1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn

78 439 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM BÀNH THÚY HƯỜNG Tên đề tài: NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC TÀY TẠI XÃ HỮU K

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÀNH THÚY HƯỜNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC TÀY TẠI XÃ HỮU KHÁNH, HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiệp

Khoá học : 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÀNH THÚY HƯỜNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC TÀY TẠI XÃ HỮU KHÁNH, HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Tuấn Hùng

TS Đỗ Hoàng Chung

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thái nguyên, ngày tháng năm 2015

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn đánh giá kết thúc quá trình học tập và nghiên cứu của sinh viên trong các trường Đại học và Cao đẳng Đây là quá trình giúp sinh viên củng cố lại kiến thức đã học, bước đầu làm quen với thực tiễn góp phần rèn luyện kỹ năng, hình thành phẩm chất chuyên môn nghiệp vụ cần thiết góp phần đáp

ứng nhu cầu nguyện vọng của sinh viên ra trường Thông qua thời gian học tập sinh

viên được tiếp xúc với môi trường mới, học cách giải quyết các vấn đề trong công việc, đó chính là những kinh nghiệm quý báu cho công tác sau này

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, tôi tiến hành thực hiện đề

tài ‘‘Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn’’

Để hoàn thành đề tài này ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự giúp đỡ của

các thầy cô giáo trong Khoa Lâm Nghiệp, UBND Xã Hữu Khánh Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS Nguyễn Tuấn Hùng và thầy giáo TS

Đỗ Hoàng Chung đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập

Trong quá trình thực tập, mặc dù tôi đã cố gắng hết khả năng nhưng do thời gian thực tập có hạn, kinh nghiệm cũng như trình độ bản thân còn nhiều hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cám ơn!

Thái nguyên, ngày…tháng…năm 2015

Sinh viên

Bành Thúy Hường

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày khai thác sử dụng làm thuốc tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 20 Bảng 4.2: Danh sách các loài cây thuốc tiêu biểu 28 Bảng 4.3: Bảng mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số loài cây tiêu biểu được cộng đồng dân tộc Tày sử dụng làm thuốc 29 Bảng 4.4: Các bài thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh 40 huyện Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn 40 Bảng 4.5: Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 44

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có

thể dừng phỏng vấn khi số loài không tăng 14

Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện bộ phận thu hái các loài cây thuốc 37

Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện cách dùng các loài cây thuốc 38

Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện cách bảo quản các loài cây thuốc 38

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT VIẾT TẮT Ý NGHĨA

NCCT : Người cung cấp tin

STT : Số thứ tự

WHO : Tổ chức Y tế thế giới

WWF : Tổ chức Quỹ thiên nhiên thế giới

UNESCO : Tổ chức Di sản văn hóa thế giới

sp : Chưa xác định rõ tên, họ theo khoa học

SĐVN : Sách đỏ Việt Nam

NĐ32/CP : Nghị định 32 chính phủ

IUCN : Liên minh bảo tồn thiên nhiên thế giới

EN : Nguy cấp cao

VU : Bị đe dọa, sắp nguy cấp

CREDEP : Trung tâm nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền

ĐH : Đại học

TNSV : Tài nguyên sinh vật

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

14.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở thực hiện đề tài 4

2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 5

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 10

2.3.1 Vị trí địa lý 10

2.3.2 Địa hình địa thế 10

2.3.3 Khí hậu, thuỷ văn 10

2.3.4 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội 11

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12 3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 12

3.2 Thời gian nghiên cứu: 12

3.3 Nội dung nghiên cứu 12

3.4 Phương pháp nghiên cứu 13

3.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản 13

3.4.2 Phương pháp chuyên gia 13

3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 13

Trang 9

3.4.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật học 17

3.4.5 Phương pháp nội nghiệp 19

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20

4.1 Các loài cây thuốc phát hiện được ở cộng đồng dân tộc Tày tại khu vực nghiên cứu 20

4.2 Đặc điểm hình thái và sinh thái của một số cây tiêu biểu được cộng đồng dân tộc Tày sử dụng làm thuốc 27

4.3 Tri thức bản địa trong việc khai thác các loài cây thuốc 36

4.3.1 Tri thức bản địa trong việc khai thác các loài cây thuốc 36

4.3.2 Tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài cây thuốc 39

4.4 Các loài thực vật dùng để làm thuốc cần được bảo tồn, nhân rộng 44

PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Tồn tại 47

5.3 Kiến nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

I.Tiếng Việt 49

II Tiếng Anh 50

III Các tài liệu tham khảo từ Internet 50

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho

du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng

Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến đây là nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dược học

Cho đến nay Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là khu vực Trường Sơn Thêm vào đó với những kinh nghiệm đã được tích lũy qua 4000 năm lịch sử, đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu cuộc sống từ ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh vv… của cộng đồng 54 dân tộc anh em Đó là một

ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó có nguồn tài

nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống và sức khỏe của mọi người đặc biệt

là các đồng bào Dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa nơi cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên trong đó có rừng

Theo các nhà phân loại thực vật ở Việt Nam giàu tài nguyên thực vật nhất

Đông Nam Á, nơi có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao Trong đó có 3.948 loài được dùng làm thuốc (viện dược liệu, 2002) chiếm khoảng 37% số loài đã biết Đó

chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, cho

đến nay chúng ta chỉ mới biết được có một phần Ngoài ra các nhà khoa học Nông

Nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng trong đó cũng có 179 loài cây sử dụng

Trang 11

làm thuốc Theo kết quả điều tra của viện dược liệu trong thời gian 2002 –

2005 số loài cây thuốc ở một số vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trường Sơn như sau: Đắc Lắc (751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (814 loài), Lâm Đồng (756 loài) Với hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc hết sức phong phú và đa dạng

Sức khỏe lại là một phần quan trọng của con người, trong mỗi chúng ta không phải lúc nào cũng khỏe và ai cũng khỏe cả, mà nhiều lúc ốm đau, bệnh tật cần thuốc chữa bệnh nhằm ổn định và nâng cao cuộc sống hằng ngày Với các đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh khi mà nguồn thuốc Tây Y không phục vụ đến kịp thời Các bài thuốc Nam lại là nguồn nguyên liệu sẵn có, đó là các loài cây xung quanh mình để sử dụng làm thuốc an toàn và có hiệu quả Chính vì thế mà các loài thuốc dân gian của các đồng bào dân tộc thật sự cần thiết và hết sức quan trọng đôi khi được xem như là “sức mạnh vô hình” cứu sống tính mạng con người

Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị suy giảm nghiêm trọng, kéo theo đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến sử dụng bền vững bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa là một vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Đối với các cộng đồng dân tộc ở xã Hữu Khánh - huyện Lộc Bình - tỉnh Lạng Sơn họ có những bài thuốc, kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả trong việc chữa bệnh Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận

và gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng

đồng dân tộc, xuất phát từ lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu

tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn”

1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Đánh giá, tư liệu hóa hệ thống kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng tài

nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc người Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn liên quan tới quản lý và bảo vệ rừng Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hệ thống kiến thức bản địa của người dân góp

Trang 12

phần quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững, cũng như đề xuất một số giải

pháp nhằm góp phần nâng cao đời sống của người dân

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:

- Phát hiện được từ cộng đồng dân tộc Tày các cây thuốc , bài thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống

- Lựa chọn được các cây thuốc, bài thuốc hay quan trọng để phát triển nhân rộng và bảo tồn trên cơ sở lựa chọn có sự tham gia của người dân

- Tư liệu hóa được tri thức sử dụng, một số bài thuốc gia truyền và những kinh nghiệm chữa bệnh của đồng bào dân tộc từ các loài cây hoặc các bộ phận của cây sử dụng an toàn và có hiệu quả

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế; biết các thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng

đồng thôn bản và người dân

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Đề tài góp phần nghiên cứu về việc sử dụng các loài thực vật Lâm sản ngoài

gỗ để làm thuốc nhằm bảo tồn nguồn tri thức bản địa

Phát hiện ra những loài cây thuốc quý, hiếm đang nguy cấp cần được bảo tồn

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở thực hiện đề tài

Tri thức bao gồm sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên xung quanh con người Hệ thống tri thức là sản phẩm trí tuệ của loài người được tích lũy từ những kinh nghiệm của quá trình lao động sản xuất thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày Hệ thống tri thức này hình thành trong thời gian dài lịch sử, tồn tại

và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội qua sự trải nghiệm của nhân dân lao động

Vậy tri thức bản địa là gì? Theo định nghĩa chung cuả tổ chức Di sản văn hóa thế giới (UNESCO), tri thức bản địa là tri thức hoàn thiện được duy trì, tồn tại và phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên nó được truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất ít khi

được ghi chép lại Tri thức bản địa là tri thức được tạo ra bởi một nhóm người qua

nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong một vùng nhất định Tri thức bản địa là nguồn tài nguyên quốc gia giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển theo những phương sách ít tốn kém, có sự tham gia của người dân và đạt được sự bền vững Các dự án phát triển dựa trên cơ sở tri thức bản địa sẽ lôi kéo được nhiều người dân tham gia, vì nó hợp với suy nghĩ của nhân dân, dân biết phải làm gì và làm như thế nào Đó chính là cơ sở của sự thành công Đặc điểm quan trọng của tri thức bản địa là luôn thích ứng với sự thay đổi của môi trường, các cộng đồng cư dân

địa phương luôn có ý thức bản địa hóa những du nhập từ bên ngoài có lợi và thích

Trang 14

Các loài cây thuốc đa phần là các sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ thuộc một phần của tài nguyên thực vật Tài nguyên thực vật là tổng hợp của sinh quyển trong một loạt các thảm thực vật Tài nguyên thực vật như là các nhà sản xuất chính, để duy trì chu

kỳ dinh dưỡng sinh quyển và cơ sở dòng năng lượng trên trái đất Tài nguyên thực vật giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người nói riêng và sinh vật nói chung Nhưng trong thời gian vừa qua tài nguyên này đã bị suy thoái nghiêm trọng do sự tác động tiêu cực của con người, chính vì vậy, gần đây Đảng và nhà nước ta đã có những chủ trương, đường lối mới như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Đất đai năm 2013, Luật đa dạng sinh học năm 2008, Nghị

định 32 của Chính phủ năm 2010,… cùng với hàng loạt các văn bản khác đã ra đời

nhằm bảo vệ và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lí Đây là một cơ sở pháp lí quan trọng để thực hiện thành công đề tài tri thức bản về khai thác và sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày ở xã Hữu Khánh

2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn Lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc, nhiều nước đã có các đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng nhiều nguồn tài nguyên này để xuất khẩu làm dược liệu và thu được một nguồn tài chính khá lớn

Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng

cây thuốc để chữa bệnh Một nghiên cứu rất thành công của họ đã cho ra đời cuốn sách "Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc" vào năm 1968, do các nhà nghiên cứu Vân Nam - Trung Quốc thực hiện Cuốn sách này đã đề cập tới đặc

điểm sinh thái, công dụng, kỹ thuật gây trồng, ché biến và bảo quản cây Thảo quả

(Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [1]

Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm

1955 cuốn bản thảo này được in ấn lại Nội dung cuốn sách đã đưa đến cho con người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1972 tác giả N.G Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả

Trang 15

nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khỏe của con người Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều

lượng đã được định sẵn ( Dân theo Trần Thị Lan, 2005) [9] Đến năm 1992, J.H.de

Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và của Lâm sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của Thảo quả đối với việc cải thiện đời sống cho người dân ở miền núi sống ở trong và gần rừng, thu hút họ tham gia vào việc quản lí và bảo vệ tài nguyên rừng bền vững, giúp họ có thể yên tâm sống chủ yếu vào nghề rừng

Theo ước tính của tổ chức Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu

phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2006) [5] Tiến sĩ James A.Dule – nhà dược lý học người Mỹ đã có

nhiều đóng góp cho tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các

loại cây thuốc (Dẫn theoTrần Thị Lan, 2005) [9]

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Việt Nam nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, thích hợp cho sự phát triển của thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng Một số vùng cao lại có khí hậu á nhiệt đới, phù hợp với việc trồng cây thuốc ưa khí hậu mát mẻ Đặc biệt là nước ta có dãy núi Trường Sơn rộng lớn là nơi có rất nhiều cây thuốc phục vụ cho

đồng bào nhân dân sống gần ở trong rừng mà họ sống xa các trạm xá, bệnh viện thì

việc cứu chữa tại chỗ là vô cùng cần thiết và cấp bách

Theo nguồn thông tin Viện Dược liệu (2004) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật

Trang 16

(kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ, trong đó có cộng đồng dân tộc Tày ở xã Hữu Khánh, Huyện Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn Những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Ngoài ra còn xuất

khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô (Dẫn theo Viện Dược Liệu, 2002) [10]

Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của cộng

đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân

tộc Dao ở đây Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên những kiến thức quý báu này chưa được phát huy và chưa có cách duy trì hiệu quả, chưa có tổ chức Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào đó họ còn đưa ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ, và các

điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc Họ đã đánh giá được mức độ tác động của

người dân địa phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc (Dẫn theo Phạm Thanh Huyền, 2000) [6]

Ở nước ta số loài cây thuốc được ghi nhận trong thời gian gần đây không

ngừng tăng lên, theo báo cáo kết quả điều tra nghiên cứu về dược liệu và tài nguyên

cây thuốc (Dẫn theo Viện dược liệu, 2003) [11]

- Năm 1952 toàn Đông Dương có 1.350 loài

- Năm 1986 Việt Nam đã biết có 1.863 loài

- Năm 1996 Việt Nam đã biết có 3.200 loài

- Năm 2000 Việt Nam đã biết có 3.800 loài

Trong công trình cây thuốc – nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn

Trang 17

tài nguyên cây thuốc như: Diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa dạng các loài và di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức Y học cổ truyền và Y học dân gian gắn với sử dụng bền vững và phát triển cây thuốc

(Dẫn theo Trần Khắc Bảo, 2003) [8]

Theo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền (CREDEP) từ trước đến nay khá nhiều địa phương trong nước đã có truyền thống trồng cây thuốc và có nhiều nghiên cứu về cây thuốc, bài thuốc chữa các bệnh thường gặp hang ngày Trong 2 năm gần đây, Ngô Qúy Công (2005) đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, nghiên cứu

kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại Họ chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho

số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải pháp, đề xuất hợp lý để bảo tồn và

phát triển(Dẫn theo Ngô Qúy Công, 2005) [4]

Đỗ Hoàng Sơn và cộng sự (2008) đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác,

sử dụng vầ tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật Người dân thuộc vùng

đệm ở đây chủ yếu là cộng đồng dân tộc Sán Dìu sử dụng cây thuốc để chữa 16

nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trong rừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40%

Trang 18

so với 5 năm trước đây Trên cơ sở các nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây

thuốc cần được ưu tiên và bảo tồn (Dẫn theo Đỗ Hoàng Sơn, 2008) [2]

Theo Nguyễn Văn Tập trong nguồn Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả Rêu và Nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên chủ yếu trong các quần thể rừng Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua cùng với nhiều nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã bị giảm sút nghiêm trọng, biểu hiện qua các thực tế sau:

- Vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị thu hẹp: Do nạn phá rừng làm nương rẫy, nhất là việc mở rộng diện tích trồng Cà phê, Cao su ở các tỉnh phía Nam

đã làm mất đi những vùng rừng rộng lớn vốn có nhiều cây thuốc mọc tự nhiên chưa

kịp khai thác

- Hầu hết các cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù có vùng

phân bố rộng lớn, trữ lượng tự nhiên tới hàng ngàn tấn, như Vằng đắng (Coscinium fenestratum); các loài Bình vôi (Stephania Spp)… hoặc hàng trăm tấn như Hoằng

đắng (Fdraurea timctoria) … nhưng do khai thác quá mức, không chú ý bảo vệ tái

sinh, dẫn đến tình trạng mất khả năng khai thác Một số loài thuộc nhóm này như

Ba kích (Morinda offcinalis); Đẳng sâm (Codonopsis javanica)… đã phải đưa vào

Sách đỏ Việt Nam (1996) và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004) nhằm khuyến cáo bảo vệ

- Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâm mọc

tự nhiên, Hoàng liên, Lan một lá,…đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao

(Nguyễn Văn Tập, 2006) [5]

Việt Nam là một nước có tài nguyên rừng rất đa dạng và phong phú nhưng vì

ở trong những khu rừng hay gần rừng lại thường tập trung nhiều thành phần dân tộc

sinh sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, kiến thức bản địa trong việc sử

Trang 19

dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng khác nhau Nên hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảm sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị suy giảm trong đó có cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn sử dụng tài nguyên cây thuốc bản địa là một việc rất cần thiết Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số, họ có những bài thuốc kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng chữa bệnh lại hiệu quả rất cao Lạng Sơn cũng là một tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống

đặc biệt là huyện Lộc Bình nơi có khá nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống

trong rừng và gần rừng, trong đó có dân tộc Tày Chính vì vậy, đây là một nơi lý tưởng cho nghiên cứu kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc, các bài thuốc dân gian từ thiên nhiên của cộng đồng dân tộc địa phương nơi đây

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.3.1 Vị trí địa lý

Xã Hữu Khánh nằm ở phía Đông Bắc huyện Lộc Bình có tổng diện tích tự nhiên 2108 ha Có ranh giới tiếp giáp với các địa phương:

- Phía bắc giáp xã Mẫu Sơn

- Phía nam giáp xã Tú Đoạn

- Phía đông giáp xã Yên Khoái và Tú Đoạn

- Phía tây giáp xã Đồng Bục và thị trấn Lộc Bình

2.3.2 Địa hình địa thế

Hữu Khánh là xã miền núi của huyện Lộc Bình, đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả xã Dạng địa hình phổ biến ở Hữu Khánh là núi thấp và đồi, độ cao trung bình 250 – 400 m so với mặt nước biển, xen kẽ giữa địa hình đồi núi là các cánh

đồng bằng phẳng, nhân dân đang sử dụng để trồng lúa và các loại cây hoa màu

2.3.3 Khí hậu, thuỷ văn

Khí hậu ở Hữu Khánh phân mùa rõ rệt, ở các mùa khác nhau nhiệt độ phân bố không đồng đều do sự phức tạp của địa hình miền núi và sự biến tính nhanh chóng của không khí lạnh, mùa nóng mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa lạnh kéo dài từ

Trang 20

tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình năm từ 17-22 °C, lượng mưa trung bình hàng năm: 800–1000 mm, Độ ẩm tương đối trung bình năm: 80-85%

Hướng gió và tốc độ gió của Hữu Khánh vừa chịu sự chi phối của yếu tố hoàn lưu, vừa bị biến dạng bởi địa hình Mùa lạnh thịnh hành gió Bắc, mùa nóng thịnh hành gió Nam và Đông Nam Tốc độ gió nói chung không lớn, trung bình 0,8–2 m/s song phân hoá không đều

2.3.4 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội

Dân cư trong xã được phân bổ trên 7 thôn bản, địa bàn toàn xã có 630 hộ, có 2.887 nhân khẩu, gồm 4 dân tộc anh em sống với nhau: Dân tộc tày chiếm 57,8%; nùng 40,6 %; kinh 1,4%; Sán chỉ 0,07% Các tập quán hủ tục lạc hậu mê tín, ma chay, cưới xin đang từng bước được cải tiến và xóa bỏ Nhân dân đã tham gia xây dựng quy ước thôn bản để cùng nhau thực hiện khu dân cư văn hóa phù hợp với tập tục và đúng với Luật pháp của Nhà nước

Hệ thống đường giao thông liên Thôn, liên Xã có tuyến đường quốc lộ Lộc Bình – Chi Ma đi qua trung tâm xã Ngoài ra còn có tuyến đường khai thác đi vào các khu rừng Vì vậy giao thông của xã rất thuận tiện Xã Hữu Khánh chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp kết hợp với chăn nuôi Nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây dựa chủ yếu vào các hoạt động nông nghiệp (với Lúa và Ngô là các cây trồng chính)

Hệ thống điện lưới hạ thế đã được kéo đến các hộ gia đình (đạt 100%), các

hộ gia đình trong Xã đã có điện sinh hoạt 100%

Đường giao thông liên Xã , liên Thôn thực hiện công tác bê tông hóa giao

thông nông thôn theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm, đến nay cơ bản

đã hoàn thành người dân đi lại thuận tiện

Có một trường tiểu học và một trường THCS, về khám chữa bệnh có một nhà trạm Y tế xã (nhà cấp IV), đảm bảo công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân nơi đây

Trang 21

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tri thức bản địa về khai thác và sử dụng

tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày

- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 3.2 Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

Từ mục tiêu nghiên cứu đặt ra của đề tài có những nội dung sau:

Nội dung 1: Thành phần loài cây được sử dụng làm thuốc

- Xác định tên địa phương, tên dân tộc, tên khoa học của các loài cây thuốc

- Mô tả một số đặc điểm hình thái của các loài cây thuốc

Nội dung 2: Tri thức bản địa trong việc khai thác và sử dụng các loài cây thuốc

- Tư liệu hóa kiến thức bản địa về khai thác như: Bộ phận thu hái; Mùa vụ và

kỹ thuật thu hái

- Tư liệu hóa kiến thức bản địa về về bảo quản sản phẩm: Biện pháp xử lý, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch

- Tư liệu hóa kiến thức bản địa về cách chế biến và sử dụng các loài cây thuốc: Các phương thức chế biến đối với từng cây thuốc tại cộng đồng dân tộc Tày, từng hộ như: Bằng cách đơn giản (phơi, gác bếp, dùng tươi ) hay cầu kỳ (phải qua nhiều công đoạn khác nhau )

- Thành phần và tỷ lệ các loài cây phối hợp trong các bài thuốc dân gian

Nội dung 3: Xác định các loài cây thuốc ưu tiên bảo tồn

- Xác định loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn

Trang 22

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản

Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cùng các tài liệu có liên quan tớí các chuyên đề của các tác giả trong và ngoài nước tại khu vực nghiên cứu

3.4.2 Phương pháp chuyên gia

Phân loại thực vật được giám định của các chuyên gia về thực vật tại các cơ

sở có uy tín (Viện Sinh thái và TNSV, Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên )

3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu

3.4.3.1 Liệt kê tự do

Liệt kê tự do là kỹ thuật thường được áp dụng trong nghiên cứu xã hội Áp dụng trong điều tra cây thuốc, liệt kê tự do cần được thực hiện qua hai giai đoạn: (i) liệt kê tự do và (ii) xác định cây thuốc

Liệt kê tự do: Là việc hỏi/ phỏng vấn một tập hợp người cung cấp tin

(NCCT), đề nghị họ cho tên tất cả các tên của cây làm thuốc

Chọn mẫu: NCCT được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên – phân tầng:

NCCT được phân thành một số nhóm nhất định (theo kinh nghiệm; dân tộc; độ tuổi; giới ), sau đó lấy ngẫu nhiên NCCT từ các loại đó

Phỏng vấn: Sử dụng một câu hỏi duy nhất cho tất cả NCCT, ví dụ: “Xin bác

(anh/chị/ông/bà) kể tên tất cả các cây trong khu vực có thể được sử dụng làm thuốc

mà bác (anh/chị/ông/bà) biết?” Điều quan trọng nhất khi phỏng vấn là đề nghị

NCCT liệt kê đầy đủ tên cây làm thuốc bằng tiếng dân tộc của mình Điều này tránh

được sự nhầm lẫn tên cây thuốc giữa các ngôn ngữ, văn hóa khác nhau

Với phương pháp luận theo đề cương xây dựng số người cần hỏi, thì thực tế

nghiên cứu khóa luận đã phỏng vấn 32 người đều đạt yêu cầu

Trang 23

Hình 3.1 Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có thể

dừng phỏng vấn khi số loài không tăng

Xử lý dữ liệu: Dữ liệu điều tra được xử lý bằng tay hay bằng các phần mềm

máy tính, bao gồm: (i) liệt kê tất cả các tên cây thuốc được NCCT nhắc đến, (ii)

đếm số lần tên cây thuốc n được nhắc đến (tần số nhắc đến), và (iii) xếp danh mục

các tên theo thứ tự nào đó, ví dụ như xếp theo tần số giảm dần Có thể xác định danh mục các loài được dùng làm thuốc tiêu biểu (hay các loài cốt lõi), là các loài

được nhiều NCCT nhắc đến, cộng với một số lượng lớn các loài được một số ít

NCCT hay chỉ một người nhắc đến Các loài tiêu biểu phản ánh sự tồn tại của một tiêu chuẩn văn hóa, tri thức chung của cộng đồng liên quan đến lĩnh vực cây thuốc trong khu vực điều tra Các loài còn lại thể hiện cái nhìn, tri thức, kinh nghiệm riêng

của các thành viên trong cộng đồng

3.4.3.2 Xác định cây thuốc

Sau khi xử lý dữ liệu và loại bỏ tên đồng nghĩa, chúng ta có trong tay một danh mục tên các cây được cộng đồng sử dụng là thuốc Tuy nhiên đây chỉ là danh mục bằng tên địa phương, chưa rõ tên nào thuộc loài nào Do đó, cần thiết phải xác

định tên phổ thông và tên khoa học của các cây mang tên đó Để làm được việc này,

cần thu thập mẫu tiêu bản của tất cả các tên cây thuốc đã được nêu ra trong danh mục,

Số người cung cấp tin

Số người cần hỏi

Trang 24

xử lý và định tên (tiến hành theo phương pháp điều tra theo tuyến) Việc xác định tên

khoa học của các mẫu cây thuốc dựa trên tên được liệt kê nói trên sẽ góp phần loại bỏ các tên đồng nghĩa trong phần liệt kê tự do lần nữa Như vậy số loài cây thuốc thực tế

có thể sẽ nhỏ hơn số tên thống kê được trong giai đoạn liệt kê tự do Cần chú ý là một tên địa phương có thể chỉ nhiều loài khác nhau, thường là các loài trong cùng một chi,

có đặc điểm hình thái giống nhau hay các loài có cùng công dụng

Số liệu điều tra của các mục trên được ghi vào các mẫu biểu có sẵn (Phụ lục

1 đến phụ lục 4)

3.4.3.3 Điều tra theo tuyến với người cung cấp tin quan trọng

Đây là phương pháp thường được áp dụng trong điều tra tài nguyên thực vật

Dựa trên cơ sở kết quả của bước liệt kê tự do, lựa chọn người cung cấp tin quan trọng và tiến hành xác định tên khoa học và vị trí phân loại của các loài cây thuốc trên thực địa

NCCT quan trọng là những người am hiểu về cây thuốc trong khu vực, thường là những người già, phụ nữ, tự nguyện cung cấp thông tin Mục tiêu điều tra

là xác định chính xác các loài cây đã được liệt kê tại bước liệt kê tự do Các bước thực hiện bao gồm:

+ Xác định tuyến điều tra: Tuyến điều tra có thể được xác định dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa hình và phân bố cây thuốc trong khu vực Để đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra, tuyến điều tra nên đi qua các địa hình và thảm thực vật khác nhau Trong điều tra tại cộng đồng, lấy trung tâm công đồng làm tâm và đi theo bốn hướng khác nhau Số lượng tuyến phụ thuộc vào thời gian và nhân lực sẵn có và thực tế đã điều tra 3 tuyến, mỗi tuyến điều tra ở 3 địa hình khác nhau (chân, sườn, đỉnh)

+ Thu thập thông tin tại thực địa: Cách đơn giản nhất là NCCT và điều tra viên cùng đi theo tuyến và phỏng vấn đối với bất kỳ cây nào gặp trên đường đi Cách thu thập thông tin khác, có hệ thống hơn, là NCCT và điều tra viên dừng lại tại mỗi điểm có sự thay đổi về thảm thực vật và phỏng vấn đối với tất cả các loài cây thuốc xuất hiện trong khu vực đó

Trang 25

Thông tin cần phỏng vấn bao gồm: Tên cây (tên địa phương), bộ phận dùng, cách dùng Để tiết kiệm thời gian người ta thường in sẵn một sổ mẫu biểu có các nội dung điều tra đã định trước và đánh dấu tại các nội dung phù hợp trong quá trình điều tra Bất kỳ cây nào được NCCT xác định là cây thuốc đều được thu thập

để xác định tên khoa học (Phụ lục 5)

+ Xử lý thông tin: Thông tin thu thập được theo phương pháp này thường có tính chất định tính, bao gồm: Danh mục loài (tên địa phương, tên khoa học, bộ phận dùng, công dụng, ), ước lượng tần số xuất hiện trong tuyến điều tra

3.4.3.5 Xác định các loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn

Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài:

+ Độ hữu ích của loài đối với người dân địa phương: Sử dụng thang 3 mức điểm

- Loài không có tiềm năng được dùng ở địa phương: 0 điểm

- Loài sử dụng ít đối với người dân địa phương: 1 điểm

- Loài có tầm quan trọng đối với người dân địa phương: 2 điểm

+ Mức độ để xâm nhập (vị trí mọc của loài để bị tìm thấy để khai thác): Sử dụng thang 2 mức điểm:

- Loài mọc ở nơi rất khó xâm nhập: 0 điểm

- Loài mọc ở nơi rất dễ xâm nhập: 1 điểm

+ Tính chuyên biệt về nơi sống (sự xuất hiện của loài thể hiện khả năng sống thích nghi của loài hạn hẹp hay phổ biến): Sử dụng thang 3 mức điểm:

- Loài xuất hiện ở nhiều nơi sống khác nhau: 0 điểm

- Loài xuất hiện ở một số ít nơi sống: 1 điểm

- Loài có nơi sống hẹp: 2 điểm

+ Mức độ tác động đến sự sống của loài (sự tác động của người dân ảnh hưởng đến sự sống của loài): Sử dụng thang mức 3 điểm:

- Loài có ít nhất vài nơi sống của loài ổn định: 0 điểm

- Loài có nơi sống phần nào không ổn định hay bị đe dọa: 1 điểm

- Loài có nơi sống không chắc còn tồn tại: 2 điểm

3.4.3.6 Phương pháp phỏng vấn và thảo luận nhóm

Trang 26

Sử dụng một số câu hỏi cho những người được chọn Trong khi phỏng vấn, yêu cầu người cung cấp thông tin đưa ra tên cây theo tiếng của dân tộc mình Quá trình phỏng vấn có thể diễn ra ở một chỗ (nhà, vườn hay trong rừng) hoặc cán bộ nghiên cứu cùng với người cung cấp tin vừa đi vừa phỏng vấn Cách thứ hai có ưu

điểm là trong một lúc, người cung cấp tin chưa thể nhớ hết các cây được sử dụng,

khi đi như vậy sẽ giúp họ gợi nhớ tốt hơn Trong phỏng vấn cần kết hợp cả các cách phỏng vấn sau:

+ Phỏng vấn mở: Là dạng phỏng vấn tự do, chúng ta có thể hỏi về bất kỳ cây nào với những câu hỏi tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khi đó, thứ tự các nội dung cần hỏi có thể thay đổi tuỳ ý dựa trên câu trả lời của câu hỏi trước của người cung cấp thông tin

+ Phỏng vấn bán cấu trúc: Một số câu hỏi được chuẩn bị trước và một số câu hỏi có thể thêm vào tuỳ theo các tình huống cụ thể

+ Phỏng vấn có cấu trúc (phỏng vấn sâu): Là phỏng vấn có sử dụng một bộ câu hỏi nhất định đối với những người cung cấp thông tin có chọn lọc tham gia

+ Phỏng vấn tái diễn (Trình diễn tri thức): Là cuộc phỏng vấn trong đó chúng ta yêu cầu người dân địa phương diễn giải lại một quy trình xử lý hay chế biến nào đó

+ Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin của người khác

đã đưa ra trong các lần phỏng vấn trước

Thảo luận nhóm: Sau khi có kết quả bước đầu về tri thức và kinh nghiệm

qua phỏng vấn, để kiểm tra độ chính xác cũng như để có thêm các thông tin bổ sung, đánh giá mức độ ưu tiên bảo tồn các loài cây thuốc, chúng tôi tiến hành thảo luận nhóm Nhóm thảo luận bao gồm cả những người tham gia và không tham gia phỏng vấn trước đó Trong khi thảo luận, cán bộ nghiên cứu lần lượt đưa các thông tin đã thu thập được ra để mọi người tranh luận, nhiều kinh nghiệm đã được chỉnh

lý và bổ sung qua quá trình này

3.4.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật học

Thu mẫu: Các mẫu vật được thu thập theo kinh nghiệm sử dụng của người

dân địa phương

Trang 27

Các mẫu tiêu bản tốt phải đảm bảo có đầy đủ các bộ phận đặc biệt là cành, lá cùng với hoa, quả (đối với cây lớn) hay cả cây (cây thảo nhỏ hay dương xỉ) Các cây lớn thu từ 3- 5 mẫu trên cùng cây; các cây thảo nhỏ và dương xỉ thì thu 3 - 5 cây (mẫu) sống gần nhau Điều này là rất cần thiết để bổ sung cho nhau trong quá trình

định mẫu và trao đổi mẫu vật Các mẫu được thu thập phải có tỷ lệ tương đối phù

hợp với kích thước chuẩn của mẫu tiêu bản: 41 x 29 cm

Tuy nhiên trong điều tra thực vật dân tộc học, các mẫu tiêu bản thu được thường không đầy đủ các tiêu chuẩn trên Trong các trường hợp này, cần thu thập các mẫu vật có thể (cành, lá, hoa, quả, hạt, rễ… ), các mẫu này không đủ cơ sở để xác định chính xác tên khoa học nhưng có thể định hướng cho quá trình thu thập thông tin kèm theo và thu mẫu tiêu bản bổ sung sau này

Bên cạnh các mẫu thực vật điển hình thì để mô phỏng cho giá trị sử dụng, chúng tôi còn thu thập các mẫu thực vật dân tộc học - các mẫu thực vật chứa đựng giá trị tri thức dân tộc như: Bộ phận dùng, các bộ phận có đặc điểm để phân biệt bởi tri thức dân tộc, các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật

Ghi chép thông tin: Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật phải được ghi

chép ngay tại hiện trường Các thông tin về thực vật cần có như: Dạng sống, đặc

điểm thân, cành, lá, hoa, quả trong đó đặc biệt lưu ý đến các thông tin không thể

hiện được trên mẫu tiêu bản khô như màu sắc hoa, quả khi chín, màu của nhựa, dịch, mủ; mùi, vị của hoa quả nếu có thể biết được… Bên cạnh đó, các thông tin về thời gian, địa điểm thu mẫu, điều kiện tự nhiên, sinh thái nơi sống, mật độ, người thu mẫu… cũng nên được ghi cùng

Các thông tin về thực vật dân tộc học được ghi chép thông qua tri thức của người cung cấp thông tin Có thể phỏng vấn trực tiếp hay quan sát cách thức thực hiện các tri thức đó để thu nhận thông tin Các thông tin cần ghi là: Tên dân tộc của cây, ý nghĩa của tên, mục đích sử dụng, bộ phận dùng, cách khai thác, bảo quản và

sử dụng, cách thức dùng khi phối hợp với các cây khác, nguồn gốc thông tin… Ngoài ra, do mẫu thực vật dân tộc thường không có đầy đủ các bộ phận để quan sát trực tiếp nên cán bộ điều tra đề nghị người cung cấp tin mô tả các bộ phận còn thiếu

Trang 28

tuy nhiên những mô tả này chỉ để tham khảo và định hướng tiếp theo chứ không

được coi là các mô tả thực vật vì cách nhìn nhận, mô tả của người dân không hoàn

toàn trùng khít với cách mô tả thực vật của người nghiên cứu Các thông tin có thể

được vào phiếu điều tra ngay tại hiện trường hoặc ghi vào sổ tay sau đó đến cuối

ngày phải vào phiếu

Xử lý mẫu: Trong khi thực địa, các mẫu được cắt tỉa cho phù hợp sau đó kẹp

vào giữa hai tờ báo (kích thước 45 x 30 cm) và được ngâm trong dung dịch cồn 40o

- 45o để mang về Khi về, mẫu được lấy ra khỏi cồn và được đặt giữa hai tờ báo khô, cứ như vậy thành từng tập, kẹp bằng kẹp mắt cáo để mang đi phơi hoặc sấy khô Mẫu có thể được xử lý độc và khâu hay không là tùy vào yêu cầu cụ thể

Định tên: Việc định tên được sử dụng theo phương pháp hình thái so sánh

Cơ sở để xác định là dựa vào các đặc điểm phân tích được từ mẫu vật, các thông tin ghi chép ngoài thực địa, từ đó so sánh với các khoá phân loại đã có hay với các bản

mô tả, hình vẽ Các tài liệu thường xuyên được dùng là: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Cây cỏ Việt Nam…

Các mẫu vật phức tạp, không có nhiều đặc điểm nhận dạng sẽ được chuyển cho các chuyên gia phân loại sâu để giám định

Lập danh lục: Từ các mẫu tiêu bản đã có tên, tiến hành lập danh lục thực

vật, Tên khoa học của các loài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” Danh lục cuối cùng được xây dựng theo nguyên tắc: Tên các

họ và trong mỗi họ thì tên cây được sắp xếp theo thứ tự abc Trong bảng danh lục

có các cột là: Số thứ tự, Tên dân tộc, tên phổ thông, tên khoa học, họ thực vật, chế biến và sử dụng, địa điểm thu mẫu

3.4.5 Phương pháp nội nghiệp

Tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu, thống kê tất cả các loài cây thuốc lên danh lục thực vật và viết báo cáo Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để phân tích xử lý thống kê

Trang 29

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Các loài cây thuốc phát hiện được ở cộng đồng dân tộc Tày tại khu vực nghiên cứu

Trên cơ sở điều tra, tôi đã thu thập được một số loài cây dùng làm thuốc của người dân, các loài cây thuốc được xác định theo tiếng địa phương và tên phổ thông, tôi đi cùng người dân lấy mẫu, mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái sau đó mang về làm tài liệu tra cứu xác định tên phổ thông cùng tên khoa học và họ thực vật và chia theo ngành của chúng Kết quả được tổng hợp thành bảng cây thuốc sau:

Bảng 4.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày khai thác sử dụng làm thuốc tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn

STT Tên phổ

thông

Tên địa phương

I.2 Schizaeaceae- Họ Thòng bong

2

Bòng bong Cút mây Lygodium

flexuosum Toàn cây Thông tiểu tiện

III Angiospermatophyta – Ngành hạt kín

A Lớp hai lá mầm

III.1 Amaranthaceae - Họ Rau dền

Trang 30

4

Cỏ xước

Nhả khoanh ngù

Achyranthes aspera

Toàn cây,chủ yếu là rễ

Ðau bụng kinh,

vô kinh, kinh nguyệt không

đều

III.2 Altingiaceae- Họ hồng quang

5 Sau sau Mạy sâu Liquidambar

formosana Lá, nhựa

Đau răng, mề đay

III.3 Araliaceae - Họ Nhân sâm

6 Đu đủ rừng Mác rầu

đông

Trevesia palmate Lõi thân và lá

Vỏ rễ, vỏ thân

Chống viêm, lợi tiểu

10 Hy thiêm Nhả khỉ cái Siegesbeckia

orientalis

Toàn cây trừ gốc rễ

Chữa sốt rét cơn lâu ngày, đờm

Viêm họng, mụn nhọt

Trang 31

14 Sài đất Nhả nháp Wedelia

chinensis Cả cây Mụn nhọt

15 Ngải cứu Nhả ngài Artemisia

japonica Lá, ngọn Chữa nhức đầu

16 Thanh thảo Ranh rảo Artemisia annua Cả cây, trừ rễ Chữa sốt rét

III.5 Caesalpiniaceae - Họ Vang

Giải độc, chữa bỏng, đắp vết thương

III 7 Euphorbiaceae- Họ thầu dầu

19 Chó đẻ răng

cưa Nhả rái

Phyllanthus amarus Thân và lá

Chữa sôt,đau mắt

III.8 Fabaceae- Họ đậu

22 Ba chẽ Mạy tặp

moong

Dendrolobium triangulare

Kháng khuẩn, chống viêm

23 Trinh nữ Nả nhẻn Mimosa pudica Cả cây Suy nhược thần

kinh, mất ngủ

III.9 Illiciaceae- Họ Hồi

24 Cây hồi Mác trác Illicium verum Lá và quả

Ngâm rượu xoa bóp chữa đau nhức, tê thấp,

Trang 32

đau bụng, bụng đầy chướng, giải

Phần trên mặt

đất và lá

Chữa cảm nắng, nhức đầu

26 Ích mẫu Nhả làm

ngài

Leonurus japonicas

Ngọn non, chưa có hoa

Chữa kinh nguyệt

bế tắc, đau bụng kinh

27 Cỏ mật gấu Nhả mật

gấu

Isodon lophanthoides Cả cây Tan máu bầm

III.11 Leeaceae- Họ Gối hạc

28 Gối hạc Chang ma Leea guineensis Rễ

Chữa sưng tấy,

đau bắp chuối

hay phong thấp sưng đầu gối

III.12 Malvaceae - Họ Bông

29 Cối xay Chỏ xay Abutilon

indicum Toàn cây

Chữa phù phũng sau khi đẻ

30 Vông vang Mạy phải

phi

Abelmoschus moschatus Lá Chữa mụn nhọt

III.13 Menispermaceae - Họ Tiết dê

31 Dây lõi tiền Cuổn chẻn Stephania longa Rễ và toàn

dây

Dùng trị rắn cắn, ghẻ ngứa

III.14 Moraceae - Họ Dâu tằm

32 Trâu cổ Mắc púp Ficus pumila Cả cây Đau lưng, mụn

Ardisia lindleyana Rễ Chữa Sốt rét

Trang 33

III.16 Passifloraceae - Họ Lạc tiên

34 Lạc tiên Mác đào

tiên

Passiflora foetida Toàn cây

Chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ

III.18 Polygonaceae - Họ Rau răm

36 Thồm lồm Cáy thướn Polygonum

chinense Lá Chữa suy tim

III.19 Rhamnaceae - Họ Táo ta

Chữa sưng tấy,đau nhức

III.20 Rubiaceae – Họ cà phê

38 Chè rừng Ché đông Aidia

cochinchinensis Toàn cây Đun nước uống

III.21 Rutaeceae – Họ cam

39 Chanh rừng Mác chanh

đông

Atalantia citroides Quả

Chữa ho, viêm họng

40 Ớt rừng Mác pất

đông

Micromelum falcatum Vỏ thân Chữa đau răng

41 Xuyên tiêu Mác khen Zanthoxylum

nitidum

Rễ , vỏ thân, cành lá, quả

Rắn cắn, trừ thấp, tiêu thũng

III.22 Sargentodoxaceae - Họ Huyết đằng

42 Huyết đằng Thau lượt Sargentodoxa

cuneata Thân cây

Chữa phong thấp, gân xương đau nhức, tay chân

đau mỏi

III.23 Scrophulariaceae- Họ hoa mõm chó

43 Nhân trần Bóoc sinh Adenosma Cả cây Thanh nhiệt, giải

Trang 34

III.27 Urticaceae - Họ gai

48 Cây lá gai Bâu pán Boehmeria

nivea Rễ,củ Lợi tiểu

III.28 Verbenaceae - Họ Cỏ roi ngựa

49 Mò mâm xôi Poòng pì Clerodendrum

philippinum Rễ

Chữa kinh nguyệt không đều, mụn nhọt

III.29 Vitaceae – Họ nho

50 Chè dây Mác ít

đông

Ampelopsis cantoniensis Toàn thân

Chữa trị viêm loét dạ dày

Chữa đau dạ dày, ho, hen phế quản

III.2 Araceae - Họ ráy

52 Ráy Vạt vẹo Alocasia odora Củ Chữa mụn nhọt,

ngứa chân, tay

Trang 35

53 Thiên niên

kiện Vạt hương

Homalomena occulta Thân, rễ

Chữa thấp khớp,

đau nhức xương

III.3 Asteliaceae - Họ Huyết dụ

54 Huyết dụ Dầu sung Cordyline

fruticosa Lá và rễ

Đái ra máu, lao

phổi, thổ huyết, mất kinh

III.4 Iridaceae - Họ diên vĩ

55 Rẻ quạt Dẻ quạt Belamcanda

Dùng lá giã ra lấy nước uống trị say rượu

III.6 Orchidaceae - Họ lan

58 Trầu một lá/

Lan một lá Bâu thoóc Nervilia fordii

Bong gân, thấp khớp

III.7 Pandanaceae – Họ dứa dại

59 Dứa dại Mác sựa

đông Pandanus kaida Quả

Chữa đái buốt,

đái rắt, đái đục, đái tháo đường

III.8 Poaceae – Họ lúa

60 Ý dĩ Mạy pắt Coix chinensis Quả

Chữa sỏi thận, nhức mỏi chân tay

61 Cỏ mần trầu Nhả pác

vài Eleusine indica Toàn cây

Chữa ho khan, tiểu tiện vàng

Trang 36

III.9 Trilliaceae – Họ Vương tôn

62 Bảy lá một

hoa Chất tó Paris polyphylla Thân, rễ

Thanh nhiệt, giải

độc,tiêu viêm

III.10 Zingiberaceae – Họ gừng

63 Nghệ đen Nghệ đăm Curcuma

zedoaria Củ Chữa đau dạ dày

64 Sa nhân Mác thẻng Amomum

villosum Hạt của quả

Kháng khuẩn, kích thích tiêu hóa

( Nguồn: Danh lục thực vật Việt Nam)

Dẫn liệu tại bảng 4.1 cho thấy có 65 loài cây thuốc, thuộc 42 họ và 3 ngành gồm: Ngành dương xỉ, ngành hạt trần và ngành hạt kín, trong 3 ngành trên ngành hạt kín phong phú và đa dạng hơn cả Các loài cây thuốc này không chỉ chữa một bệnh

mà có thể chữa được nhiều bệnh khác nhau, tùy theo sự hiểu biết của mỗi người trong cộng đồng dân tộc nghiên cứu Những hiểu biết của họ về công dụng, bộ phận sử dụng của các loài cây thuốc phụ thuộc nhiều vào độ tuổi, giới tính mà có những hiểu biết khác nhau Bởi vì những hiểu biết này phải trải qua thời gian tích lũy kinh nghiệm thực tiễn và khả năng quan sát tinh tế của từng cá nhân trong cộng đồng

4.2 Đặc điểm hình thái của một số cây tiêu biểu được cộng đồng dân tộc Tày

sử dụng làm thuốc

Những loài cây thuốc tiêu biểu của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn bao gồm 23 loài Đây là những loài cây có tỷ lệ

được nhắc tới trên 16%, cụ thể danh sách các loài được trình bày tại bảng 4.2

Ngoài ra còn có 42 loài được nhắc tới có tỷ lệ dưới 16% ( phụ lục 6)

Trang 37

Bảng 4.2: Danh sách các loài cây thuốc tiêu biểu STT Tên phổ thông Tên khoa học Số lần được nhắc đến

4 Chó đẻ răng cưa Phyllanthus amarus 20

5 Thiên niên kiện Homalomena occulta 19

9 Đu đủ rừng Trevesia palmate 15

12 Khúc khắc Heterosmilax

gaudichaudiana

12

18 Rau má lá rau muống Emilia sonchifolia 7

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2014)

Dẫn liệu tại bảng 4.2 cho thấy có 23 loài cây thuốc tiêu biểu thuộc 16 họ,

23 chi Trong đó có 3 loài cây thuốc quý hiếm, gồm: Bảy lá một hoa, kim tuyến

và khúc khắc Đây là những loài cây được cộng đồng dân tộc Tày khai thác và

sử dụng làm thuốc có giá trị cao về kinh tế cũng như dược liệu nhưng các loài này đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng do người dân khai thác và sử dụng quá mức

Các đặc điểm về hình thái cơ bản của 23 loài cây thuốc tiêu biểu được trình bày trong bảng 4.3:

Trang 38

Bảng 4.3: Bảng mô tả đặc điểm hình thái của một số loài cây tiêu biểu được

cộng đồng dân tộc Tày sử dụng làm thuốc STT Tên

Hoa đực có cuống ngắn, màu trắng

Hoa cái không có cuống, nhỏ hơn

Quả hình bánh xe, khi chín có màu

dỏ, 4 đến 5 lá noãn Mùa hoa vào các tháng 3-4

Cây thường mọc hoang ở các vùng trung du và miền núi

Hoa mọc đơn độc ở ngọn thân trên một trục cao 70-80 cm Lá đài màu xanh nom như lá; cánh hoa dạng sợi dài bằng đài, màu vàng Quả mọng, cao 3cm, hạt to màu vàng

Trang 39

2 hạt nhỏ hình tam giác Chó đẻ răng cưa mọc hoang dại khắp nơi trong các vùng, ven bờ ruộng, nương rẫy, chưa được gieo trồng

bẹ Cụm hoa hình bông mo, quả mọng

Cây mọc hoang ở miền núi nơi ẩm ướt dọc hai bên khe suối

6 Cà độc

dược

Cây thảo cao đến 2m, sống hằng năm, phần gốc của thân hoá gỗ Thân

và cành non màu xanh lục hay tím,

có nhiều lông tơ ngắn Lá đơn, mọc

so le; phiến lá nguyên, hình trứng nhọn, gốc phiến lá không đều Hoa

to, mọc đứng, thường đơn độc, màu xanh, cánh hoa màu trắng Quả hình cầu, màu lục, đường kính 3cm, có nhiều gai mềm mỏng ở mặt ngoài, khi chín nở làm 4 mảnh Hạt nhiều, nhăn nheo, màu nâu nhạt

Ngày đăng: 29/01/2016, 13:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có thể - Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Hình 3.1. Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có thể (Trang 23)
Bảng 4.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày khai thác sử  dụng làm thuốc tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn - Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Bảng 4.1 Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày khai thác sử dụng làm thuốc tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn (Trang 29)
Bảng 4.2: Danh sách các loài cây thuốc tiêu biểu - Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Bảng 4.2 Danh sách các loài cây thuốc tiêu biểu (Trang 37)
Bảng 4.3: Bảng mô tả đặc điểm hình thái của một số loài cây tiêu biểu được - Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Bảng 4.3 Bảng mô tả đặc điểm hình thái của một số loài cây tiêu biểu được (Trang 38)
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện bộ phận thu hái các loài cây thuốc - Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện bộ phận thu hái các loài cây thuốc (Trang 46)
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện cách bảo quản các loài cây thuốc - Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện cách bảo quản các loài cây thuốc (Trang 47)
Hình 4.2. Biểu đồ thể hiện cách dùng các loài cây thuốc    (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2014) - Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Hình 4.2. Biểu đồ thể hiện cách dùng các loài cây thuốc (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2014) (Trang 47)
Bảng 4.4: Các bài thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh - Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Bảng 4.4 Các bài thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hữu Khánh (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w