Cùng với sự thay đổi lớn lao của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nước ta đang có sự “chuyển mình” trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Việt Nam đang phấn đấu trở thành một quốc gia có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Đứng trước thực tế đó, ngành giáo dục và đào tạo Việt Nam đang đứng trước những thách thức và vận hội mới. Nó đòi hỏi phải có những đổi mới trong hệ thống giáo dục mà Nghị quyết Trung ương (Khoá 8) đã nêu : “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học. Đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh.” Mục 2, điều 4 trong luật giáo dục của nước ta nêu rõ : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.” Thực tế từ những năm 90, việc đổi mới về mục tiêu, nội dung chương trình, sách giáo khoa tiếng Anh theo những định hướng của cải cách giáo dục đã được tiến hành và đã tạo ra những tiền đề quan trọng cho việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh. Và từ đầu những năm 2000 môn tiếng Anh đã được đưa vào là môn học phổ biến trong các trường học trên toàn quốc. Các nhà giáo dục tâm huyết đã ra sức tìm tòi và thử nghiệm nhiều phương pháp dạy học mới: “Dạy học theo hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm”, nhằm phát huy tích tích cực, tư duy sáng tạo, chủ động của học sinh nâng cao hiệu quả và chất lượng quá trình dạy học.
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Cùng với sự thay đổi lớn lao của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nước ta đang có sự “chuyển mình” trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam đang phấn đấu trở thành một quốc gia có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Đứng trước thực tế đó, ngành giáo dục
và đào tạo Việt Nam đang đứng trước những thách thức và vận hội mới Nó đòi hỏi phải có những đổi mới trong hệ thống giáo dục mà Nghị quyết Trung ương (Khoá 8) đã nêu :
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học Đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh.”
Mục 2, điều 4 trong luật giáo dục của nước ta nêu rõ : “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.”
Thực tế từ những năm 90, việc đổi mới về mục tiêu, nội dung chương trình, sách giáo khoa tiếng Anh theo những định hướng của cải cách giáo dục đã được tiến hành và đã tạo ra những tiền đề quan trọng cho việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh Và từ đầu những năm 2000 môn tiếng Anh đã được đưa vào là môn học phổ biến trong các trường học trên toàn quốc Các nhà giáo dục tâm huyết đã ra sức tìm tòi và thử nghiệm nhiều phương pháp dạy học mới: “Dạy học theo hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm”, nhằm phát huy tích tích cực, tư duy sáng tạo, chủ động của học sinh nâng cao hiệu quả và chất lượng quá trình dạy học
2 Mục tiêu, nhiệm vụ chọn đề tài.
Trong hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam đang ở chặng đầu của con đường đổi mới, giáo dục còn nhiều khó khăn, điều kiện đầu tư cho cơ sở vật chất còn hạn chế như : thiếu phòng học, dụng cụ tài liệu, lớp quá đông Vậy làm thế nào để áp dụng được các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn tiếng Anh - một môn học mà học sinh từ trước đến nay vẫn coi là môn
“phụ”, môn “học thuộc lòng” môn “ít giờ”? Làm thế nào để học sinh khắc phục được tâm lí này? Để học sinh trở nên yêu thích hứng thú với bộ môn, giờ học không cảm thấy nhàm chán, tẻ nhạt và đồng thời cũng khắc phục những điểm hạn chế do hoàn cảnh hiện tại của nước nhà Với những điều kiện đòi hỏi trên, một trong những phương pháp học tập có tính khả thi là dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ Bởi phương pháp này không đòi hỏi điều kiện học tập gì đặc biệt, lại không phụ thuộc quá nặng nề vào “cá tính” hay “khả năng đặc biệt” của người dạy giống như nhiều các phương pháp dạy học khác
Trang 2Đối với phương pháp dạy học hợp tác nhóm thì các nhiệm vụ học tập được giải quyết không phải bởi từng cá nhân riêng rẽ mà là sự phối hợp, sự hợp tác của các thành viên trong một nhóm Việc phối hợp học tập theo cả chiều đứng (thầy-trò) và chiều ngang (trò-(thầy-trò) tạo điều kiện cho học sinh nhận thức từ hai phía thầy
và bạn Chính trong quá trình học tập chung đó các em được trao đổi thảo luận học hỏi lẫn nhau, được khẳng định mình trong nhóm, tập thể tạo nên bầu không khí dân chủ trong lớp học Đồng thời học tập nhóm còn rèn luyện tính độc lập, tự chủ, khả năng diễn đạt, lập luận vấn đề, sự hợp tác tương trợ lẫn nhau, ý thức cộng đồng, tính kỷ luật, vv Từ đó giúp cho học sinh có thể thích ứng nhanh với những đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội và hướng học sinh vào chuẩn bị cho cuộc sống chứ không phải chuẩn bị cho thi cử Đây cũng chính là mục đích cuối cùng của dạy học
Hiện nay, trên thế giới phương pháp dạy học hợp tác nhóm đã được nghiên cứu, vận dụng và đạt được nhiều thành tựu Song ở Việt Nam phương pháp này mới chỉ vận dụng ở một số ít môn học như : giáo dục thể chất, năng khiếu, Chính vì vậy cần phải nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học này trong dạy học nói chung và môn tiếng Anh nói riêng
Xuất phát từ những điều kiện và hoàn cảnh trên tôi tập trung nghiên cứu đề tài : “Một số biện pháp giúp học sinh làm việc nhóm hiệu quả trong môn tiếng Anh”
3 Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ, thông qua chương trình môn tiếng Anh trường Tiểu học Vì vậy đối tượng thực nghiệm là học sinh ở độ tuổi 8-11
Học sinh trường Tiểu học Nguyễn Văn Bé( Khối 5)
Khối 5( 5A1, 5A2, 5A3, 5A4, 5A5) Tổng số: 166 học sinh
4. Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu về phương pháp dạy học hợp tác nhóm thì các nhiệm vụ học tập được giải quyết không phải bởi từng cá nhân riêng rẽ mà là sự phối hợp, sự hợp tác của các thành viên trong một nhóm cho học sinh ở trường TH, đối tượng thực nghiệm: Học sinh trường Tiểu học Nguyễn Văn Bé
5 Phương pháp nghiên cứu.
Thường xuyên dự giờ đồng nghiệp để tìm hiểu thực trạng của việc dạy và học Tiếng Anh ở các trường TH bạn, từ đó rút kinh nghiệm cũng như học hỏi những phương pháp hay từ đồng nghiệp; lắng nghe ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, rút kinh nghiệm qua dự giờ để chọn lọc phương pháp dạy phù hợp
Tham khảo các tài liệu về phương pháp giảng dạy:
+ Sách giáo khoa, giáo viên
+ Tài liệu thay sách
+ Cẩm nang người dạy Tiếng Anh
+ Thiết kế bài giảng
Trang 3Sử dụng Internet thường xuyên để cập nhật thêm các thông tin liên quan đến đề tài
II PHẦN NỘI DUNG
1 Về cơ sở lý luận.
Theo một số nhà nghiên cứu, tâm sinh lí và trình độ nhận thức học sinh tiểu học đang đạt tới sự hoàn thiện về mặt thể chất Do được tiếp cận với các phương tiện thông tin hiện đại và thu nhận một khối lượng thông tin lớn về cuộc sống xã hội, nên sự phát triển về tâm lí và nhận thức bộc lộ rõ nét Các em có những dấu hiệu của sự trưởng thành : Thường tỏ ra quan tâm đến nhau hơn, tự tin hơn Chính
vì thế nhu cầu được giao tiếp, được tranh luận cũng tăng lên Các em luôn muốn giáo viên đánh giá đúng khả năng của mình trong học tập và lao động Hầu hết các em có tính tự trọng cao trong học tập, luôn có xu hướng bảo vệ những ý kiến, những suy nghĩ độc lập của mình Các em luôn có tính tích cực cao, thích hoạt động tập thể, sẵn sàng tham gia công việc chung Ở lứa tuổi này hoạt động cảm giác, tri giác đã đạt được mức độ phát triển cao hơn Tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả quá trình nhận thức Tri giác có mục đích đã đạt được tới mức khá cao Quá trình quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn
2.Thực trạng.
Từ cuối thế kỷ XX, loài người đã bước vào thời kỳ mới của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật; đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong mọi mặt của đời sống xã hội trên phạm vi toàn thế giới Và ngày nay trước thềm thế kỷ XXI, thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của nền văn minh tin học; con người không chỉ biết lao động bằng tay chân mà phải lao động bằng trí óc; phải biết chinh phục đỉnh cao của trí tuệ áp dụng khoa học vào cuộc sống Mọi mặt của đời sống xã hội hiện nay đều gắn với những thành tựu tiến bộ của khoa học Để có được điều này, đòi hỏi con người phải có sự giao lưu học hỏi bạn bè quốc tế Muốn vậy chúng ta phải biết ngoại ngữ và sử dụng nó một cách thành thạo Chính vì vậy
mà tôi thấy việc dạy và học ngoại ngữ trong các nhà trường, đặc biệt là trường tiểu học là một nhu cầu thiết yếu và bắt buộc
Một trong các ngoại ngữ đang dạy và học phổ biến ở các trường tiểu học Việt Nam hiện nay là Tiếng Anh Việc học ngoại ngữ hiện nay không chỉ để biết mà còn để làm việc, để giao lưu học hỏi với bạn bè quốc tế
Năng lực quan sát trở nên sâu sắc và nhạy bén, các em không chỉ ghi nhớ các
sự vật, hiện tượng một cách máy móc mà còn biết so sánh, bước đầu biết phân tích tư duy Độ tuổi này, ghi nhớ có chủ định trong hoạt động trí tuệ đồng thời vai trò ghi nhớ logic trừu tượng và ghi nhớ ý nghĩa ngày càng tăng lên rõ rệt
a Về thuận lợi và khó khăn.
*Về thuận lợi.
Các em đã dần biết ý thức những đặc điểm nhân cách của mình Các em không chỉ nhận thức cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị trí tương lai
Trang 4của mình trong xã hội và dần hình thành nhu cầu đánh giá về các phẩm chất năng lực của nhân cách Song các em có xu hướng tự đánh giá cao nhân cách của bản thân nên cần hướng dẫn giúp đỡ các em tự đánh giá một cách khách quan
Trong các mối quan hệ giao tiếp thì mối quan hệ giao tiếp bạn bè luôn chiếm
vị trí quan trọng Trong quá trình học tập không phải mọi tri thức, kỹ năng thái
độ, hành vi hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò- trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Chính vì vậy, thông qua việc học trong nhóm, trong tập thể, các em được bộc lộ mình, được nâng mình lên một trình độ mới Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động học tập theo nhóm nhỏ sẽ không có hiện tượng ỷ lại, tính cách năng lực của mỗi cá thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào nhà trường sẽ làm cho học sinh quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Với những đặc điểm về tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh nêu trên thì việc tổ chức hoạt động học tập hợp tác nhóm là rất thuận lợi Điều này có thể thực hiện được dễ dàng và mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học ở trường cho dù ở mọi hoàn cảnh điều kiện khác nhau (thành thị hay nông thôn, vùng sâu, vùng xa )
* Bên cạnh đó còn có những khó khăn:
- Trình độ và ý thức không đồng đều dẫn đến ngay trong nhóm có em làm việc tích cực, có em thờ ơ không quan tâm hoặc làm việc khác
- Trước một vấn đề cần thảo luận trong nhóm học sinh chưa biết phân công công việc cụ thể và sau đó là sự hợp tác để trình bày vấn đề nên còn vụng về lúng túng
- Việc đọc bài, chuẩn bị trước bài học ở nhà chưa thật sự hiệu quả, vẫn còn mang tư tưởng đối phó nên sự hợp tác nhiều khi không thành công
b Thành công và hạn chế.
*Thành công
- Giáo viên được đào tạo những kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ đạt chuẩn
để đáp ứng yêu cầu của việc dạy học cũng như áp dụng phương pháp mới vào quá trình dạy học
- Giáo viên yêu nghề, yêu thương học sinh luôn tìm tòi tự nghiên cứu để tìm
ra phương pháp dạy hay, hiệu quả
* Hạn chế.
- Tuy nhiên, thời gian một tiết học (40 phút) không thể chờ cho học sinh suy nghĩ và thảo luận hết các vấn đề như mong muốn Có nhiều khi, vì lo cháy giáo án nên đặt ra vấn đề rồi mà học sinh chậm trả lời thì giáo viên lại phải tự giải thích
- Trong một tiết giáo viên không phải chỉ sử dụng một phương pháp, một thao tác mà còn phải sử dụng nhiều phương pháp và thao tác khác
Trang 5- Lớp chia nhiều nhóm nhỏ, học sinh được phép tự do trao đổi cho nên sự quán xuyến của giáo viên tới từng nhóm cũng có phần bị hạn chế
c Mặt mạnh và mặt yếu.
Mặc dù sách giáo khoa đã rất hiện đại về cấu trúc chủ điểm bài học, gần gũi với cuộc sống hằng ngày sát với mục đích nhu cầu hứng thú của của các em, song qua các bài giảng và tiếp xúc với học sinh tôi luôn nghĩ làm thế nào để dạy và học
có hiệu quả hơn, sáng tạo hơn để học sinh vừa thích thú vừa hiểu bài, bài dạy đạt chất lượng về chiều sâu hơn Trong một bài học được chia làm nhiều tiết dạy, tổng hợp cả việc dạy từ vựng, ngữ pháp và cả việc thực hành cùng trong một tiết học với thời lượng 40 phút Nhưng ở đây tôi chỉ đề cập riêng đến việc dạy hợp tác nhóm trong một tiết học như trên để cho phù hợp với từng đối tượng học sinh và đồng thời đối với giáo viên cũng dễ thực hiện
Học sinh ở bậc tiểu học còn nhỏ nên tốc độ viết của các em còn chậm Đây
Là một lí do chủ yếu dẫn đến việc hạn chế thời gian tổ chức các trò chơi Bên cạnh đó các hình thức trò chơi vẫn chưa được tổ chức phong phú
d Các nguyên nhân và yếu tố tác động.
Môn Tiếng Anh ở bậc tiểu học vẫn là môn học tự chọn nên một số phụ
huynh và học sinh chưa ý thức được tầm quan trọng của môn học này Đối tượng học sinh yếu kém ngại giao tiếp vì khả năng tiếp thu chậm, sợ thực hành sai Đối tượng học sinh khá, giỏi ngại giao tiếp vì tâm lí ngại thực hành trước đám đông Ở lứa tuổi này các em rất ham chơi nên ý thức học tập chưa cao Thêm vào đó các
em rất ít chú trọng vào việc học và rất lười học bài, nhất là khi về nhà
e Phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng
Trong quá trình dạy và học Tiếng Anh, ôn tập và kiểm tra là một hoạt động dạy học không thể thiếu trong bất kì một tiết học nào Việc ôn tập và kiểm tra không chỉ đơn thuần là việc giúp học sinh nhớ nghĩa của từ mà còn là việc giúp các em nghe, phát âm từ một cách chính xác và áp dụng được từ vào trong giao tiếp ngôn ngữ
Các thủ thuật trong đề tài này cũng đã được đề cập đến nhiều trong các tài liệu hướng dẫn dạy ở bộ môn Tiếng Anh hay các sáng kiến kinh nghiệm khác Tuy nhiên làm thế nào để áp dụng các thủ thuật đó một cách có hiệu quả thì đòi hỏi giáo viên phải biết cách chọn lọc và tổ chức thực hiện các thủ thuật ấy một cách hiệu quả, linh hoạt Có thủ thuật phù hợp với bài dạy này nhưng lại không phù hợp đối với bài học khác Tuy nhiên để áp dụng vào thực tế cho phù hợp và sinh động hiệu quả cao thì còn tuỳ thuộc vào phương tiện giảng dạy của từng tiết học cũng như sự linh hoạt của giáo viên để biến mỗi hoạt động ôn tập và kiểm tra thành trò chơi lý thú để lôi cuốn học sinh gây cho các em sự hứng thú học tập và nhớ lâu hơn Các trò chơi sẽ hấp dẫn hơn nếu giáo viên dạy có sử dụng trình chiếu Powerpoint Đối với các tiết dạy truyền thống thì giáo viên cần chuẩn bị nhiều hơn bằng các giáo cụ trực quan như bảng phụ, hình ảnh, mô hình …
III GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP
Trang 6a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
Tiếng Anh là một ngôn ngữ, mà bản chất của ngôn ngữ là giao tiếp Do đó khi học tiếng Anh học sinh phải được tạo điều kiện để được giao tiếp nhiều nhất, giao tiếp với nhiều người nhất Do điều kiện cơ sở vật chất, và thời lượng mỗi tiết dạy nên giáo viên thường chỉ cho những học sinh ngồi gần nhau tạo thành một nhóm trong suốt quá trình học Nhưng theo tôi, tuỳ thuộc vào nội dung học tập, tính chất của nội dung học tập, mức độ khó, dễ của các nhiệm vụ học tập và trình độ của đối tượng học sinh mà có các cách chia nhóm nhỏ khác nhau
Thông thường có một số cách chia nhóm, đó là :
Chia ngẫu nhiên
Chia thành nhóm cùng trình độ
Chia thành nhóm gồm đủ trình độ
Chia nhóm theo sở trường
Chia nhóm nhỏ trong các buổi Xêmina
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
Bước 1: Chia nhóm
Có thể chia nhóm ngẫu nhiên hay chia nhóm chủ định, phụ thuộc vào mục đích của việc hoạt động nhóm
Khi chia nhóm cần lưu ý :
Số lượng thành viên trong mỗi nhóm phụ thuộc vào :
+ Nhiệm vụ bài học cũng như các thiết bị phục vụ cho hoạt động nhóm
+ Thời gian hoạt động nhóm nhỏ : Thời gian ít nhóm nhỏ sẽ có hiệu quả hơn nhóm lớn vì trong nhóm nhỏ trách nhiệm cá nhân cao hơn, mất ít thời gian khi
di chuyển (Theo kinh nghiệm của các chuyên gia phương pháp dạy học thì nhóm nhỏ có từ 2 đến 6 học sinh là hiệu quả nhất)
Học sinh phải chủ động hình thành nhóm học tập khẩn trương theo sự phân chia của giáo viên
Bước 2 : Giao nhiệm vụ
Nhiệm vụ của từng nhóm cần được giao cụ thể Xác định rõ mục tiêu về kiến thức và kỹ năng mà các nhóm cần đạt được Tốt nhất giáo viên nên giao việc bằng phiếu học tập Phiếu giao việc phải rõ ràng, có thể sử dụng cả 2 dạng câu hỏi : Câu hỏi đóng và câu hỏi mở Nếu không có phiếu sẵn giáo viên cần viết rõ ràng yêu cầu làm việc trên bảng
Quy định thời gian làm việc nhóm
Giáo viên dự tính thời gian hoạt động nhóm cho thích hợp, đủ để học sinh di chuyển và thảo luận
Yêu cầu về cách thức làm việc theo nhóm
Yêu cầu về cách thể hiện kết quả : Viết, vẽ, sắm vai
Giáo viên có thể hỏi xem học sinh đã hiểu rõ nhiệm vụ của nhóm mình chưa
Về phía học sinh :
+ Sau khi nhận nhiệm vụ, các nhóm học sinh cần tích cực chủ động nghiên cứu, tìm tòi để lập dàn ý trả lời
Trang 7+ Phải xác định nội dung trả lời, dựa vào thông tin nào trong sách giáo khoa hay các phương tiện khác : tranh ảnh, tài liệu bổ sung
Bước 3 : Làm việc trong nhóm
Giáo viên phân công công việc cho từng thành viên, nhóm đầy đủ thường có các vai :
Người giữ thời gian có nhiệm vụ báo cáo cho cả nhóm biết bao nhiêu thời gian
đã trôi qua, để điều chỉnh thời gian cho hợp lý với nhiệm vụ được giao
Thư kí có nhiệm vụ ghi chép lại những câu trả lời hoặc ghi vắn tắt ý chính của cuộc thảo luận Trước khi ghi thư kí phải đảm bảo rằng tất cả các thành viên trong nhóm đều đã đồng ý
Người động viên có nhiệm vụ khuyến khích và nhắc nhở tất cả các thành viên trong nhóm tham gia đóng góp ý kiến cho buổi thảo luận, có thể hỏi họ đang nghĩ
gì, thậm chí nhắc nhở một cách khéo léo “Chúng tôi chưa được nghe ý kiến của bạn”
Người kiểm tra phải đảm bảo rằng tất cả các thành viên đã hiểu và đồng ý với những vấn đề mà cả nhóm đang bàn bạc Phải lưu ý là không được phép bỏ qua những dấu hiệu, ngôn ngữ mà mọi người dễ bị nhầm lẫn hoặc có thắc mắc, có thể yêu cầu ai đó giải thích rõ ý kiến của họ
Người tóm tắt có nhiệm vụ tóm lược những gì đang được thảo luận, phải đảm bảo rằng các thành viên đều đồng ý với các ý kiến đã nhất trí
Người báo cáo có nhiệm vụ thông báo hay truyền đạt lại cho toàn lớp kết quả làm việc của nhóm Họ có thể thay mặt nhóm giải thích, làm rõ những câu hỏi của mọi người về công việc mà nhóm đã làm
Người đảm bảo những công việc về động não Họ có nhiệm vụ nhắc nhở các thành viên không được thảo luận trong khi động não
Người quan sát nhận xét hoạt động nhóm có trách nhiệm quan sát mọi hành vi của các thành viên trong nhóm
Đối với thực tế hoạt động nhóm, trong điều kiện cơ sở vật chất (bàn ghế cố định, lớp học đông ) thường chia nhóm 4-6 người, trong đó có nhóm trưởng điều khiển cuộc thảo luận Thư kí ghi chép ý kiến các thành viên trong nhóm Có thể một thành viên kiêm nhiệm từ 1-3 nhiệm vụ
Các nhóm triển khai công việc
Mục tiêu thứ 1 : Động não
Tiến hành làm việc chung cả lớp : Trong bước này giáo viên cần :
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức cho học sinh
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ và định lượng thời gian cho mỗi công việc
- Hướng dẫn cách làm việc cho mỗi nhóm
Mục tiêu thứ 2 : Làm việc theo nhóm
- Trao đổi thảo luận trong nhóm hoặc phân công từng cá nhân trong nhóm làm việc độc lập rồi trao đổi
- Trình bày kết quả làm việc của nhóm : Có thể cử đại diện hoặc luân phiên nhau để phát huy hiệu quả đối với mỗi thành viên của nhóm Trong khi các nhóm làm việc, giáo viên theo dõi điều chỉnh, đi lại giữa các nhóm để nắm bắt tình hình,
Trang 8động viên khuyến khích Giáo viên cũng đóng vai trò hướng dẫn cách khai thác,
xử lý thông tin
Mục tiêu 3 : Tiến hành thảo luận và đi đến thống nhất, tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung : giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện, nhận xét, bổ sung đánh giá hoặc sửa chữa những thiếu sót của nhóm bạn để rút kinh nghiệm và hoàn thiện kiến thức
- Giáo viên tổng kết và nêu vấn đề mới
Tổ chức nhóm và đặc điểm mỗi nhóm :
- Làm việc theo cặp 2 học sinh: Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh Hai học sinh ngồi cạnh nhau cùng thảo luận, trao đổi thông tin để giải quyết tình huống giáo viên đưa ra Trong quá trình đó, học sinh sẽ thu nhận kiến thức một cách tích cực
- Làm việc theo nhóm 4-6 học sinh :
+ Chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ (4-6 học sinh song nên tổ chức nhóm 4 sẽ thuận lợi hơn về khoảng cách không gian, tiện trao đổi, thảo luận, tăng cường
độ làm việc của học sinh)
+ Để các nhóm trao đổi, thảo luận các bài tập mà giáo viên giao
- Ghép nhóm: Tổ chức các nhóm có tính luân chuyển :
Thứ nhất :
+ Chia lớp thành các nhóm nhỏ 4-6 học sinh (Đặt tên cho mỗi nhóm)
+ Mỗi nhóm thảo luận và giải quyết vấn đề của bài học
Thứ hai :
+ Tổ chức các nhóm mới Mỗi nhóm mới chỉ chứa một thành viên của mỗi nhóm ban đầu (các thành viên nhóm mới mang một tên mới)
+ Mỗi cá nhân trong nhóm mới sẽ đem kiến thức của mình vừa khám phá lắp ghép với nhau để thành thông tin hoàn chỉnh
Phương pháp này rất hiệu quả đối với các bài dài, có nhiều nội dung kiến thức, nhiều tình huống cần giải quyết Nó còn giúp cho mọi học sinh tham gia hoạt động học tập, làm tăng sự tự tin, khả năng tự học chủ động, sáng tạo, năng lực tư duy cho học sinh
Bước 4 : Báo cáo kết quả
Đại diện các nhóm trình bày kết quả Cách trình bày phổ biến nhất là các nhóm viết hoặc minh hoạ bằng hình vẽ kết quả của nhóm trên giấy khổ rộng hoặc trên giấy trong và dùng máy chiếu hắt (Over head)
Các nhóm có thể lựa chọn các cách trình bày sau đây thay cho thuyết trình : + Phương pháp thị trường
Các nhóm trình bày trên giấy khổ rộng, bảng ghim và trưng bày trong phòng học Lớp học giống như một thị trường thông tin, các học viên sẽ đi xem xét kết quả của từng nhóm, nghe họ giải thích và có thể đặt câu hỏi để họ trả lời, làm rõ Giáo viên có thể đóng góp ý kiến của mình vào kết quả làm việc của từng nhóm + Phương pháp hội chợ
Trang 9Các nhóm không lần lượt trình bày mà chỉ trưng bày kết quả của mình tại một
ví trí đã lựa chọn trong phòng Một đến hai người ở lại nơi trưng bày kết quả của nhóm, còn những người khác đi lại giới thiệu về nhóm mình hoặc có thể trao đổi với bất cứ ai, bất cứ nhóm nào giống như một hội chợ
+ Phương pháp triển lãm
Các nhóm vẫn lần lượt trình bày kết quả nhưng tiếp sau đó các học sinh tự do
đi lại, quan sát kết quả của nhóm khác và có thể thảo luận với các thành viên của nhóm giống như các nghệ sĩ trong buổi triển lãm
Học sinh có thể minh hoạ kết quả thảo luận bằng hình vẽ hoặc đóng vai
Bước 5 : Tổng kết
Học sinh có thể tự tổng kết hoặc giáo viên tổng kết và đưa ra thông tin phản hồi để rút ra kiến thức
c Đ iều kiện thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
1 Thu thập thông tin về người học
Tìm hiểu khả năng và nhu cầu của người học : Dự đoán xem người học đã có những kiến thức và kỹ năng gì liên quan đến bài học Họ có mong muốn gì khi học nội dung này
2 Lựa chọn mục tiêu kiến thức, kỹ năng cần đạt được khi hoạt động nhóm
3 Quyết định
- Số lượng học sinh mỗi nhóm, thành lập nhóm ngẫu nhiên hay chủ định
- Chuẩn bị tài liệu, đồ dùng
- Sắp xếp phòng học, bố trí chỗ học cho từng nhóm
- Chỉ định vai trò từng nhóm, từng thành viên trong nhóm
4 Giám sát can thiệp
Hỗ trợ để hoàn thành công việc
Giám sát hành vi của học sinh
Can thiệp : Đôi khi phải tạm dừng hoạt động của nhóm để hướng dẫn lại hoặc hỏi học sinh nên làm thế nào
5 Đánh giá hoạt động nhóm
Đánh giá ý thức làm việc của các nhóm
Đánh giá kết quả làm việc
d M ối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.
Dạy học bằng phương pháp hợp tác nhóm không phải giáo viên yêu cầu học sinh làm việc còn mình được rảnh rang Không phải cứ chia lớp thành các nhóm nhỏ là dạy học theo phương pháp hợp tác nhóm Hiệu quả của hoạt động nhóm phụ thuộc rất nhiều vào khâu chuẩn bị của giáo viên Giáo viên không chỉ phải chuẩn bị về cơ sở vật chất mà cần phải có một kiến thức rộng và liên quan đến vấn đề tổ chức thảo luận, có vậy mới hướng dẫn học sinh hoạt động tốt
Cần tạo cho người học có tâm thế khi thảo luận nhóm Để làm tốt điều này giáo viên cần phải cân nhắc kĩ lưỡng trước khi chọn chủ đề, luôn tự đặt câu hỏi : Nếu lựa chọn phương pháp hợp tác nhóm, để giải quyết vấn đề này thì có lợi gì so với phương pháp khác ? Chỉ tiến hành hoạt động nhóm khi vấn đề giáo viên đặt ra cần có sự hợp tác của học sinh mới giải quyết được
Trang 10Không nên thất vọng nếu một vài lần đầu giáo viên áp dụng phương pháp này
mà cảm thấy chưa thoả đáng, hãy tự rút ra kinh nghiệm và làm lại nhiều lần vì hoạt động nhóm chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi các học sinh đã hình thành được các kỹ năng hợp tác nhóm
Nếu lớp học quá đông và chật, giáo viên nên sử dụng các nhóm nhỏ (rì rầm) giữa các em cùng bàn hoặc các em ở hai bàn kế tiếp nhau nhưng chú ý nên cố định các thành viên trong cùng nhóm
Trong điều kiện nhà trường hiện nay, lớp học có số lượng học sinh đông, bàn ghế tương đối cố định Có thể vận dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ như sau :
- Nhóm rì rầm : 2-3 học sinh ngồi cùng bàn thảo luận, để giải quyết câu hỏi, bài tập do giáo viên nêu ra
- Nhóm nhỏ 4-6 học sinh giải quyết câu hỏi, bài tập do giáo viên
Giáo viên có thể chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ theo hai cách :
Cách 1: Tất cả các nhóm trong lớp cùng làm một nội dung Sau khi các nhóm báo cáo kết quả, cả lớp thảo luận Cách này có ưu điểm huy động hoạt động của các nhóm nhưng chỉ phù hợp với những bài có nội dung kiến thức ngắn gọn, vì tốn thời gian
Cách 2: Giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm (hoặc một số nhóm) nghiên cứu giải quyết một vấn đề Các nhóm khác và giáo viên bổ sung để đưa ra kết luận cuối cùng Cách này phù hợp với những bài nội dung dài, nội dung của các vấn đề trong bài thường tương tác độc lập
e
K ết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
1 Điều kiện đối với giáo viên
a) Thay đổi căn bản trong nhận thức của giáo viên
Một động lực cực kì quan trọng đối với việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh là hiện nay đại đa số giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa sống còn của việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh Hầu như không còn giáo viên nào còn hoài nghi về sự cần thiết của việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực (trong đó có phương pháp dạy học hợp tác nhóm) trong dạy học tiếng Anh Họ hiểu rằng sau khi đổi mới mục tiêu nội dung chương trình và sách giáo khoa thì đổi mới phương pháp dạy học là nhân tố quan trọng nhất, quyết định đến việc thành bại của quá trình đổi mới, bởi vì có mục tiêu, có chương trình
và sách giáo khoa mới, nhưng việc dạy và học vẫn tiến hành theo kiểu cũ thì không thể nói đến nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học tiếng Anh và tất nhiên cũng không thể nói đến nâng cao vai trò và vị thế của môn tiếng Anh
Trong số những nhân tố đã góp phần quan trọng tạo nên những thay đổi trong nhận thức của giáo viên trước hết phải kể đến hiệu quả của chương trình bồi dưỡng, huấn luyện giáo viên phục vụ cho cải cách giáo dục tiếng Anh do Bộ giáo dục và Đào tạo và các Sở giáo dục tiến hành trong nhiều năm qua Chương trình này chẳng những đã góp phần đáng kể nâng cao nhận thức và trình độ lí luận dạy học cho giáo viên mà còn có tác dụng tăng cường năng lực thực thi các phương