Lục bát có trong kho tàng thi ca nước Việt từ những câu nói có vần điệu, đến những câu hò điệu lý, câu hát giao duyên cho đến những tác phẩm văn học đồ sộ như Truyện Kiều Nguyễn Du, Lục
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN VĂN TRỌNG
THƠ LỤC BÁT
TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN VĂN TRỌNG
THƠ LỤC BÁT
TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 62 22 01 20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS LÝ HOÀI THU
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
TRẦN VĂN TRỌNG
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, cơ quan đã
cử tôi đi học và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận án này Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đồng môn, phật hữu, những người đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và làm luận
án Tiến sĩ
Hà Nội, ngày 25 tháng 9 năm 2017
Tác giả luận án
TRẦN VĂN TRỌNG
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài ……… ……… 1
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ……… ……….3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ……… ……… 3
4 Phương pháp nghiên cứu ……… ………… 3
5 Đóng góp mới của luận án ……… ……… 4
6 Cấu trúc luận án ……… ………… 4
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1 1 Vấn đề thể loại và thể lục bát ……… …………5
1.1.1 Thể loại nói chung và thơ nói riêng ……… ………… 5
1.1.2 Các thể thơ và thể lục bát ……… ………….8
1.2 Tình hình nghiên cứu thơ lục bát ……… ……… 16
1.2.1 Nghiên cứu các vấn đề chung của thơ lục bát ……… ……….16
1.2.2 Nghiên cứu các hiện tượng, tác giả, tác phẩm, phong cách tiêu biểu của thơ lục bát ……… ……… 20
1.2.3 Nghiên cứu về truyền thống và hiện đại trong thơ lục bát ……… …… 22
Chương 2 THƠ LỤC BÁT - LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN, ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 2.1 Lịch sử hình thành, phát triển thể lục bát ……… ………24
2.1.1 Nguồn gốc, sự hình thành thể lục bát ……… …………24
2.1.2 Các giai đoạn phát triển của thể lục bát ……… ………….26
2.2 Đặc trưng thể loại của thơ lục bát ……… ……….38
2.2.1 Cấu trúc hình thức thể lục bát ……… ………38
2.2.2 Biến thể lục bát ……… ………….46
Chương 3 GIÁ TRỊ CỦA THƠ LỤC BÁT TRUYỀN THỐNG 3.1 Khái luận về truyền thống và giá trị truyền thống trong thơ ……… …… 56
3.1.1 Khái niệm truyền thống và truyền thống văn học ……… …… 56
3.1.2 Truyền thống trong thơ và những giá trị truyền thống trong thơ Việt Nam ……… ………57
Trang 63.2 Thơ lục bát truyền thống - những giá trị cốt lõi ……… ……… 65
3.2.1 Giá trị hiện thực, tinh thần yêu nước, nhân đạo và bản sắc văn hoá dân tộc ……… ……… 65
3.2.2 Nghệ thuật biểu hiện đậm chất dân gian ……… ……….69
3.3 Thơ lục bát truyền thống - những trường hợp điển hình ……… ………71
3.3.1 Lục bát ca dao, dân ca ……… …… 71
3.3.2 Lục bát truyện thơ Nôm ……… ……… 77
3.3.3 Lục bát kinh sách Phật giáo ……… ………….83
3.3.4 Lục bát Truyện Kiều ……… ………….87
3.3.5 Lục bát Lục Vân Tiên ……… ……… 93
Chương 4 TIẾP BIẾN CỦA THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI 4.1 Khái luận về hiện đại, tiếp biến truyền thống và hiện đại ………… ……….98
4.1.1 Khái niệm hiện đại và tính hiện đại ……… ……….98
4.1.2 Tiếp biến truyền thống và hiện đại ……… ………104
4.2 Thơ lục bát hiện đại - truyền thống và cách tân ……… ………108
4.2.1 Truyền thống và hiện đại trong nội dung phản ánh ………… ………… 108
4.2.2 Những cách tân về nghệ thuật biểu hiện ……… ………112
4.3 Thơ lục bát hiện đại tiêu biểu ……… ………….115
4.3.1 Lục bát Tản Đà ……… …………115
4.3.2 Lục bát Thơ mới và Nguyễn Bính ……… ………119
4.3.3 Lục bát Tố Hữu ……… …………129
4.3.4 Lục bát Bùi Giáng ……… ……… 133
4.3.5 Lục bát Nguyễn Duy ……… ………….137
4.3.6 Lục bát Đồng Đức Bốn ……… ………… 142
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ……… …….151
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ……… 152
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Thơ lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam Nếu như người
Trung Quốc có Đường thi, người Nhật có thơ Haikư, người Anh và người Italia tự hào vì có thơ Sonnet , thì chúng ta cũng có quyền tự hào vì có thơ lục bát Nó từng được mệnh danh là “quốc phong”, “quốc túy” của thi pháp thơ Việt, là “quốc thi” của người Việt Đó là một trong những thể thơ đã có từ lâu đời, tồn tại và phát triển thông qua lời ăn, tiếng nói của cha ông ta truyền lại cho con cháu, qua tục ngữ, ca dao và qua các làn điệu dân ca ở khắp mọi miền đất nước Có thể nói, ở đâu có văn hóa Việt Nam, ở đó có lục bát Không thể thơ nào có khả năng bám sát đời sống của người dân Việt Nam như thơ lục bát Thơ lục bát đã luôn được các thế hệ nhà thơ Việt Nam yêu mến và dành nhiều suy cảm để làm mới, hấp dẫn thông qua ngôn từ, nhạc điệu trong thơ
Người Việt Nam ai cũng ít nhất một lần trong đời được nghe, được đọc, hoặc thuộc vài ba câu, vài ba bài thơ thuộc thể lục bát, thậm chí cũng có thể sáng tác một bài thơ lục bát Lục bát có trong lời ru ngọt ngào của những người bà, người mẹ, êm đềm trong làn điệu ca dao, sắc nét trong hát xẩm ký Lục bát có trong kho tàng thi
ca nước Việt từ những câu nói có vần điệu, đến những câu hò điệu lý, câu hát giao
duyên cho đến những tác phẩm văn học đồ sộ như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục
Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu) , và kể cả trong những ý chỉ truyền thừa của đạo
giáo, gia phả hay y thuật cũng đều có mặt của thơ lục bát
1.2 Trước đây, lục bát không được truyền dạy trong học đường và không có
trong khoa cử Cho đến khi Truyện Kiều của Nguyễn Du ra đời và sau này là các
nhà thơ tài danh khác, lục bát mới thật sự được công nhận là một thể thơ riêng biệt
và rất đặc biệt của Việt Nam Trên đường phát triển, lục bát đã từng bước hình thành niêm luật bằng - trắc, những quy định cho thể thơ này Bao thế hệ các nhà thơ Việt Nam đều ít nhiều đã thử sức mình sáng tác những câu, những bài thơ lục bát
Trang 8Không ít người đã tìm được “lối đi” cho giọng thơ, chất thơ của riêng mình trong thể thơ này
Thơ lục bát tưởng dễ mà không dễ làm vì nó có quy luật chặt chẽ Cùng với sự vận động của đời sống xã hội, lục bát cũng có thêm sự phát triển mới Thơ lục bát không những là thể thơ truyền thống đặc thù cho thi ca cổ truyền, mà đã trở thành một thể thơ giàu cảm xúc, có sức truyền cảm trong trào lưu thi ca hiện đại Từ Tản
Đà, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, đến một số cây bút trẻ sau này, lục bát đã trở thành những tác phẩm mang phong cách hiện đại,
là những tác phẩm “đóng đinh” trong sự nghiệp văn chương của họ
1.3 Được hình thành từ điều kiện văn hoá - lịch sử của dân tộc, vượt qua mọi khoảng cách của thời gian, không gian, sự sàng lọc trong văn hoá, văn học, lục bát như thứ “vàng mười” vẫn tồn tại để minh chứng cho sự bất diệt, trường tồn của tiếng Việt, tâm hồn Việt, văn hoá Việt Từ những câu ca dao mộc mạc, ngọt ngào, tha thiết cho đến thơ hiện đại và đương đại, lục bát vẫn tồn tại và khẳng định được
vị trí của mình trong nền văn học luôn vận động và biến đổi không ngừng để phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ của con người Nếu tâm hồn một dân tộc thường gửi trọn vào thi ca của dân tộc mình, thì lục bát là thể thơ mà phần hồn của dân Việt đã nương náu ở đó nhiều nhất, sâu nhất Có thể nói, người Việt sống trong bầu thi quyển lục bát Dân ta nói vần nói vè chủ yếu bằng lục bát Dân ta đối đáp giao duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền, trào lộng giải trí chủ yếu bằng lục bát Và dân ta hát ru các thế hệ, truyền nguồn sữa tinh thần của giống nòi cho lớp lớp cháu con cũng chủ yếu bằng lục bát Thơ lục bát không chỉ là hồn của đất nước, hơi thở của thời đại, bóng dáng của lịch sử, mà sâu xa hơn nó chính là linh hồn con người non nước này, hồn cốt đời sống người Việt, nó lay động và cuốn hút con người bởi nó chính là tâm hồn, hình bóng của họ
Chính sự tích hợp hai phẩm tính truyền thống và hiện đại đã tạo nên giá trị lâu bền của lục bát trong địa lý thơ ca dân tộc Nghiên cứu và tìm hiểu thơ lục bát một cách toàn diện, hệ thống để thấy được những cái hay, cái đẹp truyền thống và thấy
Trang 9cả những sáng tạo mang màu sắc hiện đại của nó là một nhu cầu cấp thiết của tiến trình văn học Việt Nam, của đời sống dân tộc Việt Nam
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án là thể thơ lục bát với các phương diện biểu hiện từ khi mới hình thành, qua các giai đoạn phát triển, cho đến hôm nay 2.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án là các sáng tác tiêu biểu trong tiến trình vận động lịch sử của thơ lục bát
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài hướng tới mục tiêu là phát hiện và khẳng định giá trị tư tưởng, giá trị thẩm
mỹ của thơ lục bát truyền thống, sự tiếp biến của thơ lục bát hiện đại, các hiện tượng thơ, các nhà thơ, các phong cách thơ lục bát tiêu biểu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Luận án làm sáng rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thể loại và thể lục bát, nét độc đáo của thể lục bát trong các thể thơ, đồng thời phân tích, đánh giá các xu hướng nghiên cứu thơ lục bát trên các vấn đề chung, đặc biệt là vấn đề truyền thống
và hiện đại
- Luận án đưa ra một cái nhìn khái quát về nguồn gốc, sự hình thành, các giai đoạn phát triển của thể lục bát, đi sâu phân tích đặc trưng thể loại: cấu trúc hình thức và biến thể lục bát
- Từ việc tìm hiểu khái niệm truyền thống và những giá trị truyền thống trong thơ, luận án chỉ ra những giá trị cốt lõi, những trường hợp điển hình của thơ lục bát truyền thống
- Qua khái luận về hiện đại, tính hiện đại, sự tiếp biến truyền thống và hiện đại trong thơ, luận án làm sáng tỏ mối quan hệ truyền thống và cách tân, những hiện tượng tiêu biểu của thơ lục bát hiện đại
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính:
Trang 10- Phương pháp lịch sử - xã hội: nhằm tìm ra những tác động của hoàn cảnh lịch
sử, xã hội Việt Nam đến sự hình thành, phát triển, kế thừa và cách tân của thơ lục bát
- Phương pháp loại hình: nhằm xác định đặc trưng thể loại, các đặc điểm, tính chất của thơ lục bát trong tương quan với loại hình thơ trữ tình
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để đi sâu vào một số tác giả, tác phẩm, những biểu hiện cụ thể, một vài khía cạnh độc đáo, đồng thời có một cái nhìn khái quát và chung nhất, mang tính hệ thống cho vấn đề được đề cập đến
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: để làm rõ yếu tố “hình thức mang tính quan niệm” của các hiện tượng thơ lục bát
4.2 Để đạt được mục tiêu khoa học của đề tài, luận án còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn học với văn hoá, tâm lý học, ngôn ngữ học), phương pháp cấu trúc, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê… và các thao tác nghiên cứu khác
5 Đóng góp mới của luận án
5.1 Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống thơ lục bát với cấu trúc, đặc trưng thể loại, những giá trị bền vững, những hiện tượng tiêu biểu trong diễn trình vận động lịch sử từ truyền thống đến hiện đại
5.2 Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định vị thế và đóng góp to lớn của thơ lục bát cho thi ca, văn nghệ, văn hoá dân tộc, cho cuộc sống đất nước từ
xa xưa đến hôm nay
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thơ lục bát - lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại
Chương 3: Giá trị của thơ lục bát truyền thống
Chương 4: Tiếp biến của thơ lục bát hiện đại
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 1 Vấn đề thể loại và thể lục bát
1.1.1 Thể loại nói chung và thơ nói riêng
Thể loại văn học là dạng thức tồn tại của chỉnh thể các tác phẩm văn học, nó phản ánh những khuynh hướng phát triển bền vững và tương đối ổn định của văn học Sự vận động của mỗi thời kỳ văn học luôn gắn liền với sự biến động về thể loại, điều đó biểu hiện rõ sức sống của một nền văn học Không có một nền văn học nào, một thời kỳ, một giai đoạn văn học nào được coi là phát triển mà lại đơn điệu
và nghèo nàn về thể loại
Thể loại vừa rất cổ sơ vừa luôn luôn mới mẻ Những thay đổi của thể loại, của cách thức biểu hiện bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là cảm hứng sáng tạo, tư duy nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ về con người, cuộc sống Sự “lên ngôi” của từng thể loại trong mỗi thời kỳ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Có sự thống trị lâu bền, có sự xuất hiện rồi lụi tàn, thể loại đôi khi đi qua nhanh chóng nhưng nhiều khi lại để lại những ảnh hưởng lâu dài, sâu đậm Có những thể loại trải qua quá trình phát sinh, phát triển, đã có nhiều biến đổi, tạo ra nhiều biến thể phong phú Trong thể loại kịch, các thể bi kịch, hài kịch, chính kịch,… được đề cao và thịnh hành vào tuỳ từng thời điểm Trong văn xuôi, các thể loại truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết,… cũng có những biến đổi và thâm nhập lẫn nhau theo thời gian Trong thơ, thể bốn chữ, năm chữ, bảy chữ hay tám chữ, thể lục bát, thể tự do,… có những thời
kỳ tồn tại và khẳng định riêng Trong lịch sử phát triển của văn học, mỗi thể loại
văn học đều có vai trò và diện mạo riêng Có một thời, anh hùng ca (sử thi) được
xem như đại diện tiêu biểu nhất, đạt được những thành tựu rực rỡ, của thể loại văn học Dần dần theo thời gian, những yếu tố của sử thi được tiếp thu, chọn lọc và hình thành nên nhiều cách biểu hiện khác hơn, mới mẻ hơn Ví như, đặc trưng cơ bản
của sử thi được tiểu thuyết hiện đại tiếp nhận để hình thành nên thể loại mới tiểu
thuyết sử thi và tác phẩm đỉnh cao phải kể đến như: Chiến tranh và hoà bình của L
Trang 12Tolstoy, Sông Đông êm đềm của M Sholokhov,… Số phận lịch sử của nhiều thể
loại khác như thơ Đường luật, thơ Sonnet,… cũng có chung con đường phát sinh, phát triển và để lại dư âm vang vọng như thế
Thể loại mang tính lịch sử và dân tộc, tính kế thừa và sáng tạo Dấu ấn lịch sử bao giờ cũng khá đậm trong bản thân các thể loại Nền nghệ thuật cổ đại Hy Lạp rất huy hoàng, nhưng nó chỉ gắn liền với thời đại chưa có bàn in và máy in Hình tượng Asin không thể tồn tại trong thời đại có thuốc súng và đạn chì Trong quá trình phát triển, mỗi dân tộc sẽ có những thể loại tiêu biểu thể hiện bản sắc văn hoá, đặc điểm
tư duy, hình thái ngôn ngữ, tâm lý thưởng thức nghệ thuật,… ví như ở Nhật Bản là thơ haikư (chỉ có 3 câu), ở Trung Quốc là thơ Đường và tiểu thuyết chương hồi, ở Việt Nam là thơ lục bát,… Mỗi thể loại cũng thường xuyên tự điều chỉnh để hoàn thiện chính mình Nó song song hai quá trình kế thừa truyền thống quá khứ và cách tân, sáng tạo cái mới
Một đặc điểm cũng cần phải đề cập đến là tính giao thoa của thể loại Ranh giới giữa các thể loại mang tính chất tương đối, không phải là sự ngăn cách và phân chia tuyệt đối Giữa các thể loại luôn luôn có hiện tượng giao kết, sự chuyển hoá, thâm
nhập, vay mượn lẫn nhau và từ đó sản sinh ra những thể có thể coi là cầu nối giữa
hai thể loại như thơ văn xuôi, kịch thơ, tiểu thuyết phóng sự v.v…
Thơ là một thể loại trong văn học Chia theo phương thức biểu hiện, khả năng phản ánh hiện thực và khả năng vận dụng ngôn ngữ, thơ (trong loại hình trữ tình) đặt ngang hàng với loại hình tự sự, loại hình kịch Trong thơ lại có những thể nhỏ hơn, từ thể bi ca, tụng ca, thơ đồng quê,… cho đến các thể thơ trữ tình trong thời kỳ hiện đại Thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài người Suốt một thời gian dài, từ thế kỷ XVII trở về trước, nói đến văn học tức là nói đến thơ ca
Thơ có lịch sử lâu dài Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể bắt đầu từ nhà triết học người Hy Lạp Aristotle (384 - 322 trước Công nguyên) Ở Việt Nam, thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra Những câu có vần điệu, dễ nhớ như
Sấm bên đông, động bên tây vốn là những kinh nghiệm có được thông qua sự từng
Trang 13đời kia, giống như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để truyền thông tin vậy Những đúc kết bao gồm đủ mọi mặt trong cuộc sống, sau này khi được biến thành những câu ca dao, câu vè, chúng trở thành một hình thức văn nghệ, giải trí
Thơ sinh ra cùng cuộc sống phong phú, muôn màu muôn vẻ, được nuôi dưỡng bởi những tâm hồn thiết tha yêu sự sống, yêu cái đẹp Thơ gắn liền với cảm xúc, với trí tưởng tượng, tuy nhiên vẫn có một sợi dây vô hình gắn kết thơ với thực tại hiện
hữu xung quanh Sống với thơ, tâm hồn con người sẽ được “thanh lọc” (Aristotle)
“Thi khả dĩ hứng, khả dĩ quan, khả dĩ oán, khả dĩ quần, khả dĩ nộ” như có lần Khổng Tử đã nói Thơ cũng như văn học và mọi loại hình nghệ thuật khác bồi đắp
và làm phong phú đời sống tinh thần, đem lại những xúc cảm yêu thương, vừa nhân đạo hoá con người vừa là niềm vui bất tận cho cuộc sống, thơ ca là niềm vui cao cả nhất mà loài người đã tạo ra cho mình
Tuy thơ là một thể loại văn học nằm trong phương thức trữ tình nhưng nó có những biến thái rất phong phú, đa dạng Mỗi thể thơ lại mang trong nó những đặc trưng riêng và thích hợp cho việc bộc lộ những xúc cảm, tình cảm khác nhau Điểm tựa của thơ bao giờ cũng là ở việc bộc lộ thế giới nội tâm của con người; thơ bắt đầu từ cái ngày mà con người cảm thấy cần phải tự biểu hiện bản thân mình, như
trong Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn đã bình giải: “Thơ khởi phát tự trong lòng
người ta” Khi cuộc sống đã tràn đầy trong tim, thơ đến như một nơi để giãi bày và cùng chia sẻ nỗi lòng Thơ có thể chỉ là những lời ca thể hiện sự trân trọng, mến yêu quê hương, đất nước, có thể chỉ là một khoảnh khắc vui mừng chợt đến, có thể chỉ
là một giây phút nhớ mong, chờ đợi, nhưng cũng có thể là những đau thương dồn nén lâu ngày, có thể là những nghĩ suy không biết cùng ai chia sẻ,… Và lúc ấy, những cảm xúc, những rung động kia sẽ tìm cho mình một cách biểu đạt thích hợp nhất, đạt hiệu quả thẩm mỹ cao nhất Thơ đã trở thành người bạn tri âm, luôn hội ngộ khi chúng ta muốn bày tỏ nỗi lòng, hay muốn có điểm tựa tinh thần trước bao
tình huống khác nhau của cuộc sống “Những câu thơ hay/ Ở mãi trong lòng/ Như
những viên ngọc trai của tình người cô lại/ Cứ trong trẻo ánh trời sáng mãi/ Cứ hồn nhiên ngọn gió đồng quê/ Sưởi hồn ta ấm nóng nỗi đam mê/ Mềm mại thế mà
Trang 14tột cùng vững chãi/ Đã có người thốt lên:/ „Khi ngã xuống, hãy vịn câu thơ mà đứng dậy!‟/ Ôi! Những câu thơ hay không cũ bao giờ/ Thơ với người/ Người với thơ/ Cuộc hôn phối này do Thiên sứ định” (Do Thiên sứ định - Cảnh Trà) Chính
thơ ca đã giúp chúng ta chống chọi lại nguy cơ máy móc, cơ khí hoá, lập trình hoá cuộc sống, chống lại sự han gỉ tình người, vượt qua “bi kịch của con người trong thời đại chúng ta là thừa trí tuệ mà thiếu tâm hồn” như Octavio Paz đã nói trong
Diễn từ khi nhận giải Nobel
Dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển đã chứng tỏ sự phong phú, giàu có của kho tàng thơ ca Những biến chuyển và đổi mới liên tục ở từng thời kỳ, từng giai đoạn đã mang đến cho thi ca Việt Nam những thay đổi đáng
kể Trong suốt tiến trình phát triển ấy, các thể thơ ca cổ truyền được sử dụng phổ biến hơn cả và là cơ sở cho sự hình thành những thể thơ mới Ban đầu là những sáng tạo dân gian, dần dần thu nhận những yếu tố mới và nâng cao theo sự tiến triển của tư duy, cảm xúc, của đời sống con người Các thể cổ truyền của thơ ca Việt Nam như thể bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ, thể lục bát, thể song thất lục bát,… đều là cơ cở cho sự đổi mới, nhưng những ảnh hưởng đó diễn ra không đồng đều Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX và cho đến tận ngày nay, trải qua một quá trình phát triển rất dài, những thể thơ Việt Nam, những thể thơ du nhập của nước ngoài đều có những dòng, những chặng phát triển và để lại những thành tựu đáng ghi nhận
1.1.2 Các thể thơ và thể lục bát
Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ
cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức logic nhất định tạo nên
hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe Từ thơ thường được đi kèm với từ câu để chỉ một câu thơ, hay với từ bài để chỉ một bài
thơ Mỗi câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh,
có ý nghĩa với người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình và dư âm
Trang 15thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác
Thơ, câu thơ, bài thơ, các thể thơ được tạo nên bởi âm, thanh, vần, điệu Âm là
gốc của một chữ sau khi bỏ các phụ âm ở đầu chữ và các dấu Như vậy âm bắt đầu
bằng một hay nhiều nguyên âm và có thể kết thúc bằng một hay nhiều phụ âm
Thanh là sự khác nhau trong độ cao thấp của một âm Trong tiếng Việt các chữ có
thể mang 6 thanh là không dấu, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng; chia làm hai nhóm có thanh bằng và thanh trắc Thanh bằng hay theo tiếng Hán Việt là bình thanh gồm các chữ không dấu và có dấu huyền Thanh trắc hay trắc thanh gồm các chữ có dấu
sắc, hỏi, ngã và nặng Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần
giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ Đây là một quy luật để nối các câu
trong bài thơ với nhau Vận là cách gieo vần trong câu, có một số cách gieo vần như
sau: cước vận (vần chân) là cách gieo vần ở cuối câu; yêu vận (vần lưng) là cách gieo vần ở giữa câu; liên vận (vần liền) là cách gieo vần ở hai câu đi liền nhau; cách vận (vần cách) là cách gieo vần ở hai câu cách nhau; chính vận (vần chính) là vần
mà hai chữ hoàn toàn giống nhau về âm; cưỡng vận (vần thông) là vần mà hai chữ
có âm tương tự nhau; liên châu vận là cách gieo vần nối tiếp nhau như chuỗi ngọc
Điệu hay còn gọi là nhạc điệu, tạo nên do âm thanh của từ được chọn và nhịp ngắt
câu; nói cách khác, nhạc điệu trong thơ được tạo nên bởi ba yếu tố: vần, tiết tấu và
từ
Thông qua giao lưu giữa các nền văn hóa, các thể thơ được tăng dần, từ những cấu trúc đơn giản đến những cấu trúc phức tạp Trong các thể thơ ở Việt Nam ta có
thể kể đến lục bát, song thất lục bát, các thể thơ Đường luật như thất ngôn bát cú,
thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú rồi đến các thể thơ mới và thơ tự do Ngoại trừ thơ tự do, một hình thức hầu như không có một cấu trúc rõ rệt, các thể thơ khác đều
có một cấu trúc nhất định Chặt chẽ nhất là các thể thơ Đường, trong đó cấu trúc về nội dung, luật về số chữ trong câu, số câu trong bài, về cách gieo vần quyết định thể loại của bài thơ
Trang 16Cấu trúc thơ theo đặc trưng kiểu loại tạo nên các thể thơ Có nhiều quan niệm về kiểu loại, nhưng phổ biến hơn cả là quan niệm kiểu loại theo số chữ tạo nên câu thơ,
từ đó định danh thể thơ: thơ bốn chữ, thơ năm chữ, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ lục bát, thơ song thất lục bát v.v… Mỗi thể thơ có những quy luật kiến tạo riêng về âm, thanh, vần, điệu; tuy nhiên, trong một số trường hợp vẫn chấp nhận
sự phá cách
Trong thơ bốn chữ, ở từng câu thơ, nếu tiếng thứ 2 là thanh trắc thì tiếng thứ 4 là
thanh bằng; ngược lại, tiếng thứ 2 bằng thì tiếng thứ 4 trắc: “Bão đến ầm ầm/ Như
đoàn tàu hoả/ Bão đi thong thả/ Như con bò gầy” (Mặt bão - Trần Đăng Khoa)
Trong thơ năm chữ (ngũ ngôn), luật thơ tương tự như thơ bốn chữ: “Hôm nay đi
chùa Hương/ Hoa cỏ mờ hơi sương/ Cùng thầy me em dậy/ Em vấn đầu soi gương”
(Chùa Hương - Nguyễn Nhược Pháp); về cách gieo vần (ở chữ cuối câu), có khi là
vần ba tiếng, hoặc vần ôm, có khi là vần chéo: “Nắng hè đỏ hoa gạo/ Nước sông
Thương trôi nhanh/ Trên đường đê bước rảo/ Gió nam giỡn lá cành” (Tiếng chim tu
hú - Anh Thơ)
Trong thơ sáu chữ, chữ cuối câu có thể được gieo vần chéo: “Quê hương là gì hở
mẹ/ Mà cô giáo dạy phải yêu/ Quê hương là gì hở mẹ/ Ai đi xa cũng nhớ nhiều”
(Quê hương - Đỗ Trung Quân), hoặc gieo vần ôm: “Xuân hồng có chàng tới hỏi/ -
Em thơ, chị đẹp em đâu?/ - Chị tôi tóc xoã ngang đầu/ Đi bắt bướm vàng ngoài
nội” (Tình sầu - Huyền Kiêu)
Do ảnh hưởng của thể thất ngôn tứ tuyệt trong thơ Đường, thơ bảy chữ vẫn mang ảnh hưởng thi luật chặt chẽ, nghĩa là hạn định tiếng bằng tiếng trắc trong câu thơ, có
đối, có vần, cả bài theo một vần, thường là vần bằng: “Quanh năm buôn bán ở mom
sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng/ Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo sèo mặt nước buổi đò đông” (Thương vợ - Tú Xương); cũng có khi chỉ cần chữ cuối câu thứ
hai vần với chữ cuối câu thứ tư: “Xa quá rồi em người mỗi ngả/ Bên này đất nước
nhớ thương nhau/ Em đi áo mỏng buông hờn tủi/ Dòng lệ thơ ngây có dạt dào”
(Đôi bờ - Quang Dũng)
Trang 17Thơ tám chữ (bát ngôn) thường làm theo lối liên vận hoặc cách vận Ở lối liên vận, câu đầu thường không bắt vần, từ câu hai trở đi mới cặp vần, cứ hai câu vần
bằng rồi đến hai câu vần trắc hay ngược lại: “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm/
Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em/ Không gì buồn bằng những buổi chiều êm/ Mà ánh sáng đều hoà cùng bóng tối/ Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối/ Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành/ Mây theo chim về dãy núi xa xanh/ Từng đoàn lớp nhịp
nhàng và lặng lẽ…” (Tương tư chiều - Xuân Diệu) Ở lối cách vận, câu lẻ vần với
câu lẻ, câu chẵn vần với câu chẵn Cá biệt có khi theo vần ôm: “Nắng Sài Gòn anh
đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông/ Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng/
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng” (Áo lụa Hà Đông - Nguyên Sa)
Thơ song thất lục bát gồm hai câu bảy chữ và hai câu lục bát Trong hai câu thất,
ở câu thất trên, tiếng thứ 3 là trắc, 5 là bằng, 7 là trắc; ở câu thất dưới, tiếng thứ 3 là
bằng, 5 trắc, 7 bằng Hai câu lục bát thì theo luật thường lệ Tiếng cuối câu thất trên
vần với tiếng 5 câu thất dưới, tiếng cuối câu thất dưới vần với tiếng cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát Và tiếng cuối câu bát vần với tiếng 5 của câu thất tiếp theo Tuy nhiên, tiếng cuối câu bát cũng có thể vần với tiếng 3 câu thất, biến tiếng này đổi sang vần bằng, do đó, tiếng 3 trong câu thất trên có thể là trắc hay
bằng Tác phẩm Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm) được viết theo
thể thơ này: “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt/ Xếp bút nghiên theo việc đao cung/
Thành liền mong tiến bệ rồng/ Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời”
Lục bát là thể thơ một câu sáu chữ rồi đến một câu tám chữ cứ thế nối liền nhau Bài thơ lục bát thông thường được bắt đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát; đôi khi cũng có trường hợp kết thúc bằng câu lục để đạt một dụng ý tư tưởng nghệ thuật nhất định Trong các thể thơ, lục bát là thể thơ thông dụng nhất, vì cách làm và gieo vần tương đối đơn giản Trong bài thơ, chữ thứ sáu của câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát, chữ thứ tám của câu bát vần với chữ thứ sáu của câu lục kế tiếp và
cứ theo quy luật đó cho đến hết bài thơ Lục bát là thể thơ dân tộc mang đậm bản sắc Việt Nam và phong vị quê hương Thơ lục bát rất dễ thuộc và dễ nhớ vì lời thơ giản dị, mộc mạc, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường Câu
Trang 18thơ đọc lên mà cứ ngỡ là câu hát hay một bản nhạc, vừa có vần vừa có điệu nghe rất thanh thoát và êm tai Có nhiều câu lục bát đã đi vào lòng người như một lời ru:
“Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai dãi
nắng dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao” (Ca dao) Lại có câu lục bát
khiến người ta nhớ mãi bởi lời thơ ý nhị, sâu sắc: “Anh ngồi uống cạn dòng sông/
Lo em nhan sắc về không có đò” (Lời ru năm tháng - Trương Nam Hương) Không
phải ngẫu nhiên thi sĩ Bùi Giáng khẳng định: “Lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng
viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển ba bảy sông hồ” (Thi ca tư tưởng)
Ba thể thơ lục bát, tuyệt cú và haikư đều là thể thơ cách luật ngắn nhất trong văn học dân tộc của Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản Ba thể thơ này có nhiều điểm giống hoặc gần gũi nhau
Về sự hình thành, có thể thấy chúng đều có nguồn gốc từ thơ ca dân gian, được các nhà thơ sống gần gũi với nhân dân tiếp thu và phát triển để rồi đạt đến đỉnh cao
ở các nhà thơ lớn thời trung đại của mỗi dân tộc Đó là Lý Bạch và Đỗ Phủ ở Trung Quốc, Basho ở Nhật Bản và Nguyễn Du ở Việt Nam Đương nhiên đó là nhìn đại thể, còn con đường hình thành và phát triển của chúng cũng có những sự khác biệt
sẽ đề cập đến sau
Về mặt tính chất, nếu chỉ xét lục bát ở cấp độ một đơn vị chỉnh thể tối thiểu, tức
là một chu kỳ 6+8, đủ để làm nên một bài lục bát đơn giản nhất, thì cả ba thể thơ tuyệt cú, haikư và lục bát đều chủ yếu là thể thơ trữ tình Nói “chủ yếu” là vì trong quá trình phát triển chúng đều có thể thích dụng với trào phúng, triết lý…
Cả ba thể thơ này đều có một đặc trưng cơ bản giống nhau: hàm súc cao độ Điều này như một lẽ đương nhiên và là lý do tồn tại của thể thơ Bởi vì chúng rất ngắn, nếu chúng không có khả năng ngụ ý và gợi ý thì chúng đã chẳng có sức sống lâu bền đến thế Tiền đề của sự hàm súc là sự ngắn gọn Trong ba thể thơ, dài nhất
là tuyệt cú cũng chỉ 4 câu với 28 âm (nếu là thất ngôn tuyệt cú) hoặc 20 âm (nếu là ngũ ngôn tuyệt cú), thứ đến là haikư với 17 âm, ngắn nhất là lục bát với 14 âm Không rõ trên thế giới có thể thơ nào ngắn hơn lục bát nữa không Quy mô rất nhỏ,
Trang 19rất phong phú, sâu xa: “Bên đê cổ tha thướt/ Liễu như vòm khói xanh/ Giá mà tơ
chẳng đứt/ Níu giữ buộc thuyền anh”(Liễu ven sông - Ung Dụ Chi); “Dù tan đi vỡ lại/ Vầng trăng nơi đáy nước/ Còn mãi” (Shiki); “Qua cầu rút ván tháo đinh/ Đó đà
ở bạc với mình thì thôi” (Ca dao)
Một điều cũng đương nhiên do tính hàm súc của thể thơ đưa lại, khiến chúng gặp nhau ở một điểm có tính quy luật: ở cả ba thể thơ, trọng tâm ý nghĩa đều ở cuối
Thơ haikư là thế: “Mưa đông giăng đầy trời/ Một chú khỉ đơn độc/ Cũng mong
chiếc áo tơi” (Basho) Có ba câu ngắn ngủi thôi mà tấm lòng nhân dành cho câu
cuối Câu một là bối cảnh lạnh lùng mênh mông Câu hai Basho nhìn thấy chú khỉ Câu ba là chú khỉ nhìn Basho mà “mong chiếc áo tơi” Chú khỉ cô đơn, chú khỉ lạnh lùng, chú khỉ không nói, sao Basho nhận ra? Nhà thơ đã đặt mình vào cảnh ngộ trần trụi giữa mưa đông, co ro vì lạnh của chú khỉ mà ngộ ra và “phát biểu” cái mong ước nhỏ nhoi tội nghiệp của sinh linh bé bỏng ấy Tiếng nói nhỏ nhẹ của haikư đã chở tiếng nói của lòng nhân hậu bao la đến với mọi tấm lòng “tri âm” Đây là thơ
tuyệt cú: “Đầu giường ánh trăng rọi/ Ngỡ mặt đất phủ sương/ Ngẩng đầu nhìn
trăng sáng/ Cúi đầu nhớ cố hương” (Tứ đêm lặng - Lý Bạch) Đến nỗi có nhà
nghiên cứu tinh thâm về thơ Đường đã nói: “Muốn làm một bài thơ tuyệt cú hay là phải bắt đầu từ câu… cuối” Vậy còn thơ lục bát? Cứ thử lấy ra bất kỳ cặp câu lục bát nào trong hàng ngàn bài ca dao mà toàn bài chỉ vẻn vẹn có một câu sáu và một câu tám, từ trong một bài thơ gồm nhiều chu kỳ sáu tám, cũng hoàn toàn có thể nhận thấy: trọng tâm ý nghĩa bao giờ cũng ở câu tám (tức câu cuối của chu kỳ) Câu sáu thường chỉ là bước chuẩn bị cho câu tám Câu sáu là “đề”, câu tám là “thuyết”:
“Gió sao gió mát sau lưng/ Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này” (Ca dao); “Trải qua
một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Truyện Kiều - Nguyễn
Du); “Măng non là búp măng non/ Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre” (Tre
Việt Nam - Nguyễn Duy) Như vậy, trọng tâm ý nghĩa được dồn vào phần cuối là
một đặc trưng thể loại của cả ba thể thơ
Mặt khác, ba thể thơ này cũng có nhiều điểm khác nhau, trong đó có sự khác nhau ngay trong những điểm tương đồng
Trang 20Về nguồn gốc, điểm chung của chúng là bắt nguồn từ trong thơ ca dân gian nhưng con đường định hình của chúng lại khác nhau Tên gọi của các thể thơ này cũng xuất hiện sau trước khác nhau Cái tên “tuyệt cú” đã được xuất hiện từ đời Lương (502-557) cách đây 1.500 năm Thể thơ lục bát được định danh muộn hơn, khoảng đời Hậu Lê Còn ở Nhật Bản, thể thơ 3 dòng 5-7-5 đạt đến đỉnh cao ở thế kỷ XVII với Basho nhưng mãi đến cuối thế kỷ XIX mới được nhà thơ Shiki định danh
là haikư Thực ra, nguồn gốc, con đường phát triển, định hình và định danh rồi lại phát triển của ba thể này cần những công trình nghiên cứu công phu tường tận Chẳng hạn như thể thơ lục bát ở ta quá chừng quen thuộc nhưng nguồn gốc của nó cũng còn nhiều ý kiến tranh luận
Nguồn gốc, con đường phát triển khác nhau của ba thể thơ này cũng phản ảnh vị trí, số phận của chúng trên văn đàn của mỗi dân tộc cũng như ảnh hưởng của chúng đến văn học các dân tộc khác Trong thơ ca của ba dân tộc Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam ba thể thơ này đều có vị trí quan trọng nhưng ảnh hưởng của chúng đối với thơ ca các nước ngoài thì rất khác nhau Hình thành từ rất sớm (thế kỷ VI), lại theo con đường ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đến các nước láng giềng “đồng văn”, thơ tuyệt cú được các nhà thơ Nhật Bản, Việt Nam tiếp thu từ rất sớm, có thể nói là ngay từ buổi đầu xây dựng nền thơ ca dân tộc Nhật Bản, từ thế kỷ thứ VII đã xuất hiện thơ tuyệt cú bằng chữ Hán và cho đến thế kỷ XIX, thơ tuyệt cú vẫn chiếm
tỉ lệ rất cao trong thơ chữ Hán của người Nhật (chẳng hạn trong cuốn Nhật Bản Hán
thi hiệt anh có 1.451 bài thơ thì thơ tuyệt cú có đến 906 bài, chiếm tỉ lệ 61%) Ở
Việt Nam, trong văn học viết, thơ tuyệt cú cũng rất phổ biến Trong thơ Lý - Trần tức là thơ chủ yếu sáng tác bằng chữ Hán, thơ tuyệt cú chiếm tỉ lệ rất cao (nếu không nói là áp đảo) Thơ haikư thì cho đến thế kỷ XIX, trước Minh Trị duy tân, chủ yếu chỉ được lưu hành trên đảo quốc Phù Tang Nhưng cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ XX, theo đà phát triển của kinh tế xã hội Nhật Bản, cùng với sự tiêu thụ hàng hóa Nhật Bản, thể thơ haikư cũng được nhiều nhà thơ nước ngoài biết đến và nhiều người đã tiếp thu thể thơ này Còn thơ lục bát dường như vẫn chưa vượt được lũy
Trang 21này là do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản vẫn là do đặc điểm về cách luật của ba thể thơ này và đặc điểm ngôn ngữ dân tộc Tuy cùng là thơ cách luật nhưng trong ba thể thơ này mức độ chặt chẽ của cách luật có khác nhau Có lẽ cách luật của thơ lục bát là chặt chẽ nhất, cách gieo vần cũng phức tạp hơn Mặc dù
có chấp nhận biến thể nhưng về cơ bản là cặp câu lục bát đòi hỏi gieo cả vần chân, vần lưng và chỉ gieo vần bằng, gần như là thuần âm Điều này khiến lục bát không thể “vào” được các nền thơ của ngôn ngữ đa âm và không có thanh điệu
Có một sự khác biệt khá rõ nữa giữa hai thể thơ tuyệt cú, haikư với thể lục bát Ở điểm này thì ưu thế lại thuộc về lục bát Lục bát, ở hình thức tối thiểu của nó chỉ là một cặp hai câu 14 âm vẫn hoàn toàn có thể tự thành một đơn vị tác phẩm như hàng ngàn “bài” ca dao chúng ta thường gặp Nhưng do đặc điểm vừa gieo vần chân vừa gieo vần lưng của nó, lục bát còn có khả năng “lắp ghép” để thành một bài thơ dài
như Lỡ bước sang ngang hoặc lắp ghép với thể thơ song thất lục bát, rồi các chu kỳ
song thất lục bát lại được lắp ghép, làm thành những khúc ngâm trường thiên
như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Ba mươi năm đời ta có Đảng… Đặc biệt,
người ta có thể viết truyện thơ bằng cách lắp ghép hàng ngàn (hoặc vô số) cặp câu lục bát lại Khả năng “sinh nở”, lắp ghép này không thấy có ở tuyệt cú và haikư Người ta có thể sáng tác liền một hơi hai vạn bài haikư nhưng không thành một truyện thơ Người ta có thể sáng tác từng chùm tuyệt cú xoay quanh một chủ đề
như Hí vi lục tuyệt cú của Đỗ Phủ, Luận thi thi của Triệu Dực, chùm 100 bài Giang
hành vô đề nhất bách thủ, chùm 315 bài Kỷ Hợi tạp thi của Củng Tự Trân, nhưng
cũng không phải là truyện thơ Nghĩa là thơ haikư và tuyệt cú không lắp ghép được
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng lắp ghép các chu kỳ lục bát thành truyện thơ, nhưng hai nguyên nhân có thể coi là cơ bản: một là khả năng “sinh nở” bằng cách lắp ghép của thể thơ lục bát; một nữa là nhu cầu sáng tác những câu chuyện (tiểu thuyết) trường thiên, nhưng ở thời trung đại trong văn học Việt Nam thể tài văn xuôi tự sự chưa kịp phát triển Người ta bèn dùng hình thức văn vần để sáng tác truyện Một điều thú vị là những truyện thơ đầu tiên của người Việt lại không phải
bằng thơ lục bát mà bằng thể thơ Đường luật, như Truyện Vương Tường, Tô Công
Trang 22phụng sứ Nhưng những thử nghiệm ấy đã không thành công Chứng cớ là sau đó
không ai làm theo lối ấy nữa và những tác phẩm ấy chỉ được các nhà nghiên cứu nhắc đến trong văn học sử chứ không được lưu truyền rộng rãi về sau Lục bát được thử nghiệm trong diễn ca lịch sử, trong truyện Nôm bình dân thành công, rồi các nhà thơ lớn cũng dùng nó để viết truyện thơ Trong ba thể thơ tuyệt cú, haikư và lục bát, chỉ có lục bát được dùng để sáng tác tác phẩm tự sự trường thiên Đó là cái năng lực biến hoá, co giãn tùy nhu cầu của thể lục bát Thế rồi, đôi khi người ta rút
từng cặp sáu tám ra nó vẫn có thể đứng độc lập có nghĩa được Chẳng hạn: “Tiếc
thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng” (Truyện Kiều); “Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình” (Lục Vân Tiên)
“Khắc xuất khắc nhập” thật linh hoạt Có so ra như thế mới thấy cái sở trường kỳ diệu của lục bát Việt Nam
1.2 Tình hình nghiên cứu thơ lục bát
1.2.1 Nghiên cứu các vấn đề chung của thơ lục bát
Khảo sát những tài liệu liên quan đến đề tài, chúng tôi nhận thấy có hai khuynh hướng chính nghiên cứu các vấn đề chung của thơ lục bát:
1.2.1.1 Khuynh hướng nhận xét, đánh giá tổng quan về thơ lục bát
Lục bát có từ ngàn đời, có sức sống mãnh liệt Nhà thơ Nguyễn Đình Thi gọi lục bát là “hơi thở” của người Việt Còn nhà văn Nguyễn Tuân lại lấy thơ lục bát làm tiêu chuẩn đánh giá tài năng của một nhà thơ Việt: “Anh là nhà thơ Việt Nam ư? Vậy hãy chiềng ra cho tôi mấy câu lục bát của anh, tôi sẽ nói cho anh ngay anh là hạng thi sĩ như thế nào” Rất nhiều thi nhân tài danh và biết bao “thi sĩ thảo dân” đã sáng tác thơ lục bát Trên các báo, tạp chí mỗi năm đăng tải hàng trăm, hàng ngàn bài thơ viết theo thể lục bát Đồng thời cũng có không ít đầu sách thơ lục bát của các nhà thơ được xuất bản, càng khẳng định lục bát luôn được duy trì, ngày càng
phát triển Năm 1998, sau cuộc thi thơ lục bát, báo Giáo dục và thời đại phát hành
ấn phẩm Những tác phẩm vào chung khảo cuộc thi thơ lục bát Năm 2000, NXB Văn hoá Thông tin in Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam do Quang Huy, Nguyễn Bùi
Trang 23Hà Nội, nhiều báo, tạp chí đã phát động cuộc thi làm thơ theo thể lục bát với chủ đề
“Ngàn năm thương nhớ”, thu hút đông đảo người yêu thơ tham gia Sau 6 tháng phát động, Ban Tổ chức đã nhận được trên 15.500 tác phẩm dự thi của hơn 1.000 tác giả Đầu tháng 7 năm 2010, Ban Tổ chức cuộc thi đã trao 4 giải Nhì (không có giải nhất), 7 giải Ba, 7 giải Tư cho các tác giả đoạt giải Có thể nói, thơ lục bát mang tính kế thừa, nó đang phát triển như chính những dòng sông vẫn không ngừng chảy Chính sự mượt mà, đằm thắm, du dương, giàu xúc cảm của thể lục bát đã giúp cho nó luôn có sức sống lâu bền trong lòng các thế hệ người dân Việt Nam, luôn đứng ở vị trí quan trọng, đặc biệt trong nền thơ ca nước nhà Với những ý nghĩa đó, thơ lục bát đang được Câu lạc bộ Thơ Việt Nam đề nghị với Nhà nước công nhận là Quốc Thi, sau đó sẽ tiếp tục đề nghị với UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới
Vì sao chúng ta tôn vinh thơ lục bát? Vì thơ lục bát có quốc tịch Việt Nam và chỉ
ở Việt Nam ta mới có thơ lục bát Đại thi hào lục bát Việt Nam được cả hành tinh này tôn vinh là Danh nhân văn hóa thế giới Thơ lục bát là nơi hội tụ tinh hoa của
thơ ca dân tộc, bản sắc văn hoá dân tộc Trong bài Sức sống mãnh liệt của thơ lục
bát, Chu Văn Sơn viết: “Lục bát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải toả tâm
sự, ký thác tâm trạng, thăng hoa tâm hồn Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc về bản sắc dân tộc này Lục bát mãi mãi là một tài sản thiêng liêng của nền văn hoá Việt Chừng nào thế giới còn chưa thấu tỏ vẻ đẹp của lục bát, chừng ấy họ chưa thực sự hiểu vẻ đẹp của thơ Việt Và, chừng nào ta còn chưa làm cho thế giới tiếp nhận được vẻ đẹp của lục bát, chừng ấy nền thơ Việt vẫn còn chưa thực sự làm tròn sứ mạng của mình” (lucbat.vn, 29/12/2013)
1.2.1.2 Khuynh hướng nghiên cứu nguồn gốc, lịch sử, đặc trưng thể loại của thơ lục bát
Chu Xuân Diên trong Tục ngữ Việt Nam khẳng định sự ra đời của lục bát có chịu
ảnh hưởng và khả năng nhiều bắt nguồn từ trong tục ngữ: “Tục ngữ (vần và nhịp) là
nguồn gốc ra đời lục bát và song thất lục bát” Bửu Cầm, trong bài Ca dao, nền tảng
văn học dân tộc (Nội san Viện khảo cổ, số 2, Sài Gòn, tháng 3/1956), khẳng định:
Trang 24“Lục bát sinh thành từ ca dao” Các nhà nghiên cứu Hoa Bằng, Nguyễn Đổng
Chi,… cũng có ý kiến tương tự Khi viết bài Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều, Nguyễn Văn Hoàn đã ngầm thừa nhận rằng lục bát bắt nguồn từ ca dao (Tạp chí
Văn học, số 1/1974) Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức tuy chưa đổ nhiều công sức
nhưng cũng đã quan tâm đến vấn đề này trong việc khẳng định lục bát là thể thơ dân
tộc (Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978)
Nguyễn Xuân Kính khi dành 20 trang viết để khảo sát thể thơ này trong ca dao, dù
chỉ phác thảo sơ bộ, cũng ngầm định thể lục bát là thể thơ dân gian (Thi pháp ca
dao, Nxb Đại học và THCN, Hà Nội, 1991) Trong bài viết Đi tìm nguồn gốc thể lục bát Việt Nam (Tạp chí Văn học, số 6/2004), Nguyễn Xuân Đức đã rất công phu
tìm hiểu, so sánh quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu và đi đến kết luận: “Cả trong tục ngữ lẫn trong ca dao người Việt vẫn còn lưu giữ rất nhiều dấu tích của quá trình hình thành, hoàn thiện thể thơ lục bát Việt Nam Hay nói cách khác, những gì đã được hoàn thiện trong thể lục bát ngày nay đều in dấu bàn tay sáng tạo của người Việt qua tục ngữ, ca dao Thể thơ lục bát Việt Nam do người Việt sáng tạo ra đầu tiên trong văn học dân gian và được góp sức hoàn thiện thêm bởi nền văn học viết” Phan Diễm Phương dù chỉ nghiên cứu thể lục bát trong loại hình văn học viết cũng
đã đặt ra vấn đề trên một phương pháp luận khoa học (Lục bát và song thất lục bát -
lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998)
Về diễn trình lịch sử của thơ lục bát, Phan Ngọc viết Thể thơ lục bát - một vài
suy nghĩ (Báo Giáo dục và thời đại, số 32/1996), Nguyễn Duy Bắc viết Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1998), Mã Giang
Lân viết Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000), Ngô Văn Phú viết Thơ lục bát sẽ đi tới đâu (lucbat.vn, 17/9/2013) Các nhà nghiên cứu tập
trung sự chú ý để phân tích làm rõ khả năng phát triển cũng như sự biến đổi linh
hoạt, tài tình của thể thơ lục bát Trong bài viết Thể lục bát từ ca dao đến Truyện
Kiều [67], Nguyễn Văn Hoàn đã có những khẳng định về sự tiến triển đi lên và đổi
thay của lục bát Việt Nam Phạm Quốc Ca trong Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 -
Trang 252000 [16] cũng phác hoạ sự vận động của thể thơ lục bát qua các giai đoạn của thế
kỷ XX
Nói về cách làm thơ lục bát và phân tích những đặc trưng nghệ thuật của thơ lục
bát có Cách làm thơ lục bát (Nguyễn Bính, Nxb Văn nghệ, 1955), Khảo luận luật
thơ (Lam Giang, Sơn Quang xuất bản, Sài Gòn, 1967), Chung quanh mấy quan niệm về luật bằng trắc trong thơ lục bát (Hồng Diệu, Tạp chí Văn học, số 4/1986), Tiếng Việt và thể thơ lục bát (Nguyễn Thái Hòa, Tạp chí Văn học, số 2/1999), Giới thiệu các thể thơ, luật thơ và cách làm thơ (Hoàng Xuân Soạn, Nxb Văn hoá dân
tộc, Hà Nội, 2004) v.v… Thơ lục bát mới mẻ bởi nó đan xen giữa cổ điển với hiện đại, giữa mộc mạc của dân gian với uyên thâm của bác học, giữa say đắm của tình cảm với tỉnh táo của lý trí Vì vậy nó không chỉ khẳng định được vị trí của mình trong cái bộn bề của các thể thơ mà nó ngày càng độc đáo, hấp dẫn và cuốn hút bạn đọc Tuy nhiên, việc làm thơ lục bát không phải là một công việc đơn giản: “Lục bát
là thể thơ ngỡ như dễ làm, ai cũng làm được nhưng để đạt tới hay thì khó thay, nếu không nói là khó nhất” (Nguyễn Quang Sáng) Người làm thơ lục bát nếu dụng công quá, “khôn chữ quá” thì không hay bởi nó thiếu tự nhiên, nó bị gò ép trong cái khuôn âm luật chật hẹp nhưng đồng thời nếu dễ dãi quá nó cũng “dễ tuồn tuột trở thành bài thơ thường” (Đinh Nam Khương) Lục bát là một thể thơ có nhiều thành tựu và chứa đựng trong nó nhiều khả năng biến đổi, cách tân Vấn đề âm luật, vần, ngôn ngữ, nhịp điệu, chức năng,… của lục bát đã được xem xét và nghiên cứu dưới nhiều góc độ, có nhiều công trình công phu dày công tìm hiểu và đưa ra những nhận
xét chính xác, khái quát, như bài viết của Võ Bình (Vần trong thơ lục bát, Tạp chí
Ngôn ngữ, số 2/1985), Mai Ngọc Chừ (Vần, nhịp, thanh điệu và sức mạnh biểu hiện
ý nghĩa của lục bát biến thể, Tạp chí Văn hoá dân gian, Hà Nội, số 2/1989),… Với
công trình Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại, tác giả Hồ Văn
Hải đã nghiên cứu thể thơ lục bát dưới góc độ của chuyên ngành ngôn ngữ Thơ lục bát có một phẩm chất thẩm mỹ đặc biệt, kết tinh tinh hoa văn hoá - ngôn ngữ dân tộc, nó thể hiện cảm thức cộng đồng ở mọi thời đại, vì thế nó đồng hành với tiến trình phát triển văn hoá xã hội
Trang 261.2.2 Nghiên cứu các hiện tượng, tác giả, tác phẩm, phong cách tiêu biểu của thơ lục bát
Trong tiến trình vận động, phát triển, thơ lục bát để lại dấu ấn đậm nét ở những hiện tượng tiêu biểu, những trường hợp điển hình Trước hết, các nhà nghiên cứu tập trung chú ý vào lục bát ca dao, lục bát dân gian, lục bát của người bình dân Việt
Nam từ xa xưa Trên báo Tiểu thuyết Thứ bảy (loại mới, số 10, ngày 4/6/1949), Sơn
Tùng có nhiều khám phá về vẻ đẹp cả nội dung và nghệ thuật của lục bát ca dao
trong bài viết Thử tìm cái đẹp trong ca dao Trong cuốn sách sưu tầm và khảo luận
Tục ngữ - ca dao - dân ca Việt Nam (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978), Vũ
Ngọc Phan dành nhiều trang viết tường giải khả năng phản ánh hiện thực và biểu hiện tâm hồn người Việt của ca dao Nhấn mạnh những giá trị văn hoá của lục bát
dân gian, Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình viết Thử bàn thêm về thể thơ lục bát văn hoá
dân gian (Tạp chí Ngôn ngữ, số 3+4/1985) Nguyễn Xuân Đức tìm hiểu những đặc
trưng nghệ thuật của lục bát ca dao trong bài viết Về thể lục bát trong ca dao (Tạp chí Văn học, số 2/2002) Qua bài viết Lục bát dân gian (lucbat.vn, 31/1/2012), Đỗ
Đình Tuân chú ý tới nét đẹp giản dị, mộc mạc trong tâm hồn và cuộc sống người bình dân Việt Nam biểu hiện ở những câu ca dao trữ tình Sau ca dao, một lĩnh vực
mà nội dung tự sự và trữ tình được truyền tải bằng lục bát là truyện Nôm, từ những
truyện Nôm khuyết danh như Nhị độ mai, Bích Câu kỳ ngộ, Phạm Công Cúc Hoa,
… đến truyện Nôm của các tác giả nổi danh như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục
Vân Tiên,… Nghiên cứu hiện tượng đó, Lại Nguyên Ân viết Nhu cầu diễn Nôm - diễn ca và khả năng của thơ lục bát (Tạp chí Văn học, số 6/1995) Lại có tác giả
triển khai hướng nghiên cứu từ mạch nguồn lục bát đến những truyện thơ Nôm nổi
tiếng (Nguyễn Văn Hoàn, Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều, Tạp chí Văn học,
số 1/1974; Nguyễn Xuân Kính, Lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều… , Tạp chí Văn
học, số 9/1999) Trong sách chuyên luận Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2003), Phan Ngọc đã dành nhiều trang viết
nêu rõ thành công của thể lục bát trong tuyệt phẩm đỉnh cao truyện thơ Nôm Đi sâu
Trang 2730/8/2011) Ở phương Nam, thành công của thể lục bát trong truyện thơ Nôm phải
kể tới thi phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu Nguyễn Văn Bon viết Vài
suy nghĩ về nền đạo lý nhân bản nhân đọc lại truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn
Đình Chiểu (Tạp chí Nghiên cứu văn hoá Đồng Nai và Cửu Long, số 4/2006),
Dương Thuỳ Linh viết Đặc điểm truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
(Luận văn Thạc sĩ, Đại học Cần Thơ, 2015), cả hai tác giả đều lý giải đặc điểm và thành công của thể lục bát trong truyện thơ này Mở rộng hơn, Bông Tràm khảo sát
thơ lục bát ở Nam Bộ qua bài viết Thơ lục bát - một cõi trời mênh mông (Diễn đàn
văn học nghệ thuật đồng bằng sông Cửu Long, 12/12/2014) Những năm ba mươi
đầu thế kỷ XX, Phong trào Thơ mới dù tôn vinh thể thơ tự do nhưng vẫn có những
thành công đáng kể ở thể lục bát Đặng Diệu Trang viết Về sự khác nhau giữa lục
bát trong ca dao và lục bát trong Thơ mới (Tạp chí Văn hoá dân gian, số 1/1999)
Vũ Thị Hằng tìm hiểu Thơ lục bát Việt Nam trong Phong trào Thơ mới 1932 - 1945
(Luận văn Thạc sĩ, ĐHKHXH&NVHN, 2011) v.v…
Nhiều nhất là các bài viết, các công trình nghiên cứu các tác giả, tác phẩm, các phong cách thơ lục bát tiêu biểu Thi nhân có nhiều thành công ở thể lục bát trong
giai đoạn giao thời là Tản Đà; nhiều bài viết trong sách chuyên khảo Tản Đà - về
tác gia, tác phẩm (Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Đức Mậu tuyển chọn, giới thiệu, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 2000) đã phân tích và khẳng định điều đó Đoàn Đức Phương
khảo sát lục bát Nguyễn Bính trong Nguyễn Bính hành trình sáng tạo thi ca (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005) Nguyễn Sĩ Đại viết Đóng góp của Trần Huyền Trân cho
thơ lục bát (lucbat.vn, 21/1/2014) Nguyễn Phú Trọng viết Phong vị ca dao, dân ca trong thơ Tố Hữu (báo Nhân Dân, 24/1/1965) Trong chuyên luận Thơ Tố Hữu
(Nxb Đại học và THCN, Hà Nội, 1979), Lê Đình Kỵ nhấn mạnh thành công của nhà thơ cách mạng tiêu biểu khi chú ý sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc Trần
Đình Thu viết về thể lục bát biến ảo dưới bàn tay tài hoa của thi sĩ Bùi Giáng (Bùi
Giáng - thi sĩ kỳ dị, Nxb Trẻ, 2005) Nguyễn Trọng Tạo viết Đồng Đức Bốn bắc cầu lục bát (lucbat.vn, 4/5/2011) Một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu tác giả/cụm tác
giả lục bát như: Nhịp trong thơ lục bát của Tố Hữu (Phạm Minh Thúy, ĐHSPHN,
Trang 281982), Thơ lục bát Nguyễn Duy (Nguyễn Thị Bích Nga, ĐHSPHN, 2000), Thơ lục
bát qua ba tác giả Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh, Phạm Công Trứ (Đặng Liên Hương,
ĐHKHXH&NVHN, 2007), Văn hóa làng quê trong thơ lục bát đương đại - qua
Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ (Nguyễn Văn Đồng,
ĐHKHXH&NVHN, 2011), v.v…
1.2.3 Nghiên cứu về truyền thống và hiện đại trong thơ lục bát
Trong hành trình lịch sử, thơ lục bát vừa tiếp nối truyền thống, phát huy những giá trị truyền thống, vừa có những bước tiến mới, những chuyển biến để theo sát
thời đại, làm tròn sứ mệnh phục vụ thời hiện đại Vấn đề truyền thống và hiện đại
trong thơ lục bát đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu Hà Quảng
chú ý tới Một số cách tân thể thơ lục bát hiện đại (Tạp chí Văn học, số 4/1987) Vũ Duy Thông viết Về sự phá vỡ truyền thống trong thể lục bát (Tạp chí Văn hoá Nghệ
thuật, số 5/1996) Phan Diễm Phương viết về những nhà thơ thời nay có bản lĩnh,
giàu khát vọng, mạnh dạn tìm tòi, đổi mới để thơ lục bát phản ánh sự kiện cuộc
sống, nói lên tình ý con người đương thời (Thể lục bát ở một thế hệ nhà thơ hiện
đại, Tạp chí Văn học, số 2/1996) Cùng chung cảm thức với Phan Diễm Phương,
Nguyễn Hoà Bình viết Về sự đổi mới của thơ lục bát (Báo Văn Nghệ, số 51/2003),
v.v…
Có thể thấy, những công trình nghiên cứu trên đều đi sâu vào những phương diện, những vấn đề cụ thể, thực sự chưa có một cái nhìn xuyên suốt, mang tính hệ thống về thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại
Tiểu kết chương 1
Thể thơ - ấy chính là phương thức tồn tại của thơ Nó không phải tự nhiên mà có, cũng không phải tự dưng mất đi mà là kết quả một quá trình sàng lọc nghiệt ngã của thời gian Những thể thơ tồn tại được suốt dọc tiến trình thơ ca, chúng ta có thể coi
đó là niềm tự hào của nền văn học dân tộc So với các thể thơ khác như song thất lục bát, thể thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, tám chữ, thơ tự do,… thì lục bát không chỉ là một trong những thể thơ dễ nhận diện nhất mà còn là thể thơ đã tạo
Trang 29cổ điển Các công trình nghiên cứu về thơ lục bát, từ những vấn đề chung, các hiện
tượng, tác giả, tác phẩm, phong cách tiêu biểu đến vấn đề chuyên biệt là truyền
thống và hiện đại, đều tập trung khẳng định giá trị của thể thơ này, sự tiếp biến mạnh mẽ, mới mẻ của nó trong tiến trình văn học, trong diễn trình lịch sử dân tộc Việt Nam
Trang 30Chương 2 THƠ LỤC BÁT - LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN,
nó, là nhà thơ Phạm Đình Toái đã từng than thở: “Không biết thể này bắt đầu từ đời
nào, được người nào xướng xuất?” (Quốc âm từ điện) Đầu thế kỷ XX, Dương Quảng Hàm đã nhận định: “Lục bát là lối văn riêng của ta mà Tàu không có” (Việt
Nam văn học sử yếu) Nguyễn Xuân Kính lại có quan điểm: “Ở văn học người Hán
của Trung Quốc không có thể lục bát Trong lịch sử văn học Việt Nam, lục bát có vai trò đặc biệt và có sức sống mạnh mẽ” [79; tr.215] Sau này, Phan Diễm Phương trong
công trình nghiên cứu Ngọn nguồn của hai thể thơ dân tộc: lục bát và song thất lục
bát (Tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 12-2000) cũng khẳng định: “Trên thực tế
chưa ai tìm thấy ở Trung Hoa những bài thơ như thế”
Đi sâu tìm hiểu các nghiên cứu, ta thấy hai hướng tiếp cận chủ yếu về nguồn gốc thể loại:
Thứ nhất, lục bát có dấu vết của tục ngữ, ca dao, tức là có ngọn nguồn từ văn
Trang 31vần nước ta phôi thai từ ngạn ngữ, rồi đến phong dao/ca dao thì thành điều, thành chương, có thể ngâm nga được Văn lục bát, hay song thất sau này đều từ ở đấy cả”
Chu Xuân Diên trong Tục ngữ Việt Nam, Nguyễn Xuân Đức trong Đi tìm nguồn
gốc thể loại lục bát Việt Nam (Tạp chí Văn học, số 6/2004), … cũng đồng quan
điểm Trong văn học dân gian, văn học truyền miệng, đa số những câu tục ngữ, ca dao từ vần, điệu, tình, ý đều dưới hình thức thể lục bát Chúng là lời ăn tiếng nói của nhân dân, không chỉ thể hiện những kinh nghiệm sống, những triết lý dân gian,
mà còn là tình cảm, ước mơ, nguyện vọng về một cuộc sống tươi đẹp, một cuộc sống lý tưởng, một cuộc sống “nên có” Cấu trúc hình thức của thể lục bát có nguồn gốc sâu xa từ thành ngữ nhưng bắt đầu bộc lộ rõ ở tục ngữ Chỉ ra loại vần cách 3-5 trong tục ngữ, đối chiếu với qui tắc hiệp vần của thể lục bát, chỉ ra dấu vết của sự phối thanh, hội ý là để hình dung ra đường dẫn của một tiến trình hình thành và phát triển của thể thơ lục bát bắt đầu từ tục ngữ, bởi tục ngữ trước tiên là lời nói Những lối nói cách điệu hẳn phải có trước những sáng tạo văn chương và chính là
cơ sở để tạo nên những tác phẩm văn chương dài hơi hơn lời nói
Tuy nhiên đến đây lại cần phải nói thêm rằng, không phải thể lục bát đã được hoàn thiện trong tục ngữ Tục ngữ và ca dao tuy có thời điểm ra đời khác nhau về phương diện thể loại nhưng lại có thời gian phát triển cùng nhau rất dài trong lịch
sử văn hoá dân tộc, vì vậy sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau đã góp phần hoàn thiện thể thơ lục bát Điều này giải thích tại sao ta vẫn bắt gặp nhiều lời tục ngữ đã có kết cấu hoàn chỉnh của thể lục bát và cũng gặp một số những lời ca dao còn ở dạng lục bát chưa chỉnh thể của thời kỳ đầu Lục bát ca dao cổ có giai đoạn sơ khai hết sức
lỏng lẻo với cấu trúc câu 4/4+4 (Người đẹp như tiên/ Tắm nước Đồng Triền cũng
xấu như ma) hoặc 4+4/6 (Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò/ Chín tháng lò dò biết đi), rồi dần dần mới đi đến hình thức chỉnh thể 6/8
Thứ hai, lục bát xuất phát, hình thành từ đặc trưng, sự vận động nội tại của tiếng Việt, văn hoá Việt (Phan Diễm Phương trong Ngọn nguồn của hai thể thơ dân tộc:
lục bát và song thất lục bát; Nguyễn Thái Hoà trong Tiếng Việt và thể lục bát, Tạp
chí Văn học số 2/1999…) Lý giải điều này, Nguyễn Phan Cảnh cho rằng thơ lục bát
Trang 32mang trong mình “những đặc trưng dân tộc về mặt văn hóa đã nén lại trong dạng
dân gian để tồn tại” [17; tr.188-189]
Một cách khái quát và khách quan có thể nói dòng chảy lục bát là hợp lưu của cả hai ngọn nguồn trên, nó được hình thành từ tiến trình vận động của văn học dân gian, từ chính đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt và xu hướng thẩm mỹ mang tính chất tâm lý xã hội riêng của dân tộc Việt trong việc xây dựng âm luật thơ ca, nhất là sở thích sử dụng vần và nhịp
Trong sách Quốc âm từ điện (1886), tác giả Phạm Đình Toái nhận định rằng thể
lục bát đã trở nên khá thông dụng đối với việc sáng tác thi ca chữ Nôm từ các đời Trần Lê, thế kỷ XIII đến XVI Bài thơ lục bát sớm nhất còn được lưu trữ trong thư
tịch là một bài hát cửa đình của Lê Đức Mao (1462-1529), đó là bài Nghĩ hộ tám
giáp giải thưởng hát ả đào Trong sách Nam phong giải trào, ông Trần Danh Án
cũng ghi được một số bài hát cửa đình theo thể lục bát từ thời Lê Nhưng có lẽ bài
thơ lục bát cổ xưa nhất có niên đại rõ ràng, còn lưu giữ lại đến nay là bài Cảm tác của Nguyễn Hy Quang, được sáng tác năm 1674: “Bốn bề cây cối lơ thơ/ Thung
thăng con cá, vật vờ đàn ong/ Ngẫm thay người thật khách song/ Nhân tri kinh Phật sinh không có lời/ Đồng lần vật đổi sao dời/ Một nền trải mấy mươi đời dân gia/ Tới ta rằng của riêng ta/ Nào trăm năm trước ắt là của ai/ Làm chi cho vẩn lòng người/ Của đời ắt để cho đời phân minh”
2.1.2 Các giai đoạn phát triển của thể lục bát
Thơ lục bát Việt Nam là một trong những thể thơ mang đậm tính dân tộc, tồn tại
từ đời này sang đời khác Thơ lục bát không giống với bất kỳ thể thơ nào khác bởi ở lục bát người ta có thể vừa cảm nhận được tính truyền thống dân dã, vừa cảm nhận được những nét hiện đại Thơ ca Việt Nam từ xưa đến nay luôn là phương tiện truyền đạt nội dung tốt nhất, đem lại những giá trị nhận thức, giá trị thẩm mỹ cho con người Thơ lục bát Việt Nam đã làm được điều đó trong suốt chặng đường từ lục bát ca dao đến lục bát hiện đại
Thơ lục bát bắt nguồn từ trong ca dao Việt Nam, thể hiện thành công cả về nội
Trang 33học dân gian với những câu thơ mang đậm tâm tư, tình cảm của người bình dân vốn chịu thương chịu khó Đó là những bài hát ru con, những câu hò điệu lý, những lời ngâm vịnh ngân nga mà mọi người vẫn nghe thấy trong sinh hoạt hàng ngày, gắn liền với cuộc sống lao động của người bình dân Cách gieo vần ở chữ thứ 6 của câu lục với chữ thứ 6 của câu bát, chữ thứ 8 của câu bát với chữ thứ 6 của câu lục và cách ngắt nhịp chẵn đã nói lên bao tâm tư tình cảm của người dân Việt trong cuộc
sống thường ngày: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải
thương nhau cùng” Với giọng điệu nhẹ nhàng khuyên nhủ, lục bát ca dao đã nói
lên bao cung bậc tình cảm yêu thương giữa người với người Cùng với giọng điệu
khuyên nhủ, lục bát ca dao còn có giọng tâm tình kể chuyện, giọng triết lý: “Trong
đầm gì đẹp bằng sen/ Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng lá xanh/ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Như vậy, ở thể lục bát ta thấy ngôn từ
mộc mạc, giản dị được sử dụng nhằm tạo nên sự thanh thoát, êm tai Bên cạnh đó,
tổ hợp hai câu sáu - tám liên tiếp nhau cũng tạo nên một sắc thái riêng lúc trầm lúc bổng như tiếng đàn bầu réo rắt bên tai Ở lục bát ca dao, có lúc ta bắt gặp nhịp lẻ
nhưng hầu hết là nhịp chẵn: “Râu tôm /nấu với ruột bầu - Chồng chan/ vợ húp/ gật
đầu/ khen ngon” Tóm lại, lục bát ca dao thời kỳ này đã có nội dung hấp dẫn người
đọc Tuy nhiên, về giá trị hình thức thì còn có những hạn chế, lục bát ca dao sáng tác chủ yếu theo khuôn mẫu định sẵn và được xem là nền móng cho lục bát phát triển mạnh mẽ hơn ở những giai đoạn sau
Thời gian định hình của lục bát khoảng từ thế kỉ X đến thế kỉ XV Trong thời gian này, giới trí thức chỉ lo làm các thể thơ gốc Trung Hoa mà vào thời đó gọi là gốc Hán Các bài thơ đều được viết bằng chữ Hán Giới bình dân truyền miệng nhau những câu thành ngữ quen thuộc, những câu tục ngữ có giá trị đạo lý, lúc đầu chưa
có điệu, chưa có vần nhưng dần dần được hoàn chỉnh để trở thành ca dao, với tiết
điệu và âm vận rõ ràng Thơ lục bát ở giai đoạn cuối thế kỷ XV đến trước Truyện
Kiều còn trong tình trạng chưa hoàn chỉnh, hình hài chưa cụ thể, còn xô bồ, tự do và
có đôi chút lỏng lẻo Chức năng riêng của thể loại chưa được xác định, nó được
dùng theo ngẫu hứng, tự nhiên Cơ cấu thể lục bát chưa được thuần nhất, ví dụ: “Hễ
Trang 34đến tuần tế-lễ này” (Thiên Nam ngữ lục, câu 4963), hoặc “Thái hậu mừng rỡ bội phần” (Thiên Nam ngữ lục, câu 4703), các chữ đến và hậu về sau này, khi thể lục
bát đã ổn định, bị coi là thất luật Trong Thiên Nam ngữ lục, loại thất luật này rất
nhiều, điều ấy chứng thực rằng, vào thế kỷ XVII, thể thơ lục bát chưa hoàn toàn được thuần nhất về âm luật Về vần, câu 8 còn được gieo vần ở chữ thứ 4, ví dụ:
“Nghe nhau, ai nấy ngó nhau/ Một đứa nhổ sào, cả vạn cũng xuôi” (Thiên Nam ngữ
lục, câu 4685-4686) Cách gieo vần này là một dạng gieo vần cổ, đến thế kỉ XVIII
thì biến mất, để còn xuất hiện trong thể loại vè Nhiều nhà nghiên cứu về lục bát
lầm gọi đó là lục bát biến thể (Phạm Văn Hải, Sơ lược về thể lục bát, Virginia,
1994, tr.10); thực ra, đó là lục bát cổ thể Câu này được gieo vần như vậy là một câu
thơ được làm trước thế kỉ XVIII Trong Truyện Kiều, cách gieo vần này hoàn toàn
(1572-1634) Sang thế kỷ thứ XVIII và XIX, lục bát đã trải qua thời kỳ cực thịnh
với những tác phẩm danh tiếng như Nhị độ mai (không rõ tác giả), Bích Câu kỳ ngộ
(không rõ tác giả), Hoa Tiên truyện của Nguyễn Huy Tự (1745-1790), Đoạn trường
tân thanh của Nguyễn Du (1765-1820), Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
(1822-1888) Điều đáng lưu ý là thể lục bát cũng đã được sử dụng trong một số tác
phẩm bằng Hán văn như Phụng sứ Yên Đài tổng ca (472 câu) của Nguyễn Huy
Oánh (1713-1789), thân phụ của Nguyễn Huy Tự
Vào nửa cuối thế kỉ XVIII, Trần Danh Án (hiệu Liễu Am) đã sưu tập và biên
soạn Quốc phong giải trào và Nam phong nữ ngạn thi Một số soạn giả đã ghi chép
tục ngữ, ca dao bằng chữ Nôm, rồi dịch ra chữ Nho và chú thích, có ý đem ca dao Việt Nam sánh với với thơ Quốc Phong trong Kinh Thi của Trung Hoa
Kế thừa truyện thơ lục bát của thế kỷ XVIII, giữa thế kỷ XIX đã xuất hiện hàng
Trang 35Trần… được viết theo quy mô hàng trăm, hàng ngàn câu với những quy định
nghiêm ngặt về niêm luật, về vần và nhịp điệu Qua thời gian, lục bát có những bước tiến mới: có sự thay đổi trong cách ngắt nhịp, gieo vần Điều này được thể
hiện rõ nhất qua tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du và Lục Vân Tiên
của Nguyễn Đình Chiểu
Truyện Kiều đã đánh dấu son cho sự mẫu mực, cổ điển của thể loại lục bát Hai
yếu tố gieo vần và phối điệu đã đạt tới sự thống nhất, ổn định Câu thơ đã xuất hiện hình thức đối Do có đối nên sự diễn ý thơ đã có thêm khả năng mới, dòng thơ 6 hoặc 8 âm tiết được nhận thức như một tổ hợp hai đơn vị mới, mỗi đơn vị gồm 3 hoặc 4 âm tiết Vì thế dòng thơ như dồn nén lại, ý thơ trở nên súc tích, trọng lượng
hơn Ở Truyện Kiều, ta cảm nhận được những gì hài hoà, êm dịu nhất của lục bát ca
dao bằng lối ngắt nhịp chẵn và lối gieo vần bằng, tạo cho câu thơ dáng dấp uyển
chuyển, cân đối, dễ thuộc và dễ nhớ: “Trăm năm/ trong cõi/ người ta - Chữ tài/ chữ
mệnh/ khéo là/ ghét nhau - Trải qua/ một cuộc bể dâu - Những điều/ trông thấy/ mà đau đớn lòng” Thông thường, một tác phẩm văn chương hay phải đạt được hai yêu
cầu: có sự đổi mới trong nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, đồng thời phải kế thừa
được những nét văn hoá truyền thống của dân tộc Truyện Kiều đã đáp ứng được hai yêu cầu đó Ngoài việc sử dụng những yếu tố của lục bát ca dao, Truyện Kiều còn
mang đến cho người đọc sự đổi mới đầy sáng tạo Câu thơ lục bát giờ đây ngoài cách gieo vần bằng và cách ngắt nhịp chẵn còn có cách ngắt nhịp lẻ: câu thơ với nhịp 3/3, 1/5, 2/1/3, 3/5, 3/3/2, 5/3, v.v… trở nên linh hoạt và sinh động hơn cùng với cách gieo vần đa dạng có thể thay đổi theo giới hạn cho phép, miễn sao giữ được cái hay, cái đẹp, cái độc đáo, mượt mà thắm thiết riêng có của nó Mặt khác,
so với lục bát ca dao, sự sáng tạo ở Truyện Kiều còn thể hiện trong việc đưa vào tác
phẩm những từ láy, điệp từ, thành ngữ và cả những lời nói trong sinh hoạt hàng ngày của quần chúng lao động, xoá bỏ hoàn toàn sự đơn điệu và tẻ nhạt, góp phần làm thay đổi lục bát, tạo sự hấp dẫn, nhưng không làm mất đi âm điệu vốn có của
nó: “Nghĩ rằng bưng kín miệng bình/ Nào ai có khảo mà mình lại xưng” Câu thơ
của Nguyễn Du càng về sau càng uyển chuyển, đầy nhạc tính, nâng nghệ thuật thơ
Trang 36lục bát đến một giá trị độc đáo, làm nền tảng cho thơ lục bát Việt Nam tiếp tục phát
triển đến đỉnh cao rực rỡ Truyện Kiều là đỉnh thi sơn, là ngôi đền thiêng Lục Bát
Việt Nam đầu thế kỷ XIX Thế giới ấy, ngôi đền ấy là nghệ thuật, là tâm thức và là tiếng nói Việt Nguyễn Du với lục bát trở thành biểu tượng thành tựu nghệ thuật của dân tộc Việt, trở thành niềm tự hào của một dân tộc giàu lòng nhân ái, vượt lên mọi thăng trầm của lịch sử bằng vẻ đẹp nhân văn sáng trong như ngọc quý
Sau Truyện Kiều, nền văn học nước nhà còn ghi nhận nhiều tác phẩm có giá trị khác Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là một ví dụ điển hình Những từ ngữ,
hình ảnh được nhà thơ sáng tạo và đưa vào sử dụng rất đỗi thân quen, giản dị, dễ hiểu và gần gũi với cuộc sống con người Trong suốt chiều dài tác phẩm, ta thấy nhiều câu thơ mang dáng dấp văn học dân gian, những yếu tố của ca dao - dân ca
được sử dụng rất thành công: “Xin đừng tham đó bỏ đăng/ Chơi lê quên lựu, chơi
trăng quên đèn” và những câu thơ lấy ý từ ca dao cổ: “Tới đây thì ở lại đây/ Cùng con gái lão xum vầy thất gia” So với Truyện Kiều, yếu tố ca dao - dân ca trong Lục Vân Tiên được khai thác và sử dụng với tần số lớn hơn, âm điệu câu thơ nhẹ nhàng
hơn, êm ái hơn Bên cạnh đó, những cách xưng tên trong lối bạch, lối tuồng, những bài học nhân quả, triết lý sống không màng danh lợi là những dấu ấn mà lục bát ca dao đã để lại trong tác phẩm Mặt khác, tác phẩm cũng có những bước tiến mới Những lời văn bóng bẩy, trau chuốt hầu như vắng bóng, thay vào đó là những lời
nói mộc mạc, dân dã đậm đà phong vị quê hương của người Nam Bộ: “Ai ai cũng ở
trên đời/ Chính chuyên, trắc nết chết thời cũng ma” Chính vì thế tác phẩm đã mang
đến cho người đọc sự gần gũi khó quên, man mác tình người, tình nhân loại Đọc tác phẩm, người ta có thể thấy những cảnh đời, những kiếp người, những tư tưởng tình cảm và cuộc sống tinh thần của mình ở đó Có thể nói, việc sử dụng sáng tạo những từ ngữ, hình ảnh trong ca dao - dân ca đã đưa lục bát tiến thêm một bước tiến mới trong việc hội nhập vào sự phát triển chung của nền văn học Việt Nam giai đoạn trung đại Rõ ràng, lục bát đã thật sự đi vào lòng người, khẳng định sự lựa chọn của các tác giả là đúng đắn và phù hợp Lục bát đã có một giá trị cao quý cho
Trang 37Lịch sử văn học Việt Nam đã chứng minh một sự thật hiển nhiên là thể thơ lục bát - một thể thức thơ ca dân tộc - đã có vị trí xứng đáng của nó trong văn học dân gian, văn học trung đại và thơ ca hiện đại Điểm qua các tác giả tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại, ta có thể khẳng định một điều rằng “ở đâu cũng có thơ lục bát”
Ở những mức độ khác nhau, các nhà thơ đã tỏ ra hấp thụ được những cảm xúc và phô diễn lại bằng thể lục bát, cố gắng tìm đến cách xử lý thích hợp trong khi sử dụng thể thơ dân tộc để đạt tới hiệu quả nghệ thuật trong sáng tác thơ ca của mình Lục bát thời kỳ nửa sau thế kỷ XIX đến những năm 30 của thế kỷ XX đều đi theo
hướng mẫu mực đã được khẳng định chắc chắn từ trong Truyện Kiều, về cơ bản nó
không có sự tìm kiếm, lựa chọn nào khác Cuối thế kỷ XIX, lục bát không kể chuyện được nữa mà chuyển sang nhận chức năng trữ tình làm chức năng chủ yếu Giai đoạn này chứng tỏ khả năng phong phú của lục bát trong việc biểu đạt nội dung của tác phẩm trữ tình nhỏ Có thể nói, trong số những nhà thơ hồi đầu thế kỷ
XX - thời kỳ bắt đầu sáng tác bằng chữ quốc ngữ theo mẫu tự La tinh chứ không phải bằng chữ Hán hay chữ Nôm - nổi lên tên tuổi Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu) với những vần điệu quả thực đã làm rung động lòng người, đã ăn sâu, thấm khắp giai tầng xã hội và được truyền tụng trong đông đảo tầng lớp nhân dân lao động Bởi ngoài sự kế thừa văn học dân gian, Tản Đà còn có những bước tiến mới so với ca dao
Trước hết, ảnh hưởng của văn học dân gian có thể nói là rất đậm trong thơ lục bát của Tản Đà Trong đó phải kể đến ảnh hưởng của các câu hát lý giao duyên theo quy tắc hiệp vần bằng trắc cùng với cách gieo nhịp chẵn và ngôn ngữ đã có trong ca
dao như đại từ ai, mình, ta … rất uyển chuyển và duyên dáng Bên cạnh việc kế
thừa lục bát ca dao, trong thơ lục bát của Tản Đà ta còn bắt gặp những nét mới ở việc sử dụng những từ mới rất đắt nghĩa, giàu giá trị gợi tả, gần gũi với lời ăn tiếng
nói trong sinh hoạt của người bình dân: “Von vót cái cần câu tre/ Để câu ở bến sông
Kỳ ta chơi” Và những câu lục bát biến thể giàu âm điệu gây hiệu quả bất ngờ, góp
phần đưa lục bát hội nhập vào nền văn học dân tộc: “Một con sông, ba bảy con sông
Đà/ Trăm công nghìn nợ trông vào một em” Tản Đà đã xây dựng cho mình một
Trang 38phong cách nghệ thuật độc đáo và cũng là một cống hiến không kém phần quan trọng làm biến chất thơ cổ điển, đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ văn học bác học và ngôn ngữ văn học dân gian, sự chuyển hoá các hình thức thơ ca cổ điển để cho có chất dân gian sâu đậm, từ ngôn ngữ bác học với những luật lệ nghiêm ngặt trở thành ngôn ngữ dân gian thanh thoát, giản dị và phóng túng
Sau Tản Đà, giai đoạn 1932 - 1945, Thơ mới xuất hiện với hầu hết những bài thơ mang tâm trạng u buồn man mác của số đông công chúng lúc bấy giờ Thơ lục bát
của những nhà thơ lãng mạn mới mẻ ở “cái tôi” tiểu tư sản Ngôn ngữ thơ trau
chuốt, đạt đến sự tinh tế hiếm có trong nghệ thuật diễn tả những rung cảm của tâm hồn Cho đến nay lục bát Thơ mới vẫn giữ nguyên cái hay mặc dù đã qua trên nửa
thế kỷ Ta có thể nhặt ra nhiều hạt châu ngọc như Ngậm ngùi, Buồn đêm mưa (Huy Cận), Chiều (Xuân Diệu), Tiếng sáo Thiên Thai (Thế Lữ), Thơ sầu rụng (Lưu Trọng Lư), Luỹ tre xanh, Rằm tháng giêng (Hồ Dzếnh), Huế đa tình (Bích Khê),
Bến Hàn giang (Hàn Mặc Tử), Đan áo cho chồng (T.T.Kh), v.v… Lục bát trong
Thơ mới đã có nhiều cách tân đa dạng về cả hình thức thể hiện (về gieo vần, về phối điệu…) cũng như nội dung biểu đạt Có một hiện tượng mới mẻ nhưng lại diễn ra ở khá nhiều tác phẩm, tác giả thời kỳ này là sự biến đổi về mặt cú pháp trên các dòng thơ Ranh giới dòng thơ và đơn vị cú pháp không còn trùng khít nữa, biểu hiện ở hai
hướng: một là, hiện tượng vắt dòng: “Cổng làng rộng mở Ồn ào/ Nông phu lững
thững đi vào nắng mai” (Cổng làng - Bàng Bá Lân); hai là, hiện tượng chấm câu
giữa dòng: “Lòng ta dù vỡ tan tành/ cũng còn thổn thức Buộc lành cho nhau” (Lời
tuyệt vọng - Thế Lữ) Hình hài câu thơ lục bát, cách tổ chức dòng thơ cũng có nhiều
cách tân lạ mắt Đó là xếp dòng theo bậc thang: “Đường xa ư cụ?/ Quản chi/ Đi gần
hạnh phúc là đi xa đường” (Uống rượu với Tản Đà - Trần Huyền Trân) Hay đó là
trường hợp ba dòng lục đi với một dòng bát: “Bẽ bàng, lá vẫn theo bên/ Si tình, lá
vẫn theo bên/ Thuyền trôi vẫn quyến sao đêm/ Hào quang vẫn ngủ êm đềm trong
thơ” (Tình si - Vũ Hoàng Chương)
Trong phong trào Thơ mới, Nguyễn Bính là một nhà thơ rất mực tài hoa Người
Trang 39rất mộc mạc, bình dị, chứa đựng tình cảm thiết tha, sâu lắng Nguyễn Bính có nhiều sáng tác thành công ở thể lục bát, ngôn ngữ ca dao - dân ca được vận dụng nhuần
nhuyễn, nhịp chẵn được phát huy một cách triệt để: “Sáng trăng/ chia nửa vườn chè
- Một gian nhà nhỏ/ đi về có nhau” (Thời trước) Cũng có khi vẫn là những câu lục
bát cổ truyền nhưng ở Nguyễn Bính cách sáng tạo biến thể khác nhau khi gieo vần cộng với việc khéo léo dùng những từ ngữ giản dị và cách ngắt nhịp lẻ nhiều đến
mức khác thường gây sự hấp dẫn với người đọc: “Từ ngày/ cô đi lấy chồng/ Gớm/
sao có một cánh đồng mà xa” (Qua nhà) Tuy chịu ảnh hưởng của ca dao nhưng thơ
Nguyễn Bính vẫn có một bản sắc riêng; Nguyễn Bính sử dụng thể thơ lục bát một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo Sẽ rất cá biệt nếu trong thơ lục bát xuất hiện những nhịp lẻ và sau Nguyễn Du, Nguyễn Bính đã làm được chuyện đó, ông không bị lẫn
với các nhà thơ dân gian là nhờ ở điểm ấy Những thi phẩm lục bát Chân quê, Lỡ
bước sang ngang, Tương tư, Người hàng xóm … làm xúc động bao nhiêu tâm hồn
người đọc Có thể nói, thơ lục bát của Nguyễn Bính được sáng tạo trên cái nền của
ca dao xưa và phát triển thêm để nâng nó lên tầm cao mới
Đến giai đoạn kháng chiến chống Pháp, lục bát phát triển theo định hướng tư tưởng của thời đại: văn hoá văn nghệ phục vụ công nông binh Lục bát gần với vè
kể chuyện, ít chất thơ, chẳng hạn, Kể chuyện Vũ Lăng (Anh Thơ), Tình Tháp Mười (Bảo Định Giang) Lục bát của Hoàng Cầm (Gọi đôi, Giả vờ) tuy tình ý không nồng
nàn như Nguyễn Bính song có được những tứ thơ mới, cùng với nét tài hoa vốn có trong thơ của ông Trần Mai Ninh là một khuôn mặt thơ mạnh mẽ, gân guốc và rất
lạ Thơ lục bát của ông cũng có được nét ấy (Lời nương theo lòng nắng gió, Chờ
lửa, Nhịp muôn đời) Thời này, đa số các nhà thơ làm thơ tự do, rồi chen vào ít câu
lục bát, như Bài ca vỡ đất, Bao giờ trở lại (Hoàng Trung Thông); Bầm ơi, Sáng
tháng Năm (Tố Hữu) v.v…
Lục bát của Tố Hữu giai đoạn này (tập thơ Việt Bắc) và cả giai đoạn sau (các tập
Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, bài thơ dài Nước non ngàn dặm) có nét chung này:
Tố Hữu sử dụng ngôn ngữ biểu cảm của ca dao, ông đưa vào thơ hình ảnh quần
chúng, nói cái giọng quần chúng, nói cái tình kháng chiến, tình công dân Cái tôi
Trang 40chuyển hoá thành cái ta, thơ ông hướng về quần chúng mà kêu gọi, động viên, chia
sẻ, cảm thông Trong thơ, Tố Hữu hay dùng lối hô gọi “ơi” (Bầm ơi có rét không
bầm; Sáng hè đẹp lắm em ơi; Nỗi niềm chi rứa Huế ơi; … ) Lối viết này rất nhiều
nhà thơ đi sau ông bắt chước, thậm chí ảnh hưởng đến tư duy của cả giai đoạn thơ kháng chiến chống Mỹ ở miền Bắc Lục bát Tố Hữu có nhiều bài thực sự thành
công: Việt Bắc vận dụng được lối giao duyên của ca dao, Kính gửi cụ Nguyễn Du
đặc sắc ở nghệ thuật đối thoại với Nguyễn Du về những vấn đề Tố Như gửi gắm
trong thơ, Mẹ Suốt phát triển thể vè của ca dao, có phong vị lãng mạn cách mạng,
Luy Lâu là cảm thức lịch sử về Hai Bà Trưng, có hơi thơ anh hùng ca Chất liệu lục
bát Tố Hữu là hiện thực cách mạng Tính hiện đại, tính chính trị, tính quần chúng là phẩm chất chính của lục bát Tố Hữu Nói cho đúng, Tố Hữu dùng lục bát như một phương tiện chuyển đạt nội dung chính trị, dùng lục bát để nói với quần chúng công nông binh, nói tiếng nói công nông binh, bởi vì lục bát hoà thanh dễ lọt tai, dễ nhớ, dễ thuộc Những bài lục bát của Tố Hữu có những đóng góp nhất định vào sự phát triển của thơ lục bát thế kỷ XX
Lục bát sau năm 1954 được thừa hưởng những thành tựu nghệ thuật giai đoạn trước, nên đã lớn lên theo tầm vóc của dân tộc; nó mới mẻ ở cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Về nhịp, lục bát thời kỳ này có sự ngắt nhịp, phối thanh linh hoạt của Thơ mới và đẩy nó lên cao hơn khi một câu thơ được cắt thành nhiều tiết tấu, nhiều nhịp Về phối điệu, gieo vần, cơ bản là theo quy tắc của truyền thống nhưng lục bát hiện đại có xu hướng “cãi” lại truyền thống êm đềm của thể thơ
ở chỗ sử dụng nhiều thanh trắc ở vị trí lẻ Sự cách tân trong vắt dòng, xếp câu thơ theo kiểu bậc thang được thể hiện ở mức độ cao hơn, phổ biến hơn Sự vắt dòng thơ
không phải chỉ trong 2 dòng mà có khi đến 4 dòng: “Chỉ còn cỏ mọc bên trời/ Một
bông hoa nhỏ/ lặng/ rơi/ mưa/ dầm” (Chia - Nguyễn Trọng Tạo), … Về chức năng
biểu đạt: thơ lục bát từ sau năm 1954 thật phong phú, vừa trữ tình sâu đậm, vừa đầy
những suy nghĩ tỉnh táo Có thể thấy so với lục bát những giai đoạn trước, lục bát giai đoạn này đa dạng hơn về giọng điệu, phong phú hơn về nội dung Không chỉ