của chính phủ và nhân dân hai nước, cũng như sự phát triển của tổ chức các nước ASEAN mà Việt Nam và Xingapo là thành viên, cần tập trung nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về lịc
Trang 1Phạm Thị Ngọc Thu
LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM -XINGAPO
(1965 – 2000)
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam Mã số: 5.03.15
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN PGS TS NGÔ MINH OANH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Những kết luận của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Phạm Thị Ngọc Thu
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Khoa Lịch Sử đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành chương trình đào tạo và làm luận án tiến sỹ Nhân dịp này cho phép tôi được nói lời tri ân sâu sắc cố Phó Giáo sư – Tiến sỹ Lê Văn Quang, người đã giúp tôi chọn đề tài và hướng dẫn tôi tận tình ngay từ những ngày đầu làm luận án
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc của mình đối với Phó Giáo Sư – Tiến Sỹ Ngô Minh Oanh, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận án này Xin chân thành cám ơn các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ, các nhà khoa học đã tận tình hướng dẫn, cung cấp và truyền thụ cho tôi những kiến thức quí báu, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và viết luận án
Xin chân thành cám ơn bạn bè, đồng nghiệp và những người thân đã kịp thời động viên và giúp tôi hoàn thành luận án này
Phạm Thị Ngọc Thu
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DẪN LUẬN 1-14
CHƯƠNG 1: QUAN HỆ VIỆT NAM – XINGAPO (1965-1973)
1.1- Vài nét về quan hệ Việt Nam – Xingapo trước 1965
1.1.1 - Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội của Việt Nam và
Xingapo 15-22
1.1.2 - Những quan hệ bước đầu giữa Việt Nam – Xingapo trước
năm 1965 22-28
1.2- Quan hệ Việt Nam – Xingapo (1965 – 1973)
1.2.1 - Bối cảnh quốc tế và khu vực 28-33
1.2.2 - Tình hình Việt Nam- Xingapo (1965 – 1973) 34-42
1.2.3 - Quan hệ giữa Việt Nam Cộng hoà với Xingapo
(1965 – 1973) 42-43 1.2.3.1 - Quan hệ chính trị - ngoại giao 43-50
1.2.4 - Quan hệ giữa Việt Nam dân chủ Cộng hoà với Xingapo
(1965 – 1973)
1.2.4.1 - Quan hệ chính trị – ngoại giao 53-56
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ VIỆT NAM – XINGAPO (1973 – 1991)
2.1 - Những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam – Xingapo (1973 –
1991)
Trang 5(1973–1975) 66-70 2.2.2 - Quan hệ giữa Việt Nam dân chủ cộng hoà (Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam) với Xingapo (1973 – 1975) 70-72
2.3 - Quan hệ Việt Nam – Xingapo (1975 – 1989)
2.3.1 - Quan hệ chính trị, ngoại giao 72-80
2.4 - Quan hệ Việt Nam – Xingapo (1989 – 1991)
2.4.1 - Những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình Việt Nam và
2.4.2 - Quan hệ Việt Nam - Xingapo trong lĩnh vực chính trị –
2.4.3 - Quan hệ Việt Nam – Xingapo trong lĩnh vực kinh tế 89-96
CHƯƠNG 3: QUAN HỆ VIỆT NAM – XINGAPO (1991– 2000)
3.1 - Bối cảnh quốc tế và khu vực (1991 – 2000)
3.1.1 - Tình hình quốc tế 97-98
3.1.2 - Tình hình khu vực 98-100
3.1.3 - Chính sách đối ngoại của Việt Nam và Xingapo (1991 –
2000) 3.1.3.1 - Chính sách đối ngoại của Việt Nam 100-102
3.1.3.2-Chính sách đối ngoại của Xingapo 102-106
3.2 - Quan hệ chính trị, ngoại giao Việt Nam - Xingapo (1991 – 2000)
106-116
Trang 63.3.3 - Quan hệ trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng 142-143
3.3.4 - Quan hệ trong lĩnh vực dầu khí và vận tải biển 143-144
3.4 - Quan hệ Việt Nam – Xingapo trong các lĩnh vực văn hoá, giáo
dục, du lịch và bưu chính viễn thông
3.4.1 - Quan hệ trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục 144-149
3.4.2 - Hoạt động hợp tác trong lĩnh vực du lịch và bưu chính viễn
thông 149-154
CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM, VỊ THẾ VÀ TRIỂN VỌNG CỦA QUAN
HỆ VIỆT NAM – XINGAPO 4.1- Đặc điểm quan hệ Việt Nam – Xingapo
4.1.1 - Về chủ thể của mối quan hệ Việt Nam – Xingapo 155-156
4.1.2 - Quan hệ kinh tế là mối quan hệ bền vững và xuyên suốt
quá trình phát triển của quan hệ Việt Nam – Xingapo 156-157 4.1.3 - Quan hệ Việt Nam – Xingapo là một thành công của sự
hợp tác giữa hai nước có nhiều điểm khác biệt 157-160 4.1.4 - Quan hệ Việt Nam – Xingapo là quan hệ giữa hai nước
trong cùng tổ chức (ASEAN), là sự kết nối giữa một nền kinh tế phát triển nhất khu vực với một nền kinh tế nhiều
4.2 - Vị thế của mối quan hệ Việt Nam – Xingapo trong khối ASEAN 162
4.2.1 - Việt Nam và Xingapo đều là những nước có vai trò quan
Trang 74.2.3 - Quan hệ Việt Nam – Xingapo phát triển tốt đẹp góp phần
làm tăng uy tín của ASEAN trên trường quốc tế 170-171
4.3 - Nguyên nhân của thành công và những hạn chế trong hợp tác
Việt Nam – Xingapo (1965 – 2000)
4.3.1 - Nguyên nhân thành công của mối quan hệ Việt Nam –
4.4 - Triển vọng phát triển của quan hệ Việt Nam – Xingapo trong
KẾT LUẬN 188-194
TÀI LIỆU THAM KHẢO 195-221 PHỤ LỤC 222-310
Trang 8
viện ASEAN
- ASEAN (Association of Sutheast Asian Nations): Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
- CNXH: Chủ nghĩa xã hội
- DCCH: Dân chủ cộng hoà
- FDI (Foreign Direct Investment):đầu tư trực tiếp nước ngoài
- GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
- JIM (Jakarta Informal Meeting): Cuộc họp bốn bên về vấn đề Campuchia tại Jakarta
- NIC (Newly Industrializing country): nước công nghiệp mới
- SCD (Singapore Coperation Programme): chương trình hợp tác đào tạo
- SGD (Singapore dolla): đô la Xingapo
- PAP (People’s Action Party): Đảng Hành động nhân dân
- TBCN: Tư bản chủ nghĩa
- USD (United State dolla): đô la Mỹ
- VNCH: Việt Nam cộng hòa
- VSCC: Ủy ban hợp tác Việt Nam – Xingapo thành lập vào ngày 5 tháng 5 năm 1993 với hai đồng chủ tịch là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Thương mại và công nghiệp Xingapo
- VSIP (Vietnam – Singapore Industrial Park): Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore
- VSTC (Vietnam – Singapore Training Centre): Trung tâm đào tạo Việt Nam – Singapore (tại Hà Nội)
- VSTTC (Vietnam – Singapore Technical Training Centre): Trung tâm đào tạo kỹ thuật Việt nam – Singapore (tại Bình Dương)
- WTO (World Trade Ogamsation): Tổ chức thương mại thế giới
- XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9DẪN LUẬN
1 Lý do, mục đích chọn đề tài
1.1 Trong thời đại ngày nay, hợp tác quốc tế là yêu cầu tất yếu khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trong cộng đồng quốc tế Các quan hệ trong quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế về kinh tế, thương mại, các dịch vụ sản xuất, kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, … đã đem lại những lợi ích
to lớn cho mỗi quốc gia, đặc biệt là với những nước đang phát triển
Đối với nước ta trong giai đoạn đổi mới hiện nay, khi chúng ta đang thực
hiện chính sách đối ngoại với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả
các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”[70, 147] Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với trên 170 nước trên thế
giới, một trong những quan hệ quốc tế song phương có hiệu quả, rất đáng được chú ý từ những năm 90 (của thế kỷ XX) trở lại đây là quan hệ Việt Nam – Xingapo
1.2 Nhìn lại lịch sử quan hệ hai nước Việt Nam – Xingapo chúng ta thấy, quan hệ thông thương hai nước có từ năm 1965, trong bối cảnh thế giới hai cực
Ianta và cuộc “Chiến tranh lạnh” đang diễn quyết liệt ra trên thế giới và ở khu vực Chính phủ Xingapo tuyên bố thi hành chính sách ngoại giao “trung lập”
trong quan hệ quốc tế Ở thời điểm này, đế quốc Mỹ đang tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 - 1975), tuy Xingapo không phải là thành viên của khối SEATO, và cũng không trực tiếp đưa quân tham chiến ở Việt Nam (như Thái Lan và Philippin), nhưng thái độ và hành động của Xingapo trên thực tế cũng không phải là ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, Xingapo ít nhiều đứng về phía Mỹ trong cuộc chiến tranh này Chỉ khi Mỹ thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh và phải ký Hiệp định Pari về chấm đứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973), Xingapo mới
Trang 10chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (1/8/1973) Việc thiết lập chính thức quan hệ ngoại giao Việt Nam - Xingapo đã mở ra một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ giữa hai nước Nhưng tiếc thay cơ hội để phát triển quan hệ Việt Nam - Xingapo lên một tầm cao mới đã không được thực hiện, vì
"Vấn đề Campuchia" nảy sinh (năm 1979), khiến cho quan hệ Việt Nam -
Xingapo nói riêng (và quan hệ Việt Nam - ASEAN nói chung) rơi vào tình trạng căng thẳng
Năm 1986, Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới với mục tiêu: “hoà bình
để phát triển”, cùng sự kiện tháng 10 năm 1991, khi "Vấn đề Campuchia" được
giải quyết về căn bản với việc ký "Hiệp định Pari về Campuchia" thì quan hệ
Việt Nam - Xingapo nói riêng cũng như quan hệ Việt Nam - ASEAN nói chung chuyển sang một giai đoạn mới về chất, nói như lời của thủ tướng Thái Lan
Chatchai Choonhavan là chuyển sang thời kỳ: "Biến Đông Dương từ chiến trường
thành thị trường" Kể từ đó đến nay, Xingapo luôn là một trong những nước đầu
tư lớn nhất vào Việt Nam, quan hệ kinh tế với Xingapo có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam Không chỉ có vậy, ngoài quan hệ kinh tế, quan hệ giữa Việt Nam và Xingapo từ những năm 90 đến nay, ngày càng phát triển toàn diện cả về chính trị, ngoại giao, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật.v.v những quan hệ này đang được cả hai chính phủ rất quan tâm thúc đẩy, hứa hẹn những triển vọng và kết quả tốt đẹp trong tương lai
1.3 Những vấn đề trên đây cho thấy, quan hệ Việt Nam - Xingapo đã có một bề dày lịch sử hơn 40 năm (1965 - nay), nội dung của mối quan hệ khá phong phú, với tất cả những bước thăng trầm của nó Nhưng cho đến nay, việc nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt Nam - Xingapo trong giới sử học Việt Nam và nước ngoài lại chưa được chú ý nhiều Vì tầm quan trọng của quan hệ Việt Nam – Xingapo đối với sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, vì lợi ích
Trang 11của chính phủ và nhân dân hai nước, cũng như sự phát triển của tổ chức các nước ASEAN mà Việt Nam và Xingapo là thành viên, cần tập trung nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về lịch sử quan hệ Việt Nam – Xingapo trên tất cả các mặt: Chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật,v.v Do vậy, việc tìm hiểu về Lịch sử quan hệ Việt Nam – Xingapo là một việc làm cần thiết trên cả hai phương diện khoa học và thực tiễn
- Về mặt khoa học, thông qua việc tìm hiểu về quan hệ Việt Nam –
Xingapo, luận án sẽ tái hiện một cách có hệ thống và đầy đủ về lịch sử quan hệ Việt Nam - Xingapo từ năm 1965 đến năm 2000, tìm ra các nhân tố chủ quan và khách quan, tác động ảnh hưởng, chi phối quan hệ Việt Nam - Xingapo trong thời kỳ này Từ đó luận án góp phần làm rõ hơn một mối quan hệ quốc tế chưa được đi sâu trong các công trình nghiên cứu trước đây
- Ở góc độ thực tiễn, việc nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt Nam -
Xingapo từ năm 1965 đến năm 2000, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm tham khảo cần thiết và bổ ích, thúc đẩy tình hữu nghị và quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Xingapo phát triển một cách tốt đẹp, hiệu quả hơn Thông qua việc rút ra những bài học kinh nghiệm đó, luận án sẽ góp thêm cứ liệu làm cơ sở
phục vụ cho việc thực hiện đường lối đối ngoại “đa phương hoá, đa dạng hoá”,
các mối quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta
Xuất phát từ những lý do và mục đích trên đây, chúng tôi mạnh dạn chọn
vấn đề "Lịch sử quan hệ Việt Nam - Xingapo (1965 - 2000)" làm đề tài Luận án
tiến sĩ sử học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ Việt Nam - Xingapo gần đây bắt đầu được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Có thể kể đến bài viết của các học giả trong
nước, như bài “Quan hệ Việt Nam – Xingapo (1991 – 1998)” của PGS – TS
Trang 12Trần Thị Vinh, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á tháng 6/1999 Bài
viết này bước đầu đề cập đến một giai đoạn ngắn của quan hệ giữa hai nước từ năm 1991 đến năm 1998 trong lĩnh vực quan hệ kinh tế, chính trị Qua bài viết này, tác giả đã gợi ý cho chúng tôi nhận thức về tầm quan trọng của mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Xingapo, cần được tiếp tục đi sâu tìm hiểu một cách hệ thống hơn
Tiếp đến năm 2001 có công trình “Quan hệ Việt Nam – Xingapo (1973 –
2000)” của tác giả Lưu Thị Mai Anh, luận văn thạc sỹ sử học được bảo vệ năm
2001 tại khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Đây là một công trình nghiên cứu khá đầy đủ về mối quan hệ Việt Nam – Xingapo, giai đoạn từ năm
1973 đến năm 2000 Song về nhận thức, chúng tôi cho rằng quan hệ Việt Nam – Xingapo thực chất đã diễn ra không phải chỉ bắt đầu từ năm 1973 mà nó đã được hình thành từ năm 1965 ở trong điều kiện và bối cảnh lịch sử khá đặc biệt Vì thế, khi nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Xingapo chúng tôi thấy cần thiết tiếp tục mở rộng và bổ sung nghiên cứu một số vấn đề
Xung quanh đến vấn đề về quan hệ Việt Nam – Xingapo cũng phải kể đến
công trình nghiên cứu của Nguyễn Trọng Minh với “Thành tựu hợp tác kinh tế
Việt Nam – Xingapo trên vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giai đoạn 1992 2000”, luận văn thạc sỹ sử học bảo vệ năm 2004, tại khoa Lịch sử, trường ĐH
-Khoa học Xã hội &Nhân văn – ĐH Quốc Gia, Tp Hồ Chí Minh Tác giả đề cập đến quan hệ Việt Nam – Xingapo chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, đầu tư giai đoạn năm 1992 đến năm 2000 trên Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Công trình này chứa đựng nhiều tư liệu giá trị, cùng một số những đánh giá về quá trình hợp tác và đầu tư của Xingapo ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Tác giả Phạm Nguyên Long với “Những vấn đề và xu hướng, vị thế của
Xingapo trong hợp tác kinh tế với Việt Nam” (1997), Nxb Khoa học xã hội, tác
Trang 13giả phân tích và có những đánh giá ban đầu về vị thế của Xingapo trong hợp tác kinh tế đối với Việt Nam
PGS.TS Dương Văn Quảng (nguyên Đại sứ nước ta tại Xingapo từ năm
2003 đến năm 2007) với “Xingapo đặc thù và giải pháp”, Nxb Chính trị Quốc
gia, HN 2007 Bằng sự hiểu biết sâu sắc về đất nước và con người Xingapo, tác giả đã chỉ ra những điểm đặc biệt của đảo quốc này về cả những thuận lợi và khó khăn Đồng thời cũng nêu ra những giải pháp mà chính phủ Xingapo đã tiến hành nhằm phát huy những lợi thế và khắc phục những “khiếm khuyết” để đưa đất nước Xingapo phát triển như ngày nay Đặc biệt, trong tác phẩm này tác giả còn đề cập sơ lược những nét cơ bản về “Quan hệ Xingapo - Việt Nam” từ năm
1965 đến nay Căn cứ vào chính sách đối ngoại của chính phủ Xingapo, tác giả đã lý giải hai vấn đề quan trọng: Một là, về thái độ của Xingapo đối với cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam (1954 – 1975); hai là, về thái độ của
Xingapo đối với “Vấn đề Campuchia” (1979 – 1991), một trong những nguyên
nhân làm cho quan hệ Việt Nam – Xingapo trong giai đoạn này trở nên căng thẳng Những vấn đề quan trọng nêu trên đã giúp chúng tôi có được những nhận định, đánh giá xác đáng hơn về quan hệ Việt Nam – Xingapo qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể
Quan hệ Việt – Xingapo còn được đề cập trong các công trình nghiên cứu về Đông Nam Á, ASEAN trong đó viết về Xingapo và quan hệ Việt Nam –
Xingapo, như: Quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và ASEAN của Đỗ Như Khuê, Nxb Thống Kê, HN, 1997; Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN của Nguyễn Xuân Sơn – Thái Văn Long, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 1997; Tư
liệu kinh tế các nước thành viên ASEAN của Tổng cục Thống Kê, năm 1998 và
năm 1999…; Quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN và chính sách xuất - nhập
khẩu của Việt Nam của GS.TS Nguyễn Đình Hương và GS.TS Vũ Đình Bách
Trang 14(đồng chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, HN.1999; Quan hệ Việt Nam – ASEAN
và những bài học kinh nghiệm (2001) của cố PGS.TS Lê Văn Quang, đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn –
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; Trần Khánh - Vị thế của Singapore
trong hợp tác nội bộ ASEAN, số 4/2003, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á; Việt Nam – ASEAN quan hệ đa phương và song phương của GS.TS Vũ Dương Ninh,
Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2004.v.v… là những nguồn tư liệu rất cần thiết giúp chúng tôi có cái nhìn tổng thể và sâu sắc hơn đối với vấn đề mà đề tài đặt ra Ngoài ra, rải rác còn một số bài viết có liên quan đến đề tài có được nhắc đến trong một vài tư liệu tham khảo, bản tin hàng ngày …, nhưng chưa được đánh giá tổng kết
Về tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, chúng tôi nhận thấy hiện chưa có công trình nào, kể cả từ phía Xingapo đề cập đến lịch sử mối quan hệ Việt Nam – Xingapo Do đó, hầu hết các tài liệu mà chúng tôi có được là các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Chính phủ Xingapo về quan hệ giữa hai nước; các thông cáo báo chí của Chính phủ Xingapo; các thông tin và tư liệu rải rác từ Cục phát
triển Thương mại Xingapo, niên giám thống kê hàng năm,… như: Singapore
1997, Ministry of Information and the Arts; Singapore yearbook 1999, Ministry of Information and the Arts; Singapore 2000, Ministry of Information and the Arts; Singapore: Facts and pictures, 2002, Ministry of Information, communication and Arts; Singapore 2003, Ministry of Information, communication and Arts; Singapore Year Book 2005, Ministry of Information, communication and Arts và
các bài viết được đăng tải trên các báo: The Straits Times, The business Times,
Reuter, Asia Week…
Chúng tôi cũng tham khảo các tài liệu dịch có liên quan đến đề tài như:
Kinh nghiệm phát triển của Xingapo của nhiều tác giả do tập thể biên tập: Tan
Trang 15Tech Meng, Low Aik Meng, Chew Soon Beng Nxb Thống kê, HN, 1996; Lịch
sử Đông Nam Á của D.G.E Hall (tập thể tác giả dịch), NXB Chính trị Quốc gia,
HN, 1997; Thời đại châu Á trỗi dậy của Jim Rohwer (Nguyễn Tất Thắng, Quốc Huy dịch), Nxb Thống kê, 1997; Bí quyết hóa rồng –Lịch sử Singapore 1965 –
2000, Lý Quang Diệu, do Trung tâm biên soạn và dịch thuật Saigonbook giới
thiệu (2001) Nxb Trẻ Tp.HCM… những tài liệu trên đều là nguồn tư liệu quí giá giúp chúng tôi có được cái nhìn khách quan, xác thực về mối quan hệ Việt Nam – Xingapo trong những thời kỳ đã qua
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi cố gắng bổ khuyết những vấn đề còn để ngỏ, còn thiếu sót nhằm tìm hiểu một cách đầy đủ và khách quan về quan hệ Việt Nam – Xingapo từ 1965 – 2000 với tất cả các gam màu của nó, khẳng định các thành tựu, tìm ra các đặc điểm và đánh giá kiến nghị nhằm thúc đẩy mối quan Việt Nam – Xingapo phát triển ngày càng tốt đẹp vì lợi ích của nhân dân hai nước, hoà bình, phát triển của khu vực và thế giới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, trọng tâm của đề tài là những vấn đề của mối quan hệ Việt Nam – Xingapo Bên cạnh việc nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam – Xingapo
trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá… Luận án còn đề cập đến bối cảnh quốc tế, những nhân tố chi phối và tác động đến mối quan hệ giữa hai nước Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra những đặc điểm, vị thế, bài học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu mối quan hệ này, nhằm cố gắng phác hoạ một cách đầy đủ, toàn cảnh bức tranh của mối quan hệ giữa Việt Nam và Xingapo Luận án còn đưa ra những dự báo về sự phát triển của mối quan hệ, đồng thời rút ra những kết luận, những kiến nghị nhằm thúc đẩy sự hợp tác song phương giữa hai nước
Trang 16Về mặt thời gian, chúng tôi phục dựng một cách có hệ thống bức tranh toàn
cảnh của mối quan hệ Việt Nam – Xingapo từ năm 1965 đến năm 2000 Mốc
mở đầu mối quan hệ này là từ năm 1965 bởi vì đây là năm nước Cộng hoà Xingapo tuyên bố thành lập, Xingapo có quan hệ ngoại giao với chính phủ Việt
Nam Cộng hoà ở phần lãnh thổ phía Nam của nước ta Mặc dù đến năm 1973,
chính phủ Xingapo mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam dân chủ cộng hoà nhưng trên thực tế mối quan hệ này cũng đã được hình thành ngay từ giữa những năm 60, trong lĩnh vực kinh tế thương mại
Chúng tôi chọn mốc kết thúc vào năm 2000, mốc 5 năm sau sự kiện Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1995), và Việt Nam với những bước phát triển vững chắc sau gần 15 năm đổi mới, đã xua tan sự phong
tỏa và hồ nghi về một "Việt Nam Cộng sản", cùng với sự kết thúc chiến tranh
lạnh, sự sụp đổ trật tự hai cực Ianta trên thế giới và ở khu vực Trên cơ sở đó quan hệ song phương giữa Việt Nam và Xingapo cũng bước sang giai đoạn mới, kết thúc giai đoạn nghi ngờ, cầm chừng, thăm dò sang giai đoạn hợp tác phát triển toàn diện, hai bên cùng có lợi và tin tưởng lẫn nhau Ngoài ra, chúng tôi cũng cố gắng nêu lên một cách khái quát về mối quan hệ giữa hai nước giai đoạn trước năm 1965 và mở rộng nghiên cứu đến năm 2005, để xem xét mối quan hệ một cách đầy đủ và toàn diện hơn bức tranh của mối quan hệ Việt Nam và Xingapo
Về mặt không gian, khi nghiên cưú về lịch sử quan hệ Việt Nam – Xingapo
giai đoạn từ năm 1965 đến năm 2000, bên cạnh hai chủ thể chính là Việt Nam
và Xingapo, chúng tôi nhận thấy cần phải tìm hiểu thêm về Vị thế của mối quan
hệ Việt Nam - Xingapo trong ASEAN, tức là tìm hiểu về mối quan hệ song
phương trong quan hệ đa phương nhằm làm rõ hơn về lợi ích và đặc điểm của mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Xingapo đều là thành viên của tổ chức
Trang 17Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), ASEAN hiện được coi là một tổ chức khu vực phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng cao và hiệu quả trong
hợp tác giữa các thành viên Vì vậy, khi nghiên cứu Quan hệ Việt Nam –
Xingapo (1965 – 2000) chúng tôi còn xem xét mối quan hệ này trong bối cảnh
không gian của khu vực Đông Nam Á Tìm hiểu vị trí, vai trò của Việt Nam, Xingapo trong khu vực cũng là để làm rõ tương quan thực tế về mọi mặt giữa Việt Nam và Xingapo và đặc biệt là vị trí vai trò của mối quan hệ Việt Nam –
Xingapo trong ASEAN
4 Nguồn tư liệu:
Để thực hiện luận văn này chúng tôi đã sử dụng những nguồn tư liệu sau:
4.1- Tư liệu gốc tiếng Việt: bao gồm các tài liệu văn kiện Đảng và Nhà
nước ta về đường lối và chính sách đối ngoại đối với các nước trên thế giới và khu vực nói chung và với Xingapo nói riêng Nguồn tài liệu này được chia thành
hai loại: loại thứ nhất, tập trung trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta,
gồm: những Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, các văn bản và Hiệp
định được ký kết giữa chính phủ hai nước Việt Nam và Xingapo; loại thứ hai,
nằm rải rác trong các kho lưu trữ như: Tư liệu lưu trữ của Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tư liệu của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
II, tư liệu Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, tư liệu của Bộ Thương mại,… ; các bài phát biểu của lãnh đạo hai nước Việt Nam – Xingapo Đây là nguồn tài liệu vô cùng quan trọng được chúng tôi triệt để khai thác nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mà luận án đặt ra
4.2- Tư liệu gốc bằng tiếng Anh và các sách báo dịch từ tiếng Anh gồm: tư
liệu của Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xingapo, các bài phát biểu các các lãnh đạo chính phủ Xingapo, các sách, báo và tạp chí được xuất bản, lưu hành tại Xingapo là những tài liệu quan trọng mà chúng tôi khai thác được chủ yếu từ
Trang 18Thư viện Quốc gia Xingapo (National university of Singapore central library) Các nguồn tư liệu trên đây đều là những tài liệu quí giá giúp chúng tôi có được cái nhìn khách quan, xác thực về mối quan hệ Việt Nam – Xingapo trong những thời kỳ đã qua
4.3- Nguồn tài liệu thứ ba từ các trung tâm nghiên cứu trong và ngoài nước
về quan hệ Việt Nam – Xingapo trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá và các vấn đề khu vực và quốc tế có liên quan Nguồn tài liệu này thể hiện qua các luận án tiến sĩ, thạc sỹ, các sách chuyên khảo, sách dùng cho các trường đại học; chúng tôi còn sử dụng các số liệu, sự kiện có liên quan được đề cập một cách rải rác trong những bài viết đăng trên các tạp chí: Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu quốc tế, Nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam – Đông Nam Á ngày nay, tạp chí Thương mại, Bản tin Thông tấn xã Việt Nam, v.v… loại tài liệu này cho phép chúng tôi cập nhật các sự kiện và các số liệu, thông tin cần thiết nhằm hệ thống lại một cách đầy đủ và khoa học toàn bộ lịch sử quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Xingapo
4.4- Ngoài ra chúng tôi còn dựa vào các số liệu và thông tin từ các trang Website của: Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Khoa học & Công nghệ, Báo Đầu tư, Nghiên cứu và đầu tư của Việt Nam, và Website của Chính phủ Cộng hoà Xingapo, Bộ Ngoại giao Xingapo …
5 Phương pháp nghiên cứu
Trước hết chúng tôi dựa vào cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết các vấn đề mà luận án đặt ra Trong suốt quá trình giải quyết đề tài, chúng tôi đặc biệt chú trọng vận dụng những tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và quán triệt những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực đối ngoại nói chung Chúng tôi đứng trên lợi
Trang 19ích của Việt Nam, dưới góc độ của Việt Nam để xem xét mối quan hệ Việt Nam – Xingapo
Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là hai phương pháp cơ bản chúng tôi vận dụng trong nghiên cứu đề tài này Chúng tôi xem xét quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Xingapo từ 1965 –
2000, trong bối cảnh quốc tế và khu vực trong những giai đoạn cụ thể, với cả tiến trình phát triển xuyên suốt Khi vận dụng nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Xingapo, chúng tôi luôn xem xét mối quan hệ này trong những bối cảnh lịch sử cụ thể của thời kỳ lịch sử lúc đó, cùng các yếu tố chi phối, tác động đến mối quan hệ Việt Nam – Xingapo giai đoạn 1965 – 2000
Ngoài ra các phương pháp sử học so sánh và phương pháp định lượng cũng được chúng tôi áp dụng dùng để so sánh sự khác và giống nhau theo lịch đại và đồng đại nhằm làm rõ những đặc điểm trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ Việt Nam – Xingapo nói riêng; do đề tài phải dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác nhau, trên các số liệu không tập trung… cần được phân tích tổng thể và toàn cục, so sánh lực lượng để rút ra những kết luận chính xác
Mặt khác, khi nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam – Xingapo chúng tôi còn phải vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học của khoa học Quan hệ quốc tế và Kinh tế học như: phương pháp khảo sát kinh tế, phương pháp phân tích tổng thể và toàn cục, phương pháp phân tích so sánh, tập hợp lực lượng, … là những phương pháp quan trọng để làm rõ qui luật phát triển của quan hệ quốc tế, giúp rút ra những bài học kinh nghiệm về xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội, từ đó chọn lọc và vận dụng vào điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, phục vụ đắc lực cho việc hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước
Trang 206 Bố cục và kết cấu của luận án
Ngoài phần Dẫn luận, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Mục lục và Phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: “Quan hệ Việt Nam – Xingapo (1965 – 1973)”, trong chương
này tác giả đề cập khái quát đến quan hệ giao thương giữa Việt Nam - Xingapo trong lịch sử - giai đoạn trước năm 1965, làm cơ sở để nghiên cứu quan hệ Việt
Nam – Xingapo giai đoạn 1965 – 1973, tìm cách lý giải câu hỏi về “chính sách
ngoại giao thực dụng” mà chính phủ Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew) đã áp
dụng trong quan hệ đối với Việt Nam giai đoạn này
Chương 2: “Quan hệ Việt Nam – Xingapo (1973 – 1991)”, Việt Nam và
Xingapo đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 1/8/1973 Giai đoạn này tuy quan hệ giữa hai nước đã chính thức được thiết lập nhưng đây cũng chính là thời kỳ mà quan hệ giữa hai nước phải trải qua những thử thách với nhiều thăng trầm và biến đổi do ảnh hưởng của tình hình thế giới, khu vực…, quan hệ Việt Nam – Xingapo có lúc rơi vào tình trạng rất căng thẳng, có tính chất đối
đầu mà một trong những nguyên nhân chính là “vấn đề Campuchia” Tại sao Xingapo lại coi “vấn đề Campuchia” là mấu chốt trong quan hệ với Việt Nam và
chỉ khi vấn đề Campuchia được giải quyết thì quan hệ Việt Nam – Xingapo mới có điều kiện được cải thiện và phát triển? Đó chính là nội dung cơ bản được chúng tôi đặt ra và cố gắng giải quyết tại chương 2 của Luận án
Chương 3: “Quan hệ Việt Nam – Xingapo (1991 – 2000)”, trong tình
hình thế giới những năm 90 của thế kỷ XX diễn ra thuận lợi, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đã diễn ra phổ biến trên thế giới, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia gắn liền với sự phát triển của kinh tế quốc tế Sự khác biệt về hệ thống chính trị – xã hội không còn là rào cản các quan hệ kinh tế, những thách thức về sự phát triển kinh tế, những vấn đề mang tính toàn cầu như nguy cơ về sự gia
Trang 21tăng dân số, ma túy, ô nhiễm môi trường, chiến tranh hạt nhân.v.v… đều là mối
lo chung của mỗi nước trên thế giới Tại khu vực, sau những năm chiến tranh và đối đầu gay gắt, các nước Đông Nam Á nhận thức được rằng cần phải cùng nhau xây dựng môi trường quốc tế ở khu vực thuận lợi để có thể tập trung vào việc phát triển kinh tế, hợp tác với nhau nhằm biến Đông Nam Á trở thành khu vực hoà bình, tự do, trung lập và phi vũ khí hạt nhân Trên cơ sở đó quan hệ Việt Nam – Xingapo phát triển nhanh chóng và thu được nhiều thành tựu rực rỡ
Đây là giai đoạn mà quan hệ Việt Nam – Xingapo thật sự đã bước sang một chương mới, chương của sự hoà hợp và hợp tác tốt đẹp, trong chương này Luận án sẽ trình bày mối quan hệ này trên các lãnh vực: chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá giáo dục, khoa học - kỹ thuật, và du lịch… Đặc biệt là quan hệ hợp tác trong lĩnh vực kinh tế thương mại và đầu tư giữa hai nước
Chương 4: “Đặc điểm, vị thế và triển vọng của quan hệ Việt Nam –
Xingapo (1965 – 2000)”
Nhìn lại toàn bộ chặng đường lịch sử của quan hệ Việt Nam - Xingapo (1965 – 2000), nêu lên đặc điểm của mối quan hệ này, đồng thời chỉ ra các nhân tố chủ quan và khách quan, tác động, ảnh hưởng, chi phối quan hệ Việt Nam - Xingapo trong 35 năm qua Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và triển vọng phát triển của quan hệ Việt Nam – Xingapo trong tương lai là nội dung chủ yếu của chương 4 Bên cạnh đó, trong chương này tác giả còn đề cập đến một vấn đề quan trọng khác là vị thế của quan hệ Việt Nam – Xingapo trong khối ASEAN, đây là một vấn đề được đề cập nhằm làm rõ thêm sự đóng góp của mối quan hệ Việt Nam và Xingapo đối với sự phát triển của khu vực và thế giới
Phần kết luận:
Khái quát lại những luận điểm chính của luận án, nêu lên thành tựu, kết quả tích cực trong quan hệ Việt Nam - Xingapo và những mặt tồn tại của nó,
Trang 22những bài học kinh nghiệm tham khảo cho việc thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Xingapo phát triển tốt đẹp, hiệu quả hơn nữa; chúng tôi cũng nêu ra những dự báo về triển vọng của quan hệ Việt Nam – Xingapo trong những thập niên đầu thế kỷ XXI
7 Những đóng góp của luận án
7.1 Là công trình đầu tiên tái hiện một cách có hệ thống và đầy đủ về lịch sử quan hệ Việt Nam - Xingapo từ năm 1965 đến năm 2000, giúp chúng ta nhìn lại toàn bộ lịch sử quan hệ giữa hai nước trong bối cảnh lịch sử ở khu vực và thế giới đầy biến động
7.2 Trên cơ sở phân tích và lý giải mối quan hệ giữa hai nước, luận án đã chỉ ra các nhân tố chủ quan và khách quan, tác động ảnh hưởng, chi phối quan hệ Việt Nam - Xingapo trong thời kỳ từ 1965 – 2000 Từ đó nêu ra các đặc điểm của mối quan hệ này
7.3 Luận án nêu lên những bài học kinh nghiệm phát triển của mối quan hệ Việt Nam – Xingapo và đề xuất giải pháp cho việc thúc đẩy quan hệ giữa hai nước phát triển tốt đẹp, hiệu quả hơn; luận án cũng dự báo về triển vọng của quan hệ Việt Nam - Xingapo những thập niên đầu thế kỷ XXI
7.4 Luận án nêu lên vị thế của quan hệ Việt Nam – Xingapo trong ASEAN nhằm làm rõ thêm sự đóng góp của mối quan hệ này đối với sự phát triển của khu vực và thế giới
7.5 Những kết quả mà Luận án đạt được về nội dung và tư liệu có thể dùng phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập về lịch sử Việt Nam hiện đại, về quan hệ quốc tế nói chung và khu vực nói riêng
Trang 24nhiệt đới có giá trị Châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long phù sa màu mỡ là hai vựa thóc lớn, hai trung tâm lương thực, rau quả của cả nước
Rừng Việt Nam chiếm 1/3 diện tích cả nước với 9,6 triệu ha, có nhiều lâm thổ sản quí hiếm như các loại gỗ: lim, sến, táu, trầm hương…, cùng các loại động vật quí như tê giác, voi, hổ, vượn má vàng, sao la… Việt Nam có tài nguyên khoáng sản phong phú gồm các loại như: than đá, sắt, đồng, chì, kẽm, thiếc, nhôm… Tài nguyên biển và động thực vật phong phú, đặc biệt là dầu khí, nguồn nhiên liệu có giá trị hàng đầu ở Việt Nam hiện nay với trữ lương rất lớn
Việt Nam có bờ biển dài 3260km, trên thềm lục địa có gần 4000 đảo, ngoài muối và các loại hải sản phong phú Đặc biệt trên vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, dưới thềm lục địa chứa đựng nhiều khoáng sản, tài nguyên biển có giá trị lớn Bờ biển Việt Nam còn là cơ sở tốt cho ngành du lịch phát triển
Về dân cư, Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc, trong đó 85 – 90% là người Việt, còn lại là 53 dân tộc anh em khác như người Mường, Thái, Mèo, Khmer, Mán, Chăm, Hoa … các dân tộc anh em luôn đoàn kết thống nhất trong bảo vệ và xây dựng đất nước Nằm ở vị trí đường giao lưu quốc tế nên Việt Nam trở thành nơi tiếp xúc, gặp gỡ giữa các nhóm cư dân thuộc nhiều thành phần nhân chủng khác nhau và từ nhiều luồng văn hoá khác nhau đến như: Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và các dân tộc Đông Nam Á khác
Việt Nam là đất nước có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời với hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước Trải qua thời gian những thế hệ người Việt cổ tạo nên những nền văn hoá kế tiếp nhau: Sơn Vi, Hoà Bình, Bắc Sơn – Quỳnh Văn, Phùng nguyên – Hoa Lộc, Sa Huỳnh, Óc Eo, Đông Sơn…Với trình độ của nền văn hoá Đông Sơn phát triển, những chủ nhân của nó đã sớm hợp nhất xây dựng nên nhà nước đầu tiên của mình, nhà nước Văn Lang (khoảng từ
Trang 25thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ VI tr C.N) và sau đó là Nhà nước Âu Lạc (khoảng nửa sau thế kỷ III tr CN) Một nền văn minh bản địa được hình thành - văn minh Văn Lang – Âu Lạc và trở thành cội nguồn của dân tộc sau này
Đầu thế kỷ thứ II tr CN, Âu Lạc rơi vào ách đô hộ của các đế chế phong kiến phương Bắc (từ 179 tr CN đến năm 938), trong hơn 1000 năm Bắc thuộc ấy, dân tộc Việt Nam đã tiến hành cuộc đấu tranh anh dũng kiên cường giành độc lập với các cuộc khởi nghĩa: Hai Bà Trưng (40 – 43), Bà Triệu (248), Lý Bí (542 – 603), Mai Thúc Loan (722), … cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc kết thúc bằng chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng (năm 938) Kỷ nguyên độc lập, tự chủ, tự cường được mở ra, từ Nhà Ngô (939 – 965), Đinh (968 – 980), Tiền Lê (980 -1009) Lý (1009 -1225), Trần (1226 – 1400), Hồ (1400 -1407), Nhà Lê Sơ (1428 – 1527), Nhà Mạc (1527 -1592), Nhà Tây Sơn (1788 – 1802), Nhà Nguyễn (1802 -1945) Trong 9 thế kỷ độc lập, người dân Việt vừa xây dựng và phát triển đất nước với nền văn minh Đại Việt rực rỡ, vừa lập nên nhiều chiến công hiển hách trong các cuộc chiến tranh vệ quốc
Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp, phong trào chống pháp nổ ra liên tục ở khắp mọi miền đất nước Năm 1939, chiến tranh thế giới II nổ ra, Pháp dâng Đông Dương cho phát xít Nhật (9/1940) Đến tháng
8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh toàn dân Việt Nam đứng lên làm cuộc tổng khởi nghĩa giành lấy chính quyền từ tay phát xít Nhật, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp và chế độ quân chủ phản động Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trước toàn thể quốc dân và nhân dân toàn thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nhưng Việt Nam được hưởng hoà bình, độc lập chẳng được bao lâu thì ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân đội Pháp núp sau quân Anh vào giải giáp quân Nhật ở Nam bộ, Pháp quay lại xâm lược nước ta
Trang 26một lần nữa Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đứng lên làm cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp thắng lợi với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954) Hiệp định Giơnevơ (Genève) ký ngày 20/7/1954, kẻ thù phải công nhận nước Việt Nam độc lập, thống nhất Năm 1954, tìm cách thay thế Pháp, Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, đưa bè lũ tay sai lập chính phủ Việt Nam cộng hoà và gây nên cuộc chiến tranh mới Suốt 20 năm đấu tranh kiên cường, anh dũng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân hai miền Nam – Bắc giương cao ngọn cờ xây dựng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc, làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari (Paris) được ký kết, quân đội Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam; với cuộc Tổng tấn công mùa Xuân năm 19ạ, chính quyền Sài Gòn sụp đổ ngày 30/4/1975, miền Nam được giải phóng, Việt Nam thống nhất Ngày 2/7/1976 Quốc hội của cả nước quyết định đổi tên nước thành Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong xây dựng và phát triển đất nước Uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng
Cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á, Xingapo là quốc gia có rất nhiều những điểm đặc biệt, là quốc gia nhỏ nhất về không gian, nghèo nhất về tài nguyên thiên nhiên, ít về dân số và mỏng về lịch sử phát triển Vốn chủ yếu chỉ là một đảo nhỏ ở cực nam bán đảo Mãlai, nhưng Xingapo lại chiếm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, phía Tây và phía bắc giáp với bán đảo Malắcca, phía Đông giáp với vùng biển của vùng đất Sabat và Sarawack thuộc Malaixia, phía Nam là Inđônêxia Xingapo trấn ngữ con đường hằng hải huyết mạch từ Đông sang Tây, nối liền Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương và nối giữa Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo
Trang 27Nằm cách đường xích đạo 137 km về phía Bắc giữa 1,09 với 1,29 vĩ độ Bắc và 103,36 đến 104,25 kinh độ Đông, khí hậu Xingapo mát mẻ quanh năm, mưa nhiều và độ ẩm cao Nhiệt độ trung bình khoảng 270C, không có sự chênh lệch lớn giữa các mùa trong năm Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.359 mm Địa hình Xingapo là bình nguyên xen kẽ gò đồi và đầm lầy Xingapo có vài con sông, suối tự nhiên như sông Sungei Selebar, dài 15 km, sông Xingapo (Singapore River) dài 3 km Tuy nhiên, lượng nước ngọt không đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân trên đảo
Về tài nguyên, ngoài nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là cá biển và muối, Xingapo chỉ có một ít than và đất sét Đất canh tác nông nghiệp chỉ chiếm 1,9% và rừng chiếm 4,5% diện tích lãnh thổ Vì vậy, Xingapo gần như không có sản xuất nông nghiệp, toàn bộ lương thực, thực phẩm, thậm chí cả nước sinh hoạt cũng phải nhập từ nơi khác
Về dân cư, Xingapo là một xã hội dân nhập cư, đa sắc tộc, đa ngôn ngữ, đa tôn giáo Khi bị Anh chiếm năm 1819, Xingapo mới chỉ có khoảng vài trăm người Mãlai và người Hoa sống thành những làng thưa thớt, nghèo nàn làm nghề chài lưới… Qua các đợt di dân ở thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX thành phần dân cư trên đảo quốc này có nhiều thay đổi, người Hoa dần dần trở thành phần chủ yếu trong xã hội, bên cạnh các thành phần dân tộc khác là người Mãlai, Ấn Độ, người Anh…
Những tài liệu sử cũ cho biết xưa kia, Xingapo được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Saharu, Puluochung (tiếng Mãlai: Pulau Ujong, có nghĩa là đảo tận cùng của bán đảo), Temasek - Thành phố biển (theo Trường ca Java Negarakretagama) và Singapura – Thị trấn Sư tử (theo Biên niên sử MãLai – Sejarah Melayu, thế kỷ XIII) Trong lịch sử, ở thế kỷ XIII, Xingapo từng là thuộc quốc của vương quốc xứ Palembang (Inđônêxia) Thế kỷ XIV, Xingapo là
Trang 28địa bàn tranh chấp của hai nước Xiêm (Siam) và Palembang, Palembang giành thắng lợi và chiếm được toàn bộ bán đảo Mãlai Tiếp đó, Xingapo thuộc vương quốc Malắcca, rồi Johor Thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, Xingapo là thuộc địa của chủ nghĩa tư bản thực dân Bồ Đào Nha, Hà Lan Đến thế kỷ XIX, Xingapo trở thành thuộc địa của thực dân Anh (1824) Dưới sự quản lý của người Anh, Xingapo trở thành thương cảng trung chuyển mậu dịch quan trọng giữa phương Đông và phương Tây Sự phát triển của Xingapo đã thúc đẩy làn sóng dân nhập
cư từ Trung Quốc, Ấn Độ, Anh và một số nước khác tới, trong đó đông nhất là người Hoa
Chiến tranh thế giới II nổ ra, Xingapo bị Nhật Bản chiếm (12/1941 – 9/1945) Khi chiến tranh thế giới II kết thúc, thực dân Anh quay trở lại cai trị Xingapo Năm 1959, dưới sự lãnh đạo của Đảng Hành động nhân dân (People's Action Party) phong trào đấu tranh của nhân dân Xingapo chống thực dân Anh
giành được thắng lợi, Xingapo thành lập “chính phủ tự trị” và Toàn quyền
William Goode trở thành Quốc trưởng đầu tiên của quốc gia tự trị này Ngày 16/9/1963, Xingapo gia nhập Liên Bang Malaixia, đến ngày 9/8/1965 Xingapo lại chính thức tách khỏi Liên bang Malaixia và ngày 22/12/1965 nước Cộng hoà Xingapo tuyên bố thành lập
Từ năm 1965 trở đi Xingapo bước sang một giai đọan phát triển mới với chiến lược kinh tế hướng ngoại, chính phủ Xingapo lập kế hoạch đưa toàn bộ các hoạt động kinh tế của mình hòa nhập vào hệ thống kinh tế thế giới Xingapo lại
ở vào một vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính điều này đã góp phần làm Xingapo trở nên một địa bàn hấp dẫn thu hút đầu tư nhất trong khu vực Từ năm 1965, nền kinh tế của Xingapo luôn tăng trưởng ở mức cao, trung bình 8 - 9%/năm và hiện là nước nằm trong nhóm các nước kinh tế phát triển (NICs) Trong quan hệ với các nước trong khu vực, Xingapo là một trong năm nước
Trang 29thành viên sáng lập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN, 1967) và luôn là thành viên tích cực của tổ chức khu vực này
Như vậy, Việt Nam và Xingapo là hai quốc gia cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á nên giữa hai nước có những nét tương đồng, như: cùng chung trong môi trường địa lý, khí hậu; cả hai đều ở vào vị trí địa lý hết sức quan trọng về kinh tế, chính trị; do ở vị trí đường giao lưu quốc tế nên cư dân Việt Nam và Xingapo có lẽ từ rất sớm đã phát triển mối quan hệ thông thương với nhau, chủ yếu thông qua buôn bán bằng đường biển; và đặc biệt, do tác động của nhân tố lịch sử mà cả Việt Nam và Xingapo đều là những nước chịu ảnh hưởng rất lớn bởi văn hoá Trung Quốc
Thời cận - hiện đại, đã có một thời kỳ dài (với Việt Nam là từ 1858 đến 1945; với Xingapo là từ đầu thế kỷ thứ XVI đến 1959) cả Việt Nam và Xingapo đều là những nước nghèo và đều là thuộc địa nằm dưới ách thống trị của Chủ nghĩa thực dân tư bản phương Tây (Việt Nam là thuộc địa của Pháp, Xingapo là thuộc địa của Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh) Vì vậy, cả Việt Nam và Xingapo đều cùng đứng trong cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa thực dân đế quốc phương Tây để tự giải phóng mình… Các yếu tố khu vực nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Xingapo Bên cạnh những nét tương đồng giữa hai nước Việt Nam và Xingapo còn rất nhiều điểm khác biệt: ngoài sự khác biệt giữa vị trí của một quốc gia biển đảo với một quốc gia là biển - lục địa, giữa hai nước có sự chênh lệch rất lớn về diện tích, dân số, về điều kiện tự nhiên và lịch sử phát triển… Điểm khác biệt giữa hai nước từ năm 1965 trở đi còn do sự khác nhau về chế độ chính trị xã hội, Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa và Xingapo là nước theo chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa; Về kinh tế Việt Nam là nước nghèo thuộc nhóm các nước đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp khoảng 402 USD/năm
Trang 30(2000), ngược lại Xingapo là nước có nền kinh tế công nghiệp mới, một trong
bốn “con rồng” châu Á, thu nhập bình quân đầu người vào loại cao trên thế giới
24.700 USD/năm (2001)[27,22-57] Sự tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Xingapo đã và sẽ góp phần tạo nên những nét đặc trưng riêng trong lịch sử quan hệ giữa hai nước
1.1.2 - Những quan hệ bước đầu giữa Việt Nam – Xingapo trước năm 1965
Thời kỳ cổ – trung đại, quan hệ giữa Xingapo với các nước láng giềng hầu như không được nhắc đến, có chăng người ta chỉ biết đến Xingapo như một điểm dừng chân của các thuyền buôn đến tránh bão, lấy nước ngọt hay sửa chữa tàu thuyền để tiếp tục cuộc hành trình đến Aán Độ, Trung Quốc …
Thời kỳ này, Việt Nam, sau hơn một ngàn năm đấu tranh chống ách đô hộ của các chính quyền phong kiến phương Bắc (từ 179 TCN đến năm 938), đến thế kỷ thứ X, chính quyền phong kiến Việt Nam được xác lập và phát triển Việt Nam chủ động thiết lập quan hệ ngoại với các nước trong khu vực thông qua các đoàn đi sứ và việc buôn bán với các nước Thương cảng Vân Đồn, Phố Hiến… là những địa danh được nhiều thương nhân và du khách nước ngoài tìm đến, như: năm 1066 và 1149 những lái buôn người Mã Lai đã đến Việt Nam buôn bán và được triều đình nhà Lý cho phép lập thương điếm tại Vân Đồn (Quảng Ninh), từ đó các lái buôn người vùng Mã Lai, Inđônêxia vào Việt Nam buôn bán ngày càng đông đúc hơn
Lịch sử thế giới từ thế kỷ XVI cho đến thế kỷ XIX, diễn ra quá trình xâm nhập và bành trướng của chủ nghĩa thực dân tư bản phương Tây sang phương Đông Quá trình đó thực sự bắt đầu sau các cuộc phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV – đầu thế kỷ XVI, khi Vasco De Gama (người Bồ Đào Nha) thực hiện chuyến hải hành đến Ấn Độ, khai thông con đường sang phương Đông vào năm 1498 và sau đó năm 1511 thực dân Bồ Đào Nha chiếm bán đảo Malacca và các vùng
Trang 31xung quanh, trong đó có Xingapo Năm 1641 thực dân Hà Lan hất cẳng Bồ Đào Nha chiếm giữ vùng đất này đến năm 1824 thì trao cho người Anh cai trị; theo chân người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, người Hà Lan, người Anh, người Pháp, người Mỹ… cũng lần lượt mở rộng xâm lược và bành trướng thuộc địa sang phương Đông Thực dân Anh chiếm hầu hết Ấn Độ, Miến Điện và Mã Lai, từ năm 1824 tiến hành Chiến tranh Thuốc phiện lần thứ I (1839 – 1842) để thâm nhập vào Trung Quốc Tư bản Mỹ cũng đến “gõ cửa” Nhật Bản năm 1853, buộc Mạc phủ Tokugaoa phải mở cửa thông thương Thực dân Pháp tấn công Việt Nam năm 1858 và mở rộng xâm lược sang Campuchia và Lào
Kết quả của làn sóng xâm nhập và bành trướng của chủ nghĩa thực dân, tư bản phương Tây từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX là hầu hết các nước châu Á đã trở thành thuộc địa, nửa thuộc địa của các nước tư bản phương Tây Vì vậy, quan hệ ngoại giao và các quan hệ kinh tế thương mại của các nước trong khu vực châu Á nói chung và quan hệ giữa Việt Nam - Xingapo nói riêng phải chịu sự khống chế và quản lý chặt chẽ của chính phủ thực dân Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh và Pháp… Trong bối cảnh lịch sử đó, các nước phương Đông nói chung, các nước khu vực Đông Nam Á nói riêng, trong đó Việt Nam và Xingapo phải cùng nhau bước vào thời kỳ đấu tranh gian khổ giành độc lập dân tộc
Quan hệ giữa Việt Nam – Xingapo trong các thế kỷ XVIII – XIX có phần rõ nét hơn, đặc biệt trong quan hệ kinh tế thương mại Sử liệu tìm thấy có ghi nhận rằng, trong thế kỷ XVIII ở Việt Nam, nhằm tiêu diệt Nhà Tây Sơn, Nguyễn Aùnh đã phái nhiều sứ bộ, thậm chí nhờ cả người nước ngoài mua vũ khí,
đạn dược ở vùng Mã Lai để trang bị lực lượng Ví dụ, “đầu năm 1789 Nguyễn
Ánh nhờ một người Bồ Đào Nha tên là Antonio Vicente mua tại vùng Malacca một số vũ khí gồm 800 súng, 100 thùng thuốc súng, 12 đại bác và 2000 viên đạn đại bác Những vũ khí đạn dược này đã được chính quyền bảo hộ Hà Lan cho phép
Trang 32Ngoài ra Nguyễn Ánh còn mua vũ khí đạn dược tại Joho, Xingapo và Pênang”
[200, 82] Thế kỷ XIX, dưới sự thống trị của Anh, nhận thấy vị trí chiến lược đặc
biệt của Xingapo, chính phủ thực dân Anh đã áp dụng chính sách “mở cửa” tại
đây, biến nơi này thành thương cảng tự do, trung tâm buôn bán và trung chuyển hàng hoá Xingapo từ một làng chài lưới nghèo nàn nhanh chóng trở thành thương cảng nhộn nhịp, thu hút thương nhân của nhiều nước đến làm ăn buôn bán Thương nhân người Việt cũng thường xuyên đến buôn bán ở vùng biển Nam Dương và có ghé qua Xingapo
Những nghiên cứu mới đây của Tiến sĩ Li Tana (Trường Đại học Tổng hợp
Wollongong, Australia – năm 2002) trong bài viết về Ngoại thương Việt Nam ở
thế kỷ XIX đã cung cấp cho chúng ta thêm một số thông tin về quan hệ giao
thương dưới Triều Nguyễn, trong đó chủ yếu nói về quan hệ thương mại giữa
Việt Nam và Xingapo giai đoạn này như sau: “Tổng khối lượng hàng hoá hồi đầu
những năm 20 của thế kỷ, theo đánh giá ước tính của Crawfurd trước năm 1823,
chưa đạt 30.000 tấn/năm Tuy nhiên, vận tải hàng hải bắt đầu tăng đáng kể trong các thập kỷ tiếp theo Chẳng hạn, thương mại của Việt Nam với Xingapo vào năm
1823 đạt 40.000 tấn Con số này đã tăng lên gấp đôi, đạt khoảng 100.000 tấn vào năm 1839, và đến năm 1847 đạt 310.000 tấn tăng gấp 7 lần” [49, 67] và “Ngoài chứng cứ nêu trên còn có các bằng chứng khác được phát hiện ở Châu bản của Triều Nguyễn vào năm 1824 có một tàu buôn của hoàng gia và năm 1825 có 4 chiếc tàu khác đến Batavia và Xingapo”… [49,71]
Các mặt hàng chủ yếu mà Nhà Nguyễn bán sang Xingapo là gạo, đường; hàng hoá từ Xingapo bán sang Việt Nam được tài liệu này đề cập đến là vải bông và một số hàng xa xỉ để dùng cho giới quý tộc, quan lại triều Nguyễn… TS
Li Tana còn cho rằng, các số liệu được tìm thấy không chỉ chứng tỏ quan hệ thương mại giữa hai nước Việt Nam – Xingapo đã có từ thế kỷ XIX mà quan
Trang 33trọng hơn là mối quan hệ này còn bao hàm một ý nghĩa mới, một hướng đi mới của một Việt Nam thống nhất, mở đường thông thương với các nước láng giềng
ở phía Nam và Đông Nam, nó đánh dấu sự hội nhập Việt Nam với vùng Đông Nam Á rộng lớn
Trong thời kỳ Việt Nam bị thực dân Pháp thống trị, tàu thuyền thông thương từ Việt Nam sang Pháp và ngược lại đều qua cửa biển Xingapo Tuy nhiên những hoạt động này là do chính quyền thực dân Pháp tiến hành
Sang những năm đầu thế kỷ XX, trên hành trình đi tìm đường cưú nước người thanh niên yêu nước Văn Ba, sau này trở thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần đặt chân đến đất cảng Xingapo: lần thứ nhất vào ngày 8/7/1911 và lần thứ hai là vào tháng 4/1930 [50,179] Có thể coi đó là những sự kiện đáng ghi nhớ của sự giao lưu giữa nhân dân hai nước vào những năm đầu thế kỷ XX Thời gian này, cũng cần nhắc đến diễn biến của phong trào đấu tranh của người Hoa ở các quốc gia Đông Nam Á ủng hộ phong trào Ngũ tứ, ủng hộ Quốc dân Đảng (Trung Quốc) đã diễn ra sôi nổi tại những nước có đông đảo người Hoa sinh sống như ở Malayxia, Thái Lan, Xingapo, Inđônêxia… Hoạt động của cộng đồng người Hoa làm cho mối liên kết giữa các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam và Xingapo có điều kiện phát triển Thêm vào đó là sự ra đời của các Đảng Cộng sản ở các nước Đông Nam Á như: Inđônêxia, Việt Nam, Malayxia, Philippin… đã làm cho các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển lên một trình độ mới Mối liên hệ giữa những người Cộng sản ở các nước trong khu vực đã góp phần vào việc thắt chặt mối quan hệ giữa những người vô sản và nhân dân các nước có cùng cảnh ngộ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc
Vào những năm cuối của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, nhìn chung các nước Đông Nam Á, tuỳ theo tương quan lực lượng, tình hình cụ thể ở mỗi nước
Trang 34đều lợi dụng thời cơ khi phát xít Nhật bị đánh bại để vùng lên giành lại độc lập dân tộc Các nước Việt Nam, Lào, Inđônêxia, lần lượt tuyên bố độc lập… Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á thu được những thắng lợi to lớn Để đối phó lại tình hình, đè bẹp làn sóng cách mạng của các dân tộc ở Đông Nam Á và để tái chiếm khu vực này, ngay khi chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, các nước đế quốc đã đưa quân vào đàn áp phong trào giải phóng dân tộc tại khu vực này nhằm áp đặt lại sự thống trị trên các thuộc địa cũ của chúng Sau chiến tranh thế giới II, tình hình ở Việt Nam và Xingapo có nhiều thay đổi đáng chú ý Ở Việt Nam, tháng 8/1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã vùng lên khởi nghĩa trong cả nước giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời (9/1945) Nhưng chưa đầy một tháng sau, thực dân Pháp được sự giúp đỡ của chủ nghĩa đế quốc quốc tế quay trở lại xâm lược Việt Nam, Campuchia và Lào Nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia lại tiếp tục đấu tranh giành độc lập dân tộc, chống lại thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Xingapo sau chiến tranh thế giới II, Nhật bại trận, ngày 5 tháng 9 năm 1945 Anh quay trở lại thống trị Xingapo
Tình hình khu vực Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai là sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc, nhằm chống lại ách đô hộ của thực dân đế quốc quay trở lại tái chiếm và đặt ách đô hộ lên các dân tộc Đông Nam Á Từ cuối năm 1949, khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi, Mỹ tập trung chú ý đến vùng Đông Nam Á, và khi chiến tranh bùng nổ ở Triều
Tiên, Mỹ thực hiện kế hoạch xây dựng phòng tuyến “ngăn chặn ảnh hưởng của
chủ nghĩa Cộng sản” Đế quốc Mỹ muốn biến khu vực Đông Nam Á thành địa
bàn quan trọng trong chiến lược chống Liên Xô, Trung Quốc của Mỹ Mỹ ký hiệp ước quân sự với Thái Lan (10/1950), với Philippin (8/1951), lập Khối
Trang 35SEATO (South-East Asia Treaty Organisation) ngày 8/9/1954 tại Manila (Philippin) SEATO gồm các nước: Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Niu Dilân, Philippin, Thái Lan, Pakixtan, Hiệp ước có hiệu lực vô thời hạn Trong Nghị định thư kèm theo của Hiệp ước này có cả những điều khoản áp dụng cho Campuchia, Lào, miền Nam Việt Nam (là những nước không ký kết, chưa tham gia vào SEATO) Mỹ cố tình đặt 3 nước này dưới sự bảo trợ của khối SEATO nhằm hợp thức hoá sự có mặt của Mỹ ở các nước và vùng lãnh thổ này để chống phá cách mạng 3 nước Đông Dương
Có thể thấy từ sau chiến tranh thế giới II, trật tự hai cực Ianta là yếu tố chi phối tất cả các mối quan hệ quốc tế trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, quan hệ giữa các nước Đông Nam Á nói chung chịu sự tác động mạnh mẽ của tình hình
thế giới và khu vực Việc thiết lập một “trật tự thế giới hai cực” theo thoả thuận
của Hội nghị Ianta, đã tạo nên sự đối đầu căng thẳng giữa hệ thống các nước tư
bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, xảy ra tình trạng “Chiến tranh lạnh” Trong
bối cảnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á làm cho các nước tư bản, đứng đầu là đế quốc Mỹ lo ngại, tìm cách can thiệp vào khu vực Điều này đã biến Đông Nam Á trở thành khu vực tranh chấp
và là “điểm nóng” trong cuộc đối đầu Đông – Tây Mỹ đã xây dựng tại Đông Nam Á tổ chức quân sự – Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á nhằm để ngăn chặn
sự phát triển của CNXH xuống khu vực này, phục cho lợi ích của Mỹ trong quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược các nước Đông Dương Vì thế, cuộc chiến tranh Đông Dương đã chi phối sâu sắc đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của khu vực Đông Nam Á và cả các mối quan hệ song phương giữa các nước trong khu vực với nhau
* Điểm lại quan hệ Việt Nam – Xingapo từ 1965 trở về trước, chúng ta có thể có một số nhận xét sau:
Trang 36- Việt Nam – Xingapo cùng nằm trong một khu vực và điều kiện cụ thể của khu vực Đông Nam Á nên quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Xingapo đã có từ rất sớm Quan hệ đó diễn ra trên mọi lĩnh vực nhưng chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế thông qua giao lưu buôn bán bằng đường biển Có thể thấy, dù những điều kiện lịch sử trong từng giai đoạn có khác nhau nhưng mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Xingapo vẫn thường xuyên diễn ra Mặt khác, Việt Nam và Xingapo đều là những nước đã bị các nước tư bản đế quốc xâm lược, từng trải qua cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân giành độc lập dân tộc
- Quan hệ Việt Nam – Xingapo sau chiến tranh thế giới II chịu sự tác động mạnh mẽ của tình hình thế giới và khu vực Đông Nam Á trở thành khu vực
tranh chấp và là “điểm nóng” trong cuộc “Chiến tranh lạnh” Cùng với việc đế
quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược các nước Đông Dương, Mỹ còn
xây dựng tại Đông Nam Á một tổ chức quân sự được gọi là Hiệp ước phòng thủ
Đông Nam Á, nhằm để ngăn chặn sự phát triển của CNXH xuống khu vực này
Cuộc chiến tranh Đông Dương đã chi phối sâu sắc đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của khu vực Đông Nam Á, kể cả các mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Xingapo Đây là những yếu tố cơ bản, nền tảng chi phối các mối quan hệ về nhiều mặt giữa các quốc gia trong cùng khu vực Các yếu tố khu vực nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Xingapo những năm tiếp theo
1.2 - QUAN HỆ VIỆT NAM – XINGAPO (1965 – 1973)
1.2.1 - Bối cảnh quốc tế và khu vực
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình thế giới có sự thay đổi cơ
bản, một trật tự thế giới hai cực được xác lập bằng những thoả thuận của Hội
nghị tam cường Xô – Mỹ - Anh tại I-an-ta (2/1945) và Pốtxđam (7/1945) dẫn đến sự hình thành phân chia khu vực ảnh hưởng sau chiến tranh giữa một bên là
Trang 37các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu và bên kia là các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu
Trong giai đoạn này, hệ thống tư bản chủ nghĩa có nhiều biến đổi trong so sánh lực lượng theo hướng có lợi cho Mỹ Mỹ trở thành quốc gia hùng mạnh nhất trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, điều đó trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy tham vọng làm bá chủ toàn cầu của đế quốc Mỹ Chiến lược toàn cầu của Mỹ được vạch ra với các mục tiêu là: Tiêu diệt chủ nghĩa xã hội (đứng đầu là Liên Xô); Dập tắt phong trào giải phóng dân tộc ở Á – Phi – Mỹ La tinh (trọng tâm là Việt Nam ở Đông Nam Á và Cu - ba ở khu vực Mỹ La tinh); Lôi kéo, khống chế các nước đồng minh ( Tây Âu và Nhật Bản)
Với sự ra đời của “Học thuyết Truman” (1947) và sau đó là sự bổ sung
“chủ nghĩa Eisenhower” (1957), Mỹ đã phát động “cuộc chiến tranh lạnh” (theo
Mỹ đó là “chiến tranh không nổ súng, không đổ máu” nhưng luôn ở tình trạng chiến tranh “ngăn chặn” rồi “tiêu diệt” Liên Xô) chống Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghĩa Khâu quan trọng trong chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ là xây dựng hệ thống liên minh phòng thủ quân sự với các nước đồng minh của Mỹ Những khối liên minh đa phương với Mỹ lần lượt ra đời như : Khối Bắc Đại Tây Dương (NATO) thành lập năm 1949, Khối CENTO ở Trung Cận Đông ra đời năm 1959 và Khối SEATO ở Đông Nam Á (1954)… Ngoài các khối liên minh
đa phương nói trên, các hiệp ước tay đôi giữa Mỹ với các nước được ký kết như Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật (1951), Hiệp ước quân sự với Thái Lan, với Philippin…, Mỹ còn lập trên 2000 căn cứ quân sự ở khắp nơi trên thế giới Để đối phó lại tình hình đó, các nước Anbani, Bungari, Hungari, Cộng hoà Dân chủ Đức, Ba Lan, Rumani, Liên Xô và Tiệp Khắc đã tổ chức Hội nghị ở Vacsava (5/1955) các nước tham dự Hội nghị nhất trí ký kết Hiệp ước hữu nghị hợp tác và
Trang 38tương trợ nhằm bảo vệ các nước thành viên của mình, duy trì hoà bình, hợp tác và hữu nghị
Cuộc đối đầu hai cực Xô – Mỹ và hai khối Đông – Tây ngày càng gia tăng
quyết liệt, “Cuộc chiến tranh lạnh” không chỉ dừng ở chỗ là Mỹ và Liên Xô
thành lập ra các khối liên minh chính trị, quân sự, kinh tế; cũng không phải chỉ là cuộc chạy đua vũ trang với các loại vũ khí giết người hàng loạt được cả hai bên thi nhau phô trương doạ dẫm… và đây cũng không phải là cuộc chiến tranh
“không nổ súng, không đổ máu” như người ta nói Nó đã phát triển thành những
cuộc chiến tranh và những cuộc xung đột quân sự mang tính khu vực xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới như: cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953), Mỹ đã lôi kéo 15 nước thuộc phe Mỹ tham gia cùng với quân đội Nam Triều Tiên với bên kia là Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên cùng quân chí nguyện Trung Quốc với sự hậu thuẫn về mọi mặt của Liên Xô, cuộc chiến tranh không thể kết thúc này để lại hậu quả là Triều Tiên bị chia đôi lâu dài thành hai miền, miền Nam (Hàn Quốc) – miền Bắc (Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên); hay vụ quốc hữu hoá kênh Xuyê và cuộc chiến tranh xâm lược Ai Cập của Anh, Pháp, Ixraen (1956)…
Thế giới trong những năm 60 đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX bị bao
trùm bởi không khí “Chiến tranh lạnh” và chạy đua vũ trang ngày càng gay gắt Năm 1961, Tổng thống Mỹ Kennơđi nhận thấy “chiến lược trả đũa” trước đây không còn phù hợp nữa Kennơđi đã đưa ra cái gọi là “Chiến lược phản ứng linh
hoạt”, được thực hiện qua hai đời Tổng thống Mỹ là Kennơđi và Giônxơn
Mục tiêu số 1 của “Chiến lược phản ứng linh hoạt” của Mỹ là nhằm làm
suy yếu Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, tiến tới tiêu diệt các nước này Nhưng trên thực tế điều này đã không diễn ra, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa vẫn không ngừng phát triển mạnh mẽ về mọi mặt Không những thế, Liên
Trang 39Xô đã đuổi kịp và vượt Mỹ trên một số lĩnh vực khoa học mũi nhọn như trong ngành công nghiệp vũ trụ, Liên Xô là nước đầu tiên phóng con tàu vũ trụ bay vòng quanh trái đất (12/4/1961) mở ra kỷ nguyên chinh phục vũ trụ của con người Mỹ cũng thất bại trong những âm mưu phản cách mạng ở Cu Ba, Việt Nam, Tiệp Khắc… Sự không ngừng củng cố và phát triển về mọi mặt của hệ
thống xã hội chủ nghĩa là một thất bại nặng nề đối với chiến lược “phản ứng linh
hoạt ” của đế quốc Mỹ
Đối với phong trào giải phóng dân tộc, bằng việc thi hành chính sách thực dân kiểu mới mà trọng điểm là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của
Mỹ ở miền Nam Việt Nam Giới cầm quyền Mỹ đưa ra “thuyết Đôminô”, coi
thành bại của Mỹ ở Việt Nam có vị trí quyết định như quân cờ Đôminô đối với toàn cục Qua ba đời tổng thống Mỹ với ba chiến lược chiến tranh kế tiếp nhau
là chiến lược “chiến tranh đơn phương”, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và chiến lược “chiến tranh cục bộ” Mỹ đều chuốc lấy những thất bại nặng nề chưa
từng có trong lịch sử nước Mỹ Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân
1968 của nhân dân Việt Nam buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại Pari… Việt Nam đã trở thành khẩu hiệu chiến đấu, là biểu tượng của phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới
Năm 1969, Nichxơn lên làm tổng thống Mỹ đề ra “học thuyết Níchxơn” để
cứu vãn tình thế, tiếp tục mưu đồ bá chủ và giữ vững vị trí, quyền lợi của Mỹ trên thế giới Học thuyết Níchxơn dựa trên ba nguyên tắc: Tăng cường sức mạnh
của Mỹ; buộc các đồng minh và chư hầu phải “chia sẻ trách nhiệm” với Mỹ, thay thế Mỹ chống lại phong trào cách mạng; “sẵn sàng thương lượng” nếu có
lợi cho Mỹ nhằm chia rẽ khiêu khích các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng
cách mạng trên thế giới Về quân sự Níchxơn thay thế “phản ứng linh hoạt” bằng “chiến lược răn đe” thực tế
Trang 40Đối với Đông Dương, sau khi lên cầm quyền, Tổng thống Mỹ, Níchxơn đã
đề ra chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, có nghĩa là “thay đổi màu da trên
xác chết” để tiếp tục cuộc chiến tranh kiểu thực dân mới phục vụ cho chiến lược
toàn cầu của đế quốc Mỹ Bên cạnh đó Mỹ, tiếp tục thương lượng với Việt Nam nhưng trên thế mạnh và với điều kiện có lợi cho Mỹ… Để chia sẻ với chiến trường miền Nam Việt Nam, Mỹ đưa bọn tay sai Lon Non tiến hành đảo chính ở
Campuchia, thực hiện “Khơme hoá chiến tranh” Ở Lào, Mỹ tiếp tục tăng cường,
mở rộng chiến tranh
Mỹ tìm cách bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc nhằm gây khó khăn cho cách mạng Việt Nam Sau nhiều lần bí mật đàm phán, tháng 2/1972 Nichxơn
sang thăm Trung Quốc và “Thông cáo Thượng Hải” đã được ký kết giữa
Nichxơn và Chu Ân Lai Phía Mỹ nhượng bộ để Trung Quốc gia nhập Liên Hợp Quốc, rút quân Mỹ ra khỏi Đài Loan, công nhận Đài Loan là bộ phận lãnh thổ Trung Quốc,… Ngoài ra Mỹ còn tìm cách khoét thêm mâu thuẫn, chia rẽ giữa Trung Quốc với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác
Ở thời điểm này, Mỹ cũng tiến hành ký kết với Liên Xô một số hiệp định và thoả thuận về hạn chế vũ khí chiến lược Vì vậy, từ giữa những năm 70 đã hình thành một thế cân bằng quân sự chung giữa Liên Xô và Mỹ trên phạm vi thế giới Tình hình thế giới trên đây đã tác động không nhỏ đến khu vực Đông Nam Á
Các nước Đông Nam Á trong giai đoạn 1954 -1975, chịu sự tác động mạnh mẽ của cục diện thế giới hai cực Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã biến khu vực này trở thành điểm đối đầu giữa các thế lực tư bản phản động hiếu chiến với nhân dân các nước thuộc địa và nhân loại tiến bộ Cũng trong thời gian này, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (The Association of Southeast Asian Nations – ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967