1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tính chất và cơ sở sinh học của bản năng

59 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 400 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phơng Lựu: "Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quyluật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định, tạocho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể"1 tr.

Trang 1

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO Trờng đại học s phạm hà nội 2

**************

nguyễn thị yên hoa

tính chất và cơ sở sinh học của

bản năngSINH Lý HOạT ĐộNG THầN KINH CấP CAO

Trang 2

lập, sáng tạo, góp phần hình thành phơng pháp và nhu cầu tự học, bồi dỡnghứng thú học tập tạo niềm tin, niềm vui cho học sinh trong học tập.

Văn học là nguồn năng lợng tinh thần không thể thiếu, có ý nghĩa cổ vũ

và tiếp sức cho con ngời trong cuộc sống Nó đem lại cho con ngời sự hiểubiết, sự thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ, góp phần hoàn thiện nhân cách Chính vìvậy việc dạy và học văn trong nhà trờng phổ thông là vô cùng quan trọng.Hơn nữa, môn Văn vừa là môn học mang tính khoa học, vừa mang tính nghệthuật Nó có khả năng nhanh nhạy để đi sâu vào giới tâm linh bạn đọc, lắng

đọng, kết tinh trong họ niềm hứng thú, say mê, sự chân thành mộc mạc mang

đậm tình ngời, tình đời giúp cho con ngời vơn tới cái Chân - Thiện - Mỹ Đồngthời nó còn là công cụ và phơng tiện giúp cho học sinh biết đợc cái hay, cái

đẹp về con ngời và cuộc sống Do vậy dạy văn học chính là dạy cho học sinhbiết tiếp nhận VBVH một cách sáng tạo, bồi dỡng năng lực t duy văn học, tduy thẩm mỹ để các em có thói quen tiếp nhận chủ động những giá trị vănminh, văn hóa tinh thân của dân tộc và nhân loại

Theo tinh thần đổi mới ấy, cấu trúc và nội dung chơng trình SGK đợcsắp xếp theo thể loại, và các thời kì văn học đã làm nổi bật vai trò và đặc tr ngcủa thể loại văn học, giúp cho ngời dạy, ngời học hiểu sâu sắc TPVH Từ

đó áp dụng vào học tập và nghiên cứu văn chơng đúng đắn thiết thực Trong đóthi pháp thể loại đợc chú trọng đặc biệt, nó đợc coi là đặc trng cơ bản để tiếpnhận TPVH

1.2 VHDG có vị trí và vai trò quan trọng trong nền văn học dân tộc Nógiống nh một cuốn sách bách khoa, một kho tri thức tổng hợp đem lại nhữnghiểu biết cực kì phong phú và đa dạng về cuộc sống mà cha ông đã để lại nh:Kinh nghiệm sản xuất, những phong tục tập quán tín ngỡng, những quan niệm

về vũ trụ nhân sinh quan những hiểu biết ấy không dễ gì mà thế hệ trẻ ngàynay có đợc nếu không tìm đến VHDG Đồng thời nó còn có tác dụng to lớntrong việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ trong nhà trờng, mà cốt lõi là bồi

đắp tâm hồn dân tộc

Truyền thuyết là một bộ phận quan trọng trong các thể loại tự sự dângian Nó dùng "một thứ tởng tợng và h cấu riêng", kết hợp với các thủ phápnghệ thuật đặc thù khác để phản ánh đời sống và ớc mơ của nhân dân, đáp ứngnhu cầu nhận thức thẩm mỹ, giáo dục và giải trí của nhân dân trong những thờikì, những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp Đến với truyền

Trang 3

thuyết con ngời luôn tìm thấy ở đó tình yêu, khát vọng vơn tới cuộc sống vớibao điều kì diệu, một thế giới đầy " thơ và mộng" Với những bài học lịch sử,bài học về cuộc sống nhuốm màu sắc huyền thoại kì ảo để rồi trở về với kí ứccủa thời xa xa mà cha ông ta đã gửi gắm Và chính điều đó đã làm nên sức lôicuốn, hấp dẫn kì diệu của truyền thuyết đối với bạn đọc qua nhiều thế hệ Nói

nh Chủ Tịch Phạm Văn Đồng: "Những truyền thuyết dân gian thờng có mộtcái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thé hệ đã lý tởng hóa gửi gắmvào đó tâm tình tha thiết của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh củasức tởng tợng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời

đời con ngời a thích".(1) ( tr 25)

(1) Bùi Mạnh Nhị, Văn học dân gian những công trình nghiên cứu

1.3 Bản thân em là một sinh viên s phạm, và là một giáo viên tơng lai, việcnghiên cứu vấn đề dạy đọc hiểu văn bản văn học không chỉ giúp cho ngờinghiên cứu có con đờng tiếp cận văn bản đúng đắn, khoa học mà còn từng bớcvận dụng lý thuyết ấy vào thực tiễn giảng dạy sau này

2 Lịch sử vấn đề

Vấn đề giảng dạy theo đặc trng thi pháp thể loại là vấn đề đợc đặt ra từlâu trong nghiên cứu văn học cũng nh trong giảng dạy văn học ở trờng phổthông hiện nay Có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nàysong vẫn cha thống nhất

Công trình đầu tiên phải kể đến đó là cuốn: " Vấn đề giảng dạy tácphẩm văn học theo loại thể" của GS Trần Thanh Đạm ( NXBGD - HN - 1971),cuốn sách đề cập đến hai mục đích chính:

Thứ nhất, giới thiệu một số kiến thức cơ bản về các loại, thể văn học chủyếu có liên quan đến chơng trình văn học cấp 3, nhất là phần Văn học ViệtNam xa và nay

Thứ hai, giới thiệu phơng pháp vận dụng đặc trng các loại thể vào việcgiảng dạy các tác phẩm trong chơng trình văn học cấp 3, có kết hợp phân tíchmột số bài tiêu biểu thuộc các thể loại khác nhau Tác giả đã đi sâu nghiên cứu

về vấn đề thể loại, đồng thời đa ra một số phơng pháp giảng dạy TPVH theo

đặc trng thể loại

Trang 4

Cũng đề cập đến vấn đề loại thể tác giả Nguyễn Viết Chữ đã " hệ thốnglại cách nhhìn vào môn văn, các biện pháp, phơng pháp, câu hỏi, các cách thứcchiến thuật nhằm góp thêm tiếng nói về việc vận dụng phơng pháp, biệnpháp vào các thể tài cụ thể trong nhà trờng mà ngời giáo viên thờng xuyênphải giải quyết".(1)

(1)Nguyễn Viết Chữ, Phơng pháp dạy học TPVC (theo thể loại), NXB ĐHSP.

Trong cuốn: " Thi pháp VHDG " của Lê Trờng Phát (NXB GD - 2000)

đã khái quát chung về thi pháp và lần lợt đi vào đặc điểm thi pháp của từng thểloại trong bộ phận VHDG cùng với việc phân tích đặc điểm thi pháp của một

số tác phẩm cụ thể

Trên tinh thần nghiên cứu TPVH theo thể loại, Nguyễn Xuân Lạc vớibài viết: "Giảng dạy văn học dân gian theo thể loại"(1) đã nêu lên vấn đề giảngdạy VHDG theo thi pháp thể loại và đa ra phơng pháp day học cụ thể một sốloại thể VHDG ở trờng THPT Song tác giả mới chỉ đề cập đến phơng phápdạy học truyện cổ tích và ca dao theo đặc trng thi pháp thể loại, còn thể loạitruyền thuyết cha đợc tác giả quan tâm

Hoàng Tiến Tựu trong cuốn : " Mấy vấn đề phơng pháp giảng dạynghiên cứu VHDG” ( NXB GD - 1997 ) đã đặt vấn đề và khẳng định sự cầnthiết xây dựng những quy phạm cho việc dạy học VHDG ở trờng phổ thông.Tài liệu này cũng đề cập đến phơng pháp nghiên cứu VHDG trong chừng mựccần thiết làm sáng tỏ những vấn đề phơng pháp giảng dạy

Kế thừa và phát triển từ những nghiên cứu của các nhà tiền bối, NguyễnThanh Hùng trong cuốn : “Hiểu văn, dạy văn" ( NXB GD - HN, 2000) đã tìmhiểu đặc trng tác phẩm trữ tình và đề xuất một cách sơ giản phơng pháp lĩnhhội tác phẩm trữ tình trong giảng dạy văn học Tuy nhiên tác giả cha chú ý đếncác thể loại khác nh : Tự sự, kịch

Nh vậy, vấn đề tiếp nhận và giảng dạy TPVH nói chung, truyền thuyếtnói riêng theo đặc trng thi pháp thể loại đã đợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập

đến và thể hiện ở những mức độ khác nhau trong thực tế giảng dạy văn học.Song cha có một công trình nào nghiên cứu một cách tâp trung và trực diện,mặc dù đã có những thành công nhất định

(1) Phan Trọng Luận (chủ biên), Phơng pháp dạy học văn tập 1, NXB ĐHSP

Trang 5

Qua đề tài này, ngời viết mong muốn góp thêm tiếng nói vào vấn đề

đang bàn luận để có thể tìm đợc hớng tiếp nhận phù hợp trong quá trình dạy vàhọc VHDG nói chung, thể loại truyền thuyết nói riêng

3 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề xung quanh việc dạy học theo đặc trng thi phápthể loại, từ đó vận dụng vào việc dạy học thể loại truyền thuyết ở trờng phổthông Đồng thời góp phần đổi mới phơng pháp dạy và học Văn trong nhà tr-ờng phổ thông hiện nay theo hớng phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạocủa học sinh

4 Đối tợng phạm, vi nghiên cứu.

4.1 Đối tợng nghiên cứu

- Thi pháp Văn học dân gian

- Thể loại truyền thuyết

- Hoạt động đọc hiểu văn bản truyền thuyết ở trờng PTTH

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Vấn đề dạy học văn bản truyền thuyết theo đặc trng thi pháp thể loại

- Các văn bản truyền thuyết trong SGK Ngữ văn PTTH

Trang 6

Tạo ra hớng tiếp cận mới cho học sinh khi tiếp văn bản truyền thuyết ởtrờng phổ thông Đồng thời phục vụ cho công việc giảng dạy của bản thân saunày.

7 Bố cục khóa luận (gồm ba phần):

1.1 Vấn đề thi pháp thể loại

1.1.1 Thi pháp là gì?

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm thi pháp:

Theo Lê Trờng Phát trong "thi pháp văn học dân gian" đã đa ra kháiniệm: "Thi pháp là hệ thống những nguyên tắc, cách thức xây dựng hình tợng,

tổ chức tác phẩm, lựa chọn và xây dựng, tổ chức các phơng tiện ngôn ngữ để

Trang 7

làm nên tác phẩm văn học - nghĩa là toàn bộ hình thức nghệ thuật đợc nhà vănsáng tạo nhằm thể hiện nội dung tác phẩm".(1) (tr.6)

Thi pháp là tất cả những gì làm nên tính cách độc đáo riêng biệt về

ph-ơng diện nghệ thuật của tác phẩm, tác giả (hoặc của trờng phái, trào lu)

Để trả lời cho câu hỏi "Thi pháp là gì", Kráp xốp (1906-1980) nhàphônclo học Xô Viết nổi tiếng đã đa ra khái niệm: "Thi pháp với t cách là tổhợp những đặc điểm hình thức nghệ thuật của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từbao gồm: những đặc điểm cấu trúc của tác phẩm; hệ thống phơng tiện phản

ánh; những chức năng t tởng- thẩm mĩ của các phơng tiện thể hiện tác phẩm"

Giáo s Trần Đình Sử đa ra quan niệm: “Thi pháp là hệ thống các nguyêntắc, biện pháp, thể loại tạo thành đặc trng của văn học, nhng đó không bao giờchỉ là các hình thức kĩ thuật thuần túy bề ngoài mà là hệ thống cảm nhận vềthế giới”.(2)(tr.25)

(1) Lê Trờng Phát,Thi pháp VHDG, NXBGD,2000)

(2) Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, NXB HN

Còn trong cuốn "Thi pháp thơ đờng" Nguyễn Thị Bích Hải đã đa ra kháiniệm: "Thi pháp là hệ thống các phơng thức, phơng tiện biểu hiện đời sốngbằng hình tợng nghệ thuật trong sáng tác văn học Hệ thống đó có thể chiatách các phơng diện: thể loại, kết cấu, phơng pháp, không gian, thời gian, ngônngữ "(1)(tr.10)

Những quan điểm trên về thi pháp tuy khác nhau, song chúng ta vẫnnhận ra điểm nổi bật của thi pháp là tính hệ thống một hệ thống các yếu tốhình thức có quan hệ chặt chẽ với nhau để cùnh tạo nên một thế giới nghệthuật nhất định

Đến đây không thể không nói tới khái niệm thi pháp học Đây là mộtnghành chuyên biệt nghiên cứu văn học chuyên nghiên cứu những nguyên tắcnghệ thuật nằm bên trong TPVH

"Thi pháp học là khoa học nghiên cứu những nguyên tắc đặc thù tạothành văn học nh một thế giới khác biệt thế giới thực tại”.(2)(tr.9)

Tức nó nghiêng về khám phá, phát hiện bản thân các quy luật hình thức(tất nhiên là quy luật này mang ý nghĩa - tức nó biểu hiện một kiểu nhìn nhậnthế giới và con ngời của nhà văn)

Trang 8

Theo từ điển Thuật ngữ văn học: " Thi pháp học là khoa học nghiên cứuthi pháp, tức là hệ thống các phơng pháp, phơng tiện, thủ pháp biểu hiện đờisống bằng hình tợng nghệ thuật trong sáng tác văn học".(3)(tr.304)

Có thể nói, thi pháp học chính là công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm,cốt cách t duy của tác giả và các thời kì văn học nghệ thuật, từ đó nâng caonăng lực cảm thụ tác phẩm

(1) Nguyễn Thị Bích Hải,Thi pháp thơ Đờng, NXB Thuận Hóa, Huế- 2006

(2) Lê Trờng Phát,Thi pháp VHDG, NXBGD - 2000

(3) Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển Thuật ngữ văn học(đồng chủ biên)

Vì vậy khi phân tích tác phẩm, cần đặt tác phẩm đó trong phạm vi thipháp học, tức là phải đi từ những yếu tố hình thức đến nội dung Đó là con đ-ờng tiếp nhận, khám phá bản chất, giá trị của tác phẩm văn học một cách hiệuquả và khoa học

1.1.2 Thể loại truyền thuyết

1.1.2.1 Quan niệm về thể loại

Mỗi một tác phẩm văn học là một công trình sáng tạo độc đáo về nộidung và nghệ thuật Và dù đợc sáng tác theo phơng pháp phơng thức nào thìtác phẩm văn học ấy cũng thuộc một thể loại nhất định Vậy hiểu thế nào làthể loại?

Vấn đề thể loại đợc đặt ra từ lâu và thu hút đợc sự quan tâm của đông

đảo các nhà nghiên cứu, song đến nay vẫn cha có sự thống nhất về quan niệmthể loại

Theo G.S Phơng Lựu: "Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quyluật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định, tạocho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể"(1) (tr.339)

Trong Từ điển thuật ngữ văn học nêu khái niệm về thể loại: "Thể loại làdạng thức của tác phẩm văn học, đợc hình thành và tồn tại tơng đối ổn địnhtrong quá trình phát triển lịc sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cáchthức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tợng đời sống đợc miêutả về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tợng đời sốngấy".(2)(tr.299)

Trang 9

Trên đây là những quan niệm khác nhau về thể loại, song nhìn vào tathấy, loại thể là một phạm trù của LLVH, đây là một khái niệm kép gồm thể

và loại:

(1) Phơng Lựu (chủ biên), Lí luận văn học, NXB GD, H, 2004

(2) Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)

Loại (loại hình) chỉ hình thức tồn tại duy nhất của chỉnh thể tác phẩmvăn học, nó cho ta biết phơng thức sử dụng để chiếm lĩnh, tái hiện đời sống,biểu hiện t tởng Đồng thời nó cũng quy định cách thức mà bạn đọc giao tiếpvới tác giả thông qua tác phẩm

Thể (thể tài) là một khái niệm chỉ quy mô, dung lợng hình thức tổ chứccủa tác phẩm

Loại và thể có mối quan hệ độc lập tơng đối, quan hệ giữa chúng làquan hệ bao chứa Loại là phơng thức tồn tại chung còn thể là sự iện thực hóacủa loại

Từ đó các nhà nghiên cứu đều thống nhất chia văn chơng thành ba loại:

Tự sự, trữ tình, kịch Mỗi loại bao gồm nhiều thể

Tóm lại, loại thể văn học là một vấn đề thuộc hình thức nghệ thuật củavăn học có liên quan chặt chẽ với nội dung Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tạidới hình thức một thể loại nhất định, đòi hỏi cần phải có một phơng pháp, mộtcách thức giảng phù hợp đối với từng thể loại văn học Bởi vậy, giảng dạy vănchơng theo đặc trng thể loại đợc đặt lên hàng đầu và đó cũng là hớng đi cóhiệu quả trong dạy học văn hiện nay ở trờng phổ thông

1.1.2.2 Thể loại truyền thuyết

1.1.2.2.1 Khái niệm

Truyền thuyết là bộ phận quan trọng của VHDG, lâu nay đã có nhiềungời bàn tới Tuy nhiên, ý kiến của các tác giả về truyền thuyết còn nhiều bàncãi, trao đổi Nhng xét kĩ, đó không phải là sự đối lập hay khác nhau mà là sựnhất trí với nhau về mặt thuật ngữ Song nhìn chung, các tác giả đều nặng vềnhấn mạnh tính lịch sử của truyền thuyết - tức là mới chỉ nói đến giá trị nhậnthức mà còn xem nhẹ hoặc chachú ý đúng mức đến giá trị thẩm mĩ và các đặctính dân gian của thể loại này

Theo ý kiến của thủ tớng Phạm Văn Đồng: "Những truyền thuyết dângian thờng có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí

Trang 10

tởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình tha thiết của mình với thơ và mộng, chắp

đôi cánh của sức tởng tợng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩmvăn hóa mà đời đời con ngời a thích".(1)

Tuy không nhằm định nghĩa về truyền thuyết, nhng ý nghĩa của thủ tớngcũng giúp ích rất nhiều cho việc xác định thể tài này

Trong một bàai viết của tác giả Kiều Thu Hoạch đa ra khái niệm:

"Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng, nằm trong loạihình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhânvật lịch sử hoặc giải thích các nguồn gốc của các phong vật địa phơng theoquan điểm của nhân dân; biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trơng,phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố h ảo, thần kì nh truyện cổtích và thần thoại, nó khác cổ tích ở chỗ nhằm phản ánh xung đột gia đình,sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thờng phản ánh nhữn vấn đề thuộcphạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tựnhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không hoàn toàn trong trítởng tợng và bằng trí tởng tợng"(2)

SGK Ngữ văn 6 - tập một định nghĩa: “Truyền thuyết là loại truyện dângian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thờng

có yếu tố tởng tợng kì ảo Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá củanhân dân với các dự kiện và nhân vật lịch sử đợc kể”.(tr.7)

Từ điển thuật ngữ văn học đa ra định nghĩa: “Truyền thuyết là một thểloại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhân vật

và sự kiện lịch sử có ảnh hởng quan trọng đối với một thời kì, một bộ tộc, mộtquốc gia hay một địa phơng”.(tr.367)

(1)(2) Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), VHDG Những công trình nghiên cứu.

Nhìn chung, khái niệm về truyền thuyết vẫn cha đi đến thống nhất, songcác nhà nghiên cứu đều nhất trí lựa chọn khái niệm về truyền thuyết trong "Từ

điển Thuật ngữ văn học" làm trung tâm khi đi vào tìm hiểu cũng nh nghiêncứu về thể loại này Vvà trong đề tài này ngời viết cũng xin đợc lựa chọn vàvận dụng khái niệm này vào soi sáng cho vấn đề nghiên cứu

Trang 11

Trớc khi đi vào tìm hiểu đặc trng thi pháp thể loại truyền thuyết, cầnphân loại truyền thuyết.

1.1.2.2.2 Phân loại truyền thuyết

Trong đời sống cũng nh trong văn học, truyền thuyết có vai trò và vị trí

đặc biệt quan trọng Nó chiếm một số lợng lớn tác phẩm (mà đến nay cha sutầm hết đợc) và cách ghi chép lịch sử của dân gian, dân tộc Bởi vậy phân loạitruyền thuyết là công việc không dễ, còn gây nhiều tranh cãi, nhiều ý kiến chathống nhất

GS Hoàng Tiến Tựu đã phân loại truyền thuyết dựa vào sự phân kì lịch

sử xã hội và căn cứ vào đặc điểm nội dung nghệ thuật của truyền thuyết Việtthành các bộ phận :

1 Truyền thuyết về "Họ Hồng Bàng" và thời kì Văn Lang

2 Truyền thuyết về thời kì Âu Lạc và Bắc thuộc

3 Truyền thuyết thời kì phong kiến tự chủ

4 Truyền thuyết thời kì pháp thuộc (1)

Cách phân chia trên đây vừa có tính chất tiểu loại,vừa có tính chất phânkì Song sự phân kì ở đây cha hợp lí Bởi có thể phân chia truyền thuyết thànhcác thời kì ngắn hơn

Trong cuốn "Thi pháp văn học dân gian" của Lê Trờng Phát chia truyềnthuyết vừa căn cứ theo lịch sử, vừa căn cứ vào phạm vi những sự kiện và nhânvật lịch sử đợc nhân dân quan tâm, theo cách này có :

(1)Hoàng Tiến Tựu, VHDG Việt Nam, tập 2, NXB GD, H, 1990.

- Những truyền thuyết về các thời kì các vua Hùng

- Những truyền thuyết về thời sau các vua Hùng(1)

Đỗ Bình Trị đa ra một cách phân loại truyền thuyết không căn cứ theolịch sử mà căn cứ vào những đặc trng chung của cả thể loại và một mặt khác,vào sự khác biệt của đối tợng đợc truyện kể đến, có thể chia truyền thuyếtthành ba loại

- Truyền thuyết phổ hệ gồm những truyện kể dân gian về nguồn gốc lịch

sử của các thị tộc, bộ lạc, gia tộc, các làng xã, thành thị, xởng máy vv

- Truyền thuyết địa danh: Gồm những truyện kể dân gian về nhữngnguồn gốc lịch sử của những tên gọi địa lí khác nhau hoặc về nguồn gốc bảnthân những địa điểm, địa hình, sự vật địa lí ấy

Trang 12

- Truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử (thờng gọi là truyềnthuyết lịch sử)(2)

Cách phân chia này rất dễ gây nhầm lẫn, và cha thấy đợc đặc trng củatruyền thuyết, khiến ngời ta còn mơ hồ khi đứng trớc một văn bản truyềnthuyết

Tóm lại, phân loại truyền thuyết đợc quan tâm song cha có giải pháp cụthể và hệ thống Song có thể thấy tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu cho thể loạiịahơn cả, các tiểu loại khác của truyền thuyết rút cục cũng đều là phản ánh lịch

sử ở những mức độ khác nhau Bởi vậy, ở khóa luận này chỉ tập trung phântích, tìm hiểu đặc điểm thi pháp của tiểu loại truyền thuyết lịch sử

1.1.3 Đặc trng thi pháp thể loại truyền thuyết

Truyền thuyết là một thể tài lớn của VHDG, nó xuất hiện, tồn tại vàdiễn biến trớc hết nh là sự thay thế, sự hóa thân của thể loại sử thi (anh hùngca) cổ đại

(1) Lê Trờng Phát, Thi pháp VHDG, NXB GD, 2000.

(2) Đỗ Bình Trị - Trần Đình Sử, Văn học, tập 2, NXB GD, 1998.

Nó là cái mắt xích nối liền thần thoại Việt với các truyện dân gian khác, đảmbảo tính liên tục, hoàn chỉnh, và hợp lí trong cơ cấu thể loại cũng nh trong tiếntrình lịch sử của loại hình tự sự dân gian

Truyền thuyết mang đặc trng riêng có của nó Trong đề tài nàyy, ngờiviết sẽ trình bày những nét đặc trng cơ bản về thi pháp thể loại truyền thuyết

1.1.3.1 Nhân vật truyền thuyết

Bất kì một TPVH thuộc loại hình nào cũng đều tồn tại nhân vật và nóthuộc phơng diện hình thức tác phẩm Văn học sử dụng nhân vật nh một phơngdiện hình thức để tái hiện đời sống Văn học sử dụng nhân vật nh một phơngdiện hình thức để tái hiện đời sống Đây cũng là đặc trng nổi bật của tác phẩm

tự sự dân gian nói chung, thể loại truyền thuyết nói riêng Có thể khẳng địnhtrọng tâm của sự việc, biến cố là con ngời, trung tâm của tình tiết là nhân vật

Do thời gian cũng nhơ sự giới hạn của đề tài, ở đây chúng tôi chỉ đi tìmhiểu thi pháp nhân vật trong thể loại truyền thuyết

Truyền thuyết trong lịch sử có hai chức năng cơ bản: ghi chép lịch sử(chức năng xã hội - thực hành) và phản ánh thái độ, t tởng, tình cảm và quan

điểm của nhân dân về lịch sử nghệ thuật (chức năng thẩm mĩ) Để thực hiện tốt

Trang 13

hai chức năng ấy thi pháp nhân vật của truyền thuyết không chỉ thể hiện ở hệthống nhân vật của nó (nhân vật lịch sử có nguyên mẫu là những danh nhânlịch sử, những cá nhân đạt tầm vóc lịch sử), thi pháp đó còn thể hiện ở sự lựachọn và cách thể hiện nhân vật nữa.

Có thể nói nhân vật trong truyền thuyết là những con ngời có thật ngoài

đời đợc tác giả đân gian lựa chọn đa vào truyền thuyết, tùy theo cách nhìnnhận, xem xét, đánh giá của quần chúng nhân dân (các nhân vật ấy thờng làgần gũi với cuộc sống của nhân dân đợc nhân dân biết đến) Vì vậy, truyềnthuyết ít nói vềê các vua chúa, dù trong tầng lớp này nhiều ngời cũng là minhquân, đức cao, tài lớn Và dân gian thể hiện nhân vật, xậy dựng nhân vật củatruyền thuyết không giống nh một sự sao chép mô phỏng nguyên sxi, khôngphải là một sự tái hiện nguyên mẫu mà trên cái cốt lõi lịch sử Truyền thuyết

có thể tiến hành một sự sắp xếp lại để tạo nên tầm vóc của sự kiện và nhân vật,

đa thêm vào đó những gì là tâm tình, thái độ của nhân dân

Trên cơ sở là cái lõi "sự thật lịch sử" khi xây dựng các nhân vật truyềnthuyết tác giả dân gian thờng có khuynh hớng "lí tởng hóa" những con ngời

mà họ thờng kính trọng, yêu mến Nhiều nhân vật của truyền thuyết đã trởthành những biểu tợng đẹp đẽ của văn hóa, của truyền thống dân tộc Do vậy

mà ngời sáng tác không ngần ngại khi mang yếu tố thần kì vào trong tácphẩm Nhng không phải vì thế mà các nhân vật của truyền thuyết mất đinhững nét dân dã, đời thờng của nó

Nh vậy nhân vật chính là cảm hứng, là đề tài, là chất liệu để góp phầnlàm nên những truyền thuyết Sự tồn tại và hoạt động của nhân vật trong tácphẩm tự sự dân gian nói chung, trong truyền thuyết nói riêng là yếu tố khôngthể thiếu Nó còn cho thấy sự chuyển biến trong t duy nghệ thuật - t duy nhânloại của một giai đoạn nhất định trong lịch sử văn học

1.1.3.2 Xung đột trong truyền thuyết

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: "Xung đột là sự đối lập, sự so sánh đợcdùng nh một nguyên tắc để xây dựng các mối quan hệ tơng tác giữa các hình t-ợng của nghệ thuật."(tr.431)

Truyền thuyết phản ánh, nhậân thức và lí giải lịch sử Vì vậy mà truyềnthuyết không chú ý hớng vào các hiện tợng trong thế giới tự nhiên nh thầnthoại mà chủ yếu hớng vào những sự kiện, những biến cố lịch sử có ý nghĩa

Trang 14

trọng đại và nhân vật nổi lên trên những sự kiện, những biến cố ấy Xung độttrong truyền thuyết đợc biểu hiện dới những dạng khác nhau nh:

- Với loại nhân vật là anh hùng dân tộc thì xung đột trong truyện làxung đột giữa dân tộc ta, nhân dân ta với bọn xâm lợc

- Với loại nhân vật là nông dân khởi nghĩa thì xung đột là xung đột giữaquần chúng nhân dân với các thế lực áp bức cờng quyền

Tóm lại, xung đột là yếu tố không thể thiếu trong tác phẩm truyềnthuyết Xung đột chi phối biến cố, sự kiện, tình tiết của tác phẩm, tạo nên giátrị và sức sống cho tác phẩm

1.1.3.3 kết cấu trong truyền thuyết

Khi nói đến tác phẩm tự sự dân gian là phải nói đến kết cấu và truyềnthuyết không nằm ngoài phạm trù ấy Bất cứ một tác phẩm nào cũng có mộtkết cấu nhất định Kết cấu là phơng tiện tất yếu và cơ bản của sự khái quátnghệ thuật

Mỗi tác phẩm là một "sinh mệnh", một "cơ thể sống" nên kết cấu tácphẩm là một cấu trúc, một tổ chức cụ thể, phù hợp với nội dung cụ thể củatác phẩm

Kết cấu trong tác phẩm văn học nói chung, thể tài truyền thuyết nóiriêng thờng đi theo đờng thẳng, theo sự việc, hành động, theo thứ tự thời gian,cái gì xảy ra trớc kể trớc kể trớc, cái gì xảy ra sau kể sau Mỗi truyền thuyết kể

về một nhân vật, mỗi nhân vật đó lại có diễn biến cuộc đời khác nhau cáctruyền thuyết vẫn sử dụng một mô típ kết cấu truyền thống gồm ba phần:

- Phần mở đầu: Hoàn cảnh xuất thân và thân thế của nhân vật chính.Các mô típ phổ biến trong truyền thuyết là : sự thụ thai kì lạ, tớng mạo hoặc tàinăng khác thờng (Thánh Gióng), gia đình nghèo khổ hoặc mang mối thù vớigiặc ngoại xâm hoặc truyền thống học hành

- Phần nội dung chính: Cuộc đời, sự nghiệp cùng những chiến công,những đóng góp của những anh hùng, các danh nhân cho quê hơng, đất nớc

- Phần kết: Đoạn cuối cuộc đời nhân vật Phần này cũng có một số môtíp thờng gặp: Vví nh sự hiển linh, sự hóa thân

Bên cạnh đó truyền thuyết còn mang những nét riêng về kết cấu, đó làkết cấu chuỗi - một kiểu kết cấu đặc biệt của truyền thuyết lịch sử

Ngoài ra còn có rất nhiều truyền thuyết gắn kết với nhau thành chuỗi:Mỗi "hạt" kể về một sự kiện hoàn chỉnh xoay quanh một nhân vật, nhiều "hạt"

Trang 15

gắn kết với nhau thành một chuỗi nhờ có một nhân vật xuyên suốt, đóng vaitrò nhân vật trung tâm của cả một sự kiện lịch sử lớn.

Chẳng hạn, chuỗi truyền thuyết về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơngồm hàng chục truyện nh : Ttruyện "Trao gơm thần" (với các nhân vật nh: LêThận, Lê Quân, Lê Lợi, trong đó nhân vật Lê Thận là nhân vật chính) Haytruyện "Sự tích Hồ Gơm" ( với các nhân vật chính là Lê Lợi và Rùa Vàng)

Tóm lại, với những đặc điểm thi pháp kết cấu làm cho truyền thuyếtmang đậm màu sắc dân gian, mang vẻ đẹp giản dị, trong sáng của tác phẩmphônclo, tạo nên sức hấp dẫn của truyền thuyết với bạn đọc

1.1.3.4 Lời kể của truyền thuyết

Đặc điểm tiêu biểu của lời kể truyền thuyết là bằng lối kể cô đọng rất ít

sự miêu tả, chủ yếu chỉ thuật lại hành động của nhân vật, có sử dụng một sốthủ pháp nghệ thuật nhằm tô đậm tính xác thực của truyện: những chi tiết vềhoàn cảnh xuất thân của nhân vật, về bối cảnh của câu chuyện, về hành động

và một số lời nói cô đúc của nhân vật chính Những lời cô đúc ấy, do tính chấtngắn gọn về hình thức, xúc tích về nội dung thể hiện đợc tính cách, đạo đứccủa nhân vật

Chẳng hạn lời Gióng bảo mẹ, lúc ngồi vụt dậy, ra mời sứ giả vào, lờiGióng dặn sứ giả về tâu đức vua xin đúc quần áo, khí giới, ngựa

Đối với những nhân vật lịch sử, truyền thuyết giữ lối kể cô đọng, đầy ắpchất tởng tợng, tơi mát, bay bổng mà vẫn mộc mạc với lối t duy và kiểu diễn

đạt của dân gian, làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm phônclo

1.1.3.5 Thời gian, không gian nghệ thuật truyền thuyết

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: "Thời gian, không gian nghệ thuật làhình thức bên trong của hình tợng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó".(tr.322)

T duy cộng đồng và cảm hứng dân gian đã làm nên thời gian và khônggian nghệ thuật trong văn học viết Với phơng thức tự sự, tác giả dân gian kểlại những câu chuyện xảy ra trong quá khứ Song thời gian và không gian ởtruyền thuyết không giống với thời gian và không gian trong truyện cổ tích

Nếu thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích mang tínhphiếm chỉ, nhiều trờng hợp mang tính chất công thức, ớc lệ, mang ý nghĩa t-

Trang 16

ợng trng thì ở truyền thuyết lại khác, thời gian và không gian nghệ thuật ở đâykhông mang tính phiếm chỉ mà mang rõ tính xác thực

Nh vậy, thời gian và không gian nghệ thuật là một trong những đặc trngthhi pháp quan trọng của thể loại truyền thuyết Trong đó không gian nghệthuật mang tính chủ quan, cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc

đáo của hình tợng nghệ thuật Còn thời gian nghệ thuật cung cấp một cơ sở đểphân tích cấu trúc bên trong của hình tợng tác phẩm

1.2 Vấn đề tiếp nhận TPVH

1.2.1 Khái niệm

Vấn đề tiếp nhận văn học đã và đang đợc nhiều ngời quan tâm nghiêncứu và nó cũng đang mở ra khả năng mới cho việc khám phá và dạy họcTPVH

Trong giáo trình lí luận văn học do G.S Phơng Lựu ( chủ biên) đa rakhái niệm: " Tiếp nhận văn học là giai đoạn hoàn tất của quá trình sáng tác -giao tế của văn học” Nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm là để truyền đạt những kháiquát, cảm nhận về cuộc đời cho ngời đọc, chỉ khi ngời đọc tiếp nhận quá trìnhsáng tạo mới hoàn tất

PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hơng khẳng định: “ Tiếp nhận văn học làmột quá trình” và “ quá trình tiếpinhftieeps nhận văn học là một quá trình tâm

lí phức tạp vcừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan” (tr.34)

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tiếp nhận văn học là hoạt động chiếmlĩnh các giá trị t tởng, thẩm mĩ của TPVH Bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn

từ, hình tợng nghệ thuật, t tởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tácgiả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tợng trong trí nhớ, ảnh hởngtrong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể (tr.325)

Tác phẩm văn học là cuộc đối thoại giữ ngời đọc với tác giả thông quatác phẩm, sau đó là của ngời đọc đối với ngời đọc qua tác phẩm đó ở đó thểhiện nhu cầu giao tiếp, chia sẻ, trao đổi, giãi bày giữa ngời với ngời Dù sợidây liên hệ là gián tiếp, nhng nó lạ mang tính giao diện rất cao, thể hiện mộtphần cức năng của văn học Mỗi tác phẩm lúc này là phơng tiện giao tiếp giữanhà văn với độc giả mà mỗi đọc giả là một cuộc mói chuyện khác nhau Đó làcuộc giao tiếp đa chiều, đa dạng: Ngời đọc giao tiếp với tác giả, với nhân vật

và hình tợng trong tác phẩm; Đó là cuộc giao tiếp trong không gian : Giữa dântộc và nền văn hoá và thời gian, giữa các thế hệ và thời đại khác nhau Tuy

Trang 17

nhiên mỗi một tác phẩm văn học có thể có sự tiếp nhận khác nhau từ phía độcgiả, tuỳ theo trình độ, gu thẩm mỹ, quan niệm, sở thích của ngời đọc TPVH làmột hệ mở mà khi chủ thể tiếp nhận tác phẩm đã đánh thức những con chữ

"khô cứng" trên trang giấy Chính thế giới tâm hồn và sự tởng tợng của bạn

đọc đã thổi linh hồn vào ngôn từ tác phẩm, đem lại sức sống cho TPVH

1.2.2 Con đờng chiếm lĩnh TPVH

TPVH là một đối tợng nhận thức đặc thù vì nó là sản phẩm tinh thần

đặc biệt Mỗi sáng tác văn học đều là sự sáng tạo đốc đáo của nhà văn, nhằmtruyền đạt những khái quát và cảm nhận về cuộc đời cho ngời đọc TPVH lànguồn cung cấp thông tin " có nhiều dải sóng mà ngời nhận là kẻ chỉnh sóng

để bắt đúng chơng trình mà mình mong đợi" Điều này cho thấy thực chất củaquá trình sáng tác văn học là quá trình chuyển cảm xúc đến với bạn đọc Tiếp nhận văn học là quá trình bạn đọc "cộng hởng"đuợc cảm xúc đó

và Và nếu đặc thù của quá trình sáng tác văn học là các giai đoạn tồn tại hìnhtợng nghệ thuật thì đặc thù của quá trình tiếp nhận là quá trình đi ngợc lai quátrình sáng tác ở đó ngời đọc phải bắt đầu từ việc đọc tác phẩm, từ những yếu

tố nhỏ nhất trong văn bản nh âm vị, câu, thu nhận ý nghĩa của toàn bộ vănbăn, chuyển nội dung văn bản thành ý nghĩa tinh thần của mỗi ngời Trongquá trình này ngời đọc chia sẻ, tìm ra những tính chất thẩm mỹ quan trọng nhtính chân thực và chói sáng của ngôn ngữ nghệ tthuật, sự thống nhất nội tạitrong kết cấu, tính độc đaoc của những phát hiện, chân lý của sự phản ánh,trọng lợng của xung đột, đặc trng thi pháp thể loại, quan niệm nghệ thuật vềcon ngời của tác giả

TPVC là một sinh mệnh cực kì đa dạng và độc đáo, con ngời học sinh làmột thế giới vô cùng phong phú và đa dạng Bởi vậy, mọi công thức khuônsáo, máy móc trong giảng dạy TPVC đều không thích hợp với bản chất sángtạo của lao động, phân tích và tiếp nhận văn chơng

Con đờng chiếm lĩnh TPVH thờng đợc triển khai theo năm bớc : Chuẩn

bị tâm thế, tri giác ngôn ngữ, tái tạo hình tợng nghệ thuật, phân tích khái quátnghệ thuật, đánh giá và tự biểu hiện

1.1.4.2.1 Tạo tâm thế cho ngời học

Trong một giờ dạy học Ngữ văn luôn diễn ra hoạt động song phơng giữathầy và trò Họ từng bớc đi vào khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm diễn ra trêncơ sở những mối liêiân hệ qua lại một cách hữu cơ biện chứng giữa ba chủ thể:

Trang 18

Nhà văn - Giáo viên - Học sinh, trong đó học sinh giữ vai trò là trung tâm Đốivới một giờ đọc - hiểu văn bản Ngữ văn cụ thể, công việc đầu tiên và cũng làbớc đệm khởi đầu cho một giờ học là giáo viên tạo tâm thế cho ngời học Hoạt

động này đợc thực hiện thông qua hệ thông công việc nh :

- Chuẩn bị bài ởỏ nhà của GV và HS

- GV chuẩn bị lời vào bài ngắn gọn,xúc tích, có ý nghĩa định hớng chohọc sinh vàao bài mới

- Với các văn bản nghệ thuật có thể tạo tâm thế cho ngời học bằng việc

kể một câu chuyện, một giai thoại, một nhận định, hoặc có thể bằng một tròchơi manh tính định hớng Hoạt đdộng này giúp ngời học - học sinh nhớ bài

cũ và chuẩn bị đợc về mặt ý thức và tâm lý, vừa huy động đuợc các kĩ năng đã

có để giải quyết những yêu cầu mới, tạo dần tâm thế văn học cho học sinh.Bởi vậy đây là hoạt động khởi đầu không thể bỏ qua trong dạy học văn, tạohiệu quả cho các hoạt động tiếp theo, nhất là việc khêu gợi hứng thú tìm hiểuvăn chơng của học sinh

1.1.4.2.2 Tri giác ngôn ngữ

Đây là hoạt động chuyển đổi ngôon ngữ từ dạng kí hiệu sang dạng viết

để hiểu ý ngôn ngữ của văn bản hay nói khác đi đây chính là hoạt động đọc

Đọc là yêu cầu bắt buộc để tiếp nhận TPVH và định hớng cho việc phân tích

Nó là khởi đầu cho việc tiếp nhận Đọc văn trớc hết phải phụ thuộc vào vănbản tác phẩm Văn bản tác phẩm nói một cách khách quan là sản phẩm sángtạo của nhà văn Nó đợc tổ chức bởi các kí hiệu ngôn ngữ Bởi tiếng nói củanhà văn gửi gắm cho bạn đọc thông qua hệ thống ngôn ngữ kết dệt nên hình t-ợng tác phẩm, nhng trớc mặt bạn đọc vẫn chỉ là những kí hiệu "vô hồn" Âmvang lời đọc sẽ kích thích quá trình tri giác, tởng tợng và tái hiện hình ảnh Vìvậy, muốn chiếm lĩnh TPVH ngời đọc phải tri giác ngôn ngữ tức phải đọc vănbản để " giải mã" các kí hiệu ngôn ngữ trong tác phẩm

Nh vậy, hoạt đông tri giác ngôn ngữ là hoạt động đầu tiên mang tínhchất mở đờng cho quá trình khám phá, chiếm lĩnh một văn bản Ngữ văn, nócung cấp cho ngời đọc những thông tin đầu tiên có ý nghĩa tiền đề cho cáchoạt độọng tiếp theo tìm hiểu hình thức tổ chức và nội dung thông tin văn bản

Cụ thể nó cho ngời đọc biết đợc những vấn đề cơ bản có liên quan đến tác giả,liên quan đến sự ra đời của văn bản ấy (hoàn cảnh sáng tác, cảm xúc, tìnhhuống, mối quan hệ giữa văn bản với lịch sử đời sống xã hội)

Trang 19

1.1.4.2.3 Tái tạo hình tợng nghệ thuật

Đọc văn để tiếp nhận và lĩnh hội, đọc văn để hiểu và cảm nhận văn, có

ấn tợng và định hình biểu tợng về tác phẩm văn học Ngời đọc phải làm sốngdậy hình tợng nghệ thuật từ văn bản tác phẩm rồi chuyển hình tợng đó vàotrong đầu trở thành biểu tợng, ấn tợng của mình Tức là hoạt động dựng lạihình tợng nghệ thuật của tác phẩm văn chơng, bởi văn chơng phản ánh đờisống và biểu hiện t tởng bằng hình tợng Mặt khác, hình tợng trong tác phẩmvăn chơng là bức tranh đời sống kết dệt bằng ngôn từ, vô hình, vô ảnh Bởi thếmuốn chiếm lĩnh đợc tác phẩm buộc ngời đọc phải sử dụng các khả năng liêntởng, tởng tợng, hồi ức, phán đoán để tái tạo lại " bức tranh đời sống" bằngngôn ngữ và bằàng hiểu biết của chính mình

Muốn cho thế giới nghệ thuật của tác phẩm hiện hình lên, ngời đọc phải

có khả năng tái hiện bằng hoạt động tởng tợng TPVH chỉ thực sự tồn tạai và

có sức sống trong sự tiếp nhận bằng tởng tợng, tái hiện của ngời đọc Có thểnói tri giác ngôn ngữ là bớc đánh thức cánh cửa các kí hiệu của tác phẩm thì t-ởng tợng, tái hiện là bớc giúp ngời đọc nhìn ra thế giới bên troỏng của tácphẩm nằm dới các kí hiệu ngôn ngữ có tởng tợng tái hiện thì thế giới tácphẩm mới hiện hình với bao nhiêu bức tranh nhiều màu, với bao nhiêu con ng-

ời khác nhau về diện mạo, tích cách Từ đó mới hiểu đợc giá trị đích thực củatác phẩm

1.1.4.2.4 Phân tích - khái quát nghệ thuật

Đây là bớc quan trọng nhất, trọng tâm trong cơ chế tiếp nhận văn họccũng nh trong giờ đọc - hiểu văn bản nói chung, đặc biệt là giờ đọc hiểuVBNT

Nh chúng ta đã biết, TPVH là một chỉnh thể Mỗi một từ, một chi tiết,một hình ảnh, một nhân vật, một bức tranh, một sự kiện là những yếu tố hợpthành một chỉnh thể nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên bằng tài năng củamình Vậy làm thế nào để hiểu đợc lớp ý nghĩa đằng sau những yếu tố ấy?Không có con đờng nào thay thế đợc con đờng phân tích, cắt nghĩa tác phẩm

Phân tích là tách rời yếu tố này ra để giải thích, để có cái nhìn cụ thểnhững yếu tố làm nên chỉnh thể sâu hơn ở bớc này, ngời tiếp nhận sau khi

đọc, giải mã đợc ý nghĩa ngôn ngữ, kết cấu, thể loại thì phải có năng lực tíchhợp, khái quát những gì đã phân tích

Trang 20

Sau khi phân tích cần làm công việc khái quát nghệ thuật: Việc kháiquát nghệ thuật thực ra đợc tiến hành với các văn bản nghệ thuật ( TPVC ).Bởi bất kì một TPVH nào thì tác giả là ngời sáng tạo cũng gửi vào hình tợngnghệ thuật mà mình tạo nên t tuởng của chính mình Đó có thể là một vấn đềmang ý nghĩa xã hội, mang ý nghĩa nhân sinh, đó có thể là nỗi niềm, là sự daydứt,một dự cảm, một hoài niệm nhng tất cả những điều đó không bao giờ đợcbộc lộ một cách trực tiếp mà nó ẩn chứa trong các chi tiết nghệ thuật, trongtoàn bộ hình tợng nghệ thuật tác phẩm Quá trình khám phá và tìm hiểu tácphẩm thực chất là quá trình phát hiện t tởng mà tác giả gửi gắm vào hình tợngnghệ thuật Điều đó sẽ đợc thực hiện bằng việc khái quát hình tợng nghệthuật, khái quát từ những hình ảnh riêng lẻẻ, đặc biệt từ việc sáng tạo nhữnghình tợng sinh động của nhà văn để tìm ra t tởng tác phẩm.

Tóm lại, hoạt động phân tích - đánh giá nghệ thuật nhằm khám pháchiều sâu nội dung t tỏng nghệ thuật của TPVH, hiểu đợc ý đồ và t tởng củanhà văn

1.1.4.2.5 Hoạt động đánh giá - tự biểu hiện

Đây là bớc cuối cùng trong quá trình tiếp nhận Đây là hoạt động mangtính chủ quan của ngời đọc khi đứng trớc tác phẩm

Đánh giá để chỉ ra cái hay, cái dở của các yếu tố trong tác phẩm cũng

nh hiệu quả của chúng Đánh giá là khẳng định giá trị nhiều mặt của tácphẩm trong quá trình phân tích và sau khi phân tích Giá trị đó bao gồm: giátrị nội dung, giá trị nghệ thuật, đóng góp của nhà văn, bài học cho cuộc sống.Kết quả của đánh giá tác phẩm phụ thuộc vào giá trị khách quan của tác phẩm, chủ thể của hoạt động đánh giá, điển hình đợc lựa chọn và thớc đo để

đánh giá tác phẩm đánh giá đợc coi nh là một cuộc giao tiếp giữa tác giả và

độc giả qua tác phẩm tạo thành đời sống lịch sử của tác phẩm văn học, xác nhận vai trò chủ động sáng tạo của chủ thể ngời đọc trong việc chiếm lĩnh giá trị văn học Nói đúng hơn, nhờ có hoạt đông đánh giá mà văn chuơng có sức sống gây đợc những rung đông thẩm mỹ sâu xa trong lòng bạn đọc

Nh vậy, con đờng tiếp nhận TPVC là một hệ thống gồm các hoạt động:Tạo tâm thế cho ngời học, tri giác ngôn ngữ, tái tạo hình tợng, phân tích - kháiquát nghệ thuật và đánh giá, tự biểu hiện Các hoạt động này không tồn tại

độc lập mà luôn gắn bó, quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một vòng khépkín trong quá trình chiếm lĩnh TPVC

Trang 21

1.3 Mối quan hệ giữa thể loại và tiếp nhận tác phẩm theo đặc trng thể loại.

Thể loại văn học là một loại hình sáng tác mang tính quy luật chứa đựngnhững yếu tố mang tính ổn định trong cấu trúc tác phẩm Đó là sự kết hợpgiữa nội dung và hình thức để tạo nên một chỉnh thể Nó chỉ ra một giới hạntiếp xúc với đời sống một cách tiếp nhận, một góc nhìn, một trờng quan niệm

về đời sống Điều này vừa mang tính quy luật, vừa có ý nghĩa nh một nguyêntắc xây dựng một thế giới nghệ thuật Vì vậy, nghiên cứu thể loại giúp ta nhận

ra đợc những vấn đề có tính chất kế thừa trong tiến trình phát triển của vănhọc nhng tất yếu, nó có vai trò to lớn đối với quá trình tiếp nhận văn học

Tiếp nhận văn học là một phạm trù văn học, là giai đoạn cuối cùng đểhình thành quá trình sáng tác của một tác phẩm

Hoạt động tiếp nhận thực chất là quá trình chuyển biến tác phẩm vănhọc của nhà văn thành tác phẩm của bạn đọc, hay nói khác đi là quá trìnhchuyển tác phẩm từ bên ngoài vào trong Tiếp nhận văn học có liên quan chặtchẽ đến phơng thức tiếp nhận tơng ứng Điều này chỉ rõ hoạt động tiếp nhậntác phẩm văn học diễn ra ở mỗi tác phẩm thuộc mỗi thể loại khác nhau cũngkhác nhau Điều này còn cho thấy giữa thể loại và tiếp nhận tác phẩm có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau Việc nắm vững những kiến thức về thể loại là nắmvững một công cụ, phơng tiện hữu hiệu cho việc tiếp nhận tác phẩm, khôngnhững vậy nó còn giúp ngời học văn không chỉ có kĩ năng đọc văn, hiểu văn

mà còn có kĩ năng tạo lập văn bản Loại thể văn học nh là phơng thức kết cấuhình tợng có ý nghĩa đối với việc đọc văn và cảm thụ văn

Từ đó hình thành một con đờng tiếp nhận tác phẩm văn học, một phơngpháp dạy học tích cực theo đặc trng thể loại Bản chất của phơng pháp này làhoạt động đọc - hiểu tác phẩm dựa trên những cơ sở của đặc trng thể loại, đểtiếp nhận tác phẩm văn học là một hệ thống các hoạt động thao tác trong đóhoạt động đầu tiên cơ bản xuyên suốt quá trình tiếp nhân là "đọc-hiểu"

Đọc văn là phơng tiện trau dồi hàng loạt năng khiếu cần thiết cho sựcảm thụ và lĩnh hội tác phẩm, cho sự phát triển toàn diện các năng lực tinhthần trí tuệ, tâm hồn của học sinh

Đọc - hiểu theo đặc trng thể loại là quá trình xác định kiểu quan hệ giaotiếp giữa các chủ thể tiếp nhận và đối tợng tiếp nhận là tác phẩm văn học, dựatrên cơ sở những tri thức lí lụân mang tính nền tảng Những kiến thức về đặc

Trang 22

trng thể loại sẽ mang lại cho ngời tiếp nhận một khả năng nhìn nhận tác phẩmkhoa học, chính xác tạo tiền đề cho những khám phá sáng tạo tinh thần trênmột cơ sở vững chắc.

Tóm lại, thực tiễn của hoạt động tiếp nhận văn học nói chung và hoạt

động dạy học nói riêng đã cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa phơng phápdạy học với vấn đề thể loại và tiếp nhận tác phẩm Nắm vững những tri thức về

đặc trng thể loại và chuyển hoá chúng thành phơng pháp nghiên cứu, tìm hiểutác phẩm văn học là một trong những con đờng để rút ngắn khoảng cách tiếpnhận và đạt đến một chất lợng tiếp nhận đạt hiệu quả cao

1.4 Lý thuyết đọc-hiểu

Theo tinh thần đổi mới giáo dục về cấu trúc, nội dung chơng trình SGK

và lựa chọn phơng pháp giảng dạy "Giảng văn" đợc thay thế bằng việc đọchiểu văn bản Trớc đổi mới, chơng trình, SGK phần lớn quan niệm văn bảnnghệ thuật là tác phẩm văn học, mỗi văn bản ứng với một tác phẩm văn học vàdạy học tác phẩm theo kiểu "Giảng văn" Tức là giáo viên là ngời chiếm lĩnhgiá trị của văn bản, sau đó truyền lại cho học sinh theo kiểu đọc - chép vàkết quả là khi kiểm tra, các em tái hiện lại những điều mà giáo viên đã giảng

Điều này dẫn đến học sinh tiếp nhận thụ động, mất đi vai trò chủ thể của ngờihọc và khám phá giá trị tác phẩm Nhận thức đợc điều đó chơng trình tích hợp

ba phân môn Tiếng Việt - Làm Văn - Văn thành bộ môn Ngữ văn mà văn bảnlại bao gồm văn bản nghệ thuật thuộc nhiều phong cách chức năng khác nhau

K Vì không thể dạy văn bản hành chính, văn bản khoa học, Vvăn bản phongcách báo chí theo kiểu giảng văn Vì vậy dạy đọc - hiểu văn bản văn học đợccoi là bớc đột phá trong phơng pháp dạy học văn và là con đờng đặc thù tiếpnhận tác phẩm văn học có hiệu quả

Đọc là hoạt động để tiếp nhận thông tin từ văn bản

Hiểu là mục đích của hoạt động đọc văn bản

Đọc - hiểu là mục đích cuối cùng của các giai đoạn đọc và mức độ đọc

đối với văn bản nghệ thuật Đọc-hiểu là hoạt động truy tìm và giải nghĩa, ýnghĩa của văn bản, nói khác đi đọc - hiểu là hoạt động cơ bản của học sinh

đem tích hộ các tầng ý nghĩa của văn bản, tuỳ theo loại văn bản mà ngời đọccần tích hợp những tri thức đọc - hiểu nào Chẳng hạn, muốn đọc - hiểu tácphẩm văn học dân gian thì ngời học sinh phải đợc trang bị tri thức đọc

- hiểu về thi pháp văn học dân gian, văn hoá dân gian, tri thức về phônclo

Trang 23

Hoạt động đọc-hiểu của học sinh trở thành trọng tâm khi tiếp cận, phân tích,cắt nghoĩa và bình giá tác phẩm văn chơng Nói nh GS.TS Nguyễn ThanhHùng: "Đọc hiểu văn chơng là năng lực đầu tiên cần có trong quá trìng tiếpnhận tác phẩm văn học Đọc văn là cuộc đi tìm ý nghĩa tiềm ẩn của văn bản,

để rồi từ đó đọc hiểu một "văn bản lớn hơn", là thế giới và cuộc đời, nói cáchkhác là đi tìm thế giới nhân sinh qua văn bản văn học".(1)

Thông thờng khi đi vào tiếp nhận một văn bản văn học bằng con đờng

"đọc" phải trải qua bốn bớc ứng với: các hoạt động tổ chức chiếm lĩnh tácphẩm văn học nh: Đọc thông - đọc thuộc, đọc kĩ - đọc sâu, đọc hiểu-

đọc sáng tạo, đọc đánh giá- đọc ứng dụng

Tóm lại, đọc - hiểu là trọng tâm và cũng là yêu cầu cấp thiết trong dạy

và học tác phẩm văn chơng theo tinh thần đổi mới Đọc - hiểu là hoạt động thunạp và toả sáng âm thầm với sức mạnh nội hoá kinh nghiệm đời sống, kinhnghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ thuật và văn hoá trong cấu trúc tinh thần cáthể,; đó là lối đọc để tự học suốt đời Vì vậy ngời ta coi đọcoch hiểu là con đ-ờng đặc thù để tiếp nhận tác phẩm văn học

Nh vậy, ở chơng 1 chúng tôi đã đi vào tìm hiểu những vấn đề lí thuyếtchung có liên quan đến đề tài Dựa trên cơ sở thành tựu của các nhà khoa học,nhà nghiên cứu và các nhà giáo tâm huyết, chúng tôi đã đa ra những kháiniệm, các cách phân loại và các cách hiểu về những vấn đề lí thuyết chung.Tuy cha thống nhất song chúng tôi cũng góp phần giải quyết cho những vấn

đề mà chúng tôi sắp trình bày ở chơng tiếp theo, trọng tâm là vấn đề đọc hiểu các văn bản truyền thuyết theo đặc trng thi pháp thể loại đợc cụ thể ở ch-

-ơng 2

(1) Nguyễn Thanh Hùng, "Đọc văn, học văn" NXBGD.2001.

chơng 2: Đọc hiểu các văn bản truyền thuyết trong

nhà trờng phổ thông theo đặc trng

Trang 24

thi pháp thể loại 2.1 Văn bản và văn bản văn học

2.1.1 Văn bản

Theo Đỗ Hữu Châu : “Văn bản là một thể hoàn chỉnh về hình thức, trọnvẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp, là một biến thểdạng viết liên tục của ngôn bản, thục hiện một hoặc một số đích nhất địnhnhằm vào những ngời tiếp nhận nhất định, thờng là không có mặăt khi văn bản

đợc sinh ra”.(tr.8)

SGK Ngữ văn 6 – tập 1: “Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết

có chủ đề thống nhất, có kiên kết chặt chẽ, mạch lạc, vận dụng phơng thứcbiểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp”

Theo Từ điển Thuật ngữ văn học “Văn bản là ban ghi băng chũ viếthoặc in, một phát ngôn hoặc môt thông báo ngôn từ( phân biệt với thực hiệnphát ngôn hoặc thông báo ấy bằng nói miệng”.(tr.394)

Các quan niệm về văn bản tuy không thông nhất song có thể thấy rằngvăn bản chính là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Về mặthình thức nó là tập hợp các kí hiệu ngôn ngữ đợc tổ chức thành một hệ thốngchặt chẽ, các yếu tố trong hệ thóng ấy quy định lẫn nhau tạo thành một kết cấubền vững có chứa đựng một nội dung thông tin nào đó

2.1.2 Văn bản văn học

Theo SGK Ngữ văn 10 – tập 2: “ Văn bản văn học là những văn bản đisâu khám phá hiện thực khách quan, khám phá thế giới tình cảm và t tởng,thỏaõa mãn nhu cầu khám phá của con ngời Văn bản văn học đợc xây dụngbằng hệ thống ngôn từ nghệ thuật, có hình tợng, có tính thẩm mĩ cao Mỗi vănbản văn học đều thuộc về một thể loại nhất định, và theo quy ớc, cách thứccủa thể loại đó”

Theo Đỗ Hữu Châu: “Văn bản văn học là một tổ chức nghệ thuật gồm

từ, câu, nhóm, đoạn tạo thành một thế giới nghệ thuật mang tính khái quátnhằm phản ánh đời sống của tác giả, nhằm thức tỉnh thái độ, tình cảm nhất

định đối với thực tại đời sống qua việc xây dựng nhân vật, thời gian, khônggian, qua việc sắp xếp các chi tiết để biểu hiện bức tranh đời sống sinh độngnhằm biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con ngời của tác giả”.(tr.8)

Trang 25

Văn bản văn học là văn bản của tác phẩm văn chơng có hình thức chặtchẽ thống nhất,có nội dung thông tin hoàn chỉnh mang tính thẩm mĩ và dợcthể hiện qua hình tợng.

2.1.3 Phân biệt tác phẩm văn học với văn bản văn học

“Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhânhoặc tập thể sáng tạo nhàm thể hiện những khái quát bằng hình tợng về cuộcsống con ngời, biểu hiện tâm t, tình cảm, thái độ của chủ thể trớc thực tại”(1)

Văn bản văn học và tác phẩm văn học là hai khái niệm thuộcocj haiphạm trù khác nhau, không đồng nhất với nhau nhng có quan hệ chặt chẽ vớinhau:

Văn bản là tập hợp các kí hiệu ngôn ngữ đợc nhà văn sử dụng nh mộtphơng tiện để chuyển tải tác phẩm đến bạn đọc Văn bản văn học chỉhir là một

mớ những kí hiệu ngôn ngữ cố định, những con chữ vô hồôn trên trang giấy.Muốn hiểu văn bản phải có ngời đọc làm công việc giải mã ngôn ngữ

Còn tác phẩm văn học là sản phẩm của tinh thần, là kết quả của quátrình lao động nghệ thuật của nhà văn, kết quả của việc đọc - hiểu

Quan niệm truyền thông cho rằng: Văn bản văn học chính là tác phẩmvăn học, mỗi văn bản ứng với một tác phẩm

(1)Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên).

Việc dạy học thực chất là việc tìm hiểu tác phẩm của giáo viên để rồi giáo viên

đem tất cả sự hiểu biết của mình đến cho học sinh

Quan niệm hiện đại lại khác: Quan hệ giữa TPVH và VBVH là quan hệgiữa hai yếu tố hằng biến và bất biến VBVH là cái bất biến và chỉ có một, cònTPVH là cái hằng biến và vô hạn

Chúng ta đồng ý với quan niệm thứ hai, bởi văn bản văn học có một

nh-ng thônh-ng tin đợc gửi tronh-ng văn bản đến nh-ngời tiếp nhận là vô hạn tùy theo cáchhiểu của bạn đọc Nói nh Khrapchenko: “Có bao nhiêu bạn đọc sẽ có bấynhiêu tác phẩm”

Nh vậy, việc phân biệt VBVH và TPVH là rất cần thiết trong quá trìnhgiảng dạy văn trong nhà trờng phổ thông Xác định kháiI niệm văn bản cũngchính là đề cao, khẳng định vai trò của bạn đọc - – học sinh trong nhà tr-ờng.Từ đó giúp giáo viên có phơng pháp hớng dẫn, tổ chức học sinh tiếp cậnVBVH phù hợp, đặc biệt chú trọng phơng pháp đọc - hiểu

Trang 26

2.2 Tổ chức học sinh đọc hiểu các văn bản truyền thuyết theo đặc trng thi pháp thể loại.

Nh ở trên đã nói, thể loại hiện nay đang là một trong những trục tíchhợp của SGK Ngữ văn PTTH Bởi vậy quan tâm đến những đặc điểm thi phápcủa từng thể loại nhất định có ý nghĩa khoa học và thực tiễn không nhỏ đối vớiviệc rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu TPVH cho học sinh Đồng thời nó cũngcung cấp một “chìa khóa” khoa học mở cánh cửa văn chơng,đáp ứng yêu cầucủa công cuộc đổi mới phơng pháp dạy học đang đi dần vào chiều sâu trongnhà trờng phổ thông hiện nay Vận dụng thi pháp thể loại vào việc đọc hiểuTPVC bài viết này chúng tôi xin đa ra một quy trình tổ chức học sinh đọc hiểucác văn bản truyền thuyết theo đặc trng thi pháp thể loại

Để một giờ văn thực sự thu hút kích thích đợc hứng thú học tập của họcsinh, trớc tiên ngời giáo viên cần tạo cho học sinh đợc tâaam thế tiếp nhận.Bởi

đọc văn bản Ngữ văn là một hoạt động học tập, hoạt động ấy chỉ có thể diễn

ra khi nó xuất hiện đồng thời hai thành tố cơ bản là chủ thể và đối tợng ( ngời

đọc - văn bản )

Nhng trên thực tế trong một giờ đọc - hiểu VBVH không phảiI học sinhnào cũng ý thức đợc vai trò chủ thể của mình Vì vậy, hoạt động tạo tâm thếcho ngời đọc là một hoạt động mang ý nghĩa khởi động cho một quá trình tiếpcận với văn bản của học sinh Tức chuẩn bị cho học sinh ý thức và tâm thế đểhọc sinh sẵn sàng tham gia vào hoạt động, cụ thể là việc đọc hiểu văn bản Ngữvăn xác định nào đó

Chẳng hạn: Khi dạy đọc - hiểu truyền thuyết “ Con Rồng cháu tiên"

” ( SGK Ngữ văn 6 - tập 1) GV học sinh quan sát tranh ảnh Đền Hùng gợi chohọc sinh nguồn gốc lịch sử dân tộc, tạo tâm thế vào bài Học sinh gọọi đợc tên

Đền Hùng Tiếp theo GV gợi nhắc đến câu nói của Bác Hồ:

“ Các vua Hùng đã có công dựng nớc Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nớc”

Tổ chức tốt tâm thế tiếp nhận cho học sinh với một bài đọc hiểu trên lớp

có giá trị nh một sự “ khơi mào” của tởng tợng Bớc tiếp theo mới là đọc

Thông thờng, con đờng đến với TPVC bằng con đờng đọc hiểu trải quabốn bớc: Đọc thông - Đđọc thuộc ; Đọc kỹ- Đđọc sâu ; Đọc hiểu- Đđọc sángtạo và đĐọc đánh giá - đđọc ứng dụng

Trang 27

2.2.1 Đọc thông - đọc thuộc

Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu đặc trng để xây dựng hình tợng củaTPVC Để khám phá tác phẩm, hiểu đợc các vấn đề tác giả gửi vào trong tácphẩm, ngời đọc không có con đờng nào khác là đọc văn bản Tức là đi vào

“mã hóa” những con chữ khô cứng trên trang giấy để đi tìm ra ý nghĩa vănbản Hay nói khác đi, đó là quá trình chuyển đổi ngôn ngữ từ dạng kí hiệusang dạng viết để hiểu ý nghĩa của văn bản đó

Đối với văn bản truyền thuyết, giáo viên tổ chức cho học sinh đọctruyện và kể chuyện theo phơng thức diễn xớng

Chẳng hạn với truyền thuyết: “Thánh Gióng” ( SGK Ngữ văn 6 - tập 1)giáo viên hớng dẫn học sinh đọc diễn cảm, phân vai ( ngời kể chuyện, nhân vậtThánh Gióng ) Qua đó góp phần tái hiện đợc không khi của truyện cũng nh sựviệc diễn ra trong truyện ( chọn những học sinh có khả năng đọc tốt, có sựchuẩn bị ở nhà )

2.2.1.2 Đọc thuộc

Sau khi học sinh đọc phân vai, GV gọi một vài học sinh kể tóm tắt lạivăn bản câu chuyện mà không cần nhìn văn bản, đồng thời nhớ đợc nội dungcơ bản và những tình tiết, chi tiết tiêu biêu của truyện

Chẳng hạn khi đọc hiểu truyền thuyết “Thánh Gióng” học sinh cần nhớ và kểlại đợc:

- Sự ra đời kì lạ của Gióng

- Lời nói của Gióng khi nói với mẹ và sứ giả

- Gióng cùng nhân dân đánh giặc

- Gióng bay về trời

Trang 28

Trong quá trình đọc, GV phải huy động vai trò chủ thể của học sinh,chú ý cho các em các từ khó, chú thích văn bản, vừa đọc vừa nhập vai vàonhân vật, hiện thực hóa chức năng biểu cảm của ngôn ngữ.

Tóm lại, đọc thông - đọc thuộc là hoạt động đầu tiên mang tính chất mở

đờng cho quá trình chiếm lĩnh một tác phẩm văn học thuộc thể loại truyềnthuyết nói riêng, VBVH nói chung Nó cung cấp cho ngời đọc thông tin đầutiên có ý nghĩa tiền đề cho các hoạt động tiếp theo tìm hiểu hình thức tổ chức

và nội dung của văn bản

động đọc kỹ - đọc sâu văn bản tác phẩm

VHDG nói chung, truyền thuyết nói riêng là thế giới của niềm mơ ớc.Khi dạy đọc - hiểu các văn bản truyền thuyết, giáo viên giúp các em sống lạikhông khí xa xa của dân tộc để yêu mến, tự hào về truyền thống văn hóa,truyền thông anh hùng, và đạo đức của dân tộc

2.2.2.1 Đọc kỹ

Đọc để phát hiên ra giá trị nội dung và hình thức của văn bản Từ đó cócái nhìn bao quát toàn bộ văn bản về cả hai phơng diện: Nội dung và hìnhthức

Chẳng hạn khi dạy đọc hiểu truyền thuyết “ Thánh Gióng” giáo viên cầnhớng dẫn học sinh chỉ ra đợc nội dung chủ yếu và hình thức tổ chức của vănbản, cụ thể:

Về nội dung: Ca ngợi ngời anh hùng làng Gióng đánh giặc cứu nớc,

đồng thời, thể hiện niềm mơ ớc của nhân dân ta từ buổi đầu lịch sử về ngời anhhùng cứu nớc chống ngoại xâm

Về hình thức: Tác phẩm đợc triển khai theo trình tự gắn với cuộc đời vàhành động của nhân vật Thánh Gióng từ đầu đến kết thúc câu chuyện

2.2.2.2 Đọc sâu

Trang 29

Sau khi có những cảm nhận khái quát về toàn bộ văn bản, giáo viên tổchức cho học sinh tiếp tục quá trình đọc đó là đọc sâu Đọc sâu là đọc tậptrung vào chi tiết, hình ảnh, một số yếu tố có vai trò đa đẩy Đọc sâu để hiểu

đợc cấu trúc lôgic bên trong, sự vận động tất yếu của các sự kiện, sự việc, vàhình tợng của tác phẩm

Tác phẩm tự sự dân gian nói chung, truyền thuyết nói riêng bớc đọc này

sẽ cung cấp cho ta cốt truyện biến cố, sự việc xoay quanh nhân vật chính đểthuật lại câu chuyện theo cách của mình.Học sinh kể lại đợc câu chuyện tứchọc sinh đã nắm đợc biến cố, sự kiện, tình tiết trong truyện Qua đó học sinh

có thể tái hiện lại hình tợng nghệ thuật trong truyện về những nét bên ngoàinh: Cử chỉ, lời nói, diện mạo, hành động và những phẩm chất bên trong củanhân vật, thấy đợc sự vận động tất yếu của, sự việc, hình tợng

Nhờ có hoạt động này mà những hình tợng văn học đợc hiện lên môtcách sinh động, phong phú trong sự khêu gợi trí tuệ, tởng tợng, và kỹ năng liêntởng, tởng tợng của ngời đọc, ngời nghe Đồng thời hoạt động này còn có ýnghĩa quan trọng trong việc dạy học TPVC theo đặc trng của hoạt động tiếpnhận

là thế giới và cuộc đời, nói cách khác là cuộc đi tìm ý nghĩa nhân sinh quaVBVH” (Trong lời mở đầu sách “ Đọc văn, học văn” ( NXBGD – 2001) củaNguyễn Thanh Hùng) ( Tr.53)

Học sinh sau khi đọc văn bản tác phẩm, tái hiện lại hình tợng tác phẩm

có thể liên tởng tới nhiều chi tiết, nhiều hình tợng liên quan nhng cha chắc các

em đã nắm đợc giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Hoạt động đọchiểu hay chính là hoạt động phân tích, cắt nghĩa sẽ giúp các em hiểu sâu hơnnhững thông tin trong văn bản và ở mức độ cao hơn có thể đa lại cho nó nhữnggiá trị mới - tức các em đã đọc sáng tạo văn bản

Từ kết quả tìm hiểu ở chơng một, con đờng để tiếp cận TPVC theo tinhthần thi pháp thể loại là con đờng hiệu quả, cụ thể là vấn đề thi pháp truyền

Ngày đăng: 04/04/2016, 20:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w