1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ việt nam ucraina trong bối cảnh quốc tế mới

211 776 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT AC: Cộng đồng ASEAN AFAS: Hiệp định khung về dịch vụ ASEAN AFTA: Khu vực thương mại tự do ASEAN AIA: Khu vực đầu tư ASEAN AICO: Hiệp định khung về hợp tác công nghi

Trang 2

THÀNH VIÊN THAM GIA CHÍNH

1 GS.TS Nguyễn Quang Thuấn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 7

CHƯƠNG I: BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT NAM – UCRAINA 10

I Bối cảnh quốc tế, khu vực tác động đến quan hệ Việt Nam - Ucraina 10

1 Bối cảnh quốc tế 10

2 Bối cảnh khu vực châu Âu trong đó có Ucraina 20

3 Khu vực Châu Á–Thái Bình Dương và sự nổi lên mạnh mẽ của Trung Quốc 36

II Cải cách và hội nhập quốc tế của Ucraina 43

III Đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam 59

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUAN HỆ VIỆT NAM – UCRAINA GIAI ĐOẠN 2001-2011 68

I Quan hệ chính trị, ngoại giao và quốc phòng 69

II Quan hệ kinh tế 78

III Hợp tác khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo và văn hóa 95

1 Hợp tác Khoa học - công nghệ 95

2 Lĩnh vực giáo dục – đào tạo 114

3 Lĩnh vực văn hóa 124

IV Cộng đồng người Việt tại Ucraina 131

1 Quá trình hình thành và phát triển 131

2 Đặc điểm cộng đồng 132

3 Hoạt động của cộng đồng 135

V Nhận xét, đánh giá quan hệ Việt Nam – Ucraina 143

1 Đánh giá thành tựu trong quan hệ Việt Nam - Ucraina 143

2 Những hạn chế và nguyên nhân 146

CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ VIỆT NAM – UCRAINA GIAI ĐOẠN 2011-2020 151

I Cơ hội và thách thức phát triển quan hệ Việt Nam Ucraina giai đoạn 2011-2020 151 1 Những cơ hội trong quan hệ song phương 151

2 Thách thức trong quan hệ hợp tác song phương 160

II Chiến lược và chính sách đối ngoại hai nước giai đoạn 2011-2020 162

1 Đường lối đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 163

2 Chiến lược và chính sách ngoại giao của Ucraina giai đoạn 2011-2020 166

Trang 4

III Định hướng phát triển quan hệ song phương giai đoạn 2011-2020 172

1 Quan điểm phát triển quan hệ Việt Nam - Ucraina 172

2 Định hướng phát triển quan hệ Việt Nam - Ucraina 176

IV Những giải pháp chủ yếu thúc đẩy quan hệ song phương giai đoạn 2011-2020 188

KẾT LUẬN 196

TÀI LIỆU THAM KHẢO 199

Trang 5

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

 

Bảng 1.1: Khối lượng một số sản phẩm được sản xuất trong các xí nghiệp

Ucraina giai đoạn năm 1990 – 1995 45

Bảng 1.2: Các chỉ số phát triển kinh tế chính của Ucraina năm 2000 – 2007 46

Bảng 1.3 Các chỉ số phát triển kinh tế chính của Ucraina 2007 - 2009 47

Hình 2.1: Kim ngạch XNK Việt Nam và Ucraina từ 2001 đến 2010 79

Bảng 2.1: Một số mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Ucraina năm 2010 82

Bảng 2.2: Vị trí của Việt Nam trong thương mại của Ucraina 83

Hình 3.1: Cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của Việt Nam và Ucraina năm 2009 154 Hình 3.2: GDP/ng theo giá thực tế và sức mua tương của Việt Nam và Ucraina 155

  DANH MỤC HỘP Hộp 2.1: Các văn bản đã được ký kết giữa hai chính phủ 74 

Hộp 2.3: Đào tạo tiến sỹ cho người Việt Nam tại Đại học kỹ thuật Quốc gia Ucraina 118 

Hộp 2.4: Đào tạo tiến sỹ lĩnh vực chính trị-xã hội cho người Việt Nam tại Đại học Quốc gia Kiev mang tên Taras Tseptrenko 121 

Trang 6

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AC: Cộng đồng ASEAN

AFAS: Hiệp định khung về dịch vụ ASEAN

AFTA: Khu vực thương mại tự do ASEAN

AIA: Khu vực đầu tư ASEAN

AICO: Hiệp định khung về hợp tác công nghiệp ASEAN APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương ARF: Diễn đàn khu vực ASEAN

ASC: Cộng đồng an ninh ASEAN

ASCC: Cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN

ASEM: Diễn đàn hợp tác Á-Âu

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CHLB: Cộng hòa Liên bang

CNXH Chủ nghĩa xã hội

CSTO: Hiệp ước an ninh tập thể (SNG)

EAC: Cộng đồng Đông Á

EAS: Hội nghị thượng đỉnh Đông Á

EC: Cộng đồng Châu Âu

EPA: Hiệp định đối tác kinh tế

EU: Liên minh Châu Âu

FTA: Hiệp định thương mại tự do

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

HDBA LHQ: Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc

HLKHQG Hàn lâm khoa học quốc gia

NATO: Khối quân sự Bắc Đại Tây dương

ODA: Viện trợ phát triển chính thức

OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

OSCE: Tổ chức hợp tác an ninh châu Âu

PMC: Hội nghị Bộ trưởng ASEAN (với các nước đối thoại)

Trang 7

RTA: Hiệp định thương mại khu vực

SCO: Tổ chức hợp tác Thượng hải

SNG: Cộng đồng các quốc gia độc lập

TAC: Hiệp ước thân thiện và hợp tác

TNC: Công ty xuyên quốc gia

TREATI: Sáng kiến thương mại liên khu vực EU-ASEAN

TTXVN: Thông tấn xã Việt Nam

UBLCPUV Ủy ban liên chính phủ Ucraina-Việt Nam về hợp tác Kinh tế-

thương mại, khoa học – kỹ thuật USD: Đô la Mỹ

WTO: Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

Kể từ khi Ucraina tuyên bố độc lập, tách ra từ Liên Xô ngày 24 tháng 8 năm

1991, Việt Nam đã chính thức công nhận nền độc lập của Ucraina và vào ngày

23 tháng 01 năm 1992, quan hệ ngoại giao Việt Nam – Ucraina đã được thiết lập Cho đến nay mối quan hệ này đã trải qua 20 năm phát triển với những thăng trầm

và một sự tiến triển chậm chạp Tuy nhiên, về thực chất quan hệ Việt Nam – Ucraina đã được phát triển từ vài thập kỷ trước đó trong thời kỳ phát triển quan

hệ giữa Việt Nam với Liên Xô Nhưng đáng tiếc là mối quan hệ giữa hai nước

từ năm 1992 đến nay chưa kế thừa được những nền tảng vững chắc trước đó để phát triển hơn nữa, và dường như nó không được quan tâm đúng mức Mặc dù quan hệ giữa hai nước được thiết lập trong bối cảnh thế giới có sự thay đổi mạnh

mẽ, xu hướng hợp tác phát triển nổi trội chi phối phần lớn các nước trên thế giới Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Ucraina bước ngay vào quá trình cải cách toàn diện đất nước theo hướng phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập vào châu Âu Trong suốt thập niên 1990, Ucraina gặp rất nhiều khó khăn, kinh tế suy giảm mạnh, chính trị không ổn định, đời sống nhân dân giảm sút Bước sang thập

kỷ đầu của thế kỷ XXI, đà suy giảm kinh tế đã bị chặn lại, nền kinh tế từng bước hồi phục và tăng trưởng cao, tình hình chính trị cũng đã đi vào ổn định Hiện nay, Ucraina vẫn đang tiếp tục cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, hội nhập tích cực vào khu vực và thế giới với mục tiêu chiến lược là gia nhập Liên mình châu Âu (EU) Trong chương trình cải cách giai đoạn 2010-2014, chính quyền Ucraina đã thể hiện chiến lược ưu tiên hội nhập vào châu Âu, tuy nhiên vẫn phát triển quan hệ với Nga và coi trọng quan hệ với Mỹ

Do phải tập trung giải quyết những vấn đề trong nước, sự quan tâm của Ucraina đến các đối tác bên ngoài còn giới hạn, cộng với mong muốn hội nhập vào EU, quan hệ của Ucraina với Việt Nam đã không được chú trọng phát triển Bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI, chính quyền của tổng thống V.Yanukovich đã có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng cân bằng

Trang 9

hơn trong quan hệ giữa phương tây và phương đông, và Việt Nam được xác định

là có vị trí quan trọng ở khu vực Đông Nam Á nên đã được chú ý hơn

Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước vẫn thực hiện chính sách ưu tiên hợp tác với các đối tác truyền thống trong đó có Ucraina Chính vì vậy, khi Ucraina chú trọng hơn đến Việt Nam, quan hệ song phương đã có điều kiện phát triển Thời điểm hiện nay là cơ hội tốt để hai nước Việt Nam và Ucraina tổng kết đánh giá về mối quan hệ giữa hai bên, những thành tựu đã đạt được và những yếu kém còn tồn tại Đặc biệt nữa, mối quan hệ này vừa tròn 20 năm (1992-2012), việc đánh giá mối quan hệ song phương để đưa ra những giải pháp phát triển hơn nữa quan hệ Việt Nam – Ucraina vào thời điểm hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng Cả hai nước đều đang đứng trước những cơ hội và thách thức trong bối cảnh quốc tế mới có nhiều biến động so với hai thập kỷ trước Bên cạnh đó, hai nước đã bắt đầu đi vào quĩ đạo phát triển ổn định sau thời gian cải cách và tìm tòi đường hướng phát triển Thêm vào nữa, hai nước đều có vị trí khá quan trọng trong khu vực và có tiềm năng rất lớn, hứa hẹn những dự án hợp tác triển vọng tạo ra nhiều lợi ích cho cả hai bên

Đề tài “Quan hệ Việt Nam- Ucraina trong bối cảnh quốc tế mới” là kết

quả hợp tác nghiên cứu của tập thể các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Châu Âu thuộc Viện Khoa học xã hội việt Nam với Viện Kinh tế thế giới và Quan hệ quốc tế, Viện Phương Đông, Viện Kinh tế và dự báo thuộc Viện HLKH Quốc gia Ucraina trong khuôn khổ thực hiện nhiệm vụ khoa học cấp Nhà nước theo Nghị định thư Việt Nam- Ucraina Nội dung của cuốn sách gồm 3 phần: i/ Đánh giá một cách khoa học bối cảnh quốc tế, khu vực và những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam – Ucraina, vị trí của mối quan hệ này trong chiến lược phát triển của mỗi nước; ii/ Phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ Việt Nam – Ucraina trên tất cả các mặt trong thời gian từ sau chiến tranh lạnh đến nay, nhất

là từ giai đoạn 2001-2010, những thành tựu đã đạt được, những vấn đề đặt ra hiện nay và nguyên nhân của chúng; iii/ Đưa ra định hướng và giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam – Ucraina cho giai đoạn 2011-2020 Ngoài ra, cuốn sách còn sử dụng một số kết quả tại Hội thảo khoa học quốc tế về: “Quan hệ Việt

Trang 10

Nam- Ucraina: Lịch sử, hiện trạng và triển vọng” do Viện Nghiên cứu Châu Âu

tổ chức tại Hà Nội với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và hoạch định chính sách của Việt Nam ở các cơ quan khác nhau, đặc biệt là sự tham gia của các nhà khoa học Ucraina và Sứ quán Ucraina tại Hà Nội

Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do thời gian và nguồn tư liệu chắc chắn

đề tài không tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong được sự góp ý và lượng thứ của độc giả

Trang 11

CHƯƠNG I BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ

VIỆT NAM – UCRAINA

I Bối cảnh quốc tế, khu vực tác động đến quan hệ Việt Nam - Ucraina

1 Bối cảnh quốc tế

Bước vào thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, thế giới tiếp bước xu hướng hòa bình, hợp tác và cùng phát triển Kể từ giữa thập kỷ 1990, phần lớn các nước chuyển hướng nhanh sang phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân Chính phủ các nước đã đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên cao nhất trong các mục tiêu phát triển của mình Xu hướng này cho thấy thế giới dường như đã có nhận thức cao hơn, thực chất hơn đối với cuộc sống con người1 Sự ấm dần lên của môi trường quốc tế đã khiến các nước xích lại gần nhau hơn, chia sẻ những kinh nghiệm phát triển và hợp tác cùng có lợi Bởi vì các nước có lợi ích chung, đan xen và phụ thuộc lẫn nhau Những nước có điều kiện tương tự nhau đã liên kết chặt chẽ với nhau hình thành các tổ chức khu vực vừa là để có tiếng nói lớn hơn vừa là tận dụng các thế mạnh của nhau Không chỉ những nước có điều kiện khá tương đồng mà nhiều nước có điều kiện và trình độ rất khác nhau cũng tìm được lợi ích chung để hợp tác với nhau Điều này làm cho thế giới hai thập kỷ qua nổi trội là những liên kết trong khu vực và liên khu vực: liên kết giữa các nước phát triển, các nước đang phát triển với nhau và giữa nước đang phát triển với nước phát triển Đã có nhiều nước tranh thủ được những thuận lợi trong bối cảnh quốc

tế này để vươn lên mạnh mẽ và có vị thế cao trên trường quốc tế

Trong thập kỷ này, xu hướng hợp tác cùng phát triển vẫn sẽ là xu hướng chủ đạo trong các mối quan hệ quốc tế Các nước không kể lớn nhỏ, giàu nghèo đều lấy nền tảng hòa bình để phát triển Có thể khái quát một số xu hướng quốc tế như sau:

1 Nguyễn Quang Thuấn (2008) Quan hệ Nga – ASEAN trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB KHXH, HN 2008, tr 21

Trang 12

Xu hướng đa cực hóa đang hình thành: Kể từ sau chiến tranh lạnh, Mỹ là

siêu cường duy nhất thống trị mọi mặt của thế giới Trong những năm gần đây, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu xuất phát ở Mỹ năm 2008, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế toàn cầu Cho đến cuối năm 2011, Mỹ và các nước phương Tây vẫn chưa thoát ra khỏi sự trì trệ do cuộc khủng hoảng gây ra, thậm chí các nước châu Âu còn vướng vào cuộc khủng hoảng nợ công Nói về cuộc khủng hoảng toàn cầu xuất phát từ Mỹ, có nhiều khía cạnh để phân tích Tuy nhiên, trong khi Mỹ và các nước Châu Âu còn nhiều khó khăn về kinh tế, sự nổi lên mạnh mẽ của Trung Quốc và các nước BRICS khác đã làm cho cục diện thế giới chuyển hướng Người ta nhận thấy rằng có sự suy giảm tương đối của

Mỹ và các nước phương Tây

Chính sự phát triển và nổi lên của các nước đang phát triển lớn, như Trung Quốc đã nhanh chóng trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới và sự trở lại của Nga, sự nổi lên của Ấn Độ, Brazil, Nam Phi… đã làm nền kinh tế và chính trị thế giới biến chuyển theo hướng đa cực hóa, bắt đầu hình thành một trật tự thế giới mới Trật tự này sẽ chi phối lại các định hướng quan hệ quốc tế…

Một trong những cực của trật tự thế giới mới, sánh cùng với Mỹ và EU, rất

có thể sẽ là Đông Á dưới hình thức "ASEAN +3" (các quốc gia ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) Sự nhanh chóng thoát khỏi ảnh hưởng của khủng hoảng (trừ Nhật Bản), khiến vai trò toàn cầu của các nước trong khu vực Đông Á tăng lên, có tác động kéo nền kinh tế toàn cầu đi lên, làm dịch chuyển các trung tâm kinh tế và tài chính toàn cầu về Đông Á Sự tăng cường ảnh của một số nước mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Brazil… được biểu hiện rất rõ ở vai trò ngày càng quan trọng của G20 trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, dần thay thế G8

Toàn cầu hóa kinh tế và sự tăng cường liên kết khu vực và liên khu vực đang diễn ra mạnh Toàn cầu hóa đã trở thành khái niệm quen thuộc bởi vì nó

đã diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực Toàn cầu hóa đã làm tăng đáng kể sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước trên thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau, cả trên cấp độ toàn cầu và khu vực, đa phương và song phương Hiện nay, trong lĩnh

Trang 13

vực kinh tế người ta đang quan tâm tới khái niệm “mạng sản xuất”, đó thực chất

là quá trình phân công lao động quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu sắc Quá trình sản xuất hiện nay không chỉ diễn ra ở một nước mà nó chuyên môn hóa ở nhiều nước, mỗi nước đảm nhiệm một hoặc một số công đoạn sản xuất một sản phẩm nào đó, rồi lắp ghép hoàn thiện sản phẩm tại một nơi Quá trình này đã khiến các nước gắn chặt với nhau, phụ thuộc vào nhau

Ngay cả thương mại và đầu tư quốc tế hiện nay đã thay đổi về chất do sự phân bố lại nguồn lực lao động toàn cầu Sản phẩm xuất khẩu của nước này có thể do nước khác sản xuất là chủ yếu hay đầu tư của một công ty ở nước A vào nước B nhưng thực chất công ty đó chỉ là một chi nhánh của một công ty khác ở nước C Quá trình này khiến chúng ta khó tách biệt được hoạt động này là chỉ của hai bên mà nó còn có thể liên quan đến nhiều bên khác nhau

Hiện nay không phải xem xét toàn cầu hóa như một xu hướng có theo nó hay không mà cần xem chúng ta chấp nhận nó đến mức nào bởi vì bản thân quá trình này diễn ra có chứa đựng đầy những mâu thuẫn Tác động tích cực của toàn cầu hóa thì rất rõ, càng tham gia vào quá trình này các nước càng có điều kiện tiếp cận các nguồn lực phát triển với chi phí rẻ hơn Tuy nhiên, bản thân nó cũng chứa đựng nhiều thách thức đối với các quốc gia nhất là những nước đang hoặc kém phát triển

Đầu tiên, những lợi ích của toàn cầu hóa không tự đến hoặc không được phân chia đồng đều giữa các quốc gia và giữa các khu vực Những lợi ích có được từ toàn cầu hóa được phân phối thông qua sự cạnh tranh giữa các quốc gia

Vì vậy, khả năng cạnh tranh quyết định cơ bản sự thành công của một quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Những nước đang phát triển, khả năng cạnh tranh thường kém những nước phát triển hơn Vậy làm thế nào để các nước đang phát triển có thể thắng lợi trong quá trình hội nhập toàn cầu? Trên thực tế đã có nhiều nước đang phát triển hội nhập rất thành công nhờ những chiến lược hợp lý Thứ nhất là họ củng cố nhanh chóng sức mạnh nội lực trước khi bước ra ngoài Thứ hai là họ lựa chọn những lĩnh vực có thế mạnh có thể cạnh tranh được với các nước phát triển hơn làm cơ sở để kéo toàn bộ nền kinh tế

Trang 14

đi lên Thứ ba là họ có thể hợp tác và liên kết với các nước khác để tăng sức mạnh tổng thể Chính vì vậy, thời gian qua chúng ta chứng kiến nhiều khối liên kết khu vực và liên khu vực diễn ra trên thế giới Mục đích chính của các nước này là giành cho nhau những ưu đãi để tạo điều kiện thuận lợi cho nhau cùng phát triển Mặt khác, những liên kết này còn tạo ra những đối trọng với các cường quốc hoặc những nước lớn hơn

Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa hiện nay còn làm nảy sinh mâu thuẫn giữa tự do hóa kinh tế toàn cầu và cơ chế điều tiết quản lý quá trình này2 Trong khi các thể chế mang tính quốc gia phải được điều chỉnh để thích ứng với các thể chế mang tính toàn cầu thì cũng chưa có một thể chế toàn cầu nào đủ hữu hiệu để quản lý quá trình toàn cầu thay thế các thể chế quốc gia

Thời đại toàn cầu hóa, biên giới hay ranh giới phân biệt giữa các quốc gia

đã nhòa đi Thị trường của một quốc gia đã mở rộng ra khu vực và toàn cầu Đi cùng với nó là sự cạnh tranh gay gắt nhưng sẽ theo hướng công bằng hơn Đối với các nước không có điều kiện thuận lợi về tự nhiên, lãnh thổ, con người thì nhiệm vụ tăng cường thương mại song phương, đầu tư, chuyển dịch lao động, hợp tác sản xuất có ý nghĩa quan trọng Giai đoạn hiện nay không kể những nước

có điều kiện hay không đều nỗ lực hợp tác, liên kết và hội nhập (trừ một số trường hợp cá biệt) vì họ còn tham vọng hơn nữa

Sự liên kết khu vực và quốc tế diễn ra mạnh mẽ trong hai thập kỷ gần đây khi hàng loạt các khối liên kết và hợp tác ra đời Năm 1989, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) được thành lập; tháng 2/1992, Hiệp ước Maastricht đã được ký kết, thành lập Liên minh châu Âu; tháng 12/1992 - Hiệp ước thành lập khu vực Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) giữa Mỹ, Canada và Mexico (hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1994); vào tháng 1/1992 tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN họp tại Singapore, các nước ASEAN đã thông qua quyết định thành lập khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) trong vòng 10 năm (có hiệu lực vào tháng 1, năm 2001, đối với "ASEAN-6"); năm 1993 hội nghị thượng đỉnh APEC đầu tiên được tiến hành và sau đó một năm, họ đã ký

2 Nguyễn Thiết Sơn (2011), Quan hệ Hoa Kỳ - ASEAN giai đoạn 2011-2020, Báo cáo tổng hợp đề tài Cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Châu Mỹ

Trang 15

Tuyên bố Bogor về ý định xây dựng khu vực thương mại tự do khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (APR) vào năm 2020; tháng 4 năm 1994, tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập v.v…

Ở khu vực châu Á, quá trình hội nhập đã được đẩy mạnh sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998, chủ yếu trong khu vực Đông Nam và Đông

Á Ngay trong năm 1997, Diễn đàn "ASEAN+3" xuất hiện, đã trở thành cơ sở của hội nhập Đông Á sau này Cuộc khủng hoảng 1997-98 đã làm sâu sắc thêm

sự hội nhập trong ASEAN, bằng chứng là Tuyên bố Bali (2003) về thành lập Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với ba trụ cột - an ninh, kinh tế và văn hóa xã hội (năm 2007, các nước ASEAN đã quyết định rút ngắn thời gian thành lập cộng động đến 2015); trong năm 2007, Hiến chương ASEAN ra đời (có hiệu lực trong năm 2008) đã góp phần thể chế hóa hiệp hội, chuyển đổi thành hiệp hội với nhiều mối liên kết hơn dựa trên các quy tắc rõ ràng Một hình thức hội nhập nữa xoay quanh khu vực ASEAN là Hội nghị thượng đỉnh Đông Á ("ASEAN + 6"), được thành lập vào tháng 12 năm 2005, trong đó có sự tham gia của ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, New Zealand, Ấn Độ (đang xem xét sự tham gia của Nga và Mỹ)

Một trong những yếu tố hội nhập kinh tế hay là một xu hướng nổi bật trong hơn một thập kỷ qua là việc thiết lập các hiệp định song phương và đa phương về thương mại tự do (FTA) Sự thiếu tiến triển trong vòng đàm phán Doha của WTO cũng góp phần tạo động lực cho sự sáng tạo này Tuy nhiên, khi nó đã phát triển mạnh thì lại làm khó thêm các đàm phán trong khuôn khổ WTO Trong bối cảnh tìm kiếm con đường nhằm thúc đẩy thương mại-đầu tư sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-98, quốc gia đầu tiên trong ASEAN tham gia vào các cuộc đàm phán để thiết lập FTA với các nước ngoài hiệp hội là Singapore (1999) Tính đến năm 2011, nước này đã ký thỏa thuận về việc thành lập khu vực thương mại tự do với nhiều nước3 và đang tiếp tục đàm phán với nhiều nước và

Trang 16

các khối khác, bao gồm cả Ucraina Ban đầu, xu hướng này đã được các nước ASEAN chấp nhận một cách thận trọng, nhưng họ cũng đi theo không lâu sau đó Đến nay nhiều nước trong ASEAN theo đuổi mạnh mẽ việc ký kết các FTA Thực tế, trên thế giới đã có những liên kết chặt chẽ hơn, sâu hơn FTA như liên minh thuế quan, thị trường chung hay liên minh tiền tệ Liên minh Châu Âu

là điển hình của liên kết và hội nhập trên thế giới Ở khu vực Châu Á, khu vực Đông Á hay ASEAN cũng đã hướng tới xây dựng cộng đồng trong tương lai gần Đây đều là những liên kết cao hơn nhiều so với FTA Xu hướng FTA tồn tại song song với quá trình liên kết ở tầm toàn cầu dưới WTO Nó vừa bổ sung cho WTO vừa làm trì hoãn các cam kết của WTO Ở cấp độ khu vực hay trên toàn cầu, các FTA đã và sẽ có những tác động nhiều chiều, trên nhiều phương diện đối với quá trình liên kết và hợp tác khu vực Quá trình tự do hóa thương mại khu vực vừa tiến triển theo chiều hướng mở rộng phạm vi các nước tham gia hiện có vừa được đẩy mạnh giữa hai hoặc một nhóm nước bằng những thỏa thuận riêng Chẳng hạn

sự mở rộng của EU sang các nước Trung và Đông Âu hay kế hoạch mở rộng NAFTA ra cả Châu Mỹ

Như vậy, trong thế giới hiện đại các quá trình hội nhập dưới các hình thức khác nhau diễn ra song song và đồng thời hình thành một mạng lưới các mối quan hệ kinh tế cùng có lợi, tạo ra lợi thế quốc gia trong hệ thống phân công lao động toàn cầu Sự gần gũi lãnh thổ không còn là một yếu tố quyết định trong hội nhập, chính sự bổ sung giữa các nền kinh tế, cũng như mức độ tin tưởng giữa người dân và giới tinh hoa chính trị giữa các quốc gia mới là những yếu tố quan trọng xác định sự hội nhập Điều kiện như vậy tồn tại trong quan hệ giữa Ucraina

và Việt Nam

Tuy nhiên, một thách thức lớn hiện nay đang đe dọa mô hình liên kết khu vực ở châu Âu khiến nhiều khu vực khác có ý định theo mô hình của EU phải xem lại Nhiều người đã đặt câu hỏi liệu liên kết sâu theo mô hình của EU có phải là đích hướng đến của các khu vực? Trong khi thế giới đang chứng kiến khủng hoảng nợ công ở châu Âu có nguy cơ phá vỡ đồng tiền chung châu Âu (euro)- thành quả cao nhất trong hội nhập của khu vực này

Trang 17

Cách mạng khoa học công nghệ ngày càng nổi lên là một nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển và ổn định của thế giới: Việc xuất hiện

những phát minh khoa học, làn sóng đổi mới công nghệ, sự đề cao tri thức và thông tin v.v không chỉ đóng vai trò trọng yếu có tính quyết định như một lực lượng sản xuất trực tiếp trong phát triển kinh tế mà còn trực tiếp gây ra những biến đổi trong toàn bộ đời sống chính trị - xã hội ở các quốc gia Sự phát triển của khoa học - công nghệ đã góp phần tạo lập sự gắn kết các mô hình kinh tế, các

tổ chức xí nghiệp để tạo nên một không gian thông tin kết nối với nhau, từ đó xoá nhoà những giới hạn về không gian và thời gian trong các hoạt động kinh tế và hợp tác quốc tế

Khoa học - công nghệ phát triển giúp cho khoảng cách địa lý giữa các quốc gia, các trung tâm kinh tế như được thu hẹp lại Điều quan trọng nữa, chi phí của nền kinh tế giảm đi rất nhiều Vì vậy, kinh tế tri thức được coi là tạo ra tác động tích cực tới khả năng phối hợp sản xuất giữa các quốc gia cũng như tạo ra cơ hội lớn hơn để các quốc gia, các trung tâm phát triển của thế giới trở thành các đối tác quan trọng của nhau trong trao đổi thương mại hàng hoá, dịch vụ

Sự cạnh tranh của thế giới hiện nay có sự đóng góp lớn của sức mạnh tri thức và công nghệ tiên tiến Nhu cầu phát triển các ngành kỹ thuật cao chứa đựng hàm lượng tri thức lớn đã khiến nhiều nước thiếu hụt trầm trọng những lao động

có tay nghề cũng như lao động ở những ngành có trình độ cao Hiện tượng khát nhân lực chất lượng cao diễn ra gần như ở khắp mọi nơi trên thế giới đặc biệt những nền kinh tế phát triển cao Đây là những cơ hội cho những người có trình

độ tay nghề ở các nước đang phát triển

Theo phân tích của các chuyên gia, từ năm 1992, lợi thế cạnh tranh của các nền kinh tế tiên tiến chỉ có 15% là phụ thuộc vào các chỉ số truyền thống (GDP, lạm phát, cán cân thương mại) và 85% - từ yếu tố "mềm" - khả năng cạnh tranh liên quan đến yếu tố con người (trình độ học vấn và kỹ năng, động lực, làm việc, vv)4 Sự phát triển của khoa học công nghệ sẽ làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế và

4 Nataliya Gorodnia (2011), Chính sách đối ngoại của Ucraina giai đoạn 2011-2020 và vị trí của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Ucraina, Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế, Viện HLKHQG Ucraina

Trang 18

xã hội Nhận thức điều này để có định hướng đúng đắn trong hợp tác giữa các quốc gia

Những thách thức mang tính toàn cầu đang tác động đến điều chỉnh chiến lược ở nhiều nước: Mặc dù thế giới đang nổi lên xu hướng hòa bình và hợp tác nhưng thực tế các vấn đề khủng bố, chiến tranh và xung đột sắc tộc vẫn

đang thường trực hàng ngày ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mọi người và các hoạt động kinh tế Những mâu thuẫn sắc tộc, xu hướng ly khai và tranh chấp lãnh thổ chưa hề giảm Ở đâu đó vẫn có những điểm nóng có thể xảy ra chiến tranh bất cứ lúc nào Tình hình an ninh chính trị nhiều nơi đã biến chuyển theo một chiều hướng bất lợi cho sự phát triển Một khi tình hình an ninh chính trị - xã hội bị đe doạ, niềm tin của các nhà đầu tư và thương mại bị giảm sút, người dân

có xu hướng tích trữ, tiết kiệm thay vì tiêu dùng và đầu tư, các hoạt động du lịch, dịch vụ thiếu khởi sắc và sự ổn định kinh tế sẽ bị đe dọa

Ngoài ra, chúng ta còn thấy hàng loạt vấn đề sinh ra từ các thách thức an ninh phi truyền thống như các vấn đề an ninh năng lượng, an ninh lương thực và

sự biến đổi môi trường, khí hậu toàn cầu sẽ là vấn đề mà cả thế giới phải đối mặt trong vòng những thập niên tới Năng lượng, môi trường tự nhiên ngày càng trở

nên bức xúc Càng phát triển, thế giới càng phụ thuộc vào các nguồn cung cấp

năng lượng Trong khi các nguồn năng lượng sạch như thuỷ điện, điện mặt trời, điện hạt nhân, và các loại nhiên liệu thay thế xăng dầu như hidro và nitơ hoá lỏng, hiện chưa đủ để đáp ứng nhu cầu vận chuyển, phát triển công - nông nghiệp, hay phục vụ sinh hoạt hàng ngày của người dân và công nghệ cũng chưa cho phép để cung cấp chúng với giá rẻ, nên thế giới vẫn còn phải phụ thuộc rất

nhiều vào các nguồn năng lượng truyền thống là dầu mỏ và than đá

Sự tăng lên của giá dầu mỏ trên thị trường quốc tế trong những thập kỷ qua

đã tác động mạnh tới đà tăng trưởng kinh tế của thế giới, mà cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX và hiện tượng giá dầu tăng rất mạnh trong những năm gần đây là một ví dụ (giá dầu thô đã có thời điểm lên đến 140USD/thùng) Hiện tượng này làm nổi lên vấn đề đảm bảo

an ninh năng lượng để duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các nước trên

Trang 19

thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển, các nước công nghiệp mới

và chuyển đổi như NICs, Trung Quốc, SNG và ASEAN Theo Bộ Năng lượng

Mỹ, nhu cầu dầu mỏ của thế giới sẽ tăng nhanh trong những thập kỷ tới Việc khai thác và sản xuất dầu mỏ sẽ không thể theo kịp được với nhu cầu đang ngày càng gia tăng5 Vì thế, duy trì được nguồn cung cấp năng lượng ổn định (nhất là dầu mỏ) với giá rẻ là yêu cầu tối cấp thiết với các nước Mâu thuẫn và xung đột quốc tế xung quanh việc sở hữu hay kiểm soát nguồn cung cấp năng lượng do vậy có chiều hướng ngày càng gay gắt Vụ đảo chính bất thành ở Venezuela, để dựng lên một chính phủ thân Mỹ, cũng có nhiều nguyên nhân trong đó nổi bật nhất là sự tranh giành quyền kiểm soát nguồn dầu mỏ lớn nhất Mỹ Latinh Hay trong cuộc chiến Iraq-II vừa qua, liên quân Mỹ - Anh dù có đưa ra hàng loạt lý

do về vũ khí huỷ diệt hay mối liên hệ giữa chính quyền Sadam Hussein với Qaeda, cũng không thể che lấp được ý đồ muốn độc chiếm nguồn cung cấp dầu

Al-mỏ có trữ lượng lớn thứ hai Trung Đông, để từ đó chi phối việc cung ứng và định giá dầu mỏ trên thị trường thế giới một cách có lợi cho sự phát triển của các tập đoàn công nghiệp ở trong nước Các cuộc cách mạng sắc màu diễn ra trong không gian hậu Xô Viết, đặc biệt ở khu vực Trung Á nhằm hướng tới khu vực dầu mỏ ở vùng biển Caspian cũng không nằm ngoài động thái này Ở mức độ thấp hơn là những tranh chấp giữa Trung Quốc với một số nước ASEAN xung quanh đảo Trường Sa trên biển Đông của Việt Nam, bất chấp những chứng cứ lịch sử và địa lý, cũng có nguyên nhân từ việc muốn sở hữu những mỏ dầu tiềm năng ở vùng thềm lục địa này Lịch sử thế giới đã ghi nhận các cuộc chiến trên con đường tơ lụa, con đường hương liệu, thì ngày nay chúng ta đang được chứng kiến những tranh chấp xung quanh các “con đường dầu mỏ”

Xu hướng phát triển bền vững và hướng đến nền kinh tế xanh: Những năm gần đây các nước còn hướng đến phát triển bền vững Cùng với toàn cầu

hóa kinh tế, mô hình phát triển ở nhiều nước cũng thay đổi Mục tiêu phát triển hiện nay đối với phần lớn các nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế đơn thuần

mà nó đã tiến tới xu hướng hài hòa hóa hay người ta đã đặt mục tiêu phát triển bền vững Trụ cột của phát triển bền vững là vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế

5 Michael T Klare: “The New Geography of Conflict” Foreign Affairs, May - June/2001, Vol 80, No 3, P 55

Trang 20

cao và ổn định vừa đảm bảo tiến bộ về xã hội và bảo vệ môi trường Cũng có thể

xã hội đã tiến tới nấc phát triển cao hơn hoặc cũng có thể vấn đề xã hội và môi trường đang đe dọa nghiêm trọng đời sống con người mà mục tiêu trên được coi trọng và đồng thuận cao như vậy Phát triển bền vững là quan điểm xuyên suốt trong quản lý, điều hành nền kinh tế của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa Đây là phương thức phát triển theo định hướng nhân văn, hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và các mặt môi trường sinh thái, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, các mặt về tiến bộ, công bằng xã hội đặc biệt là vấn đề tăng dân số, nạn thất nghiệp và khoảng cách giàu nghèo

Phát triển bền vững và tăng trưởng xanh sẽ gây áp lực lớn đối với những ngành công nghiệp truyền thống sử dụng công nghệ lạc hậu Đồng thời nó cũng

là thách thức đối với các nước đang phát triển Sự bùng nổ dân số ở một số nước đang phát triển đã dẫn đến nạn phá rừng, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm giảm diện tích đất canh tác, đất đai bị sa mạc hóa, thất nghiệp, bần cùng hóa

Vì vậy, kiểm soát tỷ lệ tăng dân số hợp lý là một trong các biện pháp cơ bản đảm bảo phát triển bền vững

Quan điểm phát triển bền vững còn bao gồm cả các vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ tính đa dạng sinh học, an ninh lương thực và chống tội phạm cùng với các tệ nạn xã hội xuyên quốc gia; đồng thời cả vấn đề giao lưu văn hóa và giữ gìn bản sắc dân tộc

Như vậy, có thể nói bối cảnh quốc tế mới đã tạo nhiều thuận lợi cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Ucraina phát triển: thứ nhất là vì mục tiêu phát triển,

vì lợi ích quốc gia – dân tộc các nước phải nỗ lực duy trì ổn định chính trị để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân Trước xu thế liên kết và hội nhập, quan hệ Việt Nam – Ucraina có động lực để phát triển hơn vì hai nước sẽ tranh thủ được các lợi thế của nhau gồm: nguồn lực tài nguyên, vốn, con người, công nghệ v.v ; hợp tác và liên kết sẽ học hỏi được kinh nghiệm quản lý và quản trị của nhau; mở rộng thị trường; tiếp đến, do những tiến bộ về công nghệ thông tin và giao thông vận tải giúp khắc phục những hạn chế về khoảng cách địa lý Ngoài ra, Ucraina có thế mạnh về khoa học công nghệ sẽ có lợi thế khi phát huy

Trang 21

yếu tố này; cuối cùng, chính những đe dọa của an ninh phi truyền thống (an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu ) cũng là cơ hội để quan hệ Việt Nam – Ucraina phát triển hơn Bởi vì Ucraina là nước có thế mạnh công nghệ năng lượng, có nền khoa học cơ bản phát triển tốt, là nước xuất khẩu lúa mì lớn

2 Bối cảnh khu vực châu Âu trong đó có Ucraina

Xu thế hợp tác, phát triển và cạnh tranh ở Châu Âu

Chiến tranh lạnh kết thúc, sự chia rẽ Châu Âu đã mất đi, xu thế hợp tác phát triển và cạnh tranh cũng nổi lên Có thể thấy điều này ở sự mở rộng Cộng đồng Châu Âu (EC) từ 12 thành viên thành Liên minh Châu Âu (EU) 15 quốc gia vào năm 1995 và EU 25 năm 2004 và EU 27 năm 2007, cùng với việc phát triển quan

hệ xuyên Đại Tây Dương Mỹ - Âu và hợp tác Âu-Á (ASEM), đặc biệt là việc chuẩn bị cơ sở pháp lý cho việc bành trướng quan hệ sang phía Đông Âu Khu vực Liên Xô cũ cũng có những nỗ lực hàn gắn các đổ vỡ của quan hệ kinh tế nội

bộ Liên bang Xô viết bằng việc cho ra đời Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) thu hút sự hợp tác của hầu hết các nước cộng hòa cũ thời Liên Xô

Tuy nhiên ở những năm đầu thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, bối cảnh ấm lên của quan hệ hợp tác phát triển này bị pha trộn vào đó những mối lo ngại Các xung đột đẫm máu và hỗn loạn vô chính phủ do sự hồi sinh chủ nghĩa dân tộc cực đoan không thể kiểm soát sau khi hệ thống XHCN thế giới tan vỡ Những mâu thuẫn dân tộc, xung đột sắc tộc, tranh chấp lãnh thổ trước kia bị che đậy hoặc chịu sự áp chế kiểm soát cứng của chính trị nay có cơ hội bùng nổ thành chiến tranh vũ trang tạo ra một “vành đai động đất” kéo dài từ bán đảo Balkan qua vùng Capcaz đến Trung Á6

Vì thế, bối cảnh Châu Âu những năm đầu sau khi chiến tranh lạnh kết thúc

có sự nổi lên những nguy cơ và tiềm ẩn vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống do chưa có một trật tự thống nhất hình thành Đó là những nguy cơ

có thực trực tiếp nẩy sinh từ các nhân tố gây mất an ninh trên không gian hậu Xô

6 Nguyễn Quang Thuấn, chủ biên (2008), Quan hệ Nga-ASEAN trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB KHXH, Hà Nội 2008

Trang 22

Viết Gây lo ngại nhất là sự tan vỡ siêu cường hạt nhân Liên Xô dẫn đến việc làm xuất hiện 4 quốc gia độc lập có vũ khí hạt nhân tách ra từ Liên Xô là Nga, Ucraina, Belarusia và Kazakhstan Điều đó tạo ra tình hình không những gây khó khăn cho kiểm soát mà còn đẻ ra nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân và kĩ thuật hạt nhân mà chắc chắn sẽ đem lại những hậu họa khôn lường cho thế giới và cho Châu Âu Rồi chiều hướng nước Nga không rõ ràng sau khi Liên Xô tan vỡ cũng tạo ra nhân tố gây mất an ninh đáng lo ngại Nước Nga đi về đâu? quay trở lại con đường XHCN kiểu Liên Xô cũ hay sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Nga? Cả hai chiều hướng đó đều làm cho nhiều người lo ngại, nhất là các nước Trung Đông Âu XHCN trước kia với gần 50 năm bị Hiệp định Yalta xếp vào khu vực ảnh hưởng của Liên Xô7 Cùng đó là sự xuất hiện và lan toả rất nhanh các nhân tố mất an ninh mới có nguồn gốc chủ yếu từ sự tan rã Liên Xô và Liên bang Nam Tư như tội phạm có tổ chức, di dân bất hợp pháp, buôn bán phụ

nữ và trẻ em, tội phạm ma túy v v làm cho các giải pháp cho vấn đề an ninh Châu Âu không còn chỉ bó hẹp trong những biện pháp thuần túy quân sự như trước kia

Sau những sự kiện tưởng chừng ”làm nóng” bầu không khí khu vực, Châu

Âu cũng dần trở nên dịu đi do tác động của những nhân tố cho phép hạn chế nguy cơ do phá vỡ trật tự mà có Trước hết, nhân tố quan trọng nhất cũng chính

là sự có mặt của vũ khí hạt nhân và yêu cầu cấp bách chúng phải có được kiểm soát chính trị vững vàng Đây là nhân tố đảm bảo cho các cuộc xung đột ở Châu

Âu không đi quá đà8 Cùng đó là bản thân các nước lớn ở Châu Âu đều ý thức được nguy cơ hạt nhân trên lục địa mình chứ không phải trên đất Hoa Kỳ hoặc thậm chí đất Nga nếu để sơ sẩy Chính vì thế các cuộc xung đột vũ trang tuy bùng ra nhiều khi đẫm máu nhưng sau đó dường như đều đi theo chiều hướng được giải quyết ôn hòa với những thỏa hiệp nhất định hoặc đều bị ngăn chặn khi

có chiều hướng đi quá đà Hơn nữa các nước mới độc lập ở Châu Âu đều tự coi mình là các quốc gia dân chủ mới nên họ đều có thể giải quyết được các vấn đề

7 Hiện nay đây vẫn là vấn đề gây lo ngại khi nước Nga được đánh giá là “…đã rời khỏi quỹ đạo của phương Tây ” và “hiện đang bay tự do”- Newsweek 17.7.2006 và có từ 55 đến 60% người Nga ủng hộ khẩu hiệu “Nước Nga dành cho người Nga”-TTXVN Tài liệu tham khảo số 10/2006

8 Các cuộc dàn xếp đã đem lại kết quả năm 1996 vũ khí hạt nhân nằm trên lãnh thổ 3 quốc gia Ucraina, Belarusia và Kazakstan đã được quy về một mối qua việc chuyển giao cho Liên bang Nga.

Trang 23

nội bộ của mình một cách dân chủ theo con đường đối thoại Còn chiều hướng phát triển ở Liên bang Nga và các nước khác thuộc SNG cũng dần dần trở nên rõ ràng-cải cách thị trường và xây dựng xã hội dân chủ là con đường một chiều không thể đi ngược lại

Từ giữa thập niên 1990 trở đi không khí đối thoại, hòa bình hợp tác bao trùm toàn Châu Âu Ở khu vực Tây Âu đó là sự phát triển mạnh và sâu liên kết kinh tế kéo theo gắn kết đối ngoại chính trị-an ninh giữa các nước thành viên EU theo chiều hướng “chia sẻ” chủ quyền Theo đuổi mục tiêu hoàn thành liên kết kinh tế và định hình một Châu Âu chính trị mới, “Chiến lược Lisbon” được xây dựng cho thời kỳ đến năm 2010 của EU đã xác định làm cho EU trở thành nền kinh tế tri thức năng động có tính cạnh tranh cao nhất với khả năng phát triển bền vững có việc làm nhiều hơn, tốt hơn trong một xã hội gắn kết chặt chẽ

Việc thực hiện chiến lược này đã tạo ra bối cảnh Châu Âu mang đặc trưng hợp tác phát triển trong EU và giữa EU với phần còn lại của Châu Âu và thế giới Trước hết đó là sự mở rộng EU sang các nước thuộc khu vực trung và đông Châu

Âu mà Hội đồng Liên minh Châu Âu họp tại Madrid tháng 12 năm 1995 đã tuyên

bố lần mở rộng này “vừa là một sự cần thiết về chính trị vừa là một cơ may lịch sử”9 Điều quan trọng đây không phải chỉ là sự bành trướng địa bàn đơn thuần

mà là sự lan tỏa của một mô hình hợp tác kinh tế - gắn kết xã hội được EU đánh giá là mẫu mực của hợp tác quốc tế cần được nhân rộng Sự mở rộng lớn nhất trong lịch sử EU đã diễn ra với việc kết nạp 10 thành viên mới năm 2004 Cùng với đó là sự mở rộng quan hệ hợp tác chiến lược của EU với các quốc gia láng giềng mà chiến lược cho thế kỷ XXI của EU gọi là “quan hệ đối tác chiến lược chân thực”: quan hệ với các nước thuộc khu vực Balkan, Caucase và Trung Á, các quốc gia Trung Đông và vùng ven Địa Trung Hải, các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ nằm ở Châu Âu và trên hết là quan hệ với Liên bang Nga với Hiệp định đối tác và hợp tác được ký ngay từ năm 1994 Với các đối tác bên ngoài Châu Âu, như đã nói “Chương trình nghị sự mới xuyên Đại Tây Dương” đã được

ký với Hoa Kỳ tại Hội nghị thượng đỉnh Madrid tháng 12 năm 1995 giữa các đại

9 www.europeonline.com

Trang 24

diện của EU và tổng thống Mỹ B Clinton để xây dựng cầu nối cho hợp tác xuyên khu vực

Tuy nhiên, bên cạnh xu hướng hợp tác vẫn có những mâu thuẫn ”nho nhỏ” giữa Phương Tây và Nga Sau chiến tranh Lạnh, trong lúc nước Nga đang phải cải tổ, EU và Mỹ đã thúc đẩy việc mở rộng NATO đến sát biên giới Nga, nhằm

cô lập Nga Việc mở rộng NATO sang phía Đông là biện pháp quan trọng để Mỹ củng cố vị trí của mình ở châu Âu và thế giới như một siêu cường duy nhất, trong khi các nước Trung và Đông Âu cũng tìm được một chiếc ô bảo hộ an ninh mới

Về phí Nga, sự bàng trướng của NATO đã làm cho nước này lo ngại Từ góc độ địa chính trí, nếu Ucraina, Grudia là thành viên của NATO trong tương lai thì sườn phía Nam nước Nga và vùng Capcas luôn nằm trong tầm ngắm của máy bay chiến thuật của các nước NATO Sự hiện diện của lực lượng quân đội NATO tại phía Tây và phía Nam nước Nga trong tương lai, cùng với các căn cứ quân sự tại khu vực Trung Á, đặt nước Nga trong sự phong tỏa của lực lượng Mỹ và phương Tây10

Ngoài ra, bối cảnh hợp tác phát triển của khu vực phía tây Châu Âu cũng bị pha loãng phần nào bởi việc các nước Tây Âu nói chung và EU nói riêng phải đối mặt với một số vấn đề nội bộ khá gay gắt khi chiến tranh lạnh kết thúc Trước hết về kinh tế đó là sự khủng hoảng kinh tế vừa mang tính chu kì vừa mang tính kết cấu với nạn thất nghiệp trầm trọng Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm mạnh: từ mức trung bình 3,5% năm 1989 xuống còn 0,9% năm 1992 Cuộc “khủng hoảng kép” này làm cho EU vừa lạc hậu hơn Hoa Kỳ và Nhật Bản trong lĩnh vực kĩ thuật cao vừa chịu sức ép cạnh tranh gay gắt trong các ngành công nghiệp truyền thống từ các nền kinh tế công nghiệp hóa mới Bên cạnh sự ảm đạm về kinh tế là những bất ổn về chính trị do sự bác bỏ của cử tri đối với nền chính trị truyền thống với các đảng cầm quyền quá lâu kèm theo tham nhũng lan tràn và các vụ

bê bối Đây là thời kì sụp đổ của Đảng xã hội ở Pháp và suy giảm uy tín đến mức thấp nhất của các chính phủ Anh, Đức Còn trong nội bộ EU đang nổi lên vấn đề thế cân bằng tam giác Anh-Pháp-Đức bị phá vỡ do vị trí vai trò của nước Đức

10 Đặng Minh Đức (2011), Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) – Những vấn đề chính trị - kinh tế nổi bật, NXB KHXH, 2011

Trang 25

tăng lên sau khi tái thống nhất Việc hợp nhất và liên kết với khu vực thuộc CHDC Đức trước kia đã làm cho thực lực và vị thế tiềm tàng của CHLB Đức gia tăng Xét về tất cả các mặt dân số, GNP, kim ngạch ngoại thương, dự trữ ngoại tệ v v thì Đức đều vượt cả Pháp lẫn Anh, còn xét về địa chính trị với vị trí ở trung tâm Châu Âu lại có quan hệ truyền thống với các quốc gia trung và đông Âu thì Đức cũng có ưu thế vượt trội Trong tư cách đó CHLB Đức thấy cần phải tìm kiếm cho mình vị trí cường quốc chính trị cho tương xứng với thực lực kinh tế nhưng cả Anh lẫn Pháp đều không mong muốn điều này đến nhanh nếu không muốn nói là đã tìm mọi cách cản trở Những mâu thuẫn này còn có dịp phát triển khi phải giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực trong mối quan hệ xuyên lục địa Âu-Mỹ khi Anh ủng hộ Mỹ còn Pháp thường phản đối và Đức thì thường có lập trường trung dung nghiêng ngả Quan hệ bộ ba này đối với tiến trình thống nhất Châu Âu dường như cũng không tránh khỏi mâu thuẫn Cùng tán thành một

EU mở rộng hơn và mạnh hơn nhưng Đức muốn mở rộng trước hết vào việc thu hút sớm các nước “thân Đức” ở Trung-Đông Âu trong khi Pháp lại muốn đặt ưu tiên trước hết cho việc “phát triển sâu” mở rộng chậm từng bước để kiềm chế Đức còn Anh thì tán thành việc mở rộng không giới hạn nhưng theo xu hướng làm cho EU trở nên lỏng lẻo hơn về các phương diện liên kết11

Bối cảnh ở khu vực phía đông, kể cả một số nước cộng hòa cũ của Liên Xô tuy có hỗn loạn ban đầu do các cuộc xung đột sắc tộc và ly khai nhưng sau đó đã

ổn định trở lại và hòa đồng vào xu thế chung của bối cảnh hòa bình hợp tác phát triển Các nước Đông Âu lần lượt gia nhập EU theo chiều hướng hội nhập như một sự trở lại tất yếu với “Đại gia đình Châu Âu” Các nước khác thuộc Liên Xô trước kia hầu như đều gia nhập cộng đồng SNG mà thoạt tiên nhìn bề ngoài được hiểu như là sự “tái liên kết hậu Xô Viết” làm cho sự đổ vỡ Liên bang Xô Viết mang dáng dấp cuộc “chia tay một cách văn minh” Nhưng thực ra đây là bước hợp tác tất yếu khắc phục sự đổ vỡ của một liên bang mà do những nguyên nhân lịch sử tất cả các bộ phận của nó phụ thuộc lẫn nhau làm cho các thành viên mới tách ra chưa đủ khả năng tồn tại độc lập ngay, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và

11 Nguyễn Quang Thuấn, chủ biên (2008), Quan hệ Nga-ASEAN trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB KHXH, Hà Nội 2008

Trang 26

điều hành Tuy nhiên phải đến cuối tháng 10-1994 các nước SNG mới ký được hiệp định về phương hướng phát triển liên kết nhằm đi tới một không gian kinh

tế, quốc phòng và đối ngoại thống nhất đồng thời nhất trí được việc thành lập uỷ ban kinh tế liên quốc gia với chức năng vượt trên thẩm quyền quốc gia Về an ninh cũng đã đạt được một hiệp ước an ninh tập thể và hiệp định gìn giữ hoà bình giữa các nước SNG theo đó cho phép Nga có mặt tại các nơi xẩy ra xung đột Ngoài ra bằng việc ký các hiệp định song phương Nga cũng đã có gần 30 căn cứ quân sự tại các nước SNG bên ngoài Liên bang Nga Trong quan hệ kinh tế các nước SNG theo đuổi ý tưởng tiến tới một không gian kinh tế chung sau đó đã được hiện thực hóa bước đầu ở dự thảo hiệp ước về liên minh thuế quan và không gian kinh tế thống nhất Những điều khoản của hiệp ước đề cập đến việc hình thành một lãnh thổ thuế quan chung, một thị trường hàng hóa chung và chuẩn hóa các công cụ điều tiết hoạt động kinh tế đối ngoại Trong giai đoạn hai,

dự kiến hình thành một không gian kinh tế chung để phối hợp việc cải tổ cơ cấu kinh tế các nước tham gia hiệp ước, lập một thị trường hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động chung, xây dựng một cơ sở hạ tầng thống nhất, một chính sách nông nghiệp được phối hợp nhằm bảo đảm an ninh lương thực; cũng dự kiến phối hợp trong chính sách xã hội, bãi bỏ những hạn chế đối với việc đi lại và sinh sống, việc làm và học tập của công dân các nước tham gia liên minh

Tuy nhiên, giáng một đòn mạnh vào sự phát triển và hợp tác của châu Âu là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra từ Mỹ năm 2008 sau đó là khủng hoảng nợ ở châu Âu Hàng loạt các nước thuộc EU đã rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính Các nước Ailen, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý đang đứng trên bờ vực của sự đổ vỡ Thậm chí những nước trụ cột như Pháp cũng đang bị các tổ chức tài chính quốc tế xem xét hạ mức tín nhiệm của nước này Sự khủng hoảng ở Hy Lạp đã đe dọa sự tồn tại của liên kết khu vực (liên minh tiền tệ) Xuất phát từ vấn đề kinh tế nhưng nó đã trở thành cả vấn đề chính trị trong khu vực Đây cũng là bài học cho các nước ở các khu vực khác Khả năng kết nạp những thành viên mới có sự chênh lệch về trình độ phát triển vào một khối liên kết cao như EU sẽ phải được nhìn nhận cẩn trọng hơn

Vị trí của Ucraina ở Châu Âu

Trang 27

Ucraina là nước cộng hòa đông dân và quan trọng nhất trong thời Liên bang

Xô viết Trong lịch sử thăng trầm của mình, Ucraina là quốc gia đã nhiều lần độc lập Tuy nhiên, trong giai đoạn lịch sử cận đại, Ucraina là một thực thể chính trị thường bị sự chi phối của Nga Về văn hóa, Ucraina nằm giữa hai nền văn minh lớn, tạo ra cho quốc gia này một nền văn hóa đa bản sắc Tác giả cuốn sách “Sự

va chạm của các nền văn minh”12 - Samuel Hungtington cho rằng Ucraina là một quốc gia bị “giằng xé” bởi hai nền văn minh riêng biệt Đường phân giới giữa Ki-

tô giáo phương Tây và Chính thống giáo phương Đông đã chạy qua chính giữa lãnh thổ, chia quốc gia này thành hai phần đông và tây Trong lịch sử, phần phía tây Ucraina đã từng là một phần của Ba lan, Litva và Đế chế Hung-Áo vì vậy khu vực này chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Ki-tô giáo phương tây Một bộ phận dân cư khu vực này gắn bó với chính thống giáo nhưng lại thừa nhận quyền lực của giáo hoàng La Mã Người Ucraina phía tây đa số nói tiếng Ucraina và có quan điểm dân tộc chủ nghĩa rất mạnh Do có chung nền văn hóa với các nước láng giềng phương tây, đa số người dân khu vực này thường có thái độ ủng hộ chính quyền thân phương tây và bài Nga Trong khi đó người dân sống trong vùng phía Đông Ucraina đa số là đi theo Chính Thống giáo, khu vực này có rất nhiều người Nga và những người nói tiếng Nga sinh sống, sự gắn bó về văn hóa làm cho cư dân khu vực này có thái độ ủng hộ chính quyền thân Nga Sự cách biệt văn hóa giữa hai miền Đông và Tây Ucraina đã làm cho nền chính trị Ucraina luôn luôn căng thẳng

Trong suốt quá trình lịch sử, Ucraina nằm xa và ít tiếp xúc với xã hội Tây

Âu, vì vậy khi ở Tây Âu diễn ra các tiến trình lịch sử làm thay đổi sâu sắc xã hội phương tây như thời kỳ phục hưng, thời kỳ cải cách tôn giáo, thời kỳ khai sáng

và cuộc cách mạng công nghiệp hầu như ít tác động đến xã hội Ucraina Những đặc trưng của nền văn minh phương tây như tính đa nguyên xã hội, đa nguyên chính trị, các thể chế mang tính đại diện, tinh thần thượng tôn pháp luật, chủ nghĩa cá nhân hầu như ít hiển diện ở Ucraina Vì vậy, khi Ucraina chuyển đổi hệ thống từ nhà nước chuyên chính, quyền lực tập trung sang nhà nước dân chủ, đa nguyên trong một thời gian ngắn đã gây nên sự xáo trộn mạnh trong đời sống

12 Samuel Hungtington - Sự va chạm của các nền văn minh – NXB Lao động- Hà Nội-2003

Trang 28

chính trị quốc gia Trên chính trường, các cuộc tranh giành quyền lực giữa hai phe Đông và Tây, chủ yếu nhằm mang lại lợi ích cho một nhóm nhỏ những người cầm đầu các phe, ảnh hưởng tiêu cực lên toàn bộ đời sống xã hội Ucraina13

Về mặt lịch sử - địa lý, trong thế kỷ thứ 9, đa phần Ucraina hiện nay là nơi sinh sống của người Rus, họ lập ra nước Nga-Kiev Nước Nga-Kiev bao gồm hầu như toàn bộ lãnh thổ Ucraina, Belarus và phần lớn lãnh thổ nước Nga hiện nay Trong thế kỷ thứ 10 và 11, nó trở thành nước lớn nhất và mạnh nhất ở Châu Âu Trong những thế kỷ tiếp sau, nó đặt nền móng cho tính đồng nhất quốc gia của người Ucraina và người Nga Đến thế kỷ 13 khu vực này bị quân Mông Cổ xâm lược và tàn phá Những thế kỷ tiếp theo lãnh thổ Ucraina liên tục bị chia cắt bởi các đế quốc láng giềng, đặc biệt là vùng phía tây Ucraina, đã từng thuộc lãnh thổ của Ba lan, Đế quốc Hung-Áo Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, người dân phía tây Ucraina nhập vào đội quân Đế quốc Hung-Áo, trong khi người dân phía đông ra nhập quân đội Đế chế Nga Trong lịch sử cận đại, theo hiệp ước Hòa bình Riga được ký kết giữa chính quyền Xô Viết và Ba Lan phần phía tây Ucraina chính thức sát nhập vào Ba Lan tháng 3 năm 1919, cho đến tháng 9 năm

1939, sau khi Đức xâm lược Ba Lan, một hiệp định giữa Đức và Liên Xô đã phân chia lại lãnh thổ Ba Lan, vì thế, phần phía tây trước đây của Ucraina được tái thống nhất với phần còn lại của Đất nước

Hình thái lãnh thổ Ucraina hiện nay đã được mở rộng hơn bởi chính quyền Liên bang Xô Viết Trong những năm 1923-1933 vùng Donbas và Novorossi của Nga đã được sát nhập vào Ucrainavà đến năm 1954 Bán đảo Crime cũng được chính quyền Xô Viết chuyển giao cho Ucraina Vì vậy, khi Ucraina tuyên bố độc lập, trên lãnh thổ Ucraina có khoảng 20% người Nga và nhiều khu vực đòi độc lập hoặc trở về sát nhập với Nga, đặc biệt là bán đảo Crime

Sau khi Liên Xô sụp đổ, xu hướng ly tâm đẩy các quốc gia từng nằm trong Liên bang Xô Viết rời xa Nga, Ucraina không phải ngoại lệ, xu thế bài Nga, xích lại gần phương tây trở nên thịnh hành, chủ nghĩa dân tộc lên ngôi Quá trình Ucraina hóa bắt đầu tăng lên, có hai lý do chính gây ra hiện tượng này Thứ nhất,

13 Trần Phương Hoa, Chính sách đối ngoại của Ucraina và vị trí châu Á, Viện Nghiên cứu Châu Âu

Trang 29

trong giai đoạn đầu mới thành lập vào năm 1991, mục tiêu hàng đầu của các nhà lãnh đạo mới là xây dựng Ucraina trở thành một quốc gia thống nhất, nếu không, đất nước này phải đối mặt với sự tan rã Để thực hiện mục tiêu đó các nhà lãnh đạo đã lựa chọn chủ nghĩa dân tộc Ucraina làm động lực đoàn kết xã hội Lý do thứ hai, sự can thiệp tích cực của các nước phương Tây vào nền chính trị Ucraina, lôi kéo Ucraina tách rời Nga Trong giai đoạn 1991-2004 số người nói tiếng Nga giảm nhanh chóng Theo điều tra dân số năm 1989 tại Ucraina, có 12,4 triệu người Nga, đến năm 2002 chỉ còn 8,3 triệu

Với lịch sử phức tạp như vậy, nền chính trị Ucraina luôn bị xáo trộn bởi sự khác biệt giữa hai miền Đông và Tây, sự khác biệt đó thể hiện qua thái độ của người dân hai miền trong các cuộc bầu cử tổng thống, người dân miền đông ủng

hộ ứng viên tổng thống có xu hướng thân Nga còn miền tây thì ủng hộ ứng viên tổng thống có xu hướng thân phương tây

Những cuộc chiến chính trị đã trở thành những vật cản lớn trên con đường phát triển xã hội, đồng thời làm giảm đáng kể động lực xã hội, động lực sản xuất Chính trị hóa vấn đề lịch sử, chính sách ngôn ngữ, tư tưởng hóa giáo dục dẫn đến

sự suy thoái bầu không khí xã hội Sự xuống cấp của các tổ chức xã hội - giáo dục và đào tạo, y tế, chăm sóc người già, và các lĩnh vực văn hóa tinh thần, tất cả

đã làm tăng mức độ xung đột trong xã hội, công dân mất phương hướng, dẫn đến khủng hoảng xã hội sâu sắc

Do vị trí địa chính trị chiến lược, Ucraina nằm “chèn” giữa Nga và các nước phương Tây, đặc biệt là giáp ranh với 4 nước thuộc EU, khiến Ucraina trở thành hành lang năng lượng quan trọng bậc nhất nối tuyến đường cung cấp năng lượng

từ Nga sang châu Âu Rõ ràng là, việc Ucraina tăng cường cải thiện quan hệ với Nga không chỉ thỏa mãn mục tiêu chiến lược trong chính sách đối ngoại của Kiev

mà còn có ích lợi cho EU về lâu dài Quan hệ nồng ấm giữa Nga-Ucraina hoàn toàn có thể giúp giải quyết được những vấn đề khúc mắc liên quan đến tuyến cung cấp năng lượng đi qua Ucraina sang EU

Trang 30

Quan hệ của Ucraina trong không gian châu Âu

Ucraina có vị trí địa chính trị - kinh tế rất nhạy cảm, bị kẹp giữa EU và Nga Điều này gây khó khăn cho chiến lược đối ngoại của nước này khi quyết định nghiêng về Nga hay phương Tây Khi phân tích điều này, chúng ta thấy có cái gì

đó giống với Việt Nam nằm cạnh một ”người khổng lồ” Trung Quốc, tuy xa Mỹ nhưng Mỹ đang trở thành đối tác kinh tế quan trọng nhất của Việt Nam và quan

hệ với Mỹ đang có bước phát triển nhanh

Hai thập kỷ qua đã cho thấy những bài học kinh nghiệm trong việc ”sống cạnh nước lớn” đối với Ucraina khó khăn như thế nào Trong các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Ucraina thời gian vừa qua hầu hết đều bình luận về chính sách đối ngoại xoay quanh hai đối tác quan trọng của nước này là EU và Nga Bản thân Ucraina và nền chính trị của Ucraina cũng luôn thể hiện những tính toán trong mối quan hệ với hai cường quốc này Ngoài ra, quan

hệ với Mỹ và NATO cũng là nội dung được đề cập đến, trong khi châu Á dường như ít xuất hiện trong các nghiên cứu nêu trên

Các nghiên cứu của các học giả thời gian vừa qua đều thể hiện khuynh hướng lưỡng cực trong chính sách đối ngoại của Ucraina: cực EU và cực Nga Bản thân các tác giả cũng tự chia thành hai nhóm: nhóm ủng hộ cho chính sách thân EU (đại diện là Bilinsky) và nhóm ủng hộ cho chính sách thân Nga (Lieven) Cuốn sách của Yaroslav Bilinsky đưa ra hai dự báo: NATO sẽ kết thúc việc mở rộng bằng kết nạp Ucraina và ba nước vùng Baltic và sử dụng bốn nước này ngăn chặn ảnh hưởng của nước Nga Cùng với các nước Baltic, Ucraina mong muốn gia nhập vào NATO Trong khi đó, Bilinsky cho rằng phương Tây muốn tăng cường an ninh cho Ucraina nhưng chưa kết nạp nước này vào NATO

vì những mối quan hệ an ninh của Ucraina với Nga (hiệp ước Hạm đội biển Đen giữa Ucraina và Nga) Điều này ngầm cho thấy nếu Ucraina muốn gia nhập NATO thì cần dứt khoát các mối quan hệ quân sự với Nga

Ngược với luận điểm ủng hộ Ucraina gia nhập NATO của Bilinsky, Lieven cho rằng Ucraina không nên gia nhập khối hiệp ước quân sự này Theo nhận định của tác giả này, phương Tây ủng hộ các cải cách kinh tế, nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Ucraina nhưng không khuyến khích nước này vào NATO để biến

Trang 31

thành một vùng đệm chống lại nước Nga14 Lieven đưa ra ba điều kiện để Ucraina có thể gia nhập NATO: khi Nga cũng được mời gia nhập NATO, khi Nga trở thành một siêu cường và khi cải cách của Ucraina bằng với tốc độ của các nước Đông Âu Lieven cho rằng Ucraina và Nga vốn là một khối liên kết hữu

cơ mang tính lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội, Ucraina và Nga mang nhiều nét chung về tâm lý, tôn giáo, ngôn ngữ Trong khi đó, quan hệ giữa Ucraina và châu

Âu đã bị phá vỡ trong một thời gian dài và khó mà hàn gắn ngay Theo Lieven, nếu quan hệ Ucraina- Nga bị ngăn chặn thì không hẳn là có lợi cho Ucraina Thêm vào đó, nếu Ucraina một mực chỉ chú trọng tới hội nhập với châu Âu thì bản thân Ucraina đã mất đi một lợi thế trong việc kế thừa truyền thống hợp tác với Nga để tạo ra sức mạnh cho mình15

Nhận định về khả năng gia nhập EU của Ucraina, tác giả Nancy Popson cho rằng “Đối với châu Âu, Ucraina vẫn còn có nhiều hạn chế về các thiết chế chính trị và kinh tế (đặc biệt là hệ thống pháp lý) và đều có khoảng cách rất xa với tiêu chuẩn châu Âu Đặc biệt châu Âu có phản ứng tiêu cực khi sản phẩm xuất khẩu chính của nước này lại là những thứ mà các nước EU đang dư thừa như nông sản

và thép Các quan chức EU vẫn khuyến khích Ucraina hợp tác và tuân theo các chuẩn mực pháp lý, kinh tế, dân chủ của EU nhưng bất chấp những lời khẩn cầu

từ Kiev, EU từ chối xem xét kế hoạch gia nhập EU của nước này”16

Quan hệ giữa Ucraina và EU được phân tích kỹ hơn trong “EU và Ucraina: hàng xóm, bạn bè hay đối tác?” (The EU and Ucraina: neighbours, friends, partners?)17 Ann Lewis, tác giả của cuốn sách này nhận xét rằng Ucraina đã sớm đặt quan hệ với EU từ thời kỳ Ucraina còn lúng túng trong phát triển nội lực và định hướng chính sách đối ngoại Bản thân tổng thống Kuchma bị vây hãm trong

sự chống đối của nhân dân vì hoạt động yếu kém của chính phủ Trong khi đó, Kuchma cũng bị mất tín nhiệm từ Mỹ và Châu Âu do liên quan đến trách nhiệm chống tội phạm Mặc dù Ucraina tuyên bố ưu tiên định hướng sang châu Âu và

14Anatol Lieven (1999) Ukraina and Russia: a fraternal rivalry Washington DC: US Institute

of Peace Press P.8

15 Lieven đã sử dụng nhiều tài liệu về chính sách đối ngoại từ thời Kravchuk (1991-1994) đến thời Kuchma (1994-2005) như là việc chuyển từ chính sách thân phương Tây sang thân Nga 16

Nancy Popson (2002) Where does Europe end? The Wilson Quarterly, Vol 26, No 3 (Summer 2002),

pp

17 Ann Lewis (2002) The EU and Ukraine: neighbours, friends, partners? London: The Federal Trust

Trang 32

xin gia nhập EU nhưng rõ ràng nước này còn xa mới đáp ứng được các yêu cầu của EU về chính trị và kinh tế đối với các nước ứng cử viên (tiêu chuẩn Copenhagen) Một số vấn đề mà Ucraina gặp rắc rối trong quan hệ với EU vẫn là

tự do truyền thông hay các rào cản đối với xã hội dân sự đã khiến Ucraina càng thêm xa rời các tiêu chuẩn dân chủ của EU, mặc dù Ucraina đã nỗ lực xây dựng khái niệm công dân với những sự khác biệt về tộc người, tôn giáo và ngôn ngữ, thể hiện sự dung hợp những khác biệt về văn hóa quốc gia Giữa Ucraina với EU vẫn còn những khác biệt quá lớn, đặc biệt về hiệu lực của luật pháp cũng như vai trò không rõ ràng và quyền hạn của tổng thống khiến nền dân chủ bị vi phạm Một số lo ngại cho rằng hệ thống đầy biến động của các đảng ở Ucraina do chưa

có một liên minh đảng phái đủ mạnh đã gây ra “scandal” nhiều hơn là củng cố diện mạo chính trị Trong khi đó, các cải cách kinh tế của Ucraina lại được coi là đầy hứa hẹn và gây ấn tượng với phương Tây bằng việc duy trì tăng trưởng trong mọi lĩnh vực và kiềm chế được lạm phát Mối quan tâm được giành cho ngành năng lượng do vai trò quan trọng của nó đối với nền kinh tế và Ucraina còn có vị trí quan trọng trong việc là nơi trung chuyển dầu và khí đốt cho EU

Năm 2004, khủng hoảng chính trị ở Ucraina và cuộc cách mạng Cam đã chấm dứt giai đoạn cầm quyền hơn 10 năm của Tổng thống Kuchma Thay thế ông Kuchma, Tổng thống Yushchenko người vốn luôn thể hiện chính sách thân phương Tây và đề ra các cải cách trong nước nhằm ngăn chặn tham nhũng, thúc đẩy thị trường tự do tuyên bố kiên trì theo đuổi việc gia nhập EU Tuy nhiên châu

Âu lại tỏ ra hờ hững Phân tích các động thái của EU sau khi tổng thống Yushchenko lên nắm quyền, Michael Meyer nhận xét rằng “EU hoàn toàn không chào đón Ucraina EU vẫn lưỡng lự”18 Ngay trong tháng đầu tiên tại vị, tổng thống Yushchenko đã sang Brussel hai lần, trong đó có 1 lần tham gia Hội nghị thượng đỉnh NATO ngày 22-23 tháng 2 năm 2005 Trong phiên họp chung với Ucraina, Tổng thống Mỹ Bush đã ví Tổng thống Ucraina với Tổng thống Washington, người đã đấu tranh vì những giá trị mà cả phương Tây đề cao Ngược lại, Tổng thống Pháp Jacques Chirac rời phiên họp sớm Thủ tướng Đức Schoeder giữ im lặng Thủ tướng Tây Ban Nha thì báo cáo lại là buổi họp “không

18 Meyer, M Ukraine: Stranded between Two World? World Policy Journal, Vol.22, No 1 (2005), p 76

Trang 33

có gì hấp dẫn” Những động thái này được Meyer đánh giá là “không hay đối với Kiev”19 Điều duy nhất mà EU có thể làm cho Ucraina là coi Ucraina như một nước láng giềng và điều này rõ ràng không đáp ứng tham vọng muốn gia nhập WTO và lập “khu vực kinh tế tự do” với EU của Ucraina Theo đánh giá của giới quan sát EU thì Ucraina đã đặt vấn đề gia nhập EU và NATO trong bối cảnh không thuận lợi Trước hết, đây là giai đoạn EU đang phải vật lộn với đợt mở rộng lớn nhất trong lịch sử với việc gia nhập của 12 thành viên từ Đông Âu Thổ Nhĩ Kỳ còn đang xếp hàng chờ đợi Trong khi đó, Ucraina là một nước với dân

số khá đông so với kích cỡ EU (khoảng 46 triệu dân), lại là nước có nền kinh tế nghèo, có thể sẽ lại thêm một gánh nặng cho EU nếu gia nhập Các nhà lãnh đạo

“thân Nga” của EU như Bỉ, Pháp, Đức- lo ngại rằng việc vội vã chiêu nạp Ucraina có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ với Nga, đặc biệt nếu Ucraina gia nhập NATO Thủ tướng Luxembourg, khi đó là chủ tịch luân phiên EU đã nói trong tuyên bố tháng 12/2005 của ông “Tôi hiện chưa chấp nhận nguyện vọng của Ucraina xin trở thành thành viên EU”20

Trong khi đó, mối quan hệ giữa Ucraina với Nga sau năm 2004 vẫn không

ổn định Một mặt, Nga vẫn nắm giữ việc kiểm soát Sevastopol do liên quan đến Hạm đội biển Đen, và tiếp tục đặt các đường ống dẫn dầu qua Ucraina để tới châu Âu Nga và Ucraina vẫn được coi là ràng buộc nhau nhiều về kinh tế, chưa nói đến các mối liên hệ lịch sử văn hóa tộc người gắn bó giữa hai bên Mặt khác, việc Ucraina mong muốn thoát khỏi ảnh hưởng của Nga và giữ định hướng thân phương Tây khiến nhiều người lo ngại cho sự đúng đắn của chiến lược đối ngoại của quốc gia mới giành độc lập này

Trong bài báo gần đây, Tamerlan Vahabov đã xem xét yếu tố Ucraina trong cuộc chơi giữa các cường quốc Mỹ, EU và Nga Tác giả này cho rằng Mỹ đã bỏ qua hai yếu tố quan trọng mà Ucraina rất cần là đảm bảo an ninh quốc phòng và

an ninh năng lượng, điều mà trên thực tế Ucraina lại phụ thuộc nhiều vào Nga Nhiều chuyên gia cho rằng Ucraina không cần thiết phải gấp rút trở thành thành

19 Meyer, dd, tr.77

20 Dẫn theo Meyer, dd, tr.77

Trang 34

viên NATO mà cần xây dựng một quan điểm mới về an ninh quốc gia21 Sau khi Yanukovich lên nắm giữ cương vị tổng thống Ucraina năm 2010, Ucraina đã tuyên bố thái độ trung hòa đối với các thiết chế an ninh trong khu vực như NATO và CSTO Yanukovich dường như đang cố gắng giữ vai trò cân bằng giữa

Mỹ và Nga trong chính sách đối ngoại của mình Trong hội nghị thượng đỉnh về năng lượng hạt nhân ở Washington tháng 4 năm 2010, Ucraina tuyên bố họ sẽ phá bỏ các kho hạt nhân với uran đã làm giàu Sau khi trúng cử tổng thống, chuyến công du nước ngoài đầu tiên mà ông Yanukovich thực hiện là viếng thăm Brussel chứ không phải tới Matxcơva như nhiều người mong đợi Tuy nhiên, sau

đó Ucraina đã ký lại hiệp ước với Nga về kéo dài thời hạn cho thuê cảng Sevastopol tới năm 2042 cho Hạm đội biển Đen Quốc hội Ucraina cũng đã nhanh chóng thông qua hiệp định này22 Theo cựu Bộ trưởng Bộ ngoại giao Boris Tarasyuk, Ucraina vẫn đang đối mặt với vấn đề phân cực chính trị và định hướng đối ngoại của họ phụ thuộc vào ai sẽ là siêu cường thế giới Volodimyr Ohryzko, một cựu Bộ trưởng ngoại giao khác thì cho rằng nếu Ucraina đi theo hướng không liên kết thì sẽ là một gánh nặng tài chính với nước này vì phải có nguồn tài chính đảm bảo an ninh quốc phòng độc lập Do vậy, cho đến hiện nay, ưu tiên chính sách đối ngoại của Ucraina vẫn chưa hẳn đã được định hình rõ rệt và vẫn xoay xung quanh Mỹ, EU, Nga Khoảng cách địa lý không cho phép Mỹ xác lập một vị trí chủ chốt trong đối ngoại với Ucraina, EU hiện đang gặp khủng hoảng với các vấn đề nội khối, Nga lại đang hiện lên với vai trò ngày càng được củng

cố trong khu vực Đặc biệt, quan hệ Mỹ-Nga đang lên kể từ khi Nga và Mỹ đã ký được Hiệp ước giải trừ vũ khí chiến lược, Nga cho phép Mỹ sử dụng lãnh thổ làm bàn đạp cho các cánh quân vào Afganistan, Nga tăng cường sức ép với Iran

về vấn đề hạt nhân khiến cho “thách thức chính của Obama sẽ có khả năng chuyển thành hợp tác bền vững do sự nhượng bộ của Nga”23

Đối với vấn đề an ninh năng lượng, ngày 22-4-2010, Tổng thống Nga và Ucraina đã ký Hiệp ước Kharkov về việc gia hạn cho Nga thuê cảng Sevastopol

21 “International Security Forum Resolution Adopted”, Council for Foreign and Security Policy,

Trang 35

đến năm 2042 và một hiệp ước đổi lại về việc Nga giảm 30% giá khí đốt cho Ucraina Việc Mỹ và châu Âu không đầu tư vào kinh tế Ucraina và sự phụ thuộc của nước này về năng lượng đối với Nga làm cho Ucraina phải xem lại ưu tiên định hướng phương Tây trong chính sách đối ngoại của mình Tuy nhiên theo bình luận của các chuyên gia thì dường như Ucraina vẫn phải chịu thiệt trong Hiệp ước này vì giá ga mà Nga giành cho Ucraina là 230 đola/m3, tương đương với giá gas mà EU được hưởng, mặc dù EU chẳng hề phải nhượng bộ Nga trong vấn đề quan trọng như Sevastopol24

Những ràng buộc quan hệ Ucraina với Nga: do cùng hệ thống sản xuất và

phân công lao động của Liên Xô, công nghiệp của Nga và Ucraina bổ sung cho nhau và phụ thuộc chặt chẽ vào nhau Chẳng hạn, việc nhà máy “Búa và Liềm” ở Kharkov (Ucraina) từ chối liên doanh với doanh nghiệp “YaMZ” của Nga đã khiến cho dầu diezen thôi không còn được sản xuất tại Kharkov – quê hương của ngành chế tạo động cơ chạy bằng diezen của cả nước Hay những nỗ lực tự xây dựng chuỗi sản xuất khép kín xa bọc thép của Ucraina đã không có kết quả Hậu quả nặng nề nhất của chính sách cắt đứt quan hệ sản xuất với Nga là Ucraina đã ra khỏi câu lạc bộ các nước sở hữu công nghệ vĩ mô, như chế tạo máy bay, chế tạo tên lửa, đóng tàu, chế tạo máy nguyên tử v.v Khôi phục quan hệ với Nga trong các lĩnh vực này cho phép tập hợp được các tiềm lực kinh tế cũng như chính trị để đưa các sản phẩm công nghệ cao thâm nhập các thị trường tiềm năng như BRIC và SCO (Tổ chức hợp tác Thượng Hải), và củng cố được uy tín quốc gia xuất khẩu mạnh của Ucraina

Đường lối này mở ra những triển vọng mới cho cả các doanh nghiệp đang hoạt động, như nhà máy “Turboatom” của Kharkov, cũng như cho các doanh nghiệp trong những năm qua đã mất đi thị trường tiêu thụ và đang rơi vào tình trạng khủng hoảng hệ thống25 Công nghiệp hàng không Nga và Ucraina là hai

24 Vahabov, dd, p.301

25 Tại Kharkov trước hết đó là nhà máy hàng không, ngày nào từng là lá cờ đầu của nền công nghiệp đất nước, vậy mà từ năm 2006 đến 2008 không cho ra đời được một chiếc máy bay nào Năm 2009 chỉ sản xuất một chiếc AN-140 cho Ai Cập, công thêm cải tạo khoang VIP cho hai chiếc AN-74 cho Libi và Lào Thiệt hại từ hoạt động sản xuất trong năm đó là 200 triệu grivna,

và để ngăn chặn các hoạt động phản đối đồng loạt trước ngày bầu cử, chính phủ tiền nhiệm đã phải dùng tiền của Quỹ bình ổn trong ngân sách để thanh toán nợ lương

Trang 36

mảng không thể tách rời Một nỗ lực phát triển đơn lẻ nào, cho dù từ phía Nga hay Ucraina, đều dẫn đến thiệt hại Trong khi đó tập trung sức lực chung để sản xuất hàng loạt và bán máy bay sẽ cho phép nâng cao và tăng thị phần hàng năm trên thị trường thế giới

Ucraina hiện đang rất cần đầu tư của Mỹ và EU vào việc hiện đại hóa hệ thống khai thác và cung cấp năng lượng để không còn phải phụ thuộc vào Nga Trong khi đó, hệ thống năng lượng, phân phối khí đốt và xuất khẩu khí đốt của Ucraina hiện do công ty nhà nước quản lý là chủ yếu (Naftohaz Ukraininy) Công

ty này cũng quản lý hệ thống đường ống dẫn của Nga qua Ucraina Quan điểm của EU là tái cơ cấu và tổ chức lại Naftohaz sẽ giúp quản lý và giám sát dễ dàng hơn, hiệu quả và minh bạch hơn Và như vậy cũng là dễ giám sát Hiệp ước Kharkov ký giữa Ucraina và Nga, đây cũng là điều kiện để EU có thể đầu tư vào công ty này Theo tuyên bố Brussel, Ucraina đã đưa ra một vài cam kết về chính sách minh bạch và công khai đối với các nhà đầu tư vào hệ thống dẫn khí đốt Ucraina cũng phải chịu trách nhiệm thông báo các thông tin về kỹ thuật và tài chính đối với các nhà đầu tư

Với những hứa hẹn từ phía EU, các chuyên gia vẫn cho rằng Ucraina cần thực thi một chính sách thông minh trong quan hệ với Nga Bản thân EU và Nga hiện cũng có nhiều ràng buộc với nhau về kinh tế, do đó “Ucraina cần hội nhập với EU nhưng vẫn phải duy trì quan hệ ổn định với Nga Điều này làm tăng thêm hình ảnh của Ucraina là một đối tác năng lượng và thương mại đáng tin cậy”26

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng hiện nay Ucraina vẫn đang lúng túng trong việc xác định ưu tiên trong chính sách đối ngoại và vẫn đang tìm kiếm cho mình một “điểm tựa” vững chắc về an ninh quốc phòng và an ninh năng lượng Trong bối cảnh như vậy, châu Á hiện vẫn chưa phải là một hướng ưu tiên trong chính sách của Ucraina Tuy nhiên, trước đề xuất gần đây cho rằng Ucraina nên phát triển chính sách trung lập thay bằng dựa dẫm vào các cường quốc, trong thời gian tới, Ucraina sẽ đa dạng hóa các mối quan hệ nhằm củng cố hơn nữa hình ảnh của mình trên thế giới

26 Vahabov, dd, tr.303

Trang 37

Tổng thống Ucraina Viktor Yanukovich tuyên bố rằng, việc hội nhập với Châu Âu của Ucraina là bài toán quan trọng nhất Theo tổng thống, "Tam giác Nga-EU-Mỹ chúng ta sẽ luôn luôn phải giữ trong tầm nhìn Trong số những bài toán: Hội nhập với Châu Âu sẽ chiếm mối quan tâm cao nhất của chúng ta, sau

đó là việc phục hồi quan hệ với Nga và xây dựng mối quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ27" Yanukovich cho hay, vấn đề không kém phần quan trọng là an ninh năng lượng Theo ông, Ucraina sẽ phải quan tâm rất lớn đến vấn đề này Trước

đó, Tổng thống Ucraina Viktor Yanukovich cũng cho biết, chậm nhất là 1 năm, Ucraina sẽ có chế độ miễn thị thực với EU và gia nhập vào khu vực tự do thương mại với EU

3 Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và sự nổi lên mạnh mẽ của Trung Quốc

Khu vực châu Á-Thái Bình Dương được hiểu bao gồm các quốc gia - vùng lãnh thổ nằm trong vùng lòng chảo Thái Bình Dương, là khu vực mang những đặc thù khác hẳn Châu Âu Đây là khu vực đa dạng về văn hóa và chính trị, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và phát triển năng động nhất thế giới, có sự hội tụ gần đủ các nước lớn của thế giới quan hệ với nhau trong lợi ích đan xen vừa hợp tác vừa cạnh tranh kiềm chế nhau28 Do có sự đa dạng cao nên khu vực này cũng

là khu vực có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh tế-xã hội giữa các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada, các nền kinh tế công nghiệp hóa mới (NIEs), các nền kinh tế chuyển đổi có nhịp độ tăng trưởng cao và các quốc gia thành viên ASEAN…29

29 Một nghiên cứu của Trung Quốc phân tích Châu Á-Thái Bình Dương sau chiến tranh lạnh đã hình thành cục diện “một thị trường, hai chế độ, ba loại quốc gia, nhiều tầng kỹ thuật cùng tồn tại và cạnh tranh.” Một thị trường thống nhất hình thành vượt lên trên các khác biệt về chế độ xã hội, ý thức hệ và quan niệm giá trị Hai chế độ tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa cùng song hành Ba loại quốc gia gồm các nước phát triển, các nước công nghiệp hóa mới và các nước đang phát triển hợp tác với nhau Nhiều tầng kỹ thuật gồm tầng thứ nhât thuộc về các nước phát triển Mỹ, Nhật, các nước công nghiệp hóa mới thuộc tầng hai còn Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Philippin Malaisia nằm ở tầng ba và các nước Đông Nam Á khác ở tầng bốn Xem TTXVN, tin tham khảo chủ nhật 6.1.2002

Trang 38

Hòa bình hợp tác phát triển là xu thế chung nhưng ở khu vực này nó được thúc đẩy với sự tăng tốc của tiến trình khu vực hóa đa dạng về thể chế, phong phú về nội dung và hợp tác với nhiều kích cỡ Những đe dọa an ninh chung cũng hiện diện ở khu vực nhưng mang những sắc thái khác do các vấn đề nẩy sinh từ đặc thù của các quốc gia và các quan hệ quốc tế trong khu vực

Sau chiến tranh Lạnh, trong khi ở một số nơi trên thế giới xung đột nổi lên thì khu vực Châu Á-Thái Bình Dương lại xuất hiện cục diện khá ổn định do kinh

tế tăng trưởng nhanh làm cho các nước phụ thuộc vào nhau ở mức gắn kết hơn trong sự chia sẻ nhiều lợi ích chung An ninh khu vực được giữ vững không phải chỉ do nguyện vọng và nhận thức của các quốc gia mà còn do thiết lập được các

cơ chế đối thoại hợp tác nhiều kênh, đa chiều với phạm vi rộng, hẹp đa dạng do

đó làm hạ nhiệt được các điểm nóng và không để bùng phát các đe dọa Sau sự kiện 11/9, trước sự gia tăng của đe dọa an ninh phi truyền thống, Mỹ đã tăng cường thực hiện ý tưởng xây dựng thế giới đơn cực lấy NATO và quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật làm nền tảng Tuy nhiên ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do đặc thù của các quan hệ hợp tác cạnh tranh trên các lĩnh vực chính trị kinh tế văn hóa Mỹ không thể thực hiện cứng nhắc ý tưởng đơn cực mà đã phải có sự điều chỉnh theo hướng chú trọng đến cả chủ nghĩa đa phương Chính sách Châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ vì vậy mang đặc điểm cùng coi trọng chủ trương đơn phương và đa phương trong ngăn ngừa các đe dọa đến an ninh khu vực làm tổn hại đến lợi ích chiến lược của Mỹ

Như vậy sự phát triển đa cực hóa ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã thúc đẩy và làm đậm hơn xu hướng hòa bình hợp tác phát triển của thế giới Xu thế đa cực hóa ở khu vực này đã tạo ra bối cảnh chính trị tương đối ổn định với

sự cân bằng tương đối giữa các lực lượng Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga, ASEAN

và Australia cùng các nước khác đang tham gia vào các công việc của khu vực Nhật Bản muốn thay đổi hình ảnh “nước lớn kinh tế, nước nhỏ chính trị” đã theo đuổi chính sách tự chủ và chủ động trong xây dựng môi trường an ninh quốc tế từ

đó mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên các mặt Liên bang Nga sau khi thực hiện chính sách cân bằng đông-tây đã đề cao yêu cầu việc hợp tác chính trị-an ninh Châu Á-Thái Bình Dương dưới bất kỳ hình thức nào cũng không được phá hoại

Trang 39

kết cấu khu vực lấy hợp tác song phương và đa phương làm nền tảng Trung Quốc tuy phản đối Mỹ mượn cớ chống khủng bố để thực hiện chủ nghĩa đơn phương bá quyền trong khu vực và cổ vũ cho thuyết coi sự vươn lên của Trung Quốc là “mối đe dọa” nhưng giữa hai bên có nhiều lợi ích chung trên tất cả các mặt nên quan hệ hợp tác vẫn nổi trội Đồng thời Trung Quốc cũng không lơ là chiến lược tìm kiếm vai trò bá quyền trong khu vực30 Là một lực lượng có vai trò đang tăng lên, ASEAN một mặt có những lo ngại nhất định với chiến lược khu vực của Mỹ nhưng mặt khác cũng tìm kiếm những lợi ích nhiều mặt trong hợp tác với Mỹ và coi trọng sự cân bằng lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực nên ủng hộ Mỹ thực hiện chiến lược Châu Á-Thái Bình Dương

Sự phát triển sôi động kinh tế và hợp tác kinh tế khu vực Châu Á-Thái Bình Dương làm bức tranh kinh tế thế giới sáng lên nhưng khủng hoảng tài chính 1997-1998 cũng cho thấy kinh tế khu vực này không nằm ngoài xu thế chung của kinh tế toàn cầu Đó là sự cảnh báo về mâu thuẫn giữa tự do hóa kinh tế và việc xây dựng các thể chế điều tiết tiến trình này cả ở cấp quốc tế lẫn cấp khu vực và từng quốc gia riêng biệt

Mặc dù vậy hợp tác kinh tế sôi động vẫn là điểm nổi trội của bối cảnh kinh

tế khu vực Trước hết là sự phát triển tạo bước ngoặt về liên kết kinh tế khu vực Các nền kinh tế thuộc các chế độ chính trị khác nhau, có trình độ phát triển khác nhau đều có thể tham gia vào tiến trình hình thành khu vực mậu dịch tự do, chẳng hạn như AFTA, NAFTA trong khi liên kết kinh tế không chỉ dừng lại ở các định chế mang tính thể chế và nội khu vực mà bao hàm cả các tổ chức mang tính phi thể chế và liên kết liên khu vực như APEC, ASEM Bên cạnh sự gia tăng các thỏa thuận song phương tự do hóa thương mại là xu hướng gia tăng hợp tác trong khuôn khổ APEC và hình thành khu vực mậu dịch tự do Đông Á Còn APEC là tổ chức có tác động thúc đẩy mạnh hợp tác kinh tế trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đặc biệt sau Tuyên bố Bogor về chương trình tự do hóa thương mại và đầu tư khu vực Nhìn chung hợp tác giữa 23 nền kinh tế thành viên hiện nay của tổ chức này được hướng tập trung vào 3 lĩnh vực tự do hóa thương mại, thuận lợi hóa đầu tư và hợp tác kinh tế-kỹ thuật Một đặc điểm của

30 Xem trong http://www.apec.org

Trang 40

hợp tác kinh tế khu vực là hợp tác kinh tế của ASEAN không chỉ được tăng cường trong nội khối qua việc đẩy nhanh lộ trình AFTA mà còn phát triển vượt

ra toàn khu vực thông qua các thiết chế ”ASEAN +”

Gần đây một số nước trong khu vực đang thúc đẩy một loại liên kết mới là Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình dương (TPP), trong đó Việt Nam được mời tham gia đàm phán ngay từ đầu TPP được 4 nước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore khởi xướng năm 2005 (các nước sáng lập P-4) Năm 2008, Mỹ đã tuyên bố tham gia đàm phán Hiệp định TPP một cách đầy đủ

và mời Australia, Việt Nam, Peru cùng tham gia Hiện nay đã có 9 nước tham gia đàm phán TPP, trong đó có 4 nước thành viên ASEAN

Như vậy, ASEAN được coi là trung tâm trong các liên kết của khu vực, có

lẽ không phải do ASEAN quá quan trọng hay có sự chi phối mạnh mẽ mà phần nhiều là do vị trí của ASEAN ở thời điểm này phù hợp là một trung tâm kết nối với các nước Sức hút của châu Á – Thái Bình dương đã khiến Nga đã phải thay đổi chiến lược từ hướng sang phương tây sang cân bằng đông-tây Liệu rằng Ucraina, một nước gần gũi với Nga có hướng sang châu Á và coi trọng ASEAN hơn như nước Nga đã làm không?

Trong vòng một, hai thập niên tới đây, khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông Á và Đông Nam Á, nhiều khả năng tiếp tục phát triển năng động, song tình hình diễn ra rất phức tạp, khó lường Các tiến trình hợp tác đã biến chuyển trên nhiều tuyến theo hướng vừa hội nhập, vừa tranh giành ảnh hư-ởng tại khu vực này theo các tiếp cận lợi ích đơn biệt của từng quốc gia Trung Quốc sau khi gia nhập WTO đã đi trước một bước so với Nhật Bản và Hàn Quốc khi ký kết hiệp định khung về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc khiến cho động thái hội nhập của ASEAN đang có những sắc diện mới Từ tháng

6 năm 2006, Trung Quỗc đã đưa ra chiến lược khai phá vịnh Bắc Bộ mở rộng,

mở cửa cho nền kinh tế Trung Quốc phát triển đồng thời trên cả 3 tuyến: biển,

bộ, tiểu vùng Mekong thông qua chiến lược “một trục, 2 cánh” nhằm xây dựng cực tăng trưởng mới Trung Quốc-ASEAN Theo đó, ASEAN đang tìm cách để tận dụng cơ hội cũng như vượt ra khỏi sức ép này nhằm khắc phục tình trạng giảm niềm tin, ít hấp dẫn về đầu tư, thương mại và nâng cao khả năng cạnh tranh

Ngày đăng: 09/12/2015, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
92. “Chương trình cải cách kinh tế Ucraina giai đoạn 2010-2014” – Hội đồng cải cách kinh tế Ucraina trực thuộc tổng thống - Phiên bản dành cho thảo luận - kiev, ngày 21 tháng 5 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình cải cách kinh tế Ucraina giai đoạn 2010-2014
90. Viện nghiên cứu chiến lược quốc gia Ucraina – văn bản nghiên cứu“ Ucraina thế kỷ XXI: chiến lược cải cách và cố kết xã hội” kiev- 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ucraina thế kỷ XXI: chiến lược cải cách và cố kết xã hội
91. Hội đồng các nhà nghiên cứu quốc tế - “khuyến nghị giành cho Ucraina: Năm 2010 – thời của cải cách”, Kiev-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: khuyến nghị giành cho Ucraina: Năm 2010 – thời của cải cách
30. Quan hệ Việt Nam – Ucraina dưới thời Tổng thống Yanukovych, http://www.baomoi.com/Info/Quan-he-Viet-Nam--Ucraina-duoi-thoi-tong-thong-Yanukovych/122/4103231.epi Link
31. Quan hệ Việt Nam-Ucraina phát triển trong điều kiện mới http://www.vietnamembassy-Ucraina.org/vi/nr070521165956/news_object_view?newsPath=/vnemb.vn/tin_hddn/ns080725145324 Link
34. Thúc đẩy hợp tác đầu tư, thương mại Việt Nam - Ucraina http://www.vietnamembassy-Ucraina.org/vi/nr070521165956/news_object_view?newsPath=/vnemb.vn/tin_hddn/ns080924090653 Link
35. Thúy Toàn. Bài thơ viết đúng vào những ngày tháng năm lịch sử // http://hoilhpn.org.vn/ Link
37. Văn học Việt Nam đến với bạn bè thế giới. // http://vietbao.vn/ Tiếng Anh Link
41. Energy powers cooperation between Vietnam, Ucraina [Электронный ресурс] / Embassy of the Socialist Republic of Vietnam in thе Republic of Ucraina. - Режим доступа: http://www.vietnamembassy- Ucraina.org/en/nr070521165956/news_object_view?newsPath=/vnemb.vn/tin_hddn/ns080508100753 Link
52. Vietnam, Ucraina issue joint statement / Embassy of the Socialist Republic of Vietnam in thе Republic of Ucraina:http://www.vietnamembassy-Ucraina.org/en/nr070521165956/news_object_view?newsPath=/vnemb.vn/tin_hddn/ns110328110048 Link
55. Vietnam/Bilaterals.org: http://www.bilaterals.org/spip.php?rubrique171&lang=en; Vietnam, EFTA to study feasibility of free trade deal/Bilaterals.org:http://www.bilaterals.org/spip.php?article17392&lang=en; EU and Vietnam To Launch Free Link
59. Yanukovich: Hội nhập với châu Âu là bài toán chính của Ucraina, http://www1.vietinfo.euTiếng Nga, Ucraina Link
60. Вьетнам: широчайшее разнообразие туризма / Зеркало мира http://www.mw.com.ua/?oid=3810&sid=3571 Link
63. Закон України Про засади внутрішньої і зовнішньої політики. Ст. 11. [Электронный ресурс] / Президент України Віктор Янукович. Офіційнеінтеренет-представництво. - Режим доступа:http://www.president.gov.ua/documents/12069.html Link
65. Стан економічних відносин. Указ соч.; Співробітництво не має кордонів [Электронный ресурс] / Укрінтеренерго. - Режим доступа:http://www.uie.kiev.ua/ua/main/about Link
67. Кравченко В. Турне деклараций [Электронный ресурс] / Зеркало недели. Украина. - №12, 01 апреля 2011. - Режим доступа:http://zn.ua/articles/78763 Link
72. Модернізація України – наш стратегічний вибір. Щорічне послання Президента України до Верховної Ради України. - С.131. [Электронный ресурс] / Президент України Віктор Янукович. Офіційне інтеренет-представництво. - Режим доступа:http://www.president.gov.ua/news/19738.html Link
73. Гуманітарна співпраця [Электронный ресурс] / Посольство України в Соціалістичній Республіці В’єтнам. - Режим доступа:http://ns.Ucraina.be/vietnam/ua/33592.htm Link
74. Там же; Новини [Электронный ресурс] / Посольство України в Соціалістичній Республіці В’єтнам. - Режим доступа:http://www.mfa.gov.ua/vietnam/ua/news/detail/58704.htm 75. УКРАИНА ХХІ ВЕКА, СТРАТЕГИЯ РЕФОРМ И ОБЩЕСТВЕННОЙ КОНСОЛИДАЦИИ, Kyiv, Ucraina, 2010 Link
76. Стан економічних відносин. Указ соч.; Співробітництво не має кордонів [Электронный ресурс] / Укрінтеренерго. - Режим доступа:http://www.uie.kiev.ua/ua/main/about Link
80. Модернізація України – наш стратегічний вибір. Щорічне послання Президента України до Верховної Ради України. - С.131. [Электронный ресурс] / Президент України Віктор Янукович. Офіційне інтеренет- представництво. - Режим доступа:http://www.president.gov.ua/news/19738.html Link
82. Шергін С. Три різних країни однієї Азії [Электронный ресурс] / З.С. Зовнішні справи. - Режим доступа:http://uaforeignaffairs.com/article.html?id=645 Link
83. Вьетнам: широчайшее разнообразие туризма / Зеркало мира http://www.mw.com.ua/?oid=3810&sid=3571 Link
84. Там же; Новини [Электронный ресурс] / Посольство України в Соціалістичній Республіці В’єтнам. - Режим доступа:http://www.mfa.gov.ua/vietnam/ua/news/detail/58704.htm Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT - Quan hệ việt nam ucraina trong bối cảnh quốc tế mới
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT (Trang 6)
Bảng 1.1: Khối lượng một số sản phẩm  được sản xuất trong các xí nghiệp  Ucraina giai đoạn năm 1990 – 1995, (Đơn vị: Triệu tấn) - Quan hệ việt nam ucraina trong bối cảnh quốc tế mới
Bảng 1.1 Khối lượng một số sản phẩm được sản xuất trong các xí nghiệp Ucraina giai đoạn năm 1990 – 1995, (Đơn vị: Triệu tấn) (Trang 46)
Bảng 1.2: Các chỉ số phát triển kinh tế chính của Ucraina năm 2000 – 2007 - Quan hệ việt nam ucraina trong bối cảnh quốc tế mới
Bảng 1.2 Các chỉ số phát triển kinh tế chính của Ucraina năm 2000 – 2007 (Trang 47)
Bảng 1.3 Các chỉ số phát triển kinh tế chính của Ucraina 2007 - 2009 - Quan hệ việt nam ucraina trong bối cảnh quốc tế mới
Bảng 1.3 Các chỉ số phát triển kinh tế chính của Ucraina 2007 - 2009 (Trang 48)
Hình 2.1: Kim ngạch XNK Việt Nam và Ucraina từ 2001 đến 2010  (tr.USD) - Quan hệ việt nam ucraina trong bối cảnh quốc tế mới
Hình 2.1 Kim ngạch XNK Việt Nam và Ucraina từ 2001 đến 2010 (tr.USD) (Trang 80)
Bảng 2.1: Một số mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Ucraina năm 2010 - Quan hệ việt nam ucraina trong bối cảnh quốc tế mới
Bảng 2.1 Một số mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Ucraina năm 2010 (Trang 83)
Bảng 2.3: Vị trí của Ucraina trong thương mại của Việt Nam (triệu USD) - Quan hệ việt nam ucraina trong bối cảnh quốc tế mới
Bảng 2.3 Vị trí của Ucraina trong thương mại của Việt Nam (triệu USD) (Trang 84)
Bảng 2.2: Vị trí của Việt Nam trong thương mại của Ucraina , (triệu USD) - Quan hệ việt nam ucraina trong bối cảnh quốc tế mới
Bảng 2.2 Vị trí của Việt Nam trong thương mại của Ucraina , (triệu USD) (Trang 84)
Hình 3.1: Cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của Việt Nam và Ucraina năm 2009 - Quan hệ việt nam ucraina trong bối cảnh quốc tế mới
Hình 3.1 Cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của Việt Nam và Ucraina năm 2009 (Trang 155)
Hình 3.2: GDP/ng theo giá thực tế và sức mua tương của Việt Nam và Ucraina 97 - Quan hệ việt nam ucraina trong bối cảnh quốc tế mới
Hình 3.2 GDP/ng theo giá thực tế và sức mua tương của Việt Nam và Ucraina 97 (Trang 156)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm