Nếu có gặp khó khăn gì, bạn liên hệ số đt 082 7757 321, mình sẽ gửi file trực tiếp. 64 trang 1. Những cơ sở tạo nên việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam Lào, Lào – Việt Nam (591962). Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao của hai nước. Đường biên giới giữa Việt Nam và Lào dài khoảng 2.340 km, trải dài suốt 10 tỉnh của Việt Nam là: Điện Biên, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Kon Tum; tiếp giáp với 10 tỉnh phía Lào là: Phỏngsảlỳ, Luổngphabang, Hủaphăn, Xiêngkhoảng, Bôlykhămxay, Khămmuồn, Savắnnạkhệt, Sảlạvăn, Sêkông và Ắttạpư. Việt Nam và Lào là 2 quốc gia láng giềng của nhau. Trong nhiều giai đoạn lịch sử Lào chịu sự chi phối giữa Xiêm và Đại Việt. Thời kỳ nhà Nguyễn coi các quốc gia Vương quốc Luang Phrabang, vương quốc Viêng Chăn, vương quốc Phuan, vương quốc Champasak, vương quốc Khmer là phiên bang của Việt Nam. Cho đến khi triều Nguyễn suy yếu, các vương quốc này lại chịu sự chi phối của Xiêm và sau đó là thực dân Pháp. Trong giai đoạn đấu tranh chống thực dân Pháp trong cuối thế kỷ 19, nhiều cuộc nổi dậy của người Việt Nam cũng lan sang và phát triển tại Lào, nhưng sau đó đều bị dập tắt. Năm 1930 Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời và nhiều đảng viên bí mật tại Lào và Campuchia xuất hiện trong Đảng, người Việt Nam chiếm tuyệt đối trong Đảng chỉ có phần nhỏ là Lào và Campuchia. Hà Nội được coi là trung tâm đầu não của toàn bộ Đông Dương, đặt các trụ sở hành chính, giáo dục, văn hóa... vì vậy rất nhiều trí thức và người trong hoàng gia các vương quốc sang Hà Nội học tập. Khi Nhật tiến vào Đông Dương, và sau đó đảo chính Pháp và lập ra các quốc gia tự chủ theo danh nghĩa tại Lào và Việt Nam, nội các hai nước cũng có quan hệ nhỏ mang tính chất hai quốc gia thuộc khối Đại Đông Á. Nhật Bản đầu hàng quân Đồng minh, khoảng trống quyền lực được tạo ra, tại Việt Minh làm cuộc cách mạng tháng Tám tái chiếm cả nước, thì tại Lào Issara và các lực lượng du kích cũng tái chiếm khoảng trống quyền lực ấy. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã mời Hoàng thân Souphanouvong đang ở Vinh ra Hà Nội, đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng mối quan hệ Việt Lào. Đến khi Pháp quay lại Đông Dương năm 1946, Lào được thống nhất thành quốc gia chung Vương quốc Lào do Pháp bảo hộ theo cách Lào là quốc gia thuộc khối Liên hiệp Pháp. Lào Issara bị Pháp tấn công tan rã, số nhỏ rút sang Thái và Việt Nam. Chiến tranh Đông Dương nổ ra, tháng 81950 hoàng thân Souphanouvong đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đổi tên nhóm lực lượng Lào Issara do ông lãnh đạo sang tổ chức vũ trang Pathet Lào, thành lập chính phủ kháng chiến Lào. Tháng 2 năm 1951 Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II được tổ chức, Kaysone Phomvihane tham dự với tư cách trưởng đoàn đại biểu Lào. Tình hình tại Đông Dương liên tục thất bại, thực dân Pháp quyết định trao trả độc lập cho Lào để tập trung bình định Việt Nam. Tại Lào trong năm 1953 lực lượng Pathet Lào cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam liên tiếp đánh chiếm nhiều vùng do Pháp và chính quyền Vương quốc Lào nằm giữ. Đến cuối năm 1953 Pathet Lào kiểm soát được Thượng Lào, một số tỉnh tại Trung và Hạ Lào. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, lực lượng cộng sản Lào tập kết tại hai tỉnh Phongsaly và Sầm Nưa cho tới khi có bầu cử thống nhất Lào vào năm 1955. Năm 1955 Đảng Nhân dân Cách mạng Lào được thành lập với tiền thân là Đảng Cộng sản Đông Dương, người gốc Việt chiếm đa số trong Đảng. Chính phủ Liên hiệp các đảng phái được thành lập, và bầu cử 1958 diễn ra với sự thắng thế của Mặt Trận Lào Yêu Nước do hoàng thân Souphanouvong lãnh đạo. Hoa Kỳ không chấp nhận tình trạng này, cắt viện trợ để gây áp lực với chính phủ Souvanna Phouma. Souvanna Phouma sau đó bị truất phế năm 1958, thay vào đó là Phoui Sananikone. Chính phủ Phoui Sananikone loại bỏ phe hoàng thân Souphanouvong ra khỏi chính phủ liên hiệp và bắt giam ông năm 1959. Ngày 24 tháng 5 năm 1960 một nhóm nhỏ lực lượng Việt Nam đã tấn công giải thoát hoàng thân Souphanouvong. Trong giai đoạn 19591960 tại Lào liên tiếp xảy ra các cuộc đảo chính quân sự, Hoa Kỳ và Liên Xô ủng hộ 2 chính quyền khác nhau tại Lào. Do lo ngại sự can thiệp của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào Lào, Liên Xô và Hoa Kỳ thống nhất ủng hộ giải pháp liên hiệp. Chính phủ liên hiệp lần hai ra đời nhưng chỉ ổn định tới năm 1968. Từ năm 1968 phe Cộng sản và phái hữu tại Lào lại tiếp tục giao tranh. Souphanouvong được Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp ủng hộ, đào tạo cán bộ cho cách mạng Lào, người Việt Nam trở thành chuyên gia, bộ đội tình nguyện... cho Lào. Sau Chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng cộng sản tại Lào cũng phát triển mạnh mẽ và cuối cùng cũng đã giải phóng được Viêng Chăn tháng 12 tháng 1975, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Năm 1976, Việt Nam và Lào đã ký hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, khoa học và kỹ thuật, tiếp sau đó là ký hiệp ước 25 năm hữu nghị và hợp tác vào năm 1977,2 và Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia.,1 và hiệp ước này cũng gây nên sự căng thẳng trong quan hệ giữa Lào và Trung Quốc.3 Năm 1979 nổ ra Chiến tranh biên giới ViệtTrung, 1979, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến chống lại Trung Quốc xâm lược cắt đứt quan hệ với Trung Quốc. Do lo ngại tình hình bất ổn tại biên giới LàoThái quân tình nguyện Việt Nam lại tiếp tục hỗ trợ xây dựng Quân đội Nhân dân Lào phát triển như ngày nay có khả năng đủ chống lại các cuộc ngoại xâm cũng như các phe phái thù địch. Kể từ năm 1980 Lào Việt Nam chính thức thành lập Ủy ban hợp tác LàoViệt Nam sẽ thường xuyên gặp nhau để phát triển các kế hoạch. Các cấp độ hợp tác với nhau khác của Lào Việt Nam là các cuộc họp Đảng với Đảng, giao lưu tỉnh với tỉnh, cũng như các đoàn thể thành niên và phụ nữ khác. Ngày 24 tháng 1 năm 1986, hai nước ký kết một nghị định thư về phân định biên giới và cắm mốc. Hai quốc gia dự kiến hoàn thành cắm mốc biên giới vào năm 2012. Sau khi Liên Xô tan rã, Lào và Việt Nam tích cực hợp tác với các quốc gia khác, nhưng quan hệ LàoViệt Nam vẫn là mối quan hệ đặc biệt. Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam Lào, Lào – Việt Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm vóc lịch sử to lớn trong quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam Lào, Lào – Việt Nam. Góp phần tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa hai dân tộc anh em tiến lên một tầm cao mới. Nhờ đó, đã giải quyết được những khó khăn, thử thách mới với nhiều diễn biến phức tạp do sự can thiệp ngày càng sâu của Mỹ vào các nước Đông Dương. Khẳng định đường lối nhất quán, đúng đắn trong mối quan hệ chiến lược của hai Đảng và nhân dân hai nước; đảm bảo sự thống nhất về đường lối chính trị, quân sự, để hai dân tộc tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra. Là cơ sở vững chắc để quân dân hai nước tiếp tục sát cánh bên nhau chiến đấu và giành nhiều thắng lợi mới trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai, giành độc lập tự do cho mỗi nước. 2. Phát triển liên minh chiến đấu, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn (19631975). Sau Hiệp định Giơnevơ 1962 về Lào, ngày 5 tháng 9 năm 1962, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Vương quốc Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Đầu năm 1963 vua Lào Xỉxávàng Vắthana dẫn đầu đoàn đại biểu Hoàng gia Lào thăm Việt Nam. Trong buổi chiêu đãi vua Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một giải đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn. Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em… Ngày nay chúng ta lại đang giúp đỡ nhau để xây dựng một cuộc sống mới. Tình nghĩa láng giềng anh em Việt Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được”11. “Thật là: Thương nhau mấy núi cũng trèo. Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua Việt – Lào, hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”12. Mặc dù Hiệp định Giơnevơ 1962 về Lào được ký kết, đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ âm mưu xâm lược Lào, tăng cường viện trợ, giúp chính quyền Viêng Chăn tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, đồng thời ra sức phá hoại Chính phủ liên hiệp, cô lập và vu cáo Neo Lào Hắc Xạt.
Trang 11 Những cơ sở tạo nên việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam Lào, Lào – Việt Nam (5-9-1962) Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao của hai nước.
-Đường biên giới giữa Việt Nam và Lào dài khoảng 2.340 km, trải dài suốt
10 tỉnh của Việt Nam là: Điện Biên, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và Kon Tum; tiếp giápvới 10 tỉnh phía Lào là: Phỏng-sả-lỳ, Luổng-pha-bang, Hủa-phăn, Xiêng-khoảng, Bô-ly-khăm-xay, Khăm-muồn, Sa-vắn-nạ-khệt, Sả-lạ-văn, Sê-kông vàẮt-tạ-pư
Việt Nam và Lào là 2 quốc gia láng giềng của nhau Trong nhiều giai đoạnlịch sử Lào chịu sự chi phối giữa Xiêm và Đại Việt Thời kỳ nhà Nguyễn coi cácquốc gia Vương quốc Luang Phrabang, vương quốc Viêng Chăn, vương quốcPhuan, vương quốc Champasak, vương quốc Khmer là phiên bang của ViệtNam
Cho đến khi triều Nguyễn suy yếu, các vương quốc này lại chịu sự chi phốicủa Xiêm và sau đó là thực dân Pháp Trong giai đoạn đấu tranh chống thực dânPháp trong cuối thế kỷ 19, nhiều cuộc nổi dậy của người Việt Nam cũng lansang và phát triển tại Lào, nhưng sau đó đều bị dập tắt Năm 1930 Đảng Cộngsản Đông Dương ra đời và nhiều đảng viên bí mật tại Lào và Campuchia xuấthiện trong Đảng, người Việt Nam chiếm tuyệt đối trong Đảng chỉ có phần nhỏ làLào và Campuchia
Hà Nội được coi là trung tâm đầu não của toàn bộ Đông Dương, đặt các trụ
sở hành chính, giáo dục, văn hóa vì vậy rất nhiều trí thức và người trong hoànggia các vương quốc sang Hà Nội học tập Khi Nhật tiến vào Đông Dương, vàsau đó đảo chính Pháp và lập ra các quốc gia tự chủ theo danh nghĩa tại Lào vàViệt Nam, nội các hai nước cũng có quan hệ nhỏ mang tính chất hai quốc giathuộc khối Đại Đông Á
Nhật Bản đầu hàng quân Đồng minh, khoảng trống quyền lực được tạo ra,tại Việt Minh làm cuộc cách mạng tháng Tám tái chiếm cả nước, thì tại LàoIssara và các lực lượng du kích cũng tái chiếm khoảng trống quyền lực ấy
Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã mời Hoàngthân Souphanouvong đang ở Vinh ra Hà Nội, đã đặt những viên gạch đầu tiênxây dựng mối quan hệ Việt - Lào
Đến khi Pháp quay lại Đông Dương năm 1946, Lào được thống nhất thànhquốc gia chung Vương quốc Lào do Pháp bảo hộ theo cách Lào là quốc giathuộc khối Liên hiệp Pháp Lào Issara bị Pháp tấn công tan rã, số nhỏ rút sangThái và Việt Nam
Chiến tranh Đông Dương nổ ra, tháng 8/1950 hoàng thân Souphanouvongđảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đổi tên nhóm lực lượng Lào Issara doông lãnh đạo sang tổ chức vũ trang Pathet Lào, thành lập chính phủ kháng chiến
Trang 2Lào Tháng 2 năm 1951 Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II được tổchức, Kaysone Phomvihane tham dự với tư cách trưởng đoàn đại biểu Lào.Tình hình tại Đông Dương liên tục thất bại, thực dân Pháp quyết định traotrả độc lập cho Lào để tập trung bình định Việt Nam Tại Lào trong năm 1953lực lượng Pathet Lào cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam liên tiếp đánh chiếmnhiều vùng do Pháp và chính quyền Vương quốc Lào nằm giữ Đến cuối năm
1953 Pathet Lào kiểm soát được Thượng Lào, một số tỉnh tại Trung và Hạ Lào.Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, lực lượng cộng sản Lào tập kết tạihai tỉnh Phongsaly và Sầm Nưa cho tới khi có bầu cử thống nhất Lào vào năm
1955 Năm 1955 Đảng Nhân dân Cách mạng Lào được thành lập với tiền thân làĐảng Cộng sản Đông Dương, người gốc Việt chiếm đa số trong Đảng Chínhphủ Liên hiệp các đảng phái được thành lập, và bầu cử 1958 diễn ra với sự thắngthế của Mặt Trận Lào Yêu Nước do hoàng thân Souphanouvong lãnh đạo Hoa
Kỳ không chấp nhận tình trạng này, cắt viện trợ để gây áp lực với chínhphủ Souvanna Phouma Souvanna Phouma sau đó bị truất phế năm 1958, thayvào đó là Phoui Sananikone Chính phủ Phoui Sananikone loại bỏ phe hoàngthân Souphanouvong ra khỏi chính phủ liên hiệp và bắt giam ông năm 1959.Ngày 24 tháng 5 năm 1960 một nhóm nhỏ lực lượng Việt Nam đã tấn công giảithoát hoàng thân Souphanouvong
Trong giai đoạn 1959-1960 tại Lào liên tiếp xảy ra các cuộc đảo chính quân
sự, Hoa Kỳ và Liên Xô ủng hộ 2 chính quyền khác nhau tại Lào Do lo ngại sựcan thiệp của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào Lào, Liên Xô và Hoa Kỳ thốngnhất ủng hộ giải pháp liên hiệp Chính phủ liên hiệp lần hai ra đời nhưng chỉ ổnđịnh tới năm 1968 Từ năm 1968 phe Cộng sản và phái hữu tại Lào lại tiếp tụcgiao tranh Souphanouvong được Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp ủng
hộ, đào tạo cán bộ cho cách mạng Lào, người Việt Nam trở thành chuyên gia, bộđội tình nguyện cho Lào
Sau Chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng cộng sản tại Lào cũng phát triểnmạnh mẽ và cuối cùng cũng đã "giải phóng" được Viêng Chăn tháng 12 tháng
1975, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Năm 1976, Việt Nam
và Lào đã ký hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, khoa học và kỹ thuật,tiếp sau đó là ký hiệp ước 25 năm hữu nghị và hợp tác vào năm 1977,[2] và Hiệpước Hoạch định biên giới quốc gia.,[1] và hiệp ước này cũng gây nên sự căngthẳng trong quan hệ giữa Lào và Trung Quốc.[3]
Năm 1979 nổ ra Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979, Đảng Nhân dânCách mạng Lào đã ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến chống lại Trung Quốcxâm lược cắt đứt quan hệ với Trung Quốc Do lo ngại tình hình bất ổn tại biêngiới Lào-Thái quân tình nguyện Việt Nam lại tiếp tục hỗ trợ xây dựng Quân độiNhân dân Lào phát triển như ngày nay có khả năng đủ chống lại các cuộc ngoạixâm cũng như các phe phái thù địch
Kể từ năm 1980 Lào Việt Nam chính thức thành lập Ủy ban hợp tác Việt Nam sẽ thường xuyên gặp nhau để phát triển các kế hoạch Các cấp độ hợp
Trang 3Lào-tác với nhau khác của Lào Việt Nam là các cuộc họp Đảng với Đảng, giao lưutỉnh với tỉnh, cũng như các đoàn thể thành niên và phụ nữ khác.
Ngày 24 tháng 1 năm 1986, hai nước ký kết một nghị định thư về phânđịnh biên giới và cắm mốc Hai quốc gia dự kiến hoàn thành cắm mốc biên giớivào năm 2012
Sau khi Liên Xô tan rã, Lào và Việt Nam tích cực hợp tác với các quốc giakhác, nhưng quan hệ Lào-Việt Nam vẫn là mối quan hệ đặc biệt
Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam.
- Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm vóc lịch sử to lớn
trong quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam
- Góp phần tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy mối quan hệ hợp tácthân thiện giữa hai dân tộc anh em tiến lên một tầm cao mới Nhờ đó, đã giảiquyết được những khó khăn, thử thách mới với nhiều diễn biến phức tạp do sựcan thiệp ngày càng sâu của Mỹ vào các nước Đông Dương
- Khẳng định đường lối nhất quán, đúng đắn trong mối quan hệ chiến lượccủa hai Đảng và nhân dân hai nước; đảm bảo sự thống nhất về đường lối chínhtrị, quân sự, để hai dân tộc tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra
- Là cơ sở vững chắc để quân dân hai nước tiếp tục sát cánh bên nhau chiếnđấu và giành nhiều thắng lợi mới trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ vàtay sai, giành độc lập tự do cho mỗi nước
2 Phát triển liên minh chiến đấu, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn (1963-1975).
Sau Hiệp định Giơnevơ 1962 về Lào, ngày 5 tháng 9 năm 1962, Chính phủnước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Vương quốc Lào chính thứcthiết lập quan hệ ngoại giao Đầu năm 1963 vua Lào Xỉxávàng Vắthana dẫn đầuđoàn đại biểu Hoàng gia Lào thăm Việt Nam Trong buổi chiêu đãi vua Lào,Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trêncùng một giải đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn Hai dân tộc chúng ta
đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em… Ngày nay chúng ta lạiđang giúp đỡ nhau để xây dựng một cuộc sống mới Tình nghĩa láng giềng anh
em Việt - Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được”11 “Thật là:Thương nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua
Việt – Lào, hai nước chúng ta
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”12
Mặc dù Hiệp định Giơnevơ 1962 về Lào được ký kết, đế quốc Mỹ vẫnchưa từ bỏ âm mưu xâm lược Lào, tăng cường viện trợ, giúp chính quyền Viêng
Trang 4Chăn tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, đồng thời ra sức phá hoại Chính phủliên hiệp, cô lập và vu cáo Neo Lào Hắc Xạt.
Trước tình hình có chiều hướng phức tạp, Hội nghị Ban Chấp hành Trungương Đảng Nhân dân Lào (15-2-1963) đề ra nhiệm vụ: đấu tranh bảo vệ Chínhphủ liên hiệp, bảo vệ hòa bình và ra sức củng cố, phát triển lực lượng cách mạng
về mọi mặt Hội nghị xác định quân đội Pathết Lào phải tích cực hoạt động quân
sự làm hậu thuẫn cho đấu tranh chính trị, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũtrang, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu lấn chiếm của địch
Từ ngày 18 đến ngày 24-4-1963, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam vàTrung ương Đảng Nhân dân Lào hội đàm để thống nhất các hoạt động phối hợp
và giúp đỡ nhau có hiệu quả hơn Đặc biệt, tại cuộc hội đàm (7-1963) bàn vềphương hướng phát triển của cách mạng Lào, hai Đảng thống nhất nhiệm vụ đẩymạnh xây dựng lực lượng cả về quân sự và chính trị, chuẩn bị cho cuộc chiếnđấu lâu dài Trung ương Đảng Nhân dân Lào đề nghị Việt Nam tăng cường lựclượng chuyên gia giúp Lào toàn diện, từ chủ trương, chính sách đến tổ chức thựchiện; trong đó, về quân sự, giúp Lào thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là xây dựngchính trị, tư tưởng, tổ chức Đảng trong quân đội và củng cố, phát triển phongtrào chiến tranh du kích
Thực hiện chủ trương trên, từ cuối năm 1963, đầu năm 1964, Việt Nam cửhơn 2.000 chuyên gia quân sự sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào Tiếp đó, từgiữa năm 1964, thành lập hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam từ trên cơ quanTổng tư lệnh Lào xuống đến Bộ tư lệnh các quân khu, tỉnh đội và cấp tiểu đoàn,
có nhiệm vụ phối hợp với bạn để nghiên cứu kế hoạch tác chiến, xây dựng lựclượng vũ trang, xây dựng và củng cố các vùng căn cứ ở Lào Đồng thời, các đơn
vị quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bộ đội Pathết Lào mở nhiều chiếndịch, chủ yếu ở khu vực đường 9 – Trung Lào, Cánh đồng Chum – XiêngKhoảng, đập tan các cuộc tấn công lấn chiếm của địch, bảo vệ vững chắc vùnggiải phóng Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Việt Nam vận chuyểntrên đường tây Trường Sơn để chi viện cho chiến trường miền Nam Việt Nam
và cách mạng hai nước Lào, Campuchia
Những hoạt động phối hợp giữa quân và dân hai nước Việt Nam – Làotrong xây dựng lực lượng và chiến đấu nói trên đã tạo sự chuyển biến rất có lợi
về quân sự, chính trị cho lực lượng cách mạng Lào, góp phần bảo vệ và mở rộngtuyến đường tây Trường Sơn vươn dài tới các chiến trường
Từ giữa năm 1965, do bị thất bại nặng nề trong âm mưu lấn chiếm vùnggiải phóng và không thực hiện được ý đồ phá hoại, chia rẽ giữa các lực lượngcách mạng và yêu nước Lào, đế quốc Mỹ thực hiện bước leo thang chiến tranhmới, đưa lực lượng không quân Mỹ vào tham chiến ở Lào, đẩy chiến tranh đặcbiệt ở Lào phát triển đến cao độ; đồng thời tiến hành chiến lược “chiến tranh cụcbộ” ở miền Nam Việt Nam, mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân, hảiquân ra miền Bắc Việt Nam,
Trước tình hình trên, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dânLào (5-1965) nêu cao quyết tâm đánh bại chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ ở
Trang 5Lào và đề ra nhiệm vụ: Đẩy mạnh đấu tranh quân sự, phát triển chiến tranh nhândân; tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân; củng cố và mở rộngvùng giải phóng thành quy mô của một quốc gia.
Do yêu cầu tăng cường đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc
Mỹ xâm lược, ngày 22 tháng 6 năm 1965, Đảng Lao động Việt Nam hội đàmvới Đảng Nhân dân Lào thống nhất các nội dung phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau,trong đó tập trung giúp Lào xây dựng vùng giải phóng về mọi mặt với quy mômột quốc gia, xây dựng lực lượng vũ trang Tiếp đó, ngày 3 tháng 7 năm 1965,
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghịquyết khẳng định: “Việt Nam cần phải nỗ lực đáp ứng đến mức cao nhất mọiyêu cầu đối với công cuộc phát triển cách mạng của Lào”13
Thực hiện chủ trương giúp đỡ lẫn nhau đã được hai Đảng thống nhất, ngay
từ giữa năm, nhất là từ cuối năm 1965 trở đi, Việt Nam cử một số đơn vị quântình nguyện và các đoàn chuyên gia quân sự, chính trị, kinh tế, và văn hóa sanglàm nhiệm vụ quốc tế ở Lào với số lượng ngày càng lớn theo yêu cầu của cáchmạng Lào Đến năm 1967, số cán bộ, công nhân Việt Nam tham gia xây dựngcác ngành kinh tế, văn hóa ở Lào lên tới 15.000 người; riêng chuyên gia về quân
sự lên tới 8.500 người
Nêu cao tinh thần đồng cam cộng khổ, các lực lượng Việt Nam làm nhiệm
vụ quốc tế ở Lào đã kề vai sát cánh cùng quân và dân Lào ra sức xây dựng vùnggiải phóng Lào về mọi mặt như quy mô một quốc gia; xây dựng và nâng cao sứcmạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang cách mạng Lào; đánh địch lấn chiếm,giữ vững và mở rộng các khu căn cứ; bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lượctây Trường Sơn Đặc biệt, đầu năm 1968, bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợpvới quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công Nặm Bạc thắng lợi, giải phónghoàn toàn khu vực Nặm Bạc – Khăm Đeng với trên một vạn dân, nối liền vùnggiải phóng Thượng Lào thành khu vực liên hoàn, tạo thế vững chắc cho hậuphương cách mạng Lào và hỗ trợ thiết thực cho cuộc kháng chiến của nhân dânViệt Nam và Campuchia
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cáchmạng Lào, đồng thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiếnđấu giữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chânthành nhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào, nhưđồng chí Cay xỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dânLào và Đảng Lao động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ củaViệt Nam cho cách mạng Lào hết sức tận tình và vô tư Việt Nam đã giúp Lào
cả vật chất và xương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏkhắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào… Sự giúp đỡ của Việt Namđối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vậndụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”14 Nhữngthắng lợi đó góp phần củng cố thêm sự gắn bó mật thiết giữa hai Đảng và haidân tộc Việt Nam – Lào
Trang 6Mặc dù bị thất bại, từ năm 1969, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiếntranh, đưa chiến tranh đặc biệt ở Lào lên đến đỉnh cao với sự tham gia ngày càngnhiều của lực lượng không quân Mỹ và quân đội các nước tay sai, chư hầu của
Mỹ, đồng thời tiến hành “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranhsang Campuchia Những âm mưu, thủ đoạn và hành động chiến tranh mới của
đế quốc Mỹ đã gây nhiều khó khăn, phức tạp cho cách mạng ba nước ĐôngDương và làm cản trở quá trình phối hợp chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam
và Lào
Trước âm mưu và thủ đoạn chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, Trung ươngĐảng Lao động Việt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã ra chỉ thịkhẳng định tăng cường đoàn kết giữa nhân dân hai nước, quyết tâm đánh bại đếquốc Mỹ và bè lũ tay sai trong bất cứ tình huống nào Ngày 18 tháng 7 năm
1969, Quân ủy Trung ương Việt Nam hội đàm với Quân ủy Trung ương Làothống nhất các nội dung phối hợp và giúp đỡ nhau trên lĩnh vực quân sự, đồngthời xác định nhiệm vụ cách mạng Lào tập trung vào việc xây dựng, tăng cườnglực lượng về mọi mặt; nâng cao chất lượng ba thứ quân; đẩy mạnh đấu tranh ở
cả hai vùng nông thôn và thành thị, trên cả ba mặt quân sự, chính trị, ngoại giao;củng cố vững chắc các địa bàn đứng chân, giữ vững và mở rộng vùng giảiphóng; chú trọng sản xuất, bồi dưỡng sức dân… Đặc biệt, Hội nghị Ban Thường
vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào (25-6-1970) xác định nhiệm vụ cách mạngLào trong hai năm tới là: Nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, phát huy thế chủđộng tiến công địch về mọi mặt; ra sức củng cố vùng giải phóng; xây dựng vàphát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt Hội nghị nhấn mạnh cần phải tăngcường đoàn kết hơn nữa với nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh emtrong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược
Thực hiện chủ trương trên, từ năm 1969, hai nước Việt Nam – Lào càngtích cực đẩy mạnh các hoạt động phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt
Về quân sự, Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định tăng cường cán bộcho các đoàn chuyên gia quân sự từ trung ương đến các tỉnh theo yêu cầu củaLào Các lực lượng chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trườngLào đã đẩy mạnh nhiều hoạt động, vừa chú trọng giúp bạn xây dựng, nâng caokhả năng, trình độ chiến đấu của bộ đội Lào, vừa cùng quân giải phóng Làochiến đấu, đánh bại nhiều cuộc tiến công lấn chiếm của địch, quan trọng nhất làđập tan các chiến dịch Cù Kiệt (10.1969 – 4.1970), chiến dịch Đường 9 – NamLào (3-1971), giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, trong đó có vùng chiếnlược Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, bảo vệ vững chắc và thông suốt tuyếnvận tải chiến lược tây Trường Sơn
Về chính trị, ngoại giao, Việt Nam tích cực ủng hộ giải pháp năm điểm củaNeo Lào Hắc Xạt (3-1970) để giải quyết vấn đề Lào trên cơ sở Hiệp địnhGiơnevơ 1962; phối hợp chặt chẽ với Lào tích cực đóng góp cho thành công củaHội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (4-1970) và vào việc thành lập Mặt trậnthống nhất chống Mỹ, góp phần tăng cường liên minh chiến đấu của nhân dân
ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, đồng thời tranh thủ được sự đồng tình,
Trang 7ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, làm cho nội bộ địch, kể cảgiới cầm quyền Mỹ bị chia rẽ sâu sắc.
Về lĩnh vực xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, các bộ, ngành của ViệtNam đã ký kết nhiều hiệp định hợp tác, giúp đỡ với các bộ, ngành của Lào, như:lâm nghiệp, công nghiệp nhẹ, thủ công và địa chất (2-1972); giao thông vận tải(4-1972); thuỷ lợi (5-1972), nhằm nâng cao tốc độ phát triển kinh tế trong vùnggiải phóng Lào
Với sự nỗ lực vượt bậc của bản thân và cùng với sự đoàn kết, giúp đỡ vô
tư, trong sáng của Việt Nam, đến cuối năm 1972, cách mạng Lào đã giành đượcnhiều thắng lợi quan trọng, nhất là Đảng Nhân dân Lào đã tổ chức thành côngĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai: quyết định đổi tên Đảng thành ĐảngNhân dân cách mạng Lào và suy tôn đồng chí Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng;thông qua Nghị quyết: “Tăng cường đoàn kết Lào – Việt”, trong đó khẳngđịnh tình đoàn kết Lào – Việt trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh thầnquốc tế vô sản là mối quan hệ đặc biệt, đã đánh dấu sự trưởng thành về chính trị
và tổ chức của Đảng Nhân dân cách mạng Lào – nhân tố trọng yếu, có ý nghĩaquyết định thúc đẩy quan hệ đặc biệt, liên minh chiến đấu Lào – Việt Nam lênbước phát triển mới Lực lượng vũ trang cách mạng Lào với hơn 3 vạn quân tậptrung cùng hơn 5 vạn dân quân du kích trên khắp mọi miền của đất nước khôngngừng trưởng thành, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trong những trận đọsức quyết định Vùng giải phóng Lào được mở rộng, củng cố, đã nối liền từ Bắcđến Nam và từng bước xây dựng theo quy mô một quốc gia, có nền tài chínhriêng, có một số xí nghiệp công nghiệp nhỏ, thương nghiệp quốc doanh, nhiềutỉnh đã bước đầu tự túc được lương thực Nhân dân các bộ tộc Lào trong vùnggiải phóng từ địa vị nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, tích cực tham giaxây dựng chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng cuộc đời mới của mình
Những chiến thắng to lớn về nhiều mặt nói trên đã trực tiếp góp phần quantrọng buộc chính phủ Viêng Chăn phải ký kết Hiệp định “lập lại hoà bình vàthực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào” (21-2-1973), tạo điều kiện và thời cơ rất thuậnlợi để thúc đẩy cách mạng Lào tiến lên, đồng thời mở ra cơ hội mới cho liênminh chiến đấu Việt Nam – Lào đẩy mạnh đấu tranh giành thắng lợi hoàn toàn.Tuy phải chấp nhận cho chính quyền tay sai Viêng Chăn ký kết Hiệp định
về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Lào (2-1973), nhưng đế quốc Mỹvẫn tiếp tục câu kết và sử dụng lực lượng phản động Lào để phá hoại việc thihành Hiệp định Viêng Chăn, gây lại tình hình căng thẳng ở Lào và chống phácách mạng Đông Dương
Trước tình hình trên, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào chủtrương: giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc để tập hợp lựclượng đấu tranh đòi đối phương thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định; nâng caocảnh giác, quyết tâm đánh bại mọi âm mưu của kẻ thù; tăng cường lực lượng vềmọi mặt, tạo điều kiện đi đến xây dựng một nước Lào độc lập, dân chủ, trunglập, thống nhất và thịnh vượng Để xây dựng và củng cố vùng giải phóng ngàymột vững mạnh làm hậu thuẫn cho phong trào đấu tranh, Trung ương Đảng
Trang 8Nhân dân Lào đề nghị Việt Nam tiếp tục cử chuyên gia giúp Lào, nhất là về cácngành hành chính sự nghiệp, kinh tế, văn hóa…
Đáp ứng yêu cầu của cách mạng Lào trong tình hình mới, Hội nghị BanChấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (7-1973) chủ trương phối hợp
và hỗ trợ Lào phát huy thắng lợi đã đạt được, củng cố và đẩy mạnh các hoạtđộng buộc đế quốc Mỹ phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Viêng Chăn.Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã chỉ thị cho các đơn vị quân tìnhnguyện và đội ngũ chuyên gia làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào tăng cường lực lượng,bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ do cách mạng Lào đặt ra
Tại cuộc hội đàm giữa hai đoàn đại biểu cấp cao Đảng Lao động Việt Nam
và Đảng Nhân dân cách mạng Lào (12-1973), hai Đảng đã thống nhất xác địnhnhiệm vụ quan trọng nhất trong tình hình hiện nay để đưa cách mạng Lào tiếnlên là: củng cố, xây dựng vùng giải phóng; nắm chắc lực lượng vũ trang, đi đôivới việc sử dụng Chính phủ liên hiệp; đẩy mạnh đấu tranh chính trị trong haithành phố trung lập và trong vùng đối phương quản lý Để nâng cao hiệu quảquan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước, hai Đảng đã nhất tríphương hướng hợp tác cần tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất, những khâuthen chốt nhất, tạo điều kiện cho Lào nhanh chóng đảm đương được công việcmột cách độc lập, tự chủ Riêng về quân sự, hai Đảng thống nhất cần phải bố trílại lực lượng phù hợp tình hình mới: Đưa các đơn vị quân tình nguyện Việt Namđứng chân ở tuyến sau, giúp bảo vệ, giữ vững vùng giải phóng, đề phòng địchbất ngờ tiến công lấn chiếm; đưa bộ đội giải phóng Lào lên phía trước, trực tiếptiếp xúc với địch, gây áp lực, làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh và sẵn sàngtiến công địch khi cần thiết
Thực hiện chủ trương trên, Việt Nam từng bước rút chuyên gia ở tỉnh vàhuyện về nước (rút trước tháng 5-1974), đồng thời điều chỉnh các lực lượngchuyên gia và quân tình nguyện còn lại để phối hợp và giúp Lào thực hiệnnhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới
Về quân sự, Việt Nam cử nhiều đội công tác phối hợp với cán bộ Lào xâydựng cơ sở, củng cố các đội du kích, tổ chức huấn luyện quân sự và các chuyêngia tham gia công tác tổng kết, tổng hợp tình hình, theo dõi, giúp đỡ các cụmchủ lực Lào; đồng thời, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp chặt chẽ với bộđội Lào đập tan nhiều cuộc hành quân lấn chiếm của địch ở Luổng Phạbang, tâyMương Xủi - Xala Phu Khun, đông và nam Thà Khẹc, nam Đường số 9, namPạc Xê, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng và hỗ trợ mạnh mẽ phong trào đấutranh của nhân dân ở vùng địch kiểm soát
Về kinh tế, văn hóa, các chuyên gia Việt Nam đã phối hợp tích cực, cùngvới cán bộ và nhân dân Lào đẩy mạnh sản xuất, xây dựng kinh tế, văn hóa, giáodục trong vùng giải phóng, góp phần giải quyết những yêu cầu cấp bách về đờisống của nhân dân và chuẩn bị các mặt cho việc phát triển kinh tế của vùng giảiphóng trong những năm tiếp theo
Về đối ngoại, từ cuối năm 1973, Đảng Lao động Việt Nam đã tổ chức cácđoàn đại biểu đại diện của Đảng và Nhà nước sang thăm hữu nghị chính thức
Trang 9vùng giải phóng Lào, như: chuyến thăm của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ
do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương, từ ngày 2 đếnngày 6 tháng 11 năm 1973; chuyến thăm của Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giảiphóng miền Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam doLuật sư Nguyễn Hữu Thọ dẫn đầu (tháng 1 năm1974); chuyến thăm của Đoànđại biểu phụ nữ giải phóng miền Nam do bà Nguyễn Thị Định dẫn đầu (tháng 4năm 1974)…Việt Nam cũng phối hợp và giúp Lào đón nhiều đoàn đại biểu củacác nước đến thăm vùng giải phóng Lào, như: Đoàn đại biểu Quốc hội ThuỵĐiển, Đoàn đại biểu kinh tế Cu Ba (tháng 1 năm1974); Đoàn đại biểu Đảngcông nhân xã hội thống nhất Hunggary, Đoàn đại biểu Đảng cộng sản Bungary(tháng 2 năm 1974); Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Cu Ba (tháng 2 năm1974)…
Sự phối hợp chặt chẽ và giúp đỡ hiệu quả giữa Việt Nam và Lào nói trên,
đã làm cho thế và lực của cách mạng Lào lớn mạnh vượt bậc, tạo điều kiện thúcđẩy phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng lan rộng và sôi nổi, nhất là
ở Thủ đô Viêng Chăn, buộc Chính phủ liên hiệp phải chấp nhận Cương lĩnhchính trị 18 điểm và Chương trình hành động 10 điểm do Mặt trận Lào yêu nướcđưa ra (12-1974), đồng thời góp phần hỗ trợ tích cực cho nhân dân Việt Nam vànhân dân Campuchia anh em giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiếnchống đế quốc Mỹ xâm lược
Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trongtháng 4-1975, nhất là chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam (30-4-1975)của nhân dân Việt Nam, ngày 5-5-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhândân cách mạng Lào tổ chức Hội nghị mở rộng, quyết định phát động toàn Đảng,toàn dân, toàn quân trong cả nước nổi dậy đoạt lấy chính quyền và giành thắnglợi hoàn toàn
Việc nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời (tháng 12 năm 1975) làthắng lợi to lớn, triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợiquan trọng của mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung,son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào
Như vậy, trong lịch sử quan hệ đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu củaquân và dân hai nước Việt Nam, Lào, thời kỳ 30 năm chiến tranh giải phóng(1945 – 1975) thực sự là một cuộc trường chinh đầy khó khăn, gian khổ, songcũng rất đỗi sôi động và hào hùng
Trong thời kỳ lịch sử này, cách mạng hai nước đã cùng nhau giải quyếtthành công từng bước những vấn đề mấu chốt như: thống nhất chủ trương thànhlập đảng mácxít ở mỗi nước Đông Dương, thành lập khối liên minh Việt - Miên– Lào dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của nhau,nhằm mục tiêu đánh đuổi bọn xâm lược, làm cho mỗi nước hoàn toàn độc lập.Việc Đảng Lao động Việt Nam ra hoạt động công khai (2-1951), sự ra đời củaLiên minh mặt trận Đông Dương (3-1951) và của Đảng Nhân dân cách mạngLào (4-1955) là những nhân tố trọng yếu, tạo cơ sở cho sự phát triển vượt bậc,
Trang 10có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu banước Đông Dương nói chung, hai nước Việt Nam và Lào nói riêng.
Với tư tưởng chỉ đạo chiến lược “Đông Dương là một chiến trường”, trongsuốt ba mươi năm chiến tranh giải phóng, lãnh đạo hai nước Việt Nam, Lào đãthống nhất và phối hợp chặt chẽ với nhau trong mọi chủ trương, hành độngchiến lược và trên mọi mặt, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp đánh bại kẻ thùchung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập, tự do
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là mình tự giúp
mình”, coi nhân dân bạn như nhân dân mình, coi sự nghiệp cách mạng của bạn
là trách nhiệm của mình, trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng, các thế hệcán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia Việt Nam làm nhiệm
vụ quốc tế ở Lào luôn kề vai sát cánh và cùng với bạn, vừa chiến đấu chống địchcàn quét lấn chiếm, vừa tiến hành xây dựng và củng cố các đoàn thể, chínhquyền kháng chiến, xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, tăng cường lực lượng
vũ trang, phát triển chiến tranh du kích trên khắp các khu vực Thượng, Trung và
Hạ Lào Đồng thời, thực tiễn chiến đấu, công tác trên các chiến trường Lào cũng
là cơ hội bồi dưỡng, rèn luyện rất bổ ích về các mặt quân sự, chính trị, nhất lànâng cao thêm tinh thần đoàn kết quốc tế cho cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện
và đội ngũ chuyên gia Việt Nam
Sự lớn mạnh của lực lượng kháng chiến Lào là nhân tố cơ bản, tạo điềukiện đưa chiến trường Lào tiến lên phối hợp có hiệu quả với chiến trường chínhViệt Nam Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954),nhất là trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975), quân
và dân hai nước Việt Nam – Lào đã phối hợp mở nhiều chiến dịch tiến công lớntrên chiến trường Lào giành thắng lợi, buộc kẻ thù phải phân tán lực lượng đốiphó, góp phần hỗ trợ đắc lực, tạo điều kiện thuận lợi cho các bước chuyển biếncủa chiến tranh cách mạng ở Việt Nam và tạo đà phát triển đi lên của cách mạngCampuchia
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâmlược (1945-1975) thể hiện nghị lực và quyết tâm của cả hai dân tộc Việt Nam –Lào trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung để giành độc lập, tự do, kết tinhsức mạnh đoàn kết của quan hệ đặc biệt, liên minh chiến đấu giữa quân đội vànhân dân hai nước Việt Nam – Lào Thắng lợi đó tạo nền móng vững chắc đểtăng cường, phát triển quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào– Việt Nam trong thời kỳ lịch sử mới
3 Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào-Việt Nam
Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng gần gũi, có mối quan hệ đoàn kết,hữu nghị truyền thống tốt đẹp lâu đời Cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng
vĩ, cùng uống chung dòng nước Mêkông, núi liền núi, sông liền sông, ngay từrất sớm, hai dân tộc Việt Nam - Lào đã gắn bó bền chặt bên nhau chống giặc
Trang 11ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản chính là những người đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghịtruyền thống, đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào.Mối quan hệ đã được các thế hệ lãnh đạo kế tiếp và quân dân hai nước dàycông vun đắp để không ngừng phát triển và được đúc kết thành mối quan hệmẫu mực, thủy chung, trong sáng, hiếm có trong quan hệ quốc tế và là tài sảnchung vô giá của hai dân tộc Việt - Lào.
Khi nói về mối quan hệ nghĩa tình giữa hai Đảng, hai nước, hai dân tộcViệt Nam và Lào, Bác Hồ kính yêu của chúng ta - Người đã dày công vun đắpcho mối quan hệ Việt - Lào đã nhấn mạnh, đó là mối “quan hệ đặc biệt” mà lịch
sử đã chứng minh cái nghĩa, cái tình và tấm lòng thủy chung, son sắt, sát cánhbên nhau của hai Đảng, hai dân tộc Việt - Lào trong cuộc đấu tranh chống kẻ thùchung, giành độc lập cho dân tộc và cùng nhau xây dựng hòa bình, hướng tớitương lai hạnh phúc
Nền tảng của quan hệ Việt - Lào xuất phát từ quan hệ truyền thống lâu đờigiữa hai nước láng giềng gần gũi, cùng chung sống trên bán đảo Đông Dương.Mối quan hệ truyền thống ấy trở nên “đặc biệt” từ khi Đảng Cộng sản ĐôngDương do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện (sau này là Đảng Cộngsản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào) trở thành lực lượng lãnh đạocách mạng của hai dân tộc Việt Nam và Lào, cùng sát cánh bên nhau chiến đấuchống kẻ thù chung, xây đắp nên tình đoàn kết keo sơn, thuỷ chung, son sắt Việt
- Lào
Sự nghiệp cách mạng của hai nước Lào - Việt Nam có mối quan hệ và ảnhhưởng lẫn nhau một cách đặc biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ điều đó vàthường xuyên căn dặn: “Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cáchmạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ củacách mạng Lào.”
Với quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, với thiện chíchân tình, thông cảm nhau sâu sắc trên tình đồng chí anh em, giúp bạn là tự giúpmình, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã cử hàng chục vạn con em yêuquý của mình sang công tác và phối hợp với quân và dân Lào chiến đấu tại cácchiến trường của Lào, máu của biết bao anh hùng, liệt sĩ Việt Nam hòa quyệnvới máu của quân và dân Lào để đem lại thắng lợi vẻ vang cho hai dân tộc.Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trongcuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt - Lào, đó vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa làlợi ích sống còn của mỗi nước Người rất chăm chú theo dõi và dìu dắt, giúp đỡphong trào cách mạng ở Lào với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình” Từ khimới ra đời, tại Hội nghị Trung ương tháng 10/1930, Đảng Cộng sản ĐôngDương đã xác định đường lối cách mạng của ba nước Đông Dương: ba nước đều
là thuộc địa của Pháp nên cần đoàn kết chống ách thống trị của bọn thực dânPháp, giành độc lập dân tộc
Trang 12Bên cạnh đó, trong tư tưởng chỉ đạo và hoạt động thực tiễn, Người luônluôn phát huy cao độ tính độc lập và chủ động của đồng bào các bộ tộc Lào.Theo Người “kháng chiến Việt - Miên - Lào là chung của chúng ta, là bổn phậncủa chúng ta Việt Nam kháng chiến có thành công thì kháng chiến Miên, Làomới thắng lợi và kháng chiến Miên, Lào có thắng lợi thì kháng chiến Việt Nammới hoàn toàn thắng lợi” Người khẳng định “Chính phủ, Mặt trận và nhân dânViệt Nam ra sức hết lòng, thành thực giúp đỡ Mặt trận nhân dân Lào, Miên mộtcách không có điều kiện”; “Mà giúp nước bạn tức là tự giúp mình” nên “phải rasức giúp đỡ một cách tích cực, thiết thực hơn” Trong quá trình giúp cách mạngLào, Người chỉ rõ, khi giúp bạn, phải nắm vững nguyên tắc dân tộc tự quyết.Việc gì cũng phải đựơc Đảng và nhân dân Lào đồng ý rồi mới làm Bởi vì,người làm nên lịch sử Lào không ai khác chính là nhân dân Lào, cách mạng Làophải do nhân dân Lào tự làm lấy, sự nghiệp cách mạng Lào phải do Đảng Nhândân cách mạng Lào lãnh đạo Tại Hội nghị Trung ương III (khóa II), Hồ Chủtịch nêu rõ: “cho đến nay chúng ta phải cố gắng giúp đỡ hơn nữa” và cũng từ đó,nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào ngày càng được tăng cường, quan hệ đoàn kếtViệt - Lào càng thêm gắn bó, mật thiết.
Sau Hội nghị, thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một
số đảng viên của Đảng từ Việt Nam và Thái Lan đã sang hoạt động xây dựng cơ
sở cách mạng ở Lào, một số chi bộ cộng sản đã được thành lập ở Savannakhet,Thakhek, Vientiane, và đến tháng 9/1934 Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương
đã được thành lập tại Lào, chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng Lào
Đó là những mốc son lịch sử trong quan hệ Lào-Việt Nam; cuộc đấu tranh cáchmạng của nhân dân hai nước gắn bó với nhau và ngày càng phát triển trong tìnhđoàn kết chiến đấu và tạo nên cơ sở cho tình đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng vàhai nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩaquốc tế vô sản; luôn nhận thức sâu sắc mối quan hệ mật thiết cách mạng hainước Lào - Việt Nam, nuôi dưỡng và phát huy sáng tạo sức mạnh chung củanhân dân hai nước để cùng tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám ở Làocũng như thắng lợi Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam, giành độc lập cho nhândân mỗi nước năm 1945 Ngày 30/10/1945, hai nước đã ký Hiệp ước Hợp táctương trợ Việt - Lào Với Hiệp ước này, quan hệ Việt - Lào đã chuyển sang mộtgiai đoạn mới, giai đoạn phát triển quan hệ đoàn kết giữa hai dân tộc anh emkhông chỉ trong quan hệ giữa nhân dân hai nước, mà còn trên tầm quan hệ gắn
bó giữa hai nhà nước
Chủ tịch Xuphanuvông đã khái quát ý nghĩa trọng đại của sự kiện này:
“Quan hệ Lào-Việt từ nay sẽ mở ra một kỷ nguyên mới”, kỷ nguyên của mốiquan hệ đoàn kết đặc biệt Lào-Việt Nam giúp đỡ nhau vì mục tiêu chung của haidân tộc Cũng ngày 30/10/1945, Chính phủ hai nước quyết định thành lập Liênquân Lào - Việt Nam
Thắng lợi đó dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương là thắnglợi của nhân dân hai nước cùng chung lý tưởng, cùng chung mục tiêu, đoàn kết
Trang 13gắn bó với nhau, cùng đấu tranh giành thắng lợi Đó là bài học lịch sử đầu tiên
vô cùng quý giá trong lịch sử cách mạng giải phóng của hai dân tộc anh em.Bằng việc xây dựng hệ thống quan điểm và chỉ đạo thực tiễn thực hiện liênminh đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa Việt Nam và Lào, cũng như sự quan tâm,phát hiện và xây dựng nhân tố bên trong cho cách mạng Lào, đã dẫn tới việcthành lập Đảng Nhân dân Lào ngày 22/3/1955, sau này là Đảng Nhân dân cáchmạng Lào (tháng 2/1972), Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh thật sự đã đặt nềnmóng cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào
Đó là mối quan hệ vừa bảo đảm lợi ích dân tộc, vừa bảo đảm kết hợp hàihòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, để cùng hướng tới mục tiêu chung
là giải phóng dân tộc và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa
Đúng như Chủ tịch Cay xỏn Phômvihản đánh giá: “Năm 1930, Đảng Cộngsản Đông Dương do đồng chí Hồ Chí Minh sáng lập đã ra đời, là bước ngoặtlịch sử của cách mạng ba nước Đông Dương Từ đó trở đi, dưới sự lãnh đạo củaĐảng Mác-Lênin chân chính và với ngọn cờ cách mạng dân tộc, dân chủ cuộcđấu tranh cách mạng của nhân dân các bộ tộc Lào đã bước vào thời kỳ mới vàvới chất lượng mới hoàn toàn.”
Điều đó càng chứng tỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đóng góp về lýluận, đường lối, phương hướng cách mạng mà Người còn quan tâm đến cả việc
tổ chức, chỉ đạo thực tiễn cách mạng Lào
Sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào trong suốt nhiều thập kỉqua gắn liền với tên tuổi, công lao to lớn của Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản Sựcống hiến suốt cả cuộc đời mình cho dân, cho nước, cho Đảng thể hiện phẩmchất tuyệt vời của Chủ tịch Công lao và những cống hiến to lớn của Chủ tịchCayxỏn Phômvihản mãi mãi được ghi vào sử sách của Lào
Chủ tịch Cayxỏn luôn nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng, đóng góp nhiệttình vào sự nghiệp hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, nhất là cácquốc gia trong khu vực Trong quan hệ quốc tế đó, đoàn kết với Việt Nam luôn
là nhân tố quan trọng và được Chủ tịch dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt,liên minh chiến đấu thủy chung son sắt giữa Lào và Việt Nam Chính từ khói lửacủa chiến tranh ác liệt vì độc lập tự do cho dân tộc mình đã làm cho nhân dânhai nước, các chiến sĩ cách mạng và các nhà lãnh tụ cao nhất của hai dân tộc gắn
bó, kề vai sát cánh bên nhau và cùng nhau làm cách mạng, đánh bại các lựclượng thù địch và tiến lên theo con đường đã lựa chọn
Trong suốt thời gian lãnh đạo cách mạng Lào, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihảnluôn đánh giá cao vai trò của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào Trongcác cuốn sách, trong các bài phát biểu của mình, Chủ tịch luôn khẳng định chínhsách trước sau như một của Đảng, Nhà nước, nhân dân Lào đối với Đảng, Nhànước và nhân dân Việt Nam Phát biểu tại Hội nghị rút kinh nghiệm công tác tácchiến tại Lào, ngày 21/9/1965, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản đã nói: “Nhìn lạilịch sử 20 đấu tranh vừa qua, bất kể trong hoàn cảnh nào, ở đâu, hai dân tộc anh
em Lào - Việt Nam chúng ta luôn luôn sống chết có nhau, cùng nhau làm cách
Trang 14mạng Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi chung của chúng ta Haianh em chúng ta đồng cam cộng khổ, bát cơm chia đôi, cọng rau bẻ nửa, sướngkhổ có nhau, quan hệ giữa hai dân tộc là quan hệ đặc biệt”.
Sau khi hai nước hoàn toàn được giải phóng năm 1975, quan hệ hai nướcchuyển sang giai đoạn mới Trong bài phát biểu chào mừng Đại hội lần thứ IVĐảng Cộng sản Việt Nam, ngày 15/12/1976, Chủ tịch Cayxỏn đã nói: “Tronglịch sử cách mạng thế giới có nhiều tấm gương sáng về tình cảm quốc tế vô sản,nhưng chưa có khi nào, chưa có ở nơi đâu có mối quan hệ đoàn kết chiến đấuđặc biệt lâu dài, toàn diện như mối quan hệ Lào - Việt Nam Mối quan hệ đó đãtrở thành mối quan hệ đặc biệt, thủy chung, trong sáng, mẫu mực, hiếm có vàngày càng được củng cố, phát triển vững chắc Chúng tôi nguyện hết lòng vunđắp cho tình hữu nghị Lào - Việt Nam ngày một xanh tươi, đời đời bền vững”
Về phía Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào đã dành phần đất của mình đểgiúp Việt Nam xây dựng “Đường Hồ Chí Minh”, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứunước,” giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975 và tạo điều kiệncho cách mạng Lào giành thắng lợi hoàn toàn và thiết lập nên nước Cộng hòaDân chủ nhân dân Lào ngày 2/12/1975
Tình hữu nghị và đoàn kết đặc biệt Lào - Việt Nam là kết quả của việc vậndụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủtịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và Lào, là một trongnhững thành quả cách mạng của hai dân tộc, do nhân dân hai nước cùng nhauxây dựng nên và được xây đắp bằng công sức, xương máu của nhân dân hainước
Ngày 18/7/1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào được kýkết, là cơ sở pháp lý quan trọng, đánh dấu mốc phát triển mới của mối quan hệhữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhànước và nhân dân hai nước, nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh bảo đảm cho
sự nghiệp xây dựng phát triển và bảo vệ đất nước của mỗi nước
Trải qua hơn 30 năm thực hiện, nhất là từ khi hai nước thực hiện công cuộcđổi mới, trong tình hình hội nhập với nhiều biến động, nhiều khó khăn và tháchthức do tác động của tình hình thế giới và khu vực, nhưng với truyền thống tốtđẹp của mối quan hệ đặc biệt và dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cáchmạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam, quan hệ giữa hai nước ngày càng đượctăng cường, mở rộng và nhất định sẽ giành được những thắng lợi to lớn hơn,chất lượng và hiệu quả cao hơn, thiết thực góp phần vun đắp cho mối quan hệhữu nghị đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Lào - Việt Đó cũng là thànhquả được kết tinh từ lịch sử, từ sứ mệnh mà hai Đảng, hai dân tộc đã chung sức,chung lòng, chung vai gánh vác qua những chặng đường đầy khó khăn, gian khổcủa cuộc đấu tranh giành độc lập và giải phóng đất nước
Chủ tịch Cay xỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: “Sông có thể cạn, núi cóthể mòn nhưng tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào mãi mãi bềnvững”, “quan hệ hữu nghị đặc biệt Lào - Việt Nam mãi mãi là tài sản vô giá, là
Trang 15hành trang không thể thiếu của hai dân tộc trên con đường xây dựng, bảo vệ vàphát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệtruyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Ngườicùng đồng chí Cay xỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnhđạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp; đặt dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vàĐảng Cộng sản Việt Nam Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Namtrải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, đầy hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do,hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước, đã trở thành quy luật sống còn
và sức mạnh kỳ diệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trongđấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triểntheo định hướng xã hội chủ nghĩa Đối với nhân dân hai nước Việt Nam, Lào,quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước saunhư một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào cũng không thể chia tách được.Tính chất đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam khác căn bảnvới các quan hệ đối tác thông thường ở chỗ nó là quan hệ hợp tác toàn diện baogồm cả chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa và ưu tiên, ưu đãi cho nhau cao hơn
cả các quan hệ song phương khác Cần có một nhận thức thống nhất của cán bộ
và nhân dân hai nước về tính chất đặc biệt này Cả hai bên cần có tầm nhìn rộnghơn, toàn diện và lâu dài hơn chứ không chỉ ở các lợi ích kinh tế thuần túy vàngắn hạn
Với những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội sau hơn 20 năm tiến hànhcông cuộc đổi mới và những chuyển biến quan trọng trong quan hệ hợp tác toàndiện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong những năm qua đã tạo nên nhữngđiều kiện vật chất to lớn thúc đẩy việc tiếp tục tăng cường hợp tác toàn diện ViệtNam - Lào, Lào - Việt Nam trong giai đoạn mới
4 Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Việt Nam từ năm 1976 đến nay Ý nghĩa và tầm quan trọng của Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (được ký kết ngày 18-7-1977)
Lào-Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang hoàn toànmới: từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữahai quốc gia có độc lập chủ quyền Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đangdiễn ra như vũ bão, đẩy nhanh xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội Do đó, các nước đang phát triển trong đó có ViệtNam và Lào đều có cơ hội và điều kiện thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý,
sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ của thế giới để đẩy nhanh quá trìnhphát triển kinh tế, xây dựng đất nước…
Tuy nhiên, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hainước Việt Nam và Lào đều phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiếntranh kéo dài 30 năm, đặc biệt là hậu quả thống trị của chủ nghĩa thực dân mới.Nền kinh tế của Việt Nam và Lào về cơ bản còn hết sức lạc hậu và phụ thuộc
Trang 16nặng nề vào nước ngoài Điểm xuất phát của hai nước đều từ nền kinh tế nôngnghiệp có trình độ canh tác, năng suất và sản lượng rất thấp; tư duy lãnh đạokinh tế còn mang nặng tính tập trung bao cấp từ thời chiến… Trong khi đó, cácthế lực thù địch trong nước và bên ngoài câu kết, tìm cách chia rẽ Lào với ViệtNam, Việt Nam với Lào Chúng lợi dụng việc đầu tư vào các nước đang pháttriển để thực hiện mưu đồ làm cho các nước này phụ thuộc về kinh tế dẫn đếnphụ thuộc về chính trị Bên cạnh đó, chủ nghĩa xã hội thế giới, đặc biệt là ở Liên
Xô và các nước Đông Âu lâm vào tình trạng trì trệ, dẫn đến khủng hoảng từ thậpniên 80… gây khó khăn, trở ngại không nhỏ cho mối quan hệ giữa Việt Nam vàLào
Đây là thời kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạngLào đã trở thành Đảng cầm quyền ở mỗi nước; do vậy, cả hai nước càng có điềukiện phát huy truyền thống tốt đẹp đã từng gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranhchống kẻ thù xâm lược, xây dựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết vàhợp tác toàn diện về chính trị, quốc phòng an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục…Đây chính là đặc điểm quan trọng nhất, dẫn tới sự thay đổi về chất trong nộidung, phương thức và các nguyên tắc quan hệ giữa hai quốc gia dân tộc, nângquan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước lên tầm cao mới.Năm 1976, ngay sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Lào
và Việt Nam đã đạt được thỏa thuận quan trọng trong vòng hai tháng rút toàn bộquân đội và chuyên gia Việt Nam về nước và bắt đầu xúc tiến việc hoạch địnhbiên giới quốc gia giữa hai nước Tuy nhiên, lợi dụng cơ hội này, bọn phản độngtrong nước Lào, với sự hỗ trợ của các thế lực thù địch quốc tế, đã hoạt động nổidậy ở nhiều nơi Do vận mệnh của hai nước liên đới lẫn nhau nên mối quan tâmhàng đầu về an ninh chính trị của Lào cũng là mối quan tâm thường trực củaViệt Nam Ngày 30 tháng 4 năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao độngViệt Nam ra Nghị quyết Về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Làotrong giai đoạn mới, xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đốivới Lào là một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dânViệt Nam, cũng là vì lợi ích thiết thân của cách mạng Việt Nam
Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7 năm 1977, Đoàn đại biểu cao cấpĐảng và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm VănĐồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào Hai bên đã trao đổi ý kiến vềcác vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũng như các vấn đềnhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhândân hai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn củahai dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xãhội Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệpước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòaDân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và
ra Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước
Trang 17Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vàCộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lượclâu dài, tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâudài tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hiệpước có giá trị trong 25 năm và sẽ được mặc nhiên gia hạn thêm từng 10 năm nếumột trong hai bên không thông báo cho bên kia muốn hủy bỏ Hiệp ước ít nhất làmột năm trước khi hết hạn Hiệp ước nêu rõ: Hai bên cam kết ra sức bảo vệ vàphát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, không ngừngtăng cường tình đoàn kết và tin cậy lẫn nhau, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫnnhau về mọi mặt trên tinh thần của chủ nghĩa quốc tế vô sản và theo nguyêntắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ củanhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trongquan hệ giữa hai nước Việc ký kết hiệp ước đó còn có ý nghĩa quốc tế quantrọng, nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng giữa hai nước đang cùng hướng tớimục tiêu chủ nghĩa xã hội và phát huy ảnh hưởng tích cực trong khu vực
Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia là một biểu hiện tốt đẹp của việcgiải quyết vấn đề lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩayêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, là mẫu mực vềchính sách láng giềng hữu nghị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Thành quả mười năm hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Namrất to lớn
- Hợp tác trong lĩnh vực chính trị và đối ngoại
Mối quan hệ hợp tác về chính trị trong giai đoạn này tập trung vào nỗ lựccủa hai nước trong việc hiện thực hóa mục tiêu cùng lựa chọn: tiến lên conđường xã hội chủ nghĩa mà chưa có tiền lệ lịch sử
Việc nước Lào tự chủ giải quyết những vấn đề của Lào để ổn định và pháttriển như: giữ vững chủ quyền lãnh thổ, duy trì an ninh nội địa, bảo vệ chế độmới dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục hồi, đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sốngnhân dân, tranh thủ viện trợ nước ngoài, v.v…đã ảnh hưởng tích cực đến sự ổnđịnh và từng bước đi lên của Việt Nam Điều nổi bật là sự cố gắng tìm tòi họchỏi của các đồng chí trong Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào về kinhnghiệm và nghiên cứu lý luận của quốc tế để hoàn thiện chế độ dân chủ nhândân, tạo tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cụ thể của Lào Bảnthân đồng chí Tổng Bí thư Cayxỏn Phômvihản đã đọc đi đọc lại tác phẩm Sửađổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh để vận dụng vào công tác xây dựngĐảng ở Lào Đồng thời, đứng trước những diễn biến phức tạp của tình hình khuvực và quốc tế, Lào còn trực tiếp phối hợp với Việt Nam trên diễn đàn quốc tế,chủ động giúp Việt Nam tháo gỡ những vướng mắc trong quan hệ với các nướckhác trong khu vực…; trao đổi kinh nghiệm với Việt Nam về từng bước đổi mới
cơ chế quản lý trong nông nghiệp (trang trại), lưu thông thương mại, v.v Đồngchí Cayxỏn Phômvihản thường xuyên nhấn mạnh quan điểm lập trường trước
Trang 18sau như một ủng hộ Việt Nam của Lào: Lào vững mạnh, độc lập thì Việt Nam
“không tính thiệt hơn”
Tại các cuộc hội đàm hàng năm giữa hai Bộ Chính trị, các cuộc gặp gỡ traođổi khi có việc đột xuất giữa các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, giữa các
bộ, ban, ngành, đoàn thể Việt Nam đã góp phần giúp Lào kinh nghiệm về giảiquyết các khó khăn, giải tỏa kịp thời các vướng mắc xẩy ra, củng cố niềm tincủa Lào về thiện chí của Việt Nam Và ngược lại, sự chia sẻ của Lào với ViệtNam trên lĩnh vực an ninh chính trị, kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội đãtạo niềm tin và là sức mạnh vô giá, giúp Việt Nam bảo đảm được lợi ích trựctiếp về an ninh và phát triển ở biên giới phía Tây của mình
Việc giải quyết thành công vấn đề biên giới giữa hai nước là một thành tựunổi bật của hợp tác chính trị trong giai đoạn này Để triển khai Hiệp định hoạchđịnh biên giới quốc gia giữa hai nước (18 tháng 7 năm 1977), hai bên thỏa thuậnlấy đường biên giới mà Pháp vẽ trên bản đồ 1/100.000 của Sở Địa dư ĐôngDương làm cơ sở đối chiếu, so sánh cho việc phân chia biên giới trên thực địa
Từ ngày 25 tháng 7 năm 1978, ngày cắm mốc đầu tiên đến ngày 24 tháng 8 năm
1984, Việt Nam cùng với Lào đã cơ bản hoàn thành hệ thống quốc mốc Sau 8năm tiến hành, đến ngày 24 tháng 1 năm 1986, việc phân vạch và cắm mốc trênthực địa toàn tuyến biên giới Việt - Lào dài 2.067 km đã hoàn thành Việc phânđịnh chính thức đường biên giới quốc gia giữa hai nước thể hiện nguyên tắctrong quan hệ hai nước: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ củanhau cũng như lợi ích chính đáng của mỗi bên, phù hợp với luật pháp quốc tế vàđáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước muốn có một đường biên giới hữunghị, ổn định, hợp tác và phát triển lâu dài
Trong hợp tác đối ngoại, theo tinh thần của Hiệp ước hữu nghị và hợp tác,
Bộ trưởng Ngoại giao hai nước nhất trí phối hợp chặt chẽ về đường lối hoạtđộng đối ngoại, phát huy hiệu quả công tác đối ngoại mỗi nước và sức mạnh của
ba nước Đông Dương trên trường quốc tế, góp phần làm cho môi trường an ninhchính trị Đông Nam Á đi dần vào ổn định, thể hiện thiện chí của các nước ĐôngDương xây dựng khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển
Trên đất nước Lào lúc này, tình hình kinh tế – xã hội đang dần đi vào ổnđịnh, độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia, trật tự xã hội được giữ vững; chế độdân chủ nhân dân được bảo vệ Tuy nhiên, Lào vẫn phải đối phó với chính sáchthù địch của lực lượng phản động ở Thái Lan không ngừng dùng sức ép chínhtrị, kinh tế, quân sự đòi sửa đổi lại đường biên giới…
Trong bối cảnh đó, một sự kiện quan trọng đã diễn ra trong đời sống chínhtrị hai nước Đó là Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản
Trang 19Việt Nam (tháng 3 năm 1982) và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III củaĐảng Nhân dân cách mạng Lào (tháng 4 năm 1982) Báo cáo chính trị của Banchấp hành Trung ương hai Đảng đều khẳng định sự tất yếu khách quan phải tăngcường quan hệ đoàn kết đặc biệt, hữu nghị hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, Nhànước và nhân dân hai nước trong giai đoạn cách mạng mới.
Trong hai ngày 22 và 23 tháng 2 năm 1983, Hội nghị cấp cao ba nướcĐông Dương diễn ra tại Thủ đô Viêng Chăn, tập trung thảo luận về tình hình banước Đông Dương, tình hình quốc tế và khu vực; đề ra những nguyên tắc,phương hướng, biện pháp nhằm tăng cường đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa
ba nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của mỗi nước, tạo nhân tốquan trọng đối với hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á và thế giới; vấn đề quântình nguyện Việt Nam ở Campuchia Hội nghị đã nhất trí đề ra 4 nguyên tắc chỉđạo mối quan hệ giữa ba nước, trong đó nhấn mạnh quan hệ giữa ba nước sẽđược giải quyết bằng thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền vàtoàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vớitinh thần hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi nước và vì lợiích chung của ba dân tộc, trên tinh thần hữu nghị anh em, hoàn toàn tự nguyện,bình đẳng cùng có lợi
Tiếp đó, tại Tuyên bố chung Việt Nam - Lào năm 1985, một lần nữa khẳngđịnh quyết tâm của hai bên củng cố hơn nữa tình hữu nghị vĩ đại và tình đoànkết chiến đấu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo cách mạng hainước đã dày công vun đắp; tăng cường sự hợp tác toàn diện, nhất là trên các lĩnhvực kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật; tích cực thực hiện các thỏa thuận giữahai nước và những thỏa thuận của Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương.Tuyên bố chung cũng thể hiện nguyện vọng của nhân dân ba nước Đông Dương
và ASEAN cùng nhau giải quyết những vấn đề khu vực bằng đàm phán trên cơ
sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không canthiệp vào công việc nội bộ của nhau
- Hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh
Trên nền tảng quan hệ chặt chẽ về chính trị giữa hai nước, những năm 1976– 1985, hợp tác quốc phòng, an ninh ngày càng đi vào chiều sâu theo tinh thầnđoàn kết liên minh chiến đấu, phù hợp với tình hình mới, góp phần tích cực vàoviệc bảo đảm củng cố quốc phòng, an ninh, ổn định xây dựng của mỗi đất nước
Do tình hình phức tạp trong nước và khu vực, trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ của Lào, tháng 12 năm 1976, Bộ Chính trị Trungương Đảng Nhân dân cách mạng Lào ra quyết nghị: tiếp tục đề nghị Việt Namđưa lực lượng quân đội sang hỗ trợ quân đội Lào nhằm ổn định tình hình, ngănngừa các nguy cơ chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoàinước Trung tuần tháng 9 năm 1977, Đoàn đại biểu quân sự cấp cao nước Cộnghòa Dân chủ Nhân dân Lào do đồng chí Khăm Tày Xiphănđon, Ủy viên BộChính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Bí thưQuân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chỉ huy tối
Trang 20cao Quân đội giải phóng nhân dân Lào sang thăm và làm việc với Bộ Quốcphòng Việt Nam, hai bên đã ký Hiệp ước phòng thủngày 22 tháng 9 năm 1977.Ngày 28 tháng 6 năm 1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam ra Sắc lệnh thành lập Binh đoàn 678 trực thuộc Bộ Quốc phòng Binh đoàn
678 do Trung tướng Trần Văn Quang làm tư lệnh kiêm chính ủy, gồm ba sưđoàn bộ binh (324, 968, 337), một số phân đội binh chủng làm nhiệm vụ quốc tế
ở Lào Binh đoàn 678 có nhiệm vụ cùng Lào xây dựng nền kinh tế và nền quốcphòng toàn dân vững mạnh trong cả nước Lào, tăng cường và bảo vệ khối liênminh Việt – Lào, không ngừng củng cố và phát triển tình hữu nghị đặc biệt giữahai dân tộc
Trong hơn một năm (tháng 8 năm 1977 đến ngày 13 tháng 11 năm 1978)hoạt động phối hợp giữa lực lượng quân sự Lào với Sư đoàn bộ binh 324 là đợthoạt động giành thắng lợi lớn nhất kể từ sau năm 1975, thể hiện tính hiệp đồngtác chiến cao và chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang hai nước trên các địa bàn xungyếu, đập tan các âm mưu, ý đồ chống phá, gây bạo loạn của Mỹ và các thế lựcthù địch, thu hồi lại nhiều địa bàn quan trọng ở vùng rừng núi của Lào, nhất là ởcác tỉnh: Xiêng Khoảng, Bolikhămxay, Luổng Phạbang, Viêng Chăn, khu vựcbiên giới giáp một số tỉnh miền Trung Việt Nam (Nghệ An, Thanh Hóa, HàTĩnh…), bảo đảm được an ninh trên các trục đường giao thông chiến lược nhưcác đường 7, 9, 13… Đặc biệt, sự kiện tháng 5 năm 1985, Quân khu 4 Việt Nam
đã sử dụng tiểu đoàn 31 đặc công quân khu và một số đơn vị bộ binh cùng cácđơn vị vũ trang Lào phá tan sào huyệt phỉ lớn nhất ở Buôm Lọng, góp phần ổnđịnh tình hình an ninh của Lào
Bên cạnh việc phối hợp phòng thủ có hiệu quả, vì lợi ích của cả hai nước,Việt Nam và Lào còn đẩy mạnh hợp tác về đào tạo quân sự Chỉ tính riêng trongnăm 1984, Bộ quốc phòng Việt Nam đã cùng Lào đào tạo được 407 cán bộ,1.381 cán bộ và nhân viên kỹ thuật tại 28 trường; 32 chuyên gia thường trú ở cơquan Bộ Quốc phòng, trong đó có công tác quân sự địa phương, 350 chuyên gia
kỹ thuật về các xí nghiệp quốc phòng và các nông trường Quân khu 4 ViệtNam đã hỗ trợ phía Lào thực hiện nhiệm vụ mở cửa ra hướng đông Từ đó, cácđơn vị kinh tế thuộc Quân đội nhân dân Lào đã có bước trưởng thành và pháttriển nhanh chóng Công ty Phát triển miền núi Bộ Quốc phòng Lào từ chỗ gặpnhiều khó khăn do thiếu phương tiện, kỹ thuật đã vươn lên làm chủ tình hình,đưa Lắc Xao (Khăm Muộn) từ một vùng rừng núi hẻo lánh trở thành một trungtâm có nhiều xưởng máy, góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân.Ghi nhận những đóng góp to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam đối vớicách mạng Lào nói chung và Quân đội nhân dân Lào nói riêng, ngày 18 tháng
12 năm 1984, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Xuphanuvông đã
ký quyết định tặng Huân chương Vàng quốc gia, phần thưởng cao quý củaĐảng, Nhà nước Lào cho Quân đội nhân dân Việt Nam
Trên lĩnh vực hợp tác an ninh, thực hiện Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Lào
- Việt Nam, Bộ Nội vụ Lào đã ký Hiệp định hợp tác toàn diệnvới Bộ Nội vụViệt Nam Nội dung của Hiệp định cho phép lực lượng an ninh của hai nước, ở
Trang 21cả Trung ương và các địa phương quan hệ hợp tác, trao đổi kinh nghiệm lẫnnhau, trao đổi các đoàn đại biểu, các đoàn cán bộ lão thành
Ngày 25 tháng 12 năm 1985, Trường Trung cấp An ninh Lào được thànhlập, có nhiệm vụ tự đào tạo lực lượng an ninh Lào Trong quá trình trên, TrườngĐại học An ninh và Trường Đại học Công an Nhân dân của Việt Nam đã cửnhiều cán bộ, giảng viên sang Lào chuyển giao kiến thức cho cán bộ, học viênLào Nhờ đó, hàng năm Lào đã đào tạo được một lực lượng lớn cán bộ, chiến sĩlàm công tác an ninh, đáp ứng yêu cầu của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổquốc Lào Thực tế cho thấy an ninh quốc phòng của hai nước gắn bó chặt chẽvới nhau như thế nào, Việt Nam có ổn định thì Lào mới có ổn định và ngược lại,Lào có ổn định thì Việt Nam cũng mới có ổn định Cũng như vậy, Việt Nam cóphát triển thì Lào mới mạnh lên được và ngược lại Lào có phát triển thì ViệtNam cũng mới mạnh lên được Điều đó có nghĩa là Việt Nam và Lào phải cùng
ổn định và phải cùng vững mạnh, đó là một quy luật được chứng minh từ sựphát triển của quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam hơn
70 năm qua
- Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật
Đây là giai đoạn Lào từng bước thử nghiệm cơ chế quản lý kinh tế mới ởmột số cơ sở quốc doanh, chuyển từ nền kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên sangkinh tế sản xuất hàng hoá, khuyến khích sản xuất, lưu thông, xây dựng kinh tếthị trường có sự điều tiết của Nhà nước Việt Nam cũng đang trong quá trìnhtừng bước nghiên cứu, khảo nghiệm để đổi mới cơ chế quản lý từ quan liêu baocấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; thực hiện khoán trong nôngnghiệp; giao quyền tự chủ cho doanh nghiệp công nghiệp nhằm giải quyếtnhững khó khăn về kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, tiếp tục tìm conđường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm của dân tộc Việt Nam và xuthế chung của thế giới
Ngay từ năm 1983, khi tình hình chính trị, kinh tế - xã hội hai nước bướcđầu ổn định, công cuộc khôi phục kinh tế căn bản hoàn thành, hai nước chuyểnsang nhiệm vụ trọng tâm là phát triển sản xuất và kinh tế Quan hệ hợp tác kinh
tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước dần thay đổi: từ viện trợ khônghoàn lại và cho vay là chủ yếu sang giảm dần viện trợ và cho vay, bước đầu đẩymạnh hợp tác sản xuất kinh doanh bình đẳng cùng có lợi Thời gian này, Lào đề
ra công thức hợp tác: Tài nguyên Lào, lao động kỹ thuật Việt Nam, vốn hợp táchoặc vay của nước thứ ba Trong hợp tác đã chuyển dần từ hợp tác từng vụ việctheo yêu cầu của Đảng và Nhà nước Lào sang hợp tác theo chương trình, kếhoạch được ký kết giữa hai Chính phủ Đồng thời, hai bên giúp nhau phát huykhả năng và tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước để giải quyết những nhu cầu cấpbách về đời sống và sản xuất Đây là những định hướng phù hợp với điều kiệnhai nước trong những năm đầu chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế
Quan hệ hợp tác thương mại: Trước năm 1975, Việt Nam và Lào có hiệpđịnh trao đổi thương mại nhưng mới chỉ dừng lại ở quy định một số nguyên tắc,thể lệ và danh mục chung, không quy định kim ngạch Trao đổi chủ yếu diễn ra
Trang 22giữa các địa phương và các tỉnh của Việt Nam với vùng giải phóng Lào Từ
1976 – 1981, trao đổi hàng hoá chính ngạch được bắt đầu theo phương thức baocấp bằng ngân sách nhà nước mỗi bên Từ năm 1981 –1985, kim ngạch tăngnhanh hơn do Thái Lan bao vây cấm vận Lào 273 mặt hàng, nên Lào chuyểnhướng sang phía Đông Hiệp định thương mại Việt Nam - Lào 5 năm (1981 –1985) được ký kết, kèm theo nghị định thư thương mại hàng năm, đã tạo hànhlang pháp lý cho việc trao đổi buôn bán giữa hai nước Ngoài ra, Việt Nam còn
hỗ trợ Lào sử dụng các nguồn viện trợ chủ yếu từ các nước xã hội chủ nghĩa vàcác tổ chức quốc tế Từ năm 1976 đến 1985, các nước và các tổ chức này đãviện trợ không hoàn lại cho Lào 547,89 triệu rúp, 126,57 triệu USD và cho vay594,583 triệu rúp
Trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quan hệ hợp tác toàn diệngiữa hai nước đã từng bước thay đổi cả nội dung và phương thức hợp tác chophù hợp với tình hình mới Tuy nhiên, quan hệ hợp tác giai đoạn này cơ bản dựatrên cơ sở tinh thần quốc tế vô sản, với phương thức chủ yếu là viện trợ và chovay theo cơ chế tập trung bao cấp, chưa tương xứng với yêu cầu của nhân dânhai nước và tầm cao của quan hệ chính trị giữa hai Đảng và hai Nhà nước ViệtNam và Lào
Trong lĩnh vực hợp tác văn hóa, Việt Nam và Lào đều nhận thức sâu sắc ýnghĩa đặc biệt quan trọng và thiết thân của công việc này đối với cả hai bên.Việc quan trọng hàng đầu là hai nước hợp tác quảng bá cuộc sống mới bảo vệ vàxây dựng Tổ quốc cũng như truyền thống văn hóa tốt đẹp của mỗi nước Hàngnăm, hai bên thường xuyên lập kế hoạch giao lưu văn hoá nghệ thuật dưới cáchình thức: trao đổi đoàn biểu diễn, tổ chức sáng tác mỹ thuật, tìm hiểu về chủ đềđất nước và con người, hợp tác xuất bản, in và phát hành sách báo, văn hoáphẩm, phim ảnh Hai nước còn giúp nhau cung cấp một số thiết bị chuyên dụng
về in, điện ảnh, sân khấu, phát thanh, truyền hình, đồng thời phối hợp tuyêntruyền giáo dục nhân dân hai nước về mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào, Lào –Việt, cũng như phối hợp tuyên truyền, tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn, qua
đó tăng cường hiểu biết, gắn bó giữa nhân dân hai nước
Hợp tác giáo dục và đào tạo là nội dung quan trọng có tính chiến lược vì lợiích lâu dài của hai nước và là lĩnh vực hợp tác thành công nhất trong quan hệhợp tác Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Sự hợp tác trong lĩnh vực giáo dụcthời kỳ này của hai nước thể hiện tinh thần giúp đỡ lẫn nhau nhằm đáp ứng yêucầu cấp bách của những năm mới giải phóng Hàng năm, Bộ Giáo dục hai nướcđều ký kết các văn bản hợp tác và Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục của ba nướcLào, Campuchia, Việt Nam được tổ chức lần lượt tại Hà Nội và Viêng Chăn.Hàng loạt hệ thống trường lớp ở Lào với sự giúp đỡ của Việt Nam như: cáctrường phổ thông, trung cấp sư phạm, Đại học sư phạm Viêng Chăn đã được xâydựng Lưu học sinh Lào, chủ yếu là sinh viên đại học, thực tập sinh, nghiên cứusinh trên đại học có mặt ở 36 trường đại học, cao đẳng và trung học chuyênnghiệp ở Việt Nam Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn tiếp tục đào tạo một số học sinhphổ thông cho Lào Riêng "Trường Bổ túc hữu nghị Việt - Lào" thành lập từnăm 1980, có nhiệm vụ đào tạo con em nhân dân các bộ tộc Lào gửi sang học từ
Trang 23phổ thông cơ sở đến phổ thông trung học Năm 1980 – 1981 có 191 học sinhLào tốt nghiệp cấp III (đạt 100%) Số lượng học sinh Lào được đào tạo tại ViệtNam ở các loại trường kể cả phổ thông, trung học chuyên nghiệp, đại học cácngành kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, an ninh thời kỳ này rất đông, chiếmkhoảng 50% số người được gửi ra nước ngoài Niên khóa 1983 – 1984 có 206học sinh tốt nghiệp cấp II, III (100%); 1985 – 1986 có gần 200 học sinh tốtnghiệp, trong đó 95% tốt nghiệp cấp III và 70% đạt loại khá, giỏi Kết quả này là
sự nỗ lực cao độ của cả hai phía, đã góp phần thanh toán nạn mù chữ, nâng caomột bước trình độ dân trí, hình thành đội ngũ cán bộ trí thức, đặt nền móng khoahọc – kỹ thuật cho sự phát triển của đất nước Lào Trong 6 năm, kể từ khi hainước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, trung bình mỗi năm Việt Nam cử 900chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau sang hợp tác với Lào và đã đào tạo choLào 1/2 số cán bộ của Lào được đào tạo ở nước ngoài Từ năm 1976 đến năm
1985, Việt Nam cử 5.957 chuyên gia các lĩnh vực sang hợp tác với Lào
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ lý luậnchính trị của Đảng được coi là một nhiệm vụ chiến lược cơ bản thường xuyêncủa Đảng, Nhà nước của cả hai nước Đào tạo cán bộ chủ chốt cho Đảng và Nhànước Lào ngày càng trở thành một lĩnh vực hợp tác quan trọng giữa hai Đảng,hai Nhà nước Việt Nam và Lào Việt Nam cử nhiều chuyên gia đầu ngành, cókinh nghiệm sang Lào xây dựng chương trình giảng dạy cho Trường Đảng caocấp của Đảng và Nhà nước Lào Từ năm 1977 – 1989, Trường Nguyễn Ái Quốc
X và Trường Nguyễn Ái Quốc đặc biệt đã phối hợp cùng các cơ quan của hainước đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và chuyên môn cho khoảng 1.000 cán
bộ trung, cao cấp các ngành tuyên huấn, tổ chức, kiểm tra, phóng viên, giảngviên Trường Đảng của Lào Hợp tác giáo dục – đào tạo, phát triển nguồn nhânlực là một trong những thành tựu đặc biệt, không có nơi nào trên thế giới cóđược, đó là sự tin cậy lẫn nhau, cùng giúp nhau xây dựng, củng cố nhân tố bêntrong hết sức cần thiết cho công cuộc bảo và vệ xây dựng của mỗi nước
- Hợp tác giữa các địa phương và ngoại giao nhân dân
Đi đôi với mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhànước, các bộ, ngành Trung ương, còn có mối quan hệ kết nghĩa giữa toàn bộ cáctỉnh có chung đường biên giới cũng như các tỉnh không có chung biên giới giữahai nước với nhau như: Hà Nội – Viêng Chăn, Hà Nam Ninh – Uđômxay, VĩnhPhúc – Luổng Nặm Thà, Hà Sơn Bình – Luổng Phạbang… Các địa phương đãphối hợp chặt chẽ về trao đổi đoàn tham quan, cùng giúp đỡ, chia sẻ kinhnghiệm cũng như cùng tháo gỡ những khó khăn giữa hai nước Các Hội hữunghị Việt – Lào, Lào – Việt đã tổ chức thu thập, lưu trữ giữ gìn kỷ niệm, kỷ vậtcông tác, chiến đấu liên quan đến quan hệ Việt – Lào, Lào – Việt; động viênviệc viết sách, báo và tuyên truyền giáo dục về quan hệ Việt – Lào, Lào – Việt.Đặc biệt, cộng đồng người Việt Nam tại Lào đã có nhiều đóng góp đáng kểtrong vai trò làm cầu nối quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển quan hệđoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Uỷ ban Trung ương Mặttrận, Ban Chấp hành Trung ương Hội hữu nghị của hai nước gồm đại diện của
Trang 24các cơ quan, ban ngành ở Trung ương và đại diện các địa phương, phát triển chihội hữu nghị đến tận cấp huyện hoặc cơ sở.
Với những thành tựu to lớn đạt được sau chặng đường 10 năm (1976 –1985), thế và lực của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày càng được củng cốvững chắc Đây là lúc Việt Nam lần lượt rút hết chuyên gia thường trú, chuyểnsang chuyên gia vụ, việc ngắn hạn Sự kiện này chứng minh cho sự trưởng thànhvượt bậc của Lào và hiệu quả của những năm đầu thực hiện Hiệp ước hữu nghị
và hợp tác Việt Nam – Lào Sự trưởng thành về mọi mặt của Lào đã thể hiện sựtin cậy lẫn nhau giữa Lào và Việt Nam và hiệu quả của mối quan hệ đặc biệtgiữa hai nước, không những giúp nhau bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ mỗinước trong những năm đầu mới giải phóng mà còn giữ vững được chế độ mớidưới sự lãnh đạo của Đảng, từng bước duy trì ổn định đời sống nhân dân, tìm tòicon đường xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, không lệ thuộc nước ngoài.Đây cũng chính là cơ sở vững chắc để quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt ViệtNam – Lào, Lào – Việt Nam không ngừng được củng cố và tăng cường tronggiai đoạn đổi mới tiếp theo
5 Những kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai dân tộc Việt-Lào trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay
Quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt Việt Nam - Lào đã sớm được gâydựng, gìn giữ và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của haidân tộc chúng ta Hơn bảy thập kỷ qua, kể từ khi Ðảng CS Ðông Dương ra đời,tình hữu nghị và mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào đã được các lãnh tụ củahai dân tộc là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản trực tiếpđặt nền móng và tiếp tục được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dàycông vun đắp, trải qua bao biến cố lịch sử, vượt lên mọi chông gai, thử thách, trởthành mối quan hệ mẫu mực, thủy chung hiếm có
Cách đây 45 năm, ngày 5-9-1962 đã đánh dấu một mốc son chói lọi trongquan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai Ðảng, hai nước, hai dân tộc Việt Nam - Lào,mãi mãi khắc sâu trong tâm trí của hàng triệu người Lào, người Việt Nam, bởicũng năm này, sau những thắng lợi giòn giã trên mặt trận quân sự và ngoại giao,Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1962 về Lào đã được ký kết, hai nước đã nhất trí thiếtlập quan hệ ngoại giao, mở ra một chương mới, củng cố và phát triển hơn nữaquan hệ Việt Nam - Lào Vận mệnh của hai nước, hai dân tộc chúng ta càng gắn
bó khăng khít nhau, nhân dân hai nước đã trở thành những người bạn chiến đấu
"chia ngọt sẻ bùi", "đồng cam cộng khổ", những người đồng chí, anh em thânthiết trên cùng trận tuyến
Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, đấu tranh giảiphóng dân tộc và giành độc lập của mỗi nước, sự phối hợp, giúp đỡ vô tư, chítình giữa hai nước, hai dân tộc chúng ta là nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi
Trang 25của cách mạng mỗi nước Ðã có biết bao tấm gương chiến đấu, hy sinh của hàngtriệu người con Lào và Việt Nam, nhiều người ngã xuống, vì độc lập, tự do củamỗi nước, vì tình hữu nghị, đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào Sự hy sinh caođẹp và vô cùng to lớn đó trở thành sức mạnh vô song, nguồn động lực lớn lao,góp phần đưa cách mạng hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tiến tớigiành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975.
Quan hệ Việt Nam - Lào thật sự đặc biệt, thật sự anh em, thật sự máu thịt
"Bát cơm sẻ nửa, hạt muối cắn đôi" đã trở thành hình tượng bất tử, ngợi ca tìnhhữu nghị cao đẹp, chia sẻ sâu sắc cả về vật chất lẫn tinh thần mà nhân dân hainước chúng ta đã dành cho nhau trong những năm tháng khó khăn, gian khổnhất Sau thắng lợi năm 1975, hòa bình lập lại trên đất nước Việt Nam và Lào,quan hệ hai nước bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hòa bình, độc lập vàchung tay xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhận thức sâu sắc về ý nghĩa và tầm quantrọng của quan hệ đặc biệt đó, Chính phủ hai nước đã nhất trí ký kết Hiệp ướcHữu nghị và Hợp tác ngày 18-7-1977, một lần nữa, khẳng định tình đoàn kết đặcbiệt trước sau như một, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau để bảo vệ độc lập, chủ quyền,toàn vẹn lãnh thổ; tăng cường phối hợp hoạt động đối ngoại nhằm nâng cao vịthế của mỗi nước ở khu vực và trên trường quốc tế
Vượt qua muôn vàn khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại, bất chấp sựbao vây, cấm vận và chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhân dân hainước luôn dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn về mọi mặt trong nhữngngày đầu mới giành chính quyền cách mạng Mối quan hệ son sắt, thủy chung,trong sáng đó đã hun đúc ý chí, quyết tâm của chúng ta, tạo thành nền tảng vữngchắc, để trên chặng đường mới, nhân dân hai nước Việt Nam - Lào lại cùng kềvai sát cánh bên nhau, đẩy mạnh công cuộc xây dựng và phát triển mỗi nước,vun đắp cho quan hệ láng giềng hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào mãi mãitrường tồn
Nhìn lại chặng đường phát triển quan hệ hai nước trong 45 năm qua và 30năm ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào, chúng ta có quyền
tự hào khẳng định, tình đoàn kết đặc biệt thủy chung và sự hợp tác toàn diệnViệt Nam - Lào đã và đang tiếp tục được củng cố, đổi mới và phát triển sâu rộnghơn, góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triểncủa mỗi nước Trong từng bước tiến của hai nước, hai dân tộc hôm nay, đều có
sự đóng góp tích cực của hai bên làm cho quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào ngàycàng keo sơn, bền chặt và không ngừng đơm hoa kết trái Nội dung hợp tác ngàycàng thực chất, sâu rộng, hiệu quả hơn và không ngừng phát triển toàn diện trêntất cả các lĩnh vực
Chúng ta vui mừng nhận thấy, quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước đã cónhững bước khởi sắc Kim ngạch thương mại hai nước năm 2006 đạt 260 triệu
Trang 26USD, tăng 60% so với năm 2005 Tính đến tháng 6-2007, đã có 76 dự án đầu tưcủa các doanh nghiệp Việt Nam và Lào, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 555triệu USD Chúng ta nỗ lực phấn đấu để đến năm 2010, kim ngạch thương mạihai chiều đạt một tỷ USD Trong đầu tư trực tiếp, chúng ta đang nỗ lực, cùngnhau mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực năng lượng, khai khoáng, phát triểnnông nghiệp, dịch vụ cho tương xứng với tiềm năng và mong muốn của hainước.
Trong lĩnh vực giao thông vận tải, Việt Nam sẽ tập trung hỗ trợ xây dựngcác tuyến đường nối các địa phương của Lào với các cảng biển, các trung tâmkinh tế của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để Lào mở rộng giao thương vớiquốc tế Quan hệ hợp tác về an ninh, quốc phòng, văn hóa, thông tin, thể thao, ytế, ngày càng được củng cố và phát triển Ðặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục -đào tạo, Việt Nam sẽ tiếp nhận nhiều hơn số học sinh, nghiên cứu sinh của Làosang học tập và nghiên cứu tại Việt Nam
Kết quả hợp tác đạt được trong những năm qua thể hiện sự nỗ lực, phấnđấu không ngừng của Chính phủ, của các bộ, ngành, các địa phương, doanhnghiệp hai nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển củamỗi nước Trên lĩnh vực đối ngoại, sự phối hợp hiệu quả và hỗ trợ nhau trên cácdiễn đàn quốc tế đã mang lại những kết quả tốt đẹp, góp phần nâng cao vị thếcủa Lào và Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế, góp phần vào việc củng
cố hòa bình, hợp tác cùng phát triển ở Ðông - Nam Á và trên thế giới
Quan hệ hữu nghị truyền thống, thủy chung, trong sáng, tình đoàn kết đặcbiệt giữa hai Ðảng, hai nước, hai dân tộc Việt Nam - Lào được tôi luyện và trảinghiệm qua những năm tháng đấu tranh gian khổ giành độc lập dân tộc của mỗinước, chia sẻ vui buồn, hoạn nạn có nhau Tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt hiếm
có đó trở thành tài sản chung thiêng liêng vô giá của hai dân tộc; có ý nghĩa đặcbiệt đối với thế hệ trẻ, bởi ở đó có sự hy sinh xương máu của lớp lớp các thế hệcán bộ, chiến sĩ, của nhân dân hai nước Việt Nam - Lào Thế hệ trẻ của hai nướchôm nay và mai sau cần phải biết trân trọng, gìn giữ và tiếp tục phát huy tài sảntinh thần đó để vun đắp, tô thắm thêm lịch sử vẻ vang của quan hệ hai nước
Là người đồng chí, anh em thân thiết của Ðảng NDCM Lào và nhân dâncác bộ tộc Lào, Ðảng CS Việt Nam và nhân dân Việt Nam vô cùng tự hào, phấnkhởi nhận thấy, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của ÐảngNDCM Lào, nhân dân các bộ tộc Lào anh em đã phát huy truyền thống anhhùng, quật cường của đất nước Triệu Voi, vượt qua mọi khó khăn, thử thách,giành thắng lợi to lớn về mọi mặt, ngày càng nâng cao vai trò và vị thế của Lào
ở khu vực và trên thế giới Ðảng CS Việt Nam và nhân dân Việt Nam chia vuivới Ðảng NDCM Lào và nhân dân các bộ tộc Lào anh em về những thắng lợi vẻvang đó và chân thành chúc nhân dân các bộ tộc Lào anh em, dưới sự lãnh đạo
Trang 27của Ðảng NDCM Lào, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước ChummalySaynhasone kính mến, tiếp tục giành được những thành tựu to lớn hơn nữa, thựchiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội lần thứ VIII của Ðảng NDCM Lào và mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2020, xây dựng thành công đấtnước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và phồn vinh.
Dưới sự lãnh đạo của Ðảng CS Việt Nam, sau hơn 20 năm tiến hành côngcuộc đổi mới, nhân dân Việt Nam đã giành được những thành tựu to lớn và có ýnghĩa lịch sử Kinh tế - xã hội phát triển với nhịp độ cao, đời sống của nhân dânđược cải thiện rõ rệt, quốc phòng, an ninh được giữ vững, vị thế của Việt Namtrong khu vực và trên thế giới đang ngày càng được nâng cao Phát huy nhữngthành tựu đó, nhân dân Việt Nam đang ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghịquyết Ðại hội Ðảng lần thứ X, hướng tới mục tiêu năm 2020 đưa Việt Nam cơbản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thực hiện "dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"
Ðạt được những thành tựu to lớn hôm nay, Ðảng, Nhà nước và nhân dânViệt Nam luôn luôn nhận thức sâu sắc rằng, mỗi thắng lợi của cách mạng ViệtNam trước đây cũng như hiện nay và mãi mãi sau này, đều in đậm dấu ấn về sự
sẻ chia, ủng hộ hết lòng và sự giúp đỡ quý báu của Ðảng, Nhà nước và nhân dâncác bộ tộc Lào anh em Nhân dịp ngày lễ kỷ niệm trọng đại này, chúng tôi xingửi đến Ðảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào anh em lòng biết ơn chânthành và sâu sắc nhất của Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam về sự ủng hộchí tình và sự giúp đỡ to lớn đó
Trong bối cảnh tình hình mới hiện nay, trước những thời cơ và thách thứcđối với cả hai nước, hơn bao giờ hết, chúng ta lại càng cần phải tăng cường vàcủng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, thủy chung trongsáng đã được đúc kết trong câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu:
"Việt - Lào hai nước chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long"
Trên tinh thần đó, hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước chúng taquyết tâm cùng nhau mãi mãi duy trì và phát triển mối quan hệ thủy chung,trong sáng - tài sản vô giá của hai dân tộc cho muôn đời con cháu mai sau, nhưlời Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản từng nói "Núi có thể mòn, sông có thể cạn,song tình nghĩa Lào - Việt sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông"
6 Những biểu hiện sinh động của mối quan hệ đoàn kết, gắn bó thủy chung, son sắt của hai dân tộc Việt Nam -Lào dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước từ khi thiết lập mói quan hệ hợp tác và hữu nghị đến nay.
7 Những kinh nghiệm quý báu về việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào
Trang 28Từ khi bị thực dân Pháp xâm lược và thiết lập chế độ thuộc địa tại ViệtNam và Lào, nhân dân hai nước đã giúp đỡ nhau chống kẻ thù chung tại một sốvùng và một số cuộc khởi nghĩa; chưa xuất hiện lý luận dẫn đường và cơ quanlãnh đạo quan hệ đoàn kết của hai dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Chính phủ Lào IssaraSouphanouvong tại chiến khu Việt Bắc (Việt Nam) năm 1951
Với trách nhiệm cao đối với cách mạng Đông Dương và năng lực sáng tạo
lý luận cách mạng kiệt xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất những quan điểm cơbản về cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, Campuchia, Lào, bao hàm cảnội dung quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào Đó là cách mạng của các dân tộc ởĐông Dương được tiến hành theo quan điểm cách mạng triệt để, giải phóng dântộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người Sức mạnh tạo nên thắng lợi của
sự nghiệp đó là khối đại đoàn kết nhân dân Đông Dương và sự ủng hộ, giúp đỡcủa bạn bè quốc tế Người nhấn mạnh, phải hết sức tôn trọng nguyên tắc "dântộc tự quyết", quyền độc lập, tự do của các dân tộc ở Đông Dương Và phải coiviệc Việt Nam giúp cách mạng Lào là thực hiện nghĩa vụ quốc tế, hơn thế nữa
đó là giúp bạn là mình tự giúp mình
Hai Đảng, hai dân tộc Việt Nam, Lào coi đó là nền tảng tư tưởng vàphương pháp ứng xử của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Những quanđiểm trên thể hiện rõ ràng, đúng đắn nguyên tắc dân tộc tự quyết và chủ nghĩaquốc tế trong sáng, biến những hy sinh cao cả mà hai bên dành cho nhau như là
lẽ sống bình dị Tư duy và hành động đó càng có ý nghĩa khi ngày nay trên thếgiới xuất hiện xu thế hòa bình, độc lập, dân chủ, hợp tác và phát triển, nhưngvẫn diễn ra những cuộc đấu tranh dân tộc, chiến tranh cục bộ, tranh chấp lãnhthổ, biển, đảo, tài nguyên và cạnh tranh kinh tế rất phức tạp
2 Xác định nội dung, phương thức xây dựng quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào, Lào - Việt Nam là cơ sở thực hiện các nhiệm vụ cách mạng do hai bên xáclập
-Trên cơ sở những quan điểm, nguyên tắc và phương pháp tiến hành liên minh,hợp tác giữa hai dân tộc, hai bên cùng ra sức thực hiện các nhiệm vụ cách mạng
do lãnh đạo cấp cao Việt Nam, Lào đề ra với sự cố gắng cao nhất của mình vàthu được nhiều thắng lợi rực rỡ Tại cuộc Hội đàm giữa đại diện hai Trung ươngĐảng năm 1971, đồng chí Cayxỏn Phômvihản nói: "tuy Việt Nam có khó khănnhưng đã không tiếc gì với Lào, chính cái đó đã góp phần tăng cường đoàn kếtgiữa hai Đảng Đây là quan hệ đặc biệt trên thế giới không đâu có” Cảm ơn vàđáp lại lời nói chân tình đó của đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Lê Duẩnphát biểu: “Nhân dân Việt Nam hy sinh xương máu cho cách mạng Lào, nhândân Lào cũng hy sinh tính mạng và của cải để giúp đỡ cách mạng Việt Nam HaiĐảng, hai dân tộc chúng ta giúp đỡ lẫn nhau, nếu chỉ thấy sự giúp đỡ của mộtbên là không đúng Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viênViệt Nam hiểu rõ điều đó”
Trang 29Trong những năm tháng cùng nhau hoạt động, cán bộ và nhân dân ViệtNam, Lào luôn luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền, phong tục tập quán của nhau,tin yêu giúp đỡ nhau; thật lòng tự phê bình, phê bình để cùng tiến bộ và pháttriển nội lực của mỗi bên… Do vậy, những thành quả cách mạng của hai nướccũng in đậm giá trị cách mạng và nhân văn của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào -Việt Nam, không chỉ cho hiện tại mà cần bảo vệ, phát huy cao hơn nữa trongtương lai.
3- Tình cảm cách mạng thủy chung, trong sáng của Đảng Cộng sản ViệtNam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào là một nhân tố trọng yếu tạo nên độ bềnvững và phát triển của mối quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam
Hiện thực lịch sử cho thấy độ bền vững và phát triển của quan hệ Việt Nam
- Lào, Lào - Việt Nam chịu tác động quan trọng và trực tiếp của tình cảm thủychung, trong sáng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạngLào Tình cảm đó bắt nguồn từ đạo đức cách mạng của đảng viên, từ phẩm chấttrong sạch, và năng lực tương xứng với nhiệm vụ của người lãnh đạo và ngườiđầy tớ thật trung thành của nhân dân mà Đảng Cộng sản Việt Nam và ĐảngNhân dân cách mạng Lào cần giữ gìn và phấn đấu thực hiện như Chủ tịch HồChí Minh đã căn dặn
Trong môi trường hoạt động hiện nay của đảng viên, có nhiều thuận lợinhưng cũng đầy cám dỗ tiêu cực Tất cả đều đòi hỏi ở sự tự giác của mỗi đảngviên và sự giáo dục, kiểm tra của tổ chức Đảng, gắn liền với việc giữ vững cácnguyên tắc xây dựng Đảng và nâng cao bản lĩnh, năng lực lãnh đạo của Đảng;đồng thời cần nhận thức đầy đủ và thực hiện đúng trách nhiệm của cá nhân và tổchức trong việc bảo vệ, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - ViệtNam vì lợi ích quốc gia và quốc tế
4- Khai thác, phát huy các nhân tố, điều kiện cần thiết để xây dựng, pháttriển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Việt Nam và Lào sống bên nhau tại hai triền Đông và Tây Trường Sơnhùng vĩ, rất thuận lợi cho sự phát triển phong phú của động vật, thực vật lạiđược bổ sung bởi nhiều hang động, rừng nguyên sinh kỳ thú, thuận lợi cho dulịch Nơi đây có nhiều sông suối chảy dốc từ núi cao đổ xuống, tạo lợi thế chokhai thác thủy điện Trường Sơn còn là một tường thành vững chắc cho quândân hai nước nương tựa nhau chống giặc ngoại xâm.Về kinh tế, hai nước có thể
bổ sung cho nhau thế lợi về biển cả của Việt Nam, đường bộ của Lào đi sâu vàolục địa châu Á, cùng các nguồn tài nguyên phong phú do mỗi nước quản lý
Ngoài những điều kiện trên, hai nước Việt Nam, Lào có một ưu thế nổi trội vôcùng quý giá là quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam mà hai Đảng,hai dân tộc cần luôn luôn vun đắp, bảo vệ và phát huy trong mọi hoạt độngchính trị, tư tưởng, kinh tế, quốc phòng an ninh, ngoại giao, văn hoá, giáo dụcđào tạo nhân lực, nhân tài
Trang 308 Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam trong lịch sử của hai dân tộc và trên những chặng đường phát triển mới.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết, bền chặt, thủy chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh giành độc lập tự do và tiến bộ xã hội Mối quan hệ đó được lãnh đạo hai Đảng hai Nhà nước khẳng định là mối quan hệ đặc biệt Điều này cắt nghĩa cho việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào
- Việt Nam trong lịch sử và trên những chặng đường phát triển mới là vô cùng quan trọng.
Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là quan hệ đặc biệt quy định sựsống, còn của hai dân tộc trong lịch sử cũng như trên những chặng đường pháttriển mới.Các điều kiện tự nhiên, các yếu tố đó đặt ra yêu cầu tất yếu về sự hợptác và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai dân tộc trong lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng
và bảo vệ đất nước Trong phạm vi bán đảo Đông Dương Việt Nam nằm ở phíađông Trường Sơn như một bao lơn nhìn ra biển; Lào nằm ở sườn tây dãyTrường Sơn, lọt sâu vào đất liền của bán đảo Như vậy dãy Trường Sơn được vínhư cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việtnam và Lào Địa hình tự nhiên đã quy định hệ thống giao thông ở Việt Nam vàLào cùng chạy dài theo trục Bắc - Nam; ở Việt Nam là trục quốc lộ 1A và ở Lào
là trục quốc lộ 13 Về mặt tự nhiên bên cạnh con đường 13 nối Pạc Xê - ThànhPhố Hồ Chí Minh Lào có thể thông thương ra biển gần nhất bằng hệ thốngđường xương cá chạy ngang trên lãnh thổ hai nước đó là đường 6 Sầm Nưa –Thanh Hoá, đường 7 Xiêng Khoảng - Nghệ An, đường 8 Khăm Muộn - HàTĩnh, đường 9 Xavẳnnakhệt - Đông Hà, đường 12 Khăm Muộn - Quảng Bình
Lãnh thổ Việt Nam trải dài theo chiều dọc của bán đảo, mặt hướng ra biển đôngvới bờ biển dài 3260 km, tiếp giáp với Vịnh Bắc bộ, biển Đông và Vịnh TháiLan, có nhiều cảng biển lớn, nhất là các các biển nước sâu ở Miền Trung
Việt Nam và Lào là những nước thuộc loại “vừa” và “tương đối nhỏ” sống bêncạnh nhau chiếm vị trí địa chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á do nằm
kề con đường giao thương hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á,Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn độ Dương Về quốc phòng, bờ biểnViệt Nam ở phía Đông tương đối dài nên việc bố phòng về mặt biển gặp không
ít trở ngại Trong khi đó dựa vào địa hình hiểm trở, nhất là với dãy Trường Sơn một “lá chắn chiến tranh” hùng vĩ, một lợi thế tự nhiên che chắn cho cả ViệtNam và Lào, nên chẳng những hai nước có thể khắc phục được những điểm yếu
-“hở sườn” ở phía đông mà còn phát huy được sự cần thiết dựa lưng vào nhau tạo
ra vô vàn cách đánh của chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân bảo vệ tổquốc Nhân dân hai nước có thể lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh, giànhthắng lợi từng bước, tiến lên đánh bại mọi kẻ thù xâm lược Về quân sự, Cánhđồng Chum- Xiêng Khoảng, hay cao nguyên BôlaVên của Lào và Tây Nguyên
Trang 31của Việt Nam, vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Đông Bắc Lào đều lànhững vị trí có tầm chiến lược hàng đầu trên bán đảo Đông Dương Nhiều nhàchiến lược và quân sự cho rằng: Ai nắm được địa bàn chiến lược trên, người đó
sẽ làm chủ toàn bộ chiến trường Đông Dương Điều đó cắt nghĩa về tầm quantrọng phải giũ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Lào lên tầm cao mới
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là tài sản vô giá, là quy luậtgiành thắng lợi của hai dân tộc Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là mốiquan hệ giữa hai dân tộc cùng chung lý tưởng chiến đấu Đảng cộng sản ViệtNam - tiền thân của Đảng cộng sản Đông Dương thành lập, đánh dấu việc thiếtlập quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Việt Nam, Lào, Cao Miêntuy là ba nước nhưng đều nằm trong một xứ, đều bị thực dân Pháp thống trị và
áp bức Giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức trong ba nước muốnđánh đổ thực dân Pháp, giành lại độc lập, đánh đổ chế độ phong kiến để giảiphóng cho mình thì không thể đấu tranh riêng lẽ được Ngay sau khi hợp nhất ba
tổ chức cộng sản và lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng đã thông qua cácvăn kiện “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, “Sách lược vắn tắt của Đảng”
“Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng” “Sách lược vắn tắt” và “Chương trình tóm tắt” chứa đựng tinh thần yêu nước chân chính kết hợp với tinhthần quốc tế trong sáng, được thể hiện ở chỗ trong khi tuyên truyền khẩu hiệu
An Nam độc lập, đồng thời cũng tuyên truyền và xây dựng quan hệ đoàn kết vớicác dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới Với những văn kiện đó, nhất là
“Luận cương chánh trị” của Đảng cộng sản Đông Dương sau đó đã xác định cụthể, toàn diện về mặt lý luận cho mối quan hệ giữa phong trào cách mạng Việtnam và phong trào cách mạng Lào, đặt phong trào cách mạng Việt Nam vàphong trào cách mạng Lào với các tổ chức Đảng trong các xứ Bắc kỳ, Trung kỳ,Nam Kỳ, Ai lao, Cao Miên dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã được khẳng định tronglịch sử, in đậm những mốc son sáng chói về tình nghĩa ruột, thịt, thủy chungtrong sáng, nương tựa lẫn nhau, sống chết có nhau: Nhân dân Lào đã cùng ViệtKiều tích cực đấu tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạngViệt Nam giai đoạn 1930 – 1939 và tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũtrang giành chính quyền giai đoạn 1939 - 1945 Hợp tác giúp nhau chống thựcdân Pháp xâm lược; phối hợp đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơ ne Vơ, chốngChiến lược chiến tranh đặc biệt của Đế quốc Mỹ, thiết lập quan hệ ngoại giao(1954- 1962); phát triển liên minh chiến đấu, đánh thắng các chiến lược chiếntranh của Đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn (1973 -1975); Quan hệ đặcbiệt Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam trong giai đoạn, mở đường đổi mới (1976– 1986) Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - ViệtNam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (1986 – nay) Trong tiến trình cáchmạng đó, mỗi bước phát triển của cách mạng Lào tạo hậu thuẩn cho cách mạngViệt Nam giành thắng lợi và ngược lại thắng lợi của cách mạng Việt Nam tạođiều kiện cho cách mạng Lào phát triển Mối quan hệ đó xuẩt phát từ yêu cầukhách quan của công cuộc đấu tranh giải phóng mang bản chất quốc tế vô sản,
Trang 32mang lại hiệu quả rõ rệt Trong sự nghiệp chung, Lào và Việt Nam đã trở thànhnhững người bạn, những người đồng chí, những người anh em máu thịt, chungmột kẻ thù, chung một chiến hào đánh thực dân Pháp, đánh đế quốc Mỹ Đó làmột mối quan hệ xưa nay hiếm - một mối quan hệ láng giềng tự nhiên, có lịch sửgắn bó lâu dài, chung một dãy Trường Sơn, chung một dòng sông Mê Kông,chung một ý thức hệ Hai Đảng, hai Nhà nước không những đã đoàn kết, giúp
đỡ, tương trợ lẫn nhau chống kẻ thù chung là Pháp và Mỹ mà còn giúp đỡ nhau
có hiệu quả trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước Quan hệ đặc biệtViệt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, đầy hysinh gian khổ vì độc lập tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước
đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới những thắng lợi vĩđại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chốngthực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược; tiến hành thành công sự nghiệp đổimới đưa hai nước cùng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa
Đối với nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, quan hệ đặc biệt được coi là
lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguyhiểm đến chừng nào cũng không thể chia tách được Sinh thời, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã nêu rõ: “Việt - Lào hai nước chúng ta Tình sâu như nước Hồng Hà,Cửu Long” Chủ tịch Cayxỏn phômvihản khẳng định: “Trong lịch sử cách mạngthế giới cũng đã có những tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản,nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệtlâu dài toàn diện như vậy”
Nhìn lại lịch sử đã qua, Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng nhân dân cáchmạng Lào luôn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn, quý báu, chí tình, chí nghĩa
và có hiệu quả mà hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dành cho sựnghiệp cách mạng của nhau Những năm qua, hai bên thường xuyên tổ chức cáccuộc gặp gỡ, tiếp xúc cấp cao, duy trì cơ chế trao đổi thông tin, lý luận và kinhnghiệm thực tiễn về công cuộc đổi mới và xây dựng Đảng; hoàn thành và công
bố các sản phẩm của Công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào; hợptác đào tạo phát triển nguồn nhân lực được ưu tiên và mở rộng với nhiều hìnhthức được thực hiện từ Trung ương tới các bộ, ngành, địa phương, tổ chức,doanh nghiệp Hai bên đã ký Đề án nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tácViệt Nam – Lào trong lĩnh vực giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, giai đoạn
2011 – 2020 Những năm gần đây, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hainước tiếp tục được tăng cường; Việt Nam là nước đứng thứ hai trong số cácnước đầu tư vào Lào với 5200 cán bộ lưu học sinh Lào đang học tập tại các cơ
sở đào tạo của Việt Nam và 500 lưu học sinh Việt Nam đang học tập tại Lào.Thương mại hai chiều năm 2011 đạt 734 triệu USD, tăng 50% so với năm 2010.Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào với hơn 400 dự án,tổng vốn đầu tư trên 5 tỷ U SD Dự báo đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam sẽtăng 7 tỷ USD vào năm 2015, kim ngạch 2 chiều đạt 2-3 tỷ USD vào năm 2015
và 5 tỷ USD vào năm 2020 Trong năm 2012, hàng loạt các công trình, dự án sẽhoàn thành chào mừng Năm đoàn kết hữu nghị Việt - Lào, như Khu lưu niệm