ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LẠI THỊ LAN ANH SỬ DỤNG DI SẢN HOÀNG THÀNH THĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN BÍNH, HUY
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LẠI THỊ LAN ANH
SỬ DỤNG DI SẢN HOÀNG THÀNH THĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN BÍNH,
HUYỆN VỤ BẢN TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LẠI THỊ LAN ANH
SỬ DỤNG DI SẢN HOÀNG THÀNH THĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN BÍNH,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Sư phạm,các thầy cô trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, thầy cô và học sinh trường THPT Nguyễn Bính huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Thanh Tú- người đã
tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn Sự chỉ bảo ân cần của cô là nguồn động viên giúp em thực hiện đề tài này
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân, bạn
bè đồng nghiệp cũng như bạn bè trong nhóm Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử đã tận tình giúp đỡ, cổ vũ, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Do hạn chế về kỹ năng nghiên cứu khoa học của bản thân cũng như điều kiện khách quan không cho phép nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Chính vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Học viên thực hiện
Lại Thị Lan Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Giả thuyết khoa học 6
7 Đóng góp của đề tài 6
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
9 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬỞ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Khái niệm về di sản văn hóa 7
1.1.2 Đặc điểm của di sản văn hóa Việt Nam 10
1.1.3 Phân loại di sản 11
1.1.4 Vai trò của việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 ở trường phổ thông 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Thực trạng sử dụng di sản văn hóa trong dạy học Lịch sử dân tộc 17
Trang 61.2.2 Thực trạng sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học
Lịch sử Việt Nam lớp 10 18
Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2:CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG DI SẢN HOÀNG THÀNHTHĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN BÍNH,HUYỆN VỤ BẢN TỈNH NAM ĐỊNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 29
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung chương trình lịch sử Việt Nam lớp 10 – chương trình chuẩn ở trường Trung học Phổ thông 29
2.1.1 Vị trí 29
2.1.2 Mục tiêu 29
2.1.3 Nội dung 31
2.2 Khảo sát nguồn tài liệu ở di sản Hoàng Thành Thăng Long cần và có thể sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 trường trung học phổ thông 34
2.2.1 Giới thiệu chung về khu trung tâm di sản Hoàng thành Thăng Long 34
2.2.2 Một số nội dung tài liệu ở di sản Hoàng Thành Thăng Long có thể sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 trường trung học phổ thông 38
2.3 Những nguyên tắc sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học lịch sử ở trường Trung học Phổ thông 55
2.3.1 Khai thác tính trực quan sinh động của di sản Hoàng thành Thăng Long 55
2.3.2 Đảm bảo tính khoa học, sư phạm 58
2.3.3 Phát huy tính tích cực trong nhận thức của học sinh 60
Trang 72.4 Các biện pháp sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Bính,
huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định 62
2.4.1 Sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long để tạo biểu tượng về các sự kiện lịch sử cơ bản 62
2.4.2 Sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long để tiến hành tổ chức thảo luận nhóm 69
2.4.3 Sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long để tiến hành dạy học dự án 73
2.5 Thực nghiệm sư phạm 79
2.5.1 Mục đích thực nghiệm 79
2.5.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 80
2.5.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 80
2.5.4 Phân tích kết quả thực nghiệm 80
Tiểu kết chương 2 285
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 287
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 91
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Mức độ giáo viên sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 23 Bảng 1.2 Kết quả điều tra học sinh về việc thiết kế các hoạt động học tập
có sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long 24 Bảng 2.1 Nội dung các tài liệu về di sản Hoàng thành Thăng Long có thể
sử dụng trong chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10 38 Bảng 2.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 82 Bảng 2.3 Bảng tổng hợp phân loại học sinh theo kết quả điểm kiểm tra (%) 82 Bảng 2.4 Độ chênh lệch điểm kiểm tra giữa lớp thực nghiệmvà lớp đối chứng 83
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Quan niệm của giáo viên về khái niệm di sản văn hóa 21 Biểu đồ 1.2 Biểu đồ đánh giá mức độ cần thiết của việc sử dụng di sảnHoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 22 Biểu đồ 2.1: So sánh kết quả giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 82
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập hiện nay, công tác giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc cho thế hệ trẻ luôn được chú trọng trong các nhà trường phổ thông Trong số các môn học đó, Lịch sử có nhiều ưu thế và ý nghĩa quan trọng góp phần giáo dục thế hệ trẻ theo lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười
đã nhấn mạnh việc giáo dục lịch sử dân tộc, coi lịch sử là tài liệu giáo khoa số một trong nhà trường.Tuy nhiên, thực tế việc dạy và học Lịch sử còn có những hạn chế so với mong đợi của xã hội Thực tiễn nhiều học sinh không ham thích hoặc thờ ơ với việc học Lịch sử Thực trạng nàyđã và đang gióng lên hồi chuông báo động và cần có sự thay đổi nhanh chóng nhưng hợp lý, cẩn trọng đối với việc giảng dạy và học tập môn Lịch sử Đặc biệt, vấn đề nâng cao sự hiểu biết của học sinh theo cách tự nhiên nhất nhưng phải hấp dẫn, đưa người học vào tâm thế chủ động, sáng tạo còn chưa thực sự phát huy hiệu quả Chính vì vậy, chúng ta cần có những bước cải tiến và đổi mới nội dung và phương pháp dạy học bộ môn mang tính cấp bách Quá trình này được tiến hành thường xuyên, đồng bộ, trong đó cần tăng cường sử dụng các tài liệu trực quan Một trong số đó chính là sử dụng di sản văn hóa Đây không chỉ là một loại tài liệu lịch sử vật chất quý hiếm, một bằng chứng khoa học, trung thực về quá khứ mà còn là một loại tư liệu dạy học bộ môn đem lại hiệu quả cao
Đầu năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hóa Thể thao đã có văn bản hướng dẫn về việc sử dụng di sản văn hóa vào dạy học, được thực hiện thí điểm tại 7 địa phương: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam với ba môn Lịch sử, Địa và Âm nhạc Tại Hội thảo “Chương trình giáo dục di sản trong nhà trường tại Việt Nam” diễn ra vào ngày 07/03/2012 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển nhấn mạnh: “Giáo dục di sản đã và
Trang 11đang từng bước trở thành yêu cầu, nhiệm vụ, động lực đối với các trường phổ thông, góp phần quan trọng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở Việt Nam” [29, tr 161]
Các nước trên thế giới ngày càng chú trọng đến công tác khai thác và
sử dụng di sản văn hóa vào nhiều lĩnh vực Với chiều dài lịch sử đấu tranh anh hùng, Việt Nam có nhiều loại di sản khác nhau và đem lại hiệu quả giáo dục Một trong số đó, khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long được công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2009 là nguồn tài liệu rất quan trọng Khu di sản bao gồm Di tích Khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và Trục chính tâm Hoàng thành Thăng Long đã tạo nên một quần thể thống nhất, có giá trị về lịch sử bởi đây từng là Kinh đô của quốc gia Đại Việt từ thế kỉ XII đến thế kỉ XVIII Vì vậy, vấn đề này là đề tài của nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả trong và ngoài nước Nhiều khía cạnh khác của vấn đề được đề cập và giải quyết Tuy nhiên, những nghiên cứu trong nước còn hạn chế về vấn đề của luận văn ở lĩnh vực phương pháp dạy học lịch sử, cụ thể là phương pháp
sử dụng di sản trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
Với những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Sử dụng di sản
Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam Lớp 10 trường trung học phổ thông Nguyễn Bính, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định ” nhằm đề
xuất các biện pháp sử dụng nguồn tài liệu quý giá này theo hướng dạy học đổi mới, sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử ở trường THPT
và góp phần vào các nghiên cứu về bộ môn phương pháp dạy học Lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu vấn đề về di sản Hoàng thành Thăng Long dưới nhiều góc độ khác nhau đã được giải quyết trong nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước.Với phạm vi và tính chất của đề tài chúng tôi tập trung tìm hiểu hai vấn đề lớn như sau:
- Vị trí và ý nghĩa của di sản Hoàng thành Thăng Long:
Trang 12Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập cụ thể và chi tiết về khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long Có thể kể tên một số tác phẩm tiêu biểu
như: “Những hiểu biết mới về thành Thăng Long” của Đỗ Văn Ninh đăng trên
tạp chí Khảo cổ học (2004 - số 4, tr 21-35) Bài viết cung cấp thêm những thông tin về các đợt khai quật khảo cổ học gần nhất trong khu Hoàng thành Thăng Long, giúp độc giả có thêm cứ liệu để truy tìm vị trí Hoàng thành thủa ban đầu Trên cơ sở các hiện vật khảo cổ học và việc phát lộ khu di tích Hoàng thành Thăng Long ở 18 Hoàng Diệu, tác giả Nguyễn Quang Ngọc trên
tạp chí Nghiên cứu lịch sử (2005 - Số 2 tr 10-15) bàn về phạm vi, vị trí của
Hoàng thành và Cung thành ở các triều đại Lý - Trần – Lê Tác giả Nguyễn
Thừa Hỷ trong: “Thăng Long Hà Nội thế kỷ XVII – XVIII – XIX”(Hội Sử học
Việt Nam năm 1993) đã trình bày nghiên cứu toàn diện về kinh tế, chính trị
và xã hội của Thăng Long Hà Nội xưa, góp phần tạo dựng lại lịch sử của chính bản thân nó và cũng để hiểu thêm về cấu trúc đô thị trong những thế kỷ qua Đặc biệt, nhiều kết quả khai quật Khảo cổ học khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã đoàn khai quật báo cáo chi tiết trong Hội nghị thông báo Khảo cổ học lần thứ 50 (từ ngày 16 đến 18 tháng 9 năm 2015) diễn ra tại thành phố Huế Bên cạnh đó, nhiều đầu sách đề cập tới sự hiện diện của Hoàng thành Thăng Long trong lịch sử dân tộc như: Lâm Thị Mỹ Dung,
Nguyễn Gia Đối, Nguyễn Ngọc Thơ với “Di sản lịch sử và những hướng tiếp
cận mới”, Nxb Thế giới, 2011; Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh: “Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội”, Nxb Hà Nội, 2011; Bùi
Đẹp với: “Di sản thế giới tại Việt Nam”, tập 1, Nxb Trẻ - thành phố Hồ Chí
Minh, 2012
- Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử:
Các công trình nghiên cứu của tâm lý học, giáo dục học như: “Tư duy
học sinh”, (1982) của Sácđacốp, Nxb Giáo dục, Hà Nội; “Phát triển tư duy học sinh”, (1976) của M.A.Lexeep, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Phan Ngọc Liên
(cb), (2009), Phương pháp dạy học Lịch sử, tập 1, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà
Trang 13Nội; Nguyễn Thị Côi, (2008), Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả
dạy học lịch sử ở trường phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội; Phan
Ngọc Liên, Trần Văn Trị (cb), (2004), Phương pháp dạy học Lịch sử, Nxb
Giáo dục, Hà Nội… đã trình bày những cơ sở lý luận dạy học, nhất là việc sử dụng các phương tiện trực quan và vai trò của nó trong dạy học
Các công trình về lý luận dạy học lịch sử đề cập tới việc dạy học lịch sử
sử dụng di sản, di tích trong nhà trường phổ thông như: “Chuẩn bị giờ học
lịch sử như thế nào?” của N.G.Đairi, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001; Nguyễn
Văn Huy, Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị di sản văn hóa, Quy trình
giáo dục trải nghiệm di sản trong nhà trường; Trần Thị Thu Thủy, Nguyễn
Xuân Trường, Nguyễn Đức Tăng (2004), Các bước xây dựng kế hoạch dạy
học có sử dụng di sản văn hóa phi vật thể, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Hoàng
Thanh Hải với Di tích lịch sử và việc giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông
trên Tạp chí Xưa và Nay (tháng 4/1996, tr.6-7) Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành: Dạy và Học ngày nay, tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, Xưa và Nay… và một số báo cáo khoa học trong các hội thảo khoa học Đây thực sự là những nguồn tài liệu tham khảo quý giá giúp tác giả
có những gợi ý giải quyết vấn đề của đề tài đặt ra
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình sử dụng di sản trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam (lớp 10 – chương trình chuẩn) ở trường THPT nói chung, trường THPT Nguyễn Bính, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định nói riêng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về hình thức tổ chức dạy học: tập trung vào bài học nội khóa
Về phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm: tiến hành tại lớp 10, trường THPT Nguyễn Bính, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 14Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10, luận văn xác định rõ những nguyên tắc, đặc điểm của phương tiện trực quan này, đồng thời đề xuất các biện pháp sử dụng di sản trong bài dạy phù hợp với đặc điểm học sinh THPT nói chung, học sinh trường THPT Nguyễn Bính, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định nói riêng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ s ở lý luận của việc sử dụng di sản và những yêu cầu cần
thiết khi sử dụng di sản vào dạy học môn Lịch sử
- Khảo sát, đánh giá thực trạng sử dụng di sản nói chung, sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long nói riêng trong dạy học môn Lịch sử
- Nghiên cứu nội dung phần Lịch sử Việt Nam lớp 10 sử dụng di sảnHoàng thành Thăng Long và định hướng biện pháp sử dụng di sản theo hướng dạy học tích cực
- Tiến hành thực nghiệm, làm cơ sở cho việc rút ra các kết luận khoa học, đóng góp vào sự phát triển của lý luận và phương pháp dạy học Lịch sử
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về lịch sử, giáo dục
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết: đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu sách báo, tạp
chí, internet… về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học Lịch sử; phân tích nội dung chương trình, sách giáo khoa lớp 10
- Nghiên cứu thực tiễn: quan sát, dự giờ, trao đổi với giáo viên, học sinh,
điều tra xã hội học để đánh giá hiểu biết về di sản nói chung và thực trạng sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long nói riêng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT; Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra, đối chứng kết quả nghiên cứu của luận văn
Trang 156 Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên sử dụng di sản văn hóa nói chung và di sản Hoàng thành Thăng Long nói riêng trong dạy học Lịch sử theo hướng dạy học tích cực sẽ đáp ứng được mục tiêu dạy học lịch sử, đặc biệt dạy học phần Lịch sử Việt Nam (lớp 10 - chương trình chuẩn) và góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay
7 Đóng góp của đề tài
Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc sử dụng di sản trong dạy học Lịch sử ở trường Trung học phổ thông
- Đánh giá được thực trạng sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long
- Đề xuất biện pháp sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long theo hướng dạy học tích cực
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: làm phong phú thêm lí luận phương pháp dạy học
môn Lịch sử nói chung và vấn đề sử dụng di sản trong dạy học lịch sử ở trường THPT nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên các
trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm, Đại học Giáo dục; giáo viên bộ môn Lịch
sử và bản thân tác giả luận văn vận dụng trong quá trình dạy học Lịch sử ở trường THPT
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng di sản Hoàng
thành Thăng Long trong dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông
Chương 2: Các biện pháp sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 ở THPT Nguyễn Bính, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
DI SẢN HOÀNG THÀNH THĂNG LONG TRONG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬỞ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về di sản văn hóa
Khái niệm văn hóa
Trên dải đất hình chữ S, 54 dân tộc đã góp vào nền văn hóa chung một màu sắc độc đáo tạo nên một bức tranh về văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng Con người ra đời, trưởng thành là nhờ văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ văn hóa Giá trị văn hóa của một dân tộc thể hiện bản sắc của dân tộc
ấy Những giá trị văn hóa của con người là thước đo trình độ phát triển và thể hiện đặc tính riêng của mỗi dân tộc
Tuy được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính (theo Trần Ngọc Thêm): theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng:
Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều
rộng, theo không gian hoặc theo thời gian Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó như nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật, Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng văn hóa trên dải đất hình chữ S này Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn như văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn,
Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem bao gồm tất cả những gì
do con người sáng tạo ra Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu
Trang 17hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm đáp ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [24, tr 431] Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO cho biết đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác,
từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa, họp tại Venise năm 1970
Trong lĩnh vực này, khởi đầu định nghĩa của E.B.Tylor trong cuốn Văn
hóa nguyên thủy (Primitive culture) xuất bản ở London năm 1871, đến nay đã
có nhiều định nghĩa khác nhau Vào năm 1952, hai nhà Nhân học người Mỹ là A.Kroeber và C.Kluchkhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn về các định
nghĩa văn hóa với tựa đề Văn hóa – tổng luận phê phán các quan niệm và
định nghĩa, trong đó đã dẫn ra và phân tích 164 định nghĩa về văn hóa Trong
lần xuất bản thứ hai của cuốn sách này, số định nghĩa văn hóa đã tăng lên đến trên 200 định nghĩa Còn hiện nay thì số lượng định nghĩa văn hóa chưa được khẳng định chính xác
Tóm lại, dù số lượng định nghĩa văn hóa có nhiều nhưng tựu chung lại, văn hóa mà theo E.B.Tylor định nghĩa văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng
về tộc người, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội
Với cách hiểu trên cùng những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là
ranh giới giúp con người có điểm khác biệt với các loài động vật khác Văn
hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển
Khái niệm di sản
Trang 18Theo nghĩa Hán Việt: di là để lại, sản là tài sản Di sản văn hóa là
những công trình văn hóa những tài sản văn hóa nổi tiếng của người xưa để lại cho đời sau, biểu trưng cho nền văn minh lúc bấy giờ
Di sản văn hóa là toàn bộ sản phẩm sáng tạo của con người hàm chứa những giá trị về chân – thiện – mỹ, thể hiện dưới dạng biểu tượng và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Di sản đi liền với văn hóa nên cũng mang những đặc trưng của văn hóa, nhưng bản thân nó còn chứa đựng cả vốn kinh nghiệm, tri thức của loài người Di sản văn hóa mang dấu ấn thời gian, là vật chứng cho mỗi sự kiện, mỗi nhân vật hay thời kỳ lịch sử nhất định
Di sản văn hóa là toàn bộ tạo phẩm, chứa đựng trong nó những giá trị
mà con người đã tích lũy được trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, là thành tựu của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau
Theo Công ước Di sản thế giới thì di sản văn hóa là:
+ Các di tích: các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang
đá và các công trình sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật
và khảo học
+ Các di chỉ: các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có
sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo, các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ học có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mĩ, dân tộc học hoặc nhân chủng học
Tóm lại, theo Luật Di sản văn hóa quy định, di sản văn hóa bao gồm di
sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 191.1.2 Đặc điểm của di sản văn hóa Việt Nam
Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay Di sản văn hóa Việt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại Di sản văn hóa Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta
Căn cứ vào nguồn tài liệu lưu trữ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,
cả nước ta hiện có 40.000 di tích Lịch sử - văn hóa Trong đó, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, đã xếp hạng 3152 di tích có giá trị quốc gia, gồm 1468 di tích Lịch sử - văn hóa; 1478 di tích kiến trúc – nghệ thuật; 77 di tích khảo cổ;
- Năm 1994, UNESCO đã chính thức công nhận Vịnh Hạ Long là Disản
thiên nhiên thế giới bởi giá trị ngoại hạng về mặt cảnh quan Năm 2000, vịnh
Hạ Long tiếp tục được UNESCO công nhận lần thứ hai là Di sản địa chất thế giới vì những giá trị độc đáo về địa chất, địa mạo
- Năm 2003, vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng đã được UNESCO
công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới với hệ thống hang động giá trị hàng đầu thế giới với bốn điểm nhất: có sông ngầm dài nhất, có cửa hang cao và rộng nhất, có những bờ cát rộng và đẹp nhất, có những thạch nhũ đẹp nhất
Trang 20Bên cạnh đó còn có 5 di sản văn hóa vật thể của Việt Nam được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa nhân loại:
- Quần thể các công trình kiến trúc cố đô Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên –
Huế được công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1993 Quần thể có diện tích hơn 500ha cùng hệ thống những đền, chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc nguy nga tráng lệ gắn liền với cảnh quan thiên nhiên núi sông bao quanh
- Khu phố cổ Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, được hình thành từ thế kỷ
16 – 17 và là một thương cảng của miền Trung Năm 1999, phố cổ Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới Hiện nay, đây được coi
là một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị thời phong kiến
- Khu di tích Mỹ Sơn là khu vực đền tháp của người Chăm cổ, thuộc xã
Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 68km về hướng Tây – Tây Nam Với hơn 70 ngôi đền tháp mang nhiều phong cách kiến trúc, điêu khắc tiêu biểu của dân tộc Chăm Đây được coi là một trong những trung tâm đền đài chính của Đạo Hinđu ở khu vực Đông Nam Á,
và là di sản duy nhất của thể loại này tại Việt Nam Năm 1999, khu di tích Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới
- Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội được công nhận là
di sản văn hóa thế giới vào đúng dịp mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (2010)
- Thành nhà Hồđược coi là thành đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và
là một trong rất ít còn lại trên thế giới Ngày 27 tháng 6 năm 2011, tại Paris (Pháp), trong kỳ họp lần thứ 35 của Uỷ ban Di sản thế giới, UNESCO đã công nhận thành Nhà Hồ là di sản văn hóa thế giới
1.1.3 Phân loại di sản
Toàn bộ Di sản thế giới được tổ chức UNESCO chia thành 3 nhóm: Di sản văn hóa (nhân tạo); Di sản thiên nhiên thế giới (thiên tạo) và Di sản hỗn hợp (kết hợp giữa thiên tạo và nhân tạo) Trong đó, di sản văn hóa được phân chia thành hai loại là Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 211 Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng
hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác Theo UNESCO, có thể xếp văn hóa phi vật thể thành 14 loại hình như sau:
a Ngôn ngữ
b Lịch sử truyền miệng
c Nghi lễ và tôn giáo truyền thống
d Các hình ảnh, biểu tượng thiêng
e Các loại thiết kế (không mang tính chất thiêng), ngành nghề thủ công truyền thống
j Các phương pháp tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên truyền thống
k Kiến thức về thiên văn học, về y học cổ truyền
l Các phương pháp truyền thống giữa các thế hệ trong cộng đồng Các loại hình kể trên được dựa theo cách phân loại của Prott, Lyndel, Some Considerations on the protection of the Intangible Heritage: Claims and Remedies (Một vài quan điểm về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: Yêu cầu
và giải pháp) Tuy nhiên, các hình thức kể trên chưa bao trùm toàn bộ các di sản văn hóa phi vật thể của loài người Song dựa vào các tiêu chí trên, mỗi quốc gia có thể ra các bảo tồn, cách truyền dạy tài sản vô giá cho các thế hệ
kế tiếp Đối với Việt Nam, theo Luật Di sản văn hóa, chúng ta đang bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể sau đây:
a Tiếng nói, chữ viết
Trang 22b Nghệ thuật trình diễn dân gian
c Tập quán xã hội và tín ngưỡng truyền thống, tri thức dân gian
d Ẩm thực truyền thống ”
2 “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam – thắng cảnh và di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Theo đó:
- Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
- Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết
hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị Lịch sử, thẩm mỹ, khoa học
- Di vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn
hóa, khoa học có từ 100 năm tuổi trở lên
- Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý
hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học” [23, tr 31]
Thực tế, sự phân chia giá trị di sản văn hóa thành phi vật thể và vật thể chỉ có ý nghĩa tương đối Theo Lưu Trần Tiêu cho rằng: “ sự phân chia thành văn hóa phi vật thể và văn hóa vật thể theo dạng tồn tại của sản phẩm sáng tạo chỉ có tính chất tương đối Bởi lẽ dưới cái lớp vỏ vật chất của sản phẩm văn hóa chứa đựng giá trị về năng lực sáng tạo, về thẩm mỹ, về ý nghĩa
và nội dung thể hiện gắn liền với thế giới quan, nhân sinh quan của một cộng đồng Chẳng hạn, kiến trúc của ngôi đình làng với đồ thờ tự là sản phẩm văn hóa vật thể, nhưng còn bao nhiêu giá trị văn hóa khác của một đình làng (công đức của người được tôn vinh là Thành hoàng làng, giá trị thẩm mỹ, ý nghĩa phản ánh qua kiến trúc và những mảng trang trí, cũng như mối quan hệ giữa chúng với môi trường cảnh quan xung quanh, những hội hè, những quy tắc về tập tục sinh hoạt đình làng, ) lại là cái hồn, cái bản chất gắn kết không thể tách rời khỏi cái đình làng vật thể Hay bản thân cơ thể người nghệ nhân
Trang 23là vật thể nhưng óc thẩm mỹ, tài năng sáng tạo, sự khéo léo và tinh tế, những kinh nghiệm và bí quyết hành nghề khiến họ tạo ra được những sản phẩm văn hóa tuyệt vời tồn tại dưới dạng phi vật thể Thế thì làm sao có thể tách rời nhau được” [27, tr 661-662]
Như vậy, các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có mối liên hệ chặt chẽ, bản thân chúng đã hòa quyện với nhau tạo nên một chuỗi di sản quý giá và thế hệ kế tiếp có trách nhiệm gìn giữ và phát triển Giáo dục sử dụng di sản văn hóa (bao gồm vật thể và phi vật thể), di sản thiên nhiên, trong đó bao hàm cả giáo dục truyền thống Theo Nguyễn Văn Huy – Uỷ viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, giáo dục di sản văn hóa chính là giáo dục về những di sản xung quanh chúng ta, các di sản xung quanh trường học Hiện nay giáo dục nói chung và giáo dục Lịch sử nói riêng có nhiều nghĩa mở rộng so với giáo dục truyền thống
1.1.4 Vai trò của việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 ở trường phổ thông
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, việc giáo dục truyền thống hướng cho thế hệ trẻ tới sự phát triển năng lực một cách tự nhiên, chủ động và sáng tạo Lứa tuổi trung học phổ thông là đối tượng rất cần có sự định hướng
rõ ràng để xác định ngành nghề trong tương lai Để thực hiện điều này, bản thân mỗi nhà giáo dục cần từng bước đổi mới phương thức giáo dục truyền thống để phù hợp với tâm lí và nhu cầu của các em Tại Hội thảo “Chương trình giáo dục di sản trong nhà trường tại Việt Nam”, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển đã nhấn mạnh rằnggiáo dục di sản đã và đang từng bước trở thành yêu cầu, nhiệm vụ và động lực đối với các trường phổ thông, góp phần quan trọng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở Việt Nam
Trước hết, mục đích hướng tới của việc giáo dục di sản là nhằm hình thành và nâng cao ý thức tôn trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị của di sản văn hóa, rèn luyện tính chủ động sáng tạo trong đổi mới phương pháp
Trang 24học tập Hơn thế nữa, việc sử dụng di sản văn hóa tác động đến tư tưởng, tình
cảm của học sinh Thông qua di sản dù là vật thật hay qua phim, ảnh, tranh, vẽ, được thầy cô sử dụng trong bài dạy đều góp phần nâng cao tính trực quan, giúp người học mở rộng khả năng tiếp cận đối tượng liên quan tới bài học tồn tại trong di sản Di sản văn hóa cũng là phương tiện quan trọng giúp học sinh rèn một số kỹ năng học tập như: kỹ năng quan sát, thu thập, xử lý thông tin, qua đó tự chiếm lĩnh kiến thức cần thiết thu được trong quá trình tiếp cận với di sản Đồng thời, còn là sự vận dụng kiến thức liên môn để giải thích những hiện tượng, sự vật có trong các di sản văn hóa Thông qua phương pháp sử dụng di sản trong dạy học sẽ làm cho những giá trị về văn hóa, lịch sử, khoa học khởi sắc và có thể truyền cảm hứng cho các em Điều này giúp học sinh không chỉ hiểu về di sản theo nghĩa rộng mà còn giúp các
em tư duy sâu hơn về các giá trị truyền thống, tác động trực tiếp đến tình cảm, đạo đức và hình thành nhân cách
Thứ hai, theo định hướng của Bộ giáo dục và Đào tạo, phương pháp dạy học hiện nay chuyển từ dạy học thụ động sang dạy học phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh làm chuyển biến vị trí người học từ thụ động sang chủ động Việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học bộ môn là một phương
pháp không mới, đây là sự kết hợp giữa yếu tố dạy học truyền thống và hiện đại Do đặc thù bộ môn lịch sử nên khi giáo viên sử dụng các di sản để tăng
sự tin cậy đối với các sự kiện quá khứ là điều tất yếu Di sản văn hóa cũng mang đặc điểm rất phù hợp với yêu cầu của bộ môn qua các hiện vật mang tính chính xác, cụ thể, phong phú mà nó xuất hiện tại các sự kiện Đây là loại tài liệu học sinh cần được tiếp xúc và giúp các em thoát khỏi tình trạng “hiện đại hóa lịch sử” Việc sử dụng di sản còn giúp học sinh có thêm cơ sở vững chắc để nắm vững bản chất các sự kiện, hình thành khái niệm, hiểu rõ quy luật, bài học quan trọng của lịch sử, bước đầu đặt nền tảng cho học sinh thói quen nghiên cứu khoa học
Trang 25Thứ ba, việc sử dụng tài liệu di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học lịch sử còn có ý nghĩa xã hội và ý nghĩa giáo dục Căn cứ vào Luật di
sản văn hóa (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009), di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, hầu hết các sự kiện lịch sử trọng đại đều diễn ra trên mảnh đất Thăng Long Hơn thế nữa, trải qua gần 13 thế kỷ, Hoàng thành Thăng Long vẫn tồn tại như một chứng nhân lịch sử khiến cho cả dân tộc Việt Nam thêm tự hào Chính vì vậy, đặt ra yêu cầu sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 ở trường THPT với các hoạt động học tập đa dạng, phong phú
Với các chức năng chính trị và vai trò mang tính biểu tượng của mình, Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội có liên quan trực tiếp tới rất nhiều sự kiện văn hóa và lịch sử quan trọng, những biểu đạt nghệ thuật cũng như các tư tưởng luân lý, triết học và tôn giáo Các sự kiện diễn ra liên tiếp đánh dấu quá trình hình thành và phát triển của một quốc gia độc lập trong suốt hơn một ngàn năm, bao gồm cả thời kỳ thuộc địa và hai cuộc chiến tranh giành độc lập
và thống nhất Việt Nam thời hiện đại Vua Lý Thái Tổ dời đô tới Thăng Long
là một bước tiến không thể thiếu trong sự nghiệp củng cố nền độc lập của dân tộc Việt Việc lựa chọn địa điểm thành Đại La của chế độ cũ làm nơi xây dựng kinh đô Thăng Long của quốc gia mới độc lập có ý nghĩa khẳng định chủ quyền và quyền độc lập tự chủ của nhân dân ta Trong suốt chiều dài lịch
sử, qua quá trình xây dựng và phát triển kinh đô Thăng Long – Hà Nội, ý nghĩa biểu tượng này không bao giờ bị lãng quên Những sự kiện lịch sử trọng đại đều để lại dấu ấn trong khu di sản Kể từ cuộc chiến giành quyền tự chủ dưới sự cai trị của chính quyền phương Bắc đến những ảnh hưởng của tư tưởng, tôn giáo đều dần khẳng định ý thức dân tộc sâu sắc Đặc biệt, Nho giáo
có ảnh hưởng rất rõ đến hình thái quy hoạch và kiến trúc Thăng Long thời kỳ
Trang 26này Những tiếp xúc và giao thoa văn hóa Đông – Tây, những cuộc đấu tranh giành quyền lực thời thuộc địa cũng đã để lại dấu ấn đậm nét trong khu di sản Với những giá trị tiêu biểu của mình, Hoàng thành Thăng Long là minh chứng cho 10 thế kỷ giao lưu và giao thoa văn hóa từ khắp nơi châu Á
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng sử dụng di sản văn hóa trong dạy học Lịch sử dân tộc
Căn cứ vào thực trạng dạy và học lịch sử hiện nay của nước ta cho thấy còn nhiều vấn đề đặt ra đối với cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và chính bản thân học sinh Theo thống kê của Bộ giáo dục và Đào tạo cho thấy, tại kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2015 chỉ 15,3% học sinh đăng ký môn Lịch sử, thấp nhất trong số các môn tự chọn của kỳ thi Có rất nhiều trường không có thí sinh nào đăng kí môn Lịch sử Vì vậy, tình trạng này có thể lặp lại trong rất nhiều năm tiếp theo nếu chúng ta không có sự thay đổi tích cực từ nhiều phía Theo Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, kỳ thi trung học phổ thông Quốc gia 2016, Hà Nội có 76,137 thí sinh đăng ký tham gia dự thi, trong đó môn Lịch sử có lượng thí sinh đăng ký thấp nhất với 8,954 học sinh (chiếm gần 12% trên tổng số thí sinh đăng ký dự thi) Rất nhiều điểm thi ”trắng” thí sinh dự thi môn Lịch sử như trường THPT Bắc Thăng Long, THPT Đông Anh (Đông Anh), THPT Đa Phúc (Sóc Sơn), THPTQuang Minh (Mê Linh) không có thí sinh dự thi Lịch sử Còn Phòng khảo thí và kiểm định chất lượng, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh công bố số liệu đăng
ký dự thi THPTQuốc gia 2016 là 55,615 học sinh Trong đó, số thí sinh lựa chọn môn Lịch sử chỉ có 3,908 học sinh trên tổng số
Để cải thiện tình trạng trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những định hướng thay đổi, đột phá về cấu trúc câu hỏi, hướng tới cách kiểm tra – đánh giá theo hướng hạn chế việc học lý thuyết, nặng về tái hiện kiến thức Thay vào đó là sự phát huy sức sáng tạo của mỗi cá nhân bằng cách xây dựng phần
tự luận dạng đề mở nhằm buộc học sinh đưa ra ý kiến, quan điểm của học sinh về nhân vật, sự kiện, biến cố lịch sử Theo đánh giá của các giáo viên bộ
Trang 27môn Lịch sử, đề thi Quốc gia 2016 không nặng về kiến thức, có cả câu hỏi mở liên hệ thực tế nên thí sinh không thể học tủ, không được điểm cao nếu không biết tư duy, liên hệ Nhận xét về đề thi, cô Hứa Hoa Mai, giáo viên Lịch sử trường THPTLê Viết Thuật thành phố Vinh – Nghệ An cho biết: đề thi năm nay phần kiến thức bám sát trong sách giáo khoa, trải rộng kiến thức trong suốt chương trình đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức tổng thể chứ không phải một vấn đề, không thể học tủ Mặt khác, đề thi đi theo hướng phân tích khái quát, khuyến khích thí sinh phát huy ý kiến cá nhân và có ý nghĩa đối với thế hệ trẻ Khả năng phân loại thí sinh cao
Dạy học sử dụng di sản văn hóa chưa từng là một phương pháp mới mẻ đối với giáo viên song thực tế lại chưa được sử dụng rộng rãi và có định hướng rõ ràng Ngày 28 tháng 6 năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Hiệp hội UNESCO của Việt Nam tổ chức Hội thảo (cấp chuyên gia) với chủ đề: “Dạy học thông qua di sản” Tại hội thảo, Vụ giáo dục Trung học của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình bày bản dự thảo: “Đề cương tài liệu hướng dẫn dạy học thông qua di sản” Kết cấu đề cương gồm có 3 phần: 1) Dạy học thông qua di sản; 2) Những yêu cầu đối với việc dạy học thông qua di sản; 3) Nội dung, phương pháp và hình thức dạy học thông qua di sản Căn cứ vào bản đề cương nói trên, giáo viên có thể đưa ra những định hướng rõ ràng, thay đổi cách nhìn nhận của học sinh đối với những sự kiện quá khứ thông qua các hiện vật còn tồn tại bên trong di sản Hơn thế nữa, các di sản văn hóa, dù là vật thật hay qua phim ảnh, tranh vẽ, nếu được sử dụng trong dạy học đều góp phần nâng cao tính trực quan, giúp người học mở rộng khả năng tiếp cận với đối tượng, hiện tượng liên quan đến bài học tồn tại trong di sản
1.2.2 Thực trạng sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10
Thực tiễn dạy học Lịch sử đã một phần được thể hiện rõ qua kết quả mỗi
kỳ thi THPT Quốc gia Đó là thực trạng đáng báo động đối với bộ môn, hơn hết, việc thay đổi phương pháp giáo dục là cần thiết Một bộ phận giới trẻ hiện nay
Trang 28không am hiểu về lịch sử văn hóa dân tộc đã trở thành nỗi trăn trở của những người làm công tác giáo dục Để hạn chế tình trạng này, việc đưa giáo dục thông qua di sản vào chương trình chính là cách bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước cho học sinh Bên cạnh đó, điểm mạnh của việc sử dụng di sản văn hóa chính là đặt học sinh vào chính sự kiện, học sinh phải là chủ thể tích cực trong quá trình sử dụng di sản trong giờ học và các hoạt động giáo dục
1.2.2.1 Nội dung khảo sát
Để tổ chức điều tra thực trạng sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 ở trường THPT, chúng tôi đã tập trung khảo sát dựa trên các tiêu chí sau:
Về phía giáo viên
+ Quan niệm của giáo viên về khái niệm di sản văn hóa
+ Quan niệm của giáo viên về vấn đề sử dụng di sản văn hóa trong dạy học môn Lịch sử
+ Đánh giá của giáo viên về mức độ cần thiết của việc sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 ở trường THPT
+ Mức độ giáo viên sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10
+ Cách thức giáo viên thiết kế các hoạt động học tập có sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long
+ Hiệu quả đạt được khi giáo viên sử dụng các hoạt động học tập có sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long
+ Những cách thức mà giáo viên sử dụng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập khi sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học của học sinh
+ Những khó khăn mà giáo viên gặp phải ở trường Trung học phổ thông khi sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt
Nam lớp 10
+ Nguồn thông tin để tìm hiểu về di sản Hoàng thành Thăng Long
Trang 29 Về phía học sinh
+ Quan niệm của học sinh về khái niệm di sản văn hóa
+ Quan niệm của học sinh về vấn đề sử dụng di sản văn hóa trong dạy học môn Lịch sử
+ Đánh giá của học sinh về mức độ cần thiết của việc sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 ở trường THPT
+ Cách thức giáo viên thiết kế các hoạt động học tập có sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long
+ Mức độ hứng thú của học sinh khi giáo viên sử dụng các hoạt động học tập có sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long
+ Những cách thức mà giáo viên sử dụng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập khi sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học của học sinh
+ Những khó khăn mà học sinh gặp phải ở trường THPTkhi tìm hiểu nguồn tài liệu của di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt
Nam lớp 10
+ Nguồn thông tin để tìm hiểu về di sản Hoàng thành Thăng Long
Việc điều tra tiến hành thông qua bộ phiếu hỏi và phỏng vấn giáo viên cũng như học sinh Chúng tôi đã tiến hành tổ chức điều tra với 10 phiếu điều tra giáo viên Lịch sử ở các trường THPT, 110 phiếu điều tra học sinh trên địa bàn các tỉnh và thành phố Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình…
1.2.2.2 Kết quả khảo sát
Trên cơ sở thu thập thông tin và xử lý số liệu đối với giáo viên và học sinh, kết quả thu được như sau:
1) Quan niệm của giáo viên về khái niệm di sản văn hóa
- 45% giáo viên tham gia cuộc điều tra cho rằng: di sản văn hóa bao
gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã được thế giới công nhận
- 30% giáo viên cho rằng: Di sản văn hóa là tài sản quý giá của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại,
có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta
Trang 30- 15% giáo viên tham gia cuộc điều tra cho rằng: Di sản văn hóa bao
gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
- 10% giáo viên tham gia cuộc điều tra có ý kiến khác
Như vậy, về cơ bản giáo viên đã có nhận thức đúng về di sản văn hóa song nhiều giáo viên còn chưa có cách hiểu đầy đủ về vấn đề này
Biểu đồ 1.1 Quan niệm của giáo viên về khái niệm di sản văn hóa
2) Quan niệm của giáo viên về vấn đề sử dụng di sản văn hóa trong dạy học môn Lịch sử
Qua thống kê, có thể đánh giá sơ lược như sau:
+ Không có giáo viên nào cho rằng đây phương pháp giúp học sinh
nâng cao kỹ năng sống, giúp cá nhân và cộng đồng có những hiểu biết về di sản đồng thời tham gia bảo vệ di sản
+ 54.5% giáo viên nhận định rằng đây là cách thức giáo viên tổ chức
cho học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập liên quan tới di sản văn hóa, góp phần bổ sung kiến thức và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, nâng cao hiểu biết bảo vệ, tuyên truyền và có thái độ ứng xử đúng đắn với các di sản
Đáp án A Đáp án B Đáp án C Đáp án D
Đáp án A Đáp án B Đáp án C Đáp án D
Trang 31+ 45.5% giáo viên được hỏi đồng ý với ý kiến đây là phương pháp cải thiện chất lượng giáo dục môn Lịch sử, giúp học sinh tăng cường am hiểu lịch
Biểu đồ 1.2 Biểu đồ đánh giá mức độ cần thiết của việc sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10
Dựa vào biểu đồ nêu trên, chúng tôi nhận thấy: đa số giáo viên cho rằng việc sử dụng di sản Hoàng thành Thăng long trong dạy học môn Lịch sử lớp
10 là rất quan trọng Trong đó, 21.5% giáo viên cho rằng sử dụng di sản này trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 là rất cần thiết; 55.7% giáo viên cho
là cần thiết; 16.7% giáo viên cho là bình thường và 6.1% giáo viên cho rằng đây là việc làm không cần thiết Như vậy, dù nhận thức đúng về di sản văn hóa nhưng nhiều giáo viên vẫn chưa coi trọng sử dụng di sản vào quá trình dạy học, đặc biệt với di sản Hoàng thành Thăng Long
4) Mức độ giáo viên sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học
Lịch sử Việt Nam lớp 10
Rất cần thiết 21.5%
Cần thiết 55.7%
Bình thường 16.7%
Không cần thiết 6.1%
Trang 32Bảng 1.1 Mức độ giáo viên sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long
trongdạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10
Câu 4: Mức độ thường xuyên thầy (cô) sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 như thế nào?
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Không bao giờ
1 Di tích Khảo cổ học 18 Hoàng Diệu 0.0 53.6 46.4 0.0
tính chủ động sáng tạo trong đổi mới phương pháp học tập
Trang 335) Cách thức giáo viên thiết kế các hoạt động học tập có sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng có rất nhiều hoạt động học tập được thiết kế có sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long Kết quả điều tra của học sinh thu được như sau:
Bảng 1.2 Kết quả điều tra học sinh về việc thiết kế các hoạt động
học tập cósử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long
4.Học sinh tìm hiểu về kiến trúc Hoàng thành Thăng Long 27.4 72.6
5 Học sinh đọc sách liên quan tới thềm điện Kính Thiên,
Đoan Môn, Di tích Khảo cổ học 18 Hoàng Diệu 0.0 100 6.Viết bài về chủ đề Lịch sử: “Hành trình di sản” 0.0 100
7 Thảo luận nhóm với chủ đề về: “Bảo tồn và phát huy di sản
8 Tổ chức tham quan Hoàng thành Thăng Long 0.0 100
9 Trình bày bằng sơ đồ Hoàng thành Thăng Long qua các
10 Đóng vai làm hướng dẫn viên giới thiệu về khu di sản
Có thể thấy đây là một di sản khá quen thuộc với nhiều học sinh song các em chưa có điều kiện quan sát trực tiếp mà thường được tiếp xúc qua một
số chương trình truyền hình, Internet, báo, tạp chí,… Hơn nữa, giáo viên
Trang 34không chú ý tới việc sử dụng di sản nên hầu hết các hoạt động dạy học liên quan đến di sản Hoàng thành Thăng Long không được sử dụng và triển khai trong quá trình giảng dạy Lịch sử Việt Nam lớp 10 Do đó, nhiều hoạt động học tập mà chúng tôi đề xuất như: đóng vai làm hướng dẫn viên giới thiệu về khu di sản; xây dựng thư viện ảnh Hoàng thành Thăng Long; đọc sách liên quan tới thềm điện Kính Thiên, Đoan Môn, Di tích Khảo cổ học 18 Hoàng Diệu; viết bài về chủ đề Lịch sử: “Hành trình di sản” được học sinh lựa chọn
là “không”
6) Những khó khăn mà giáo viên/học sinh gặp phải trong quá trình sử dụng
di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10
Thông qua kết quả điều tra cho thấy, trong quá trình dạy học Lịch sử giáo viên rất ít khi thiết kế các hoạt động học tập đa dạng xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong số đó, chúng tôi thu thập được một số nguyên nhân sau:
Về phía giáo viên
+ 63.5% giáo viên cho rằng điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn (máy chiếu, tranh ảnh liên quan, phòng học…) không đáp ứng đủ yêu cầu để
tổ chức các hoạt động học tập phần Lịch sử Việt Nam có sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long Hầu hết giáo viên khẳng định đây là khó khăn chủ yếu đối với quá trình giảng dạy nói chung
+ 24.6% giáo viên tham gia điều tra đồng tình với ý kiến: không có đủ thời gian (số tiết hạn chế trong khi lượng kiến thức tìm hiểu quá nhiều) Việc hạn chế thời gian, số tiết cho mỗi bài dạy tìm hiểu về di sản văn hóa khiến cho giáo viên hạn chế đưa di sản vào bài dạy thêm phong phú, tạo sức hút đối với học sinh
+ Chưa có điều kiện tiếp cận nguồn tài liệu trực tiếp (chiếm 34.5%) là ý kiến mà qua khảo sát chúng tôi thu được từ phía giáo viên Bên cạnh đó, việc không có đủ kinh phí để tổ chức tham quan cũng là một trong những trở ngại của giáo viên khi khai thác di sản Hoàng thành Thăng Long
Về phía học sinh
Trang 35Có tới 61.4% học sinh cho rằng điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn (máy chiếu, tranh ảnh liên quan, phòng học…) Từ đó, học sinh ít được xem tranh ảnh, bản đồ, trang web để tham gia thảo luận nhóm (chiếm 66.5%) Hơn nữa, giáo viên cũng khẳng định, hầu hết học sinh chưa có sự quan tâm đúng mực với môn Lịch sử, coi đây là môn học phụ không cần học nhiều, học để lần sau lên bảng trả bài cho đủ điểm chứ chưa thực sự có hứng thú với môn học Chính thói quen này đã khiến cho vị trí môn Lịch sử giảm sút trong nhiều năm qua Bên cạnh đó còn một số khó khăn như: giáo viên ít giải đáp thắc mắc liên quan đến bài học; lớp học không phù hợp tổ chức hoạt động thảo luận nhóm; thiếu tài liệu tham khảo;…
7) Nguồn thông tin để tìm hiểu về di sản Hoàng thành Thăng Long
Dựa vào kết quả điều tra cho thấy:
+ Việc khai thác thông tin trên Internet là việc làm thường xuyên được học sinh sử dụng (chiếm 78.5%) nhưng hầu như không phục vụ cho mục đích tìm hiểu kiến thức về di sản để hoàn thành nhiệm vụ học tập Hiện nay với nhiều website về nhiều lĩnh vực khác nhau, mạng Internet trở thành một kênh khai thác rất phổ biến, đa dạng và phong phú Chính vì vậy, giáo viên cần lưu
ý cho học sinh về những thông tin trên mạng chưa đủ độ tin cậy, tính khoa học chưa được đáp ứng, cần có sự chọn lọc cho phù hợp với yêu cầu học tập Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số địa chỉ website thường có độ
tin cậy cao hơn, thể hiện phần kí hiệu edu; org; gov; vn
+ Ngoài ra, việc xem các chương trình truyền hình có liên quan đến di sản Hoàng thành Thăng Long; truy cập website của Khu trung tâm di sản Hoàng thành Thăng Long (www.hoangthanhthanglong.vn) để tìm hiểu; trực tiếp tham quan hoặc tham dự một số sự kiện tổ chức tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long;…không được các em quan tâm
Như vậy, từ thực trạng trên chúng tôi cho rằng, việc sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 ở trường trung học phổ thông là cần thiết Giáo viên đã bước đầu có những định hướng
Trang 36đúng đắn trong việc đưa di sản vào các bài dạy kết hợp tổ chức nhiều hoạt động học tập Tuy nhiên đây chỉ là những hoạt động nhỏ nhằm làm thay đổi không khí học tập chứ chưa phải là các hoạt động học tập hướng tới mục đích giáo dục phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc sưu tầm, tìm hiểu, sử dụng di sản văn hóa trong giờ học và các hoạt động giáo dục
Trên thực tế, khi tiến hành bài dạy có sử dụng di sản văn hóa, giáo viên cần phải có nhận thức đúng về khái niệm sử dụng di sản vào dạy học; tránh tình trạng nặng nề, quá tải, không tăng thời lượng chương trình vì di sản được
sử dụng như một phương tiện, nguồn kiến thức để hỗ trợ bài học, làm cho bài học sinh động, gây hứng thú hơn cho học sinh
Về phía học sinh: nhiều ý kiến cho rằng các em không có thời gian cho môn Lịch sử vì phải dành thời gian cho các môn học khối tự nhiên Chính vì vậy, cần thay đổi ngay nếp nghĩ này với những hoạt động học tập đa dạng, khai thác tối đa sức sáng tạo của học sinh Hơn ai hết, chính đối tượng học sinh là nguồn lực mạnh mẽ nhất để tuyên truyền, bảo vệ và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của chính di sản đó, Hoàng thành Thăng Long cũng không nằm ngoài mục đích này Từ thực trạng nêu trên chúng tôi cho rằng, di sản văn hóa, dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều có thể sử dụng trong quá trình giáo dục, dạy học dưới hình thức tạo môi trường; tạo công cụ hoặc là nguồn cung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học, giáo dục Dưới dạng công cụ, thiết bị dạy học, di sản văn hóa giúp cho quá trình học tập của học sinh trở nên hấp dẫn hơn, học sinh hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắc hơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho bản than học sinh.Cũng từ kết quả khảo sát trên phản ánh thực trạng của việc sử dụng
di sản văn hóa trong dạy học bộ môn trường THPTNguyễn Bính, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định hiện nay
Tóm lại, vấn đề sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 ở trường THPTlà rất quan trọng Việc tìm hiểu cơ sở
lý luận và thực tiễn nêu trên là những căn cứ khoa học để chúng tôi thực
Trang 37nghiệm phần tiếp theo của luận văn Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng tôi sẽ tiến hành lựa chọn nội dung tài liệu, xác định các biện pháp sư phạm và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài
Tiểu kết chương 1
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đề cập tới lý luận của việc
sử dụng di sản văn hóa nói chung và di sản Hoàng thành Thăng Long nói riêng trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 trường THPT Trong đó, việc lựa chọn
và sử dụng di sản này có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi bài dạy Lịch sử Việt Nam Học tập gắn liền với di sản chính là một trong những định hướng cần phát triển trong công tác đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại Dựa trên tính khách quan, chúng tôi chú trọng khai thác những mặt tích cực, tiến bộ
đã đạt được của việc sử dụng di sản Hoàng thành đối với công tác giáo dục lịch
sử Chúng tôi nhận thấy rằng cần có những biện pháp khắc phục những thiếu sót, hạn chế để có thể phát huy tốt nhất những điểm mạnh của di sản văn hóa Trên
cơ sở của việc tìm hiểu lý luận và thực tiễn đang diễn ra, chúng tôi tiến hành lựa chọn nội dung, xác định các biện pháp sư phạm và tiến hành thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của đề tài
Trang 38CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG DI SẢN HOÀNG THÀNH
THĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN BÍNH,
HUYỆN VỤ BẢN TỈNH NAM ĐỊNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung chương trình lịch sử Việt Nam lớp 10 – chương trình chuẩn ở trường Trung học Phổ thông
2.1.1 Vị trí
Chương trình môn Lịch sử Việt Nam ở trường THPTgiới thiệu một cách hệ thống về lịch sử dân tộc trải dài từ thời nguyên thủy đến năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, đưa đất nước ta bước sang một thời kỳ mới
Những hiểu biết cơ bản về Lịch sử Việt Nam lớp 10 (chương trình chuẩn) từ nguồn gốc cho đến giữa thế kỉ XIX là cơ sở để học sinh có góc nhìn tổng quát và hệ thống về Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại ở chương trình lớp 11, 12 Với cấu trúc như vậy giúp học sinh có nhận thức đầy đủ kiến thức
về sự xuất hiện của con người tại Việt Nam, cùng với sự phát triển theo hướng
đi lên và mối liên hệ chặt chẽ giữa Lịch sử Việt Nam với Lịch sử thế giới
Di sản Hoàng thành Thăng Long có giá trị lịch sử đặc biệt trong chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10 (chương trình chuẩn) Chính vì vậy, yêu cầu việc sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long cần có những biện pháp
sử dụng di sản phù hợp như: liên hệ với những kiến thức trong sách giáo khoa chưa đề cập, tập trung vào các sự kiện cơ bản và nêu mối liên hệ giữa các sự kiện đó nhằm đảm bảo tính cơ bản và hệ thống của chương trình; khái quát nội dung kiến thức có liên quan đến Hoàng thành Thăng Long theo nội dung bài học, thiết kế các câu hỏi, bài tập phân loại học sinh, chủ đề thảo luận, nhằm hình thành các kĩ năng cơ bản cho học sinh
2.1.2 Mục tiêu
Trang 39Chương trình Lịch sử lớp 10 bao gồm ba phần chính: Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại; Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế
kỷ XIX; Lịch sử thế giới cận đại Phần Lịch sử Việt Nam giữ vị trí chủ yếu trong toàn bộ chương trình Lịch sử lớp 10 Nội dung khái quát bốn giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc từ nguồn gốc cho tới cuối thời kỳ phong kiến (từ thời nguyên thủy đến thế kỷ thứ X, thế kỷ X – XV, thế kỷ XVI – XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX), tổng kết thành tự cơ bản về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Mục tiêu đặt ra cho học sinh sau khi học xong phần Lịch sử Việt Nam:
- Về kiến thức:
+ Nêu được đặc điểm của bốn giai đoạn lịch sử quan trọng của Việt Nam: từ khoảng thế kỷ VII TCN đến thế kỷ thứ X; thế kỷ X – XV; thế kỷ XVI – XVII và nửa đầu thế kỷ XIX trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, quân sự
+ Trình bày được thời gian, ý nghĩa của các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta thời Bắc thuộc, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ khi dựng nước cho đến thế kỷ XVIII
+ Nêu và phân tích được đặc trưng truyền thống yêu nước Việt Nam thời phong kiến
- Về thái độ:
+ Hiểu biết về các thời kỳ đầu của lịch sử dân tộc từ đó nhận thức về quy luật tiến hóa của lịch sử dân tộc
Trang 40+ Nhận thức mối liên hệ giữa các dân tộc trong khu vực Đông Nam Á
và ý thức hợp tác xây dựng văn hóa trong khu vực
+ Nâng cao hiểu biết về di sản văn hóa và ý thức bảo vệ di sản trước thách thức ngày càng cao của thời gian, con người và môi trường
Dựa vào mục tiêu nói chung của chương trình Lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn), giáo viên cần xác định mục tiêu cụ thể hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ để làm cơ sở lựa chọn kiến thức cơ bản, định hướng cho học sinh trong quá trình sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử dân tộc từ nguyên thủy đến giữa thế kỉ XIX
2.1.3 Nội dung
Căn cứ vào phân phối chương trình và Chuẩn kiến thức kĩ năng mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã định hướng cho công tác dạy học Dựa theo hai nguồn tài liệu nêu trên, đồng thời theo mục tiêu chung đề ra, tác giả xác định các nội dung cơ bản của chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10
Chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10 ở trường THPTđược chia làm bốn giai đoạn lớn với những nội dung cơ bản như sau:
1 Nội dung 1: Từ thời kỳ nguyên thủy đến thế kỉ thứ X, nội dung bao gồm:
- Hai giai đoạn phát triển của thời kỳ nguyên thủy trên đất Việt Nam: bầy người nguyên thủy và công xã thị tộc (thời gian tồn tại, địa bàn cư trú, công
cụ lao động, hoạt động kinh tế và tổ chức xã hội)
- Giai đoạn tan rã của công xã thị tộc thể hiện qua mốc thời gian, ý nghĩa của thuật luyện kim và đặc điểm về cuộc sống của các cư dân Phùng Nguyên,
Sa Huỳnh, Đồng Nai
Với nội dung này, giáo viên khơi dậy lòng tự hào về lịch sử lâu đời của dân tộc, ý thức trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng quê hương Những dấu vết đầu tiên của loài người trên đất nước ta ven các con sông lớn chứng tỏ sự phát triển hợp quy luật chung của cả nhân loại
2 Nội dung 2: thời đại dựng nước đầu tiên hình thành các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam: Văn Lang – Âu Lạc, Chămpa, Phù Nam