1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử quan hệ việt nam cuba (1959 2005)

250 644 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 250
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mòn Hồ Chí Minh từ năm 1974 đến đầu năm 1975, góp phần vào thắng lợi hoàntoàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.Như vậy, trong điều kiện và phạm vi tiếp cận đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của mọi quốc gia thì yếu tốquốc tế thường giữ vai trò quan trọng Quan hệ quốc tế cũng như hoạt động ngoạigiao của tất cả các nước, trong đó có Việt Nam, xét đến cùng đều nhằm phục vụ bamục tiêu cơ bản: một là, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổquốc gia; hai là, tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi nhất để phát triển đấtnước; ba là, nâng cao vị thế, mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc tế Về mặt lí luậncũng như thực tiễn, ba mục tiêu ấy tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một thểthống nhất

Quan hệ giữa Việt Nam với tất cả các nước đều nhằm những mục tiêu chung đó.Có điều, trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, cần chú ý là ba mục tiêu nêu trêntrong những thời kỳ khác nhau có sự tập trung chú ý và ưu tiên khác nhau Rõ ràng,

“trước năm 1975, do hoàn cảnh lịch sử, suốt trong một thời gian dài, ngoại giao ViệtNam phải tập trung mọi sức lực phục vụ cho sự nghiệp độc lập dân tộc, thống nhấtđất nước nên nội dung kinh tế trong hoạt động ngoại giao chưa chiếm được vị tríthỏa đáng”[158, tr.33] Từ sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975),

nước nhà hoàn toàn độc lập, thống nhất, mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh được coi là lợi ích cao nhất, đồng thời trên thế giới đang

diễn ra cuộc chạy đua mãnh liệt về kinh tế thì nội dung kinh tế trong công tác ngoạigiao ngày càng nổi trội Điều rất quan trọng để thực hiện nhiệm vụ này là “Ngoạigiao phải thực hiện được mục tiêu đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, theophương châm Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế,phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”[108, tr.36]

Quan hệ Việt Nam - Cuba cũng không phải là ngoại lệ mà nằm trong nhữngkhuynh hướng và quy luật chung đó Việt Nam và Cuba, một nước ở vùng ĐôngNam Á bên bờ Thái Bình Dương, một nước ở trên hải đảo trong vùng biển Caribê

Trang 2

thuộc Đại Tây Dương, xa cách nhau nửa vòng trái đất, có nhiều điểm khác biệt vềtộc người, ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa… Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hainước Việt Nam, Cuba khác biệt nhau tất cả Hai nước vẫn có những điểm giốngnhau cơ bản: đều có quá trình lâu dài bị thực dân, đế quốc xâm lược, thống trị vànhân dân hai nước đã phải tiến hành cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc đầy hisinh gian khổ để giành độc lập, tự do; và đặc biệt, sau khi hoàn thành thắng lợi cuộccách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, ViệtNam và Cuba đã tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Vào cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, khi CNXH ở Đông Âusụp đổ, Liên Xô tan rã thì CNXH ở Việt Nam và Cuba không những đứng vững màcòn qua cơn thử thách cam go có ý nghĩa sinh tử, hai đất nước, hai dân tộc vẫn tiếptục sánh vai vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) Hiện nay, ViệtNam và Cuba là hai nước XHCN ở hai đầu Đông - Tây bán cầu, Việt Nam đang tiếnhành sự nghiệp Đổi mới và Cuba đang tiến hành công cuộc Cải cách đất nước Côngcuộc Đổi mới ở Việt Nam và Cải cách ở Cuba đã và đang giành được những thànhtựu to lớn, toàn diện, góp phần tăng cường thực lực, nâng cao uy tín và vị thế của hainước ở khu vực và trên trường quốc tế

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủquyền dân tộc, đôi bên cùng có lợi và trên tinh thần quốc tế vô sản cao cả đã pháttriển rất mạnh mẽ trong thời gian qua, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, ngoại giao,hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật (KHKT), văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế… mà cơsở của mối quan hệ là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Jose Marti, tư tưởng Hồ ChíMinh và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Đầu thế kỷ XXI, đứng trướcnhững khó khăn, vận hội mới và lịch sử quan hệ Việt Nam - Cuba bước sang trangmới với nhiều hứa hẹn

Tuy hai nước Việt Nam và Cuba có một quá trình quan hệ gắn bó lâu dài và hếtsức mật thiết, nhưng đến nay ở cả Việt Nam và Cuba đều chưa có một công trìnhnào nghiên cứu một cách có hệ thống về mối quan hệ này Đặc biệt, sự nghiên cứu

Trang 3

về mối quan hệ toàn diện giữa hai nước từ năm 1959 đến 2005 đến nay hầu như còn

bỏ ngỏ Do đó, chúng tôi chọn đề tài “Lịch sử quan hệ Việt Nam Cuba (1959 2005)” để thực hiện luận án tiến sĩ, nhằm lấp khoảng trống đó trong Sử học của hai

-nước và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để có thể vận dụng vào việc tăngcường quan hệ bang giao giữa hai nước trong hiện tại và tương lai

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Từ trước đến nay, quan hệ Việt Nam - Cuba ít nhiều đã được một số nhà nghiêncứu trong và ngoài nước quan tâm Sau đây, chúng tôi xin được điểm qua tình hìnhnghiên cứu vấn đề này

2.1 Các công trình trong nước

- Sách Thăm đất nước Cuba anh hùng của tác giả Nguyễn Công Hòa, Nhà xuất

bản (Nxb) Lao Động, Hà Nội, 1961 Nội dung chủ yếu của tập ký sự nhằm nói lêntình hữu nghị sâu sắc, nồng nhiệt giữa hai dân tộc Việt Nam - Cuba và khí thế cáchmạng đang dâng lên vô cùng mạnh mẽ của nhân dân Cuba, đồng thời tập ký sự nàycũng cố gắng đề cập tới vấn đề bản chất và triển vọng của cuộc cách mạng Cuba,điều mà vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, cán bộ và nhân dân ta đang hết sứcchú ý

Sách Lịch sử Cách mạng Cuba – Giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc 1953

-1959 của Phạm Xuân Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1976 “Tuy chỉ tập trung

nghiên cứu một trong những giai đoạn oanh liệt nhất của lịch sử cách mạng Cuba,

nhưng tác giả cuốn sách đã dành Chương mở đầu để giới thiệu khái quát về đất nước,

con người và truyền thống anh hùng bất khuất của nhân dân Cuba, trong đó cómột mục nói về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng yêu nước và cách mạng của JoseMarti”[184, tr.4] Năm 2002 Nxb Khoa học Xã hội tái bản cuốn sách trên “So vớilần xuất bản thứ nhất, lần tái bản này, tác giả đã thêm vào đầu đề cũ của cuốn sách

hai chữ Tìm hiểu để thể hiện đúng tính chất của một công trình nghiên cứu với thái

độ cẩn trọng và khiêm tốn hơn Còn về nội dung, lần xuất bản thứ hai này cơ bản in

Trang 4

lại nguyên văn lần trước, nhưng có sửa chữa, bổ sung một số điểm theo sự góp ý củacác bạn đồng nghiệp”[184, tr.5].

- Sách Việt Nam - Cuba đoàn kết hữu nghị của Trung ương Hội hữu nghị Việt

Nam - Cuba, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 1997 Nội dung của công trình này chủ yếu giớithiệu khái quát lịch sử, đất nước, con người và những thành tựu của cách mạng Cuba,đồng thời ghi lại sơ lược bước đường của mối tình đoàn kết, hữu nghị trong sáng,thủy chung, mẫu mực gắn bó nhân dân hai nước suốt gần bốn mươi năm qua

- Nguyễn Ngọc Mão (1995), Quá trình hình thành và phát triển của phong trào ủng hộ Việt Nam ở Cuba giai đoạn 1959 - 1975, Luận án phó tiến sĩ khoa học lịch sử,

Viện Sử học, Hà Nội Đây là công trình chuyên khảo duy nhất có đề cập quan hệViệt Nam - Cuba mà cho đến thời điểm này chúng tôi đã tiếp cận được Nội dungchủ yếu của Luận án trình bày tương đối hệ thống quá trình hình thành và phát triểncủa phong trào ủng hộ Việt Nam ở Cuba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước giai đoạn 1959 - 1975, nhất là sự ủng hộ về chính trị và tinh thần Qua nhữngdiễn biến trong quá trình nhân dân Cuba ủng hộ Việt Nam, có thể thấy được nguồngốc sâu xa, tính chất và đặc điểm của phong trào đoàn kết đó, đồng thời nổi lên vịtrí, vai trò và ý nghĩa quốc tế của sự nghiệp cách mạng Việt Nam [169, tr.4]

Ngoài ba cuốn sách và một luận án kể trên, một số bài viết sau đây cũng ít nhiềuđề cập đến quan hệ Việt Nam - Cuba ở các giai đoạn với mức độ đậm nhạt khácnhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu Đó là:

- Trần Quỳnh Cư (1967), Mấy nét về Mặt trận nhân dân thế giới chống Mỹ ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân miền Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số

Trang 5

- Nguyễn Minh Phương (1979), Cuba tấm gương sinh động về chủ nghĩa quốc tế vô sản, Tạp chí Cộng sản, số 1 Bài viết chủ yếu đề cập tinh thần quốc tế vô sản cao

cả của Cuba trước và sau thắng lợi của Cách mạng tháng Giêng 1959, đồng thờinhấn mạnh sự giúp đỡ vô tư, hào hiệp của Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba đốivới sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta

- Nguyễn Ngọc Mão: Vài nét về sự ủng hộ của Cuba đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1 (202), 1982; Cuba và Mỹ Latinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2 (221), 1985; Tinh thần Granma và chủ nghĩa quốc tế của Cuba, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 30 năm ngày đổ bộ của con tàu Granma (1956 - 1986).

- Nguyễn Đăng Vinh, Ngô Văn Chung trong bài Quân đội của Hòn đảo Tự do, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, có đề cập sơ lược sự ủng hộ của Cuba đối với

cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta

- Hai bài viết của Ngô Phương Bá và Lý Văn Sáu trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học

nhân kỷ niệm 30 năm ngày Cách mạng Cuba thành công (1-1-1959 - 1-1-1989) doTrung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia tổ chức, có đề cập đến tình đoànkết chiến đấu Việt Nam - Cuba và một vài khía cạnh về cội nguồn và đặc điểm củamối tình đoàn kết đó

- Nguyễn Khắc Sứ (2005), Việt Nam - Cuba: Quan hệ truyền thống, mẫu mực, thủy chung, Tạp chí Cộng sản, số 23, tháng 12-2005.

- Nhân kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cuba, Đỗ

Văn Tài có bài đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 2-12-2005 với tựa đề 45 năm mối tình hữu nghị thủy chung son sắt Việt Nam - Cuba.

Ngoài ra, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 150 ngày sinh Jose Marti (1853 – 2003), Trung ương Hội hữu nghị Việt Nam - Cuba và Trung tâm Khoa học Xã hội vàNhân văn quốc gia đã phối hợp tổ chức cuộc Hội thảo khoa học Mười bản báo cáovà tham luận tại cuộc hội thảo chủ yếu nói về thân thế, sự nghiệp của Jose Marti –nhà yêu nước vĩ đại, nhà tư tưởng cách mạng kiệt xuất, nhà văn hóa lớn, nhà ngoại

Trang 6

28-1-giao thiên tài Đáng chú ý nhất là hai bản tham luận: Những nét tương đồng giữa Jose Marti và Hồ Chí Minh của Hoàng Hiệp và Tư tưởng Jose Marti: Cội nguồn của tình đoàn kết Cuba - Việt Nam của Ngô Phương Bá.

2.2 Các công trình nước ngoài

Theo hiểu biết của chúng tôi, đến nay hầu như chưa có công trình nào của cácnhà khoa học nước ngoài nghiên cứu về quan hệ toàn diện giữa Việt Nam và Cubatrong cả quá trình hay từng giai đoạn lịch sử Chỉ có một số tác phẩm hay bài báo đềcập đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của mối quan hệ Cụ thể:

- Sách Tran Buu Kiem in Cuba Cuadernos de Solida ridad, La Habana, 1969, đề

cập đến chuyến thăm hữu nghị chính thức Cuba tháng 6-1969 của ông Trần BửuKiếm, ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam(MTDTGPMNVN), Trưởng ban Đối ngoại của Mặt trận

- Với tựa đề Vì Việt Nam, cuốn sách do Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam

xuất bản tại La Habana năm 1974, đã tổng kết những hoạt động ủng hộ và đoàn kếtcủa nhân dân Cuba đối với Việt Nam trong suốt 10 năm từ 1963 đến 1973

- Vla-đi-mi-trốp (1980), Cuba – 20 năm chính sách đối ngoại mới, Nxb Quan hệ quốc tế, Mát-xcơ-va Tác phẩm chỉ có một đoạn ngắn đề cập đến tình đoàn kết của

Cuba dành cho Việt Nam thông qua bài phát biểu của Fidel Castro tại Đại hội IĐảng Cộng sản Cuba tháng 12 năm 1975

- Tác phẩm E.Cheguevara, Nxb Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1987, có đăng hai bài phát biểu của Cheguevara về Việt Nam, chủ yếu nhấn mạnh đến tầm quan trọng

của cách mạng Việt Nam, nhất là nói hình thức, nội dung và bản chất cuộc chiếntranh nhân dân có ý nghĩa lớn đối với khu vực Mỹ Latinh và châu Phi

- Raul Vandes Vivo – nhà báo, nhà ngoại giao Cuba đã viết tác phẩm với tựa đề

Tối mật, Những người Cuba trên đường Hồ Chí Minh, Công ty Xuất bản Đối ngoại

Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao - Du lịch, Hà Nội, 1990 Nội dung tác phẩm chủyếu đề cập đến sự tham gia của Cuba vào việc xây d ng ng Tr ng S n - đường

Trang 7

mòn Hồ Chí Minh từ năm 1974 đến đầu năm 1975, góp phần vào thắng lợi hoàntoàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Như vậy, trong điều kiện và phạm vi tiếp cận đối với lịch sử vấn đề được nghiêncứu, từ trước đến nay, theo chúng tôi được biết, ở trong và ngoài nước đã có một sốnhà nghiên cứu, tìm hiểu về quan hệ Việt Nam - Cuba, nhưng đều là những côngtrình mang tính thời luận và ở mức độ manh nha, họ chỉ đề cập đến khía cạnh nàyhay khía cạnh khác của mối quan hệ mà chưa có một công trình tập trung haychuyên sâu nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về lịch sử quan hệ ViệtNam - Cuba từ năm 1959 đến 2005 Chúng tôi không dám nghĩ mình là người đi tiênphong trong vấn đề này, bởi sự nghiên cứu của chúng tôi trên cơ sở kế thừa và pháttriển những gì mà chúng tôi tiếp cận được như đã nêu ở trên

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Như tên của đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận án là Quan hệ Việt Nam - Cuba từ năm 1959 đến năm 2005 Đề tài được chúng tôi nghiên cứu dưới giác

độ của khoa học lịch sử và quan hệ quốc tế hiện đại

Về thời gian, phạm vi nghiên cứu của luận án trải dài từ ngày 1-1-1959 (khi nềnCộng hòa Cách mạng Cuba được thành lập) cho đến hết năm 2005 Sở dĩ chúng tôilấy năm 2005 làm mốc kết thúc cho công trình nghiên cứu bởi vì: đây là thời điểm tưliệu lịch sử cho phép tiếp cận được, đồng thời cũng là mốc son lịch sử kỷ niệm 45năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Hơn thế nữa, trải qua 15 năm(1991 - 2005), sau sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô, phong trào cáchmạng thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, nhiều mối quan hệ quốc tế sụp đổ theo,nhưng quan hệ giữa hai dân tộc Việt Nam và Cuba vẫn tiếp tục phát triển tốt đẹp,bất chấp mọi biến động thăng trầm của lịch sử

Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn ý thức sâu sắc rằng, logic vấn đề của đề tài đòi hỏiluận án cần thiết phải có một phần khái quát về lịch sử quan hệ Việt Nam - Cubatrước năm 1959, và quan hệ hai nước từ năm 2005 đến nay cũng được chúng tôi

Trang 8

điểm qua một cách sơ lược những sự kiện quan trọng, để thấy được chiều hướng pháttriển không ngừng của mối quan hệ này.

Đề cập đến mối quan hệ Việt Nam - Cuba trong gần nửa thế kỷ là một phạm vinghiên cứu quá rộng đối với một luận án tiến sĩ Nhưng tác giả luận án vẫn chọnphạm vi nghiên cứu này vì cho đến thời điểm hiện tại, ở cả hai nước Việt Nam vàCuba vẫn chưa có một công trình khoa học nào nói về lịch sử quan hệ Việt Nam -Cuba một cách hệ thống và toàn diện

Về không gian, nghiên cứu Lịch sử quan hệ Việt Nam - Cuba (1959 - 2005) tức

là nghiên cứu mối quan hệ giữa hai chủ thể chủ yếu trong quan hệ quốc tế, đó làViệt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH), sau này là Cộng hòa XHCN Việt Nam (gọitắt là Việt Nam) với Cộng hòa Cuba (gọi tắt là Cuba), trong đó có quan hệ giữaMTDTGPMNVN và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam(CMLTCHMNVN) với Cộng hòa Cuba Còn giữa chính quyền Việt Nam Cộng hòa(còn gọi là chính quyền Sài Gòn – tay sai của Mỹ, 1955 - 1975) ở miền Nam ViệtNam với Cộng hòa Cuba, trong khoảng thời gian 1959 - 1975, không những khôngcó mối quan hệ gì mà còn là kẻ thù của nhau, cho nên chúng tôi không đề cập đếntrong luận án này

Về nội dung, tên của đề tài cho phép hiểu quan hệ Việt Nam - Cuba là quan hệhai chiều Và, trọng tâm của luận án là nghiên cứu một cách toàn diện quan hệ giữaViệt Nam với Cuba từ năm 1959 đến 2005 Tuy nhiên, do hạn chế về quy định chếđộ bảo mật của tài liệu lưu trữ, cho nên chúng tôi dù rất cố gắng cũng chỉ xin đượcphép giới hạn đi sâu vào một số lĩnh vực chủ yếu và nổi bật của quan hệ giữa hainước từ năm 1959 đến 1991, nhất là quan hệ về chính trị - ngoại giao, hợp tác kinhtế, KHKT, trao đổi thương mại, hợp tác văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế, bưu điện,xây dựng… Thời kỳ 1991 - 2005, chúng tôi chủ yếu đề cập đến quan hệ chính trị -ngoại giao, còn hợp tác kinh tế và một số mối quan hệ khác chúng tôi chỉ xin đề cậpđến những nét cơ bản Nội dung chuyên sâu của vấn đề này chúng tôi hy vọng sẽ có

Trang 9

dịp trình bày trong một công trình nghiên cứu khác, khi tư liệu lưu trữ cho phép tiếpcận được.

Việc nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt Nam - Cuba trong phạm vi thời gian vàkhông gian nói trên, được đặt trong sự tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực đếnmối quan hệ song phương trên các lĩnh vực, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

4 NGUỒN TƯ LIỆU

Như đã trình bày ở phần Lịch sử nghiên cứu vấn đề, quan hệ Việt Nam - Cuba từtrước đến nay chưa được khảo sát một cách đầy đủ Những công trình hiện có thườngtập trung nghiên cứu về lịch sử cách mạng Cuba (nhất là giai đoạn cách mạng giảiphóng dân tộc 1953 - 1959), về Jose Marti, về sự ủng hộ của Cuba đối với cuộc đấutranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà của nhân dân Việt Nam… Trong khiquan hệ toàn diện giữa Việt Nam và Cuba từ 1959 đến 2005 thì chưa thấy một côngtrình nào nghiên cứu một cách có hệ thống Cho nên, khi thực hiện luận án, chúngtôi chủ yếu dựa vào những nguồn tài liệu tản mạn trên nhiều lĩnh vực khác nhau đểcố gắng xâu chuỗi những sự kiện nhằm tái hiện lịch sử quan hệ hai nước một cáchtoàn diện, có hệ thống Cụ thể, những nguồn tư liệu chính được khảo cứu trong luậnán theo thứ tự ưu tiên như sau:

uCác văn kiện, tài liệu của Đảng, Nhà nước Việt Nam và Cuba như đường lối,chủ trương, chính sách đối ngoại (bao gồm cả chính trị đối ngoại và kinh tế đốingoại) của hai nước; các bài phát biểu quan trọng, những cuộc trả lời phỏng vấn củacác đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước hai nước có liên quan đến lịch sử quan hệgiữa Việt Nam và Cuba như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm VănĐồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh… Fidel Castro,O.Dorticos, Raul Castro… Đây là tư liệu gốc, rất quan trọng, mang tính định hướngcho sự phát triển quan hệ Việt Nam - Cuba qua các thời kỳ, tác giả luận án đã dựavào để nghiên cứu

v Tài liệu về quan hệ giữa Việt Nam với Cuba (1959 - 2005) được sử dụngnghiên cứu phục vụ luận án này chủ yếu là những tư liệu gốc, hiện đang lưu trữ tại

Trang 10

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III ở Hà Nội Các tài liệu này được lưu trữ ở các PhôngPhủ Thủ tướng, Quốc hội, Phông lưu trữ của các Bộ, Ngành Trung ương… bao gồmhồ sơ các chuyến thăm hữu nghị chính thức lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai Đảng,hai Nhà nước, hai Quốc hội, của các đoàn đại biểu các ban của Đảng, các Bộ,Ngành, địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội ; các Hiệp ước, Tuyên bố chung,Thông cáo chung, Thông cáo báo chí, các Hiệp định, Nghị định thư, Thư thỏa thuận,Biên bản các kỳ họp của Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế và KHKT ViệtNam - Cuba và tư liệu thống kê từ các cơ quan chức năng.

wCác tác phẩm, sách và luận án… ít nhiều có nói đến quan hệ Việt Nam - Cuba

xCác nguồn Tài liệu tham khảo của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), nhất làTài liệu tham khảo đặc biệt (TKĐB) có đề cập đến quan hệ giữa hai nước

yBản tin Việt Nam - Cuba đoàn kết hữu nghị của Trung ương Hội hữu nghị Việt

Nam - Cuba, xuất bản hàng tháng, lưu hành nội bộ

z Các bài viết được đăng tải trên các báo xuất bản hàng ngày ở Việt Nam và

Cuba (thông qua bản dịch của TTXVN); các tạp chí như Tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Thương mại, Tạp chí Kinh tế, Đầu tư,

Kỷ yếu các cuộc Hội thảo khoa họcv.v.

{Nguồn tài liệu điền dã: đó là nguồn tài liệu (cả bằng văn bản và phim, ảnh)mà tác giả luận án đã có dịp đi đến một số công trình có sự hợp tác giữa Việt Namvà Cuba như khách sạn Thắng Lợi (Hà Nội), Trung tâm bò giống Moncada (Ba Vì,Hà Tây), xí nghiệp gà giống Ba Vì (Hà Tây), xí nghiệp gà giống Lương Mỹ (HàTây), bệnh viện hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới (Quảng Bình), đường Hồ ChíMinh… Nguồn ảnh tư liệu của Phòng lưu trữ phim, ảnh thuộc TTXVN và Sở Văn hóa

- Thông tin tỉnh Quảng Bình

Ngoài ra, chúng tôi còn dựa vào những thông tin và các số liệu từ các trang webscủa:

- Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam : www.vietnam.gov.vn

Trang 11

- Bộ Thương mại : www.mot.gov.vn

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư : www.mpi.gov.vn

- Bộ Nông nghiệp và PTNT : www.agroviet.gov.vn

- Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện : www.moet.edu.vn

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ BỐ CỤC LUẬN ÁN

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản ViệtNam về quan hệ quốc tế Chủ yếu là dựa vào Chủ nghĩa duy vật lịch sử để giảiquyết những vấn đề mang tính lí luận đặt ra trong quá trình thực hiện đề tài Dựavào cơ sở phương pháp luận này, để thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các sựkiện trong cùng một mối quan hệ cũng như giữa các mối quan hệ với nhau

-Chúng tôi dựa trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và ý kiến của cácnhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước… làm nền tảng cho việc phân tích và đánh giá hàngloạt các sự kiện trong tiến trình phát triển lịch sử quan hệ Việt Nam - Cuba, một tiếntrình thống nhất, đặc thù, không lặp lại, từ đó giúp tác giả luận án nhận định đúngđắn và có những kiến giải khoa học phù hợp với quy luật vận động, phát triển củanó

Nhằm đạt được mục đích, yêu cầu của luận án là phục dựng quá trình quan hệnhiều mặt giữa hai nước Việt Nam - Cuba trong gần nửa thế kỷ qua, chúng tôi sẽvận dụng kết hợp các phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháplogíc, cùng các phương pháp hỗ trợ khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, sosánh, loại suy… Đặc biệt, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp thống kê để địnhlượng hóa các sự kiện lịch sử bằng những con số, đồng thời kết hợp với phương phápđiền dã nhằm khảo sát thực tế… tăng thêm sự phong phú, sinh động và tính xác thựccủa luận án

Trang 12

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính củaluận án gồm 4 chương:

Chương 1: Quan hệ Việt Nam - Cuba 1959 - 1975

Trong chương này, sau khi khái quát quan hệ Việt Nam - Cuba trước năm 1959,chúng tôi trình bày những nội dung chính như: bối cảnh lịch sử thời điểm thiết lậpquan hệ Việt Nam - Cuba, với những nét cơ bản về tình hình thế giới, khu vực, bướcphát triển mới của cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng và công cuộc xâydựng chế độ XHCN ở Tây bán cầu của nhân dân Cuba và bước chuyển giai đoạn củacách mạng Việt Nam; quan hệ chính trị, ngoại giao và hợp tác quốc phòng; hợp táckinh tế, KHKT và trao đổi thương mại; hợp tác về y t , văn hóa, giáo dục và một sốlĩnh vực khác

Chương 2: Quan hệ Việt Nam - Cuba 1975 - 1991

Trong chương này, chúng tôi trình bày những vấn đề chính như: hoàn cảnh lịch sửmới của bước phát triển quan hệ Việt Nam - Cuba; quan hệ chính trị, ngoại giao;hợp tác kinh tế, KHKT và trao đổi thương mại; hợp tác y tế, văn hóa - nghệ thuật,giáo dục - đào tạo và một số lĩnh vực hợp tác khác giữa hai nước từ năm 1975 đếnnăm 1991

Chương 3: Quan hệ Việt Nam - Cuba 1991 - 2005

Nội dung chính của chương này bao gồm: những biến động to lớn và sâu sắc củatình hình thế giới và khu vực từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ

XX tác động đến quan hệ Việt Nam - Cuba; đổi mới tư duy và đường lối đối ngoạicủa Việt Nam; “thời kỳ đặc biệt trong hòa bình” của Cuba; quan hệ chính trị, ngoạigiao và hợp tác về quốc phòng - an ninh; những nét cơ bản về hợp tác kinh tế, đầu

tư, trao đổi thương mại và các lĩnh vực hợp tác khác

Chương 4: Đặc điểm, bài học kinh nghiệm và triển vọng quan hệ Việt Nam

-Cuba những thập niên đầu thế kỷ XXI

Trên cơ sở diễn tiến lịch sử của mối quan hệ Việt Nam - Cuba trong suốt 47 năm(1959 - 2005), chương này chúng tôi tập trung phân tích những đặc điểm và bài học

Trang 13

kinh nghiệm được rút ra từ mối quan hệ giữa hai nước trong thời gian trên, đồng thờitrên cơ sở những căn cứ xác đáng, tác giả luận án nêu lên triển vọng mối quan hệViệt Nam - Cuba trong những thập niên đầu thế kỷ XXI Cuối mỗi chương của luậnán đều có phần tiểu kết.

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

6.1 Luận án là công trình khoa học đầu tiên đã phục dựng bức tranh toàn cảnh,có hệ thống và khá toàn diện về lịch sử quan hệ Việt Nam - Cuba từ khi cuộc cáchmạng giải phóng dân tộc Cuba thành công, nền Cộng hòa Cách mạng Cuba đượcthành lập (1-1-1959) đến năm 2005 trong bối cảnh thế giới và khu vực đầy biếnđộng phức tạp với những bước thăng trầm của nó

6.2 Luận án cung cấp những cứ liệu lịch sử và luận chứng khoa học thuyết phụcđể góp phần khẳng định mối quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện ViệtNam - Cuba được xây đắp trên cơ sở vững chắc, trở thành mối quan hệ quốc tế điểnhình và tiêu biểu trong các mối quan hệ quốc tế của thời đại ngày nay

6.3 Những bài học kinh nghiệm, kết luận được rút ra, những kiến nghị được đềxuất có thể góp phần giúp các cơ quan chức năng Việt Nam tham khảo trong việchoạch định phương hướng, xây dựng chương trình hợp tác toàn diện, lâu dài và bềnvững, nhằm không ngừng củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa hai dân tộc vànhân dân hai nước Việt Nam - Cuba

6.4 Những kết quả nghiên cứu và tư liệu thu thập được có thể dùng làm tài liệutham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, tìm hiểuvề quan hệ Việt Nam - Cuba nói riêng và quan hệ quốc tế thời kỳ hiện đại của ViệtNam nói chung

6.5 Công trình nghiên cứu hoàn thành, trong chừng mực nhất định có thể gópphần khiêm tốn vào việc thắt chặt và tăng cường mối quan hệ đoàn kết hữu nghịViệt Nam - Cuba cả trong hiện tại và tương lai

Trang 14

Chương 1

QUAN HỆ VIỆT NAM - CUBA 1959 - 1975

1.1 KHÁI QUÁT QUAN HỆ VIỆT NAM - CUBA TRƯỚC NĂM 1959

Việt Nam và Cuba xa nhau nửa vòng trái đất – một nước ở Đông Nam Á bên bờThái Bình Dương, một nước ở trên hải đảo trong vùng biển Caribê thuộc Đại TâyDương Hai nước có ngôn ngữ, lịch sử và hai nền văn hóa rất khác nhau Đến thờicận - hiện đại, hai dân tộc luôn có nhiều điểm tương đồng trong sự nghiệp đấu tranhchống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc; về tinh thần kiên cường, bất khuất đấutranh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, cho nhân loại Việt Nam và Cuba đều là nhữngdân tộc cần cù, thông minh, anh dũng và sáng tạo Hơn thế nữa, hai nước đều đi lêndưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin và cùngchung lý tưởng xây dựng CNXH

So với quan hệ giữa Việt Nam với một số quốc gia khác thì quan hệ Việt Nam Cuba có phần muộn màng hơn Tuy nhiên, từ cuối những năm 80 của thế kỷ XIX,khi cả Việt Nam và Cuba còn nằm dưới ách thống trị của thực dân nước ngoài, cùngchung kiếp nô lệ, đã có một người con ưu tú của dân tộc Cuba sớm biết đến ViệtNam Đó chính là Jose Marti, nhà yêu nước vĩ đại, nhà tư tưởng và văn hóa lỗi lạc,người đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, được nhân dânCuba tôn vinh là vị “Thánh Tông đồ” của nền độc lập Cuba Chính ông là người đãcó bài viết với tựa đề “Cuộc dạo chơi trên đất An Nam” (Un paseo por La tierra de

-los Anamitas), được đăng trong Tạp chí Tuổi vàng dành cho thiếu nhi Cuba Nội

dung bài viết “kể về đất nước, con người Việt Nam, đặc biệt là cuộc vật lộn củanhân dân An Nam với thiên nhiên, với sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dânPháp, bóc lột và cướp đoạt tàn nhẫn tài nguyên thiên nhiên và chà đạp thô bạo lênnhân cách con người lao động Việt Nam”[10, 2-12-2005] Nhờ bài viết đó, nhân dânCuba và Mỹ Latinh mới bắt đầu hiểu chút ít về Việt Nam, và chính vì thế, bài viếtđược đăng tải rộng rãi không chỉ ở Cuba mà còn ở Mỹ Latinh Sau này, trong cuộc

Trang 15

trò chuyện với Thủ tướng Cuba Fidel Castro, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói,chính Jose Marti là người Mỹ Latinh đầu tiên hiểu về Việt Nam Và đến ngày nay,mỗi lần nghĩ tới quan hệ Cuba - Việt Nam, mọi người đều thừa nhận rằng, chínhJose Marti là người gieo mầm cho mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước.

Đối với nhân dân Việt Nam, “thế kỷ XIX trở về trước, cũng ít có người biết đếnCuba”[151, tr.94] Đầu thế kỷ XX, người Việt Nam mới biết có một nước Cuba ởTây bán cầu Đó là một vài trí thức may mắn được du học tại châu Âu hoặc ít nhiềucó đọc sách báo thì biết rằng, Cuba là một đảo quốc nhỏ thuộc quần đảo Antillas ởvùng biển Caribê, miền Trung Mỹ xa xôi, nơi sản xuất xì gà La Habana nổi tiếng.Người Việt Nam đầu tiên hiểu biết sâu sắc về Cuba phải nói đó là Nguyễn Ái Quốc– Hồ Chí Minh Chính Nguyễn Ái Quốc đã từng tiếp xúc với các đồng chí Cubatrong Quốc tế Cộng sản vào những năm 20 thế kỷ trước, nhờ đó khi cuộc Cách mạngCuba mở đầu bằng cuộc tiến công pháo đài Moncada của Phong trào 26-7-1953 kếthợp những cuộc đấu tranh chính trị, nổi dậy của quần chúng ở các đô thị, Người đãnhìn thấy tiền đồ vẻ vang của nó Và “với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã sớm nhận thấy vị trí và vai trò của Cách mạng Cuba đối với phong tràochống đế quốc, giải phóng dân tộc trên thế giới”[214, tr.66]

Sự kiện ngày 1-1-1959 đã làm cho nhiều người Việt Nam hướng về một dân tộc

ở châu Mỹ, nơi nhân dân Cuba nổi dậy đánh đổ một chế độ độc tài do đế quốc Mỹnuôi dưỡng và xây dựng, cũng có nghĩa là lần đầu tiên đánh đổ chủ nghĩa thực dânmới của Mỹ ở châu Mỹ Latinh Không cam chịu thất bại, sau đó, Mỹ thi hành chínhsách phục thù toàn diện đối với Cuba

Sau khi đánh đổ chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp (7-1954), Việt Nam lại phảiđương đầu với chế độ thực dân mới do Mỹ thiết lập ở miền Nam, đó là chính quyềntay sai Ngô Đình Diệm

Lịch sử đã xếp đặt, Việt Nam và Cuba trở thành hai lực lượng xung kích cách

mạng chống một tên đế quốc khổng lồ Khẩu hiệu chiến lược của Cuba là “Tổ quốc hay là chết, chúng ta nhất định thắng” và của Việt Nam là “Thà hi sinh tất cả chứ

Trang 16

nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ Không có gì quý hơn độc lập tự do” Do hoàn cảnh lịch sử của thời đại đã làm cho hai dân tộc gần gũi nhau, thông

cảm, gắn bó với nhau và chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, mối tình đoàn kếthữu nghị ấy đã trở thành tình anh em chiến đấu, mẫu mực cho tình hữu nghị giữa cácdân tộc trong thời đại ngày nay Và, như lời cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói:

“Việt Nam và Cuba là anh em sinh đôi cùng chung một chiến hào chống Mỹ”[151,tr.94] Sự đoàn kết giữa hai dân tộc tất yếu tăng thêm sức mạnh của cuộc chiến đấuchống kẻ thù chung Hai dân tộc và nhân dân hai nước đã gặp nhau, tình hữu nghịtuy mới mẻ nhưng nồng nàn, đượm vẻ truyền thuyết, chiến đấu bên nhau, sẵn sàng

hi sinh vì nhau, chia sẻ cho nhau những của cải vật chất ít ỏi của mình không hề tínhtoán thiệt hơn và lại càng không bao gi sợ sự trả thù của đế quốc Mỹ

1.2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI ĐIỂM THIẾT LẬP QUAN HỆ VIỆT NAM CUBA

-1.2.1 Những nét cơ bản tình hình thế giới, khu v c

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, với việc đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa phát xít,tương quan so sánh lực lượng có sự thay đổi căn bản, “một trật tự thế giới mới đượchình thành, chấm dứt ưu thế tuyệt đối của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phảnđộng trong mối quan hệ quốc tế”[169, tr.12]

Lần đầu tiên trong lịch sử, hệ thống các nước XHCN đã hình thành từ châu Âusang châu Á với số dân gần 1 tỷ người, tạo nên thế liên hoàn hỗ trợ, giúp đỡ nhauxây dựng CNXH và phối hợp với nhau trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa đếquốc ây là một trong những sự kiện quan trọng nhất sau chiến tranh thế giới thứhai Sự kiện này làm thay đổi so sánh lực lượng trên vũ đài quốc tế, có lợi cho LiênXô và các nước XHCN Với tư cách là một hệ thống thế giới, các nước XHCN đứngđầu là Liên Xô đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện Liên Xô đã trở thànhmột cường quốc có uy tín, có ảnh hưởng rất lớn và là một nhân tố không thể thiếutrong việc giải quyết các vấn đề quốc tế Trên cơ sở đó, đầu năm 1949, Hội đồng

Trang 17

tương trợ kinh tế (SEV) được thành lập gồm các nước XHCN Đông Âu và Liên Xônhằm mục đích tăng cường hợp tác đa phương giữa các nước XHCN.

Năm 1949, các nước phương Tây đã thành lập Liên minh quân sự Bắc Đại TâyDương (NATO), tiếp đó họ phục hồi và tái vũ trang Tây Đức, cuối cùng là quyếtđịnh kết nạp Tây Đức vào NATO, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh của Liên Xô vàcác nước XHCN khác Trước tình hình đó, tháng 5-1955, Liên Xô và các nướcXHCN Đông Âu đã kí kết “Hiệp ước hữu nghị, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau” (còngọi là khối Hiệp ước Vácsava) “Trong khuôn khổ tổ chức Hiệp ước Vácsava, nhữngmối quan hệ chính trị và quân sự giữa các nước XHCN được củng cố và hình thành

cơ chế phối hợp thường xuyên trên lĩnh vực đối ngoại”[169, tr.13]

Nhằm đối phó lại âm mưu đẩy lùi CNXH với học thuyết “Trả đũa ồ ạt” (ra đờiđầu những năm 50 của thế kỷ trước) dựa trên ưu thế về vũ khí chiến lược của Mỹ,Liên Xô đã có những cố gắng lớn trong việc bảo vệ những thành quả cách mạng củacộng đồng XHCN bằng việc thúc đẩy nhanh chóng nền KHKT quân sự và đạt đượcnhững thành tựu rực rỡ nh : thử thành công bom nguyên tử (9-1949), chế tạo thànhcông máy bay ném bom chiến lược và tàu ngầm nguyên tử (cu i nh ng n m 50) Đặcbiệt, Liên Xô là nước đầu tiên trên thế giới phóng thành công vệ tinh lên vũ trụ(1957), đánh dấu bước phát triển vượt bậc của nền khoa học Xô Viết [169]

Có thể khẳng định rằng, cho đến cuối những năm 50 (thế kỷ XX), hệ thốngXHCN thế giới ra đời, được củng cố và ngày càng phát triển thể hiện qua các mốiquan hệ liên kết chặt chẽ và đa dạng Hệ thống này trở thành đối trọng hữu hiệutrước chủ nghĩa tư bản (CNTB), tạo ra cục diện có lợi cho CNXH, cho phong tràogiải phóng dân tộc Vào thời điểm năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhậnxét: “Chiến thắng của quân đội Liên Xô trong chiến tranh thế giới thứ hai đưa lạinhững thay đổi to lớn trên thế giới… Phe XHCN đứng đầu là Liên Xô ra đời và ngàycàng lớn mạnh… Từ 13 năm nay, hệ thống XHCN đã có ảnh hưởng ngày càng sâurộng đối với toàn bộ tình hình thế giới”[119, tr.83] Trong lịch sử quan hệ quốc tế rađời một loại quan hệ quốc tế kiểu mới song phương và đa phương giữa các nước

Trang 18

XHCN với nhau Tuy còn nhiều vấn đề tồn tại và bước đầu nảy sinh những bất đồng,nhưng có thể nói từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối những năm 50, quan hệgiữa các nước XHCN về cơ bản là tốt, sự hợp tác tương trợ được phát huy hiệu quả,làm tăng cường sức mạnh về mọi mặt và giúp cho các nước XHCN tăng cường tiềmlực và nâng cao uy tín trên trường quốc tế Hệ thống XHCN thế giới trở thành chỗdựa cho phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ,chống lại chính sách gây chiến xâm lược của các nước đế quốc và ngày càng trởthành nhân tố không thể thiếu được trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế [128].Được sự cổ vũ bởi những chiến thắng chủ nghĩa phát xít và nhất là trình độ giácngộ của nhân dân đã được nâng cao, sau chiến tranh thế giới thứ hai phong trào giảiphóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc phát triển mạnh mẽ, làm cho hệthống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc bắt đầu tan rã Các nước đế quốc buộc phảitừng bước rút lui và thừa nhận nền độc lập của các dân tộc Đi đầu phong trào giảiphóng dân tộc là các nước Trung Quốc, Việt Nam và Triều Tiên, được các chínhĐảng của giai cấp công nhân lãnh đạo xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân, nêncuộc đấu tranh hết sức gay gắt và quyết liệt Thực tế ở những nước này đã nổ racuộc đụng độ về ý thức hệ.

Đại đa số các nước thuộc địa và nửa thuộc địa khác đã giành được độc lập chínhtrị và đi theo con đường dân tộc chủ nghĩa Về chính sách đối ngoại, họ có khuynhhướng hòa bình, chống chiến tranh xâm lược, nhưng muốn đứng trung lập giữa haihệ thống chính trị nhằm tranh thủ viện trợ của cả hai phe, họ tự coi là “Thế giới thứba” và nổ lực liên kết với nhau trong các tổ chức khu vực, trong Phong trào Khôngliên kết và đặc biệt tại các diễn đàn Liên Hợp Quốc Sự tham gia ngày càng tích cựccủa các nước Á, Phi, Mỹ Latinh với tư cách là chủ thể mới vào các hoạt động quốctế, làm cho quan hệ quốc tế dần dần mang tính chất toàn cầu Chính sách đối ngoạicủa các nước mới độc lập, tuy có mặt hạn chế, song về cơ bản phù hợp với mục tiêuđấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các nước

Trang 19

XHCN, cho nên trong nhiều vấn đề lớn của thời đại, họ thường có chung lập trườngvới các nước XHCN.

Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945) là cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệtnhất và tàn phá nặng nề nhất trong lịch sử nhân loại Riêng Mỹ là nước thắng trậnduy nhất không bị chiến tranh tàn phá, lại còn giàu lên rất nhiều và trở thành nướcđứng đầu thế giới tư bản chủ nghĩa (TBCN) Đồng thời Mỹ cũng trở thành cườngquốc số 1 về quân sự Các nước tư bản châu Âu và Nhật Bản đã phải dựa vào sựgiúp đỡ của Mỹ để phục hồi nền kinh tế kiệt quệ của mình Đây chính là cơ hội tốtnhất để Mỹ vươn lên nắm quyền lãnh đạo thế giới TBCN Trên thực tế, Mỹ đã thôngqua “viện trợ” kinh tế buộc các nước tư bản phải chấp nhận những điều kiện củaMỹ, chịu sự khống chế của Mỹ về chính trị, nói cách khác là phải tuân theo nhữngchiến lược và chính sách mà Mỹ định ra Đến giữa thập niên 50, Mỹ đã xác lập đượcvai trò lãnh đạo Tây Âu và Nhật Bản Tuy nhiên, sự “chấp thuận” của các nước nàycũng chỉ là tạm thời, cuộc đấu tranh chống lại sự khống chế của Mỹ tất yếu sẽ diễn

ra [128, tr.10-11]

Vào giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã nhìn nhận Liên Xônhư một lực lượng chính có khả năng lớn nhất, có thể cản trở giấc mộng bá chủ thếgiới của mình Khi thất bại của phe Trục trở nên tất yếu, cũng là lúc Mỹ bắt đầu thihành chính sách nhằm kìm chế Liên Xô Sau khi chiến tranh kết thúc, chính sáchnày ngày càng trở nên kiên quyết, theo chiều hướng đối đầu, dẫn đến sự tan rã củaliên minh Xô - Mỹ Cùng lúc đó, các nước tư bản đế quốc lại phải đối phó với phongtrào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ ở các thuộc địa cũ và phong tràođấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

ở chính quốc, càng làm cho tình hình chính trị ở một số nước không ổn định

Để xoa dịu những mâu thuẫn nội bộ, giai cấp tư bản thống trị ở các nước phươngTây tìm cách chỉa mũi nhọn đấu tranh của nhân dân ra bên ngoài, cho rằng CNXHmà thành trì là Liên Xô và các nước XHCN khác là nguồn gốc dẫn đến các cuộckhủng hoảng ở các nước tư bản và hệ thống thuộc địa Do đó một cuộc chiến tranh –

Trang 20

còn gọi là “Chiến tranh lạnh” nhằm khuất phục Liên Xô và các lực lượng XHCN đãbùng nổ và ngày càng lan rộng trên qui mô toàn cầu Chiến tranh lạnh là cuộc đốiđầu giữa một bên là các lực lượng đế quốc do Mỹ cầm đầu và bên còn lại là các lựclượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình do Liên Xô là trụ cột, trên tất cả các lĩnh vựckinh tế, chính trị, tư tưởng, ngoại giao, văn hóa, chạy đua vũ trang… ngoại trừ đốiđầu trực tiếp bằng quân sự Cuộc chiến tranh trong hòa bình này đã kéo dài hơn bốnthập kỷ và tác động rất lớn đến chiều hướng phát triển của các mối quan hệ quốc tế[176, tr.17].

Đông Nam Á là một trong những khu vực căng thẳng nhất trong thời kì chiếntranh lạnh Ngay sau khi Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết (7-1954),các nước đế quốc đứng đầu là Mỹ đã nghĩ ngay đến những biện pháp đối phó vớiphong trào giải phóng dân tộc và các nước XHCN ngày càng lớn mạnh ở châu Á.Chính vì thế, tháng 9-1954, Mỹ đã lôi kéo được 7 nước (Anh, Pháp, Ôxtrâylia, NiuDilân, Philippin, Thái Lan và Pakixtan) lập ra khối “Liên minh quân sự Đông NamÁ” (Southeast Asia Treaty Organization - SEATO)(*) “Thực chất đây là một liênminh quân sự, trong đó các nước tham gia cam kết phối hợp hành động để chống lạiphong trào giải phóng dân tộc ở khu vực này”[128, tr.82] Không còn nghi ngờ gìnữa, SEATO thành lập dưới sự lãnh đạo của Mỹ nhằm chống lại phong trào giảiphóng dân tộc ở châu Á, trước hết là ở Việt Nam và Trung Quốc Liên minh đó cũnglà một bộ phận trong hệ thống bao vây các nước XHCN bằng những căn cứ quân sự,nằm trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ

Trong khi đó khu vực Mỹ Latinh từ lâu được coi là “sân sau” của Mỹ Từ sauchiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ củng cố ảnh hưởng ở khu vực này bằng cách tăngcường đầu tư trực tiếp và thu được những khoản lợi nhuận rất lớn Về mặt chính trị,Mỹ khống chế Mỹ Latinh bằng các Hiệp ước ký kết giữa các nước châu Mỹ như:Hiệp ước Chapultepec (Mêhicô) năm 1945, Hiệp ước Rio de Janeiro (Brazil) năm

1947, Hiệp ước Bogota (Côlômbia) năm 1948 và Hiến chương Tổ chức các nước

(*) Có sách dịch là “Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á”.

Trang 21

châu Mỹ có hiệu lực từ tháng 12-1951 Tùy theo tình hình quan hệ với Liên Xô vàmức độï hoạt động của các phong trào cách mạng, tiến bộ của nhân dân Mỹ Latinhmà tính chất chống cộng sản được gia giảm trong các văn kiện Ở Hội nghị Caracas(3-1954), trong lúc chiến tranh lạnh đang tăng cao thì một nghị quyết mang tính chấtchống cộng sản mạnh mẽ hơn được thông qua theo đề nghị của Mỹ.

Th c t , từ nửa cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Mỹ Latinh không còn là

“sân sau” yên ổn của Mỹ nữa, trở thành “Lục địa bùng cháy” Khắp nơi đều cóphong trào đấu tranh của nhân dân đòi dân sinh, dân chủ và đòi chính phủ phải cóchính sách bớt lệ thuộc vào Mỹ Nhiều nơi diễn ra đấu tranh vũ trang như Bôlivia,Vênêzuêla, Côlômbia, Nicargoa… [128, tr.273] Cách mạng giải phóng dân tộc Cubathành công đã cổ vũ mạnh mẽ nhân dân Mỹ Latinh đấu tranh chống ách áp chế, mở

ra cho nhân dân các nước con đường độc lập thực sự và tiến bộ xã hội

1.2.2 Cuba sau thắng lợi của cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc

Trong bối cảnh thế giới và khu vực nói trên, năm 1953, cuộc cách mạng giảiphóng dân tộc ở Cuba đã nổ ra và giành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 1-1-1959 Về

tính chất của cuộc cách mạng Cuba, lúc đầu, theo như Báo cáo của Đảng Xã hội nhân dân Cuba thì “đây là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và ruộng đất, là một

cuộc cách mạng yêu nước và dân chủ, một cuộc cách mạng nhân dân tiên tiến”[126,tr.9] Nhưng Đảng Xã hội nhân dân Cuba cũng nhận định rằng, sự phát triển phù hợpvới logic của cách mạng sẽ dẫn đến CNXH Sự phát triển đó, nhanh hay chậm là donhân dân Cuba quyết định, trong điều kiện phát triển của tình hình thế giới

Ngày 2-1-1959, Chính phủ liên hiệp lâm thời Cuba được thành lập Thời kỳ đầu,chính phủ này còn bị những phần tử cơ hội và phản động len vào thao túng Chức vụTổng thống và Thủ tướng chính phủ đều nằm trong tay những kẻ sẵn sàng theo lệnhMỹ Fidel Castro Ruz bấy giờ làm Tổng Tư lệnh quân đội cách mạng Trước tình hìnhđó, Đảng Xã hội nhân dân Cuba đã nêu khẩu hiệu: “Tất cả quyền lực cách mạngchuyển vào tay quân đội”[126, tr.8] Trên cơ sở đó, Đảng Xã hội nhân dân Cuba phốihợp chặt chẽ với Fidel Castro tiến hành thanh lọc chính phủ Bọn phản động cơ hội, từ

Trang 22

tên Tổng thống trở xuống, đều bị gạt ra ngoài chính phủ cách mạng, nhiều tên trongbọn chúng đã chạy trốn sang cầu cứu đế quốc Mỹ, hòng dựa vào lực lượng quân sựbên ngoài để cứu vãn lại quyền lợi và địa vị của chúng Nhưng âm mưu của chúng bịthất bại, cách mạng Cuba ngày càng củng cố và phát triển, nhân dân Cuba ngày càngkiên quyết bảo vệ những thành quả của cách mạng mà mình đã mang xương máu rađể giành lại.

Tháng 2-1959 Fidel Castro trở thành Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Cuba

“Tuy chưa phải là đảng viên Cộng sản, nhưng Fidel chịu ảnh hưởng của CNXH, đãthi hành một loạt chính sách tiến bộ”[128, tr.170] Ngay năm đầu tiên, chính quyềnCộng hòa cách mạng đã ban bố một loạt sắc luật về Cải cách ruộng đất (5-1959), Cảicách đô thị (10 -1960), sắc luật về quốc hữu hóa tư bản nước ngoài và toàn bộ các xínghiệp công nghiệp… rồi sau đó tuyên bố xây dựng CNXH ở Cuba Rõ ràng, tình hìnhphát triển ở Cuba trực tiếp đánh vào quyền lợi của tư bản độc quyền Mỹ ở Cuba vớitài sản trị giá khoảng 1 tỷ USD và là một đòn đã kích mạnh mẽ vào chiến lược của đếquốc Mỹ ở Tây bán cầu

Khi Cách mạng Cuba v a m i thành cơng, những hành động xâm lược công khaicủa Mỹ chống Cuba chưa lộ rõ Bởi vì, Mỹ đã rất chủ quan cho rằng, với sức mạnhđang ở đỉnh cao của Mỹ có thể làm thay đổi được đường lối của Chính phủ cách mạngCuba bằng những biện pháp kinh tế và ngoại giao mà không cần phải vũ trang xâmlược trực tiếp Trong nhận thức của Mỹ, cũng như một số nước Mỹ Latinh, cách mạngCuba chẳng qua chỉ là một cuộc đảo chính nhà nước hoặc như những phong trào dânchủ khác nhằm lật đổ chế độ độc tài thường xảy ra ở khu vực, như ở Pêru (1956),Côlômbia (1957) hay ở Vênêzuêla (1958) Hơn nữa, Mỹ đã lầm tưởng, Fidel Castro –linh hồn của cách mạng Cuba – chỉ là một chiến sĩ yêu nước muốn thay thế chínhquyền độc tài bằng một chính quyền dân chủ hơn [169, tr.19]

Quả là điều bất ngờ đối với Mỹ, cách mạng Cuba là cuộc cách mạng giải phóngdân tộc lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm ngọn cờ tư tưởng, một trường hợp điển hình ởchâu Mỹ Latinh [169] Và dần dần Mỹ tỏ ra rất lo ngại, nhanh chóng tìm cách trả đũa

Trang 23

lại bằng cách cấm vận thương mại, bao vây kinh tế và cắt quan hệ ngoại giao hoàntoàn với Cuba Hơn nữa, chính phủ Mỹ còn tìm cách tiêu diệt cách mạng Cuba đangcó nguy cơ lan rộng sang các nước khác ở khu vực Mỹ Latinh Đặc biệt, Mỹ huấnluyện và vũ trang cho một bộ phận người Cuba lưu vong phản động, chuẩn bị đổ bộlên vịnh Giron ở phía Nam Cuba nhằm lật đổ chính phủ Fidel và thủ tiêu thành quảcách mạng.

Sự can thiệp và lật đổ của đế quốc Mỹ đối với cách mạng Cuba bị thất bại, FidelCastro công khai tuyên bố đưa cách mạng Cuba đi lên CNXH, một nơi xưa nay vẫn làkhu vực ảnh hưởng truyền thống của Mỹ, chỉ cách Mỹ hơn 90 dặm, là một đòn tấncông mạnh mẽ vào chính sách của đế quốc Mỹ muốn biến châu Mỹ thành “sân sau”của mình Đồng thời, Cách mạng Cuba thành công và tuyên bố đứng trong hàng ngũcác nước XHCN là một thắng lợi có ý nghĩa lớn lao của CNXH

Đế quốc Mỹ coi thắng lợi của cách mạng Cuba như một sự thách thức đối vớichính sách bá quyền của họ ở châu Mỹ Latinh, cần phải trừng phạt, bao vây, cô lập,thậm chí tìm cách ám sát lãnh tụ của nhân dân Cuba, hòng xóa bỏ ngọn cờ CNXH ởTây bán cầu c bi t, ngày 3-10-1960, hai Viện của Quốc hội Mỹ tuyên bố trung

thành với Học thuyết Mơn-rô, mà nội dung chủ yếu là cấm các nước bên ngoài châu

Mỹ can thiệp vào công việc của châu Mỹ, và nếu cần sẽ sử dụng vũ lực để ngăn chặnmọi “hành động lật đổ hoặc xâm lược” ở Tây bán cầu Thực chất, đây là tuyên bốchống lại các cuộc cách mạng của nhân dân Mỹ Latinh mà trước tiên là cách mạngCuba [128, tr.171-172]

Chính phủ Mỹ có lập trường thù địch với Chính phủ Cách mạng Cuba, điều đó đãlàm sâu sắc hơn tình cảm dân tộc chống Mỹ của nhân dân Cuba, thôi thúc chính phủCuba đi theo con đường khác với Mỹ và xây dựng mối quan hệ ngày càng mật thiếtvới Liên Xô và các nước XHCN Thủ tướng Fidel Castro và các nhà lãnh đạo Cubarất nhạy bén với thời cuộc và hiểu rằng, muốn duy trì được một nền độc lập dân tộcthật sự thì độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH “Công cuộc giải phóng dân tộc vàgiải phóng xã hội của chúng ta gắn bó chặt chẽ với nhau, tiến lên là một tất yếu lịch

Trang 24

sử, dừng lại là hèn nhát và phản bội”[85, tr.38] Để bảo vệ thành quả của cách mạng,chính phủ Fidel Castro đẩy mạnh cải tạo và xây dựng CNXH ở trong nước, mặt khácdựa vào các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô để đấu tranh với sự đe dọa xâm lượccủa đế quốc Mỹ.

Với nhận thức đúng đắn đó, đã dẫn tới bước phát triển mới của tiến trình lịch sửcách mạng Cuba Đó là việc Cuba thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô (5-1960)và các nước XHCN khác trong năm 1960, trong đó có nước Việt Nam dân chủ cộnghòa đang là ngọn cờ tiêu biểu cho độc lập dân tộc và CNXH ở Đông Nam Á, chỗ dựavững chắc và là người bạn đáng tin cậy của cách mạng Cuba [169]

1.2.3 Bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ từng bước bành trướng vào châu Ánói chung và Đông Nam Á nói riêng Cuối năm 1949, một văn kiện quan trọng củaỦy ban an ninh quốc gia Mỹ đã chỉ ra rằng: “An ninh ở Đông Nam Á đối với Mỹ làcực kỳ quan trọng, nếu nó rơi vào tay cộng sản thì ảnh hưởng của nó sẽ mang tính thếgiới… Mặc dù bản thân Đông Nam Á chỉ có ý nghĩa chiến lược thứ yếu, nhưng nó đãtrở thành bộ phận cấu thành quan trọng trên tuyến ngăn chặn trong toàn bộ chínhsách châu Á của Mỹ”[176, tr.127]

Đặc biệt đối với Việt Nam, từ năm 1950, Mỹ ngày càng can thiệp sâu hơn vàocuộc chiến tranh của thực dân Pháp Mỹ đã vứt bỏ chính sách “trung lập”, bắt đầucông khai ủng hộ, tích cực giúp đỡ Pháp và chính quyền bù nhìn Bảo Đại về quân sựvà kinh tế… Từ năm 1950 đến 1954, Mỹ đã viện trợ quân sự cho Pháp 2,6 tỷ USD,chiếm 78% chi phí của Pháp trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương [176, tr.128].Sau khi Pháp thua ở Điện Biên Phủ, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam,hất cẳng Pháp và từ đó biến Việt Nam thành nơi thí nghiệm các chiến lược, chiếnthuật của Mỹ, hòng đánh bại cách mạng Việt Nam và rút kinh nghiệm để đối phó vớiphong trào cách mạng thế giới

Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước củanhân dân Việt Nam, thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, biến

Trang 25

miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòngtuyến ngăn chặn CNXH lan xuống Đông Nam châu Á; đồng thời lấy miền Nam làmcăn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống XHCN thế giới ở Đông Nam Á,hòng đè bẹp và đẩy lùi CNXH ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước XHCN khác.

“Đế quốc Mỹ chắc mẩm có thể khuất phục được nhân dân Việt Nam mà không bịtrừng phạt và không gây ra xung đột quốc tế mở rộng do có sự bất hòa trong hệ thốngXHCN”[101, tr.294] Đất nước Việt Nam, vì vậy, trở thành nơi thử thách sức mạnh và

uy tín của đế quốc Hoa Kỳ, như chính gi i cầm quyền Mỹ đã thú nhận

Chiến tranh xâm lược Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàncầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ Mỹ muốn chứng tỏ rằng, lực lượng quân sự vàkinh tế khổng lồ của chúng có thể đè bẹp mọi phong trào giải phóng dân tộc và chặnđứng bước tiến của CNXH ở bất cứ nơi nào trên thế giới

Cuối những năm 50, trên cơ sở nhận định tình hình miền Nam dưới chế độ Mỹ Diệm, Hội nghị l n th 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (1-1959) đã xác định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miềnNam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, bằng lực lượng chính trị củaquần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân”[177, tr.117] Đây làquyết định táo bạo và sáng suốt của Đảng ta, là bước chuyển hướng quan trọng củacách mạng miền Nam từ đấu tranh hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thốngnhất đất nước sang đấu tranh vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền

-Trong khi đó miền Bắc, hậu phương lớn của miền Nam, đến năm 1960, tuy đãhoàn thành khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, những nhiệm vụ lịch sửcủa cách mạng dân chủ nhân dân được thực hiện, song do hậu quả của hàng nghìnnăm phong kiến và gần một thế kỷ dưới ách thống trị của thực dân đế quốc, củanhững năm tháng chiến tranh ác liệt nên cơ sở vật chất còn rất nghèo nàn, lạc hậu.Nhà nước dân chủ nhân dân đang phải đứng trước những nhiệm vụ to lớn, nặng nềcủa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN

Trang 26

Trong hoàn cảnh lịch sử đó, Đại hội III Đảng Lao động Việt Nam (9-1960) đã đề

ra nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam là “Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiênquyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng XHCN ở miền Bắc, đồngthời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thốngnhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình,thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường pheXHCN và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới”[113, tr.81]

Nhằm phát huy tối đa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để hoàn thành nhữngnhiệm vụ lịch sử trọng đại đặt ra cho dân tộc ta, một mặt phải tăng cường đoàn kếttoàn dân, đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, phối hợp đẩy mạnh đấutranh chính trị, quân sự, tạo nên những thắng lợi mới cho cách mạng miền Nam; mặtkhác, tăng cường đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng trên xu thế chung là kết hợp độc lậpdân tộc với CNXH, phát huy sức mạnh tổng hợp của các nước XHCN và phong tràocộng sản, công nhân quốc tế vào mặt trận chung chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầulà đế quốc Mỹ Việt Nam và Cuba tiến hành thiết lập quan hệ ngoại giao chính thứcnhằm góp phần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đó

1.3 QUAN HỆ VIỆT NAM - CUBA 1959 - 1975

1.3.1 Quan hệ chính trị, ngoại giao và hợp tác quốc phòng

1.3.1.1 Những quan hệ bước đầu tiến tới thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức

Trước thời điểm Việt Nam, Cuba chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, nhữngbước đi đầu tiên của mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết giữa hai dân tộc đã được triểnkhai Nhận lời mời của Bộ Quốc phòng Việt Nam, từ ngày 30-5 đến 3-6-1960, đoànđại biểu Bộ Các lực lượng vũ trang Cách mạng Cuba do Thiếu tá Viliam CalvetRodrighet, Tổng Thanh tra quân đội dẫn đầu sang thăm Việt Nam Đoàn đã thăm vàlàm việc với Bộ Quốc phòng, đi tham quan nhiều nơi Đặc biệt, đoàn đã được Chủtịch Hồ Chí Minh tiếp Sự đón tiếp trọng thị, chân thành, giàu lòng mến khách củanhân dân và quân đội ta, nhất là những nơi đoàn đến thăm, làm việc đã để lại ấntượng sâu sắc, lòng kính trọng và tình cảm tốt đẹp cho đoàn đại biểu quân đội cách

Trang 27

mạng Cuba đối với đất nước, nhân dân và quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, đốivới lãnh tụ Hồ Chí Minh kính mến.

Đặc biệt, sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc của nhândân Việt Nam là mối quan tâm hàng đầu, lớn nhất của Phong trào Cách mạng 26-7Cuba Qua bức điện chào mừng Đại hội III Đảng Lao động Việt Nam (9-1960),Phong trào Cách mạng 26-7 đã tỏ rõ tình cảm, sự tin tưởng và thiện chí của mình đốivới đường lối cách mạng Việt Nam trong thời kỳ lịch sử mới Bức điện có đoạn viết:

“Thay mặt những người Cộng sản và nhân dân Cuba, chúng tôi chân thành chúc nhândân Việt Nam, những người Cộng sản Việt Nam tiến bước vững chắc, giành nhiềuthắng lợi to lớn trên con đường đầy chông gai và sự nghiệp cao cả của mình Chúngtôi tin tưởng vững chắc rằng, với đường lối sáng suốt mà Đại hội III Đảng Lao độngViệt Nam đề ra, nhân dân Việt Nam sẽ liên tiếp giành được nhiều thắng lợi và toànthắng”[117]

Tiếp đó, đầu tháng 10-1960, nhận lời mời của Bộ biên tập báo Nhân Dân - Cơ

quan ngôn luận Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, ông Pelogoril Toras, Chủ

nhiệm Ban Đối ngoại báo Ngày Nay - Cơ quan ngôn luận Trung ương Đảng Xã hội

nhân dân Cuba (Đảng Cộng sản) sang thăm và làm việc tại Việt Nam Chuyến thămcủa đoàn đã đem đến cho nhân dân Việt Nam những tình cảm nồng ấm, chân thànhcủa nhân dân Cuba anh hùng

Đặc biệt, từ ngày 28-11 đến 4-12-1960, đoàn đại biểu đầu tiên của Chính phủCách mạng nước Cộng hòa Cuba do Thứ trưởng Ngoại giao Herto Rodrighet dẫn đầusang thăm hữu nghị chính thức nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Ngày 2-12-1960,đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giaoNguyễn Duy Trinh dẫn đầu đã hội đàm với đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạngCuba do Thứ trưởng Ngoại giao Herto Rodrighet dẫn đầu Sau hội đàm, hai bên đã

tiến hành Lễ kí kết các văn kiện: Hiệp định thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước

ở cấp Đại sứ; Hiệp định hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại và Hiệp định hợp tác văn hóa, KHKT Việt Nam - Cuba giai đoạn 1961-1965… Nhân dịp này, đoàn đại biểu

Trang 28

Chính phủ Cách mạng Cuba đã đi thăm nhiều nơi, dự các cuộc tiếp kiến với các nhàlãnh đạo Việt Nam và tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân, khẳng định những thắng lợivà kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam là những bài học lớn cho các dân tộc châu

Á, châu Phi và Mỹ Latinh trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc

Như vậy, việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Cuba vào ngày

2-12-1960, thời điểm chuyển hướng của cách mạng mỗi nước, đã đáp ứng kịp thời nhu cầu

phát triển cách mạng của hai dân tộc, phù hợp với xu thế chung của cuộc đấu tranh vìhòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH Sự kiện này không những mở màn cholịch sử quan hệ có tính chất tiêu biểu giữa hai dân tộc trong mối quan hệ quốc tế ngàynay mà còn mở đường, tạo điều kiện phát triển toàn diện các mối quan hệ khác vàthúc đẩy nhanh chóng, mạnh mẽ sự hình thành phong trào nhân dân Cuba đoàn kết,ủng hộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam “Giống như những dòng sôngnhỏ, phát sinh từ những vùng đất xa nhau và trong một thời gian dài đã qua nhữngthác ghềnh và trong cảnh lẻ loi, hai dân tộc chúng ta đã trải qua lịch sử, cho đến mộtngày kia nhập vào dòng sông lớn và hùng vĩ của Cách mạng XHCN”[87, 20-10-1982] Kể từ đây, mối quan hệ giữa hai nước được tôi luyện và trưởng thành trongcuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộcvà CNXH

1.3.1.2 Quan hệ chính trị, ngoại giao

* Những chuyến thăm cấp cao

Quan hệ chính trị, ngoại giao Việt Nam - Cuba, trước hết được thể hiện qua cácchuyến thăm, làm việc của lãnh đạo cấp cao cũng như các đoàn đại biểu của cácBộ, Ngành Trung ương hai nước Những chuyến thăm này được coi là những mốcquan trọng trong quá trình phát triển của mối quan hệ Về phía Việt Nam, các chuyếnthăm Cuba có ý nghĩa quan trọng như chuyến thăm của ông Trần Bửu Kiếm (6-1969),của Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ CMLTCHMNVN Nguyễn Thị Bình (7-1972) vàđặc biệt là chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (3-1974) Về phía Cuba, có

Trang 29

chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Osvaldo Dorticos Torado (10-1966) và đặcbiệt là chuyến thăm của Thủ tướng Fidel Castro (9-1973).

Có thể nói, mở đầu và tạo động lực mới cho sự phát triển quan hệ Việt Nam Cuba thời kỳ này là chuyến thăm Việt Nam cuối tháng 10-1966 của Tổng thốngO.Dorticos, ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Cuba Đây là chuyếnthăm Việt Nam đầu tiên của vị nguyên thủ quốc gia Cuba kể từ khi hai nước chínhthức thiết lập quan hệ ngoại giao Trong buổi đón tiếp Tổng thống O.Dorticos, HồChủ tịch đã nói: Các đồng chí đến thăm nước chúng tôi giữa lúc cuộc đấu tranh chốngMỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam trên cả hai miền bước vào giai đoạn quyết liệtvà đang thu được thắng lợi vẻ vang… Cuộc đi thăm của các đồng chí nhất định sẽ cổvũ mạnh mẽ nhân dân cả nước chúng tôi… Việt Nam và Cuba cách xa nhau hàng vạndặm, nhưng lòng nhân dân hai nước chúng ta thì rất gần gũi nhau như anh em một nhà[175, tr.151] Trong lời đáp từ, Tổng thống O.Dorticos nói: Đối với chúng tôi thật làniềm hạnh phúc cách mạng to lớn khi được đến thăm các đồng chí đúng vào lúc chủnghĩa đế quốc đang đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác của chúng Nếucuộc đi thăm này cổ vũ thật sự nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu của mình thìchúng tôi càng thêm toại nguyện Mong rằng khi đặt chân lên đất nước Việt Nam,những điều đầu tiên của chúng tôi là nhằm bày tỏ mối tình đoàn kết không điều kiệncủa nhân dân Cuba đối với sự nghiệp cách mạng, tinh thần quyết chiến quyết thắngcủa nhân dân Việt Nam Rõ ràng là chúng tôi đã đến đây từ một nước rất cách xaViệt Nam, nhưng chúng tôi cảm thấy như ở trên đất nước mình, giữa những người anh

-em hiện nay đang chiến đấu trên tuyến đầu chống đế quốc [134, tr.8]

Thông cáo chung về chuyến thăm Việt Nam của đoàn đại biểu Đảng Cộng sản và

Nhà nước Cách mạng Cuba do Tổng thống O.Dorticos dẫn đầu, sau khi điểm quanhững hoạt động của đoàn trong thời gian ở thăm hữu nghị Việt Nam, hai bên nhất trínhận định rằng, nguồn gốc sâu xa và nguyên nhân trực tiếp của tình hình hết sứcnghiêm trọng hiện nay ở Việt Nam là chính sách xâm lược của đế quốc Mỹ Chúngđã vi phạm vô cùng trắng trợn Hiệp nghị Genève năm 1954 về Việt Nam, tiến hành ở

Trang 30

Việt Nam cuộc chiến tranh xâm lược ghê tởm và tàn bạo nhất hiện nay Đoàn đạibiểu Cuba tỏ lòng khâm phục sâu sắc và đánh giá rất cao cuộc đấu tranh yêu nước vàchính nghĩa của nhân dân Việt Nam anh em đang đứng trên tuyến đầu của cuộc đấutranh của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ, vì tự do, độc lập của mình và vì sựnghiệp đấu tranh cao cả của nhân dân thế giới giành hòa bình giải phóng dân tộc, dânchủ và tiến bộ xã hội [231, 3-11-1966].

Tại buổi chiêu đãi đoàn đại biểu Cuba, Hồ Chủ tịch nói: “Các đồng chí là nhữngngười anh em, những đồng chí thân thiết của chúng tôi… Các đồng chí đã vượt quansơn muôn dặm đến thăm nước chúng tôi, mang lại cho nhân dân chúng tôi mối tìnhhữu nghị thắm thiết của nhân dân Cuba anh em Nhân dân Việt Nam vô cùng phấnkhởi có người bạn chiến đấu kiên cường, dũng cảm là nhân dân Cuba anh em cùng kềvai sát cánh với mình trên tuyến đầu chống Mỹ”[134, tr.10] Bày tỏ sự ủng hộ vô điềukiện đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, Tổngthống Dorticos khẳng định: “Người ta nói về nhiệm vụ phải giúp đỡ nhân dân ViệtNam Chúng tôi tuyên bố ngược lại, chính nhân dân Việt Nam bằng chủ nghĩa anhhùng, tinh thần hy sinh quên mình, chịu đựng gian khổ và với năng lực chiến đấu vàkháng chiến của mình là người đang giúp đỡ phe XHCN và tất cả các dân tộc trên thếgiới”[231, 2-11-1966]

Chuyến thăm Việt Nam của đoàn đại biểu Cuba do Tổng thống Dorticos dẫn đầulà một mốc quan trọng, đem lại cho nhân dân Việt Nam những tình cảm nồng nàn, sựđoàn kết gắn bó của những người anh em, những người bạn chiến đấu Cuba và châuMỹ Latinh Chuyến thăm đã cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước củanhân dân Việt Nam và làm cho quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam - Cuba phát triểnlên một tầm cao mới

Từ ngày 1-6 đến 4-6-1969, ông Trần Bửu Kiếm, ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy banTrung ương MTDTGPMNVN, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Mặt trận và là Trưởngđoàn đại biểu của Mặt trận tại Hội nghị bốn bên ở Paris, dẫn đầu đoàn đại biểu Mặttrận sang thăm hữu nghị chính thức Cuba Chuyến thăm này đã đánh dấu mốc quan

Trang 31

trọng trong quan hệ giữa MTDTGPMNVN với Đảng, Chính phủ Cách mạng và nhândân Cuba anh em Phát biểu tại lễ đón tiếp ông Trần Bửu Kiếm, Bộ trưởng Ngoạigiao Cuba Raul Row ca ngợi ý chí bất khuất, lòng dũng cảm vô song, sự quên mìnhvô hạn, tinh thần phi thường và nghị lực tuyệt vời của nhân dân miền Nam Việt Nam,đội tiên phong dày dạn và hy sinh nhất trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốcMỹ của các dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh Bộ trưởng Raul Row nói: Đồng chí Trần BửuKiếm, đồng chí đã đến lãnh thổ đầu tiên ở châu Mỹ thoát khỏi ách thống trị Mỹ, vàđến nước đầu tiên ở vùng này trên thế giới đang xây dựng CNXH… Chúng tôi cảmthấy hài lòng vô hạn vì cuộc đi thăm này của đồng chí diễn ra cùng một lúc với mộtloạt chiến thắng quân sự, chính trị, ngoại giao vang dội và nối tiếp nhau của nhân dânViệt Nam Bọn đế quốc và chư hầu đã thua không gì cứu vãn nổi trong cuộc chiếntranh bẩn thỉu, phi nghĩa và đầy tội ác của chúng [150, tr.2] Đoàn đại biểu Mặt trậnđã được Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, Thủ tướng Chínhphủ Cách mạng Cuba Fidel Castro và nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng,Nhà nước, Quốc hội Cuba tiếp và hội đàm.

Bản Thông cáo chung giữa MTDTGPMNVN và Cộng hòa Cuba, sau khi điểm qua

những hoạt động của đoàn tại Cuba, đã khẳng định sự khâm phục đặc biệt của Cubađối với cuộc đấu tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam và những thắng lợi quyếtđịnh mà nhân dân miền Nam Việt Nam đã giành được dưới sự lãnh đạo đúng đắn củangười đại diện chân chính của mình là MTDTGPMNVN “Nhân dân, Đảng Cộng sảnvà Chính phủ Cách mạng Cuba khẳng định lại sự nhất trí tuyệt đối và sự ủng hộ hoàntoàn đối với mọi biện pháp của Mặt trận cũng như của Đảng Lao động Việt Nam vàChính phủ nước VNDCCH nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tớihòa bình, thống nhất đất nước”[150, tr.5] Tại buổi mít tinh chào mừng đoàn đại biểuMặt trận thăm hữu nghị Cuba, trước hàng vạn nhân dân thủ đô La Habana, sau 21phát đại bác, Thủ tướng Fidel đã đọc bài diễn văn hai tiếng đồng hồ, nhiệt liệt ca ngợicuộc chiến đấu anh hùng bất khuất của nhân dân miền Nam Việt Nam mà nội dung

Trang 32

chủ yếu là hoàn toàn ủng hộ, ủng hộ vô điều kiện giải pháp toàn bộ 10 điểm giảiquyết vấn đề Việt Nam do Mặt trận đưa ra.

Từ ngày 22-7 đến 29-7-1972, đoàn đại biểu của MTDTGPMNVN và Chính phủCMLTCHMNVN do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình dẫn đầu đã sang thămhữu nghị kết hợp dự các hoạt động kỷ niệm ngày Khởi nghĩa vũ trang Cuba (26-7).Đoàn đã được Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, Thủ tướngChính phủ Cách mạng Cuba Fidel Castro và toàn bộ Bộ Chính trị Trung ương ĐảngCộng sản Cuba tiếp đón và hội đàm Trong các cuộc hội đàm, hai bên đã thông báocho nhau về tình hình của nước mình, trao đổi những vấn đề quốc tế, khu vực cùngquan tâm và hoàn toàn nhất trí về tất cả những vấn đề được đề cập đến Kết thúccuộc hội đàm, Thủ tướng Fidel nói: “Hiện nay, chúng tôi đang cố gắng thi đua trongviệc ủng hộ Việt Nam, chúng tôi sẽ cố gắng để trở thành những người đi đầu trongcuộc thi đua đó”[131, tr.4] Thủ tướng Fidel Castro và Bộ trưởng Ngoại giao NguyễnThị Bình đã đọc diễn văn trong buổi Lễ kỷ niệm ngày Khởi nghĩa vũ trang Cuba (26-7) trước gần một triệu nhân dân thủ đô La Habana mà theo tập quán từ trước đến naydiễn đàn này là chỉ dành riêng cho Thủ tướng Fidel Tại đây, Thủ tướng Fidel đãkhẳng định lại rằng,“Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hy sinh cả máu của mình”[86,tr.34]

Thông cáo chung Cộng hòa miền Nam Việt Nam - Cộng hòa Cuba nhân chuyến

thăm Cuba của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình khẳng định: vấn đề quốc tếhiện nay tập trung sự chú ý nhất là vấn đề Việt Nam, rằng Việt Nam trong lúc này làtiêu biểu cho sự thử thách cao nhất của chủ nghĩa quốc tế cách mạng và các nguyêntắc Mácxít - Lêninnít và kiên quyết duy trì lập trường của nhân dân Cuba sẵn sàngủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trên mọi lĩnh vực cần thiết.Thông cáo chung nhấn mạnh: “Con đường duy nhất đúng đối với một giải pháp chínhtrị cho cuộc chiến tranh chống lại Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt sự can thiệp phinghĩa và phi đạo lý ở Việt Nam, chấp nhận kế hoạch hòa bình bảy điểm của Chínhphủ CMLTCHMNVN”[131, tr.12] Chuyến thăm hữu nghị Cuba của đoàn đại biểu

Trang 33

MTDTGP và Chính phủ CMLTCHMNVN do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bìnhdẫn đầu là một sự cổ vũ hết sức lớn lao đối với toàn Đảng, toàn dân Cuba, “vì ViệtNam hiện nay là một bài học, một tấm gương lớn cho thế giới”[131, tr.6].

Đặc biệt, sự kiện có tầm quan trọng to lớn trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Cubalà chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Bí thư thứ nhất Ban Chấp hànhTrung ương Đảng Cộng sản, Thủ tướng Chính phủ Cách mạng Cuba Fidel Castro từngày 12 đến 17-9-1973 Đây là đoàn đại biểu cấp cao nhất của Đảng và Nhà nướcmột nước XHCN anh em đầu tiên thăm Việt Nam kể từ khi Hiệp định Paris về ViệtNam được ký kết (27-1-1973) Trong hoàn cảnh đó, chuyến đi thăm của đoàn đếnQuảng Bình, khu vực Vĩnh Linh và nhiều vùng giải phóng thuộc tỉnh Quảng Trị làsự cổ vũ to lớn đối với nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cuối của cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà

Trong cuộc họp mặt với các đồng chí lãnh đạo Đảng bộ, Chính quyền, các đoànthể quần chúng và những người anh hùng của đất thép Vĩnh Linh, Thủ tướng Fidelxúc động nói: “Thật không có một dân tộc nào trên thế giới chịu nhiều đau khổ nhưdân tộc Việt Nam, không có một nơi nào trên thế giới phải chịu nhiều bom đạn như ởVĩnh Linh này Đó là điều không thể tưởng tượng được Một nghìn năm, hai nghìnnăm, mười nghìn năm qua đi, nhưng những thế hệ sau này vẫn còn nhắc đến chủnghĩa anh hùng Việt Nam”[86, tr.36]

Trong các cuộc tiếp xúc và hội đàm với các nhà lãnh đạo Việt Nam, Thủ tướngFidel nhấn mạnh chính sách nhất quán của Cuba là thường xuyên quan tâm tăngcường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Việt Nam Cuba sẵn sàng hợp tác vàgiúp đỡ Việt Nam trong các nổ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và pháttriển kinh tế, đồng thời sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam phát triển cácngành kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng, y tế, KHKT và đàotạo cán boä v.v. Những cuộc hội đàm đã thể hiện rõ tình hữu nghị anh em, sự thôngcảm sâu sắc, lòng tin tưởng tuyệt đối và sự nhất trí hoàn toàn về lập trường quan điểmgiữa Việt Nam và Cuba Trong chuyến thăm Việt Nam lần này của Thủ tướng Fidel,

Trang 34

ngoài việc ký kết Hiệp định về hợp tác kinh tế, văn hóa, KHKT, Cuba đã có haiquyết định quan trọng, đó là giúp Việt Nam xây dựng lại đất nước sau chiến tranh vàtham gia vào việc sửa chữa “đường mòn Hồ Chí Minh”.

Kết thúc chuyến thăm, hai bên đã ra Tuyên bố chung Tuyên bố chung đánh giá

rất cao ý nghĩa lịch sử và tầm quan trọng quốc tế của Cách mạng Cuba “Cuba, nướcđầu tiên ở châu Mỹ Latinh, đã tự giải phóng khỏi sự nô dịch của chủ nghĩa thực dânmới, đồng thời là nước đầu tiên xây dựng CNXH ở Tây bán cầu, đứng hiên ngang vàvững mạnh tại cửa ngõ của đế quốc Mỹ Sự kiện đó có ý nghĩa rất quan trọng đối vớiquá trình phát triển của cách mạng thế giới”[138, tr.44] Tuyên bố chung nhiệt liệtchào mừng thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chốngMỹ, cứu nước “Hiệp định Paris là sự thể hiện thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và có tínhchất quốc tế của nhân dân Việt Nam Đó cũng là thắng lợi chung của nhân dân cácnước Đông Dương, của các nước XHCN, của các nước Không liên kết và của nhândân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới [138, tr.45] Đồng thời, Tuyênbố chung khẳng định sự ủng hộ của Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba đối với cáchmạng Việt Nam, đối với nhân dân Việt Nam trong giai đoạn lịch sử mới - giai đoạn

“đánh cho Ngụy nhào”, bảo vệ hòa bình và xây dựng đất nước

Chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên này của Thủ tướng Cuba Fidel Castro có ýnghĩa rất to lớn, không những thúc đẩy mối quan hệ chính trị, ngoại giao tốt đẹp vốncó giữa hai nước phát triển mà còn nâng quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, KHKTViệt Nam - Cuba lên một tầm cao mới, đồng thời mở màn cho giai đoạn phát triểncao hơn của phong trào nhân dân Cuba đoàn kết và ủng hộ sự nghiệp cách mạng ViệtNam Đánh giá sự kiện lịch sử này, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương ĐảngLao động Việt Nam Lê Duẩn cho rằng, đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa rất sâusắc… Đây là một bước phát triển mới, có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ giữa hai Đảng,hai Nhà nước và nhân dân hai nước, một sự cổ vũ mạnh mẽ đối với nhân dân cả nướcchúng tôi trong giai đoạn cách mạng mới [10, 17-9-1972]

Trang 35

Sự kiện có tầm quan trọng to lớn tiếp theo trong lịch sử quan hệ giữa hai nước làchuyến thăm hữu nghị chính thức Cuba của Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ ngày 22-3đến 28-3-1974 Chuyến thăm “nhằm đáp ứng tình cảm thiết tha của nhân dân ViệtNam và thực hiện điều mong muốn cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mếntrong Di chúc của Người”[231, 22-3-1974].

Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, Thủ tướng Chính phủCách mạng Cuba Fidel Castro, Chủ tịch Cuba O.Dorticos cùng các đồng chí lãnh đạokhác và nhân dân Cuba đã dành cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng và đoàn đại biểuViệt Nam sự đón tiếp rất trọng thể, thân tình Bộ Lao động Cuba đã ra quyết định vềviệc các cơ quan, đoàn thể, các đơn vị sản xuất, trường học… ở thủ đô La Habana nghỉviệc buổi sáng 22-3 để đón đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam với khẩuhiệu: “Tất cả ra đường đón tiếp đồng chí Phạm Văn Đồng và đoàn đại biểu ViệtNam”[232] Một cuộc mít tinh khổng lồ biểu dương sức mạnh và tình đoàn kết Cuba -Việt Nam đã được tổ chức tại Quảng trường Cách mạng Jose Marti Thủ tướng Fidelnhiệt liệt hoan nghênh thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chốngMỹ cứu nước, Thủ tướng nói: “Những người Việt Nam không chỉ chiến đấu cho riêngmình Họ đã chiến đấu cho tất cả các dân tộc trên thế giới, chiến đấu vì sự nghiệpgiải phóng của loài người, chiến đấu vì sự nghiệp của CNXH và chủ nghĩa cộng sản.Những người đã hy sinh ở Việt Nam là hy sinh cho chúng ta Và loài người mãi mãibiết ơn Việt Nam về những cống hiến đó… Dù thời gian có trôi qua, thậm chí hàngvạn năm sau loài người vẫn còn ghi nhớ chiến công của nhân dân Việt Nam”[147,tr.65] Thủ tướng Fidel nói tiếp: “Chúng ta đã nói: vì Việt Nam, chúng ta sẵn sànghiến dâng cả máu của mình Nhưng, ngày nay Việt Nam đang làm nhiệm vụ xâydựng lại đất nước Và, nếu chúng ta sẵn sàng dành máu của mình thì chúng ta phảisẵn sàng đổ mồ hôi của chúng ta… cần phải giúp đỡ xây dựng lại Việt Nam mười lần

to đẹp hơn như Hồ Chí Minh đã nói”[147, tr.68]

Phản ánh chuyến thăm Cuba của đoàn đại biểu Việt Nam do Thủ tướng PhạmVăn Đồng dẫn đầu, nhiều tờ báo lớn ở Cuba, trong suốt nhiều ngày, đã dành nhiều

Trang 36

trang đưa tin trang trọng về chuyến thăm hữu nghị này Ngày 17-3-1974, trên trang

nhất báo “Thanh niên quật khởi” (tờ báo duy nhất ở Cuba ra ngày chủ nhật) đã viết:

“Cuộc đi thăm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một sự kiện có tầm quan trọng đặcbiệt… sẽ góp phần khác thường vào việc thắt chặt các mối quan hệ hữu nghị và anh

em giữa nhân dân hai nước”[231, 17-3-1974] Dưới đầu đề “Một chuyến đi thăm có

ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tình hữu nghị Cuba - Việt Nam”, báo Granma (Cuba) số ra ngày 22-3-1974, đăng Xã luận “Nhiệt liệt chào mừng cuộc đi thăm hữu nghị chính thức Cuba của Thủ tướng Phạm Văn Đồng” Bài Xã luận có đoạn viết:

“Quan hệ giữa Cuba và Việt Nam nảy nở và phát triển trong những giờ phút khókhăn nhất của chiến tranh và được tôi luyện trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung,luôn luôn là tình hữu nghị sâu sắc, là sự thông cảm hoàn toàn, tin cậy lẫn nhau và sựnhất trí lớn về quan điểm giữa hai Đảng và hai Chính phủ”[231, 24-3-1974]

Trong các cuộc hội đàm với các nhà lãnh đạo Cuba, Thủ tướng Phạm Văn Đồngđánh giá cao vai trò của Cuba đối với sự nghiệp hòa bình, an ninh ở khu vực MỹLatinh và trên thế giới , đồng thời bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đối vớiĐảng, Chính phủ và nhân dân Cuba về sự giúp đỡ quý báu đối với sự nghiệp hoànthành độc lập và dân chủ ở miền Nam, xây dựng CNXH ở miền Bắc Cũng trong cáccuộc hội đàm, một lần nữa, Thủ tướng Fidel khẳng định Cuba sẽ quyết tâm ủng hộ,giúp đỡ Việt Nam xây dựng lại đất nước sau chiến tranh Kết thúc hội đàm, đã diễn ra

Lễ ký các văn kiện, gồm: Hiệp định thành lập Ủy ban hợp tác kinh tế, KHKT giữa hai Chính phủ; Nghị định thư về việc Cuba tham gia giúp xây dựng lại đất nước Việt Nam sau chiến tranh và Nghị định thư khóa IV về hợp tác kinh tế, KHKT Việt Nam - Cuba

[147]

Thông cáo chung Cuba - Việt Nam nhân chuyến thăm Cuba của Thủ tướng Phạm

Văn Đồng khẳng định “Quyết tâm của Cuba và Việt Nam không ngừng củng cố vàphát triển hơn nữa tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hợp tác anh em giữa hainước”[147]

Trang 37

Xét trên ý nghĩa tổng quát, cuộc đi thăm Cuba lần này của Thủ tướng Việt NamPhạm Văn Đồng là một mốc lịch sử vô cùng quan trọng, biểu thị hùng hồn của tìnhđoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị anh em giữa hai Đảng, hai Chính phủ và nhândân hai nước, góp phần to lớn vào việc củng cố và phát triển các mối quan hệ hợp tácsong phương về mọi mặt giữa Việt Nam và Cuba.

* Hoạt động ngoại giao nhân dân

+ Về phía Việt Nam

Cách mạng giải phóng dân tộc Cuba thành công, xây dựng nên “Hòn đảo Tự do”đầu tiên của châu Mỹ, sau đó tiến lên xây dựng CNXH để trở thành nước XHCN đầutiên ở Tây bán cầu, nêu cao chủ nghĩa quốc tế vô sản, tinh thần chống đế quốc vàkiên quyết đứng về phía các dân tộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.Cách mạng Cuba thành công đúng vào lúc sự nghiệp cách mạng Việt Nam bước vàogiai đoạn gay go, gian khổ nhất, nhưng cũng là vinh quang nhất, có ý nghĩa quốc tếlớn lao, đó là giai đoạn chống Mỹ, cứu nước Trong bối cảnh đó, ngày 1-1-1965 Hộihữu nghị Việt Nam - Cuba được thành lập Sự ra đời của Hội hữu nghị Việt Nam -Cuba “là thể hiện nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta đoàn kết, ủng hộ Cách mạngCuba, đền ơn đáp nghĩa sự ủng hộ to lớn, chí tình mà nhân dân Cuba đã dành chochúng ta”[151, tr.105]

Từ ngày thành lập đến nay, Hội hữu nghị Việt Nam - Cuba do các đồng chí HoàngTùng, Bí thư Trung ương Đảng; Nguyễn Thị Định, ủy viên Trung ương Đảng, Chủtịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Trần Thị Thanh Thanh, ủy viên Trung ươngĐảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam và đồngchí Võ Thị Thắng, ủy viên Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch ViệtNam làm Chủ tịch Được sự lãnh đạo của Ban Bí thư và sự chỉ đạo trực tiếp của Liênhiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Hội, dưới sự lãnhđạo của các đồng chí Chủ tịch đã lôi cuốn, động viên các thành viên của Hội tích cựctham gia mọi hoạt động

Trang 38

Hoạt động chính của Hội từ ngày thành lập (1-1-1965) đến ngày miền Nam hoàntoàn giải phóng (30-4-1975) là hoạt động chính trị, tham gia các phái đoàn sang thămhữu nghị Cuba, tiếp đón các đoàn Cuba sang thăm Việt Nam, trong đó có nhiều nhàlãnh đạo cao cấp, nhiều đoàn văn nghệ sĩ, luật gia, thể dục thể thao, nhà làm phim…đã được Chủ tịch Hội tiếp, thông báo về tình hình Việt Nam, về đường lối chống Mỹ,cứu nước của chúng ta một cách cởi mở trên tinh thần “vừa là đồng chí vừa là anhem”, làm cho Cuba rất tâm đắc và khâm phục Thời kỳ này Hội cũng đã ra nhiềutuyên bố, lên án những hành động thù địch chống Cuba, hoan nghênh và bày tỏ lòngbiết ơn những cử chỉ và tuyên bố đoàn kết của Cuba Hội đã hợp tác chặt chẽ với Ủyban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Campuchia, Lào để đẩy mạnh các hoạt động nhằmgiới thiệu sâu rộng đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta, những thắnglợi của quân và dân ta đến nhân dân Cuba, đồng thời nhờ Cuba giúp ta giới thiệu vớinhân dân Bắc Mỹ và Mỹ Latinh [151, tr.106].

+ Về phía Cuba

Ngay từ đầu những năm 60 của thế kỷ trước, Cuba đã dành cho Việt Nam sự ủnghộ, giúp đỡ tận tình, vô tư và có hiệu quả Để hỗ trợ cho sự giúp đỡ của Đảng vàChính phủ, để động viên sâu rộng quần chúng nhân dân Cuba vào các hoạt độngđoàn kết, hữu nghị, và theo sự đề xuất của Fidel, Cuba là nước đầu tiên trên thế giớithành lập Ủy ban đoàn kết với nhân dân miền Nam Việt Nam (9-1963) Khi đế quốcMỹ ném bom phá hoại miền Bắc, đưa cuộc chiến lan rộng ra cả nước Việt Nam thìỦy ban đoàn kết trở thành Ủy ban đoàn kết với Việt Nam Khi đế quốc Mỹ mở rộngchiến tranh sang Lào và Campuchia thì Ủy ban cũng đổi thành Ủy ban đoàn kết vớinhân dân Đông Dương

Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban là Melba Hernaldez, một trong hai nữ chiến sĩ trongtrận tấn công pháo đài Moncada (7-1953), bạn thân thiết của Fidel Trước khi nhậnnhiệm vụ, đồng chí Melba đã đến thăm Việt Nam và được Hồ Chủ tịch tiếp Khi vềnước đồng chí kể lại: “Trong đời tôi đã may mắn được gặp hai người Hai người đó đãquyết định hướng đi của cả đời tôi đó là Fidel và Hồ Chí Minh”[151, tr.96]

Trang 39

Trong thực tế, Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam là một mặt trận rộng rãi,không chỉ thu hút sự tham gia của các nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các cơ quan nghiêncứu có uy tín mà còn bao gồm cả các ngành, các cấp, các tổ chức quần chúng như: BộCác lực lượng vũ trang Cách mạng, các Ủy ban bảo vệ Cách mạng (CDR), Trung tâmnhững người lao động Cuba (CTC), Liên hiệp phụ nữ (FMC), Đoàn Thanh niên Cộngsản (UJC), Liên đoàn sinh viên đại học (FEU), Đoàn học sinh trung học (FEEM), Hộiđồng toàn quốc tiểu nông (ANAP), Hội y học quốc gia, Hội nhà báo, Hội kiến trúc sư,Hội văn nghệ sĩ, Hội luật gia v.v.Nội dung cũng như hình thức hoạt động của Ủy banvô cùng phong phú, liên tục, thiết thực và rất hiệu quả Mỗi giai đoạn lịch sử, mỗinăm tùy theo tình hình cụ thể và yêu cầu của cuộc chiến đấu của Việt Nam mà đề ranhiệm vụ với những hình thức thích hợp nhằm mục tiêu chủ yếu là: làm cho nhân dânCuba hiểu rõ tình hình Việt Nam, qua đó động viên dư luận trong nước và thế giớiđoàn kết, ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước; tốcáo trước dư luận trong nước và thế giới những tội ác dã man của đế quốc Mỹ và bèlũ tay sai chống nhân dân Việt Nam; giáo dục tinh thần quốc tế vô sản, lòng căm thùchủ nghĩa đế quốc, tinh thần đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu thủđoạn của kẻ thù [151, tr.97].

Phong trào đoàn kết với nhân dân Việt Nam không chỉ phát triển bề rộng mà ngàycàng đi vào chiều sâu, từ Trung ương đến các tỉnh, huyện, thậm chí đến tận làng xóm,tận tổ dân phố… Xuất phát từ trái tim, mỗi người dân Cuba từ cụ già đến em nhỏ, từnhững người sống ở thủ đô đến những người sống ở các vùng xa xôi hẻo lánh nhấtđều biết về Việt Nam và có những hình thức bày tỏ tình đoàn kết, hữu nghị thích hợp.Để làm cho thanh, thiếu niên Cuba hiểu rõ truyền thống đấu tranh anh hùng của

nhân dân Việt Nam, Ủy ban đã phối hợp với Bộ Giáo dục Cuba tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu về Việt Nam” trong phạm vi cả nước Cuộc thi đã thu hút sự tham gia của hàng

chục vạn học sinh, sinh viên các cấp

Ủy ban cùng Hội văn nghệ sĩ Cuba đã cử những văn nghệ sĩ nổi tiếng như NicolasGuillen, Felix Pita Rodriguez, Roberto Retamar, Lisandro Otero, Santiago Alvarez

Trang 40

Castro… sang thăm và tìm hiểu tại chỗ các mặt về cuộc sống, lao động và chiến đấucủa nhân dân ta Khi về nước, họ đã lần lượt cho ra mắt độc giả Cuba và Mỹ Latinh

những bài viết, những tác phẩm như: “Tìm hiểu Việt Nam” của Lisandro Otero… Nhà điện ảnh Santiago Alvarez Castro là tác giả của bộ phim nổi tiếng “Bảy mươi chín mùa xuân” khi Bác Hồ qua đời Ông cũng là tác giả của một loạt phim tài liệu về

cuộc chiến đấu của nhân dân ta Các nhà thơ lão thành Nicolas Guillen và Felix PitaRodriguez sau khi đi thăm Việt Nam về cũng có những tác phẩm ca ngợi Việt Nam,

ca ngợi Bác Hồ Riêng Felix Pita Rodriguez đã dịch “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ

tịch ra tiếng Tây Ban Nha, được phát hành rộng rãi không chỉ ở Cuba mà cả châu Mỹ

Latinh Ông còn dịch tập thơ “Từ góc sân nhà em” của Trần Đăng Khoa, tái bản tới hai lần, mỗi lần 10 vạn bản Khi Bác Hồ qua đời, ông viết bài thơ “Hồ Chí Minh, tên Người là cả một bài thơ” Đó là một trong những bài thơ hay nhất của các tác giả nước

ngoài viết về Bác Hồ Trong những năm cuối đời, ông dành hết thời gian để dịch

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du, nhưng tiếc thay, bản dịch chưa hoàn thành thì ông đã

qua đời Đặc biệt hai nhà báo Marta Rojas và Raul Valdes Vivo, năm 1965 đã vàothăm vùng giải phóng miền Nam Việt Nam Khi về nước họ đã viết hàng loạt bài vềthực tế cuộc chiến đấu của quân dân ta ở miền Nam Các bài viết của tác giả Cubakhông những chỉ góp phần vào thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị mà còn khích lệ, cổvũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta

Không những thế, Cuba còn giúp dịch, in và xuất bản ở Cuba nhiều tác phẩmchính trị, văn học, sử học của Việt Nam Những bài viết của Hồ Chủ tịch, của Đạitướng Võ Nguyên Giáp được tái bản nhiều lần, cử chuyên gia sang giúp Nhà xuất bảnNgoại văn Việt Nam tổ chức việc dịch các sách Việt Nam ra tiếng Tây Ban Nha đểphát hành rộng rãi ở các nước nói tiếng Tây Ban Nha Tác phẩm văn học đầu tiên của

Việt Nam được dịch và in ở Cuba và có tiếng vang lớn là cuốn “Đất nước đứng lên”

của nhà văn Nguyên Ngọc Nhờ cuốn sách này nên khi anh hùng Núp sang dự Lễ kỷniệm ngày Khởi nghĩa vũ trang Cuba (26-7-1964) đã được đón tiếp rất nhiệt tình vàđầy cảm động

Ngày đăng: 20/05/2016, 16:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số lượng đường và dây thừng Cuba viện trợ cho Việt Nam (1961 - 1975) - Lịch sử quan hệ việt nam   cuba (1959 2005)
Bảng 1 Số lượng đường và dây thừng Cuba viện trợ cho Việt Nam (1961 - 1975) (Trang 46)
Bảng 2: Cán cân thương mại Việt Nam - Cuba 1961 - 1965 - Lịch sử quan hệ việt nam   cuba (1959 2005)
Bảng 2 Cán cân thương mại Việt Nam - Cuba 1961 - 1965 (Trang 58)
Bảng 3: Cán cân thương mại Việt Nam - Cuba 1966 - 1970 - Lịch sử quan hệ việt nam   cuba (1959 2005)
Bảng 3 Cán cân thương mại Việt Nam - Cuba 1966 - 1970 (Trang 61)
Bảng 5: Số lượng đường Cuba viện trợ cho Việt Nam (1976 - 1980) - Lịch sử quan hệ việt nam   cuba (1959 2005)
Bảng 5 Số lượng đường Cuba viện trợ cho Việt Nam (1976 - 1980) (Trang 98)
Bảng 6: Cán cân thương mại Việt Nam - Cuba 1976 - 1980 - Lịch sử quan hệ việt nam   cuba (1959 2005)
Bảng 6 Cán cân thương mại Việt Nam - Cuba 1976 - 1980 (Trang 114)
Bảng 8: Cán cân thương mại Việt Nam - Cuba 1986 - 1990 - Lịch sử quan hệ việt nam   cuba (1959 2005)
Bảng 8 Cán cân thương mại Việt Nam - Cuba 1986 - 1990 (Trang 117)
Bảng 1.1: DANH MỤC “A” Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Cuba (1961 - 1965) - Lịch sử quan hệ việt nam   cuba (1959 2005)
Bảng 1.1 DANH MỤC “A” Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Cuba (1961 - 1965) (Trang 221)
Bảng 1.2: DANH MỤC “A” Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Cuba (1966 - 1970). - Lịch sử quan hệ việt nam   cuba (1959 2005)
Bảng 1.2 DANH MỤC “A” Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Cuba (1966 - 1970) (Trang 223)
Bảng 1.3: DANH MỤC “A” Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Cuba (1971 - 1975). - Lịch sử quan hệ việt nam   cuba (1959 2005)
Bảng 1.3 DANH MỤC “A” Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Cuba (1971 - 1975) (Trang 224)
Bảng 1.4: DANH MỤC “A” Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Cuba (1976 - 1980). - Lịch sử quan hệ việt nam   cuba (1959 2005)
Bảng 1.4 DANH MỤC “A” Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Cuba (1976 - 1980) (Trang 225)
Bảng 1.6: DANH MỤC “A” Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Cuba (1986 - 1990). - Lịch sử quan hệ việt nam   cuba (1959 2005)
Bảng 1.6 DANH MỤC “A” Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Cuba (1986 - 1990) (Trang 227)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w