ mới, ít lao tâm tìm từ lạ Thơ ông bộn bề ngôn ngữ đời thường Vẫn chỉ là chuông chùa, chớp bể, mưa nguồn, chăn trâu, rơm rạ, chợ quê, giếng đình, gốc đa, là bán buồn mua vui Vốn từ trong thơ Đồng Đức Bốn không nhiều nhưng thi sĩ đã biết biến hóa, xếp ghép số từ ít ỏi bình dị đó để trở thành một bài thơ, thành nhiều bài thơ có ma lực truyền cảm, lan tỏa Lục bát với thi sĩ như là một cỗ máy thời gian giúp thi sĩ trở lại những hoài niệm về thời chăn trâu đốt lửa Lấy lục bát để trải lòng, để thả hồn lang thang theo những con diều, những triền đê, trở về với mẹ hiền… để thỏa mãn cái thèm muốn thuở ấu nhi đã qua

Chăn trâu đốt lửa trên đồng

Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều

(Chăn trâu đốt lửa)

Không dừng lại ở đó, với Đồng Đức Bốn khi cầm bút sáng tác ông còn bạo dạn tự nhận mình là kẻ mượn bút của trời, ông rất tin vào giá trị thơ lục bát của mình, dám quả quyết:

Đưa em qua trận bão người Bằng câu lục bát của trời cho anh

(Đưa em qua trận bão người)

Trang 27

Đồng Đức Bốn gọi đó là thứ “lộc trời ” cho mà đó cũng là cái “tội trời” ông phải gánh Bởi vậy Đồng Đức Bốn thường sử dụng những vần thơ của trời để viết cho những người yêu nhau Và bằng những câu thơ “của trời cho riêng mình”, thi sĩ đi mua tự do cho bản thân – cái tự do trong thơ ca và trong

tư tưởng Đồng thời, thơ ông cũng góp nhặt những nỗi buồn của con người:

Thơ tôi nhặt cái người ta vẫn buồn

Không chỉ ý thức về giá trị của thơ ca, Đồng Đức Bốn còn ý thức rất sâu sắc về giá trị của thể thơ lục bát – thể thơ tạo nên diện mạo và hồn cốt của thơ ông Ông đem sự kỳ vọng và niềm kiêu hãnh lớn lao gửi hết vào thơ lục bát Những câu lục bát êm đềm là thứ lộc trời để nhà thơ “đưa em qua trận bão người” Hay những câu thơ lục bát “hương hoa móng rồng” giúp ông sang dải ngân hà:

Uớc gì sang dải ngân hà Bằng câu lục bát hương hoa móng rồng

(Hãy về đây với bến sông)

Bắc cầu lục bát, thi nhân tìm lại nhân tính trong chính bản thân:

Gửi câu lục bát vào trời

Ta đi tìm lại con người trong ta

(Với cây xương rồng)

Nhưng lại có lúc Đồng Đức Bốn chỉ coi lục bát là những câu thơ trót dại với giời: Thôi thì trót dại với với giời

Sinh ra lục bát cho người đọc chơi

(Những câu thơ dại)

Vào những tháng ngày phải chống chọi với bệnh tật để rồi cùng với trận mưa rào ra đi, tiếng chuông chùa Đồng Đức Bốn vẫn vọng ngân lên những tiếng thơ tâm huyết cho đời cùng với một niềm tự tin, kiêu hãnh về giá

trị thơ lục bát của mình:

Trang 28

Cõi đời còn lắm bể dâu Con lấy lục bát bắc cầu đi qua

Trang 29

Chương 2 HÌNH TƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN

2.1 Hình tượng cuộc sống

2.1.1 Hình tượng thiên nhiên

Hiện thực được phản ánh trong kho tàng ca dao chủ yếu là thiên nhiên

và cuộc sống sinh hoạt của người dân nơi làng quê Vốn là một thi nhân phiêu

du vào lục bát bằng ngọn bút của trời, Đồng Đức Bốn cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Thi sĩ đã nối tiếp dòng chảy của quá khứ và sáng tạo cho mình một không gian riêng vừa mang đậm yếu tố truyền thống nhưng cũng mang những phong cách và hơi thở của thời đại Đồng Đức Bốn thổ lộ:

Bao nhiêu là thứ bùa mê Cũng không bằng được nhà quê của mình

(Gửi Tân Cương)

Chỉ với hai câu thơ đã thể hiện tình yêu tha thiết, mặn nồng mà Đồng Đức Bốn dành cho quê hương Ông viết về những mảng đề tài khác nhau như tình yêu lứa đôi, cuộc sống chốn thị thành hay những khó nhọc nơi thôn quê… nhưng gây được ấn tượng nhất vẫn là những gì thuộc chốn quê chất phác Cảnh quê trong thơ Đồng Đức Bốn chỉ được ông phác họa bằng những nét vẽ đơn sơ nhưng chân thực và sinh động, gắn với những lam lũ và khốn khó chốn quê nhà

Như bao làng quê Bắc bộ là mái lều tranh xơ xác mà đầm ấm, là những con đường nhỏ với những hoa tầm xuân, hoa dâm bụt…Rồi khi đến con đường quê ngày nắng thì đổ lửa, ngày mưa thì lầy lội ấy vậy mà hai bên đường lúc nào cũng đầy ắp những hoa thơm cỏ lạ của chốn quê mùa Phía xa

là dòng sông quê với những con đò quê như chiếc lá tre thanh mảnh chở

Trang 30

khách qua sông, sang với bờ bãi bên kia nơi có những cánh diều no gió Nói đến quê cũng không thể thiếu những phiên chợ quê với những cảnh đổi, bán mua đạm bạc gắn với cuộc sống bao đời nay của những cư dân thuộc nền văn minh lúa nước Tuy nhiên trong mỗi sáng tác của mỗi nhà thơ những hình ảnh này lại mang những dáng dấp, sắc màu và hồn vía khác nhau Khi nhắc đến các thi sĩ nổi danh khi viết về làng quê yên bình chúng ta có thể liệt kê ngay những tên tuổi nổi danh như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn…mỗi thi sĩ một phong cách khác nhau nhưng cái chung ở họ

là lòng yêu quê hương đến cháy bỏng cồn cào Với cây bút độc đáo, mỗi nhà thơ làm nên cho mình những lâu đài thi ca với những chất liệu khác nhau Đến với Nguyễn Bính ta sẽ bắt gặp những hình ảnh gần gũi, ta như được trở

về với tuổi thơ của chính mình, trở về với luỹ tre làng quê hương thân thuộc,

từ những hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, con đò, giếng nước, cây đa, sân đình đến dậu mùng tơi, cánh bướm, cánh diều, lá giầu, cây cau, cỏ may, đồng nội Tất cả đã đi vào thơ Nguyễn Bính một cách tự nhiên và đầm ấm tình người Khi đọc thành lời diễn cảm đoạn thơ sau đây của Nguyễn Bính, ta thấy thú vị trước cách cảm, cách nghĩ, cách so sánh ví von, cách dùng điệp từ, cách sử dụng lời ăn tiếng nói rất dân gian của ông:

Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ

Em thử quay xem được mấy vòng

Trang 31

Đôi ta cùng ở một làng Cùng đi một ngõ vội vàng chi anh

Em nghe họ nói mong manh

Hình như họ biết chúng mình với nhau

(Chờ nhau)

Những cách tính thời gian chừng dập miếng giầu, cách nói ỡm ờ mà tế nhị, mà tình tứ hình như họ biết chúng mình với nhau, các thành ngữ cả

gió đắt cau, sương muối giầu đổ non là lời ăn tiếng nói, là cách cảm, cách

nghĩ của người xứ quê và chỉ người xứ quê mới có Đó là những viên ngọc

còn thô mà Nguyễn Bính chỉ cần gia công đôi chút là trở thành những bài thơ

tuyệt tác, một viên ngọc ngôn ngữ của một nghệ sĩ bậc thầy Khi cái nét quê

mộc mạc gặp gỡ với chất nghệ sĩ bậc thầy, Nguyễn Bính đã sáng tạo cho đời những dòng thơ cảm tác tuyệt hay:

Hôm nay dưới bến xuôi đò Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau Anh đi đấy, anh về đâu

Cánh buồm nâu cánh buồm nâu cánh buồm

(Không đề)

Còn khi đến với Nguyễn Duy, một thi sĩ cũng đậm nét quê trong thơ,

anh luôn đeo đuổi cội nguồn quê hương:

Trong kiếp người ta chập chờn nguồn cội

Có một miền quê trong đi đứng nói cười

(Tuổi thơ)

Miền quê đi đứng nói cười trong thơ Nguyễn Duy chính là thế giới làng

quê, cảnh Việt Nam bình dị mà đậm chất thơ Nguyễn Duy luôn chiếm lĩnh đối tượng bằng phương thức tư duy nghiêng về cấu tứ độc đáo, sở dĩ vậy là vì thi sĩ có một hồn thơ tiềm tàng, dễ ăn nhập với những gì đơn sơ, bình dị Quê

Trang 32

hương trong thơ Nguyễn Duy là những hoài niệm về quê hương khó khăn nhọc nhằn nhưng cũng rất thân thương mộc mạc, một nơi lưu giữ những hình ảnh khó quên của tuổi thơ về con đường làng, mái nhà tranh, dòng sông uốn

lượn hay trăng non nghe nghé nhìn nghiêng xuống rừng…

Đồng chiêm phả nắng lên không Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng Gió nâng tiếng hát chói chang Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời

(Tiếng hát mùa gặt)

Nối tiếp mạch nguồn về quê hương ở thể loại thơ dân tộc, cùng với các thi nhân đương thời Đồng Đức Bốn nổi lên như một hiện tượng lạ, được đông

đảo mọi người quan tâm với tập thơ Chăn trâu đốt lửa Trong khoảnh khắc

giao thời, nhiều thể loại văn học mới đang chiếm ưu thế, đang lấn át sân chơi của lục bát thì bỗng đâu Đồng Đức Bốn xuất hiện như một vị cứu tinh của thơ lục bát Ông thổi một luồng gió mới vào lục bát, tuy vẫn là những hình ảnh thân thuộc gần gũi nhưng tất cả như được gột rửa sạch sẽ rồi phủ lên một lớp vàng óng ánh Khiến cho người đọc đi từ bất ngờ này tới bất ngờ khác, và rồi tình yêu quê hương, yêu mến thể loại thơ dân tộc lại trỗi dậy một cách mạnh mẽ Bất ngờ bởi trong thơ Đồng Đức Bốn bên cạnh sự dịu dàng yên bình vốn có của thôn quê, nó còn bật lên một cái gì đó gai góc, ám ảnh trong những vần thơ của ông Nhưng tựu trung vẫn là những khung cảnh thanh bình

Trang 33

Bên những con đường ấy không còn là những mảng cỏ xanh và muôn vàn loài hoa dại đua nhau khoe sắc nữa, mà thay vào đó là những lều quán tạm bợ được dựng lên tạo ra cảm giác chật hẹp:

Lề đường trong những chiếc lều

Có cô hàng xén ngồi vêu cả ngày

(Chờ đợi tháng ba)

Cuộc sống thôn quê hiện lên thật ảm đạm, buồn tẻ khi trên những con đường quê không phải là cảnh tấp nập đông vui của ngày mùa hay cảnh đông đúc của đàn trâu thong dong cuối ngày, mà hiện lên lại là hình ảnh cô hàng xén ngồi vêu cả ngày Con đường quê như khoác lên mình chiếc áo màu xám

ảm đạm trong những ngày tháng ba

Không phải là bóng hình thân thương, quen thuộc “ngõ trúc quanh co,

khách vắng teo”, “đường thôn xanh thẫm một màu cỏ non”, “hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”, tất cả đã có sự đổi khác, thay thế bởi cuộc sống xô bồ, ồn

ào của lối sống bon chen Có cái gì đó như là một dự cảm về cuộc đời nhiều chông gai, khó khăn Đường quê hiện ra như là đường đời, nó éo le, thảm thương và không kém khúc khuỷu…

2.1.1.2 Cánh đồng với mưa, nắng, gió

Nhà thơ Đồng Đức Bốn đã khái quát về đồng đất chốn quê nhà:

Câu ca mẹ hát như đùa

Mà làm nước mặn đồng chua đổi đời

(Câu ca mẹ hát như đùa)

Ở từng thời điểm khác nhau cánh đồng ấy lại có những diện mạo riêng

Đó là lúc cánh đồng thảnh thơi khi lúa đã gặt xong chỉ còn sót lại chút ít rơm

rạ cho bầy trẻ trâu tội nghiệp:

Chăn trâu đốt lửa trên đồng

Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều

(Chăn trâu đốt lửa)

Trang 34

Sau mùa vụ cánh đồng trở thành sân chơi lý tưởng cho trẻ nhỏ, cánh

đồng chỉ còn lại gốc rạ nhưng số lượng cũng không nhiều, rạ rơm thì ít mà

gió đông thì nhiều khiến cho chúng ta liên tưởng tới một làng quê cũng mang

trong nó những nỗi cơ cực nhọc nhằn trong quá trình mưu sinh

Nhưng ở rất nhiều bài thơ của ông cánh đồng quê lại xuất hiện ở một diện mạo hoàn toàn khác Cánh đồng đang oằn mình trong mưa bão, với cảnh lam lũ của người dân quê Đó là cánh đồng mẹ đi cất vó với bước chân liêu xiêu:

Trong mưa bão cánh đồng phải gánh chịu những hậu quả khôn lường,

cánh đồng trong mùa mưa bão hiện lên thông qua hình ảnh mẹ đi cất vó lội

xiêu gió đồng; hay cảnh đồng ta trắng xóa cả trời nước trong.Những thiên tai

khiến cho cánh đồng bị tàn phá thảm khốc, cuộc sống dân làng vô vàn những khổ cực lao đao Hình ảnh cánh đồng là hình ảnh tượng trưng cho số phận của người nông dân cũng đang phải oằn mình chống chọi với vô vàn những khó khăn từ thiên nhiên, từ cuộc sống mưu sinh vất vả

Sở dĩ mà những cánh đồng phải oằn mình hứng chịu những tai biến đó

là bởi “cái nắng, cái gió” nơi quê nhà của thi sĩ cũng rất khắc nghiệt Khi nhớ

về mối tình cũ, Đồng Đức Bốn có nhắc đến một thứ nắng rất dịu nhẹ:

Vẫn còn trong nắng thấp tho Tôi và em xuống con đò ban mai

(Qua nhà người yêu cũ)

Trang 35

Khi nhớ tình cũ là cảm xúc ùa về, dưới cái nắng dịu nhẹ hình ảnh tôi và

em cùng xuống con đò ban mai gợi nên sự nhẹ nhàng tiếc nuối trong lòng thi

nhân Cái nắng dịu dàng, e ấp mang trong nó vẻ đẹp tinh khôi mang nét tương đồng với người yêu cũ của nhà thơ

Trong khi đó mùa hạ là những trận mưa rào (Đêm qua đổ trận mưa

rào) và đặc biệt là cảnh vỡ đê đầy tang thương:

Trâu bò thất thểu long đong Trên bè tre rối bòng bong xoong nồi

(Vỡ đê)

Nắng mưa khắc nghiệt đã làm thôn quê kiệt sức, ngã quỵ, vòng tuyến

đê điều đã bị nó phá vỡ , khiến cho cảnh tượng đau lòng đã xảy đến trâu bò thất thểu vì thiếu ăn, người vật cùng đồ dùng vật dụng bấp bênh trên bè tre lửng lơ giữa cảnh màn trời chiếu đất

Đọc thơ ông nguời ta có cảm giác gió mưa như là một thứ định mệnh vừa có thể biết trước nhưng không thể chạy trốn hay dứt bỏ nó được:

Chốc nữa thể nào cũng giông Sang đò tôi đến giữa đồng là mưa

(Đi đò)

Biết trước thể nào lát nữa cũng xảy ra cơn giông ấy thế mà vẫn cứ đi,

kết quả như dự đoán đến giữa đồng là mưa Biết trước là có gió mưa vất vả

nhưng vẫn không dừng lại, vẫn cố tiến về phía trước Điều này cũng có sự tương đồng trong cảm thức của thi nhân, cuộc sống biết trước là vất vả, nhọc nhằn vậy, ấy thế mà thi nhân vẫn miệt mài tiến về phía trước, tiến bước không buông bỏ Từ thực tại cuộc sống ảnh hưởng rất nhiều tới thơ Đồng đức Bốn

Thế nhưng cũng có lúc thi nhân nhớ về cánh đồng quê trong mùa thu khi cơn gió thổi một trời heo may:

Trang 36

Hãy về đây với bến sông Với tôi ở giữa cánh đồng heo may

(Hãy về đây với bến sông)

Nhớ quê khắc khoải, hoài niệm ùa về với cảm nhận cánh đồng ngập tràn gió heo may trong tiết trời thu Sự nhớ nhung, yêu quê da diết đã góp phần làm nên một tâm hồn thi sĩ đa cảm, lãng mạn, khao khát uống cả cánh đồng heo may, như muốn níu chặt tình cảm của ai đó trong lòng:

Bên nhà núi đã theo sông Anh ngồi uống cả cánh đồng heo may

(Anh ngồi uống cả cánh đồng heo may)

Cái dự cảm về những rủi ro thiên tai và những khó khăn mà thiên nhiên

đã gây ra cho con người xuất hiện trong thơ của Đồng Đức Bốn gần giống với

ca dao:

Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời trông đất trông mây Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm

(Ca dao)

Thiên nhiên trong thơ Đồng Đức Bốn rất gần gũi với những người dân quê nhưng nó phong phú và nhiều màu sắc hơn Không nhìn làng quê bằng con mắt thi vị, thi nhân đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên làng quê bằng những nét vẽ thân thuộc Đồng Đức Bốn viết mỗi câu thơ giống như lời nói của các bà nông dân lam lũ yếm trễ ngực, váy xắn quai cồng, đòn gánh oằn vai Mỗi bài thơ giống như là lời nói của trời, của đất, của cậu bé chăn trâu ít chữ, của người khách lang thang vô định, góp phần cho vị trí của thơ ông vững chắc trong lòng bạn đọc

Trang 37

2.1.1.3 Trăng, sao chốn nhà quê

Đến với thơ Đồng Đức Bốn, chúng ta bắt gặp tầng tầng lớp lớp hình ảnh quen thuộc của làng quê Thiên nhiên làng quê trong thơ ông được nhìn bằng cái tình của người trong cuộc Vì thế nắng, gió, trăng sao, cỏ cây… không còn là cảnh sắc của đất trời nữa mà nó đã trở thành máu thịt của con người, nhuốm đầy tâm trạng Phiêu du vào thơ Đồng Đức Bốn, được đẫm mình trong bức tranh thơ tràn ngập ánh trăng, ánh sao Ai đã từng sống ở làng quê, từng trải lòng mình trong những đêm trăng sáng, được ngắm thứ ánh sáng xanh huyền bí đầy quyến rũ đó mới cảm nhận được hết vẻ dịu dàng, huyền ảo đến say lòng của thiên nhiên Đồng Đức Bốn phải lòng trăng quê từ

lâu lắm rồi nên đi Đã đành ngang dọc sơn hà, ông vẫn thiết tha về lại quê

nhà để được thăng hoa cùng vẻ đẹp lunh linh, quyến rũ của trăng quê:

Đã đành ngang dọc sơn hà Cũng nên về chốn quê nhà ngắm trăng

Tuy nhiên trăng trong thơ ông không chỉ hiện lên với vẻ đẹp vốn có của

nó mà nó còn mang nhiều hình dáng, tâm trạng, là trăng gầy, trăng cong,

trăng tròn, trăng khuyết, trăng vàng, trăng liềm, trăng ngà:

Chênh vênh một chiếc trăng gầy Đường non khúc khuỷu hương bay nhạt nhòa

(Thức với Côn Sơn)

Vầng trăng gầy cảm thấy cô lẻ khi trước mặt là cảnh khúc khuỷu của đường non, sự mênh mông nhạt nhòa của không gian Côn Sơn

Muôn vàn ngọn giáo rung cây Trả em trăng khuyết mưa mây sao đành

(Nợ em)

Rồi khi xuất hiện dưới hình hài trăng khuyết, vầng trăng lại mang những xúc cảm khác, cảm thấy không vừa lòng khi muôn vàn ngọn giáo rung cây vậy mà cuối cùng vẫn còn nợ em

Trang 38

Rồi có lúc vầng trăng ấy lại đầy nỗi xót xa vì nó gắn với tâm trạng

buồn đau, nỗi cô đơn mất mát:

Tôi từ ngõ nhỏ ra đi Gặp trăng trên sóng những khi rất buồn

(Tôi từ ngõ nhỏ ra đi)

Bởi khi còn ở quê mình thi nhân đã gặp vầng trăng ấy:

Không em ra ngõ kéo diều Nào ngờ được mảnh trăng chiều trên tay

(Sông Thương ngày không em)

Đang cô đơn, mất mát trong tình trường, bỗng đâu ra ngõ lại gặp sắc

vàng, lạnh của trăng đã khiến cho thi nhân gặp trăng trên sóng những khi rất

buồn Ấy vậy mà khi không còn em, thi sĩ ra ngõ kéo diều, gửi nhớ thương

qua cánh diều, nào ngờ mảnh trăng chiều đang đè nặng cánh diều nhớ thương, khiến cho nỗi cô đơn như nhiều hơn, sâu đậm hơn

Vầng trăng nơi quê nhà là mảnh trăng bị chém đứt trong “Cái đêm em ở

với chồng” bằng “tiếng vạc” thảm thương:

Ngang trời tiếng vạc mảnh mai Chém trăng đã đứt làm hai mảnh rồi

(Cái đêm em ở với chồng)

Nhưng trước khi gặp phải những tổn thương ấy, vầng trăng quê vẫn là

trăng của những tâm hồn trẻ thơ (Mồng một lưỡi chai, mồng hai lá lúa, mồng

ba câu liêm, mồng bốn lưỡi liềm…):

Nếu không trả được bằng tiền Tôi lấy trăng liềm bím tóc cho em

(Tìm em ở bến sông Mê)

Trong một trường hợp khác “trăng liềm” hay “trăng cong ” ấy lại khiến người đọc nhớ đến câu thành ngữ “Mượn gió bẻ măng” Tác giả thay búp

Trang 39

măng ấy bằng trăng, dùng hình ảnh trăng ngà để nói lên thực tại của bản thân

trong chuyện tình cảm:

Tôi giờ còn có ai mong

Mà người mượn gió bẻ cong trăng ngà

“Trăng” quê mảnh mai là vậy còn những ánh “sao” quê trong thơ Đồng Đức Bốn là những “sao dột”, “sao rơi”:

Sao rơi cháy cả đôi bờ

Mà anh thì cứ bơ vơ giữa trời

(Đêm sông Cầu)

Sao nhiều vô kể trên bầu trời, nhưng hỡi ôi sao không đứng yên tại

một vị trí, sao rơi cháy cả đôi bờ Ngược lại với sự đông đảo của sao là sự bơ

vơ giữa trời của nhân vật trữ tình, hình ảnh sao rơi như nhấn mạnh sự bơ vơ,

lẻ loi của con người trước thiên nhiên

Nhìn chung, trăng ở thời điểm nào cũng đẹp, cũng đem đến cho con người nhiều cảm xúc, trăng giúp cho cuộc sống thi vị hơn, ngay cả cuộc sống vất vả mà đan cài ánh trăng cũng trở nên nhẹ nhàng, đầy lạc quan

Trăng sao trong thơ Đồng Đức Bốn thường gợi những cảm giác cô đơn,

lẻ loi nên toàn là mảnh trăng, trăng buồn… đó là tâm trạng và nỗi niềm của thi sĩ

2.1.1.4 Sông quê, đò quê

Hình ảnh dòng sông và con đò rất phổ biến trong ca dao, không chỉ là hình ảnh thiên nhiên mà nó còn biểu hiện bao tâm tư, tình cảm của nhân dân

ta xưa:

Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

(Ca dao)

Trang 40

Ba hình ảnh quen thuộc: cây đa, bến nước, con đò vẫn xuất hiện trong thơ Đồng Đức Bốn nhưng hiện lên bằng một nhịp sống rất nhanh:

Cây đa mong chuyến đò ngang

Đò ngang nhớ gió rộn ràng qua sông

(Đã đành ngang dọc sơn hà)

Con đò khỏe khoắn rộn ràng qua sông, đò mang nỗi nhớ gió gấp gáp, khẩn trương mong về gần với gốc đa hiền lành, tạo nên cảm giác của sự sum vầy sau những khi ngang dọc sơn hà

Sông quê trong thơ ông là “sông mưa” với nỗi thất vọng khi mong

ngóng người tình, sông mưa tầm tã trong chiều ngồi chờ hoài chờ mãi người

tình nhưng cuối cùng người ta vẫn không về, chỉ còn lại sông mưa lẻ loi vẫn

cứ mong cứ chờ:

Sông mưa tầm tã trong chiều Tôi ngồi tôi đợi người yêu tôi về Tôi ngồi đợi chán đợi chê Người yêu tôi vẫn chưa về sông mưa

(Viết ở bờ sông)

Nhưng có khi đó lại là con sông đọng phù sa:

Sông giờ đã lắng phù sa Sao mà cây cải nở hoa vẫn buồn

Sông mang nặng phù sa màu mỡ, cung cấp nguồn sinh lực cho cây cải ven sông đơm hoa kết trái Ấy thế mà không hiểu sao cây cải nở hoa vẫn buồn

Nỗi buồn ấy có thể cảm nhận được bằng xúc giác khi nó hiện hữu như thân bèo trôi dạt, bơ vơ khi chỉ mình tôi giữa dòng:

Vớt buồn trên mặt sông trôi Bây giờ vẫn chỉ mình tôi giữa dòng

(Sang sông)

Ngày đăng: 16/09/2016, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1994) – Văn học và phê bình – NXB TP mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Nhà XB: NXB TP mới
2. Đồng Đức Bốn (1992) – Con ngựa trắng và rừng quả đắng – NXB Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ngựa trắng và rừng quả đắng
Nhà XB: NXB Văn học
3. Đồng Đức Bốn (1993) – Chăn trâu đốt lửa – NXB Lao động, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn trâu đốt lửa
Nhà XB: NXB Lao động
4. Đồng Đức Bốn (2000) – Trở về với mẹ ta thôi – NXB Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở về với mẹ ta thôi
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
5. Đồng Đức Bốn (2000) – Cuối cùng vẫn còn dòng sông - NXB Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuối cùng vẫn còn dòng sông
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
6. Đồng Đức Bốn (2000) – Chuông chùa kêu trong mưa – NXB Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuông chùa kêu trong mưa
Nhà XB: NXB Văn học
7. Đồng Đức Bốn (2006)– Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc – NXB Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc
Tác giả: Đồng Đức Bốn
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2006
8. Nguyễn Phan Cảnh (2001) – Ngôn ngữ thơ – NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
9. Nguyễn Văn Dân (2004) – Phương pháp luận nghiên cứu văn học – NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
10. Nguyễn Du (1999).– Truyện Kiều – NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều
Tác giả: Nguyễn Du
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1999
11. Nguyễn Đăng Điệp (2002) – Giọng điệu thơ trữ tình – NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: – Giọng điệu thơ trữ tình
Nhà XB: NXB Văn học
12. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Đồng Đức Bốn phiêu lưu vào lục bát, trong cuốn “Vọng từ con chữ ”, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng Đức Bốn phiêu lưu vào lục bát", trong cuốn “"Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
13. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại – NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
14. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên),(2006) – Từ điển thuật ngữ văn học – NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: – Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
15. Hồ Hải (2008) – Thơ lục bát Việt Nam hiện đại từ góc nhìn ngôn ngữ học – NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ lục bát Việt Nam hiện đại từ góc nhìn ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
16. Nguyễn Văn Hạnh – Huỳnh Như Phương (1998) – Lí luận văn học vấn đề và suy nghĩ – NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học vấn đề và suy nghĩ
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Lê Anh Hiền (1981), Đặc điểm ngôn ngữ thơ và vấn đề ngâm thơ, Ngôn ngữ, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ thơ và vấn đề ngâm thơ
Tác giả: Lê Anh Hiền
Năm: 1981
18. Hoàng Ngọc Hiến (1997)– Văn học và học văn – NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và học văn
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997
19. Đỗ Đức Hiểu (2000) – Thi pháp hiện đại – NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
20. Đào Duy Hiệp – Ngôn ngữ và nhà thơ – E.van, 08/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và nhà thơ

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w