1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2

22 1,5K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 209,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với bậc tiểu học môn tiếng Việt chiếm một vị trí rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay, nó hình thành cho học sinh 4 kĩ năng nghe nói – đọc viết. Thông qua dạy học tiếng Việt rèn cho các em những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và hiểu biết sơ giản về xã hội, con người, văn hoá của đất nước Việt Năm. Từ vốn kiến thức tiếng Việt đã học được ở lớp 1, học sinh lên lớp 2 được củng cố và phát triển thêm vốn ngôn ngữ tiếng Việt làm công cụ để vận dụng trong học tập các môn học khác và giao tiếp với cộng đồng. Đặc biệt, phân môn Tập làm văn góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lôgích, tư duy trừu tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ, hình thành nhân cách cho học sinh. Học các tiết Tập làm văn, các em có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên qua các đoạn văn. HS lại có dịp hướng tới cái chân, cái thiện, cái mĩ được định hướng trong các đề bài ... Qua đó, làm cho các em có tình cảm yêu mến, gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, con người giúp cho tâm hồn các em thêm phong phú. Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho trẻ . Chính vì vậy, các bài Tập làm văn của các em HS lớp 2 là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp quá trình học tập. Một đoạn văn hay đạt các yêu cầu về nội dung và giàu cảm xúc. Trải qua nhiều năm công tác từ các thực tiễn bản thân cũng có một vài kinh nghiệm về dạy môn tiếng Việt nói chung và đặc biệt môn Tập làm văn nói riêng. Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn. Bản thân tôi xin trình bày một số kinh nghiệm mà mình đã tích lũy được thông qua đề tài :“Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn”.

Trang 1

I.PHẦN NỘI DUNG I.1 Lý do chọn đề tài :

Đối với bậc tiểu học môn tiếng Việt chiếm một vị trí rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay, nó hình thành cho học sinh 4 kĩ năng nghe - nói – đọc - viết Thông qua dạy học tiếng Việt rèn cho các em những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và hiểu biết sơ giản về xã hội, con người, văn hoá của đất nước Việt Năm Từ vốn kiến thức tiếng Việt đã học được ở lớp 1, học sinh lên lớp 2 được củng cố và phát triển thêm vốn ngôn ngữ tiếng Việt làm công cụ để vận dụng trong học tập các môn học khác và giao tiếp với cộng đồng

Đặc biệt, phân môn Tập làm văn góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lô-gích, tư duy trừu tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ, hình thành nhân cách cho học sinh Học các tiết Tập làm văn, các em có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên qua các đoạn văn HS lại có dịp hướng tới cái chân, cái thiện, cái

mĩ được định hướng trong các đề bài Qua đó, làm cho các em có tình cảm yêu mến, gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, con người giúp cho tâm hồn các em thêm phong phú Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho trẻ

Chính vì vậy, các bài Tập làm văn của các em HS lớp 2 là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp quá trình học tập Một đoạn văn hay đạt các yêu cầu về nội dung và giàu cảm xúc

Trải qua nhiều năm công tác từ các thực tiễn bản thân cũng có một vài kinh nghiệm về dạy môn tiếng Việt nói chung và đặc biệt môn Tập làm văn nói riêng Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn Bản thân tôi xin trình

bày một số kinh nghiệm mà mình đã tích lũy được thông qua đề tài :“Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn”.

I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài :

là một yêu cầu quan trọng đối với học sinh lớp 2 nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của môn tiếng Việt nói siêng và chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung, làm nền móng vững chắc cho các em học tiếp lên các lớp trên Vì thế, đã lôi cuốn tôi chọn đề tài nghiên cứu này

* Nhiệm vụ:

Trang 2

Nghiên cứu một số cơ sở lí luận và thực tiễn, các tài liệu có liên quan đến quá trình dạy

và học, phương pháp, hình thức dạy học phân môn Tập làm văn lớp 2 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Tập làm văn lớp 2 Giúp học sinh lĩnh hội được những tri thức và rèn luyện cho các em các kĩ năng liên kết các câu hỏi gợi ý thành một đoạn văn ngắn đạt kết quả tốt nhằm nâng cao chất lượng học tập môn tiếng Việt nói siêng và chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung

I.3.Đối tượng nghiên cứu:

- Nội dung, phương pháp và kỹ năng dạy học phân môn tập làm văn lớp 2

- Đối tượng học sinh khối lớp 2 Trường Tiểu học Nguyễn Văn Bé, huyện Krông Năng-tỉnh Đắk Lắk

I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

- Tìm hiểu nội dung phân môn tập làm văn lớp 2

- Nghiên cứu thực trạng chất lượng học tập phân môn Tập làm văn lớp 2D2 trường Tiểu học Nguyễn Văn Bé

- Nghiên cứu những biện pháp cụ thể, tối ưu trong giảng dạy phân môn Tập làm văn nhằm nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn

- Những kinh nghiệm dạy học của đồng nghiệp và bản thân trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn

I.5 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp khảo sát tài liệu, đồ dùng có kiên quan để phục vụ cho phân môn cho phân môn Tập làm văn và từng tiết dạy

- Phương pháp trực quan

- Phương pháp điều tra viết

- Phương pháp vấn đáp gợi mở

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp thực nghiệm giáo dục

- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm

II PHẦN NỘI DUNG

II.1 Cơ sở lý luận:

Môn tiếng Việt nói chung và môn Tập làm văn là một phân môn có tầm quan trọng đặc biệt ở Tiểu học nhất đối với học sinh lớp 2 là lớp giai đoạn đầu của giai đoạn thứ nhất ở bậc Tiểu học chuẩn bị hành trang tri thức quan trọng để các em học tiếp lên lớp 3, 4, 5 và các lớp trên Việc dạy môn tiếng Việt nói chung và môn Tập làm văn nói riêng ở tiểu học đang hướng tới mục tiêu chung của giáo dục Mỗi phân môn, mỗi tiết học của môn tiếng Việt đều hướng đến mục đích phát triển kĩ năng nghe - nói – đọc - viết cho học sinh mà phân môn Tập làm văn là một trong những phân môn quan trọng của bộ môn tiếng Việt (phân môn thực hành tổng hợp) Bỡi nó vận dụng tất cả những hiểu biết về nhận thức, kĩ năng của phân

Trang 3

môn đòi hỏi học sinh phát huy cao độ trí tuệ và cảm xúc để thực hiện các yêu cầu bài học Đặc biệt giúp trẻ sản sinh ra những đoạn văn bản có cảm xúc chân thật khi nói và viết

đã được học ở lớp 1, và thực trạng học sinh lớp 2D2 tôi đang chủ nhiệm và nhận thấy các

em đã thể hiện rất rõ các kỹ nói, viết thông qua các nội dung và số liệu ở bảng thống kê kết quả thực trạng sau:

BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG

Tổng số học sinh điều tra : 33 HS

Bổ sung và sửa chửa bài làm của bạn 12 21

Dựa theo tranh có tên: Chiếc bút của cô giáo 18 16

Biết Biết kể về người thân, về gia đình của em 14 19

Biết kể ngắn về anh chị em Kể ngăn về con vật 16 17

Viết

Dựa theo câu hỏi viết được đoạn văn nói về cô,

thầy giáo cũ lớp 1 của em

Biết viết một bức thư ngắn(giống bưu thiếp)

thăm hỏi ông bà

Biết cách viết kể, người thân và gia đình 15 18

Biết cách viết kể ngăn về con vật 13 20

Qua kết quả khao sát thực trạng, bản thân nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:

a Thuận lợi và khó khăn:

+ Thuận lợi:

- Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường, thường xuyên nắm bắt tình hình học sinh, kịp thời giúp đỡ giáo viên dạy học theo hướng đổi mới nhằm nâng cao chất lượng dạy

Trang 4

học nói chung và dạy học phân môn Tập làm văn nói riêng Học sinh ngoan, có ý thức trong học tập.

- Giáo viên có năng lực, nhiệt tình, ham học hỏi, nhiều năm giảng dạy nên đã rút được một

số kinh nghiệm dạy học cho bản thân

+ Khó khăn:

- Là một xã thuần nông, mới được tách ra năm 2003, dân số khoảng 10.000 người, điều kiện kinh tế của nhân dân trên địa bàn xã còn gặp nhiều khó khăn Địa bàn xã rộng, trải dài khắp 16 thôn buôn, đường giao thông đi lại khó khăn, nhất là mùa mưa

- Giá cả các mặt hàng leo thang, kinh tế bất ổn nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc đầu tư học hành cho con em Từ đó làm cho công tác dạy và học gặp rất nhiều khó khăn

- Một số giáo viên lớn tuổi nên việc tiếp cận, áp dụng đổi mới còn chậm Đời sống kinh tế của giáo viên còn khó khăn, ảnh hưởng tới việc tập trung trong công tác

- Chất lượng học sinh không đồng đều Khả năng tiếp thu bài của các em còn nhiều hạn chế

b Một số thành công và hạn chế :

* Thành công:

+ Đối với giáo viên:

- Nắm vững nội dung chương trình sách giáo khoa Trong quá trình dạy học biết nghiên cứu nội dung bài dạy, xác định mục tiêu dựa theo chuẩn kiến thức kĩ năng phù hợp với đối tượng học sinh

- Giáo viên lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh Truyền đạt đầy đủ nội dung, kiến thức Thường xuyên nhận xét bài làm của học sinh Nhiệt tình, gần gũi với học sinh

+ Đối với học sinh:

- Trong tiết học các em tập trung chăm chú lắng nghe giáo viên giảng bài, biết tự giác làm bài Ở lứa tuổi học sinh lớp hai, các em rất ham tìm tòi học hỏi Nội dung chương trình môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng rất phong phú; kênh hình Sách giáo khoa được trình bày đẹp, hình ảnh rõ ràng phù hợp tâm sinh lí lứa tuổi các em

Tuy phân môn Tập làm văn lớp 2 rất mới mẻ nhưng các em đọc viết tốt ở lớp 1 đã tạo nền tảng kiến thức, kĩ năng về câu, đoạn Đây là cơ sở giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn lớp 2

* Hạn chế:

+Đối với giáo viên

- Đối với từng bài, từng tiết giáo viên vẫn nghiên cứu chưa kỹ nên không hiểu hết ý đồ của sách giáo khoa

- Trong tiết dạy giáo viên chưa biết vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học cho phù hợp theo từng dạng bài, từng nội dung kiến thức yêu cầu

Trang 5

- Trong quá trình giảng dạy, do khả năng của từng giáo viên hay do đặc điểm tình hình của lớp và do quá lạm dụng vào các tài liệu tham khảo, sách giáo khoa.

- Điểm hạn chế lớn nhất của giáo viên là chưa sử dụng hợp lý một số hình thức dạy học, giáo viên hết sức lúng túng khi vận dụng các hình thức tổ chức dạy học trong các hoạt động của tiết dạy như: hoạt động của thầy và trò chưa theo hướng tích cực;

- Giáo viên làm việc nhiều chủ yếu là làm mẫu, giảng giải; chưa có sự dẫn dắt, gợi ý để HS

tự tìm tòi kiến thức nội dung cần biết Việc tổ chức các hình thức chưa hợp lý như có bài tập cần phải sử dụng hoạt động thảo luận nhóm thì giáo viên lại tổ chức làm việc chung cả lớp,

có bài tập đề bài cần tổ chức cho học sinh hoạt động cá nhân thì giáo viên lại tổ chức trò chơi học tập (tập trung chủ yếu là đối tượng học sinh khá giỏi) Thời gian bố trí cho từng hoạt động chưa phù hợp, hệ thống câu hỏi, hình thức thực hành bài tập chưa đảm bảo yêu cầu và chưa phân loại đối tượng học sinh để bồi dưỡng học sinh khá giỏi và giúp đỡ học sinh yếu kém trong tiết học

- Trong việc rèn kĩ năng nói - viết cho học sinh, giáo viên có sự đầu tư nghiên cứu mục tiêu, nội dung các tiết dạy để lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, nhưng sự đầu tư chưa cao nên hiệu quả các tiết dạy phân môn Tập làm văn còn thấp

+ Đối với học sinh

- Vốn từ của các em còn hạn chế Bên cạnh đó, trong tiết dạy các em còn rụt rè, chưa mạnh dạn luyện nói trước lớp, các em ít có cơ hội thực hành giao tiếp tiếng Việt

- Do kĩ năng nói của các em còn hạn chế, dùng từ chưa hay, chưa chính xác; kỹ năng làm văn chưa đúng do xác định sai yêu cầu của bài tập và thể loại bài văn, sử dụng dấu câu không đúng chỗ trong câu hay đoạn văn

c Mặt mạnh- mặt yếu:

+ Mặt mạnh:

- Về giáo viên:

Soạn bài đầy đủ trước khi lên lớp, chuẩn bị các câu từ hướng dẫn gợi ý, nhận xét học

sinh, bổ sung câu trả lời của học sinh Thường xuyên nghiên cứu nội dung, các tài liệu liên quan nhằm lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng loại bài và đối tượng học sinh Thường xuyên sử dụng các đồ dùng dạy học phù hợp với bài dạy, lưu những bài văn hay của lớp trước Thường xuyên dự giờ, đúc rút kinh nghiệm dạy học từ đồng nghiệp

- Về học sinh: ngoan ngoãn, lắng nghe, tập trung trong học tập Biết làm theo yêu cầu của

Trang 6

- Đối với từng bài, từng tiết dạy tuy giáo viên đã nghiên cứu kĩ bài soạn trước khi đến lớp, song vẫn không hiểu được ý đồ của sách giáo khoa Do đó, trong tiết dạy giáo viên chưa biết vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp theo từng dạng bài, từng nội dung kiến thức yêu cầu trong quá trình giảng dạy, do khả năng của từng giáo viên hoặc do đặc điểm từng đối tượng học sinh của lớp mình đang dạy mà đưa ra một số phương pháp, hình thức tổ chức dạy học không phù hợp, vì thế mà ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tiết dạy nói riêng và chất lượng môn học nói chung.

d Các nguyên nhân và các yếu tố tác động :

Trong tiết học các em ít được luyện nói đặc biệt là đối tượng học sinh học yếu, nhiều em còn rụt rè, chưa mạnh dạn trình bày ý kiến của mình trước lớp

- Kỹ năng viết của các em vẫn có nhiều tồn tại như viết chưa thành câu, dùng từ chưa hay, chưa chính xác; một số bài làm như thầy (cô) hướng dẫn chưa có sự sáng tạo

- Vốn sống của các em chưa phong phú do các em ít có điều kiện giao tiếp Hơn nữa lại ở một vùng điều kiện xã hội chưa phong phú về môi trường tự nhiên và cảnh vật chưa đa dạng, các em không được tiếp xúc giao lưu, học hỏi mở rộng thêm kiến thức như những học sinh ở các trường thuộc thị trấn

*Về giáo viên:

- Giáo viên sợ học sinh không hiểu hay chưa hiểu nên thường nói đi nói lại nhiều lần một vấn đề nào đó (mà thực ra HS đã hiểu ), cho nên thời gian dành cho việc hình thành kiến thức mới chiếm khá nhiều (có khi chiếm ¾ thời gian cả tiết học ) không đủ thời gian cho

HS luyện tập thực hành

- Tranh ảnh, đồ dùng phục vụ cho môn học chưa đầy đủ

- Một trong những điểm mới trong CT-SGK chương trình Tiếng Việt nói chung và tiếng Việt 2 nói riêng là quan điểm tích hợp

- Giáo viên còn hạn chế về cách diễn đạt, liên kết ý, vì thế mà gặp nhiều khó khăn trong việc hướng dẫn mẫu cho học sinh

- Trong giảng dạy Tiếng Việt nói chung và dạy phân môn tập làm văn nói riêng, giáo viên chưa chú trọng rèn kĩ năng nói, viết cho học sinh

- Hình thức tổ chức để rèn luyện kĩ năng làm bài cho học sinh chưa phong phú

- Phần nhận xét bài viết của học sinh còn chung chung

Trang 7

- Giáo viên chưa nắm vững nội dung của các tài liệu vùng miền, chuẩn kiến thức kĩ năng, tài liệu điều chỉnh nội dung của chương trình tiếng Việt 2, đặc điểm đối tượng của lớp mình đang dạy

* Đối với phụ huynh học sinh:

-Đa số bố mẹ của các em làm nghề nông nên ít có thời gian để quan tâm đến việc học tập của con cái, dẫn đến việc chuẩn bị bài và làm bài tập ở nhà của các em không chu đáo, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình làm bài của các em ở lớp

e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:

e.1 Thuận lợi và khó khăn:

+ Thuận lợi:

Tuy mới được thành lập nhưng dân số chủ yếu là người kinh thuộc các tỉnh phía Bắc di cư tới lập nghiệp, nên việc học hành của con em được phụ huynh quan tâm số một và được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường, thường xuyên nắm bắt tình hình học sinh, kịp thời giúp đỡ giáo viên dạy học theo hướng đổi mới nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói chung

và dạy học phân môn Tập làm văn nói riêng Vì cơ sở vật chất trường học giúp cho giáo viên có thêm các điều kiện phương tiện triển khai phương pháp của mình

Đội ngũ nhà giáo trẻ khỏe nhiệt tình, năng động sáng tạo, là điều kiện quan trọng để áp dụng triển khai những cái mới được hiệu quả

+ Khó khăn:

Ngoài những phụ huynh quan tâm tới việc học tập của con cái, bên cạnh đó còn không ít quý bậc phụ huynh mải làm giàu mà khoán việc học hành cho nhà trường, cho giáo viên, nên ít nhiều cũng ảnh hưởng tới việc phối kết hợp giáo dục, một số gia đình có hoàn cảnh

kó khăn, chất lượng không đồng đều, khả năng tiếp thu bài vủa các em còn hạn chế

Việc một số giáo viên tuổi đã lớn nên tiếp thu, đón nhận việc đổi mới còn chậm, ảnh hưởng tới hiệu quả tiết dạy

e.2 Một số thành công và hạn chế :

* Thành công:

+ Đối với giáo viên:

Trong quá trình dạy học biết nghiên cứu nội dung bài dạy, xác định mục tiêu dựa theo chuẩn kiến thức kĩ năng phù hợp với đối tượng học sinh Biết lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh Truyền đạt đầy đủ nội dung, kiến thức Thường xuyên chữa bài và nhận xét bài làm của học sinh Nhiệt tình, gần gũi với học sinh

+ Đối với học sinh: Trong tiết học các em tập trung chăm chú lắng nghe giáo viên giảng

bài, biết tự giác làm bài Ở lứa tuổi học sinh lớp hai, các em rất ham tìm tòi học hỏi Nội dung chương trình môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng rất phong

Trang 8

phú; kênh hình Sách giáo khoa được trình bày đẹp, hình ảnh rõ ràng phù hợp tâm sinh lí lứa tuổi các em nhằm giúp học sinh hứng thú trong học tập.

Tuy phân môn Tập làm văn lớp 2 rất mới mẻ nhưng các em đọc viết tốt ở lớp 1 đã tạo nền tảng kiến thức, kĩ năng về câu, đoạn Đây là cơ sở giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn lớp 2

* Hạn chế:

+Đối với giáo viên

Đối với từng bài, từng tiết giáo viên vẫn nghiên cứu chưa kỹ nên không hiểu hết ý đồ của sách giáo khoa, do đó trong tiết dạy giáo viên chưa biết vận dụng linh hoạt các phương pháp

và hình thức dạy học cho phù hợp theo từng dạng bài, từng nội dung kiến thức yêu cầu Trong quá trình giảng dạy, do khả năng của từng giáo viên hay do đặc điểm tình hình của lớp và do quá lạm dụng vào các tài liệu tham khảo, sách giáo viên nên khi giáo viên vận dụng vào tiết dạy đã có những điểm bất cập trong quá trình diễn ra tiết dạy như đưa ra các hoạt động dạy học chưa phù hợp, chưa cụ thể ảnh hưởng đến chất lượng tiết dạy

Điểm hạn chế lớn nhất của giáo viên là chưa sử dụng hợp lý một số hình thức dạy học để thể hiện rõ tiến trình của một tiết dạy phân môn Tập làm văn; các hình thức này soạn chưa

cụ thể (thể hiện trong bài soạn), giáo viên hết sức lúng túng khi vận dụng các hình thức tổ chức dạy học trong các hoạt động của tiết dạy như: hoạt động của thầy và trò chưa theo hướng tích cực; giáo viên làm việc nhiều chủ yếu là làm mẫu, giảng giải; chưa có sự dẫn dắt, gợi ý để HS tự tìm tòi kiến thức nội dung cần biết Việc tổ chức các hình thức chưa hợp

lý như có bài tập cần phải sử dụng hoạt động thảo luận nhóm thì giáo viên lại tổ chức làm việc chung cả lớp, có bài tập đề bài cần tổ chức cho học sinh hoạt động cá nhân thì giáo viên lại tổ chức trò chơi học tập (tập trung chủ yếu là đối tượng học sinh khá giỏi) Thời gian bố trí cho từng hoạt động chưa phù hợp, hệ thống câu hỏi, hình thức thực hành bài tập chưa đảm bảo yêu cầu và chưa phân loại đối tượng học sinh để bồi dưỡng học sinh khá giỏi

và giúp đỡ học sinh yếu kém trong tiết học

Trong việc rèn kĩ năng nói-viết cho học sinh, giáo viên có sự đầu tư nghiên cứu mục tiêu, nội dung các tiết dạy để lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, nhưng sự đầu tư chưa cao nên hiệu quả các tiết dạy phân môn Tập làm văn còn thấp

+ Đối với học sinh

Vốn từ của các em còn hạn chế Bên cạnh đó, trong tiết dạy các em còn rụt rè, chưa mạnh dạn luyện nói trước lớp, các em ít có cơ hội thực hành giao tiếp tiếng Việt

Do kĩ năng nói của các em còn hạn chế, vì thế dẫn đến kỹ năng viết của các em gặp nhiều khó khăn như viết chưa thành câu, dùng từ chưa hay, chưa chính xác; kỹ năng làm văn chưa đúng do xác định sai yêu cầu của bài tập, sử dụng dấu câu không đúng chỗ trong câu hay đoạn văn

Trang 9

e.3 Mặt mạnh - mặt yếu:

+ Mặt mạnh:

- Về giáo viên:

Để tránh được lúng túng khi dạy các tiết tập làm văn, tôi luôn nghiên cứu, soạn bài đầy

đủ trước khi lên lớp, chuẩn bị các câu từ hướng dẫn gợi ý, nhận xét học sinh, bổ sung câu trả lời của học sinh Thường xuyên nghiên cứu nội dung, các tài liệu liên quan nhằm lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng loại bài và đối tượng học sinh Dự đoán được những tình huống xảy ra khi dạy phân môn này và tìm cách giải quyết một cách linh hoạt và hợp lí Thường xuyên sử dụng các đồ dùng dạy học phù hợp với bài dạy, lưu những đoạn văn hay của lớp trước Thường xuyên dự giờ, đúc rút kinh nghiệm dạy học từ đồng nghiệp

GV có tác phong chững chạc, nhẹ nhàng, gần gũi với học sinh, luôn quan tâm đến mọi đối tượng học sinh

- Về học sinh: ngoan ngoãn, lắng nghe, tập trung trong học tập Biết làm theo yêu cầu của

Đối với từng bài, từng tiết dạy tuy giáo viên đã nghiên cứu kĩ bài soạn trước khi đến lớp, song vẫn không hiểu được ý đồ của sách giáo khoa Do đó, trong tiết dạy giáo viên chưa biết vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp theo từng dạng bài, từng nội dung kiến thức yêu cầu trong quá trình giảng dạy, do khả năng của từng giáo viên hoặc do đặc điểm từng đối tượng học sinh của lớp mình đang dạy mà đưa ra một số phương pháp, hình thức tổ chức dạy học không phù hợp, vì thế mà ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tiết dạy nói riêng và chất lượng môn học nói chung

Điểm yếu lớn nhất của giáo viên là chưa biết phối hợp các phương pháp truyền thống và phương pháp mới trong quá trình dạy học

e.4 Các nguyên nhân và các yếu tố tác động:

Trang 10

Trong tiết học các em ít được luyện nói đặc biệt là đối tượng học sinh học yếu, nhiều em còn rụt rè, chưa mạnh dạn trình bày ý kiến của mình trước lớp Vì thế, các em ít có cơ hội thực hành giao tiếp tiếng Việt, mở rộng thêm vốn từ tiếng Việt cho bản thân.

Kỹ năng viết của các em vẫn có nhiều tồn tại như viết chưa thành câu, dùng từ chưa hay, chưa chính xác; kỹ năng làm văn chưa đúng do xác định sai yêu cầu của bài tập và thể loại bài văn hoặc do khả năng vận dụng kiến thức đã học vào làm bài còn hạn chế, sử dụng dấu câu không đúng chỗ trong câu hay đoạn văn, một số em làm bài theo khuôn mẫu mà giáo viên đã hướng dẫn, không có sự sáng tạo

Vốn sống của các em chưa phong phú do các em ít có điều kiện giao tiếp Hơn nữa lại ở một vùng điều kiện xã hội chưa phong phú về môi trường tự nhiên và cảnh vật chưa đa dạng, các em không được tiếp xúc giao lưu, học hỏi mở rộng thêm kiến thức như những học sinh ở các trường thuộc thị trấn Bởi vậy, ngôn ngữ nói và viết của các em còn hạn chế cho nên các em không mạnh dạn tự tin vào bản thân mình khi đứng trước lớp trình bày một vấn

đề

*Về giáo viên:

GV sợ học sinh không hiểu hay chưa hiểu nên thường nói đi nói lại nhiều lần một vấn đề nào đó (mà thực ra HS đã hiểu ), cho nên thời gian dành cho việc hình thành kiến thức mới chiếm khá nhiều không đủ thời gian cho HS luyện tập thực hành

Tranh ảnh, đồ dùng phục vụ cho môn học Tập làm văn chưa đầy đủ

Một trong những điểm mới trong CT-SGK chương trình Tiếng Việt nói chung và tiếng Việt 2 nói riêng là quan điểm tích hợp

Giáo viên còn hạn chế về cách diễn đạt, liên kết câu, vì thế mà gặp nhiều khó khăn trong việc hướng dẫn mẫu cho học sinh

Trong giảng dạy Tiếng Việt nói chung và dạy phân môn Tập làm văn nói riêng, giáo viên chưa chú trọng rèn kĩ năng nói, viết cho học sinh

Hình thức tổ chức để rèn luyện kĩ năng làm bài cho học sinh chưa phong phú

Phần nhận xét bài viết của học sinh còn chung chung

Giáo viên chưa nắm vững tài liệu vùng miền, chuẩn kiến thức kĩ năng, tài liệu điều chỉnh nội dung của chương trình tiếng Việt 2, đặc điểm đối tượng của lớp mình đang dạy Chính

vì thế, việc lập kế hoạch cho bài dạy, vận dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học chưa phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình và đối với từng dạng bài tập

* Đối với phụ huynh học sinh:

Đa số bố mẹ của các em làm nghề nông nên ít có thời gian để quan tâm đến việc học tập của con cái, dẫn đến việc chuẩn bị bài và làm bài tập ở nhà của các em không chu đáo, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình làm bài của các em ở lớp

II.3 Các giải pháp, biện pháp:

a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.

Trang 11

- Ngay từ đầu năm, bản thân tôi xác định rõ làm thế nào để nâng cao chất lượng môn tiếng Việt nói chung và chất lượng môn Tập làm văn nói riêng

- Lựa chọn những giải pháp tối ưu giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn viết đoạn văn ngắn

- Từ những thực trạng nêu trên, bằng những kinh nghiệm vốn có của bản thân và tham khảo ý kiến kinh nghiệm của của đồng nghiệp, bản thân tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp, giải pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn như sau:

b Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp:

+ Đối với giáo viên:

- Đê tránh sự lúng túng trong diễn đạt, tôi luôn nghiên cứu nội dung bài giảng, chuẩn bị câu

từ cần sử dụng khi lên lớp

- Để tránh giáo viên làm việc nhiều, nói nhiều trong khi dạy tôi chuẩn bị chu đáo bài dạy trước khi lên lớp: Nghiên cứu bài dạy, xác định đúng mục tiêu bài dạy, lựa chọn các hình thức tổ chức phù hợp với phân môn, bài dạy và đối tượng học sinh lớp mình, dự đoán các tình huống có thể xảy ra trong tiết học để chủ động xử lí được tình huống một cách nhanh nhạy, khéo léo và có hiệu quả

- Luôn coi trọng ý kiến phát biểu của học sinh Vận dụng hợp lí các hình thức khen ngợi, nêu gương kịp thời nhằm khuyến khích HS mạnh dạn, chủ động, sáng tạo trong học tập

- Thường xuyên nhật xét chữa bài hàng ngày, nêu lên những ưu, khuyết điểm và hướng dẫn học sinh sửa chữa kịp thời những thiếu sót, những chỗ sai trong bài làm của mình

Điều đặc biệt chú trọng đối với tôi đó là nắm vững nội dung chương trình phân môn Tập làm văn lớp 2 để biết được các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình heo hướng tích hợp, đồng tâm Vận dụng tích hợp kiến thức giữa các phân môn Tiếng Việt để từ đó trang bị vốn kiến thức cơ bản cần thiết cho mỗi tiết dạy Khi dạy phân môn Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu có nội dung phù hợp với tiết Tập làm văn sắp học, tôi dặn dò hướng dẫn học sinh quan sát tìm hiểu kĩ đối tượng cần nối đến và ghi chép cụ thể các hoạt động ấy vào vở hoặc sổ tay; với những sự việc hoặc hoạt động các em không được chứng kiến hoặc tham gia Khuyến khích các em quan sát qua tranh ảnh, sách báo, kênh truyền hình…hoặc hỏi những người thân hay trao đổi với bạn

bè Khi được trang bị những kiến thức như thế, học sinh sẽ có ý tưởng độc lập, từ đó các em

có thể trình bày được đoạn văn hay, chân thực, sinh động, sáng tạo

- Thực hiện tốt việc áp dụng giảng dạy theo vùng miền và chuẩn kiến thức kĩ năng, điều

chỉnh nội dung chương trình theo sự hướng dẫn của BGD-ĐT và sự chỉ đạo của chuyên môn nhà trường

- Nội dung dạy học Tập làm văn lớp 2, tiếp tục rèn luyện cho học sinh 4 kĩ năng nghe - nói – đọc – viết nhằm phục vụ cho việc học tập và giao tiếp Nhưng đối với lớp 2D2 của tôi nhủ nhiệm, về cơ bản cả 4 kĩ năng trên đều cần coi trọng như nhau Tuy nhiên, mức độ và yêu

Ngày đăng: 29/03/2016, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w