Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản này được ghi nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: Chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; Tính liên tục của di sản với tư cách là một trung tâm qu
Trang 1Hoàng Thành Thăng Long
Bởi:
Wiki Pedia
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long - Hà Nội bắt đầu từ thời kỳ từ tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh
- Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch
sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam
Vào lúc 20 giờ 30 ngày 31/7/2010 theo giờ địa phương tại Brasil, tức 6 giờ 30 ngày 1/8/
2010 theo giờ Việt Nam, Ủy ban di sản thế giới đã thông qua nghị quyết công nhận khu Trung tâm hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di sản văn hóa thế giới Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản này được ghi nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: Chiều dài lịch
sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; Tính liên tục của di sản với tư cách là một trung tâm quyền lực, và Các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú.[1]
Các giá trị nổi bật toàn cầu
Bản đồ thành Thăng Long thời Lê
Theo tiêu chí (II): Những di tích trên mặt đất và khai quật được trong lòng đất tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học
Trang 2thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại, đặc biệt Phật giáo, Nho giáo, thuyết phong thủy, mô hình vương thành phương Đông, mô hình kiến trúc quân sự phương Tây (thành Vauban), đến từ Trung Hoa, Champa, Pháp, để tạo dựng nên những nét độc đáo, sáng tạo của một Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một quốc gia vùng châu thổ sông Hồng Kết quả giao thoa, tiếp biến văn hóa đó được biểu đạt trong tạo dựng cảnh quan, qui hoạch các khu cung điện, trong nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí cung đình với diễn biến văn hóa đa dạng qua các thời kỳ lịch sử
Theo tiêu chí (III): Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là minh chứng duy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong suốt lịch sử liên tục 13 thế kỷ (trải từ thời tiền Thăng Long, qua thời Đinh- Tiền Lê, đến thời kỳ Thăng Long-Hà Nội với các vương triều Lý-Trần-Lê-Nguyễn) và vẫn được tiếp nối cho đến ngay nay Những tầng văn hóa khảo cổ, di tích kiến trúc và nghệ thuật của
di sản phản ánh một chuỗi lịch sử nối tiếp nhau liên tục của các vương triều cai trị đất nước Việt Nam trên các mặt tư tưởng, chính trị, hành chính, luật pháp, kinh tế và văn hoá trong gần một ngàn năm Trên thế giới rất hiếm tìm thấy một di sản thể hiện được tính liên tục dài lâu như vậy của sự phát triển chính trị, văn hoá như tại khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội
Theo tiêu chí (VI): Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội minh chứng rõ nét về một di sản có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử của một quốc gia dân tộc vùng Đông Nam Á trong mối quan hệ khu vực và thế giới Di sản đề
cử là bằng chứng thuyết phục về sức sống và khả năng phục hưng của một quốc gia sau hơn mười thế kỷ bị nước ngoài đô hộ Di sản đề cử còn ghi đậm dấu ấn thắng lợi của một nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, có ảnh hưởng rộng lớn trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
Lịch sử phát triển
Giai đoạn tiền Thăng Long
Thời kỳ Nhà Đường, An Nam được chia thành 12 châu với 50 huyện, Tống Bình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ, lần đầu tiên vùng đất sau là kinh thành Thăng Long nắm giữ vai trò một trung tâm quyền lực chính trị Năm 866, viên tướng nhà Đường Cao Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được đổi tên thành Đại La – thủ phủ của Tĩnh Hải quân Theo truyền thuyết, khi đắp thành, Cao Biền thấy một vị thần hiện lên
tự xưng là thần Long Đỗ Vì vậy, sử sách còn gọi Thăng Long là đất Long Đỗ
Cuối thế kỷ 9, chính quyền trung ương nhà Đường suy yếu nghiêm trọng Đầu thế kỷ
10, các thế lực cát cứ nổi lên đánh giết lẫn nhau, tạo ra thế loạn chia cắt Ngũ Đại Thập Quốc Khúc Thừa Dụ, khi đó là Hào trưởng Chu Diên, được dân chúng ủng hộ, đã tiến
ra chiếm đóng phủ thành Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ Sau khi đã nắm được quyền lực thực tế trên đất Tĩnh Hải quân, ông đã cho xây dựng chính quyền dựa trên danh xưng
Trang 3của chính quyền đô hộ nhà Đường, nhưng thực chất là một chính quyền độc lập và do người Việt quản lý
Năm 931, Dương Đình Nghệ đem quân từ Ái châu ra Đại La đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nước Nam Hán Lý Tiến bỏ chạy, Dương Đình Nghệ giải phóng thành Đại La giành quyền tự chủ cho đất nước Việt được 6 năm thì bị Kiều Công Tiễn giết hại Năm 938, Ngô Quyền hạ thành Đại La, tiêu diệt Kiều Công Tiễn Sau đó, ông chỉ huy trận Bạch Đằng, đánh bại quân Nam Hán, giết chết Hoằng Thao Mùa xuân năm 939, ông xưng
là Ngô Vương, không đóng đô ở Đại La mà về Cổ Loa Sau loạn 12 sứ quân, các triều đại Đinh, Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư Đại La lúc này do Đô hộ phủ sĩ sư Lưu Cơ cai quản, vì thế mà vị quan này được coi là người "giao chìa khóa" thành Đại La cho Lý Thái Tổ.[2][3]
Giai đoạn Lý - Trần từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV
Rồng thời Lý trên các phù điêu bằng đất nung, khai quật tại khu vực số 8 Hoàng Diệu năm 2003
Năm 1010, tại kinh đô Hoa Lư, vua Lý Thái Tổ ban chiếu dời đô để chuyển kinh đô về thành Đại La và đổi tên kinh thành này là Thăng Long Lý Thái Tổ cùng các quần thần
đã gấp rút xây dựng những công trình cơ bản của Kinh thành Thăng Long Đến đầu năm
1011 thì hoàn thành Khi mới xây dựng, Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo
mô hình Tam trùng thành quách gồm: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay kinh thành, vòng thành thứ hai là Hoàng Thành, giữa hai lớp thành này là nơi sinh sống của cư dân, lớp thành còn lại là Tử cấm thành hay Cấm thành hay Long Phượng thành là nơi ở của nhà vua Các thời sau đều theo cách ấy mà phân chia
Ngay từ năm 1010, khi mới định đô Thăng Long, Lý Thái Tổ đã khởi công xây dựng Hoàng Thành và hàng loạt cung điện ở trong Hoàng Thành Hoàng thành đắp bằng đất, phía ngoài có hào, mở 4 cửa: Tường Phù ở phía đông, Quảng Phúc ở phía tây, Đại Hưng
ở phía nam, Diệu Đức ở phía bắc Tuy còn những ý kiến khác nhau, nhưng căn cứ vào sử liệu và di tích còn lại, có thể xác định cửa Tường Phù mở ra phía Chợ Đông và khu phố buôn bán tấp nập của phường Giang Khẩu và đền Bạch Mã Cửa Quảng Phúc mở ra phía chùa Một Cột và chợ Tây Nhai (chợ Ngọc Hà) Cửa Đại Hưng ở khoảng gần Cửa Nam
Trang 4hiện nay Cửa Diệu Đức nhìn ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đình Phùng hiện nay Những cung điện chính còn thấy trong sử sách như: điện Càn Nguyên là nơi thiết triều đặt trên núi Nùng tức núi Long Đỗ, hai bên tả hữu là điện Tập Hiền và điện Giảng Võ Bên trái mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân, bên phải mở cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, chính Bắc dựng điện Cao Minh Thềm các quan chầu vua gọi là Long Trì có hành lang chạy xung quanh Đằng sau điện Càn Nguyên
là điện Long An và điện Long Thụy làm nơi nhà vua nghỉ ngơi Bên trái xây điện Nhật Quang, bên phải xây điện Nguyệt Minh, đằng sau là cung Thúy Hoa là nơi ở của các phi tần
Năm 1029, Lý Thái Tông xây dựng lại toàn bộ khu cấm thành sau khi nơi đây bị tàn phá bởi vụ Loạn tam vương Trên nền cũ điện Càn Nguyên, Lý Thái Tông cho dựng điện Thiên An làm nơi thiết triều Hai bên tả hữu là điện Tuyên Đức và điện Thiên Phúc Phía trước điện Diên An là sân Rồng có đặt một quả chuông lớn Hai bên tả hữu sân rồng
có đặt gác chuông Phía đông, tây sân Rồng là điện Văn Minh và điện Quảng Vũ, phía trước sân rồng là là điện Phụng Tiên, trên Điện có lầu Chính Dương là nơi báo canh báo khắc Sau điện Diên An là điện Thiên Khánh hình Bát Giác Sau điện Thiên Khánh là điện Trường Xuân Trên điện Trường Xuân có gác Đồ Long Từ điện Thiên Khánh nối với điện Thiên An ở phía sau đều có bắc cầu gọi là cầu Phượng Hoàng
Năm 1203, vua Lý Cao Tông bắt đầu một đợt xây dựng mới Cung điện mới được xây
ở phía tây tẩm điện Bên trái dựng điện Dương Minh, bên phải dựng điện Chính Nghi,
ở trên xây điện Kính Thiên, thềm gọi là Lệ Giao ở giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm, bên phải mở cửa Việt Thành, thềm gọi là Ngân Hồng Đằng sau xây điện Thắng Thọ Bên trái xây gác Nhật Kim, bên phải xây gác Nguyệt Bảo, xung quanh dựng hành lang thềm gọi là Kim Tinh Bên trái gác Nguyệt Bảo là tòa Lương Thạch, phía tây xây gác Dục Đường (nhà tắm) Phía sau xây gác Phú Quốc, thềm gọi là Phượng Tiêu Phía sau dựng cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư trên ao xây đình Ngoạn Y Ba mặt đình có trồng hoa thơm cỏ lạ nước thông với sông [4] Ngoài ra các cung điện khác cũng được xây dựng liên tục, không đòi nào không có không mấy năm không có Mỗi cung điện thường đều
có tường bao xung quanh và làm cửa thông với cung điện khác Ngoài cung điện, các
vị vua nhà Lý còn cho xây dựng nhiều công trình văn hóa tín ngưỡng khác để phục vụ cho vua và hoàng tộc như: đền Quán Thánh, chùa Chân Giáo (nơi vua Lý Huệ Tông đã
tu hành), đài Chúng Tiên dựng năm 1161 tầng trên lợp ngói bạc, hồ ao làm cảnh cũng được lập khá nhiều trong Hoàng thành Năm 1049, đào hồ Kim Minh Vạn Tuế, đắp núi
đá cao ba ngọn trên mặt hồ và xây cầu Vũ Phượng đi vào, 10 năm sau lại xây thêm điện
Hồ Thiên bát giác ở đấy Năm 1051 đào hồ Thụy Thanh, hồ Ứng Minh Năm 1098, đào
hồ Phượng Liên và xây tại đây điện Sùng Uyên, bên trái lập điện Huy Dương, đình Lai Phượng bên phải dựng điện Ánh Thiềm, đình Át Vân, phía trước xây lầu Trường Minh, phía sau bắc cầu Ngoạn Hoa
Nhiều vườn ngự cũng được dựng nên trong Hoàng thành Mùa thu năm 1048, mở luôn
3 vườn ngự: vườn Quỳnh Lâm, vườn Thắng Cảnh và vườn Xuân Quang Năm 1065, mở
Trang 5thêm vườn Thượng Lâm Giữa thế Kỷ 14 lại dựng một vườn ngự nữa nối liền với hậu cung Theo sử cũ còn ghi giữa vườn có đào một cái hồ lớn: "Trong hồ chất đá làm núi, trên bờ hồ trồng thông, trúc và nhiều thứ kỳ hoa diệu thảo khác thêm vào đấy là chim quý thú lạ Bốn mặt khai cho sông nước thông vào, gọi hồ ấy là Lạc Thanh Trì Về phía tây hồ trồng hai cây quế, dựng một tòa điện gọi là điện Lạc Thanh Lại đào các hồ nhỏ khác, bắt người ở Hải Đông chở nước mặn chứa vào hồ ấy, để nuôi các loài hải sản như đồi mồi cá biển và các loại ba ba Rồi bắt người Hóa Châu bắt cá sấu thả vào đấy Lại có
hồ Thanh Ngư dể nuôi cá Thanh Phụ (cá diếc đuôi đỏ vảy biếc) Lại làm dãy hành lang
ở tây điện thẳng đến cửa Hoàng Phúc, dựng dãy Trường Lang từ gác Nguyên Huyền đến cửa Đại Triều phía tây
Đoan Môn ngày nay
Giai đoạn Lê - Mạc từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
Sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi vẫn đóng đô ở Thăng Long nhưng đổi tên là Đông Đô rồi Đông Kinh Về cơ bản Đông Đô thời Lê không khác nhiều Thăng Long đời Lý Trần Hồ chỉ có điều cung điện đền đài đã bị phá phách hết cả nhà Lê mới dần dần sửa chữa xây dựng thêm
Từ năm 1490 cho đến thế kỷ 16 kinh thành mới có nhiều thay đổi Trong thời gian này tường hoàng thành cũng như Đại La thành luôn được xây đắp mở rộng thêm ra Năm
1490, để đề phòng những nạn loạn đảng như Nghi Dân đang đêm trèo tường vào giết Lê Nhân Tôn ở trong cung, Lê Thánh Tôn cho xây lại Hoàng Thành mở rộng thêm 8 dặm nữa Công việc xây dựng trong 8 tháng mới xong Trong Hoàng Thành Lê Thánh Tôn cũng cho xây thêm cung điện và lập vườn Thượng lâm để nuôi bách thú Năm 1512, Lê Tương Dực giao Vũ Như Tô đứng ra trông nom việc dựng hơn 100 nóc cung điện nguy nga, lại khởi công làm Cửu Trùng Đài mà như sử cũ miêu tả là tuy chưa hoàn thành mà bóng rợp nửa hồ Tây Năm 1514, Lê Tương Dực mở rộng Hoàng Thành thêm mấy nghìn trượng (mỗi trượng là 3m60)bao bọc cả điện Tường Quang, Quán Trấn Vũ và chùa Kim
Cổ Thiên Hoa
Từ năm 1516 đến năm 1527 là năm nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê kinh thành Thăng Long chìm trong loạn lạc Hầu hết các cung điện kho tàng đền chùa cũng như phường phố bị thiêu đốt tàn phá nhiều lần Trong nửa cuối thế kỷ 16, cục diện Nam Bắc triều với một bên là nhà Mạc và một bên là Lê-Trịnh diễn ra quyết liệt với ưu thế ngày càng thuộc
về phe Nam triều Họ Trịnh lần lượt chiếm được nhiều tỉnh phía bắc như Ninh Bình,
Trang 6Hà Nam, Bắc Ninh và đánh đến tận Thăng Long Nhà Mạc phải rời bỏ kinh thành chạy lánh nạn nơi này nơi khác Thăng Long ngày một điêu tàn Đến năm 1585, không chịu nổi kiếp sống lưu vong trường kỳ như vậy, Mạc Mậu Hợp quyết định trở lại Thăng Long Một đợt xây dựng đại quy mô được khởi động Từ đó về sau cũng không có lần nào Hoàng Thành được xây dựng quy mô như thế nữa [5]
Năm 1599 Trịnh Tùng đuổi được nhà Mạc lên Cao Bằng tiến về tiếp quản Thăng Long Hoàng Thành được tu sửa trong một tháng để đón vua Lê ra Rồi từ ấy trở đi những cung điện mới xây ở đều nằm trong phủ Chúa Hoàng Thành bị bỏ hoang phế nhiều
Giai đoạn từ kinh thành Thăng Long sang tỉnh Hà Nội
Bản đồ Hà Nội năm 1873 với khu vực thành cổ ở sát Hồ Tây
Năm 1788, Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị đem đại quân 29 vạn người sang chiếm Thăng Long không tốn một hòn tên mũi đạn Dựa thế quân Thanh Lê Chiêu Thống điên cuồng trả thù họ Trịnh Phủ chúa bị Lê Chiêu Thống đốt trụi cháy ròng rã một tuần mới hết Tất cả những gì liên quan đến chúa Trịnh ở Thăng Long bị phá sạch Kinh thành lại một lần nữa ra tro Đầu năm 1789, Quang Trung Nguyễn Huệ
ra Bắc lần thứ ba đánh tan quân Thanh, Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, triều Hậu Lê kết thúc, Quang Trung định đô ở Phú Xuân Thăng Long chỉ còn là Bắc thành Năm 1802 sau khi tiêu diệt xong Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế Kinh đô vẫn được đặt ở Phú Xuân Thăng Long vẫn mang tên gọi là Thăng Long nhưng chữ "Long"
Trang 7là rồng bị chuyển thành chữ "Long" nghĩa là thịnh vượng ý rằng nhà vua không còn ở đấy Đồng thời những gì còn sót lại của Hoàng Thành sau những trận đại hủy diệt cuối thế kỉ 18 cũng lần lượt bị các đời vua nhà Nguyễn chuyển nốt vào Phú Xuân phục vụ cho công cuộc xây dưng kinh thành mới Chỉ duy có điện Kính Thiên và Hậu Lâu được giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi Ngự giá Bắc thành [6]
Năm 1805, Gia Long cho phá bỏ tường của Hoàng Thành cũ vì cho rằng đây chỉ còn là Trấn Bắc thành mà Hoàng Thành Thăng Long thì rộng lớn quá Gia Long cho xây dựng thành mới theo kiểu Vauban của Pháp Về quy mô thì nhỏ hơn thành cũ nhiều
Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính lớn Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội Cái tên này tồn tại cho đến năm 1888 khi nhà Nguyễn chính thức nhượng hẳn Hà Nội cho Pháp Người Pháp đổi Hà Nội thành thành phố Đến khi chiếm xong toàn Đông Dương họ lại chọn đây là thủ đô của Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp Thành Hà Nội bị phá đi hoàn toàn để lấy đất làm công sở và trại lính cho người Pháp Ngoại trừ cửa Bắc và cột cờ những gì còn sót lại của thành Hà Nội đến hôm nay chỉ là di chỉ khảo cổ và phục dựng
Giai đoạn tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn
Thành Hà Nội do Gia Long xây dựng cũng làm theo thể thức các tỉnh thành khác và điều chủ yếu là không được to rộng hơn Phú Xuân Thành vuông xây theo kiểu Vauban của Pháp Thành hình vuông mỗi bề chừng một cây số xung quanh là hào nước sâu Bốn bức tường thành tương ứng với bốn con phố hiện nay là: phố Phan Đình Phùng ở phía Bắc, phố Lý Nam Đế ở phía Đông, phố Trần Phú ở phía Nam, đường Hùng Vương ở phía Tây
Tường thành xây bằng gạch hộp chân thành xây băng đá xanh và đá ong Tường cao 1trượng 1thước, dày 4 trượng Thành mở ra 5 cửa là: cửa Đông (tương ứng với phố cửa Đông bây giờ), cửa Tây (tương ứng với phố Bắc Sơn hiện nay), cửa Bắc (nay vẫn còn), cửa Tây Nam (tương ứng với chợ Cửa Nam hiện nay), cửa Đông Nam (tương ứng với đoạn giao phố Điện Biên Phủ và Nguyễn Thái Học bây giờ) Đường vào cửa xây vòm xuyên qua tường thành dài 23 m Trên mỗi cửa có lầu canh gọi là thú lâu
Xung quanh tường thành là một dải đất rộng 6-7m rồi đến một con hào rộng 15-16 m, sâu 5 m thông với sông Tô Lịch và sông Hồng Hào lúc nào cũng có nước nhưng thường chỉ cao khoảng 1 m [7]
Phía ngoài các cổng thành có xây một hàng tường đắp liền trên bờ hào gọi là Dương mã thành, dài 2trượng 9 thước, cao 7 thước 5 tấc Các Dương mã thành đều cố một cửa bên gọi là Nhân Môn Từ ngoài thành đi vào đều phải đi qua Nhân Môn rồi mới đến cổng thành Phía trong thành được bố trí như sau:
Trang 8Ở trung tâm thành là điện Kính Thiên được xây dựng từ thời Lê trên núi Nùng Điện dựng trên những cột gỗ lim lớn người ôm không xuể Thềm điện có hai đôi rồng đá rất đẹp cũng từ thời Lê Sau điện này bị người Pháp phá hủy và xây trên nền cũ tòa nhà Con Rồng để làm trụ sở pháo binh Pháp Sau năm 1954 nhà con Rồng lại trở thành trụ sở của
Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam Đây cũng chính là nơi diễn ra cuộc họp Bộ chính trị mở rộng ngày 21 tháng 3 năm 1975 hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong hai năm 75-76
Phía đông thành là nhiệm sở của Tổng trấn Bắc thành
Phía tây là kho thóc, kho tiền, và dinh bố chính là viên quan phụ trách những kho ấy Năm 1812 dựng Cột cờ Hà Nội ở phía nam thành
Năm 1835, vì cho răng thành Hà Nội cao hơn kinh thành Huế, Minh Mạng cho xén bớt
1 thước 8 tấc, thành Hà Nội chỉ còn cao chừng 5 m
Năm 1848, vua Tự Đức cho tháo dỡ hết những cung điện còn lại ở Hà Nội chuyển vào Huế [8]
Các di tích tiêu biểu
Phạm vi di sản thế giới được công nhận là 20 ha (trên tổng số 140 ha của Hoàng thành[9]) gồm khu khảo cổ ở số 18 đường Hoàng Diệu và khu vực được giới hạn bởi 4 tuyến đường Điện Biên Phủ, Nguyễn Tri Phương, Phan Đình Phùng và Hoàng Diệu.[10] Các di tích tiêu biểu của khu di tích:
Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu
Di tích này bao gồm tầng dưới cùng là một phần bên phía đông của thành Đại La dưới thời Cao Biền, nhà Đường, tầng trên là cung điện nhà Lý và nhà Trần, tiếp theo là một phần trung tâm của đông cung nhà Lê và trên cùng là một phần của trung tâm tòa thành tỉnh Hà Nội thế kỷ 19
Bề mặt Lý-Trần ở tầng hai có rất nhiều hiện vật được phát hiện, như những nền cung điện, có kích thước một chiều hơn 60 mét, chiều kia 27 mét Có 40 chân cột, rồi cả giếng
cổ, gạch, phù điêu Có tượng rồng, phượng mà được các nhà nghiên cứu mỹ thuật khẳng định là mô típ hoa văn thời Lý Rồi đến những tầng lớp bên trên, thời Lê, Nguyễn đều tìm được nhiều hiện vật Tổng cộng là ba triệu hiện vật Khi tiến hành khai quật ở hố B16 thuộc địa điểm dự kiến xây dựng toà nhà Quốc hội mới, Viện khảo cổ học đã phát hiện một toà lâu đài 3 tầng lầu, 4 mái, dạng hình tháp toạ lạc trên một diện tích xấp xỉ
1000 m2 thuộc hệ thống các cung điện Thăng Long xưa Theo đánh giá thì đây là công trình đầu tiên, có tầm cỡ và giá trị nhất được tìm thấy từ trước đến nay Việc phát hiện
Trang 9ra lâu đài này được coi là bằng chứng rõ ràng nhất về sự hoành tráng của kinh thành Thăng Long từ thời Lý-Trần Mặc dù trước đây các nhà khảo cổ đã đoán định được di chỉ này nằm trong khu vực hoàng thành, thậm chí là cấm thành Thăng Long suốt từ thời
Lý, Trần đến Lê nhưng do tiến hành khai quật quá nhanh khiến cho nhiều tầng lớp kiến trúc không thể hiện rõ [11]
Giếng nước thời Trần, gạch ghép rất kỹ thuật và kiên cố
Giai đoạn đầu, tại các hố A1, A1MR, A2, A2MR, A3, A4, A9, A10, A11, A12, A13 trong các lớp đất ở độ sâu trung bình trên dưới – 1,50 m so với “cốt” cao độ của mặt bậc thềm đá Đoan Môn, xuất lộ những ô sỏi trộn lẫn đất sét Sỏi ở đây khá thống nhất về kích thước, chỉ khoảng bằng hoặc to hơn đầu ngón chân cái, chứng tỏ đã được chọn lọc Hiện vật thu được trong các lớp đất này được xác định có niên đại thời Lý Các ô sỏi này thường có hình gần vuông, mỗi cạnh khoảng 1,30 m và ăn sâu xuống các lớp dưới, dày trên dưới 1,00 m Điều này chứng tỏ đây là các hố đào có chủ đích để đầm - nhồi sỏi cuộn với đất sét Đáy của các hố sỏi này nằm trong lớp đất chứa các hiện vật được xác định có niên đại Đinh - Tiền Lê
Các ô sỏi nói trên xuất hiện trong các hố từ A1 đến A18 Tổng cộng có tất cả 40 ô sỏi, xếp thành 04 hàng dọc (hai hàng phía đông có 10 ô trong một hàng, hai hàng phía tây mỗi hàng chỉ có 09 ô) Có lẽ đây chính lá các hố sỏi gia cố dưới các chân tảng đá kê dưới chân các cột Nói chính xác, theo ngôn ngữ kiến trúc – xây dựng, đó là các móng trụ Kết quả đo đạc đã giúp khẳng định đây là phế tích của một kiến trúc có bộ khung chịu lực bằng gỗ có 04 hàng chân cột Khoảng cách giữa các cột Quân với các cột Cái
là khoảng 3,00 m Khoảng cách giữa các cột Cái là khoảng 6,00 m Từ Bắc xuống Nam
đã xác định được 10 vì, nghĩa là ít nhất kiến trúc này có 09 gian Tuy nhiên, chưa thể khẳng định về số gian bởi dấu vết của kiến trúc này còn phát triển kéo dài về phía Bắc, ngoài khu vực khai quật Bước gian của kiến trúc này rất lớn, khoảng 5,80 m – 6,00 m Trên thực tế, bước gian của các di tích kiến trúc bằng gỗ cổ truyền hiện còn đứng vững trên mặt đất thường nhỏ hơn
Chưa lý giải được nguyên nhân của sự chênh lệch về số lượng các móng trụ của các hàng móng trụ phía Tây nhưng ở đây chắc chắn đã có 04 móng trụ sỏi gia cố cho 01
Trang 10chân tảng cột Cái và 03 chân tảng cột Quân Khoảng cách giữa hai hàng móng trụ sỏi cuối cùng chỉ là 4,1 m chứng tỏ đây chính là không gian của chái phía Nam Cách tim của các móng trụ gia cố chân tảng cột Quân phía Đông khoảng 4,5 m và chạy dài suốt chiều rộng của “toà nhà nhiều gian” nói trên còn thấy xuất lộ một cống thoát nước được xây-xếp bằng gạch (hoàn toàn không thấy dấu vết của chất kết dính dạng vôi vữa), lòng cống rộng 0,17 m – sâu 0,20 m Ngoài lớp gạch đặt nằm làm đáy, hai bên thành của rãnh thoát nước này được xếp nghiêng hai lớp gạch Kích thước trung bình của gạch ở đây
là 0,36 m x 0,20 m x 0,05 m) Về phía Đông, sát cạnh cống thoát nước này là một thềm gạch rộng 0,76 m chạy dọc suốt chiều dài đường cống Gạch lát thềm là gạch vuông 0, 38m x 0,38 m x 0,07m Có chỗ còn lát lẫn cả gạch in hoa
Một phần của khu di tích 18 Hoàng Diệu
Cách tim của các móng trụ gia cố chân tảng cột Quân phía tây khoảng 2, 5m cũng xuất lộ một cống thoát nước khác Dấu vết của cống phía tây bị đứt quãng ở góc Tây Nam “toà nhà nhiều gian”, khu vực bị mất 04 móng trụ gia cố chân tảng Gạch xây-xếp cống thoát nước này là loại chuyên dụng, được sản xuất chỉ để dùng làm cống-rãnh Các viên dùng lát đáy có mặt cắt hình thang cân Những viên dựng hai bên thành có hình bình hành Với hình dáng đặc biệt như vậy nên chỉ cần đào rãnh, đặt các viên gạch chuyên dụng này xuống là thành cống Cách tim của các hố sỏi gia cố chân tảng cột Quân phía nam khoảng 4,5 m lại cũng xuất lộ một đoạn cống xây xếp bằng gạch chuyên dụng tương
tự Các đoạn cống xây xếp bằng gạch chuyên dụng phía tây và phía nam “toà nhà nhiều gian” nếu còn nguyên vẹn sẽ “bắt” vuông góc chái Tây Nam Các đường cống này chính
là các rãnh thoát nước mưa của “toà nhà nhiều gian” Các cống này đều không có nắp
để có thể hứng nước mưa rơi thẳng xuống từ hàng ngói lợp cuối cùng của mái Nghĩa
là các rãnh thoát nước mưa này chính là giới hạn của mặt bằng mái Nói cách khác, số
đo giữa các rãnh thoát nước này cho biết về chiều rộng và chiều dài của công trình kiến trúc Khoảng cách từ tim rãnh thoát nước phía Tây đến tim rãnh thoát nước phía Đông
là 17,65 m Đó chính là kích thước chiều rộng của “toà nhà nhiều gian” này Chiều dài của kiến trúc này hiện chưa khẳng định được Nhưng nếu giả định “toà nhà nhiều gian”
có 09 gian thì kích thước này sẽ là khoảng 67 m Theo số đo, phế tích này cho thấy một công trình kiến trúc to lớn theo đúng nghĩa đen Tuy nhiên chưa thể xác định công năng của kiến trúc này Chỉ biết rằng “toà nhà nhiều gian” này chạy dài theo trục Bắc – Nam,
mở cửa ra cả hai hướng Đông và Tây
Về phía Tây của toà nhà nhiều gian, cách tim các móng trụ sỏi gia cố hàng chân tảng cột Quân phía tây 4, 90m, đã tìm thấy những móng trụ gia cố chân tảng khác Vật liệu