TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- MÙI THỊ ÍM Tên đề tài: NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC H’MÔNG TẠI XÃ KHÂU TINH, HUYỆN NA HANG
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lí tài nguyên rừng
Khóa học : 2011- 2015
Thái Nguyên - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
MÙI THỊ ÍM
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC H’MÔNG TẠI XÃ KHÂU TINH, HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lí tài nguyên rừng Lớp : 43 - QLTNR
Giáo viên hướng dẫn : TS Đỗ Hoàng Chung
Thái Nguyên – 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Đỗ Hoàng Chung
Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung
thực và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào
Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin
được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí,…đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, 25 tháng 05 năm 2015
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng đánh giá chấm
(Ký, họ và tên)
Trang 4Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc H’Mông tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang"
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, bản báo cáo thực ập tốt nghiệp của em đã hoàn thành
Vậy em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và hướng dẫn chúng em
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Đỗ Hoàng
Chung đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin cảm ơn các ban ngành lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Rừng đặc dụng Na Hang – Tuyên Quang và ban lãnh đạo xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang cùng người dân trong xã Khâu Tinh - huyện Na Hang, đã tạo điều kiện giúp em trong quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
MÙI THỊ ÍM
Trang 5Bảng 4.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc H’Mông khai thác
và sử dụng làm thuốc tại xã Khâu Tinh 20 Bảng 4.2: Các bài thuốc được cộng đồng dân tộc H’Mông khai thác và sử
dụng tại xã Khâu Tinh 38 Bảng 4.3: Các loài thực vật được cộng đồng dân tộc H’Mông khai thác và sử dụng
làm thuốc quan trọng cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng 49 Bảng 4.4: Đặc điểm cơ bản về hình thái của một số loài cây thuốc cần được ưu tiên
bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng dân tộc H’Mông 52
Trang 6
Hình 3.1 Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có
thể dừng phỏng vấn khi số loài không tăng 16 Hình 4.1: Biểu đồ về bộ phận thu hái một số loài cây thuốc được cộng đồng
dân tộc H’Mông khai thác và sử dụng 37 Hình 4.2: Tỷ lệ về cách sử dụng của các lòai thực vật được cộng đồng dân tộc
H’Mông sử dụng làm thuốc 61
Trang 7UNESCO Tổ chức Di sản văn hóa thế giới
Trang 8Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và mục tiêu 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2 Mục tiêu 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 4
1.3.3 Yêu cầu 4
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở thực hiện đề tài 5
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 6
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 8
2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 12
2.3.1 Vị trí địa lý 12
2.3.2 Địa hình địa thế 12
2.3.3 Khí hậu- thuỷ văn 12
2.3.4 Địa chất , thổ nhưỡng 13
2.3.5 Tài nguyên rừng 13
2.3.6 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội 14
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 15
3.2 Thời gian nghiên cứu 15
3.3 Nội dung nghiên cứu 15
3.4 Phương pháp nghiên cứu 16
3.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản 16
3.4.2 Phương pháp chuyên gia 16
Trang 93.4.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật học 18
3.4.5 Phương pháp nội nghiệp 19
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
4.1 Các loài cây thuốc phát hiện được ở cộng đồng dân tộc H’Mông tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 20
4.2 Tri thức bản địa trong việc khai thác và sử dụng một số bài thuốc của cộng đồng dân tộc H’Mông tại xã Khâu Tinh 38
4.3 Các loài thực vật được cộng đồng dân tộc H’Mông khai thác và sử dụng làm thuốc quan trọng cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng 48
4.4 Đặc điểm cơ bản về hình thái của một số cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng dân tộc H’Mông 51
4.5 Tri thức bản địa về sử dụng một số loài thực vật được cộng đồng dân tộc H’Mông khai thác và sử dụng làm thuốc ở xã Khâu Tinh 61
4.6 Thuận lợi, khó khăn và các giải pháp trong việc bảo tồn và nhân rộng các loài cây thuốc, bài thuốc ở cộng đồng dân tộc H’Mông 62
4.6.1 Về khó khăn 62
4.6.2 Về thuận lợi 63
4.6.3 Một số giải pháp 64
Phần 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Tồn tại 66
5.3 Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến đây là nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dược học
Cho đến nay Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là khu vực Trường Sơn Thêm vào đó với những kinh nghiệm đã được tích lũy qua 4000 năm lịch sử, đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu cuộc sống từ ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh vv… của cộng đồng 54 dân tộc anh em Đó là một ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó có nguồn tài nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống
và sức khỏe của mọi người đặc biệt là các đồng bào Dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa nơi cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên trong đó có rừng
Theo các nhà phân loại thực vật ở Việt Nam giàu tài nguyên thực vật nhất Đông Nam Á, nơi có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao Trong đó có 3.948 loài được dùng làm thuốc (Viện dược liệu, 2004) [8] chiếm khoảng 37% số loài đã biết Đó chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 54 dân
Trang 11tộc thiểu số Việt Nam, cho đến nay chúng ta chỉ mới biết được có một phần Ngoài ra các nhà khoa học Nông Nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng trong đó cũng có 179 loài cây sử dụng làm thuốc Theo kết quả điều tra của viện dược liệu trong thời gian 2002 – 2005 số loài cây thuốc ở một số vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trường Sơn như sau: Đắc Lắc (751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (814 loài), Lâm Đồng (756 loài) Với hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc hết sức phong phú
và đa dạng
Sức khỏe lại là một phần quan trọng của con người, trong mỗi chúng ta không phải lúc nào cũng khỏe và ai cũng khỏe cả, mà nhiều lúc ốm đau, bệnh tật thì cần phải có thuốc để chữa bệnh nhằm ổn định và nâng cao cuộc sống hằng ngày Với các đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh khi mà nguồn thuốc Tây Y không phục vụ đến kịp thời Các bài thuốc Nam lại
là nguồn nguyên liệu sẵn có, đó là các loài cây xung quanh mình để sử dụng làm thuốc an toàn và có hiệu quả Chính vì thế mà các loài thuốc dân gian của các đồng bào dân tộc nói chung và của dân tộc H’Mông nói riêng thật sự cần thiết và hết sức quan trọng đôi khi được xem như là “sức mạnh vô hình” cứu sống tính mạng con người
Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị suy giảm nghiêm trọng, kéo theo đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả cây thuốc bản
địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện
và bảo tồn tiến đến sử dụng bền vững bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa
là một vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Đối với các cộng đồng dân tộc ở xã Khâu Tinh - huyện Na Hang - tỉnh Tuyên Quang, trong đó có dân tộc H’Mông họ có những bài thuốc, kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả trong việc chữa bệnh Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc H’Mông Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý
Trang 12của Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc H’Mông tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang"
1.2 Mục đích và mục tiêu
1.2.1 Mục đích
Tìm hiểu, đánh giá, hệ thống lại kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc H’Mông tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang liên quan đến việc nghiên cứu và bảo tồn tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ Từ đó, đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hệ thống kiến thức bản địa về khai thác, sử dụng cây thuốc của cộng
đồng dân tộc H’Mông một cách bền vững và hiệu quả
từ các loài cây hoặc các bộ phận của cây sử dụng an toàn và có hiệu quả
- Đề xuất được một số giải pháp để bảo tồn và phát triển những hệ thống kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc H’Mông ở xã Khâu Tinh
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế
- Tích lũy những kinh nghiệm cho công việc khi đi làm
- Nâng cao kiến thức thực tế
Trang 13- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Góp phần vào việc quản lí tài nguyên rừng bền vững
- Phát hiện, bảo tồn và phát triển tiềm năng của thực vật rừng được cộng
đồng dân tộc H’Mông khai thác và sử dụng làm thuốc
- Duy trì và phát huy hệ thống kiến thức bản địa về cây thuốc của cộng
đồng dân tộc H’Mông
1.3.3 Yêu cầu
- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực và chính xác
- Phát hiện tương đối đầy đủ về cây thuốc, bài thuốc được cộng đồng dân tộc H’Mông khai thác và sử dụng
- Đề xuất một số giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế phù hợp với điều kiện của địa phương
- Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi
ra trường
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở thực hiện đề tài
Tri thức bao gồm sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên xung quanh con người Hệ thống tri thức là sản phẩm trí tuệ của loài người
được tích lũy từ những kinh nghiệm của quá trình lao động sản xuất thực tiễn
trong cuộc sống hàng ngày Hệ thống tri thức này hình thành trong thời gian dài lịch sử, tồn tại và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội qua
sự trải nghiệm của nhân dân lao động
Vậy tri thức bản địa là gì? Theo định nghĩa chung cuả tổ chức Di sản văn hóa thế giới (UNESCO), tri thức bản địa là tri thức hoàn thiện được duy trì, tồn tại và phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên nó được truyền miệng từ đời này sang
đời khác và rất ít khi được ghi chép lại Tri thức bản địa là tri thức được tạo ra
bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong một vùng nhất định Tri thức bản địa là nguồn tài nguyên quốc gia giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển theo những phương sách ít tốn kém,
có sự tham gia của người dân và đạt được sự bền vững Các dự án phát triển dựa trên cơ sở tri thức bản địa sẽ lôi kéo được nhiều người dân tham gia, vì nó hợp với suy nghĩ của nhân dân, dân biết phải làm gì và làm như thế nào Đó chính là cơ sở của sự thành công Đặc điểm quan trọng của tri thức bản địa là luôn thích ứng với sự thay đổi của môi trường, các cộng đồng cư dân địa phương luôn có ý thức bản địa hóa những du nhập từ bên ngoài có lợi và thích hợp với cộng đồng
Trước đây người ta khái niệm lâm sản chủ yếu là gỗ, ít quan tâm đến các thành phần khác gỗ Ngày nay, trong các chiến lược phát triển bền vững của các dự án lâm nghiệp xã hội, nông lâm kết hợp người ta đã chú ý nhiều đến
Trang 15các lâm sản khác ngoài gỗ Và có khái niệm cơ bản về Lâm sản ngoài gỗ là bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được
từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ
ở tất cả các hình thái của nó Các loài cây thuốc đa phần là các sản phẩm Lâm
sản ngoài gỗ thuộc một phần của tài nguyên thực vật Tài nguyên thực vật là tổng hợp của sinh quyển trong một loạt các thảm thực vật Tài nguyên thực vật như là các nhà sản xuất chính, để duy trì chu kỳ dinh dưỡng sinh quyển và
cơ sở dòng năng lượng trên trái đất Tài nguyên thực vật giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người nói riêng và sinh vật nói chung Nhưng trong thời gian vừa qua tài nguyên này đã bị suy thoái nghiêm trọng do sự tác động tiêu cực của con người, chính vì vậy, gần đây Đảng và nhà nước ta đã có những chủ trương, đường lối mới như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật đất đai năm 2013, Luật đa dạng sinh học năm
2008, Nghị định 32 của Chính phủ năm 2010,…cùng với hàng loạt các văn bản khác đã ra đời nhằm bảo vệ và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lí Đây là một cơ sở pháp lí quan trọng để thực hiện thành công đề tài tri thức bản về khai thác và sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc H’Mông ở
xã Khâu Tinh
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn Lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc, nhiều nước đã có các đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng nhiều nguồn tài nguyên này để xuất khẩu làm dược liệu và thu được một nguồn tài chính khá lớn Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh Một nghiên cứu rất thành công của họ đã cho ra đời cuốn sách "Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc" vào năm 1968, do các nhà nghiên cứu Vân Nam - Trung Quốc thực
Trang 16hiện Cuốn sách này đã đề cập tới đặc điểm sinh thái, công dụng, kỹ thuật gây trồng, ché biến và bảo quản cây Thảo quả (Phan Văn Thắng, 2002) [11]
Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm
1955 cuốn bản thảo này được in ấn lại Nội dung cuốn sách đã đưa đến cho con người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Ngay từ những năm
1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1972 tác giả N.G Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khỏe của con người Qua cuốn sách
“Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại
cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn (Trần Thị Lan, 2005) [5] Đến năm 1992, J.H.de Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và của Lâm sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của Thảo quả đối với việc cải thiện đời sống cho người dân ở miền núi sống ở trong và gần rừng, thu hút họ tham gia vào việc quản lí và bảo vệ tài nguyên rừng bền vững, giúp họ có thể yên tâm sống chủ yếu vào nghề rừng
Theo ước tính của tổ chức Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2006) [10] Tiến sĩ James A.Dule – nhà dược lý học người Mỹ đã có nhiều đóng góp cho tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây
Trang 17thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các loại cây thuốc (Trần Thị Lan, 2005) [5]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, thích hợp cho
sự phát triển của thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng Một số vùng cao lại có khí hậu á nhiệt đới, phù hợp với việc trồng cây thuốc ưa khí hậu mát
mẻ Đặc biệt là nước ta có dãy núi Trường Sơn rộng lớn là nơi có rất nhiều cây thuốc phục vụ cho đồng bào nhân dân sống gần ở trong rừng mà họ sống
xa các trạm xá, bệnh viện thì việc cứu chữa tại chỗ là vô cùng cần thiết và cấp bách
Theo nguồn thông tin Viện Dược liệu (2004) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ, trong đó có cộng đồng dân tộc H’Mông ở
xã Khâu Tinh, Huyện Na Hang, Tỉnh Tuyên Quang Những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô [6] [8]
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả- huyên Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của cộng đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở đây Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên những kiến thức quý báu này chưa được phát huy và chưa có cách duy trì hiệu quả, chưa có tổ chức Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân
Trang 18sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào đó
họ còn đưa ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ, và các điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc Họ đã đánh giá được mức độ tác động của người dân
địa phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc [4]
Ở nước ta số loài cây thuốc được ghi nhận trong thời gian gần đây không
ngừng tăng lên, theo báo cáo kết quả điều tra nghiên cứu về dược liệu và tài nguyên cây thuốc (Viện dược liệu, 2003) [7]
- Năm 1952 toàn Đông Dương có 1.350 loài
- Năm 1986 Việt Nam đã biết có 1.863 loài
- Năm 1996 Việt Nam đã biết có 3.200 loài
- Năm 2000 Việt Nam đã biết có 3.800 loài
Trong công trình cây thuốc – nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như: diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa dạng các loài và di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức Y học cổ truyền và Y học dân gian gắn với sử
dụng bền vững và phát triển cây thuốc [1]
Theo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền (CREDEP) từ trước đến nay khá nhiều địa phương trong nước đã có truyền thống trồng cây thuốc và có nhiều nghiên cứu về cây thuốc, bài thuốc chữa các bệnh thường gặp hang ngày Trong 2 năm gần đây, Ngô Qúy Công (2005) đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại Họ chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách
đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm
Trang 19nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải pháp, đề xuất hợp lý để bảo tồn và phát triển [3]
Đỗ Hoàng Sơn và cộng sự (2008) đã tiến hành đánh giá thực trạng khai
thác, sử dụng vầ tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo
và vùng đệm Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật Người dân thuộc vùng đệm ở đây chủ yếu là cộng đồng dân tộc Sán Dìu
sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trong rừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên
cơ sở các nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên
Trang 20- Vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị thu hẹp: Do nạn phá rừng làm nương rẫy, nhất là việc mở rộng diện tích trồng Cà phê, Cao su ở các tỉnh phía Nam đã làm mất đi những vùng rừng rộng lớn vốn có nhiều cây thuốc mọc tự nhiên chưa kịp khai thác
- Hầu hết các cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù có vùng
phân bố rộng lớn, trữ lượng tự nhiên tới hàng ngàn tấn, như Vằng đắng, các
loài Bình vôi hoặc hàng trăm tấn như Hoằng đắng nhưng do khai thác quá mức, không chú ý bảo vệ tái sinh, dẫn đến tình trạng mất khả năng khai thác Một số loài thuộc nhóm này như Ba kích, Đẳng sâm…đã phải đưa vào Sách
đỏ Việt Nam (1996) và Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004)
nhằm khuyến cáo bảo vệ
- Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâm mọc tự nhiên, Hoàng liên, Lan một lá,…đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao (Nguyễn Văn Tập, 2006) [10]
Việt Nam là một nước có tài nguyên rừng rất đa dạng và phong phú nhưng vì ở trong những khu rừng hay gần rừng lại thường tập trung nhiều thành phần dân tộc sinh sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, kiến thức bản địa trong việc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng khác nhau Nên hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảm sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị suy giảm trong đó có
cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn sử dụng tài nguyên cây thuốc bản
địa là một việc rất cần thiết Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số, họ có
những bài thuốc kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng chữa bệnh lại hiệu quả rất cao Tuyên Quang cũng là một tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống đặc biệt là huyện Na Hang nơi có khá nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống trong rừng và gần rừng, trong đó có dân tộc H’Mông Chính vì vậy,
Trang 21đây là một nơi lý tưởng cho nghiên cứu kiến thức bản địa về khai thác và sử
dụng tài nguyên cây thuốc, các bài thuốc dân gian từ thiên nhiên cuả cộng
đồng dân tộc địa phương nơi đây
2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.3.1 Vị trí địa lý
Xã Khâu Tinh cách trung tâm huyện lỵ Na Hang 75km về phía Bắc, có tổng diện tích đất tự nhiên là 8.445,8 ha, có vị trí tiếp giáp với các đơn vị sau:
- Phía Bắc giáp các xã: Côn Lôn, Yên Hoa
- Phía Nam giáp với thị trấn Na Hang
- Phía Đông giáp các xã: Sơn Phú, Đà Vị
- Phía Tây giáp với xã Năng Khả
2.3.2 Địa hình địa thế
Địa hình xã Khâu Tinh chủ yếu là núi, núi cao nhất có độ cao 1200m, độ
cao trung bình khoảng 600m - 700m so với mực nước Biển Mang đặc điểm của vòng cung núi đá vôi Lô Gâm ở vùng Đông Bắc Việt Nam có địa hình dốc, các dãy núi đá vôi hiểm trở và các bãi phù xa xâm lấn trong thung lũng dọc theo con sông Năng, với các hệ thống hang động rộng khắp
2.3.3 Khí hậu- thuỷ văn
Khí hậu tại địa bàn xã Khâu Tinh được chia thành hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô, trong đó mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Nhiệt độ trung bình năm: 220-
240C; Nhiệt độ cao nhất: 350- 380C; Nhiệt độ thấp nhất: 40C, có năm nhiệt độ xuống tới 10C Hàng năm, vùng núi cao thường xuất hiện sương muối và băng giá, độ ẩm không khí trung bình là 85%
Xã Khâu Tinh có hai hệ thống sông chính là sông Năng và sông Gâm, có một hồ ngăn nước để phục vụ tưới tiêu cây nông nghiệp ngoài ra còn có hệ thống ao, đầm, khe suối nhỏ chảy từ các dãy núi cao
Trang 22Mạng lưới sông ngòi nhỏ khá dày song chế độ nước lại không đều giữa các mùa trong năm Khu bảo tồn có nhiệm vụ quan trọng về bảo vệ đầu nguồn của 2 con sông này, cùng các nhánh của chúng Sông Năng (hiện bị ngập lũ
do xây dựng đập thuỷ điện và tạo thành hồ) chia Khu bảo tồn thành 2 khu vực, còn sông Gâm phía trên đập trở thành hồ và tạo thành ranh giới phía Tây của Khu bảo tồn Các vùng ngập lũ của cả hai sông này tạo thành lũ cắt ngang vùng núi Pác Ta ở phía Tây bờ đập, dưới đập sông Gâm chảy về phía Nam và gặp sông Lô
2.3.4 Địa chất , thổ nhưỡng
Xã Khâu Tinh có 4 loại đá mẹ chính: Đá Granit, đá Phiến thạch sét, đá vôi,
đá Sa thạch Trong khu bảo tồn có những loại đất chủ yếu sau:
- Đất Feralit màu vàng nhạt trên núi thấp, tầng đất có nhiều mùn
- Đất Feralit màu đỏ vàng trên núi cao, tầng đất mỏng, có nhiều mùn
- Đất Feralit vàng đỏ trên sườn đồi và chân núi, tầng đất dày, có mùn
- Đất Feralit màu sẫm chân núi đá vôi
- Đất Feralit màu vàng nâu phát triển trên đá phiến thạch sét
2.3.5 Tài nguyên rừng
Theo tài liệu điều tra, thống kê của Cục Bảo vệ Môi trường, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật năm 2007, xã Khâu Tinh là một trong 4 xã thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang Về động vật: Thú có 87 loài thuộc 25 họ, 8
bộ, có 24 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; chim có 277 loài thuộc 45 họ,
13 bộ, có 19 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; bò sát, ếch nhái có 48 loài thuộc 17 họ, 3 bộ, có 11 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; côn trùng có
463 loài thuộc 50 họ, 11 bộ, có 3 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; động vật thủy sinh có 76 loài thuộc 14 họ, 5 bộ, có 5 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam Về thực vật có 844 loài thuộc 127 họ, có 7 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam
Trang 23Diện tích đất lâm nghiệp 7.270 ha, chiếm 86 % diện tích đất tự nhiên của toàn xã, trong đó diện tích đất có rừng 6.908,1 ha: Rừng đặc dụng 6.183,2 ha, rừng phòng hộ 582,9 ha, rừng sản xuất 142,0 ha; diện tích đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp 361,9 ha Độ che phủ của rừng đạt 82 %
2.3.6 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội
Xã Khâu Tinh có tổng dân số 1434 nhân khẩu, gồm 306 hộ gia đình, được phân chia thành 04 thôn, bản: Khâu Phiêng, Nà Tạng, Khau Tinh, Tát Kẻ Thành phần dân tộc trên địa bàn xã không phức tạp, có 3 dân tộc chính là Tày ưu thế chiếm 39% số hộ, H'mông chiếm 43 % số hộ, Dao chiếm 16 % số hộ, ngoài ra là dân tộc Kinh, Mường, Hoa chiếm 2%
Về tình hình kinh tế - xã hội tại các thôn, bản trong xã tốc độ phát triển tương đối chậm, cơ cấu nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao Đa phần là lao động nông nghiệp, thất nghiệp theo thời vụ lớn, mức thu nhập bình quân thấp Nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây dựa chủ yếu vào các hoạt động nông nghiệp (với Lúa và Ngô là các cây trồng chính)
Trang 24PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Chỉ nghiên cứu các loài thực vật
được cộng đồng dân tộc H’Mông sử dụng làm thuốc
- Địa điểm nghiên cứu: Tại cộng đồng dân tộc H’Mông sống ở xã Khâu Tinh 3.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8/2014 đến tháng 11/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
Từ mục đích và mục tiêu nghiên cứu đặt ra của đề tài có những nội dung
cơ bản sau:
- Xác định tên các bài thuốc, tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa học, họ thực vật và công dụng của các loài thực vật được cộng đồng dân tộc H’Mông sử dụng làm thuộc
- Mô tả cơ bản về đặc điểm hình thái và phân hạng một số loài cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng dân tộc H’Mông
- Xác định được một số loài cây thuốc, bài thuốc cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng dân tộc H’Mông
- Hệ thống lại kiến thức bản địa một số loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn về bảo quản sản phẩm: bộ phận thu hái, mùa vụ, kỹ thuật thu hái, biện pháp xử lý, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch
- Từ đó, đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hệ thống kiến thức bản địa của cộng đồng dân tộc H’Mông
Trang 253.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản
Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cùng các tài liệu có liên quan tớí các chuyên đề của các tác giả trong và ngoài nước tại khu vực nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp chuyên gia
Phân loại thực vật được giám định của các chuyên gia về thực vật tại các
cơ sở có uy tín (Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên)
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.3.1 Liệt kê tự do
Liệt kê tự do là kỹ thuật thường được áp dụng trong nghiên cứu xã hội
Áp dụng trong điều tra cây thuốc, liệt kê tự do cần được thực hiện qua hai giai
đoạn: liệt kê tự do và xác định cây thuốc
Liệt kê tự do: Là việc hỏi/ phỏng vấn một tập hợp người cung cấp tin (NCCT), đề nghị họ cho biết tên tất cả các cây được dùng làm thuốc
Phỏng vấn: Sử dụng một số câu hỏi để hỏi NCCT điều quan trọng nhất khi phỏng vấn là đề nghị NCCT liệt kê đầy đủ tên cây làm thuốc bằng tiếng dân tộc của mình
Hình 3.1 Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy
có thể dừng phỏng vấn khi số loài không tăng
Số tên cây thuốc
Số người cung cấp tin
Số người cần hỏi
Trang 26Xử lý dữ liệu: Dữ liệu điều tra được xử lý bằng tay hay bằng các phần
mềm máy tính, bao gồm: liệt kê tất cả các tên cây thuốc được NCCT nhắc
đến, đếm số lần tên cây thuốc n được nhắc đến và xếp danh mục các tên theo
thứ tự hợp lí
3.4.3.2 Xác định cây thuốc
Sau khi xử lý dữ liệu và loại bỏ tên đồng nghĩa, chúng ta có trong tay một danh mục tên các cây được cộng đồng sử dụng là thuốc Tuy nhiên đây chỉ là danh mục bằng tên địa phương, chưa rõ tên nào thuộc loài nào Do đó, cần thiết phải xác định tên phổ thông và tên khoa học của các cây mang tên
đó Để làm được việc này, cần thu thập mẫu tiêu bản của tất cả các tên cây
thuốc đã được nêu ra trong danh mục, xử lý và định tên
3.4.3.3 Điều tra theo tuyến với người cung cấp tin quan trọng
Đây là phương pháp thường được áp dụng trong điều tra tài nguyên thực
vật Dựa trên cơ sở kết quả của bước Liệt kê tự do, lựa chọn người cung cấp tin quan trọng và tiến hành xác định tên khoa học và vị trí phân loại của các loài cây thuốc trên thực địa Mục tiêu điều tra là xác định chính xác các loài cây đã được liệt kê tại bước liệt kê tự do Các bước thực hiện bao gồm:
+ Xác định tuyến điều tra tại cộng đồng dân tộc H’Mông, lấy trung tâm công đồng làm tâm và đi theo bốn hướng khác nhau Số lượng tuyến phụ thuộc vào thời gian và nhân lực sẵn có
+ Thu thập thông tin tại thực địa: đi theo tuyến và phỏng vấn NCCT đối với bất kỳ cây nào gặp trên đường đi hoặc dừng lại tại mỗi điểm có sự thay
đổi về thảm thực vật và phỏng vấn đối với tất cả các loài cây thuốc xuất hiện
trong khu vực đó
+ Xử lý thông tin: Thông tin thu thập được theo phương pháp này thường có tính chất định tính, bao gồm: Danh mục loài (tên địa phương, tên khoa học, bộ phận dùng, công dụng, )
3.4.3.4 Xác định các loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn
Trang 27Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài:
+ Độ hữu ích của loài đối với người dân địa phương: sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài không có tiềm năng được dùng ở địa phương: 0 điểm
- Loài sử dụng ít đối với người dân địa phương: 1 điểm
- Loài có tầm quan trọng đối với người dân địa phương: 2 điểm
+ Mức độ để xâm nhập (vị trí mọc của loài để bị tìm thấy để khai thác):
sử dụng thang 2 mức điểm
- Loài mọc ở nơi rất khó xâm nhập: 0 điểm
- Loài mọc ở nơi rất dễ xâm nhập: 1 điểm
+ Tính chuyên biệt về nơi sống (sự xuất hiện của loài thể hiện khả năng sống thích nghi của loài hạn hẹp hay phổ biến): sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài xuất hiện ở nhiều nơi sống khác nhau: 0 điểm
- Loài xuất hiện ở một số ít nơi sống: 1 điểm
- Loài có nơi sống hẹp: 2 điểm
+ Mức độ tác động đến sự sống của loài (sự tác động của người dân ảnh hưởng đến sự sống của loài): sử dụng thang mức 3 điểm
- Loài có ít nhất vài nơi sống của loài ổn định: 0 điểm
- Loài có nơi sống phần nào không ổn định hay bị đe dọa: 1 điểm
- Loài có nơi sống không chắc còn tồn tại: 2 điểm
3.4.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật học
- Thu mẫu: Các mẫu vật được thu thập theo kinh nghiệm sử dụng của người dân địa phương
- Ghi chép thông tin: được ghi chép ngay tại hiện trường, các thông tin
về thực vật cần có như: Dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả dùng máy ảnh chụp trực tiếp mẫu khi tìm thấy
- Xử lý mẫu: các mẫu được cắt tỉa cho phù hợp sau đó kẹp vào giữa hai
tờ báo (kích thước 45 x 30 cm) cố thể phơi nắng để hạn chế hỏng mẫu do mưa
ẩm để mang về Khi về mang đi phơi hoặc sấy khô
Trang 28- Định tên: Việc định tên được sử dụng theo phương pháp hình thái so
sánh Cơ sở để xác định là dựa vào các đặc điểm phân tích được từ mẫu vật, các thông tin ghi chép ngoài thực địa, từ đó so sánh với các khoá phân loại đã
có hay với các bản mô tả, hình ảnh
- Lập danh lục: Từ các mẫu tiêu bản đã có tên, tiến hành lập danh lục thực vật, Tên khoa học của các loài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”
3.4.5 Phương pháp nội nghiệp
Tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu, thống kê tất cả các loài cây thuốc lên danh lục thực vật và viết báo cáo Sử dụng phần mềm Microsoft Excel hoặc Microsoft Word để thống kê
Trang 29PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Các loài cây thuốc phát hiện được ở cộng đồng dân tộc H’Mông tại
xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Trên cơ sở nghiên cứu điều tra, thu thập và xử lí thông tin, chúng tôi đã thống kê được các loài thực vật được cộng đồng dân tộc H’Mông khai thác và
sử dụng làm thuốc Qua đó xác định theo tiếng địa phương và một số ít tên phổ thông, nhóm nghiên cứu đã cùng người dân đi rừng lấy mẫu, mô tả đặc
điểm hình thái, sinh thái một cách tương đối sau đó mang về làm tài liệu tra
cứu xác định tên phổ thông, tên khoa học, ngành và họ thực vật của từng loài cây thuốc Kết quả, chúng tôi đã xác định được 110 loài cây thuốc trong tổng
số 59 họ thuộc 2 ngành thực vật hạt kín và hạt trần là chủ yếu Dưới đây là
bảng 4.1 hệ thống chi tiết về kết quả trên:
Bảng 4.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc H’Mông
khai thác và sử dụng làm thuốc tại xã Khâu Tinh
Stt Tên phổ
thông
Tên địa phương
Tên khoa học
Bộ phận dùng Công dụng
I Ngành hạt trần
I.1 Podocarpaceae – Họ thông tre
1 Kim giao Muồng xiêm Nageia fleuryi Lá
Chữa ho ra máu
và sưng cuống phổi, dùng làm thuốc giải độc
II Ngành hạt kín
II.1 Amaranthaceae – Họ Rau dền
2 Cỏ xước Mía ghim Achyranthes Toàn Chữa viêm gan,
Trang 30Cụm hoa
và hạt
Cầm máu, chữa sốt,…
II.2 Annacardiaceae – Họ Xoài
lakonensis
Lá, vỏ, thân
Chữa ho, đau nhức, sưng đầu gối,…
II.3 Apiaceae- Họ Hoa tán
5 Rau má rừng Chéc trèn Hydrocotyle
nepalensis
Toàn cây Chữa thổ huyết,
tả lỵ, mụn nhọt, rôm sẩy…
II.4 Apocynaceae – Họ Trúc đào
6 Cây ba gạc Piết pua
khoái
Rauvolfia vervicillata
Toàn cây Chữa sốt, điều
kinh, kiết lỵ, tiêu chảy
II.5 Araceae – Họ Ráy
8 Khoai nưa Đòi queng Amorphophall
us paeoniifolius
10 Ráy Nhia hẩu Homalomena Thân, rễ Chữa mụn nhọt,
Trang 31tonkinensis ghẻ,… gây ngứa
cổ họng
II.6 Araliaceae – Họ Nhân sâm
ung thư
II.7 Asteliaceae – Họ Huyết dụ
13 Huyết dụ Quyền diên
ái
Cordyline var tricolor
Hoa, lá
và rễ
Trị chứng chảy máu cam, kiết lỵ chảy ra máu, ho
đau nhức xương
16 Cúc áo Lờ khém mia Spilanthes
paniculata
Cành mang lá
Chữa sâu răng, dùng làm thuốc
tê để nhổ răng
17 Cúc tần Cúc vèng Pluchea Cành, lá Trị cảm nóng,
Trang 32indica và rễ phong thấp tê
bại, đau mắt
balsamifera
Lá, cành non, rễ
24 Sài đất Nhọng căn
đau miềng
Wedelia chinensis
Toàn cây Tiêu độc, chữa
viên tấy ngoài
Trang 33II.10 Bignoniaceae - Họ Chùm ớt
26 Núc nác Đèng pang
piêu
Oroxylum indicum
Vỏ và hạt Trị viêm họng
cấp và mãn tính, viêm gan vàng da…
II.11 Campanulaceae - Họ Hoa chuông
javanica
Rễ, lá Chữa đau lưng,
nhức mỏi, đầy bụng, tức ngực, kiết lỵ, tiêu chảy
II.12 Caprifooliaceae - Họ Cơm cháy
28 Kim ngân Nang dum
mia
Lonicera bournei
Hoa sắp
nở, cành nhỏ và lá
Trị mụn nhọt, ban sởi, chữa ho
II.13 Caryophyllaceae – Họ Cẩm chướng
29 Rau đắng Lều là Myosoton
aquaticum
Toàn cây Chữa sỏi thận,
rắn cắn, lợi tiểu, vàng da
II.14 Cucurbitaceae - Họ Bầu Bí
30 Gấc Pờ luồng piêu Momordica
Trang 34II.15 Cusaitaceae – Họ Tơ hồng
chinensis
Dây hoặc hạt
Chữa mụn nhọt, tiểu tiện không thông, hen, viêm sỏi thận…
II.16 Crassulaceae - Họ Thuốc bỏng
33 Thuốc bỏng Pẩu phí mia Kalanchoe
pinnata
Toàn cây Trị mụn,trị bỏng,
viêm họng, phù thận,…
II.17 Costaceae – Họ Mía dò
34 Mía dò Đìa thui Costus
38 Nhót nhà Mắc nót Elaeagnus Rễ và vỏ Chữa hen suyễn,
Trang 35latifolia lá thổ huyết, viêm
khí quản mãn tính
II.20 Erythropalum - Họ dây hương
39
Bò khai Long châu
sói
Erythropalum scandens
Lá, ngọn non
Chữa viêm thận, viêm gan, viêm
đường tiết liệu,
tiểu tiện không thông
II.21 Euphorbiaceae - Họ Thầu dầu
Chữa rắn cắn, phù thận, phù suy tim
fruticosa
Lá, vỏ cây
Chữa rắn cắn, giun chỉ, cầm máu,…
đéng
Euphorbia arenarioides
Toàn cây Chưa lỵ, viêm
da mẩn ngứa, viêm loét, ho hen
43 Chó đẻ răng
cưa
Lèng dúng mia
Phyllanthus amarus
Cả cây Lợi tiểu, bảo vệ
gan, chữa ỉa chảy, viêm ruột
44 Thầu dầu Pà mà mia Ricinus
Trang 36II.22 Fabaceae - Họ Đậu
noom
Dendrololium lanceolatum
Toàn cây Thanh nhiệt,
giải độc, tiêu viêm
phù thận, viêm
da thần kinh, hắc lào
48 Móng bò tía Đù điềng
mong
Bauhinia purpurea
Cả cây Trị kiết lị, tiêu
Belamcanda chinensis
Thân, rễ Chữa quai bị,
viêm họng cấp tính, viêm khí quản mãn tính…
II.24 Laauceae - Họ Long não
loureirii
Vỏ, thân, cành và quả
Chữa đau bụng,
đau thắt lưng, trị
vẩy nến,mề đay
Trang 37II.25 Lamiaceace - Họ Hoa môi
52 Tía tô rừng Mía đảng sa Hyptis
II.26 Leeaceae - Họ Gối hạc
53 Gối hạc Cây mũn Leea rubra Rễ Chữa tê thấp,
sp Cả cây Khỏe gân cốt,
giảm đau nhức các khớp xương,
II.28 Malvaceae - Họ Bông
pèng
Hibiscusrosa sinesis
Lá, hoa,
vỏ rễ
Chữa mụn nhọt, kiết lị, quai bị, viêm tuyến mang tai
57 Ké hoa đào Còn chiêu Urena lobata Rễ hoặc
toàn cây
Chữa lị, rắn độc cắn,…
Trang 38II.29 Marantaceae - Họ Hoàng tinh
58 Lá dong Nòm hẹp Phrynium
placentarium
độc
II.30 Melastomataceae - Họ mua
normale
Toàn cây Chữa vàng da,
băng huyết, tụ máu bầm tím, ung thư dạ dày
II.31 Meliaceae - Họ Xoan
Thân hoặc rễ
Chữa viêm ruột, viêm gan, đau mắt,…
64 Dây tiết dê Trần mao
huây
Cissampelis varhirsuta
Lá và rễ Chữa táo bón,
kiết lị, đái dắt,…
II.33 Mimosaceae - Họ Trinh nữ
varunijuga
Rễ và cành lá
Chữa đau nhức xương, viêm dạ
Trang 39dày mạn tính, viêm khí quản, zona
II.34 Moraceae - Họ Dâu tằm
66 Dâu tằm Xa poong Morus alba Vỏ rễ, lá,
cành, quả
Chữa lao hạch, táo bón, phổi nóng, táo bón,…
II.35 Musaceae - Họ Chuối
coccinea
thanh nhiệt, giải
độc, chữa bệnh
trầm cảm, thiếu máu,…
II.36 Myristicaceae – Họ Máu chó
globularia
II.37 Myrsinaceae - Họ Đơn nem
69 Khôi Dạ dầy mia Ardisia
Cả cây Chữa đau răng,
đau tai, băng
huyết, đái ra máu,…
II.38 Myrtacea – Họ Sim
Trang 40ruột ỉa chảy
guajava
Lá, quả xanh
Trị tiêu chảy, mụn nhọt, bầm tím, giản đau răng
II.39 Orchidaceae – Họ Lan
73 Lan kim tuyến Lá gấm Anoectochilu
scalcareus
Cả cây Bổ máu, chữa
trị nóng phổi và nóng gan
II.40 Oxalidaceae - Họ Chua me đất
74 Khế chua Mắc pường
sia
Averrhoa carambola
Lá, hoa, quả, hạt
Chữa dị ứng, mẩn ngứa, nhức
Cả cây Chữa viêm cầu
thận cấp và mãn tính, sỏi niệu
II.43 Poaceae - Họ Lúa
77 Cỏ may Mia pa hẩu Chryssopogon
aciculatus
Toàn cây Chữa da vàng,
mắt vàng, trị giun
78 Cỏ mần trầu Piềng Eleusine
indica
Toàn cây Chữa cao huyết
áp, lao phổi, mụn nhọt,…