1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN TLV tả CẢNH lớp 5

20 394 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 113,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chương trình Tiểu học, môn Tiếng Việt là môn học chiếm vị trí quan trọng, chiếm thời lượng nhiều nhất so với các môn học khác. Trong đó phân môn Tập làm văn lại chiếm thời lượng nhiều trong môn Tiếng việt. Vì vậy dạy Tập làm văn có vai trò hết sức cần thiết và là nền tảng để học sinh học tốt các môn học khác. Từ thực tiễn bản thân cũng có được một vài kinh nghiệm về dạy môn Tập làm văn tả cảnh ở lớp 5. Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng phân môn Tập làm văn nói riêng. Bản thân tôi xin trình bày một số kinh nghiệm mà mình đã tích lũy được thông qua đề tài “ Một vài kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tập làm văn tả cảnh ở lớp 5”

Trang 1

MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN TẬP LÀM VĂN TẢ CẢNH Ở LỚP 5

I PHẦN MỞ ĐẦU I.1 Lí do chọn đề tài :

Trong chương trình Tiểu học, môn Tiếng Việt là môn học chiếm vị trí quan

trọng, chiếm thời lượng nhiều nhất so với các môn học khác Trong đó phân môn Tập làm văn lại chiếm thời lượng nhiều trong môn Tiếng việt Vì vậy dạy Tập làm văn có vai trò hết sức cần thiết và là nền tảng để học sinh học tốt các môn học khác

Từ thực tiễn bản thân cũng có được một vài kinh nghiệm về dạy môn Tập làm văn

tả cảnh ở lớp 5 Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng phân môn Tập làm văn nói riêng Bản thân tôi xin

trình bày một số kinh nghiệm mà mình đã tích lũy được thông qua đề tài “ Một vài

kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tập làm văn tả cảnh ở lớp 5”

I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài :

- Nhằm tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy làm văn tả cảnh ở lớp 5

- Tìm ra những khó khăn, sai sót mà giáo viên và học sinh thường mắc phải khi dạy học kiểu bài Tập làm văn tả cảnh Qua đó đưa ra giải pháp khắc phục có hiệu quả cho quá trình dạy học kiểu bài này

I.3 Đối tượng nghiên cứu:

- Học sinh lớp 5A4 Trường tiểu học Nguyễn Văn Bé, năm học : 2013 -2014

I.4 Giới hạn, phạm vi nhiên cứu:

Nhằm đi sâu vào một số vấn đề và chỉ dừng ở một số kinh nghiệm nên tôi chỉ giới hạn đề tài trong phạm vi nghiên cứu việc dạy học kiểu bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 Với phạm vi nghiên cứu như vậy, tôi hy vọng sẽ thu được nhiều kết quả khả quan, góp phần thực hiện nhiệm vụ của một nhà giáo trong giai đoạn mới

- Thời gian nghiên cứu : 01 năm

I.5.Phương pháp nghiên cứu:

Trang 2

a Phương pháp nghiên cứu tài liệu : Đọc tài liệu, giáo trình liên quan đến dạy

học văn tả cảnh ở Tiểu học

b.Phương pháp điều tra : Trao đổi với đồng nghiệp về những khó khăn sai sót

khi dạy tả cảnh

c.Phương pháp thực nghiệm sư phạm : Xây dựng tiết học thử nghiệm và đối

chứng, rút ra bài học về phương pháp

d.Phương pháp làm mẫu : Giáo viên gợi ý học sinh tả cảnh bằng những câu

mẫu, bài văn mẫu

e.Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm : Tìm hiểu kết quả các lớp học sinh

trước, phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu để đưa ra giải pháp khắc phục

II PHẦN NỘI DUNG II.1.CƠ SỞ LÍ LUẬN

Trường Tiểu học là nơi đầu tiên trẻ em được học tập Tiếng Việt, chữ viết với phương pháp nhà trường, phương pháp học tập tiếng mẹ đẻ thật sự khoa học Học sinh Tiểu học chỉ có thể học tập được các môn học khác khi có kiến thức Tiếng Việt bởi đối với người Việt, Tiếng Việt là phương tiện giao tiếp, là công cụ trao đổi thông tin và chiếm lĩnh tri thức Trong môn Tiếng Việt có nhiều phân môn, mỗi phân môn mang một kiến thức nhất định, chúng bổ trợ cho nhau giúp người học có thể học tốt môn Tiếng Việt Bắt đầu khởi động bằng môn Học vần, tiếp theo là Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu,… cuối cùng là Tập làm văn Làm văn, viết văn là cái đích cuối cùng cao nhất của việc học tập Tiếng Việt ở Tiểu học Đối với học sinh Tiểu học, biết nói cho đúng, cho đủ, cho rõ nghĩa là đã khó; để nói hay, nói có cảm xúc và cảm nhận được cái đẹp trong cuộc sống mà viết thành những bài văn thì lại càng khó khăn hơn nhiều Cái khó ấy lại chính là cái đích cuối cùng mà phân môn Tập làm văn đòi hỏi người học cần đạt tới

II.2 THỰC TRẠNG :

a Thuận lợi, khó khăn :

Trang 3

*Thuận lợi :

- Giáo viên còn trẻ, nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp

- Học sinh chăm ngoan, hiếu học, nhiều học sinh hứng thú học tập làm văn

- Học sinh có đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập

* Khó khăn :

- Nhiều học sinh chưa có điều kiện mua thêm tài liệu tham khảo

- Một số em lười học, chưa có thói quen tìm hiểu, quan sát, ghi chép những điều xung quanh mình…vì thế mà việc viết một bài văn tả cảnh hay còn hạn chế

- Học sinh tiếp thu bài còn mang tính thụ động, gò ép

b.Thành công, hạn chế

*Thành công

- Giáo viên xây dựng được các bài văn hay để học sinh tham khảo

- Học sinh hứng thú khi lắng nghe bài văn hay của giáo viên và các bạn trong lớp

- Nhiều học sinh rất hào hứng khi bài văn của mình được chọn đọc mẫu trước lớp

*Hạn chế

- Do trong lớp có nhiều đối tượng học sinh nên giáo viên thường sử dụng

phương pháp làm mẫu để tạo đà giúp học sinh trung bình, yếu làm văn Phương pháp này giúp học sinh yếu có thể làm được bài bằng những gợi ý Tuy nhiên, một

số học sinh học được lại thường hay bắt chước các câu, đoạn văn mẫu nên nhiều bài làm có các câu, đoạn giống nhau

c.Mặt mạnh, mặt yếu

*Mặt mạnh

- Giáo viên nhiệt tình, ham học hỏi, nghiên cứu cái mới, cái hay của các bài văn tả cảnh

- Học sinh hứng thú khám phá cái mới, cái đẹp

- Nhiều học sinh rất thông minh, tiếp thu bài nhanh, sử dụng vốn từ linh hoạt

Trang 4

*Mặt yếu

- Giáo viên mới vào nghề vài năm chưa có nhiều kinh nghiệm

- Kĩ năng làm văn miêu tả của các em học sinh yếu hầu như không có Các em chưa biết cách quan sát, thực hiện làm một bài văn miêu tả chưa đúng quy trình, chưa biết cách chọn lọc các chi tiết miêu tả đặc sắc để đưa vào bài văn, làm cho bài văn thành “một mớ hỗn độn” của các chi tiết hoặc là thành “một bản liệt kê” với rất nhiều chi tiết

d.Các nguyên nhân, các yếu tố tác động

- Do chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác nên trong quá trình giảng dạy, chưa đưa ra biện pháp tối ưu để rèn kĩ năng viết văn cho học sinh, nhất là với những em tiếp thu chậm

- Sĩ số lớp đông nên rất khó cho giáo viên trong việc theo sát kèm cặp từng học sinh trong một tiết dạy

- Lượng kiến thức kĩ năng cung cấp cho học sinh trong một tiết tập làm văn thướng rất lớn, dẫn đến tình trạng quá tải trong một tiết học

- Tiếng Việt là tiếng nói để giao tiếp của các em nhưng vốn Tiếng Việt lại rất hạn chế Trong khi đó, việc học kiểu bài văn tả cảnh trong phân môn Tập làm văn lớp Năm lại yêu cầu vốn từ ngữ, năng lực tư duy rất lớn Vốn từ của các em chưa phong phú, chưa hiểu hết nghĩa của từ nên việc vận dụng vào bài làm còn nhiều sai sót

e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.

Kiến thức Tập làm văn ở Tiểu học tập trung nhiều trong chương trình Tập làm văn lớp 4 – 5 với các kiểu bài như : trao đổi ý kiến; kể chuyện; miêu tả (tả đồ vât, tả cây cối, tả người, tả cảnh…); … Trong đó khó nhất đối với học sinh là miêu tả Qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh có thể làm tốt các kiểu bài ở thể loại văn miêu tả như : tả đồ vật, tả con vật, tả người; nhưng trong chương trình Tập làm

Trang 5

ngắn ngủn, què quặt, thiếu bộ phận, thiếu hình ảnh; diễn đạt rối rắm, thiếu cảm xúc Các bài viết thường rơi vào tình trạng liệt kê, kể mà không tả, khô cứng

Qua khảo sát đầu năm học 2013-2014 lớp 5A4 tôi thấy bài viết của các em đạt được kết quả như sau:

Tổng số bài 34 Giỏi 4 em Khá 7 em Trung bình 21 em Yếu 2 em

- Khi dạy phân môn Tập làm văn đòi hỏi giáo viên phải có nhiều sáng tạo cũng như sự nhạy bén, linh hoạt trong quá trình lên lớp, chuẩn bị thật công phu các tình huống có thể gặp ở học sinh thì mới giúp học sinh có khả năng viết văn được

II.3 GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

a.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

Đề tài, chủ đề của bài văn quyết định cách quan sát, tìm ý, sắp xếp ý và cách diễn đạt của bài văn Nếu không nắm vững yêu cầu của đề ra thì bài văn sẽ đi chệch hướng và không đạt yêu cầu Nhiều học sinh làm văn lạc đề, xa đề là vì vậy Bởi thế, công việc đầu tiên cần làm là luyện tập cho học sinh tìm hiểu đề để xác định đúng yêu cầu đề ra Các yêu cầu của đề đều nằm trong toàn bộ “lời văn” của đề ra

Vì thế việc đầu tiên là tìm những từ ngữ thể hiện yêu cầu của đề bằng cách trả lời các câu hỏi : Tả cái gì ? (xác định đối tượng miêu tả), tả như thế nào ? (đặc điểm, tính chất của đối tượng), Tả lúc nào ? Ở đâu? (thời gian, không gian), tả để làm gì ? (mục đích miêu tả) Khi trả lời tất cả các câu hỏi này chúng ta sẽ định hướng “bộ xương”, cái “khung” của bài văn

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

1,Tìm hiểu và phát hiện lỗi một số bài văn miêu tả của học sinh.

Thử xem một số bài văn miêu tả của học sinh chúng ta sẽ bắt gặp khá nhiều lỗi : lỗi về chính tả, lỗi về dấu câu, lỗi diễn đạt, lỗi đi lạc đề,…

Ví dụ: - Câu không đủ thành phần: Trên cánh đồng làng, chạy dọc theo con đường

- Câu thừa thành phần, lặp lại thành phần một cách không cần thiết: Cánh đồng đối với quê em là một cảnh đẹp của quê em

Trang 6

- Lỗi sử dụng sai dấu câu: Dòng sông quê em Vào mùa hè nước trong xanh, rất mát

- Lỗi các câu trong bài văn mâu thuẫn nhau về nghĩa: Từ nhà em đến trường

không xa Nhưng đó là cả một con đường xa đầy thơ mộng

- Lỗi lặp một từ quá nhiều lần trong câu: Những chiếc lá dập dờn trên mặt nước dập dờn trông như những con thuyền đang dập dờn trên sóng.

- Lỗi do dùng thừa từ phụ như quan hệ từ: Ánh nắng của mặt trời của buổi sớm nhảy nhót trên những lá bàng non

Như vậy, chúng ta thấy khi làm bài tập làm văn, học sinh Tiểu học thường mắc rất nhiều lỗi Đọc bài văn của các em, chúng ta còn thấy sự khô khan, nghèo cảm xúc, bài văn như một bảng liệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả, lủng củng, lộn xộn, không lột tả được đối tượng cần miêu tả, đôi khi còn bịa đặt không có căn cứ

Vì là học sinh lớp 5 nên cách làm bài văn của các em đã ít nhiều mang phong cách nghệ thuật Có nghĩa là các em đã phải biết sử dụng ngôn ngữ có hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật như tu từ, so sánh … song nhiều chi tiết thiếu tính chân thực, ngôn từ chưa được gọt giũa, hình ảnh so sánh khập khiểng, dùng từ vụng về…

2,Nguyên nhân của những lỗi sai và hạn chế của học sinh khi viết văn tả cảnh.

- Các em chưa hiểu rõ đặc điểm của văn tả cảnh, chưa phân biệt được sự khác biệt giữa văn tả cảnh và các kiểu bài văn khác

- Khả năng quan sát của các em và sự lựa chọn chi tiết để quan sát và miêu tả thiếu tinh tế

- Vốn từ miêu tả còn nghèo nàn, hạn hẹp nên không lựa chọn được từ có hình ảnh thích hợp để sử dụng

- Kĩ năng lựa chọn từ ngữ, dùng từ đặt câu, viết đoạn; kĩ năng diễn đạt còn rất hạn chế Chưa biết cách sắp xếp ý khi viết bài, xây dựng bố cục thiếu rõ ràng, không khoa học

Trang 7

- Không có thói quen sử dụng các biện pháp tu từ, biện pháp nghệ thuật trong viết văn; khả năng giao cảm với đối tượng miêu tả còn hạn chế, cảm xúc không tự nhiên, tình cảm gượng ép và khô cứng

- Trong tiết trả bài, học sinh chưa được chữa lỗi và tự sửa lỗi kĩ càng, đầy đủ

Để khắc phục tình trạng trên và để giúp học sinh làm được bài văn tả cảnh đạt những yêu cầu như vừa mang tính chân thực, vừa mang tính nghệ thuật và mỗi bài văn là một sản phẩm sáng tạo của mỗi học sinh thì tôi đã hướng dẫn học sinh như sau:

2-1 Giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn tả cảnh

Đối tượng của bài văn tả cảnh là những cảnh vật quen thuộc xung quanh các em: một cơn mưa, một ngày nắng đẹp, một đêm trăng đẹp, một dòng sông, một cánh đồng, một vườn cà phê, một rừng cao su, một hồ nước… Bài văn tả cảnh là thể loại văn bản mang tính nghệ thuật cao, mang tính sáng tạo, tính cá thể của người viết Ngôn ngữ trong văn tả cảnh là thứ ngôn ngữ giàu sức gợi cảm và là ngôn ngữ đã được gọt giũa một cách công phu Tả là mô phỏng, là vẽ lại, là so sánh ví von, nhân hóa đối tượng có hình ảnh … chứ không thể là liệt kê các chi tiết

Văn tả cảnh mang tính chất thông báo thẩm mĩ, dù tả bất kì đối tượng nào, dù

có bám sát thực tế đến đâu thì văn tả cảnh không bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh máy móc những sự vật hiện tượng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức tinh tế và phong phú Chẳng hạn khi tả trăng nhà thơ Trần Đăng Khoa cảm nhận một cách tinh tế bằng tình yêu của tâm hồn trẻ thơ, rất đỗi hồn nhiên trong sáng :

Trăng hồng như quả chín

Lơ lửng mà không rơi…

Hay :

Trăng tròn như quả bóng Bạn nào đá lên trời

Trang 8

Còn đối với nhà văn Nam Cao thì vành trăng và ánh sao lại được nhìn nhận, được cảm theo một cách hoàn toàn khác: “Trăng là cái liềm vàng giữa cánh đồng đầy sao, là cái đĩa bạc trên cái thảm nhung da trời Trăng tỏa rộng xuống trần gian Trăng tuôn suối mát để những tâm hồn khao khát ngụp lặn”

Như vậy, để tả hay, tả đúng thì phải tả chân thật, giáo viên cần uốn nắn để học sinh tránh thái độ giả tạo, giả dối; bệnh công thức sáo rỗng

Mỗi cảnh đều nằm trong một khung không gian và thời gian, đó là cái nền cho cảnh vật được miêu tả Các em cần nêu được khung cảnh chung này, nhưng đặc biệt cần tập trung tả nét tiêu biểu của cảnh, làm cho nó khác với cảnh khác Khi tả cảnh các em có thể lồng tả người, tả vật trong cảnh để cho bài văn thêm sinh động

2-2 Hướng dẫn học sinh cách quan sát đối tượng miêu tả, cách chọn lựa hình ảnh, nội dung miêu tả.

*Trước hết phải tập cho học sinh quan sát, vì học sinh thường không có thói quen quan sát Phải có công quan sát để tìm ra những nét nổi bật, độc đáo của đối tượng của quan sát

+ Quan sát tổng thể đối tượng, ở cả trạng thái động và tĩnh, quan sát bằng tất cả các giác quan : thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác

+ Lựa chọn điểm đặc trưng, đặc biệt, tiêu biểu của đối tượng để quan sát thật kĩ + Quan sát và so sánh điểm giống nhau và khác nhau với các đối tượng khác có ở xung quanh bằng sự liên tưởng hay quan sát trước đó

+ Quan sát hình ảnh, hoạt động và những tác động của đối tượng đến các sự vật xung quanh

+ Có thể ghi nhớ trong đầu, hoặc ghi chép cẩn thận, đầy đủ vào sổ sách

+ Có thể quan sát trực tiếp hoặc hồi tưởng bằng trí nhớ

*Lựa chọn hình ảnh tiêu biểu và nội dung để tả

+ Căn cứ vào hình ảnh lựa chọn khi quan sát

+ Căn cứ vào nội dung ghi chép được

Trang 9

+ Chọn lựa những hình ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưng riêng, đẹp và khác biệt của đối tượng để miêu tả

Lựa chọn hình ảnh, hoạt động của đối tượng để tả khái quát, bổ trợ tạo nên hình ảnh tổng thể về đối tượng có thể lồng ghép các hình ảnh, sự việc gắn bó mật thiết với đối tượng

*Sắp xếp ý, đoạn

- Căn cứ vào nội dung đã lựa chọn để sắp xếp từng ý (theo thứ tự nào đó: từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, từ gần đến xa, …)

- Sắp xếp các ý theo đoạn với thứ tự đã chọn cho phù hợp

Cách làm này giúp các em không tả dài dòng mà các em nắm bắt được cái thần, cái hồn, cái dáng vẻ đặc biệt của cảnh; bằng ngôn ngữ làm thể hiện lên trước mắt người đọc một khung cảnh rất thực, sống động Nói ít gợi nhiều không có nghĩa làm các em chỉ viết vài câu rồi chấm hết một bài văn mà khi tả cảnh không nên lan man, cái nào cũng tả Cần phải biết chọn lọc những đặc điểm nổi bật của cảnh Khi

tả cảnh các em cần chú ý:

+ Tả bao quát toàn cảnh, nêu khung cảnh chung của cảnh vật và nêu cảm tưởng, cảm nhận chung của em về cảnh vật

+ Tả từng bộ phận của cảnh theo một trình tự nào đó Chú ý đặc điểm của cảnh vật

về đường nét, màu sắc, âm thanh, quy mô, chỉ ra những nét riêng, vẻ riêng của cảnh Ví dụ: Quan sát một ngày mùa ở làng quê, nhà văn Tô Hoài đã ghi lại : “…

Có lẽ bắt đầu từ những đêm sương sa thì bóng tối đã hơi cứng lại và sáng ngày ra thì trông thấy màu trời có hơi vàng hơn thường khi Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại Nắng nhạt màu vàng hoe….” Đó chính là vẻ đẹp của một làng quê khi vào mùa; một quang cảnh rất trù phú, được mùa của bà con nông dân

Hay cũng một ngày mùa, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã ghi lại : “Nắng lên, nắng chan mỡ gà trên những cánh đồng lúa chín Rất đều, rất gọn nhẹ các xã viên cúi lưng xuống, Một tay nắm khóm lúa, một tay cắt giật Một nắm, hai nắm,…xoèn xoẹt … xoèn xoẹt … lúa chất dồn thành từng đống … ” Ở những nét nổi bật, tiêu

Trang 10

biểu của cảnh người đọc dễ dàng nhận thấy một không khí làm việc hăng say; một cảnh ngày mùa bội thu và cũng đầy vất vả của bà con nông dân

3 Giúp học sinh tích lũy vốn từ dùng cho tả cảnh, làm giàu trí tưởng tượng của các em khi tả.

* Tích lũy vốn từ

- Vốn từ được tích lũy từ nhiều nguồn : trong giao tiếp hàng ngày; qua đọc sách, báo; qua xem, nghe truyền hình, truyền thanh; trao đổi với bạn bè; thầy cô giáo cung cấp…

- Ghi chép lại dùng để miêu tả Ví dụ như :

+ Các từ dùng để miêu tả cây cố i: xanh mướt, xanh rì, xanh mơn mởn, xanh non, xanh lá mạ, xanh biếc, xanh lục, … rung rinh, um tùm, sum suê, khẳng khiu, rực

rỡ, mỡ màng, vàng úa, xơ xác, trơ trụi, lác đác, xào xạc, lả tả,…

+ Các từ ngữ dùng để miêu tả âm thanh: vi vu, ầm ầm, đì đùng, xoèn xoẹt, lách cách, cót két, phành phạch, râm ran, ríu rít, rào rào, tí tách, đồm độp, loong boong, loảng xoảng,…

+ Các từ dùng để tả mùi vị : thơm thoang thoảng, ngòn ngọt, chan chát, nồng nồng, cay xè, ngai ngái, hăng hắc, dìu dịu, ngào ngạt, sực nức, ngọt mát,…

* Giúp học sinh làm giàu thêm trí tưởng tượng :

- Tưởng tượng trong văn miêu tả nói chung; văn tả cảnh nói riêng là rất quan trọng Có tưởng tượng mới có hình ảnh hoàn chỉnh về đối tượng miêu tả Tưởng tượng giúp ta thấy được nét đặc sắc của đối tượng, thấy được điểm tương đồng với đối tượng khác Từ tưởng tượng học sinh sẽ cảm nhận được đối tượng miêu tả bằng tình cảm, tình yêu của chính mình đối với cảnh sẽ tả Tưởng tượng làm cho đối tượng được miêu tả hoàn thiện hơn, đẹp hơn, sống động hơn và gần gũi với con người hơn

- Tưởng tượng thế nào?

+ Không trực tiếp quan sát mà tập trung tất cả các giác quan vào đối tượng

Ngày đăng: 29/03/2016, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w