Vật liệu LaFeO3 pha tạp Ti, Co và cu với tính chất nhiệt điện tốt được chế tạo bằng phương pháp pha rắn ở nhiệt độ cao. Cấu trúc tinh thể của hệ mẫu được nghiên cứu bởi phương pháp nhiễu xạ tia X. Các tính chất điện (ρT), (σT), tính chất nhiệt điện như hệ số Seebeck (S), hệ số công suất (PF) của hệ mẫu đã được nghiên cứu. Sự doping thêm các ion Co và Cu đã làm tăng tính dẫn điện (σ) và hệ số công suất (PF).
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU NHIỆT ĐIỆN VÀ VẬT LIỆU ORTHORFERITE LaFeO3 6
1.1 Hiệu ứng nhiệt điện 6
1.1.1 Định nghĩa 6
1.1.2 Hiệu ứng nhiệt điện 7
1.1.3 Lý thuyết của hiệu ứng nhiệt điện 9
1.1.4 Hệ số phẩm chất của vật liệu nhiệt điện 12
1.2 Vật liệu nhiệt điện 12
1.2.1 Vật liệu nhiệt điện kim loại, hợp kim 12
1.2.2 Vật liệu gốm nhiệt điện 13
1.3 Hệ vật liệu gốm nhiệt điện perovskite ABO3 13
1.3.1 Hệ vật liệu SrTiO3 13
1.3.2 Hệ vật liệu LaMnO3 16
1.3.3 Hệ vật liệu LnBO3 (Ln: Các nguyên tố đất hiếm, B=Fe,Co) 18
1.4 Vật liệu orthorferrite (Perovskite LaFeO3) 19
1.5 Một số mô hình dẫn điện trong vật liệu gốm 21
1.5.1 Sự hình thành Polaron điện 22
1.5.2 Mô hình khe năng lượng 24
1.5.3 Mô hình lân cận gần nhất 24
1.5.4 Mô hình khoảng nhảy biến thiên 25
1.6 Tính chất từ của các mẫu gốm perovskite ABO3 chứa các ion từ tính .26
1.7 Cấu trúc tinh thể của orthorferrite 27
Chương 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 28
2.1 Chế tạo mẫu nghiên cứu 28
2.2 Khảo sát cấu trúc tinh thể, cấu trúc tế vi và tính chất mẫu 29
Trang 22.2.1 Phân tích cấu trúc tinh thể 29
2.2.2 Khảo sát cấu trúc tế vi 30
2.2.3 Khảo sát tính chất từ 31
2.2.4 Khảo sát tính chất điện 31
2.2.5 Khảo sát các thông số nhiệt điện 31
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Cấu trúc tinh thể và cấu trúc tế vi mẫu nghiên cứu 32
3.1.1 Cấu trúc tinh thể của hệ orthorferrite La(TiCoCuFe)O3 32
3.1.2 Cấu trúc tế vi của hệ orthorferrite La(TiCoCuFe)O3 34
3.2 Tính chất điện của hệ orthorferrite La(TiCoCuFe)O3 35
3.3 Tính chất nhiệt điện của hệ orthorferrite La(TiCoCuFe)O3 40
3.4 Khảo sát tính chất từ của hệ orthorferrite La(TiCoCuFe)O3 41
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC 47
Trang 3MỞ ĐẦU
Hầu hết các hoạt động của con người đều liên quan tới việc tiêu thụ nănglượng: từ việc đi lại, sản xuất tới những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống Trong khinhững hoạt động đó diễn ra, năng lượng được chuyển hoá: từ điện năng thành cơnăng, từ năng lượng hóa thạch thành nhiệt hoặc chuyển động Cho dù chúng códiễn ra theo cách nào thì chắc chắn một điều là hiệu suất sử dụng năng lượng khôngbao giờ đạt 100%, luôn luôn có năng lượng bị hao phí Một trong những nguồn haophí điển hình nhất là thất thoát nhiệt vô ích Không có gì ngạc nhiên khi một thống
kê chỉ ra 2/3 năng lượng mà loài người sử dụng bị mất trong quá trình tỏa nhiệt Vìthế, làm sao để tận dụng nguồn năng lượng dồi dào đó là một trong những mục tiêunghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và quốc tế, đặc biệt đối với các nhànghiên cứu về khoa học vật liêu Một trong các loại vật liệu sử dụng trong lĩnh vực
năng lượng là Vật liệu nhiệt điện, đó là vật liệu có thể chuyển hóa trực tiếp năng
lượng nhiệt thành năng lượng điện
Khi sự quan tâm chú ý tập trung vào việc tìm ra những nguồn năng lượng mớithân thiện với môi trường để thay thế những nguồn năng lượng hóa thạch được khaithác đang có nguy cơ cạn kiệt dần, gây ô nhiễm môi trường thì máy phát điện sửdụng vật liệu nhiệt điện là ý tưởng hay, phù hợp với những yêu cầu của cuộc sốngđặt ra hiện nay
Đối với một máy phát điện sử dụng vật liệu nhiệt điện, hiệu suất chuyển đổinăng lượng nhiệt năng thành điện năng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: sự chênhlệch nhiệt độ trong khi hoạt động, nhiệt độ trung bình trong suốt quá trình máy hoạtđộng, chất lượng của vật liệu được sử dụng trong máy Để đánh giá chất lượng củavật liệu, ta thường dùng đại lượng không thứ nguyên hệ số phẩm chất (the figure ofmerit Z) Z được định nghĩa là
2α
trong đó: là độ dẫn điện (.cm), là hệ
số Seebeck hay năng suất nhiệt điện (V/K) và là độ dẫn nhiệt (W / (cm K)) củavật liệu Như vậy, vật liệu nhiệt điện có giá trị Z lớn trong một dải nhiệt độ hoạtđộng xác định là điều hết sức quan trọng đối với một máy phát điện Sự tìm kiếm
Trang 4vật liệu nhiệt điện thường theo hướng vật liệu có hệ số Seebeck và độ dẫn điện caođồng thời độ dẫn nhiệt thấp Vật liệu gốm nhiệt điện có cấu trúc Perovskite được coi
là hệ vật liệu có tiềm năng cho mục đích chế tạo máy phát điện ở vùng nhiệt độ cao.Tuy nhiên, cơ chế đồng thời tạo ra α, σ cao và λ thấp đang là vấn đề tranh luận sôinổi của các nhóm nghiên cứu vật liệu nhiệt điện
Vật liệu pervoskite có công thức tổng quát ABO3, với A là cation của nguyên
tố đất hiếm hay kim loại kiềm thổ (Y, La, Nd, Sm, Ca, Ba…), B là cation của cácnguyên tố kim loại chuyển tiếp (Mn, Co, Fe) Sự thay thế các nguyên tố khác vàocác vị trí của A hoặc B hoặc thay thế đồng thời cùng lúc hai vị trí tạo ra rất nhiều sựthay đổi tính chất Khi có sự pha tạp, tính chất nhiệt điện của các vật liệu perovskite
có khá nhiều hứa hẹn cải thiện để phù hợp với các mục đích ứng dụng khác nhau Các hướng nghiên cứu chế tạo và khảo sát vật liệu pervoskite được thực hiện vớicác họ vật liệu quen thuộc như SrTiO3, LaMnO3, CaMnO3, LaFeO3…
Trước đây, nhóm nghiên cứu vật liệu gốm nhiệt điện của Bộ môn Vật lý Chấtrắn, Khoa Vật lý Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia-Hà nội, đãchế tạo vật liệu LaFeO3 pha tạp Ti cho hệ số Seebeck có giá trị dương rất lớn, cỡmV/K Tuy nhiên, độ dẫn điện của vật liệu còn thấp nên chưa thể ứng dụng thực tếđược Nhằm nghiên cứu làm tăng độ dẫn điện của vật liệu nói trên, tôi chọn đề tài
“Chế tạo và nghiên cứu tính chất từ - điện của vật liệu nhiệt điện hệ orthorferrit La(TiCoCuFe)O 3 ” làm đề tài cho luận văn.
Nội dụng chính của bản luận văn gồm:
Trang 5- Chương 3 : Kết quả và thảo luận Trình bày những kết quả chế tạo mẫu,nghiên cứu cấu trúc tinh thể, cấu trúc tế vi, tính chất điện và tính chất từ của mẫu đãchế tạo và đưa ra những nhận xét, giải thích kết quả.
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU NHIỆT ĐIỆN
VÀ VẬT LIỆU ORTHOR FERRIT LaFeO3 1.1 Hiệu ứng nhiệt điện
1.1.1 Định nghĩa
Khi hai dây kim loại khác nhau như sắt và đồng cùng nối vào hai đầu củamột mạch điện và một trong hai đầu được đốt nóng với nhiệt độ cao hơn đầu còn lạithì trong mạch xuất hiện dòng điện (hình 1.1) do các electron tự do chuyển độngtheo một hướng xác định dưới tác dụng của sức điện động (EMF) Hiện tượng nàygọi là hiệu ứng nhiệt điện hoặc hiệu ứng Seebeck, đặt theo tên của nhà Vật lý ngườiĐức đã phát hiện ra hiện tượng này năm 1821 [1-2]
Vậy hiệu ứng nhiệt điện là sự biến đổi trực tiếp năng lượng nhiệt thành năng
lượng điện và ngược lại, khi có sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai vật dẫn khác nhaukết nối với nhau
Hiện tượng này được giải thích khi hai kim loại khác nhau được nối với nhau,các electron tự do đi qua chỗ nối, do cấu trúc nguyên tử của mỗi kim loại khác nhaunên các electron đi qua chỗ nối theo một hướng dễ dàng hơn hướng còn lại Kết quảcủa sự chuyển dời điện tích làm cho một kim loại tích điện dương và kim loại cònlại tích điện âm Hiệu điện thế hình thành giữa hai kim loại gọi là hiệu thế tiếp xúc
và nó bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ chỗ tiếp xúc Bằng cách giữ nhiệt độ một đầu caohơn các electron đi qua chỗ nối nhanh hơn và giữ cho hiệu thế tiếp xúc ổn định, vìthế mà sức điện động được tạo thành
Hình 1.1 Hiệu ứng nhiệt điện hình thành giữa hai kim loại sắt - đồng
Trang 71.1.2 Hiệu ứng nhiệt điện
Trong tự nhiên cũng như nhân tạo tồn tại nhiều loại vật liệu có những tính chất đặcbiệt dưới tác dụng của nhiệt độ Chẳng hạn, khi có sự chênh lệch nhiệt độ giữa haiđầu của một cặp vật liệu, thế nhiệt điện động xuất hiện do sự chênh lệch nồng độhạt tải điện giữa hai đầu Hiệu ứng này được gọi là hiệu ứng nhiệt điện(Thermoelectric effect) và thế nhiệt điện động có thể được mô tả qua biểu thức:
) T T ( 1 2
Một là, sự xuất hiện của dòng hạt tải có hướng trong lòng vật liệu khi có sự chênhlệch gradient nhiệt độ Dòng hạt tải dịch chuyển từ đầu nóng có năng lượng lớn hơntới đầu lạnh hình thành nên thế nhiệt điện động thể tích Hệ số Seebeck tương ứngvới loại thế nhiệt điện động này là V
Hai là, do sự thay đổi vị trí mức Fermi theo nhiệt độ Theo chiều tăng của nhiệt độ,
có sự giảm mức Fermi Ở đầu lạnh mức Fermi cao hơn ở đầu nóng, dẫn tới nồng độđiện tử linh động ở đây lớn hơn ở đầu lạnh Thế nhiệt động hình thành từ nguyênnhân này là thế nhiệt động tiếp xúc, hệ số Seebeck được kí hiệu là αk
Nguyên nhân thứ ba: sự kích thích hạt tải điện bởi các phonon nhiệt Khi tồn tạigradient nhiệt độ hiện tượng trôi các phonon nhiệt từ đầu nóng sang đầu lạnh xuấthiện Xác suất tán xạ của các điện tử trên các phonon tăng, cuốn theo sự dịchchuyển của các hạt tải điện với vận tốc bằng vận tốc dịch chuyển của các phonon
Hệ số Seebeck của hệ ở nhiệt độ thấp do tác dụng của phonon nhiệt αP hàng chục,cho tới hàng trăm lần lớn hơn αv và αk
Hệ số Seebeck tổng cộng được xác định qua biểu thức:
Trang 8Ứng với các giá trị thành phần, dấu của α có thể được xác định Qua đó, vật liệuđược phân biệt theo các loại bán dẫn, tức là biết được hạt tải cơ bản của vật liệu làđiện tử hay lỗ trống Khi α < 0 ta có bán dẫn loại n, ngược lại sẽ cho bán dẫn loại p
Để nghiên cứu, đánh giá tính chất nhiệt điện của vật liệu còn có thể sử dụng hệ sốphẩm chất Z Đó là sự tổng hợp của độ dẫn điện, độ dẫn nhiệt và hệ số Seebeck.Biểu thức cụ thể của Z:
* Hiệu ứng 1: Nếu hai vật dẫn khác nhau được kết nối và hai chỗ nối được giữ ởnhiệt độ khác nhau thì lực điện động hình thành trong mạch
* Hiệu ứng 2: Nếu có một dòng điện chạy trong mạch chứa hai vật dẫn khác nhauthì một đầu chỗ nối nóng lên và đầu còn lại lạnh đi
* Hiệu ứng 3: Khi có sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai đầu của một vật dẫn, thì giữahai điểm đó xuất hiện một hiệu điện thế
* Hiệu ứng 4: Nếu có dòng điện đi qua một vật dẫn thì giữa hai đầu vật dẫn xuấthiện một gradient nhiệt độ, dòng nhiệt chạy từ đầu này sang đầu kia của vật dẫn.Các hiệu ứng trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, hiệu ứng 1 và 2 có thể đổingược cho nhau, hiệu ứng 3 và 4 cũng vậy Thomas Johann Seebeck nhận biết hiệuứng 1 lần đầu tiên năm 1821, ông đã mất nhiều thời gian trong sự nghiệp nghiêncứu khoa học của mình để đo hiệu ứng này giữa các cặp vật dẫn khác nhau Năm
1834, Jean Charles Athanase Peltier nhận biết hiệu ứng 2 là sự đảo ngược của hiệuứng 1 Khoảng 20 năm sau (1854-1855), William Thomson suy diễn logic và chứngminh được hiệu ứng 3 và 4 Như kết quả đã trình bày ở trên, 4 hiệu ứng nhiệt điệnđược đặt tên chính xác như sau:
Hiệu ứng 1 là hiệu ứng Seebeck
Trang 9Hiệu ứng 2 là hiệu ứng Peltier
Hiệu ứng 3 là hiệu ứng Thomson âm
Hiệu ứng 4 là hiệu ứng Thomson dương
Hiệu ứng nhiệt điện có thể sử dụng để tạo ra dòng điện, đo nhiệt độ, làm lạnhhoặc nung nóng một vật nào đó Do có độ tin cậy cao, kích thước nhỏ, các thiết bịnhiệt điện sử dụng vật liệu nhiệt điện có thể có vô số các ứng dụng khác nhau Thiết
bị nhiệt điện có thể đo được chênh lệch nhiệt độ bên ngoài khi bên trong vật dẫn códòng điện đi qua hoặc đo chênh lệch nhiệt độ bên trong vật dẫn khi bên ngoài códòng điện chạy trong mạch Do tính chất thuận nghịch này mà các thiết bị nhiệt điện
sử dụng vật liệu nhiệt điện rất phù hợp trong việc tạo ra dòng điện từ các nguồnnhiệt nóng, lạnh
1.1.3 Lý thuyết của hiệu ứng nhiệt điện
Hiệu ứng Seebeck
Nhìn chung, hiệu ứng Seebeck là sự chuyển đổi trực tiếp năng lượng nhiệtthành năng lượng điện Hiệu điện thế hay lực điện động được tạo ra do sự chênhlệch nhiệt độ giữa hai kim loại hoặc bán dẫn Trường hợp này, dòng điện liên tụctạo ra trong hai vật dẫn nếu chúng được nối thành mạch, hiệu điện thế tiếp xúc đượctạo ra chỉ vài µV/K
Hiệu thế này xuất phát từ phương trình:
2 1
Trang 10Hiệu ứng Peltier là hiện tượng đảo ngược của hiệu ứng Seebeck, khi một dòngđiện qua mạch chứa hai kim loại khác nhau thì một đầu bị nung nóng ở nhiệt độ T2cao hơn và đầu còn lại hấp thụ nhiệt độ T1 thấp hơn Tức là chỗ nối còn lại bị làmlạnh, hiệu ứng làm lạnh này là cơ sở lý thuyết cho việc chế tạo các máy làm lạnh.Dòng nhiệt Peltier Q• hấp thụ bởi đầu có nhiệt độ thấp hơn trên một đơn vị thời gianbằng:
Các hạt tải cố gắng vượt qua để trở lại trạng thái cân bằng electron, trạng tháitồn tại trước khi dòng được cung cấp bởi năng lượng hấp thụ tại một đầu nối và giảithoát tại đầu còn lại Cặp nhiệt có thể kết nối nối tiếp để làm tăng hiệu ứng Một kếtquả quan trọng của hiệu ứng này là hướng chuyển dời của dòng nhiệt được khốngchế bởi sự phân cực của dòng điện, sự đảo chiều phân cực sẽ thay đổi hướngchuyển dời của dòng nhiệt và kết quả là dấu của dòng nhiệt thay đổi (dòng nhiệt hấpthụ hoặc phát ra)
Hiệu ứng Thomson
Hiệu ứng Thomson mô tả sự nóng lên hay lạnh đi khi một vật dẫn mang dòngđiện Bất kỳ một vật dẫn mang dòng điện nào (ngoại trừ chất siêu dẫn), với sựchênh lệch nhiệt độ giữa hai đầu sẽ hấp thụ hoặc phát nhiệt phụ thuộc vào bản chấtcủa vật liệu
Trang 11Nếu dòng điện có mật độ J đi qua một vật dẫn thuần nhất, dòng nhiệt tạo ratrên một đơn vị thể tích là:
dx
Với ρ là điện trở của vật liệu, dT/dx là gradient nhiệt độ dọc theo dây dẫn, β là
hệ số Thomson Số hạng đầu tiên ρ J² trong phương trình 1.8 là hiệu ứng nhiệt
Joule, không có sự đảo ngược Số hạng thứ hai là hiệu ứng nhiệt Thomson, có sự
thay đổi dấu khi J đổi hướng.
Trong các vật liệu như kẽm và đồng, đầu nào được nung nóng thì thế tại đócao hơn và lạnh hơn thì thế tại đó thấp hơn, khi dòng di chuyển từ đầu nóng sangđầu lạnh cũng đồng nghĩa với việc di chuyển từ nơi có thế cao đến nơi có thế thấp,
vì thế ở đó có sự phát nhiệt Đây là hiệu ứng Thomson dương
Trong các vật liệu như coban, niken và sắt, đầu lạnh hơn có thế cao hơn và đầunóng hơn có thế thấp hơn, khi dòng di chuyển từ đầu nóng sang đầu lạnh cũng đồngnghĩa với việc di chuyển từ thế thấp hơn đến thế cao hơn, vì thế ở đó có sự hấp thụnhiệt Đây là hiệu ứng Thomson âm
Hệ số Thomson được chú ý nhất trong 3 hiệu hệ số nhiệt điện chính vì nó là
hệ số nhiệt điện đo trực tiếp cho một loại vật liệu Còn hệ số Peltier và Seebeckđược xác định cho một cặp vật liệu Như vậy, không có phương pháp thực nghiệmtrực tiếp để xác định hệ số hấp thụ Seebeck hoặc hệ số hấp thụ Peltier cho một loạivật liệu
Hiệu ứng Seebeck là sự kết nối giữa hiệu ứng Peltier và Thomson, sự thật năm
1854 Thomson tìm ra hai mối liên hệ này và bây giờ được gọi là mối liên hệ
Thomson hoặc Kelvin, là sự tương ứng giữa hai hệ số Với nhiệt độ hấp thụ là T, hệ
số Peltier Π và hệ số Seebeck S liên hệ với nhau bởi số hạng Thomson thứ hai:
Trang 121.1.4 Hệ số phẩm chất của vật liệu nhiệt điện
Để đánh giá chất lượng của vật liệu, ta thường dùng đại lượng không thứnguyên hệ số phẩm chất (the figure of merit Z) Z được định nghĩa là
2α
trongđó: là độ dẫn điện (.cm), là hệ số Seebeck hay năng suất nhiệt điện (V/K) và
là độ dẫn nhiệt (W / (cm.K))của vật liệu
Khi nhân Z với nhiệt độ trung bình (T2 + T1) / 2) ta có hệ số phẩm chất không thứ nguyên ZT (dimensionless figure of merit) Một vật liệu có tính chất nhiệt điện tốt có hệ số Z cao, giá trị độ dẫn điện σ cao và hệ số dẫn nhiệt thấp Giá trị ZT lớn
cho biết hiệu suất nhiệt động học lớn, đặc biệt với hai vật liệu có cùng giá trị Z ZT
là đại lượng thuận tiện cho việc so sánh hiệu suất của các thiết bị sử dụng các vật
liệu nhiệt điện khác nhau Giá trị ZT =1 được xem là rất tốt Đến bây giờ, giá trị tốt nhất tìm được của ZT là nằm trong khoảng 2-3 [1].
1.2 Vật liệu nhiệt điện
Tồn tại hai loại vật liệu nhiệt điện : vật liệu nhiệt điện kim loại, hợp kim và gốmnhiệt điện
1.2.1 Vật liệu nhiệt điện kim loại, hợp kim
Từ rất lâu, các nhà khoa học đã thăm dò tìm hiểu về hiệu ứng Seebeck, hiệntượng tạo ra điện áp khi duy trì các mối nối các kim loại khác nhau ở nhiệt độ khácnhau Tuy nhiên, kim loại dẫn điện tốt thì cũng dẫn nhiệt tốt, bên cạnh đó điện trởsuất của kim loại là hàm bậc nhất của nhiệt độ theo công thức :
0 (1 .(t t 0) (1.11)
: điện trở suất của kim loại ở t (K)
0
: điện trở suất của kim loại ở t0 (K)
Ở nhiệt độ cao điện trở suất của kim loại lớn, độ dẫn điện giảm mạnh, hệ số phẩmchất (Z) giảm mạnh, đó là nhược điểm lớn của vật liệu nhiệt điện kim loại và chúngkhông sử dụng được ở vùng nhiệt độ cao
Trang 131.2.2 Vật liệu gốm nhiệt điện
Người ta đã tìm ra một số vật liệu gốm có tính nhiệt điện Ưu điểm lớn nhất của
vật liệu gốm nhiệt điện là hệ số Seebeck lớn, độ dẫn nhiệt rất thấp Nhược điểm lớnnhất của chúng là độ dẫn điện kém Tuy nhiên, người ta có thể làm tăng độ dẫn củavật liệu gốm nhiệt điện bằng biện pháp sử dụng các nguyên tố pha tạp vào vật liệugốc làm tăng độ dẫn và sử dụng vật liệu gốm nhiệt điện ở vùng nhiệt độ cao, lợidụng tính chất dẫn điện như vật liệu bán dẫn của đa số các vật liệu gốm nhiệt điện,
độ dẫn tăng khi tăng nhiệt độ sử dụng Một số hệ vật liệu gốm nhiệt điện đã, đangđược nghiên cứu chế tạo và ứng dụng được giới thiệu sau đây
1.3 Hệ vật liệu gốm nhiệt điện perovskite ABO3
1.3.1 Hệ vật liệu SrTiO3
SrTiO3 là vật liệu bán dẫn loại n hứa hẹn nhiều điểm lý thú khi nghiên cứucác tính chất nhiệt điện Khi pha tạp các nguyên tố đất hiếm như Y, La, Sm, Gd,
Dy, Nb, Ce, Ta…thì tính chất nhiệt điện của hệ cải thiện đáng kể, ví dụ khi pha tạp
Nb thì giá trị hệ số phẩm chất Z cao nhất là 0.34 tại 900 K [8] Phương pháp chế tạo
hệ vật liệu này chủ yếu là phương pháp gốm hoặc các mẫu được tạo màng Để giảithích tính chất nhiệt điện của hệ SrTiO3 và các mẫu pha tạp của nó các tác giả chủyếu dựa vào cơ chế tán xạ hạt tải Đối với bán dẫn không suy biến, hệ số Seebeck cóthể tính theo công thức sau [9]:
- ln C( )
e
N T k
là hằng số Boltzmann, e là giá trị điện tích
3/2 2
m eff là khối lượng hiệu dụng Hệ số thứ nhất trong (1.12) mô tả sự tương tác của điện
tử trong vùng dẫn với cấu trúc điện tử của bản thân bán dẫn sạch Thông số thứ hai,
Ae không thể tính toán chính xác nếu như ta không biết được chính xác cơ chế tán
Trang 14xạ xảy ra trong vật liệu Giá trị thông thường bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: tán xạtrên cấu trúc điện tử của vật liệu không bị suy biến (cấu trúc điện tử của bán dẫn) vàtán xạ hạt tải trên các thành phần khác (thông số Ae) trong vật liệu như tán xạphonon, tán xạ trên các tâm tạp hoặc các sai hỏng trong vật liệu…
Sự ảnh hưởng của tán xạ hạt tải lên tính chất nhiệt điện của vật liệu là vấn đềcần nghiên cứu để có thể định hướng cho việc tìm kiếm vật liệu nhiệt điện có tínhchất như mong muốn Thông thường vật liệu nhiệt điện bị pha tạp, tính chất nhiệtđiện của vật liệu bị ảnh hưởng không chỉ bởi cấu trúc vùng điện tử của vật liệu màcòn bị ảnh hưởng khá mạnh bởi sự tán xạ hạt tải trên các thành phần khác (thể hiện trong thông số Ae của (1.12))
Ralt Moos [10] đã khảo sát với hệ Sr1-xLaxTiO3 pha tạp, trong đó sự phụ thuộc αđược xét theo (1.12), giá trị Ae = 3 được tính cho hầu hết các mẫu nghiên cứu Từ
đó, tác giả thu được sự phụ thuộc nhiệt độ của α có dạng tuyến tính với độ dốc củacác đường bằng -289μV/K cho các mẫu khảo sát (hình 1.2)
Các tác giả trong [11] khi nghiên cứu tính chất nhiệt điện của SrTiO3 pha tạp cácnguyên tố đất hiếm như Y, La, Sm, Gd, Dy trong khoảng nhiệt độ từ nhiệt độ phòngđến 1073 K thấy rằng độ dẫn và hệ số Seebeck của hệ mẫu phụ thuộc nhiều vào loạinguyên tố đất hiếm pha tạp vì thế hệ số phẩm chất Z phụ thuộc nhiều vào các giá trịkhác nhau của độ dẫn nhiệt Độ dẫn nhiệt của vật liệu giảm với việc pha tạp các
Trang 15nguyên tố đất hiếm có khối lượng
nguyên tử và bán kính ion tăng
Sr0.9Dy0.1TiO3 cho hệ số phẩm chất cao
nhất bằng 3.8410-4 K-1 tại 573 K trong
các mẫu nghiên cứu (hình 1.3) Độ dẫn
của vật liệu phụ thuộc nhiệt độ là bằng
nhau (hình 1.4), tác giả cho rằng các
nguyên tố đất hiếm pha tạp có vai trò
như donor và không ảnh hưởng đến tán
xạ trên cấu trúc điện tử Trong vùng
nhiệt độ từ 400 đến 800K độ dẫn phụ
thuộc nhiệt độ theo quy luật T M (M
-1.5) theo cơ chế tán xạ mạng trên nhiệt
độ Debye Tán xạ trên các tâm tạp bao
gồm các ion và nguyên tử trung hòa
không chi phối trong vùng nhiệt độ này
Hệ số Seebeck của tất cả các mẫu đều
có giá trị bằng nhau (hình 1.5) điều này
khẳng định rằng hệ số này không bị ảnh
hưởng mạnh bởi tán xạ ở biên vùng và
sự pha tạp không ảnh hưởng đến cơ chế tán xạ Tuy nhiên độ dẫn nhiệt phụ thuộcmạnh vào loại nguyên tố đất hiếm pha tạp (hình 1.6) Các tác giả cho rằng với cácmẫu pha tạp La và Sm, độ dẫn nhiệt giảm khi tăng nhiệt độ nên cơ chế tán xạphonon-phonon ảnh hưởng trong vùng nhiệt độ này Cơ chế tán xạ phonon lên cáctâm tạp ảnh hưởng mạnh đến các mẫu pha tạp Gd, Dy, Y do độ dẫn nhiệt ít thay đổitheo nhiệt độ Tuy nhiên cơ chế tán xạ chính trong trường hợp này vẫn là tán xạphonon lên các tâm tạp do sự méo mạng tinh thể vì độ dẫn nhiệt giảm theo sự giảmbán kính các ion pha tạp
Hình 1.3 Hệ số phẩm chất của hệ mẫu
Sr 0.9 R 0.1 TiO 3 (R = Y, La, Sm, Gd, Dy)
Hình 1.4 Độ dẫn phụ thuộc nhiệt độ của hệ
Trang 16Khi xác định được cơ chế tán xạ chính trong hệ mẫu, hệ số Seebeck được tính toán
theo công thức:
3 3/2
và các ion +1 nên một vài ion +1 được xem như chuyển đổi thành ion +2 làm cho
Hình 1.5 Hệ số Seebeck phụ thuộc nhiệt độ của
hệ mẫu Sr 0.9 R 0.1 TiO 3 (R = Y, La, Sm, Gd, Dy)
Hình 1.6 Hệ số dẫn nhiệt phụ thuộc nhiệt độ của
hệ mẫu Sr 0.9 R 0.1 TiO 3 (R = Y, La, Sm, Gd, Dy)
Trang 17nồng độ hạt tải tăng lên Thông thường, dao động nhiệt ảnh hưởng đến điện trở suấtcho cả hai vật liệu lanthanum manganites hóa trị 1 và 2 được biết bởi sự dịchchuyển của các polaron trên nhiệt độ TC trong khi dưới nhiệt độ TC tương tácelectron–electron và electron–magnon thường được sử dụng để xác định cơ chế dẫncủa vật liệu Hệ số Seebeck cũng được nghiên cứu khá nhiều trên hệ vật liệu pha tạpcác ion hóa trị 2 Ở vùng nhiệt độ cao trên nhiệt độ TC, hầu hết các công trình đềucho rằng cơ chế nhảy plaron nhỏ (small polaron hopping) ảnh hưởng đến hệ số côngsuất nhiệt điện (thermoelectric
power (TEP)) trong khi vùng nhiệt
độ thấp dưới nhiệt độ TC các vùng
sắt từ TEP cùng tồn tại tương tác
phonon và magnon Tuy nhiên, nhiệt
độ này ảnh hưởng đến tính chất dẫn
điện ở cấu trúc micro và TEP được
cho là xuất hiện từ vùng cùng tồn tại
tương tác phonon và magnon, vùng
nhiệt độ thấp này cũng ảnh hưởng
đến nồng độ hạt tải Có thể xem hệ
vật liệu này bao gồm vùng dẫn kim
loại không có các polaron bán dẫn và vùng TEP của các manganite perovskites sửdụng hiệu ứng ''effective medium approach'' Sự ảnh hưởng của nhiệt độ và cấu trúcmicro được xem là yếu tố chủ yếu xác định các polaron thuận từ có thể tồn tại trongvùng nhiệt độ dành cho pha kim loại-sắt từ Nghiên cứu trên hệ La1-xKxMnO3 (x =0.05, 0.10, 0.15) trong vùng nhiệt độ từ 50 đến 310 K, Soma Das [11] cho rằng từnhiệt độ 260 đến 309 K, cơ chế nhảy các polaron nhỏ chi phối tính dẫn và TEP của
hệ vật liệu trong vùng thuận từ, còn ở vùng sắt từ dao động nhiệt ảnh hưởng đếnđiện trở suất được giải thích bằng tương tác electron–electron và electron–magnon
Ở vùng nhiệt độ thấp 80 - 320 K, hệ số nhiệt điện (S) của La1-xLixMnOy thay đổi (x
= 0.05, 0.1, 0.15, 0.2) [13] do sự chuyển tương tác magnon /phonon theo nồng độ
Trang 18pha tạp x Các tác giả [13] cho rằng có sự phụ thuộc giữa nhiệt độ chuyển pha kimloại - điện môi (Tms) và nhiệt độ Curie khi khảo sát hệ số Seebeck Nói chung cả hainhiệt độ TC và Tms đều giảm khi tăng nồng độ Li (hình 1.7) Ngoài ra, TC bằng hoặccao hơn Tms do sự pha tạp Li làm tồn tại trạng thái hóa trị Mn4+/Mn3+ dẫn đến cơ chếtương tác trao đổi kép yếu.
1.3.3 Hệ vật liệu LnBO3 (Ln: các nguyên tố đất hiếm, B=Fe, Co)
Các hợp kim của Bi và Te là vật liệu có tính chất nhiệt điện tốt nhưng ở nhiệt
độ cao chúng thường độc, ít bền và đắt tiền do vậy các vật liệu có dạng cấu trúcperovskite đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới, đây là loạivật liệu có hệ số nhiệt điện cao, bền vững với nhiệt độ, độ bền vững hóa học cao, ítđộc và giá thành thấp Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng hệ vật liệu nhưNaCo2O4, Sr1−xLaxTiO3, LaCoO3, (Ba, Sr)PbO3 có hệ số nhiệt điện tốt, thuận tiệntrong ứng dụng, hệ vật liệu LnBO3 (Ln: các nguyên tố đất hiếm, B=Fe, Co) cónhững tính chất điện, từ phụ thuộc nhiệt độ rất thú vị Trong hệ LnCoO3, ion Co3+
có sự chuyển đổi trạng thái spin, từ trạng thái spin thấp đến trạng thái spin trunggian rồi sau đó đến trạng thái spin cao ở nhiệt độ cao hơn điều này phụ thuộc nhiềuvào các ion đất hiếm ở vị trí A của hệ Sự biến đổi cấu trúc, méo mạng, các sai hỏngmạng ảnh hưởng nhiều đến tính chất nhiệt điện của chúng như hệ số Seebeck vàđiện trở suất Kết quả nghiên cứu tính chất nhiệt điện trên hệ vật liệu Ln(Co, Ni)O3(Ln = La, Pr, Nd, Sm, Gd và Dy) [14] chỉ ra rằng sự chuyển đổi từ tính bán dẫnsang tính dẫn kim loại ở vùng nhiệt độ 500 - 800K tăng theo chiều giảm bán kínhion đất hiếm Hệ số Seebeck cao nhất khi pha tạp ion Dy (hình 1.8)
Trang 19Hình 1.9 Hệ số Seebeck của hệ
LaCo 1-x Ti x O 3-
Trang 20Hệ vật liệu LaCo1-xTixO3 cho giá trị hệ số Seebeck như hình 1.9, với mẫu pha tạp Ti
ở nồng độ x = 0.01 có sự chuyển loại hạt tải chính từ điện tử sang lỗ trống do hệ sốSeebeck chuyển từ âm sang dương, tác giả [14] cho rằng khi pha tạp ion Ti+4 ở nồng
độ thấp, một phần ion Co+3 chuyển thành ion Co+2 và hệ tồn tại hai loại hạt tải, ởvùng nhiệt độ thấp hơn 450K, điện tử chiếm ưu thế nên hệ số Seebeck mang giá trịâm
1.4 Vật liệu orthoferrite (Perovskite LaFeO3)
Hợp chất được chế tạo và nghiên cứu trong luận văn này là hợp chấtperovskite hệ sắt được gọi là orthorferrit lantan LaFeO3 Trong mấy năm gần đâyhợp chất perovskite này được chú ý nghiên cứu do có hiệu ứng nhiệt điện cao ởnhiệt độ cao, ở dạng bột nano chúng có thể dùng để làm xúc tác, sensor nhạy khí,chế tạo hợp chất multiferroic Vì vậy sau đây chúng tôi trình bày một số đặc tính
và ứng dụng của vật liệu orthoferrite
Trang 21Qua các nghiên cứu thực nghiệm đã thấy rằng các vật liệu perovskite LnBO3hoặc RBO3 ( Ln (R) là một hoặc nhiều các nguyên tố họ đất hiếm như La, Nd, Eu
và B là một hoặc nhiều các nguyên tử của các kim loại chuyển tiếp như Mn, Co,Fe ) là vật liệu có độ bền nhiệt rất cao Ngay cả việc các nguyên tố ở vị trí A và vịtrí B có các trạng thái ôxy hóa khác nhau cũng không ảnh hưởng mấy đến độ bềncủa vật liệu Cho nên loại vật liệu này cho phép thay thế các nguyên tử ở vị trí Lnhoặc vị trí B bằng các kim loại có trạng thái ôxy hóa khác nhau để tạo ra nhữngkhuyết tật (hay méo mạng) để tạo ra các vị trí anion và cation trống LnBO3 có cấutrúc tinh thể orthorhombic hoặc là hexagonal Về tính chất điện, LnBO3 có thể làđiện môi hoặc bán dẫn hoặc kim loại Về tính chất từ, LnBO3 có thể là sắt từ, phảnsắt từ hoặc siêu thuận từ Điều này phụ thuộc vào sự chiếm ưu thế của tương tácsiêu trao đổi hoặc tương tác trao đổi kép trong vật liệu và các trạng thái hóa trị khácnhau của nguyên tử kim loại chuyển tiếp Trong các vật liệu LnBO3, các nhà khoahọc đặc biệt quan tâm đến vật liệu orthoferrit LnFeO3 (Ln là vị trí của một hoặcnhiều nguyên tố đất hiếm hoặc Y) Bởi các vật liệu orthoferrit có nhiều đặc tính để
có thể ứng dụng trong thực tế như hoạt tính xúc tác dùng để làm chất xúc tác chocác phản ứng hóa học, tính nhạy khí có thể ứng dụng để chế tạo sensor khí Trongorthoferrit thì vật liệu điển hình là LaFeO3 được nghiên cứu
Vật liệu LaFeO3 có nhiều tính chất ứng dụng được trong thực tế như vật liệunhiệt điện, chế tạo pin nhiên liệu, chất xúc tác trong phản ứng oxi hóa khử, chế tạocảm biến Để cải thiện tính chất nhiệt điện, vị trí A và B trong cấu trúc của vật liệuđược pha tạp các nguyên tố kim loại chuyển tiếp hay các nguyên tố đất hiếm: Sr, Li,
Ti, Cu, Ni, Nd,…Khi pha tạp Sr, Li vào vị trí A thì điện trở suất của vật liệu giảmtheo sự tăng của nồng độ pha tạp Tuy nhiên, nếu nồng độ pha tạp Li tăng hơn nữa(x>0.1) thì điện trở suất tăng, hệ số Seebeck có giá trị dương và giảm theo nhiệt độ[16] Hệ vật liệu (La, Sr)(Co,Fe)O3, tính dẫn điện tử và ion tăng tại vùng nhiệt độcao [17, 18] Khi khảo sát tính dẫn và đo hệ số Seebeck của hệ vật liệu LaFe1-xCuxO3 (x = 0.10, 0.14, 0.18) trong vùng nhiệt độ 473–1073K, các tác giả [19] chothấy quá trình doping Cu cải thiện đáng kể tính dẫn của vật liệu Các mẫu thể hiện
Trang 22tính bán dẫn, mối liên hệ giữa nhiệt độ và điện trở suất xác định cơ chế dẫn chiếm
ưu thế là mô hình nhảy của polaron nhỏ, năng lượng kích hoạt giảm theo sự tăngnồng độ pha tạp Cu (hình 1.9) Giá trị hệ số Seebeck đạt cao nhất là 200 V K/(hình 1.11)
số Seebeck cũng giảm theo nồng độ pha tạp và chuyển giá trị từ âm sang dương khinồng độ pha tạp Ni lớn (y > 0.4)
Hình 1.12 Hệ số Seebeck của
hệ La 1-x Sr x FeO 3
Hình 1.13 Hệ số Seebeck của
hệ La 1-y Ni y FeO 3
Trang 231.5 Một số mô hình dẫn điện trong vật liệu gốm bán dẫn
Vật liệu gốm bán dẫn và các tính chất đặc trưng của nó đã được rất nhiều nhàkhoa học quan tâm nghiên cứu Tính chất điện là một trong những tính chất quantrọng nhất của gốm bán dẫn, nó đóng vai trò quyết định đến những ứng dụng củachúng Do đó, nhiều mô hình lý thuyết được xây dựng để giải thích cơ chế dẫn điệncủa gốm bán dẫn Trong đó, các mô hình tiêu biểu bao gồm: mô hình khe nănglượng, mô hình polaron nhỏ, và mô hình khoảng nhảy biến thiên
1.5.1 Sự hình thành polaron điện
Trong bán dẫn, khi khảo sát các tính chất của vật liệu, ta thường bỏ qua sựméo mạng do điện tử gây ra, điều này không đúng đối với mạng tinh thể ion, khi đóđiện tử ở trong các bẫy sâu và để điện tử thoát khỏi các tâm này cần một năng lượngkhá lớn Trong các tinh thể này, điện tử (hoặc lỗ trống) bị giam bởi các ion xungquanh hình thành đám mây phân cực kích thước nano, như vậy hạt tải được coi như
tự định xứ trong đó Từ hiện tượng trên, năm 1933 Landau đã đưa ra mô hìnhpolaron, và mô hình này được nghiên cứu cụ thể bởi Mott và Gurney Polaron làvùng không gian xung quanh điện tử ở vùng dẫn bị phân cực hoàn toàn Kích thướcmột polaron được đặc trưng bởi một số ion lân cận có tương quan, và được ký hiệu
p
r e
r e
r
V
/
/)
r r
Trang 24a) Mạng lý tưởng b) Polaron điện
Hình 1.14 Mô hình polaron
Hình 1.15 Giếng thế hình thành do phân cực polaron
Công thức (1.14) là thế năng bẫy của điện tử Trong đó, 1/p= 1/ - 1/ với ,
là hằng số điện môi tĩnh và hằng số điện môi tần số cao
Với giả thiết polaron hình cầu bán kính r p , ta xác định được r p bằng cách cựctiểu hóa năng lượng của điện tử Ta có động năng của điện tử xấp xỉ bằng:
p p