ĐỀ CƯƠNG MÔN ĐỊA HOÁ MÔI TRƯỜNG Câu 1 Định nghĩa Địa hóa môi trường, đối tượng nghiên cứu của Địa hóa môi trường, nhiệm vụ chính cần nghiên cứu giải quyết của Địa hóa môi trường * Định
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN ĐỊA HOÁ MÔI TRƯỜNG Câu 1 Định nghĩa Địa hóa môi trường, đối tượng nghiên cứu của Địa hóa môi trường, nhiệm vụ chính cần nghiên cứu giải quyết của Địa hóa môi trường
* Định nghĩa: Địa hóa môi trường là một chuyên ngành của địa hóa học có chức
năng khám phá các mối tương tác phức tạp giữa các hệ đất đá-nước-không khí-sự sống, chi phối đặc tính hoá học của toàn bộ môi trường bề mặt Trái Đất
* Đối tượng nghiên cứu:
- Nguyên tố hóa học và các hợp chất của chúng trong các thành tạo bề mặt
và trong môi trường sống
- Quá trình phong hóa phân hủy các đá để tạo thành đất, sự hấp thụ các nguyên tố linh động nhờ thực vật và vật chất lại được trở lại với đất sau khi các thực vật chết di, để rồi sau đi vào chu trình “sinh địa hóa” dài ngày (bao gồm sự tương tác giữa sinh học, địa chất và hóa học)
- Chu trình sinh địa hóa cũng chỉ là một phần của chu trình địa hóa, trong đó vật chất được di chuyển từ đất liền ra biển, có thể đi vào khí quyển và sau đó lại được tái hợp vào khối lượng lục địa, trong đó phải kể đến vai trò hoạt động của con người
- Các nguyên tố di chuyển qua chu trình của chúng theo các giai đoạn từ các điểm khởi đầu với nhiều biến đổi về dạng tồn tại xảy ra trên chặng đường di chuyển
* Xuất phát từ các vấn đề môi trường hiện hữu, Địa hóa môi trường đặt ra các nghiệm vụ chính cần nghiên cứu giải quyết, đó là:
- Đánh giá đầu vào của các chất ô nhiễm,
- Xác định địa điểm, bối cảnh địa chất-địa lý của các khu vực ô nhiễm
* Xuất phát từ hai nhiệm vụ chính trên, có thể đề ra các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Đánh giá nguồn gốc các chất ô nhiễm,
- Xác định các phản ứng của các chất ô nhiễm (các chất kết tủa, hấp phụ trên các khoáng vật, phân hủy do sinh vật, phân rã phóng xạ)
- Xác định số phận và độ linh động của các chất ô nhiễm,
- Đánh giá độ nguy hiểm đến sức khỏe con người và môi trường
Để giải quyết các nhiệm vụ chính và các nhiệm vụ cụ thể kể trên, địa hóa môi trường phải gắn chặt với các vấn đề cơ bản của Địa hóa học, đồng thời phải liên kết với các chuyên ngành địa chất thủy văn và độc học
Câu 2: Thế nào là sự phá hủy tầng ozon? Nguyên nhân?
* Nguyên nhân:
- Lớp ozon mỏng manh bị phá hủy bởi chính các hoạt động của con người:
- Thủ phạm chính là các hợp chất CFC thường gọi là Freon được dung rộng rãi trong vài thập kỷ vừa qua, chủ yếu trong các dung dịch làm lạnh, làm dung môi, tạo bọt trong việc làm chất dẻo, xốp
- CFCs không độc hại có mặt ngày càng tang trong khí quyển và đi thẳng vào tầng bình lưu,tham gia vào chuỗi phản ứng hóa học sau:
Trang 2CF2Cl2 + hv = Cl + CClF2
Cl + O3 = ClO + O3
ClO + O = Cl + O2
- Hiệu ứng thực của những phản ứng này là xúc tác để phá vỡ hàng ngàn phân tử O3 bởi mỗi nguyên tử Cl được tạo ra do Cl nguyên tử là chất có tính oxy hóa rất cao
- Các chất phá hủy ozon nhiều nhất là: CFC-11 và CFC-12, CFCl3 và CF
-2Cl2 Thậm chí khi có những tác động mạnh mẽ của bức xạ tử ngoại thì các CFC3
bền nhất vẫn tồn tại khoảng 100 năm Thí dụ nổi bật nhất là ozon từng bị phá hủy được goi là “lỗ hổng Nam Cực” trong vài thập kỷ qua
- N2O: được tạo ra bằng cách sản xuất phân bón nitơ hay xử lí nước thải, 1/3 tổng lượng N2O thải vào khí quyển là từ những hoạt động của con người như đốt cháy nguyên liệu hóa thạch, sử dụng phân bón gốc nitơ, vận hành các nhà máy
xử lí nước thải hay các quy trình công nghiệp khác liên quan đến nitơ Khí này cũng được giải phóng khi vi khuẩn hoạt động trong đất và đại dương phân hủy các hợp chất chứa nitơ
- Việc xả khói bụi và các chất hóa học (cacbon monoxide, sulfur dioxide) vào bầu không khí cũng gây ảnh hưởng xấu đến tầng ozon
- Khói thoát ra trong các vụ phóng tên lửa có thể bào mòn tầng ozon, tạo điều kiện cho các tia tử ngoại có hại từ Mặt Trời xâm nhập vào Trái Đất Khi phóng các tên lửa dùng nhiên liệu rắn, chúng thải trực tiếp khí Clo ra tầng bình lưu (cách bề mặt Trái Đất khoảng 50 km) Tại đây Clo phản ứng với Oxy để tạo ra Clo oxit - chất có khả năng hủy diệt Ozon
sự phá hủy tầng ozon
Câu 3 Các khí nhà kính và hiện tượng nhà kính
* Khí nhà kính: Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng
dài (hồng ngoại) được phản xạ từ bề mặt Trái Đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho Trái Đất, gây nên hiệu ứng nhà kính Các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nước, CO2, CH4, N2O, O3, các khí CFC
* Hiện tượng nhà kính: Hiệu ứng nhà kính, dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng
lượng bức xạ của tia sáng mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt lượng cho bầu không gian bên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ không phải chỉ ở những chỗ được chiếu sáng Hiện tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây Nếu như không có hiệu ứng nhà kính hẳn khí hậu trái đất sẽ trở lên lạnh lẽo hơn
Có thể hiểu một cách sơ lược như sau: ta biết nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất được quyết định bởi cân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất và lượng bức xạ nhiệt của mặt đất vào vũ trụ Bức xạ nhiệt của mặt trời là bức xạ có sóng ngắn nên dễ dàng xuyên qua tầng ozon và lớp khí CO2để đi tới mặt đất, ngược lại bức xạ nhiệt từ trái đất vào vũ trụ là bước sóng dài, không có
Trang 3khả năng xuyên qua lớp khí CO2 dày và bị CO2 + hơi nước trong khí quyên hấp thụ Như vậy lượng nhiệt này làm cho nhiệt độ bầu khí quyển bao quanh trái đất tăng lên Lớp khí CO2 có tác dụng như một lớp kính giữ nhiệt lượng tỏa ngược vào vũ trụ của trái đất trên quy mô toàn cầu Bên cạnh CO2 còn có một số khí khác cũng được gọi chung là khí nhà kính như NOx, Metan, CFC
Câu 4: Vai trò của các khí nhà kính
- Hơi nước :
Hơi nước là khí nhà kính chính hàng đầu, hấp thụ ở hai đầu quang phổ hồng ngoại, giữa 5500 và 7500 nm và ở các bước sóng lớn hơn 16000 nm
Mây được hình thành từ hơi nước có mặt trong khí quyển và cũng ảnh hưởng đến quá trình cân bằng nhiệt của trái đất bằng việc phản xạ ánh sáng mặt trời và việc bắt giữ các bức xạ cực tím
Khi Trái đất nóng lên, sự cân bặng không khí – nước sẽ đưa nhiều hơi nước hơn vào khí quyển, làm tang sự hấp thụ của hơi nước Tuy nhiên, những đám mây cũng tang lên, dẫn đến phản xạ trực tiếp nhiệt Mặt rời vào không trung nhiều hơn
- Carbon dioxit:
Carbon dioxit là khí nhà kính quan trọng thứ hai, hấp thụ bước sóng trong khoảng 12000 nm và 16300 nm Carbon dioxit cho phép các năng lượng bức xạ đi qua vào tầng khí quyển của trái đất, nhưng lớp carbon dioxit đóng vai trò như một
bộ dò, thăm dò các bức xạ cực tím mà thông thường phân tán vào không gian
CO2 được tạo ra trong các phản ứng oxy hóa trong động cơ, đốt củi, sản xuất xi măng và hô hấp hữu cơ ở động vật, vi khuẩn và thực vật CO2 bị loại bỏ khỏi khí quyển nhờ quang hợp thực vật, kết tủa các carbonat hữu cơ và vô cơ từ dung dịch nước
Khí CO2 tăng từ 0,028% vào năm 1859 lên 0,035% vào năm 1992 Hiệu ứng nhà kính của CO2 thấp hơn các khí khác, nhưng vì số lượng của nó lớn nên nó đóng góp một nửa sự nóng lên toàn cầu thời gian tồn tại trung bình cho một phân
tử CO2 là hơn một nửa thế kỷ trước khi bị phân hủy
- Metan :
Metan là khí nhà kính quan trọng thứ ba, hấp thụ tại bước sóng khoảng
7700 nm
Metan được tạo ra do phân hủy yếm khí các chất hữu cơ trong đất ngập nước, chôn lấp chất thải và cánh đồng lúa Chúng cũng được giải phóng trong quá trình khai thác và vận chuyển than, khí đốt tự nhiên và dầu mỏ.Sự nóng lên toàn cầu có thể giải phóng khí metan này them đáng kể vào khí quyển
Càng nhiều metan bị giải phóng vào khí quyển thì tác động của hiệu ứng nhà kính càng tăng Mỗi phân metan bắt giữ năng lượng nhiệt gấp 21 lần so với carbon dioxit Thời gian cư trú trong không khí là khoảng 10 năm đối với một phân tử CH4 trước khi bị phân hủy
- Nitro oxit :
Trang 4Nitro oxit là khí nhà kính hấp thụ ở bước sóng 8600 và 7800 nm, gần với bước sóng hấp thụ của metan
Nitro oxit được giải phóng trong quá trình sản xuất nông nghiệp và các hoạt động công nghiệp, cũng như đốt cháy các chất thải rắn và nhiên liệu
Nitro oxit bắt giữ năng lượng nhiệt gấp 270 lần so với CO2
- Ozon:
Ozon là khí nhà kính quan trọng thứ tư, hấp thụ trong khoảng 9000 và
10000 nm
Ozon không bền trong tầng đối lưu, bị phản ưng trong các phản ứng oxy hóa và trải qua phân hủy quang phân và có chỉ nồng độ vết 0.03 ppm trong tầng đối lưu
Không khí chứa một lượng rất nhỏ ozon có tác dụng làm cho không khí trong lành Với lượng ozon lớn hơn sẽ gây độc hại với con người
Hoạt động công nghiệp đã làm tăng nồng độ ozon trong tầng đối lưu nhưng giảm xuống trong tầng bình lưu, góp phần làm cho tầng bình lưu lạnh hơn và tầng đối lưu ấm lên
- Các khí CFC :
Chúng là khí nhà kính vết hấp thụ hiệu quả năng lượng hồng ngoại trong khoảng từ 8000 – 13000nm Các khí CFC đang được thay thế bằng sản phẩm có hiệu ứng hấp thụ năng lượng hồng ngoại ít hơn nhưng chúng vẫn là các khí nhà kính
Chúng hấp thụ năng lượng hồng ngoại hiệu quả gấp 10000 – 20000 lần so với CO2 nhưng nồng độ chỉ là 0,0002 -0,0005 ppm trong tầng đối lưu Các khí CFC và HCFC mới được tạo ra trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay có khả năng hấp thụ bức xạ trong khoảng 8000 – 12000 nm
Câu 5: Thành phần nước mưa và mưa acid
* Thành phần nước mưa: Nước mưa không phải là H2O “tinh khiết” mà có chứa các chất rắn hoà tan khác nhau Các thành phần này đi vào nước mưa chủ yếu bằng cách hoà tan các vật liệu hạt trong khí quyển khi những giọt nước được tạo nhân từ các hạt bụi trong không khí và bằng cách hoà tan các khí từ khí quyển
* Mưa acid:
- Định nghĩa:
+ Mưa tuyết có độ acid do có mặt của các acid mạnh hơn CO2 tạo ra pH< 5,6 được gọi là mưa acid
+ Tích tụ acid là sự tích tụ trên bề mặt Trái Đất các acid hoà tan, các khí acid(SO2)
và các muối acid( NH4HSO4)
-Bản chất:
+ Mưa acid bắt nguồn trực tiếp từ acid mạnh như HCl hay khói H2SO4, đa số acid này là chất gây ô nhiễm không khí được tạo ra acid theo phản ứng:
SO2 + 1/2O2 + H2O phản ứng tổng thể (2H+ + SO42-) (nc)
gồm một số bước
Trang 5phản ứng tổng thể 2NO2 + 1/2O2 + H2O gồm một số bước 2(H+ + NO3-) (nc)
* Tác hại của mưa acid:
+ Độc hại trực tiếp cho cây cối do nồng độ acid vượt quá
+ Độc hại do các khí tạo thành acid là SO2, NO2 cùng đi kèm với mưa acid
+ Độc hại gián tiếp như làm cho Al3+ bị giải phóng khỏi đất
+ Phá huỷ các cánh rừng nhạy cảm với mưa acid
+ Tác động đến hệ hô hấp đối với người và động vật
+ Làm tăng độ acid nước hồ gây độc hại cho các sinh vật trong hồ
+ Gây ăn mòn các cấu trúc, chỗ tiếp điện, các thiết bị và các vật liệu lộ ra ngoài trời
+ Tác dụng đi kèm: giảm tầm nhìn do các sol khí sulfat và ảnh hưởng các sol khí sulfat tới các tính chất lý học, quang học của đám mây
Câu 6: Các tác nhân phong hóa và cơ chế phong hóa chính
* Các tác nhân phong hóa.
- Nước
Là tác nhân quan trọng nhất trong quá trình hình thành vỏ phong hóa
Nước có tác dụng hòa tan, di chuyển và làm lắng đọng các hợp chất hóa học trong vỏ trái đất
Nước hòa tan cả Oxy, CO2, axit và các hợp chất có tác dụng phân hủy đất đá
Trong quá trình Hydrat hóa và phân hủy nước phân giải các khoáng vật tạo
đá trong đá gốc Ngoài ra, nước có vai trò là môi trường hóa lý (Ph, Eh) trong quá trình tái tạo đất đá của vỏ phong hóa
- Oxy
Oxy đóng vai trò chính trong các phản uengs oxy hóa và có ý nghĩa to lớn trong quá trình tái tạo vỏ phong hóa
Nguồn gốc của oxy là: Khí quyển, oxy hòa tan, trong nước và tồn tại trong các hợp chất Oxy hóa khử
- Khí CO2
CO2 là tác nhân tham gia tích cực vào quá trình oxy hóa khử và tái tạo
- Các hợp chất hóa học
Các axit vô cơ (H2SO4, H2CO3) và axit hữu cơ, các loại muối hòa tan, các chất kiềm có tác dụng thúc đẩy quá trình phá hủy đất đá
- Sinh vật
Sinh vật có tác động tích cực trong quá trình phân hủy đất đá và tạo vỏ phong hóa Sinh vật bao gồm cả thực vật và động vật.Sinh vật giúp phân hủy, vận chuyển các vật liệu trong vỏ trái đất
- Nhiệt độ
Sự thay đổi nhiệt độ trong ngày làm phá hủy các khoáng vật, các đá Ngoài
ra nhiệt độ còn đẩy nhanh các phản ứng hóa học
Trang 6- Hoạt động con người
Hoạt động của con người (sản xuất nông nghiệp, khai thác khoáng sản…) làm thay đổi môi trường tự nhiên tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phong hóa
Câu 7 Trình bày các phản ứng phong hóa? Nêu các sản phẩm của quá trình phong hóa
* Các phản ứng phong hóa gồm : phản ứng thủy phân, phản ứng hòa tan, phản
ứng oxy hóa- khử và hydrat hóa
- Phản ứng thủy phân:
+ Phản ứng thủy phân được đặc trưng cho quá trình phân hủy các đá silicat Về bản chất hóa học thì quá trình thủy phân bao gồm các phản ứng giữa các ion của khoáng vật và các ion của nước (OH- và H+), kết quả là làm phân hủy bề mặt đá và thành tạo hợp chất mới đồng thời làm tăng độ pH của dung dịch có liên quan tới việc giải phóng các ion hydroxil
+ Cân bằng thủy phân có thể biểu diễn bằng phường trình sau:
Silicat nguyên sinh + H2O + CO2 -> Các ion trong dung dịch ( Na+; Ca2+; Mg2+;
K+; H4SiO4) + khoáng vật thứ sinh
- Phản ứng hòa tan:
+ Hòa tan là phản ứng phân ly khoáng vật thành các ion, các phân tử và các tập hợp phân tử phân tán của các hệ keo Về bản chất thì quá trình thủy phân bao hàm cả quá trình hòa tan
+ Khoáng vật phổ biến dễ tan nhất là halit (NaCl), Gyps ( CaSO4.2H2O) có
độ hòa tan chỉ bằng ¼ của halit, còn anhydrit lại có độ hòa tan thấp hơn Calcit có
độ hòa tan yếu trong nước tinh khiết
+ Thạch anh là khoáng vật bền tuy nhiên trong điều kiện tự nhiên vẫn bị hòa tan nhờ phản ứng hydrat hóa: SiO2 + 2H2O -> H4SiO4
- Phản ứng oxi hóa- khử: Acid sulfuric là 1 acid mạnh tham gia vào quá trình
phong hóa ở bất kỳ nơi nào nó có mặt Phản ứng oxi hóa- khử có liên quan tới hợp chất lưu huỳnh đóng vai trò quan trọng trong thành phần hóa học của nước tự nhiên và trong quá trình tạo đá
- Hydrat hóa:
+ Quá trình hydrat hóa bao gồm sự kết hợp của các ion H+ và OH- vào hợp chất Trong nhiều hoàn cảnh các ion H+ và OH- trở thành 1 bộ phận cấu thành của mạng tinh thể khoáng vật Hydrat hóa còn tạo điều kiện thích hợp cho các phản ứng phân hủy khác nhờ có sự trương nở ô mạng tinh thể, làm tăng diện tích bề mặt cho phản ứng
* Các sản phẩm của quá trình phong hóa
Các sản phẩm của quá trình phong hóa, chia thành 3 nhóm:
- Các khoáng vật nguyên sinh tàn dư không chịu tác động của quá trình phong hóa
- Các khoáng vật mới được tạo thành bền vững trong điều kiện phong hóa
- Các hợp chất tan di chuyển khỏi địa điểm phong hóa, đi vào nước dưới đất
Trang 7Câu 8: Thành phần độ hạt và khoáng vật của đất
* Thành phần kích thước hạt của đất
- Thành phần kích thước hạt là hàm lượng tương đối của các hạt có kích thước khác nhau trong đất, đá hay các hỗn hợp nhân tạo, không phụ thuộc vào thành phần hóa học của nó, là thông số quan trọng, nhiều khía cạnh tồn tại phụ thuộc vào nó, trong đó có độ phì nhiêu của dất
- Căn cứ theo thành phần kích thước hạt, người ta phân loại và định tên các loại đá trầm tích cơ học:
Cát = 0.05 - 2.0 mm
Bột = 0.002 - 0.05 mm
Sét < 0.002 mm
- Thành phần cát hầu hết là thạch anh
- Thành phần sét là các khoáng vật sét silicat lớp và các oxit, hydroxit Fe-Mn
* Thành phần khoáng vật của đất
- Phụ thuộc chủ yếu vào thành phần khoáng vật của đá gốc và mức độ tác dụng của phong hóa đối với đá gốc
- Chia thành 2 nhóm: Khoáng vật nguyên sinh và khoáng vật thứ sinh
+ Khoáng vật nguyên sinh: Thường gặp trong đất tự nhiên là felspat, thạch
anh, mica, hạt đất có kích thước lớn Đối với các nhóm hạt lớn thường ít khác nhau về tính chất cơ lý của chúng
+ Khoáng vật thứ sinh: có 2 loại tùy theo tính chất hòa tan trong nước.
Trong số các khoáng vật thứ sinh không hòa tan trong nước, thường gặp nhiều là các khoáng vật sét: motmorillonit, illit, kaolinit, có độ hạt < 0,005mm, có tính keo, quyết định khả năng trao đổi cation của dất Ngoài ra, trong khoáng vật thứ sinh cần lưu ý đến các khoáng vật oxyhydroxit sắt và nhôm
Câu 9: Nguyên nhân gây thoái hóa đất?
Thoái hóa đất có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó các nguyên nhân chính bao gồm:
- Xói mòn: là sự rửa trôi đất, là một quá trình địa chất ngoại sinh phức tạp,
chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như đá gốc, địa hình, lượng mưa, lớp phủ thực vật và các hình thức khai thác lãnh thổ
Hậu quả: làm rửa trôi đất, thúc đẩy quá trình laterit hóa xảy ra mạnh mẽ ở vùng nhiệt đới ẩm, tạo ra hiện tượng sa mạc hóa ở các đới khí hậu hanh khô
- Laterit hóa : là quá trình rửa trôi và tích tụ tuyệt đối cac cation Fe3+, Fe2+,
Al3+, Mn6+ trong các tầng đất, dưới tác động của điều kiện môi trường như sự phong hóa, dòng chảy, mực nước ngầm thay đổi, mất thảm phủ, xói mòn
- Chua hóa: do nồng độ ion H+ trong đất cao Có 2 trường hợp:
+ Độ chua hoạt tính: do các ion H+ trong dung dịch tạo nên Nồng độ các ion H+ tăng lên gây ảnh hưởng tới thực vật và các vi sinh vật
Trang 8+ Độ chua tiềm tàng: các ion H+ và Al3+ được hấp phụ trên các hệ keo với các lực khác nhau, tùy vào lực hấp phụ mà chia thành độ chua trao đổi và độ chua thủy phân
Hậu quả: Gây phá hủy các đầu mút của rễ cây, làm giảm độ phì của đất
- Quá trình mặn hóa: Quá trình này xảy ra ở miền nhiệt đới do ảnh hưởng
của biển
Hậu quả: Gây hạn sinh lý lâu dài dẫn đến kìm hãm sinh trưởng, rễ cây bị ức chế sức hút nên thiếu chất khoáng, quá trình trao đổi chất bị rối loạn làm tích lũy các acid amin
- Ô nhiễm các chất độc hại:
+ Ô nhiễm do tác nhân hóa học gây nên bởi quá trình sử dụng các chất hóa học như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, chất diệt cỏ, các chất kích thích sinh trưởng và các chất độc hóa học khác Chúng làm thay đổi thành phần và tính chất đất nên dễ bị chai cứng đất, chua đất, thay đổi cân bằng dinh dưỡng giữa đất và cây trồng
+ Các chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt: Thường chức các sản phẩm độc hại ở dạng dung dịch và dạng rắn
+ Các tác nhân sinh học: Do những phương pháp đổ bỏ chất thải mất vệ sinh hoặc sử dụng phân tươi, bùn thải sinh hoạt bón trực tiếp cho đất
- Sa mạc hóa: thường xảy ra ở các vùng khí hậu khô và ôn đới Quá trình
này thường gắn liền với hạn hán và mất độ phì và đất trở nên khồn còn khả năng phát triển một lượng thực vật đáng kể Nguyên nhân chủ yếu là phá rừng
Câu 10: Quá trình xói mòn đất? Nêu nguyên nhân
* Định nghĩa: Xói mòn là quá trình rửa trôi đất, là một quá trình địa chất ngoại
sinh phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như đá gốc, địa hình, lượng mưa, lớp phủ thực vật và các hình thức khai thác lãnh thổ
* Nguyên nhân:
- Do tác động của nước và gió Chủ yếu là nước, các con sông hàng năm vận chuyển hàng triệu tấn đất ra biển Khu vực Đông Nam Á bị ảnh hưởng nhiều nhất
- Do lượng mưa nhiều, tốc độ dòng chảy trên mặt lớn dẫn đến quá trình sói mòn diễn ra mãnh liệt Nếu có lớp phủ thực vật thì quá trình sói mòn sẽ hạn chế hơn và chỉ thể hiện dưới dạng chọn lọc (tức là chỉ mang đi tầng đất trên cùng những hạt set mịn) Quá trình xói mòn chọn lọc cực mạnh thường xảy ra đối với các loại đất phát triển trên vỏ phong hóa các đá acid
- Địa hình dốc: xói mòn sẻ rãnh cũng tạo sự mất đất ghê gớm và xuất hiện ở những vùng đất có độ dốc lớn
* Hậu quả:
- Mất đất, phá hủy cấu trúc đất
- Rửa trôi tầng mùn, mang đi toàn bộ đất và vỏ phong hóa tạo ra những khu vực hoang hóa và đất trống đồi trọc rộng lớn
Trang 9- Thúc đẩy quá trình laterit hóa xảy ra mạnh mẽ ở vùng nhiệt đới ẩm, tạo ra hiện tượng sa mạc hóa ở các đới khí hậu hanh khô
- Làm giảm năng suất canh tác
- Thoái hóa đất: kết quả rửa trôi các hạt sét, các nguyên tố kiềm, kiềm thổ, oxit lưỡng tính cùng vật chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng vi lượng trong đất
Câu 11 :Sa mạc hóa? Nguyên nhân
* Khái niệm: Sa mạc hóa hay hoang mạc hóa là hiện tượng suy thoái đất đai ở
những vùng khô cằn, gây ra bởi sinh hoạt con người và biến đổi khí hậu Khuynh hướng sa mạc hóa gần đây đã tăng nhanh trên toàn thế giới phần vì áp lực dân số
và nhu cầu trồng trọt và chăn nuôi
* Nguyên nhân: Nguyên nhân chủ yếu là phá rừng Vấn đề này rất bức thiết đối
với các nước thuộc vành đai nhiệt đới ẩm, nơi còn lưu giữ hầu hết các loại thực vật và động vật nguyên thủy Sự tuyệt chủng của các động thực vật có thể gây nên
sự tàn phá đất thông qua xói mòn và mất các chất dinh dưỡng
Một vấn đề không kém phần quan trọng dẫn sa mạc hóa là lề lối canh tác lạc hậu du canh du cư,phá rừng làm rẫy ở các nước kém phát triển Kết quả làm tăng tác động rửa trôi bề mặt, đất không có khả năng giữ lại các chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng cần thiết
* Tác động sa mạc hóa:
Đất trở thành vô sinh: Do điều kiện trên nông nghiệp, hạn hán, những thay đổi đất và mưa không thấm đất, cộng với việc lặp đi lặp lại phép thuật của sa mạc hóa có thể làm cho đất mất khả năng sinh sản mãi mãi
Ảnh hưởng xấu đến cuộc sống con người: Nó là khá tự nhiên khi đất bị bỏ hoang và số lượng các vùng khô hạn và bán khô hạn tiếp tục tăng lên, không bị bay hơi mà cuối cùng dẫn đến lượng mưa ít hơn Điều này dẫn đến tình trạng khan hiếm nước, con người và động vật bị đe dọa do thiếu nước uống
Tác dụng phụ của sa mạc hóa cũng bao gồm lũ lụt ở khu vực lượng mưa lớn, đất, nước, ô nhiễm không khí, bão… tất cả đều có thể gây ảnh hưởng đến con người thậm chí là tử vong
Ngoài ra, sa mạc hóa còn làm cho đất trở nên không thích hợp cho nông nghiệp dẫn đến việc cung cấp lương thực, thực phẩm bị trì hoãn, kém hiệu quả, kết quả là làm cho con người và động vật sẽ bị đói
Câu 12: Các chất gây ô nhiễm trong đất
Ô nhiễm đất được xem là tổng hợp các hiện tượng nhiễm bẩn môi trường đất bởi các tác nhân gây ô nhiễm Các tác nhân này có thể có nguồn gốc hóa học, sinh học hay vật lý; trong đó, quan trọng hơn cả là tác nhân hóa học
- Ô nhiễm do tác nhân hóa học gây nên bởi quá trình sử dụng các chất hóa học như: Phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, chất diệt cỏ, các chất kích thích sinh
trưởng và các chất độc hóa học khác
Trang 10- Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân huỷ chất thải của sinh vật), chất phóng xạ (U ran, Thori, Sr90, I131, Cs137)
- Các chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt cũng thường chứa các sản phẩm độc hại ở dạng dung dịch và dạng rắn.
Có thể phân chia các chất thải công nghiệp ra 4 nhóm chính:
+ Chất thải xây dựng: Chất thải xây dựng như gạch ngói, thủy tinh, gỗ, ống nhựa, dây cáp, bêtông, nhựa…trong đất các chất thải này bị biến đổi theo nhiều con đường khác nhau, nhiều chất rất khó bị phân hủy…
+ Chất thải kim loại: Các chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng (Pb, Zn, Cd, Cu, và Ni) thường có nhiều ở các khu vực khai thác hầm mỏ, các khu công nghiệp và đô thị
+ Chất thải khí: CO2, SO2, NO2 trong không khí bị ô nhiễm là nguyên nhân gây ra mưa axít, làm tăng quá trình chua hoá đất
+ Chất thải hóa học và hữu cơ: Các chất thải có khả năng gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn như: chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, màu
vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hoá chất
- Các tác nhân sinh học: trực khuẩn lỵ, thương hàn hoặc amip, ký sinh
trùng…
Câu 13: Nêu quá trình trầm tích: sự lắng đọng trầm tích trong biển
Các trầm tích lắng trong nước biển là một kho lưu trữ các thông tin lịch sử
về Trái đất và đặc biệt là chúng cung cấp thông tin về chu trình sinh địa hóa toàn cầu Sự vận chuyển trầm tích và sự phân bố các tướng trầm tích bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thành phần trầm tích như tỉ lệ hàm lượng cát sét và thành phần khoáng vật sét Thành phần ban đầu là điểm khởi điểm của quá trình tạo đá trong suốt thời gian chôn vùi
- Sự phân bố các trầm tích biển: Sự phân bố trầm tích đại dương được được xác định bởi quá trình sinh học và hóa học do đó cần được thảo luận trong bối cảnh thành phần hóa học biển Các trầm tích trong đại dương bao gồm: mảnh vụn , hữu cơ và tại sinh học dựa trên nguồn gốc của chúng.Tuy nhiên cần nhớ rằng không có trầm tích nào là thuần khiết mà luôn là hỗn hợp thành phần khác nhau
- Các trầm tích silic trong biển: Trong đại dương các sinh vật sử dụng silic
để tạo ra vỏ Sauk hi chết đi thì vỏ của diatome và radiolarian và các khung của hai miền hòa tan rất chậm và các sinh vật được phát triển về số lượng, do đó các tích tụ lớn các mảnh silic được tập trung lại Khu vực bờ đáy đại dương được phủ bởi vật liệu này và các lớp diatome xen kẽ với các tập trầm tích cổ hơn là bằng chứng của các tích tụ này trong quá khứ Silic được hòa tan dưới dạng (H4 SiO4 ) được các radiollaria hấp thụ ở nước trên mặt sau đó tích tụ ở dạng hạt đậu dưới đáy biển Silic và thạch anh bão hòa trong nước biển nhưng độ hòa tan SiO2 xảy
ra châm