1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình Luận văn ThS 2014

134 388 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tiễn phong trào xóa đói giảm nghèo ở các địa phương, đến năm 1998, Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo được Chính phủ phê duyệt, để lần đầu tiên xóa đói giảm ngh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

NGUYỄN THANH NGHỊ

GIẢM NGHÈO TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội - Năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

NGUYỄN THANH NGHỊ

GIẢM NGHÈO TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH

Hà Nội - Năm 2014

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO CỦA TỈNH NINH BÌNH 7

1.1 Cơ sở lý luận về giảm nghèo 7

1.1.1 Lý luận chung về đói, nghèo 7

1.1.2 Công tác giảm nghèo 20

1.2 Cơ sở thực tiễn của giảm nghèo 23

1.2.1 Chủ trương, chính sách giảm nghèo của Đảng, Chính phủ 23

1.2.2 Kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo ở Thành phố Hồ Chí Minh 27

1.2.3 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Quảng Bình 28

1.2.4 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Hải Dương 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO Ở TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2000 - 2013 31

2.1 Tổng quan chung về Ninh Binh 31

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Ninh Bình 31

2.1.2 Tình hình nghèo của Ninh Bình (Căn cứ số liệu thứ cấp tỉnh công bố) 38

2.2 Tình hình giảm nghèo ở Ninh Bình 47

2.2.1 Những chính sách, biện pháp của Ninh Bình 47

2.2.2 Nội dung và kết quả giảm nghèo của Ninh Bình 73

2.2.3 Đánh giá chung giảm nghèo ở Ninh Bình 82

Trang 4

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN GIẢM NGHÈO

TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH

NINH BÌNH 90

3.1 Thuận lợi, khó khăn trong giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình 90

3.1.1 Thuận lợi 90

3.1.2 Một số tồn tại và khó khăn 95

3.2 Phương hướng giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình 97

3.3 Giải pháp nhằm hoàn thiện giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình 98

3.3.1 Giải pháp về kinh tế 98

3.3.2 Giải pháp về xã hội 104

3.3.3 Giải pháp về thể chế 109

3.4 Một số kiến nghị 112

3.4.1 Đối với Trung ương 112

3.4.2 Đối với tỉnh Ninh Bình 113

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa Tiếng Việt

3 CNH-HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

18 UBMTTQ Ủy ban mặt trận tổ quốc

20 UNDP Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1 Khảo sát nguyên nhân nghèo của các hộ nghèo trong tỉnh Ninh Bình 39-40

3 Bảng 2.3 Nguốn vốn tín dụng cho vay đối với người nghèo ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2005 đến 2010 58

4 Bảng 2.4 Nguồn vốn tín dụng cho vay đối với người

nghèo ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2010 đến 2013

59

5 Bảng 2.5 Số lượng làng nghề, cụm làng nghề tại Ninh Bình 65

6 Bảng 2.6

Tổng hợp vốn NSNN thực hiện đầu tư CSHT thiết yếu trên địa bàn 25 xã nghèo trọng điểm giai đoạn 2011-2013

8 Bảng 2.8 Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2001-2006 89

9 Bảng 2.9 Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2006-2010 90

10 Bảng 2.10 Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2010-2013 91

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghèo, đói luôn là nỗi bất hạnh của loài người, và hiện nay vẫn còn đeo đẳng nhiều nước trên con đường phát triển Trong khi thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn về tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng vượt bậc sự giàu có của con người, thì vẫn còn nhiều người ở các nước đang và kém phát triển chịu cảnh nghèo đói Thực tế dân số

thế giới (năm 2013) có hơn 7 tỷ người, thì thường xuyên có 2,7 tỷ người sống

dưới mức 2 USD/ngày, đặc biệt có 1,2 tỷ người sống dưới mức 1 USD/ ngày

Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi đói, nghèo là một trong ba

giặc nguy hiểm nhất trong thời kỳ mới giành được độc lập (giặc đói, giặc dốt

và giặc ngoại xâm) và cần phải ưu tiên tiêu diệt Ngay từ khi thành lập nước

(tháng 9/1945), Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đến việc

trợ giúp người dân thoát khỏi đói, nghèo và coi đó là một nhiệm vụ quan trọng để ổn định và phát triển đất nước trong suốt chiều dài lịch sử hơn 60 năm qua Trải qua hai cuộc chiến tranh, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới

(năm 1986) với nhiều khó khăn, thách thức trong đó phải kể đến tình trạng

một bộ phận nhân dân liên tục bị thiếu lương thực, thiếu đói kinh niên Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã tập trung mọi nguồn lực để thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo nhằm nhanh chóng đưa nước

ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, kém phát triển

Từ thực tiễn phong trào xóa đói giảm nghèo ở các địa phương, đến năm 1998, Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo được Chính phủ phê duyệt, để lần đầu tiên xóa đói giảm nghèo trở thành một chính sách, đưa vào quá trình lập kế hoạch thường kỳ và được thực hiện như một phần của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước cũng như của các địa phương Đến cuối năm 2005, công cuộc xóa đói giảm nghèo

Trang 8

của Việt Nam đã đi qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 1998 - 2000 và 2001 - 2005 với những kết quả đáng khích lệ Thành quả xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao, coi đó là một

trong những "câu chuyện thành công nhất" trong thời kỳ đổi mới

Trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội, cùng với các địa phương khác trong cả nước, tỉnh Ninh Bình đã có nhiều cố gắng trong công tác xóa đói, giảm nghèo Kết quả là từ năm 2000 đã được công nhận là địa phương thoát đói Công tác giảm nghèo của tỉnh Ninh Bình cũng đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ theo các chương trình, nghị quyết của Tỉnh ủy và đề án

của UBND tỉnh Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 12,83% (tính đến cuối năm

2006), 10,07% (tính đến cuối năm 2007), 8,91% (cuối năm 2008), 6,88%

(cuối năm 2009), 12,39% (cuối năm 2010), 9,85% (cuối năm 2011), 7,54% (cuối năm 2012), 5,44% (cuối năm 2013) Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo trên toàn

tỉnh Ninh Bình vẫn còn cao so với một số tỉnh, địa bàn khác như TP Hồ Chí Minh, Tỉnh Hải Dương

Vậy thực tế giảm nghèo ở Ninh Bình được thực hiện như thế nào? Ninh Bình đã đạt được những thành công gì trong giảm nghèo? Và còn những hạn chế gì đang tồn tại và nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng này? Cần có giải pháp gì để Ninh Bình có thể thành công trong giảm nghèo? Đây là những vấn

đề cấp thiết cần được làm rõ để góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác giảm

nghèo của tỉnh Ninh Bình Luận văn với Đề tài: “Giảm nghèo trong quá trình

phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình” nhằm mục đích nghiên cứu đề tìm

ra câu trả lời cho các vấn đề cấp thiết trên

2 Tình hình nghiên cứu

Liên quan tới đề tài này đã có những công trình nghiên cứu sau:

“Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động để góp phần xóa đói giảm nghèo

ở nông thôn Việt Nam”, luận án Tiến sĩ của Vũ Thị Hiểu (năm 1996) đã

Trang 9

nghiên cứu thực trạng công tác xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam, phát hiện những hạn chế và đề xuất giải pháp cải thiện công tác xóa đói giảm nghèo ở nông thôn thôn qua việc sử dụng lao động một cách có hiệu quả

“Các giải pháp tín dụng đối với người nghèo ở Việt Nam hiện nay”,

luận án Tiến sĩ của Đào Văn Hùng (2001), nghiên cứu về chính sách tín dụng

trong giảm nghèo

Luận văn Thạc sĩ kinh tế: “Thực trạng và những giải pháp kinh tế chủ

yếu nhằm xóa đói giảm nghèo ở vùng định canh, định cư tỉnh Thanh Hóa”

của tác giả Đỗ Thế Hạnh (năm 1998) đã nghiên cứu các giải pháp phát triển

kinh tế ở địa phương nhằm giảm tỷ lệ nghèo đói ở vùng định cư

“Hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015”, Luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Hoa (năm 2009) đã

nghiên cứu đánh giá chính sách xóa đói giảm nghèo từ giai đoạn 2009-2013, nhằm chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của mỗi chính sách đến công cuộc giảm nghèo của Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất những định hướng cũng như giải pháp hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đến năm 2015

Luận văn Thạc sĩ kinh tế: “Xóa đói và giảm nghèo trên địa bàn tỉnh

Quảng Bình” của tác giả Trương Bảo Thanh (2002), tác giả đã nghiên cứu

các nguyên nhân gây ra nghèo đói và thực trạng về nghèo đói ở tỉnh Quảng Bình giai đoạn 1996 – 2001, từ đó đề ra các giải pháp thúc đẩy nhằm xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Quảng Bình

Nhìn chung, các công trình trên đều sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp thống kê, phương pháp phân tích định tính, các phương pháp suy luận logic dẫn giải trong quá trình phân tích Tuy nhiên, không đề cập cụ thể đến xóa đói giảm nghèo ở một tỉnh nào

Trang 10

Liên quan trực tiếp đến công tác giảm nghèo của Ninh Bình có luận văn

thạc sĩ của tác giả Bùi Mai Hoa (2009) Tác giả đã sử dụng nghiên cứu một

cách khá tổng quát công tác giảm nghèo của Ninh Bình giai đoạn từ năm

2006 đến 2009 và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện công tác giải nghèo Ninh Bình Tuy nhiên, luận văn của tác giả Bùi Mai Hoa chưa áp dụng phương pháp khảo sát điều tra thực trạng giảm nghèo ở Ninh Bình và mới nghiên cứu công tác xóa đói, giảm nghèo của Ninh Bình đến năm 2009 Từ

2009, kinh tế Việt Nam nói chung và của Ninh Bình nói riêng gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, do vậy công tác giảm nghèo của Ninh Bình cũng gặp nhiều khó khăn, nhưng chưa có công trình mới cập nhật tình hình này

Tóm lại, kết quả nghiên cứu của các công trình trên là nguồn tư liệu tham khảo tốt đối với tác giả để viết luận văn Nhưng các công trình, đề tài phần lớn chỉ tập trung nghiên cứu về giải quyết việc làm đối với người lao động trong quá trình CNH-HĐH trên phạm vi tỉnh và trong cả nước

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng giảm nghèo ở tỉnh

Ninh Bình giai đoạn 2000 - 2013 nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần cải thiện giảm nghèo của tỉnh Ninh Bình

3.2 Nhiệm vụ của luận văn:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về giảm nghèo

- Phân tích, đánh giá thực trạng giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn

Trang 11

- Đối tượng: Nghiên cứu giảm nghèo ở Ninh Bình từ góc độ kinh tế chính trị

- Về không gian: Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

ở tỉnh Ninh Bình; Luận văn sẽ nghiên cứu kinh nghiệm của TP Hồ Chí Minh,

Hải Dương và Quảng Bình (có phương pháp giải quyết giảm nghèo phù hợp

với Ninh Bình) để rút ra bài học kinh nghiệm cho Ninh Bình

- Về thời gian: Giai đoạn 2000 -2013 Từ năm 2000 tỉnh Ninh Bình đã

không còn hộ đói, nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng để nghiên cứu vấn đề dưới góc độ kinh

tế chính trị kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng

- Trong quá trình phân tích, luận văn vận dụng phương pháp khảo sát, thống kê, hệ thống, so sánh, tổng hợp báo cáo tổng kết công tác giảm nghèo và các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình để làm rõ vấn đề nghiên cứu và rút ra các kết luận cần thiết

+ Phương pháp xử lý số liệu thống kê

Việc xây dựng hệ thống bảng biểu, hệ thống chỉ tiêu, tính toán số liệu được thực hiện trên chương trình phần mềm Excel làm cơ sở cho những kết luận phục vụ mục tiêu nghiên cứu của đề tài

+ Phương pháp phân tích kinh tế

Để phân tích công tác giảm nghèo của tỉnh chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh: Dựa trên các nhóm tiêu chí đánh giá để so sánh mức sống trung bình của các hộ nghèo với các loại hộ khác, mức đầu tư cho sản xuất giữa các loại hộ và phân tích số bình quân để đánh giá khả năng thoát nghèo của các

hộ trong tương lai

Trang 12

Luận văn sử dụng cả số liệu sơ cấp và thứ cấp, trong đó:

- Số liệu thứ cấp được thu thập từ 2 nguồn

+ Niên giám thống kê của tỉnh Ninh Bình, các Nghị quyết Đại hội Đảng

bộ tỉnh Ninh Bình, các Báo cáo tổng kết hàng năm của UBND tỉnh, báo cáo của Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh, Cục Thống kê tỉnh

+ Các sách, công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học được các cơ quan có uy tín xuất bản như: Tổng cục thống kê, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Nhà xuất bản Nông nghiệp

6 Những đóng góp của luận văn

- Đánh giá được thực trạng giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế

- xã hội ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000-2013 làm rõ những thành tựu đã đạt được và chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thành được mục tiêu đề

ra cho giảm nghèo ở Ninh Bình đến năm 2015

Trang 13

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

GIẢM NGHÈO CỦA TỈNH NINH BÌNH

1.1 Cơ sở lý luận về giảm nghèo

1.1.1 Lý luận chung về đói, nghèo

1.1.1.1 Quan niệm và nguyên nhân đói, nghèo

Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực

Châu Á - Thái Bình Dương do (ESCAP) tổ chức ở Băng Cốc, Thái Lan vào

tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao về khái niệm nghèo đói như sau:

Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình

độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận

Ở khái niệm về nghèo khổ trên, cần xem xét ba vấn đề sau:

(i) Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn ở, mặc, y tế, giáo dục,

văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội

(ii) Nghèo khổ thay đổi theo thời gian: Thước đo nghèo khổ sẽ thay đổi

theo thời gian, kinh tế càng phát triển, thì nhu cầu cơ bản của con người cũng

sẽ thay đổi theo và có xu hướng ngày một cao hơn

(iii) Nghèo khổ thay đổi theo không gian: Thông qua định nghĩa này đã

chỉ cho chúng ta thấy rằng hiện tại thì chưa nhưng trong tương lai sẽ có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế -

xã hội của các quốc gia, từng vùng Xu hướng chung là các nước đang phát triển ngưỡng đo nghèo đói ngày càng cao

Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

Trang 14

Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng

và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về

ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục )

Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới

mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định

Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ

yếu của người nghèo là: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức

tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng;

thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng

Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư không

được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết là ăn, mặc, ở

Nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận

dân cư khi so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng địa phương trong

một thời kỳ nhất định Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo

tương đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắn khoảng

cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, giảm thiểu

tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối

Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn

cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong Chiến lược toàn diện về

tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo năm 2010, Việt Nam thừa nhận định

nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á -

Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993

Đồng thời vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ

khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, do đó bên cạnh khái niệm

nghèo đói, ở nước ta còn có một số khái niệm sau:

Đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới

mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì

Trang 15

cuộc sống Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cộng đồng

Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học

hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ, rách nát

Hộ nghèo: Là hộ đói ăn không đủ bữa, mặc không đủ lành, không đủ

ấm, không có khả năng phát triển sản xuất

Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những

cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao

Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng nằm ở những khu vực khó khăn

hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao

Như vậy, đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện

như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm

bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến,

ít được tham gia vào quá trình ra quyết định Qua nghiên cứu chúng ta nhận

thấy đói nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế; nhưng với tư cách là hiện tượng tồn tại phổ biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển, đói nghèo thực chất là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, chứ không thuần túy chỉ là vấn đề kinh tế cho dù các tiêu chí đánh giá của nó trước hết và chủ yếu dựa trên các tiêu chí về kinh tế Vì vậy, khi nghiên cứu những tác động ảnh hưởng đến thực trạng, xu hướng, cách thức giải quyết vấn đề đói nghèo cần phải đánh giá những tác động của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng có như vậy mới đề ra được các giải pháp đồng bộ cho công tác xoá đói, giảm nghèo ở nước ta

1.1.1.2 Phương pháp và tiêu chí đánh giá đó i, nghèo

Đối với Việt Nam, dù là trong ký ức của người dân hay trong các tài liệu của chính phủ trước đây, quan niệm về cái nghèo chưa bao giờ được coi

Trang 16

đơn thuần là vấn đề thu nhập vật chất Cái nghèo ở đây luôn hàm chứa cả sự nghèo nàn về đạo đức, học vấn, truyền thống…

Tuy nhiên, hiện nay khi nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị

trường với sự gia tăng các nguồn viện trợ từ nước ngoài (kể cả chính phủ và

phi chính phủ) thì những khái niệm về giàu nghèo dựa trên thu nhập hiện

đang được chính phủ và nhân dân sử dụng ngày càng nhiều, để xác định ai

Hộ nghèo là hộ có thu nhập như sau:

+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng

+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng

+ Thành thị: dưới 25kg/người/tháng

* Giai đoạn 1997 - 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH)

Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng

Hộ nghèo là hộ có thu nhập như sau:

+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng

+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng

+ Thành thị: dưới 25kg/người/tháng

Trang 17

* Giai đoạn 2001 - 2005 (Quyết định số 1143/2000/QĐ - LĐTBXH)

+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80.000 đ/người/tháng

+ Vùng nông thôn đồng bằng: dưới 100.000 đ/người/tháng

Khu vực thành thị chuẩn nghèo mới cao gấp 1,73 lần chuẩn nghèo cũ và tương đương với 2,8 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005

Khu vực nông thôn đồng bằng chuẩn nghèo mới cao gấp 2 lần chuẩn nghèo cũ; khu vực nông thôn miền núi chuẩn nghèo mới cao gấp 2,5 lần và tương đương với 2,2 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005

Phương pháp xác định chuẩn nghèo: có 2 phương pháp xác định chuẩn nghèo

* Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chi tiêu

Đây là phương pháp do các chuyên gia Ngân hàng thế giới (WB) khởi

xướng và cũng là phương pháp được nhiều quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế công nhận và sử dụng trong việc xác định chuẩn nghèo ở cấp quốc gia hoặc sử dụng trong các dự án lớn Nội dung cơ bản của phương pháp này là

Trang 18

dựa vào nhu cầu chi tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người về ăn,

ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội

Bước một là xác định nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm

(nhu cầu ăn uống để tồn tại) Để xác định được nhu cầu này người ta xác

định rổ hàng hoá để bình quân hàng ngày một người có được 2.100Kcal, rổ

hàng hoá khoảng 40 mặt hàng (Rổ hàng hoá tính cho Việt Nam cũng 40

mặt hàng và xếp thành 16 nhóm hàng hoá: gạo các loại; lương thực khác quy gạo; thịt các loại; mỡ, dầu ăn; tôm cá; trứng gia cầm các loại; đậu phụ; đường, mật, sữa, bánh kẹo mứt; nước mắm, nước chấm; chè, cà phê; rượu, bia; đồ uống khác; đỗ các loại; lạc, vừng; rau các loại; quả chín); từ

rổ hàng hoá này người ta xác định được số tiền cần thiết chi tiêu cho lương thực thực phẩm Tuy nhiên, giá cả của rổ hàng hoá ở thành thị, nông thôn

và các vùng rất khác nhau, vì vậy người ta phải lấy giá trị trung bình của rổ hàng hoá này

Bước hai là xác định nhu cầu chi tiêu lương thực thực phẩm (7 nhu cầu

cơ bản còn lại) Thông thường chi cho lương thực, thực phẩm chung của dân

cư chiếm khoảng 60% tổng chi tiêu, còn 40% là nhu cầu phi lương thực thực phẩm Đối với nhóm giàu tỷ lệ tương ứng là 50% và 50%; đối với nhóm nghèo 70% chi tiêu cho nhu cầu lương thực, thực phẩm, còn 30% chi tiêu cho

phi lương thực, thực phẩm (ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp

xã hội)

Bước ba là xác định tổng nhu cầu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm

(LTTP) và phi lương thực, thực phẩm

Tổng chi tiêu = chi tiêu cho LTTP + chi tiêu cho phi LTTP

Giá trị bằng tiền của tổng chi tiêu được gọi là đường nghèo chung hay còn gọi là chuẩn nghèo cao

Trang 19

Giá trị bằng tiền của chi tiêu cho lương thực, thực phẩm là đường nghèo lương thực, thực phẩm hay còn gọi là chuẩn nghèo thấp

Cũng bằng phương pháp trên, theo Tổng cục Thống kê đã chuyển từ mức chi tiêu sang mức thu nhập để mọi người dễ hiểu và thuận lợi hơn cho việc điều tra khảo sát và tính toán tỷ lệ nghèo đói Những người có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo chung được xếp vào nhóm người nghèo, còn những ai

có thu nhập thấp hơn mức chi tiêu cho lương thực, thực phẩm (đường nghèo

LTTP) thì được xếp vào nghèo về LTTP

Một điều đáng lưu ý là khi xác định người nghèo phải gắn chặt với tính thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình Tuy vậy tỷ lệ hộ nghèo không đồng nghĩa với tỷ lệ người nghèo, thông thường trong một quốc gia thì tỷ lệ người nghèo bao giờ cũng cao hơn tỷ lệ hộ nghèo

* Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào so sánh với thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình

Phương pháp này cũng rất khoa học và tương đối đơn giản, một số nước phát triển ở Châu Á và Mỹ đã sử dụng, họ cho rằng người nghèo là những người có thu nhập không đủ để chi phí cho lương thực, thực phẩm và các dịch vụ xã hội Do vậy, người ta xác định chuẩn nghèo bằng khoảng 1/2 thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình trong cả nước; tuy nhiên

Mỹ và Nhật Bản còn chia cụ thể cho các đối tượng khác nhau, cụ thể chuẩn nghèo vào năm 2001 ở Mỹ đối với người sống một mình, không có người ăn theo dưới 65 tuổi là 8,494 USD; đối với gia đình 9 người là 39,223 USD; đối với gia đình 4 người là 7,940 USD

Tuy nhiên có tài liệu khác do trung tâm phát triển nguồn nhân lực Châu

Á phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu dân số và Nguồn lao động, Bộ

LĐTB&XH cho rằng “Theo quan niệm chung của nhiều nước, hộ nghèo có

Trang 20

mức thu nhập thấp dưới 1/3 mức trung bình của xã hội", theo chuẩn này thì

vào năm 1993 cả thế giới có 1,1 tỷ người nghèo

Theo đề tài Phương pháp xác định chuẩn nghèo, do Bộ Thương binh

Lao động và Xã hội thực hiện năm 2005, thì việc lấy chuẩn nghèo bằng 1/2 hay 1/3 thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình là phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, song biên độ dao động của chuẩn nghèo sẽ

nằm trong 1/2 và 1/3 mức thu nhập bình quân, nước phát triển (nước giàu) thu

nhập cao, chi phí đắt đỏ có thể lấy mức 1/2, nước chậm phát triển có thể lấy mức 1/3; nước đang phát triển có thể lấy ở khoảng giữa của 1/2 và 1/3 mức thu nhập bình quân đầu người Nước ta được xếp vào nhóm nước đang phát triển, vào thời điểm năm 2002 thu nhập bình quân đầu người là 4.281 nghìn đồng, thì chuẩn nghèo là 1.875 nghìn đồng, tương đương với 156,250 nghìn đồng/người/tháng Năm 2005 ước tính thu nhập bình quân đầu người của các

hộ gia đình là 5.183 nghìn đồng/người/năm (tính theo tốc độ tăng bình quân

của thời kỳ 1998 - 2002 là 6,58% một năm) thì chuẩn nghèo là 2.159 nghìn

đồng/năm, tương đương 179,9 nghìn đồng/tháng

Công thức tính cụ thể cho Việt Nam như sau [7]:

CNj = (TNj /2 + TNj /3): 2 Trong đó: - CNj là chuẩn nghèo năm thứ j

- TNj là thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình

năm thứ j Trong trường hợp này chuẩn nghèo được lấy ở khoảng giữa của 1/2 và 1/3 thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình

Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán và nó gắn rất chặc với tốc độ tăng thu nhập của dân cư, ít tốn kém kinh phí vì có thể sử dụng số liệu có sẵn, các địa phương cũng tự tính được chuẩn nghèo của mình

1.1.1.3 Nguyên nhân gây nghèo

Trang 21

Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song tựu trung lại, nghèo đói ở các nước đang phát triển chủ yếu là do các nguyên nhân

cơ bản sau đây:

Thứ nhất, do người nghèo không có khả năng và cơ hội để tiếp cận

và kiểm soát các nguồn lực sản xuất

Các nguồn lực sản xuất chủ yếu hiện nay có thể kể đến như vốn, đất đai, khoa học công nghệ song tất cả những thứ đó người nghèo đói không

có hoặc rất hạn chế về khả năng tiếp cận Một số người trong số họ có thể có sức lao động, nhưng họ sẽ không thể biến sức lao động đó thành nguồn lực, nếu không tiếp cận được với các nguồn lực khác như vốn, đất đai, khoa học công nghệ, tức là họ không có việc làm

Ở một phạm vi nào đó, theo quan sát thực tiễn của các những chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, do thiếu tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực là khá phổ biến

Theo Công ty ADUKI - "Vấn đề nghèo ở Việt Nam", thì người nghèo ở Việt Nam là: "Những người không có khả năng tiếp cận hoặc kiểm soát các

nguồn lực xã hội, kinh tế và chính trị, và do đó khôngcó khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người một cách có phẩm giá" Việt Nam với

một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và 90% dân số sống ở những vùng nông thôn, thì việc tiếp cận và kiểm soát đất đai là một trong những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống Trong mấy năm trở lại đây, tuy các hộ nông dân đã được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài nhờ thực hiện Luật đất đai, nhưng trên thực tế các hộ được giao đất lại thiếu các điều kiện sản

xuất (vốn, lao động, khoa học công nghệ ), nên một số hộ đã không giữ được

đất, phải nhượng lại cho các hộ khác Mặt khác, sản xuất trên đất không mang lại hiệu quả kinh tế cao vì thiếu kiến thức và công nghệ, nên có rất nhiều

Trang 22

trường hợp, sau khi nhận được quyền sử dụng đất đã bán đi để lấy tiền, trong

đó chỉ có một số rất ít hộ dùng số tiền có được để chuyển hướng sản xuất

Một trong những nguồn lực nữa cần được chú ý hiện nay là vấn đề tín dụng Trong thực tế, xét về nhu cầu vốn, thì hầu hết số hộ nghèo ở nông thôn đều cần vốn Do thiếu nguồn vốn đủ lớn nên không tiếp cận được với công nghệ hiện đại, do đó không tăng được năng suất lao động, đặc biệt là thiếu vốn để mở mang ngành nghề cũng như mở mang chăn nuôi, vì vậy họ khó có thể thoát khỏi đói nghèo trong khi tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai lại đang

bị thu hẹp dần Do tất cả những nguyên nhân đó mà thu nhập của người lao động ở nông thôn trở nên quá thấp, phần lớn không có lích lũy Mặc dù hầu hết các địa phương đã thành lập quỹ XĐGN, nhưng trên thực tế cũng chỉ đáp ứng được một phần số hộ nghèo vay vốn

Thứ hai, do dân số tăng nhanh

Hiện các nước đang phát triển đang đóng góp lớn nhất vào phần tăng thêm của dân số thế giới Trong suốt thập kỷ 90, phần đóng góp của các nước đang phát triển vào số lượng người tăng thêm chiếm tới 93 - 95% Nói cách khác, dân số thế giới tăng lên nhanh là do các nước đang phát triển quyết định Hiện tại châu Á chiếm 60% số dân cả thế giới, châu Phi

là 12% Sự tăng dân số rất khác nhau ở các khu vực trên thế giới đã làm thay đổi cơ cấu tuổi của dân số Một bộ phận dân số quá trẻ, trong đã một bộ phận tại các nước công nghiệp già đi nhanh chóng Dân số tăng nhanh ở các nước đang phát triển dẫn đến thu nhập bình quân đầu người giảm, đồng thời tạo ra

áp lực rất gay gắt về việc làm và làm nhức nhối những vấn đề xã hội Nghèo đói ở các nước công nghiệp phát triển chủ yếu do thất nghiệp gây ra Còn nghèo đói ở các nước đang phát triển do rất nhiều nguyên nhân, trong đã có nguyên nhân trực tiếp là dân số tăng nhanh Trên thế giới không có nơi đâu có

Trang 23

tỷ lệ tăng dân số cao mà vẫn giảm được tỷ lệ nghèo đói Do đó, các nước đang phát triển chỉ có thể giảm nghèo đói bằng cách giảm tỷ lệ sinh

Rơnê Đuy Mông trong "Một thế giới không thể chấp nhận được" đã

cảnh báo các nước đang phát triển về sự bùng nổ dân số, về sự luẩn quẩn giữa

đói nghèo - lạc hậu - dân số tăng nhanh Theo ông thì: " Chính nhà nước

phải có trách nhiệm đối với cộng đồng là đánh giá tài nguyên của mình về đất, nước, và khoáng sản, và khoảng không gian còn rỗi rãi, những hy vọng tiến bộ thật sự và đã đưa ra những tỷ lệ hợp lý về tăng số dân để bảo đảm cho mỗi người một cuộc sống kha khá hơn là để một ngày nào đó lại phải dùng những biện pháp cưỡng bức"

Thứ ba, do trình độ giáo dục thấp

Số dân đông, lại nghèo đói, do đó ngân sách chi cho giáo dục và y tế thấp

đã là lôgic vận động của hiện thực Khi mức chi cho giáo dục và y tế thấp cộng thêm thu nhập thấp tại các nước nghèo thì chỉ số phát triển nhân lực luôn ở cuối bảng xếp hạng của UNDP Cố nhiên, những tiêu thức vô lượng không thể phản ánh đầy đủ cả về chất của sự vật, song trên giác độ của vấn đói nghèo, đói thì lượng lại phản ánh đúng bản chất của vấn đề Vì ở các nước này luôn diễn ra tình trạng thiếu các chuyên gia đầu ngành, thiếu lao động lành nghề cả kỹ thuật, trình độ khoa học công nghệ lạc hậu, do đó sẽ dẫn đến năng suất lao động thấp và cứ như vậy cái vòng luẩn quẩn của đói, nghèo sẽ kìm hãm sự mở rộng phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo và do đã kìm hãm sự phát triển kinh tế, tiến

bộ xã hội Do đó, tạo ra được đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao là mục tiêu quan trọng của các nước nghèo Thế nhưng tình trạng di chuyển lao động lành nghề, lao động có học vấn tại các nước đang phát triển sang các nước công nghiệp phát triển lại là dòng chảy không dứt Vấn đề này đã gây thiệt hại rất lớn cho các nước đang phát triển Hiện nay Hoa Kỳ đang là nước được hưởng lợi nhiều nhất, vì họ không mất đi một khoản chi phí đào tạo mà

Trang 24

họ lại đang thu hút được đội ngũ công nhân lành nghề từ châu Á, châu Phi và

Mỹ la tinh chuyển đến Đó là một nghịch lý của sự phát triển của thế giới hiện đại, song nó lại tuân thủ đúng các quy luật của thị trường lao động

Thứ tư, do viện trợ không đến tay người nghèo và sử dụng không đúng mục đích

Trong thực tế, ở các nước đang phát triển hiện nay có nhiều khoản viện trợ cho phát triển mà chủ yếu là đầu tư phát triển nhân lực đã không đến được tay người nghèo Một phần bị rơi rụng dần và phần còn lại rất lớn lại được sử dụng không đúng mục đích, nên hiệu quả của những nguồn viện trợ rất thấp

Qua những nguyên nhân gây nên nghèo ở các nước đang phát triển vừa nêu, ta thấy nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân kinh tế

Do đó, việc giảm nghèo ở đây trước hết được hiểu như là sự hỗ trợ phát triển của nhà nước và cộng đồng để nâng cao đời sống dân cư, xóa bỏ tình trạng còn tồn tại các hộ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu như cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có tiền chữa trị, nhà ở bằng tranh tre vách đất, nhằm duy trì cuộc sống bình thường Từ đó giúp họ vượt qua tình trạng đói khổ triền miên để đi tới sự phát triển

Giảm nghèo tức là tạo điều kiện cho bộ phận dân cư nghèo tiếp cận được với các nguồn lực cần thiết để họ tự nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống làm cho mức sống chung của toàn bộ cộng đồng được nâng lên

Giảm nghèo còn được hiểu là quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng và

sự nỗ lực vươn lên của bản thân các hộ nghèo Ở khía cạnh khác, giảm nghèo

Trang 25

là chuyển từ tình trạng người nghèo có một ít sự lựa chọn sang tình trạng có nhiều sự lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người

Như vậy, có thể nói một cách khái quát, xóa đói, giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp các hộ đói nghèo có khả năng và cơ hội để tiếp cận với các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh chóng, trên cơ sở đã họ có nhiều sự lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát ra khỏi cảnh nghèo đói

Giảm nghèo còn gắn với trung lưu hóa một bộ phận dân cư, khuyến khích và tạo điều kiện cho một bộ phận dân cư biết vươn lên làm giàu chính đáng trong khuôn khổ pháp luật cho phép

Trước đây, ở thời kỳ chưa đổi mới, trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, nghèo đói đó dường như không được nhìn nhận như một thực tế

xã hội, bởi quan niệm cho rằng: Trong chủ nghĩa xã hội không thể có nghèo đói Nó chỉ có trong chủ nghĩa tư bản, do sự phân phối bất hợp lý thu nhập của xã hội tạo ra Do đó, cách nhìn nhận, đánh giá nghèo đói ở đây có phần méo mó thiếu khách quan và không khoa học

Với một nền kinh tế còn kém phát triển, thì nghèo là một vấn đề đương nhiên, tuy nhiên trước đây chúng ta đã không nhìn nhận đúng như nó vốn có,

do đó đã để lại hậu quả xã hội không nhỏ mà không được cảnh báo Vì ở nền kinh tế hiện vật, bao cấp bình quân không có cạnh tranh kinh tế; không mở rộng thị trường; không làm nảy nở nhu cầu kinh tế; không hối thúc sự cần thiết phải tháo vát, năng động, đổi mới cách nghĩ, cách làm, không thúc đẩy phát huy tài năng cá nhân Nó chỉ thúc đẩy con người tìm cách làm sao cho mình ở vào một vị trí xã hội thuận lợi, có điều kiện thụ hưởng được nhiều sự bao cấp, sự ưu đãi của nhà nước Giàu có trong xã hội này không phải là kết quả của sự nỗ lực sản xuất kinh doanh, của năng lực sáng tạo, của sự kịp thời nắm bắt yêu cầu của thị trường Nghèo đói cũng không phải do lười biếng hoặc bị thua lỗ phá sản trong sản xuất kinh doanh, mà chủ yếu là do không có

Trang 26

"đất dụng võ", không có điều kiện và môi trường để thể hiện năng lực, tài năng

Bước sang nền kinh tế thị trường, con người buộc phải tính toán bằng giá trị và tính đủ giá trị cho mọi kết quả lao động, do đó lợi ích được chú trọng trước hết là lợi ích cá nhân Nó khách quan hóa và nâng cao một cách đáng kể vai trò của năng lực cá nhân, thúc đẩy tính tự giác và ý thức trách nhiệm đối với công việc và sản phẩm lao động Giá trị lợi ích đã thúc đẩy cạnh tranh, làm nảy nở tài năng, kích thích con người và tính chủ động, óc sáng kiến, tính linh hoạt trong các phản ứng và các hành vi đáp ứng cạnh tranh

Kinh tế thị trường mở ra nhiều khả năng và cơ hội cho con người phát triển đồng thời cũng phơi bày những yếu kém bất cập của con người trong sản xuất - kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường xóa đói, giảm nghèo luôn gắn liền với khuyến khích một bộ phận dân cư có điều kiện, khả năng vươn lên làm giàu chính đáng Đó còn là một trong những biện pháp hữu hiệu ngăn cản hiện tượng nghèo tái sinh Những người vừa thoát nghèo rất có khả năng bị rơi vào nghèo đói trở lại khi những giải pháp giảm nghèo không bền vững hoặc chỉ có tác dụng trong ngắn hạn

Giảm nghèo còn là vấn đề mang tính lịch sử Bởi nghèo vẫn tồn tại khi nền kinh tế thị trường vẫn còn chi phối và vẫn còn tồn tại sự khác biệt về năng lực thể chất, địa vị xã hội giữa các cá nhân Do đó, để giải quyết vấn đề giảm nghèo chỉ có thể từng bước giảm nghèo chứ chưa thể tiến tới xóa được nghèo Chỉ đến khi xã hội loài người đạt tới trình độ xã hội cộng sản chủ nghĩa như Mác và Ăngghen dự báo, khi đó cơ sở kinh tế xã hội của đói nghèo mới không còn tồn tại

1.1.2 Công tác giảm nghèo

1.1.2.1 Mục tiêu giảm nghèo

- Đối với phát triển kinh tế

Trang 27

+ Trong những năm tới các cấp ủy Đảng, chính quyền trên địa bàn tỉnh Ninh Bình sẽ tập trung huy động nguồn lực để thực hiện chương trình mục tiêu giảm nghèo của tỉnh trong đó:

+ Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2014 –

2015 bình quân mỗi năm giảm 2% số hộ nghèo

+ Tập trung động viên nguồn lực tại chỗ của nhân dân, các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế - xã hội tham gia đóng góp thực hiện chương trình

+ Sử dụng hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ; nguồn vốn lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án khác trên địa bàn theo quy định

+ Nguồn vốn từ các nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế

- Đối với phát triển xã hội

+ Bảo đảm các điều kiện thiết yếu về nhà ở, nước sinh hoạt, tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, đời sống văn hóa, tinh thần cho người nghèo

+ Thực hiện đồng bộ các giải pháp để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, chỉ tiêu giảm nghèo bền vững

+ Gắn các mục tiêu giảm nghèo với tiêu chí xây dựng nông thôn mới, với các chính sách an sinh xã hội và chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn

+ Tập trung hỗ trợ giảm nghèo cho các đối tượng nghèo thuộc diện chính sách người có công, thực hiện tốt chính sách trợ cấp xã hội, hộ nghèo

có chủ hộ là nữ và hộ nghèo có trẻ em; tăng cường công tác phòng chống thiên tai, chủ động kịp thời cứu trợ đột xuất khi có thiên tai xảy ra

1.1.2.2 Nội dung giảm nghèo

Để thực hiện giảm nghèo bền vững cần thực hiện các nội dung sau:

- Tạo điều kiện để hộ nghèo phát triển sản xuất tăng thu nhập

Trang 28

Tăng thu nhập cho đối tượng nghèo là nội dung cần được quan tâm nhất đối với công tác giảm nghèo Để tăng thu nhập cho người nghèo phải có chính sách hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tạo điều kiện cho hộ nghèo tiếp cận các nguồn vốn, gắn với hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất…

- Tăng cường các chính sách hỗ trợ cải thiện điều kiện sống cho người nghèo

Phần lớn người nghèo thiếu vốn về điều kiện sống, gắn liền với dân trí thấp, dễ bệnh tật, ảnh hưởng đến việc tái sản xuất sức lao động Vì vậy, Nhà nước cần quan tâm và tăng cường hỗ trợ về nhà ở, điều kiện sinh hoạt; hỗ trợ

về giáo dục, y tế, hỗ trợ giúp pháp lý cho người nghèo, bảo trợ xã hội

Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm 4%, theo Nghị quyết

Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XX Bình quân mỗi năm giảm 2% hộ nghèo

Bảo đảm nguồn lực, thực hiện đầy đủ chính xác, kịp thời các chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo, người nghèo; 100 % số hộ nghèo có nhu cầu và đủ điều kiện vay vốn sản xuất được xét duyệt cho vay; 100% người nghèo, người dân tộc thiểu số được cấp phát thẻ khám chữa bệnh miễn phí; 50% người cận nghèo được hỗ trợ tham gia mua bảo hiểm y tế; 100% đối tượng bảo trợ xã hội đủ điều kiện được hưởng kinh phí chi trả trợ cấp hàng tháng và cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí; 100% đối tượng thuộc diện được hưởng chính sách miễn giảm học phí và hỗ trợ học tập được thực hiện đầy đủ; 100%

hộ nghèo được hỗ trợ tiền điện theo qui định; thực hiện tốt các chính sách khác liên quan đến hộ nghèo, người nghèo, người có thu nhập thấp

Phấn đấu số lao động nông thôn được đào tạo nghề trên 11.100 lao động/năm, trong đó lao động nghèo chiếm 30%; Phấn đấu số lượt người được chuyển giao khoa học kỹ thuật nông nghiệp bình quân 65.000 lượt người/năm

Trang 29

1.1.2.3 Tiêu chí đánh giá giảm nghèo

Việc kết hợp xoá đói, giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình được thực hiện thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về xã hội, thông qua việc thực hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội đã đem lại kết quả quan trọng trong nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, GDP hàng năm đều tăng và đạt chỉ tiêu Nghị quyết đại hội Đảng bộ đề ra

1.1.2.4 Yếu tố ảnh hưởng giảm nghèo

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua

là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn tới mức giảm nghèo

Thứ hai, sự đói nghèo, lạc hậu kém phát triển chẳng những làm cho lực

lượng sản xuất được phân bố không phát huy tác dụng, mà còn không có cơ

sở kinh tế để tồn tại và sẽ trở thành gánh nặng cho sự phát triển kinh tế của các vùng

Thứ ba, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ

trương, chính sách thực hiện xoá đói, giảm nghèo

Thứ tư, để tổ chức quản lý tốt giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội

cần nhận thức đúng, có cách nhìn biện chứng về mối quan hệ này

1.2 Cơ sở thực tiễn của giảm nghèo

1.2.1 Chủ trương, chính sách giảm nghèo của Đảng, Chính phủ

1.2.1.1 Chủ trương

Vì đói nghèo có tác động xấu tới tăng trưởng kinh tế, nảy sinh nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng, gây ra những bất ổn trong xã hội và góp phần đẩy nhanh suy thoái môi trường nên Chính phủ can thiệp để đảm bảo sự phát triển bền vững Chính phủ có vai trò to lớn đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo trong phạm vi quốc gia và trên phạm vi toàn cầu, thể hiện qua các vai trò cơ bản như sau:

- Tạo môi trường cho tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo thông qua việc

Trang 30

tạo hành lang pháp lý để kinh doanh bình đẳng, có tính cạnh tranh; tạo điều kiện về đất đai, hỗ trợ sản xuất và phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã, các trang trại và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân; thu hút đầu tư nước ngoài; cải cách hành chính, cải cách tư pháp, thực hiện tốt quản lý kinh

tế - xã hội; tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định bằng chính sách tiền tệ tích cực, hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo cân đối ngân sách vững chắc; thực hiện công bằng xã hội, thực thi dân chủ cơ sở, tăng cường các cuộc đối thoại giữa chính quyền địa phương với cộng đồng người nghèo

- Ban hành chính sách, giải pháp để phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo như: phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng nghèo tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ công; cung cấp dịch vụ y tế và giáo dục có chất lượng cho người nghèo; ổn định và nâng cao đời sống của người nghèo, của cộng đồng các dân tộc thiểu số; phát triển mạng lưới an sinh xã hội trợ giúp các nhóm yếu thế và người nghèo

- Huy động và phân bổ nguồn lực cho tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo; kêu gọi và khuyến khích sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước vào chương trình xoá đói giảm nghèo

- Tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá, tổng kết kết quả công tác xóa đói giảm nghèo

- Hợp tác quốc tế với các Chính phủ khác trong nỗ lực giảm nghèo trên phạm vi toàn cầu

1.2.1.2 Chính sách

Chính sách của Nhà nước là một trong những yếu tố quan trọng có tác động tới giảm nghèo Thực tế cho thấy tại các quốc gia có sự quan tâm lớn của Chính phủ tới người nghèo bằng các chính sách hỗ trợ có hiệu quả thì tỷ

lệ nghèo sẽ giảm nhanh Các chính sách của Nhà nước có tác động trực tiếp

Trang 31

tới giảm nghèo bao gồm:

Thứ nhất, nhóm chính sách về tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người nghèo Nhóm chính sách này bao gồm:

Chính sách cho vay tín dụng với cơ chế ưu đãi có tác dụng hỗ trợ

nguồn lực cho phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo

Chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho nông dân nghèo tại một số vùng ít

đất và không có đất sản xuất Chính sách này góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp nhằm đảm bảo an ninh lương thực cho người nghèo và tạo cơ hội cho

họ vươn lên

Chính sách khuyến nông, khuyến lâm – ngư nhằm tạo điều kiện cho

nông dân có nhiều cơ hội tiếp cận với thông tin và kỹ thuật sản xuất, phát triển thị trường, có tiềm năng cải thiện được phúc lợi cho các hộ dân ở khu vực nông thôn Dịch vụ khuyến nông của chương trình XĐGN bao gồm những hoạt động như: Đào tạo, tập huấn về kỹ thuật sản xuất cho người sản xuất; Hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất thông qua việc cung cấp đầu vào (như giống, phân bón, thuốc trừ sâu), nguyên liệu (thức ăn gia súc, thuốc thú y…)

và công nghệ sản xuất; Chiến dịch thông tin tuyên truyền sử dụng sách báo, băng video, băng đài nhằm phổ biến những kiến thức về khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm làm ăn cho người nghèo

Chính sách trợ giá, trợ cước đối với đồng bào các dân tộc miền núi, hải

đảo và ngư dân nhằm tạo điều kiện cho dân cư, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao có thể tiếp cận được với thị trường hàng hoá thiết yếu, nguyên vật liệu cơ bản cho sản xuất, tiêu thụ được sản phẩm và những nhu cầu về văn hoá tinh thần

Thứ hai, nhóm chính sách hỗ trợ thông qua cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản: Thực tiễn cho thấy, địa phương nào có chính sách đầu tư gắn với

Trang 32

giảm nghèo phù hợp, không những có thể đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH mà còn tạo điều kiện cho quá trình CNH-HĐH tiếp tục phục vụ phát triển kinh tế

- xã hội Nhóm chính sách này bao gồm:

Chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế: y tế cũng là một chính sách lớn

trong công cuộc XĐGN, nhằm giúp người nghèo tiếp cận dễ dàng hơn với việc khám chữa bệnh, đảm bảo sức khoẻ để sản xuất kinh doanh

Chính sách hỗ trợ người nghèo về giáo dục vào dạy nghề: nhằm giúp

cho người nghèo có điều kiện nâng cao trình độ văn hoá, nhận thức, có khả năng tiếp cận với nhiều nghề mới, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống Chính sách XĐGN về giáo dục, không chỉ bao gồm những nội dung về miễn giảm học phí, các khoản đóng góp khác… mà còn cả chế độ trợ cấp nuôi dưỡng, ăn, ở cho một số đối tượng đặc thù

Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở, đặc biệt đối với các trường

hợp bị rủi ro thiên tai, bão lũ mà nhà cửa bị sập, bị trôi, hư hỏng thông qua chính sách cứu trợ đột xuất, giúp một phần kinh phí để bảo đảm ổn định cuộc sống cho những đối tượng này Chủ trương hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo về nhà ở (bao gồm sửa chữa, xây mới) đã thực sự đi vào cuộc sống và được các địa phương đặc biệt quan tâm, chú trọng nhằm đảm bảo an ninh, an toàn cuộc sống cho người dân

Ngoài ra, còn phải kể đến một số chính sách, chương trình và một số hoạt động khác có nội dung hướng đến hỗ trợ người nghèo như: Chính sách

hỗ trợ nước sạch và vệ sinh môi trường, trợ giá, trợ cước giống cây lương thực, vận chuyển giống thuỷ sản đã giúp đồng bào có điều kiện nuôi trồng thuỷ sản để có nguồn thực phẩm ổn định cải thiện đời sống, nâng cao sức khoẻ dinh dưỡng cho đồng bào…

Những chính sách trên là những hình thức trợ giúp quan trọng để thúc đẩy sản xuất ở những vùng khó khăn, là biện pháp để XĐGN, góp phần giảm

Trang 33

bớt khoảng cách giữa các địa phương, vùng, miền Chúng chỉ thực sự có hiệu quả khi được thực hiện theo đúng đối tượng với sự cung ứng nguồn lực đầy

đủ Nguồn kinh phí để thực hiện chính sách giảm nghèo hiện nay được cân đối chủ yếu từ nguồn Ngân sách nhà nước Đồng thời có sự huy động các nguồn khác từ các tổ chức quốc tế, tổ chức của chính phủ, phi chính phủ và sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong nước

Nguồn kinh phí từ Ngân sách Nhà nước thường phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Đối với các quốc gia đang phát triển như nước ta hiện nay thì tốc độ tăng trưởng kinh tế có vai trò hết sức quan trọng đối với nguồn lực giảm nghèo Để đảm bảo tính bền vững của chính sách giảm nghèo thì việc chi tiêu cho y tế, giáo dục, dạy nghề, các chính sách đầu

tư phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cần phải cân đối giữa các cấp hành chính, giữa các vùng miền, giữa các ngành kinh tế

Chú trọng đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn có ý nghĩa quan trọng Ngoài việc đầu tư cho thuỷ lợi, các trục công nghiệp chính, cần đầu tư vào các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động, phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ tạo động lực tốt cho giảm nghèo Sự tập trung đầu tư vào phát triển giao thông, đường sá đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo sẽ có tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế hàng hoá ở các địa phương, vùng miền

1.2.2 Kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo ở Thành phố Hồ Chí Minh

- Thành uỷ, UBND thành phố đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, có lộ trình giảm nghèo thích hợp

- Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi xã hội

- Chương trình giảm nghèo được gắn kết chặt chẽ với Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, chương trình mục tiêu 3 giảm, chương trình phổ cập giáo dục…

Trang 34

- Bản thân nhiều người nghèo đã thực sự nỗ lực, phấn đấu kiên trì, bền

bỉ trong nhiều năm

1.2.3 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Quảng Bình

- Trên cơ sở đặt mục tiêu xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ hàng đầu và gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền địa phương, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành và toàn thể nhân dân trong công tác xóa đói, giảm nghèo

- Mỗi sở, ngành tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình xây dựng chỉ tiêu, kế hoạch cụ thể thực hiện các nội dung của chương trình xóa đói, giảm nghèo, đồng thời chủ động đề ra các giải pháp tiến hành phù hợp Tăng cường

sự theo dõi, giám sát và hướng dẫn các địa phương thực hiện Kịp thời tham mưu và kiến nghị, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách, tạo điều kiện tốt nhất để thực hiện chương trình

- Mặt trận Tổ quốc và tổ chức, đoàn thể các cấp tham gia kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu xóa đói, giảm nghèo

trên địa bàn toàn tỉnh; tiếp tục tổ chức vận động gây "Quỹ vì người nghèo" và

xã hội hóa nguồn lực xóa đói, giảm nghèo thông qua sự đóng góp của toàn xã hội

- Tăng cường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về chủ trương, chính sách liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo, đồng thời phổ biến rộng rãi những mô hình, biện pháp phát triển kinh tế hiệu quả nhằm giúp người nghèo tìm ra giải pháp xóa nghèo phù hợp với điều kiện của gia đình và bản thân

- Kịp thời khen thưởng các tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp hiệu quả cho công tác xóa đói, giảm nghèo tại địa phương nhằm động viên họ tích cực tham gia công tác này nhiều hơn, từng bước nâng cao chất lượng xã hội hóa công tác xóa đói, giảm nghèo; định kỳ tổ chức Hội nghị điển hình thoát

Trang 35

nghèo bền vững trên phạm vi toàn tỉnh, nhằm tạo không khí thi đua lành mạnh rộng khắp

1.2.4 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Hải Dương

- Tỉnh uỷ, UBND chỉ đạo quyết liệt, có nhiều chính sách cụ thể hỗ trợ người nghèo

- Làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành đối với công tác giảm nghèo

- Thứ nhất, phải tiến hành điều tra chu đáo, cặn kẽ để xây dựng được

một cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác, với những phân tích có căn cứ khoa học, thực tiễn của những vùng khác nhau Từ đó có kết luận chính xác và quy mô, tính chất, mức độ nghèo, nguyên nhân nghèo của từng vùng khác nhau Đây

là cơ sở để ra những chính sách, biện pháp giải quyết cụ thể, vừa là cơ sở để

"đo đếm" đánh giá kết quả đạt được, định ra phương hướng, giải pháp hành

động tiến trình thực hiện giảm nghèo

- Thứ hai, giảm nghèo phải luôn được coi là mục tiêu xuyên suốt trong

chiến lược phát triển, là một bộ phận quan trọng trong kế hoạch kinh tế - xã hội hàng năm của tỉnh Nhà nước ngoài nhiệm vụ đầu tư phát triển chung, tích cực hỗ trợ đầu tư giảm nghèo, phải có cơ chế, chính sách giảm nghèo rõ ràng,

cụ thể và có tính khả thi đối với từng vùng, phù hợp với các nhóm đối tượng

(Chẳng hạn, nhóm hộ nghèo do thiếu vốn sản xuất thì phải có chính sách hỗ trợ

tín dụng thích hợp, nhóm thiếu kinh nghiệm và tay nghề lao động thì phải hỗ trợ

Trang 36

đào tạo nghề, hỗ trợ giáo dục ) theo nguyên tắc: "Cho cần câu hơn cho xâu cá"

và phân cấp mạnh cho cơ sở

- Thứ ba, phải tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức của các cấp,

các ngành và người dân về công tác giảm nghèo Sao cho công cuộc giảm nghèo phải huy động được tất cả các cấp, các ngành, toàn xã hội tham gia, không ai là người ngoài cuộc, trong đó ý chí và quyết tâm của chính các hộ nghèo là nhân tố quyết định Những hộ nghèo thường hay gặp nhiều khó khăn, ít hiểu biết, không nắm được thông tin, ít được tham gia vào quá trình phát triển, ít cả cơ hội tiếp cận với các dịch vụ công Bản thân họ dễ bị mặc cảm, tự ti Do vậy, để phát huy đầy đủ nội lực trong công cuộc giảm nghèo, trước hết phải làm cho các hộ nghèo vượt qua được những mặc cảm, tự ti vốn

có của họ; bảo đảm cho họ được tham gia vào mọi hoạt động của chương trình giảm nghèo từ việc xác định đối tượng thụ hưởng đến lập kế hoạch, triển khai thực hiện ở thôn, bản, xã, quản lý nguồn nhân lực, giám sát, đánh giá

- Thứ tư, phải thấy rõ vấn đề giảm nghèo là một nhiệm vụ khó khăn,

phức tạp và lâu dài Nó liên quan đến nhiều mục tiêu cả kinh tế lẫn xã hội, liên quan đến hoạt động của nhiều ngành và các cấp chính quyền khác nhau

Vì vậy, để đạt được hiệu quả giảm nghèo phải có sự phối hợp tích cực và đồng bộ của các cấp, các ngành chức năng, các tổ chức hội, đoàn thể quần chúng; đồng thời phải có sự lồng ghép tất cả các hoạt động, các chương trình,

dự án đầu tư với mục tiêu giảm nghèo

- Thứ năm, phải làm tốt công tác tổ chức, cán bộ, củng cố, kiện toàn

Ban chỉ đạo các cấp, nhất là cấp xã là một trong những yếu tố thành công trong quá trình thực hiện Kinh nghiệm thực tế đã cho thấy, ở đâu có Ban xoá đói giảm nghèo xã mạnh thì ở đó hoạt động giảm nghèo đạt kết quả tốt

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO Ở TỈNH NINH BÌNH

GIAI ĐOẠN 2000 - 2013

2.1 Tổng quan chung về Ninh Binh

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Ninh

Trang 38

Quan Ninh Bình cách Hà Nội 93 km về phía Nam trên trục quốc lộ 1A và đường sắt xuyên suốt Bắc - Nam, cả hai trục đường ôtô và đường sắt chạy xuyên suốt Bắc - Nam đều qua đây với hai nút giao thông chính là thành phố Ninh Bình và thị xã Tam Điệp

*Về địa hình

Ninh Bình có một địa hình đa dạng, vừa có đồng bằng, đồi núi, nửa

đồi núi và vùng ven biển Về địa hình có ba vùng khá rõ: Vùng đồi núi, nửa

đồi núi với các dãy núi đá vôi, núi nhiều thạch sét, sa thạch, đồi đất đan xem

các thung lũng lòng chảo hẹp, đầm lầy, ruộng trũng ven núi, có tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là đá vôi, có nhiều tiềm năng phát triển là phát triển du

lịch; Vùng đồng bằng trung tâm là vùng đất đai màu mỡ, bãi bồi ven sông, có

nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ, và sản xuất hàng hóa xuất khẩu

*Về khí hậu

Ninh Bình thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng sông Hồng, ngoài ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam, còn chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển, khí hậu rừng núi và nửa rừng núi Thời tiết trong năm chia làm hai mùa khá rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 - 12 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ tháng 5 - 10 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,20C

Số giờ nắng trung bình mỗi tháng là 117,3 giờ Tổng nhiệt độ năm đạt tới trị

số trên 8.5000C Độ ẩm trung bình hàng năm là 83% và có sự chênh lệch không nhiều giữa các tháng trong năm: tháng 2 cao nhất là 89%, tháng 11 thấp nhất là 75%; giữa các vùng chênh lệch nhau trên dưới 1% Lượng mưa rơi trung bình toàn tỉnh đạt từ 1.860 - 1.950mm, phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của tỉnh Trung bình một năm có 125 - 127 ngày mưa Lượng mưa trung bình mỗi tháng là 238,8mm; tháng 9 cao nhất là 816mm, tháng 1 thấp nhất là 8,5mm Lượng mưa phân bổ không đều trong năm,

Trang 39

thường tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm từ 86 - 91% tổng lượng mưa trong năm

*Về đất đai

Ninh Bình có tổng diện tích đất tự nhiên là 138.910 ha, trong đó đất

cho sản xuất nông nghiệp là 61.959 ha (chiếm 44,57% diện tích tự nhiên), đất lâm nghiệp 27.644 ha (chiếm 19,89% diện tích tự nhiên), đất chuyên dùng 15.197 ha (chiếm 10,93% diện tích tự nhiên), đất khu dân cư 5.346 ha (chiếm

3,85% diện tích tự nhiên) và đất chưa sử dụng 17.094 ha (chiếm 12,3% diện tích tự nhiên) Dân số toàn tỉnh có 901.686 người với 257.088 hộ

*Về khoáng sản

Với trên 12.000 ha núi đá vôi với trữ lượng hàng chục tỷ m3 đá vôi, hàng chục triệu tấn đô-lô-mit và đất sét phân bổ rải rác ở các vùng đồi núi thấp Các loại khoáng sản này mang lại cho Ninh Bình tiềm năng to lớn về vật liệu xây dựng như sản xuất xi măng, đá xây dựng…

Ninh Bình có hệ thống suối nước khoáng có vị mặn, trữ lượng lớn, thường xuyên có nhiệt độ tới 53 - 540C, có thể đưa vào khai thác tắm ngâm

chữa bệnh kết hợp với du lịch (suối khoáng nóng Kênh Gà và Cúc Phương);

hệ thống nước khoáng có thành phần Magiêbicarbonat cao dùng để sản xuất giải khát và tắm ngâm chữa bệnh Hiện thương hiệu Nước khoáng Cúc Phương cũng đã được đông đảo người tiêu dùng chấp nhận Bên cạnh đó,

Ninh Bình còn có một số tài nguyên khoáng sản khác như: than bùn (trữ

lượng nhỏ - khoảng 2 triệu tấn), cát xây dựng, sét gốm sứ, sét xi măng…

Bên cạnh đó, Ninh Bình còn nằm gần các nguồn năng lượng lớn của quốc gia ở miền Bắc như: bể than Quảng Ninh; thủy điện Hòa Bình; nhiệt điện Phả Lại… giúp cho Ninh Bình thỏa mãn các nhu cầu về than, điện phục

vụ cho phát triển sản xuất cũng như nhu cầu dân sinh

Những đặc điểm tự nhiên trên đây cho thấy Ninh Bình có nhiều lợi

Trang 40

thế trong phát triển kinh tế để thực hiện giảm nghèo một cách vững chắc.

2.1.1.2 Quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Ninh Bình (2000-2013)

- Đặc điểm dân cư, dân tộc

Dân số Ninh Bình đến 1/4/2013 là 986.156 người, chiếm 5,07% dân số vùng đông bằng sông Hồng và gần 1,1% dân số của cả nước Mật độ dân số chung toàn tỉnh là 665 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên những năm gần đây có xu hướng giảm nhưng ở mức cao, năm 2000 là 1,042% đến năm 2006 giảm xuống còn 0,87% (mức bình quân cả nước là 1,2%) Cộng đồng các dân tộc đang sinh sống trong tỉnh đa số là dân tộc Kinh chiếm trên 98,2%; đứng thứ hai là dân tộc Mường chiếm gần 1,7%; các dân tộc như Tày, Nùng, Thái, Hoa, H'Mông, Dao… mỗi dân tộc có từ một chục đến hơn một trăm người

- Điều kiện kinh tế - xã hội

Tốc độ tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: trong những

năm qua, kinh tế Ninh Bình tương đối phát triển, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính theo giá trị so sánh 1994 năm 2000 đạt 1.937,885 tỷ đồng, năm

2006 ước đạt 3.824,448 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2000-2006 là 11,9% trong đó khu vực nông - lâm - thuỷ sản tăng 2,64% khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 21,88%, dịch vụ tăng 14,01% GDP bình quân đầu người năm 2006 đạt 6,396 triệu đồng (gấp 2,37 lần so với năm 2000), bằng khoảng 55,28% mức trung bình cả nước và 57,6% mức trung bình của toàn vùng đồng bằng sông Hồng

- Thu chi ngân sách: Tổng thu ngân sách năm 2006 là 878,594 tỷ đồng,

trong đó các khoản thu từ kinh tế trung ương trên địa bàn là 94,784 tỷ đồng, thu từ kinh tế địa phương là 783,473 tỷ đồng, thu thuế từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 0,337 tỷ đồng Trợ cấp từ Trung ương là 927,202 tỷ đồng Tổng chi ngân sách năm 2006 là 1.376,741 tỷ đồng trong đó chi cho đầu tư phát triển 505,705 tỷ đồng (chiếm 36,73%) riêng chi cho đầu tư xây

Ngày đăng: 07/07/2015, 16:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004: Nghèo, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
2. Báo cáo phát triển Thế giới năm 2004: Cải thiện dịch vụ để phục vụ người nghèo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện dịch vụ để phục vụ người nghèo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (1997), Xoá đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xoá đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 1997
4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2001) (2005), Báo cáo tổng kết việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998 – 2001, giai đoạn 2001 – 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998 – 2001, giai đoạn 2001 – 2005
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2005), Tài liệu tập huấn về công tác xoá đói giảm nghèo cho cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn về công tác xoá đói giảm nghèo cho cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2005
6. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2006), Khung Chương trình Mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khung Chương trình Mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
7. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2007), Tài liệu tham khảo “Những mô hình, kinh nghiệm giảm nghèo ở Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo “Những mô hình, kinh nghiệm giảm nghèo ở Việt Nam”
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2007
8. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tạp chí Cộng sản (2006), Tài liệu hội thảo xoá đói giảm nghèo theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo xoá đói giảm nghèo theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tạp chí Cộng sản
Năm: 2006
9. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2009), Thông tư số 06 ngày 10/2//2009 hướng dẫn xây dựng quy hoạch sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp, bố trí dân cư đối với 61 huyện nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 06 ngày 10/2//2009 hướng dẫn xây dựng quy hoạch sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp, bố trí dân cư đối với 61 huyện nghèo
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
10. Chính phủ (2008), Nghị quyết số 30a/2008/ NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 30a/2008/ NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
12. Cục thống kê tỉnh Ninh Bình (2007-2012), Số liệu thống kê các năm (2007, 2008, 2009,2010, 2011, 2012), Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê các năm (2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012)
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Ninh Bình
Nhà XB: Ninh Bình
Năm: 2007-2012
13. Dân số và phát triển: Một số vấn đề cơ bản, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và phát triển: Một số vấn đề cơ bản
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
14. Đại học Kinh tế Quốc dân (2008), Giáo trình Kinh tế phát triển, Nxb. Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2008), Giáo trình Kinh tế phát triển
Tác giả: Đại học Kinh tế Quốc dân
Nhà XB: Nxb. Lao động – xã hội
Năm: 2008
15. Đại học Kinh tế quốc dân (2008), Giáo trình an sinh xã hội, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2008), Giáo trình an sinh xã hội
Tác giả: Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Nguyễn Văn Hoà (2001), Kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2005: Giải pháp nào cho đủ mạnh?, Báo Đầu tƣ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2005: Giải pháp nào cho đủ mạnh
Tác giả: Nguyễn Văn Hoà
Năm: 2001
18. Hội đồng dân tộc Quốc hội (2005), Báo cáo số 718/BC- HDDT ngày 10/10/2005 về kết quả giám sát thực hiện chương trình phát triển kinh tế- xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu vùng xa (chương trình 135), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 718/BC- HDDT ngày 10/10/2005 về kết quả giám sát thực hiện chương trình phát triển kinh tế- xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu vùng xa (chương trình 135)
Tác giả: Hội đồng dân tộc Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
19. Trần Thị Lan Hương (2000), Tác động của phân tầng mức sống vào quá trình phát triển văn hoá nông thôn, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của phân tầng mức sống vào quá trình phát triển văn hoá nông thôn
Tác giả: Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: Nxb. Văn hoá - Thông tin
Năm: 2000
20. Ngân hàng thế giới (2007), Báo cáo phát triển Việt Nam 2007, Hướng tới tầm cao mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam 2007, Hướng tới tầm cao mới
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Năm: 2007
21. Ngân hàng Thế giới (2007), Báo cáo phát triển Việt Nam 2008, Bảo trợ xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam 2008, Bảo trợ xã hội
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ tỉnh Ninh Bình - Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS 2014
Hình 2.1 Bản đồ tỉnh Ninh Bình (Trang 37)
Bảng 2.1: Khảo sát nguyên nhân nghèo của các hộ nghèo trong tỉnh Ninh Bình - Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS 2014
Bảng 2.1 Khảo sát nguyên nhân nghèo của các hộ nghèo trong tỉnh Ninh Bình (Trang 46)
Bảng 2.3: Nguồn vốn tín dụng cho vay đối với người nghèo ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2005 đến 2010 - Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS 2014
Bảng 2.3 Nguồn vốn tín dụng cho vay đối với người nghèo ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2005 đến 2010 (Trang 60)
Hình 2.2: Quy trình xét duyệt cho vay vốn người nghèo - Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS 2014
Hình 2.2 Quy trình xét duyệt cho vay vốn người nghèo (Trang 62)
Bảng 2.5: Số lƣợng làng nghề, cụm làng nghề tại Ninh Bình - Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS 2014
Bảng 2.5 Số lƣợng làng nghề, cụm làng nghề tại Ninh Bình (Trang 67)
Bảng 2.6: Tổng hợp vốn NSNN thực hiện đầu tƣ CSHT thiết yếu trên địa bàn 25 xã nghèo - Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS 2014
Bảng 2.6 Tổng hợp vốn NSNN thực hiện đầu tƣ CSHT thiết yếu trên địa bàn 25 xã nghèo (Trang 70)
Bảng 2.7: Kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo 145 xã, phƣòng, thị trấn tỉnh Ninh Bình năm 2013 - Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS 2014
Bảng 2.7 Kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo 145 xã, phƣòng, thị trấn tỉnh Ninh Bình năm 2013 (Trang 78)
Bảng 2.8: Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2001 – 2005 - Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS 2014
Bảng 2.8 Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2001 – 2005 (Trang 91)
Bảng 2.9:  Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2006-2010 - Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS 2014
Bảng 2.9 Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2006-2010 (Trang 92)
Bảng 2.10 Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2011 - 2013 - Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS 2014
Bảng 2.10 Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2011 - 2013 (Trang 93)
Bảng 2.2: Tổng hợp kinh phí từ nguồn ngân sách tỉnh và quỹ tỉnh - Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS 2014
Bảng 2.2 Tổng hợp kinh phí từ nguồn ngân sách tỉnh và quỹ tỉnh (Trang 130)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w