TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LẠI THỊ HẢI YẾN NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN CÂY GIA VỊ CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN ĐỊA PHƯƠNG TẠI XÃ KHÂU TINH, HUYỆN NA HANG, TỈNH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LẠI THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN CÂY GIA VỊ CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN ĐỊA PHƯƠNG TẠI
XÃ KHÂU TINH, HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LẠI THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN CÂY GIA VỊ CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN ĐỊA PHƯƠNG TẠI
XÃ KHÂU TINH, HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : TS Đàm Văn Vinh
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
khoa học của TS Đàm Văn Vinh
Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung thực và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào
Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí,… đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày… tháng… năm 2015
(Ký, ghi rõ họ và tên) (Ký, ghi rõ họ và tên)
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
(Ký, ghi rõ họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để đánh giá quá trình học tập, cũng như chương trình đào tạo tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, được sự nhất trí của Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Lâm nghiệp, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài khóa luận: “Nghiên cứu tri thức
bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây gia vị của các cộng đồng dân địa phương tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang”
Sau một thời gian làm việc khẩn trương và nghiêm túc đến nay khóa luận tốt nghiệp đã hoàn thành Để có được kết quả này, ngoài sự cố gắng của
bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo TS Đàm Văn Vinh, cùng các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đàm Văn Vinh, người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài, cùng các thầy cô giáo, cán
bộ Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, UBND xã Khâu Tinh - huyện Na Hang - tỉnh Tuyên Quang, gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện và sự giúp đỡ nhiệt tình, quý báu
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức và thời gian có hạn nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Lại Thị Hải Yến
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp chia theo 3 loại rừng 15
Bảng 2.2 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp chia theo chủ quản lý 15
Bảng 4.1 Mức độ phổ biến của các loài cây gia vị được nhắc đến tại
xã Khâu Tinh 22
Bảng 4.2 Danh mục các loài thực vật được sử dụng làm gia vị tại
xã Khâu Tinh 23
Bảng 4.3 Một số đặc điểm môi trường sống của các loài thực vật được sử dụng làm gia vị tại xã Khâu Tinh 32
Bảng 4.4 Tri thức bản địa về khai thác và sử dụng các loài thực vật làm
gia vị tại xã Khâu Tinh 35
Bảng 4.5 Phân hạng cây gia vị theo mức độ đe dọa của loài
tại xã Khâu Tinh - huyện Na Hang - tỉnh Tuyên Quang 43
Bảng 4.6 Mức độ đáp ứng nhu cầu cộng đồng của các loài cây gia vị 44
Bảng 4.7 Những cây gia vị có giá trị thương mại tại xã Khâu Tinh -
huyện Na Hang - tỉnh Tuyên Quang 46
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Gừng đá 25
Hình 4.2 Sấu 26
Hình 4.3 Mác mật 26
Hình 4.4 Dây dang 27
Hình 4.5 Sâm đại hành 27
Hình 4.6 Cây Màng tang 28
Hình 4.7 Cây Hẹ rừng 28
Hình 4.8 Cây Núc nác 29
Hình 4.9 Hạt Giổi 29
Hình 4.10 Mác tộc 30
Hình 4.11 Cò cau 30
Hình 4.12 Dây Mơ lông 31
Hình 4.13 Phắc láp 31
Hình 4.14 Tỷ lệ dạng sống của các loài thực vật làm gia vị
tại xã Khâu Tinh 34
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu 4
2.1.1 Một số khái niệm về tri thức bản địa 4
2.1.2 Một số khái niệm về lâm sản ngoài gỗ 6
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 7
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 11
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 12
2.3.1 Vị trí địa lý 12
2.3.2 Địa hình địa thế 13
2.3.3 Khí hậu - thuỷ văn 13
2.3.4 Địa chất, thổ nhưỡng 14
2.3.5 Tài nguyên rừng 14
Trang 92.3.6 Hiện trạng rừng và sử dụng đất 14
2.3.7 Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội 16
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 17
3.3 Nội dung nghiên cứu 17
3.4 Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản 17
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 18
3.4.2.1 Phương pháp liệt kê tự do 18
3.4.2.2 Xác định các loài cây gia vị cần ưu tiên bảo tồn 18
3.4.3 Phương pháp nội nghiệp 20
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Các loài cây gia vị được sử dụng tại các cộng đồng dân tộc
xã Khâu Tinh 21
4.1.1 Mức độ phổ biến của các loài thực vật dùng làm gia vị 21
4.1.2 Những loài cây gia vị được sử dụng trong các cộng đồng dân tộc tại khu vực nghiên cứu 23
4.1.3 Một số đặc điểm môi trường sống của các loài cây được sử dụng làm gia vị 32
4.2 Tri thức bản địa trong việc khai thác và sử dụng các loài cây gia vị 35
4.3 Đánh giá mức độ khai thác, sử dụng và mức độ nguy cấp của các loài cây gia vị 42
4.4 Một số giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững những loài thực vật được dùng làm gia vị tại xã Khâu Tinh 45
Trang 104.4.1 Những loài cây gia vị có giá trị thương mại có khả năng cần phải mở
rộng, phát triển 45
4.4.2 Một số giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững những loài thực vật dùng làm gia vị tại xã Khâu Tinh 47
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng Việt
II Tài liệu nước ngoài
III Tài liệu từ Internet
PHỤ LỤC
Trang 11Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, cung cấp lương thực thực phẩm, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo
an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một nhóm tài nguyên quan trọng của Việt Nam Trước đây LSNG thường được coi như nguồn lâm sản thứ yếu, lâm sản phụ của rừng, nó gần như được coi là nguồn lâm sản mở cung cấp lương thực, thực phẩm, tinh dầu, nhựa dính, tananh, dược liệu Hiện nay, vai trò của LSNG đã được chính phủ và ngành lâm nghiệp Việt Nam đánh giá đúng mức Ngoài giá trị to lớn về kinh tế LSNG còn có giá trị quan trọng về mặt xã hội, sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường, nhất là với các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa
Trong quá trình phát triển, loài người đã biết sử dụng những sản phẩm của rừng mà đặc biệt là thực vật rừng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Sự tích luỹ kinh nghiệm khiến cho con người hiểu rõ hơn về tác dụng của các loài thực vật rừng, từ đó chọn lọc và sử dụng chúng trong các hoạt động đời sống Tuỳ từng đất nước, dân tộc, cộng đồng mà các loài cây, các bộ phận của cây được sử dụng theo những mục đích khác nhau, tác dụng khác nhau
Các loài thực vật dễ dàng được thu hái trong rừng, không tốn nhiều công sức để tìm kiếm và do chưa ý thức được hết về giá trị của các loài LSNG, sự tái sinh tự nhiên, sự bảo tồn đa dạng sinh học mà người dân đã khai
Trang 12thác bừa bãi, tận thu, không đảm bảo tái sinh, dần làm mất đi nhiều loài thực vật quý
Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng
và ẩm, với nhiều dân tộc anh em cùng chung sống đặc biệt là các dân tộc ở vùng núi Trải qua nhiều thế hệ gắn bó với tự nhiên, mỗi dân tộc đã hình thành cho mình một kho tàng kiến thức riêng, đặc sắc và phong phú về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống
Đặc biệt phải kể đến là ẩm thực dân tộc nó tạo nên sự độc đáo, bản sắc
và một nét văn hóa riêng cho từng vùng miền, từng dân tộc, trong đó gia vị là thứ quyết định làm nên sự khác biệt đó Tuy nhiên, hầu hết chúng chỉ được lưu truyền trong nội bộ các cộng đồng riêng lẻ Trong số đó có rất nhiều tri thức kinh nghiệm có thể sử dụng để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân Theo quá trình phát triển của đất nước sự tích luỹ về kiến thức, kinh nghiệm quý báu này đang dần bị mai một và lãng quên
Khâu Tinh là một xã khó khăn của huyện Na Hang - tỉnh Tuyên Quang,
là một trong bốn xã nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang Người dân chủ yếu là dân tộc H’mông, Dao và Tày sinh sống với tập quán du canh, địa hình đồi dốc khó dẫn nước cho nông nghiệp, lúa chỉ cấy được một vụ không
đủ cho nhu cầu về lương thực nên người dân vẫn thường xuyên phá rừng làm nương rẫy Ở đây vẫn còn hệ sinh thái rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh trên núi đá vôi, núi đá và núi đất Dẫn đến nguồn tài nguyên rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng, kéo theo đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả cây làm gia vị có giá trị cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến sử dụng bền vững tài nguyên cây gia vị là một vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và giáo
viên hướng dẫn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu tri thức bản địa
về khai thác và sử dụng tài nguyên cây gia vị của các cộng đồng dân địa phương tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang”
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:
- Phát hiện được từ cộng đồng các loài thực vật được khai thác, sử dụng làm gia vị
- Xác định được kinh nghiệm của đồng bào dân tộc trong việc khai thác
và sử dụng các loài cây làm gia vị
- Lựa chọn được các loài cây gia vị có giá trị kinh tế, quan trọng để phát triển nhân rộng và bảo tồn trên cơ sở lựa chọn có sự tham gia của người dân
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác bền vững các loài thực vật được người dân sử dụng làm gia vị
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, củng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân
Đây là điều kiện tốt để sinh viên tiếp xúc và học hỏi kiến thức, kinh nghiệm ngoài thực tế, giúp sinh viên có một phương pháp làm việc khoa học gắn liền với thực tiễn sản xuất
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài góp phần nghiên cứu và đánh giá về hiện trạng khai thác, sử dụng các loài thực vật lâm sản ngoài gỗ để làm gia vị, nắm bắt được các loài thực vật có giá trị kinh tế, đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tri thức bản địa
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay vấn đề đặt ra để phát triển bền vững luôn cần phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa tri thức bản địa của cộng đồng và tri thức khoa học Tri thức bản địa đã và đang góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống cộng đồng, do đó cần thiết phải nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị tri thức bản địa Hiện nay, trong nước và trên thế giới đã và đang sử dụng các loài thực vật rừng làm gia vị Các loài cây được thu hái và sử dụng dựa trên cơ sở từ những kinh nghiệm kiến thức tích lũy qua nhiều thế hệ, cho đến ngày nay những kiến thức này đang có nguy cơ mai một
Do đó gìn giữ vốn kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong việc sử dụng các loài
thực vật rừng làm gia vị là việc hết sức cần thiết
Gia vị, theo định nghĩa của các nhà khoa học và sinh học, là những loại thực phẩm, rau thơm (thường có tinh dầu) hoặc các hợp chất hóa học cho thêm vào món ăn, có thể tạo những kích thích tích cực nhất định lên cơ quan vị giác, khứu giác và thị giác đối với người ẩm thực Gia vị làm cho thức
ăn có cảm giác ngon hơn, kích thích hệ thống tiêu hóa của người ăn khiến thực phẩm dễ tiêu hóa, đồng thời có thể chế hóa theo những nguyên lý tương sinh, âm dương phối triển đối với các loại thực phẩm đặc biệt
2.1.1 Một số khái niệm về tri thức bản địa
Khái niệm tri thức bản địa được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn hay theo các mục đích sử dụng Mặc
dù sử dụng các tên gọi khác nhau nhưng đối tượng tri thức bản địa được nghiên cứu luôn là một hệ thống các tri thức đặc hữu của cộng đồng người địa phương, liên quan đến cách thức cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh
Trang 15Theo định nghĩa chung của tổ chức UNESCO, thuật ngữ tri thức bản địa (Indigenous Knowledge) hay tri thức địa phương (Local Knowledge) dùng để chỉ những thành phần tri thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên Đó là một phần của tổng hoà văn hoá, tập hợp những hiểu biết tri thức bao gồm hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các hoạt động sản xuất, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan Những tri thức này là cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như săn bắn, hái lượm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lương thực, nước, sức khoẻ và
sự thích nghi với những thay đổi của môi trường và xã hội Hơn nữa, trái với kiến thức chính thống, những kiến thức không chính thống được truyền miệng
từ đời này sang đời khác và rất hiếm khi được ghi chép lại
Tri thức bản địa là hệ thống thông tin làm cơ sở của một hệ thống xã hội, được làm thuận tiện trong sự truyền đạt thông tin và ra quyết định Hệ thống thông tin bản địa là động lực và sự tác động liên tục bởi sự sáng tạo từ nội lực, sự thực nghiệm, cũng như sự giao diện với hệ thống bên ngoài (Theo
Flavier và ctv 1995) [17]
Theo Johnson, 1992, tri thức bản địa là nhóm tri thức được tạo ra bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẻ với thiên nhiên trong một vùng nhất định Nói một cách khái quát, tri thức bản địa là những tri thức được rút ra từ môi trường địa phương, vì vậy nó gắn liền với nhu cầu của con người và điều kiện địa phương (Theo Langil và Landon, 1998) [16] Ngày nay, tri thức bản địa được xem như là một trong những vấn đề then chốt trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững và sự cân bằng trong phát triển (Theo Brokensha và ctv., 1980; Compton, 1989; Gupta, 1992; Niamir, 1990; Warren, 1991a) [17]
Trang 16Các khái niệm về tri thức bản địa (local indigenous knowledge) hàm ý không chỉ là phần cứng hay ảnh hưởng và ứng dụng của kỹ thuật như chăm sóc sức khỏe gia súc, mà còn có phần mềm, đó là các hệ thống quản lý gia súc
và cấu trúc xã hội, cấu trúc nhóm đã tạo nên chúng (Theo Mathias-Mundy và McCorkle, 1992) [17]
2.1.2 Một số khái niệm về lâm sản ngoài gỗ
Trên thế giới có rất nhiều khái niệm về LSNG:
Theo W.W.F - trong tài liệu (The Economic value of Non timber
Rorest products in Southeats asia 1998): “Sản phẩm ngoài gỗ bao hàm tất cả
các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục
đích của con người Bao gồm các loại thực phẩm, dược liệu, hương liệu, tinh
dầu, nhựa cây, keo dính, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộn, cây cảnh, động vật hoang dã, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi” (Dẫn theo
Nguyễn Thị Thoa, 2012) [9]
Trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nước vùng Châu Á, Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5-8/11/1991 đã thông qua
định nghĩa về LSNG như sau: Lâm sản ngoài gỗ (Non - wood forest products)
bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ (Dẫn
theo Nguyễn Thị Thoa, 2012) [9]
Gần đây, J.H.De Beer (1996), tác giả của nhiều tài liệu LSNG, trong đó
có tài liệu “Phân tích ngành lâm sản ngoài gỗ Việt Nam”, tháng 7/2000 là một
ấn phẩm của dự án “Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ”, đã đưa ra định nghĩa
về lâm sản ngoài gỗ như sau: Lâm sản ngoài gỗ (Non - wood forest products)
bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực vật, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động
Trang 17vật sống hay các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre nứa, mây song, gỗ nhỏ và sợi (Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2012) [9]
Hội nghị do FAO (Tổ chức Lương nông thế giới) tổ chức vào tháng
6/1999 đã đưa ra định nghĩa về LSNG như sau: Lâm sản ngoài gỗ bao gồm
những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ được khai thác từ rừng, đất
có rừng và các cây thân gỗ (Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2012) [9]
Ở Việt Nam, theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2003): “Lâm sản
ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó” (Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa,
2012) [9]
“Nhiều loài cây rừng cho các sản phẩm tự nhiên ngoài gỗ đó là cây
cho đặc sản Các sản phẩm tự nhiên đó có thể được sử dụng trực tiếp như một
số loài cây cho thuốc, cây cho quả hoặc làm thức ăn gia súc nhưng phần lớn phải qua gia công chế biến như cây nguyên liệu, giấy sợi, cây cho cao su, cho dầu” (Theo Lê Mộng Chân, 1993) [1]
Theo Trần Ngọc Hải (2000): Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật
liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng
tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao su, tanin, màu nhuộm, chất báo, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi (Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2012 )[9]
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Lịch sử của các loài cây hương liệu và gia vị dài như chính lịch sử của nhân loại Người ta đã sử dụng các loại thực vật để làm hương liệu và gia vị từ rất sớm Không có mặt hàng nào có thể so sánh với vai trò của hương liệu và gia
Trang 18vị trong sự phát triển của nền văn minh hiện đại Cuộc sống của người dân và các loài cây này ngày càng gắn bó và chi phối lẫn nhau Theo quá trình lịch sử
và kinh tế, vị thế của cây hương liệu và gia vị không ngừng được nâng lên, chúng là những thành phần thiết yếu của các sản phẩm như: thuốc men, nước hoa, mỹ phẩm, thực phẩm Các kiến thức về các loại cây này được lưu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác trong hàng ngàn năm (Theo Brown D, 1995) [10]
Đã từng có những cuộc chiến tranh xảy ra để chinh phục những vùng đất có các loại cây hương liệu và gia vị vì những lợi ích chúng mang lại Cho đến tận ngày nay, chúng ta vẫn tiếp tục dựa vào các loại cây này để sản xuất những loại thuốc, hóa chất, hương vị mới và các sản phẩm này được sử dụng trong thức ăn, nước hoa, mĩ phẩm Nhiều dược liệu cũng là cây thực phẩm, dầu và chất xơ đã luôn luôn được phát triển cho hàng loạt các mục đích khác nhau (Theo Parry, 1969; Rosengarten, 1973; Andi et al., 1997) [15]
Người dân trên khắp thế giới đã chọn và khai thác các loại cây hương liệu và gia vị trong tự nhiên từ thời cổ đại Những kiến thức về nơi chúng phát triển và thời gian tốt nhất để thu thập chúng đã hình thành một truyền thống truyền miệng quan trọng giữa những người sản xuất của nhiều quốc gia khác nhau trong nhiều nền văn hóa khác nhau Những truyền thống cổ xưa đã cân bằng thành công giữa cung và cầu, cho phép thực vật có thể tái sinh và tái sản xuất để khai thác theo mùa Ngày nay, do sức ép thương mại mạnh mẽ của ngành công nghiệp thực phẩm và dược phẩm, sự cân bằng đã bị phá vỡ bởi việc thu thập không được kiểm soát, dẫn đến xói mòn di truyền nghiêm trọng
Một số loài thường được sử dụng như ớt (Capsicum annuum) và Húng quế (Ocimum basilicum) có một lịch sử sử dụng và canh tác rất lâu dài, nhưng
những loài này thực sự hoang dã trong tự nhiên đã không bao giờ được ghi
nhận Chúng có lẽ đã tuyệt chủng vì lạm thu (Theo K.V.Peter, 2004) [12]
Trang 19Gia vị đóng một vai trò quan trọng trong tất cả các nền văn minh cổ đại tiêu biểu như Trung Quốc - ấn Độ, Hy Lạp - La Mã, Babylon - Ai Cập, và từ lâu chúng đã được đánh giá là có khả năng chống lại bệnh tật Điều này được xác thực trong thời đại kim tự tháp ở Ai Cập Trong giai đoạn này, hành tây
và tỏi được cho người lao động ăn để bảo vệ sức khỏe và quế của họ đã được
sử dụng để ướp người chết Sử dụng thuốc là các loại gia vị được đề cập trong
“Charaka Samhita and Sushruta Samhita” Ban đầu con người sử dụng các loại gia vị trong thực phẩm là để bảo quản thịt, do đặc tính kháng khuẩn của chúng Với sự ra đời của điện lạnh, nhu cầu đối với các loại gia vị như một chất bảo quản trong thế giới phương Tây giảm Tuy nhiên, theo thời gian, các loại gia vị đã trở thành không thể thiếu trong nghệ thuật ẩm thực để tăng cường hương vị và khẩu vị của các loại thực phẩm và đồ uống, vì vậy việc sử dụng chúng không ngừng ở phương Tây Với sự phát triển của các quy trình tách, chiết xuất gia vị, gia vị đã được sử dụng rộng rãi hơn trong nước hoa,
mỹ phẩm và các ngành công nghiệp dược phẩm Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, nhằm đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng với các loại phụ gia hóa học, gia vị trở nên ngày càng quan trọng hơn vì nguồn gốc tự nhiên, hương vị, chất kháng khuẩn và chất chống oxy hóa Cũng có một sự tăng trưởng mạnh trong việc sử dụng các sản phẩm thực vật tự nhiên và thảo dược trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, các loại gia vị như nghệ, nghệ tây, rau mùi, húng quế,
cỏ cà ri,… đã trở nên quan trọng hơn trong lĩnh vực này Trong ngành công nghiệp dinh dưỡng mới nổi, các loại hương liệu và gia vị có thể đóng một vai trò quan trọng, vì có thế ứng dụng, sử dụng điều trị đã được khoa học chứng minh và xác nhận, các đánh giá an toàn cần thiết đã được thực hiện (Theo K.V.Peter, 2012) [13]
Các loại gia vị và hương liệu được sử dụng trong ẩm thực để tạo ra hương vị, vị cay và màu sắc Chúng cũng có chất chống oxy hóa, kháng
Trang 20khuẩn, dược phẩm và tính chất dinh dưỡng Ngoài những tác động trực tiếp được biết đến, việc sử dụng những cây này cũng có thể dẫn đến tác các dụng phụ phức tạp như giảm muối và đường, cải thiện kết cấu và phòng ngừa hư hỏng đối với thực phẩm Chúng được sử dụng để làm bánh kẹo hợp khẩu vị hơn và ngon miệng hơn Một số gia vị như nghệ và ớt bột, được sử dụng nhiều hơn cho việc truyền đạt một màu sắc hấp dẫn hơn để tăng cường hương
vị Vì chất chống oxy hóa và tính kháng khuẩn, nên các loại gia vị có chức năng kép, ngoài truyền đạt mùi vị và hương vị, chúng còn đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo quản thực phẩm bằng cách trì hoãn sự hư hỏng của thực phẩm Nhiều loại cây hương liệu và gia vị đã được sử dụng trong mỹ phẩm, nước hoa và chăm sóc vẻ đẹp cơ thể từ thời cổ đại Các ngành công nghiệp sử dụng các loại dầu thơm của những loài cây này để sản xuất xà phòng, kem đánh răng, sữa rửa mặt, dầu gội đầu… Ngoài ra, chúng là thành phần thiết yếu trong chăm sóc sắc đẹp như các tác nhân làm sạch, dịch truyền, kem dưỡng ẩm, kem dưỡng tóc, thuốc nhuộm tóc, các loại kem mỹ phẩm, kem khử trùng, chống khô da, cải thiện làn da và lọc máu (Theo Pamela,
1987; Ravindran et al., 2002) [11][14]
Ấn Độ được biết đến trên toàn thế giới như là “vùng đất của các loại gia vị” Các loại gia vị đã được trồng ở Ấn Độ từ thời cổ đại và đã nổi tiếng trên khắp thế giới Điều này thu hút các nhà thám hiểm, những kẻ xâm lược và thương nhân từ các vùng đất khác nhau để bờ biển Ấn Độ Ấn Độ với điều kiện khí hậu và đất đai đa dạng, là quê hương của nhiều loại gia vị và là nơi sản xuất các loại gia vị chất lượng nội tại cao Gia vị đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia của Ấn Độ Ấn Độ là nước sản xuất lớn nhất, góp (86%), sản lượng gia vị toàn cầu theo sau là Trung Quốc (4%), Bangaladesh (3%), Pakistan (2%), Thổ Nhĩ Kỳ (2%) và Nepal (1%) Thị trường nội địa ở Ấn Độ tiêu thụ 90% các loại gia vị sản xuất trong nước và phần còn lại được xuất
Trang 21khẩu Ấn Độ có một vị trí đáng gờm trong thương mại gia vị thế giới với thị phần 48% về khối lượng và 44% thị phần về giá trị Ấn Độ độc quyền trong việc cung cấp các loại dầu gia vị và nhựa dầu và là nơi cung cấp chính bột cà ri, bột gia vị, hỗn hợp gia vị và gia vị trong gói tiêu dùng Gia vị xuất khẩu đã tăng trưởng đáng kể trong 5 năm qua, tốc độ trung bình hàng năm tăng 21% về giá trị và 8% về khối lượng Trong năm 2010 -2011 xuất khẩu gia vị của Ấn Độ là 525,750 tấn so với 502,750 tấn, trị giá trong năm 2009-2010 Gia vị từ ấn Độ chủ yếu xuất khẩu sang Mỹ, tiếp theo là EU, Đông Âu, Đông và Tây á và Châu Phi Các kim ngạch xuất khẩu cao nhất là bạc hà tiếp theo là ớt, nghệ, thì là và hạt tiêu đen (Theo K.V.Peter, 2012) [13]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Sau hơn hai mươi năm đổi mới cùng nền kinh tế đất nước, việc phát triển cây gia vị đã có những bước tiến nhất định Gia vị là sản phẩm đặc biệt,
do vậy sự cạnh tranh trên thị trường cũng luôn quyết liệt và được sự quan tâm của toàn xã hội Hoạt đông sử dụng cây gia vị đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển Bên cạnh thuận lợi về mặt môi trường đầu tư và tiếp cận công nghệ mới, thì phát triển cây gia vị còn có thuận lợi về nguồn nguyên liệu đa dạng và phong phú sẵn có tại các khu rừng tự nhiên trên cả nước Trong những năm gần đây, sử dụng cây gia vị ở Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đảm bảo đủ cho nhân dân có chất lượng với giá hợp lý và đảm bảo sử dụng an toàn, hợp lý
Thực vật của Việt Nam có lẽ vào khoảng 12.000 loài Đó là chỉ kể cây
có mạch chứ chưa kể đến rong, rêu, nấm Nguyên nhân của sự phong phú, phức tạp ấy là do Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, thuận hợp cho sự phát triển của các loài cây cỏ Việt Nam không có sa mạc Lại nữa, Việt Nam nằm trên khối Indosinias của vỏ trái đất bền vững từ mấy triệu năm, không bị ngập dưới nước bao giờ Vào Nguyên đại đệ tứ, Việt Nam không bị băng giá bao
Trang 22phủ xua đuổi các loài thực vật Sau cùng, Việt Nam là đường giao lưu hai chiều của các thực vật chúng phong phú của miền Nam Trung Quốc,
Malaysia, Indonesia (Theo Phạm Hoàng Hộ, 1999) [4]
Các loài cây gia vị được phân bố rộng khắp trên toàn lãnh thổ đất nước, trải dài trên 7 vùng sinh thái nông nghiệp, 9 vùng sinh thái lâm nghiệp, từ khí hậu nhiệt đới núi cao đến vùng trung du phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, vùng núi cao Tây Nguyên, Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Đặc biệt là ở khu vực phía Bắc
Trong các loài cây cây gia vị hiện đã được công bố, nước ta có nhiều loài cây được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới Với hệ thực vật phong phú về thành phần loài và khả năng cung cấp các cây gia vị quý Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về mặt cây gia vị trong khu vực Đông Nam Á
- Lã Đình Mỡi, Nguyễn Thị Thủy, Phạm Văn Thính đã có những nghiên cứu và thống kê được tập đoàn đông đảo thực vật có giá trị làm thuốc, gia vị ở địa phương, 1995 (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [8]
-Nghiên cứu kiến thức bản địa của người dân xã Tân Dương - huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên trong việc khai thác, sử dụng thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị (Theo Nguyễn Thị Phượng và cs, 2008) [6]
Tác giả đã xác định được kinh nghiệm của người dân xã trong việc sử dụng các loài lâm sản ngoài gỗ làm thực phẩm, gia vị
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Vị trí địa lý
Xã Khâu Tinh cách trung tâm huyện lỵ Na Hang 75km về phía Bắc, có
tổng diện tích đất tự nhiên là 8.445,8 ha, có vị trí tiếp giáp với các đơn vị sau:
- Phía Bắc giáp các xã: Côn Lôn, Yên Hoa
Trang 23- Phía Nam giáp với thị trấn Na Hang
- Phía Đông giáp các xã: Sơn Phú, Đà Vị
- Phía Tây giáp với xã Năng Khả
2.3.2 Địa hình địa thế
Địa hình xã Khâu Tinh chủ yếu là núi, núi cao nhất có độ cao 1200m,
độ cao trung bình khoảng 600m - 700m so với mực nước Biển Mang đặc điểm của vòng cung núi đá vôi Lô Gâm ở vùng Đông Bắc Việt Nam có địa hình dốc, các dãy núi đá vôi hiểm trở và các bãi phù sa xâm lấn trong thung
lũng dọc theo con sông Năng, với các hệ thống hang động rộng khắp
2.3.3 Khí hậu - thuỷ văn
Khí hậu tại địa bàn xã Khâu Tinh được chia thành hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô, trong đó mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Nhiệt độ trung bình năm: 220-
240C; Nhiệt độ cao nhất: 350- 380C; Nhiệt độ thấp nhất: 40C, có năm nhiệt độ xuống tới 10C Hàng năm, vùng núi cao thường xuất hiện sương muối và băng giá, độ ẩm không khí trung bình là 85%
Xã Khâu Tinh có hai hệ thống sông chính là sông Năng và sông Gâm,
có một hồ ngăn nước để phục vụ tưới tiêu cây nông nghiệp ngoài ra còn có hệ thống ao, đầm, khe suối nhỏ chảy từ các dãy núi cao
Mạng lưới sông ngòi nhỏ khá dày song chế độ nước lại không đều giữa các mùa trong năm Khu bảo tồn có nhiệm vụ quan trọng về bảo vệ đầu nguồn của 2 con sông này, cùng các nhánh của chúng Sông Năng (hiện bị ngập lũ
do xây dựng đập thuỷ điện và tạo thành hồ) chia Khu bảo tồn thành 2 khu vực, còn sông Gâm phía trên đập trở thành hồ và tạo thành ranh giới phía Tây của Khu bảo tồn Các vùng ngập lũ của cả hai sông này tạo thành lũ cắt ngang vùng núi Pác Ta ở phía Tây bờ đập, dưới đập sông Gâm chảy về phía Nam và gặp sông Lô
Trang 242.3.4 Địa chất, thổ nhưỡng
Xã Khâu Tinh có 4 loại đá mẹ chính: Đá Granit, đá Phiến thạch sét, đá vôi, đá Sa thạch Trong khu bảo tồn có những loại đất chủ yếu sau:
-Đất Feralit màu vàng nhạt trên núi thấp, tầng đất có nhiều mùn
-Đất Feralit màu đỏ vàng trên núi cao, tầng đất mỏng, có nhiều mùn
- Đất Feralit vàng đỏ trên sườn đồi và chân núi, tầng đất dày, có mùn
-Đất Feralit màu sẫm chân núi đá vôi
- Đất Feralit màu vàng nâu phát triển trên đá phiến thạch sét
2.3.5 Tài nguyên rừng
Theo tài liệu điều tra, thống kê của Cục Bảo vệ Môi trường, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật năm 2007, xã Khâu Tinh là một trong 4 xã thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang, về động vật: Thú có 87 loài thuộc 25 họ, 8
bộ, có 24 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; chim có 277 loài thuộc 45 họ,
13 bộ, có 19 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; bò sát, ếch nhái có 48 loài thuộc 17 họ, 3 bộ, có 11 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; côn trùng có
463 loài thuộc 50 họ, 11 bộ, có 3 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; động vật thủy sinh có 76 loài thuộc 14 họ, 5 bộ, có 5 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam Về thực vật có 844 loài thuộc 127 họ, có 7 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam
2.3.6 Hiện trạng rừng và sử dụng đất
Kết quả điều tra hiện trạng rừng và sử dụng đất xã Khâu Tinh thực hiện trong năm 2013 đến hết ngày 31/12/2013 được thống kê tại biểu sau:
Trang 25Bảng 2.1 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp chia theo 3 loại rừng Loại đất
loại rừng
Tổng cộng (ha)
Phân theo chức năng (ha) Đặc dụng Phòng hộ Sản xuất
(Nguồn: Trạm Kiểm lâm xã Khâu Tinh)
Bảng 2.2 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp chia theo chủ quản lý
STT Loại chủ quản lý Tổng cộng
(ha)
Có rừng (ha) Đất chưa
có rừng (ha)
Cộng Rừng
tự nhiên
Rừng trồng
8 UBND (Chưa giao) 811,6 783,90 744,10 39,80 27,7
(Nguồn: Trạm Kiểm lâm xã Khâu Tinh)
Trang 26Diện tích đất sản xuất nông nghiệp: 185,0 ha
- Đất lúa: 65,0 ha trong đó: Đất 01 vụ 65,0 ha; đất 02 vụ 0 ha
- Đất màu: 120,0 ha
Diện tích đất lâm nghiệp 8.373,98 ha, chiếm 86% diện tích đất tự nhiên của toàn xã, trong đó diện tích đất có rừng 7245,7 ha: Rừng đặc dụng 6.332,2 ha, rừng phòng hộ 48 ha, rừng sản xuất 432.5 ha; Độ che phủ của rừng đạt 82%
2.3.7 Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội
Dân sinh: xã Khâu Tinh có tổng dân số 1434 nhân khẩu, gồm 306 hộ gia đình, được phân chia thành 4 thôn, bản: Khau Phiêng, Nà Lũng, Khau Tinh, Tát Kẻ Thành phần dân tộc trên địa bàn xã gồm có 5 anh em trong đó dân tộc Kinh 3 hộ/15 khẩu, chiếm 1%, dân tộc Tày 132 hộ/563 khẩu, chiếm 39%; dân tộc Dao 47 hộ 236 khẩu, chiếm 16%, dân tộc H’mông 190 hộ 619 khẩu, chiếm 43%, dân tộc Hoa 0 hộ/2 khẩu, chiếm 0,14%, dân tộc Mường 0 hộ/2 khẩu, chiếm 0,14%
Kinh tế - xã hội tại các thôn, bản phát triển chậm, cơ cấu nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao Đa phần là lao động nông nghiệp nên thất nghiệp theo thời vụ lớn, mức thu nhập bình quân thấp, nguồn thu nhập chính của người dân dựa chủ yếu vào các hoạt động nông nghiệp
Trang 27Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các loài thực vật được cộng đồng dân tộc sử dụng làm gia vị
- Phạm vi nghiên cứu: Các cộng đồng dân tộc thiểu số sống tại xã Khâu
Tinh – huyện Na Hang – tỉnh Tuyên Quang
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Xã Khâu Tinh - huyện Na Hang - tỉnh Tuyên Quang
- Thời gian: Từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu đặt ra của đề tài có những nội dung sau:
- Xác định các loài cây được sử dụng làm gia vị
- Điều tra tri thức bản địa trong việc khai thác và sử dụng các loài cây gia vị
- Đánh giá mức độ khai thác, sử dụng và đánh giá mức độ nguy cấp các loài cây gia vị
- Đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng, và phát triển cây gia vị tại xã Khâu Tinh
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản
Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cùng các tài liệu có liên quan tới các chuyên đề của các tác giả trong và ngoài nước tại khu vực nghiên cứu
Trang 283.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.2.1 Phương pháp liệt kê tự do
Liệt kê tự do: Là việc hỏi/ phỏng vấn một tập hợp người cung cấp tin
(NCCT), đề nghị họ cho tên tất cả các tên của cây làm gia vị
Chọn mẫu: NCCT được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên - phân
tầng: NCCT được phân thành một số nhóm nhất định (theo dân tộc; độ tuổi; giới ), sau đó lấy ngẫu nhiên NCCT từ các loại đó
- Tham khảo lãnh đạo địa phương (xã, thôn), cán bộ BQL khu bảo tồn
Từ đó lập danh sách những người đáp ứng đủ tiêu chí theo dân tộc
- Từ danh sách đã lập sử dụng phương pháp chọn theo hệ thống, chọn
30 người đảm bảo tính đại diện cho các dân tộc, độ tuổi, giới tính
Phỏng vấn: Sử dụng một câu hỏi duy nhất cho tất cả NCCT (phụ lục 1):
“Xin bác (anh/chị/ông/bà) kể tên tất cả các cây được sử dụng làm gia vị tại địa
phương mà bác (anh/chị/ông/bà) biết?” Điều quan trọng nhất khi phỏng vấn là
đề nghị NCCT liệt kê đầy đủ tên cây làm gia vị bằng tiếng dân tộc của mình Điều này tránh được sự nhầm lẫn tên cây gia vị giữa các ngôn ngữ, văn hóa khác nhau
Việc phỏng vấn có thể dừng lại khi số lượng các loài cây gia vị không tăng lên trong câu trả lời của NCCT (Theo Phan Duy Thành, 2014) [7]
3.4.2.2 Xác định các loài cây gia vị cần ưu tiên bảo tồn
Phân hạng cây gia vị theo mức độ đe dọa của loài (phụ lục 2):
Trang 29Qua việc thống kê, tổng hợp các loài được người dân sử dụng làm gia vị tại địa phương, tiến hành đi rừng lấy mẫu cùng NCCT
* Tiêu chí lựa chọn NCCT:
- Là người có hiểu biết về khai thác và sử dụng các loài cây gia vị
- Cư trú lâu dài tại địa phương, có khả năng giao tiếp với người điều tra
+ Loài không có tiềm năng được dùng ở địa phương: 0 điểm
+ Loài sử dụng ít đối với người dân địa phương: 1 điểm
+ Loài có tầm quan trọng đối với người dân địa phương: 2 điểm
- Mức độ xâm nhập (vị trí mọc của loài để bị tìm thấy để khai thác): sử dụng thang 2 mức điểm
+ Loài mọc ở nơi khó xâm nhập: 0 điểm
+ Loài mọc ở nơi dễ xâm nhập: 1 điểm
- Tính chuyên biệt về nơi sống (sự xuất hiện của loài thể hiện khả năng sống thích nghi của loài hạn hẹp hay phổ biến): sử dụng thang 3 mức điểm + Loài xuất hiện ở nhiều nơi sống khác nhau: 0 điểm
+ Loài xuất hiện ở một số ít nơi sống: 1 điểm
+ Loài có nơi sống hẹp: 2 điểm
- Mức độ tác động đến sự sống của loài (sự tác động của người dân ảnh hưởng đến sự sống của loài): sử dụng thang mức 3 điểm
+ Loài có ít nhất vài nơi sống của loài ổn định: 0 điểm
+ Loài có nơi sống phần nào không ổn định hay bị đe dọa: 1 điểm
Trang 30+ Loài có nơi sống không chắc còn tồn tại: 2 điểm
Như vậy dựa theo các tiêu chí trên các loài có tổng điểm của các chỉ tiêu càng lớn thì mức độ đe dọa càng cao (Theo Phan Duy Thành, 2014) [7]
3.4.3 Phương pháp nội nghiệp
Sau khi thu thập đầy đủ thông tin, sử dụng phần mền Microsoft Excel và Word để tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu, thống kê tất cả các loài cây gia vị lên danh lục thực vật và viết báo cáo
Trang 31Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các loài cây gia vị được sử dụng tại các cộng đồng dân tộc xã Khâu Tinh
4.1.1 Mức độ phổ biến của các loài thực vật dùng làm gia vị
Đã bao đời những người dân xã Khâu Tinh có cuộc sống gắn bó với rừng Nơi đây được thiên nhiên ưu đãi có núi đá, núi đất nên hệ thực vật rất phong phú, đa dạng về số lượng và chủng loại có thể cung cấp quanh năm cho nhu cầu của người dân nơi đây từ các loài thuốc, các loại thực phẩm cũng như thực vật để làm gia vị Người dân đã tích lũy cho mình những kiến thức về các loài cây làm gia vị, kinh nghiệm sử dụng, khai thác và chế biến Ưu điểm của loại gia vị từ thực vật rừng này là an toàn, rẻ tiền, dễ kiếm, dễ sử dụng và đặc biệt là tạo nên bản sắc riêng cho ẩm thực nơi đây
Các loài thực vật được dùng làm gia vị được sử dụng hàng ngày trong các bữa ăn của người dân xã Khâu Tinh là các loài được nhiều NCCT nhắc đến (trên 10 lần) Tùy vào mùa thu hái và nhu cầu sử dụng của người dân mà các loài này được thu hái dùng tươi hay bảo quản để sử dụng dần trong năm Mức độ phổ biến của loài được khai thác để sử dụng làm gia vị được thống kê
ở bảng 4.1 theo thứ tự số lần được nhắc đến nhiều và giảm dần
Trang 32Bảng 4.1 Mức độ phổ biến của các loài cây gia vị được nhắc đến tại xã