Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: "Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Qua
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lí tài nguyên rừng
Thái Nguyên – 2015
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lí tài nguyên rừng Lớp : 43 - QLTNR
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Công Hoan
TS Đỗ Hoàng Chung
Thái Nguyên – 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: "Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang" là công trình
nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công trình nghiên cứu được thực
hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Công Hoan và TS Đỗ Hoàng Chung Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được
nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra thực địa hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỉ luật của khoa và nhà tường đề ra
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015
XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan
Ma Thị Hiên
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng đánh giá chấm
(Ký, họ và tên)
Trang 4Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi
đã tiến hành thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang"
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, bản báo cáo thực tập tốt nghiệp của tôi đã hoàn thành
Vậy tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và hướng dẫn tôi
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Công Hoan
và thầy giáo TS Đỗ Hoàng Chung đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn các ban ngành lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Rừng đặc dụng Na Hang – Tuyên Quang và ban lãnh đạo xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang cùng người dân trong xã Khâu Tinh - huyện Na Hang, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Ma Thị Hiên
Trang 5Bảng 4.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày khai thác và sử dụng
làm thuốc tại xã Khâu Tinh 22 Bảng 4.2: Các bài thuốc được cộng đồng dân tộc Tày khai thác và sử dụng tại xã
Khâu Tinh 38 Bảng 4.3: Các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày khai thác và sử dụng làm thuốc
quan trọng cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng 45 Bảng 4.4: Mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái học của một số loài cây thuốc cần được ưu
tiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng dân tộc Tày 48
Trang 6
Hình 3.1 Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có thể
dừng phỏng vấn khi số loài không tăng 18 Hình 4.1: Biểu đồ về bộ phận thu hái một số loài cây thuốc được cộng đồng dân tộc
Tày khai thác và sử dụng 37 Hình 4.2: Tỷ lệ về cách sử dụng của các lòai thực vật được cộng đồng dân tộc Tày
sử dụng làm thuốc 56
Trang 8
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và mục tiêu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Mục tiêu 3
1.3 Ý nghĩa và yêu cầu của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.2 Yêu cầu của đề tài 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở thực hiện đề tài 5
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 6
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 8
2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 14
2.3.1 Vị trí địa lý 14
2.3.2 Địa hình địa thế 14
2.3.3 Khí hậu- thuỷ văn 14
2.3.4 Địa chất , thổ nhưỡng 15
2.3.5 Tài nguyên rừng 15
2.3.6 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội 15
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 17
3.2 Thời gian nghiên cứu 17
Trang 93.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản 18
3.4.2 Phương pháp chuyên gia 18
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 18
3.4.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật học 20
3.4.5 Phương pháp nội nghiệp 21
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
4.1 Các loài cây thuốc phát hiện được ở cộng đồng dân tộc Tày tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 22
4.2 Tri thức bản địa trong việc khai thác và sử dụng các loài cây thuốc trong một số bài thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Khâu Tinh 38
4.3 Các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày khai thác và sử dụng làm thuốc quan trọng cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng 45
4.4 Đặc điểm hình thái và sinh thái học của một số cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng dân tộc Tày 47
4.5 Tri thức bản địa về sử dụng một số loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày khai thác và sử dụng làm thuốc ở xã Khâu Tinh 55
4.6 Thuận lợi, khó khăn và các giải pháp trong việc bảo tồn và nhân rộng các loài cây thuốc, bài thuốc ở cộng đồng dân tộc Tày 57
4.6.1 Về khó khăn 57
4.6.2 Về thuận lợi 57
4.6.3 Một số giải pháp 58
Phần 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Tồn tại 60
5.3 Kiến nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho
du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng
Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến đây là nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dược học
Cho đến nay Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là khu vực Trường Sơn Thêm vào đó với những kinh nghiệm đã được tích lũy qua 4000 năm lịch sử, đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu cuộc sống từ ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh vv… của cộng đồng 54 dân tộc anh em Đó là một
ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó có nguồn tài nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống và sức khỏe của mọi người đặc biệt
là các đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa nơi cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên trong đó có rừng Theo các nhà phân loại thực vật ở Việt Nam giàu tài nguyên thực vật nhất Đông Nam Á, nơi có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao Trong đó có 3.948 loài được dùng làm thuốc (Viện dược liệu, 2002) [13] chiếm khoảng 37% số loài đã biết
Đó chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 54 dân tộc Việt Nam, cho đến nay chúng ta chỉ mới biết được có một phần Ngoài ra các nhà khoa học Nông Nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng trong đó cũng có 179 loài cây sử dụng làm thuốc Theo kết quả điều tra của viện dược liệu trong thời gian 2000 – 2002 số
Trang 11loài cây thuốc ở một số vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trường Sơn như sau: Đắc Lắc (751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (814 loài), Lâm Đồng (756 loài) Với hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc hết sức phong phú và đa dạng
Sức khỏe lại là một phần quan trọng của con người, trong mỗi chúng ta không phải lúc nào cũng khỏe và ai cũng khỏe cả, mà nhiều lúc ốm đau, bệnh tật thì cần phải có thuốc để chữa bệnh nhằm ổn định và nâng cao cuộc sống hằng ngày Với các đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh khi mà nguồn thuốc Tây Y không phục vụ đến kịp thời Các bài thuốc Nam lại là nguồn nguyên liệu sẵn
có, đó là các loài cây xung quanh mình để sử dụng làm thuốc an toàn và có hiệu quả Chính vì thế mà các loài thuốc dân gian của các đồng bào dân tộc nói chung và của dân tộc Tày nói riêng thật sự cần thiết và hết sức quan trọng đôi khi được xem như là “sức mạnh vô hình” cứu sống tính mạng con người
Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị suy giảm nghiêm trọng, kéo theo đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến
sử dụng bền vững bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa là một vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Đối với các cộng đồng dân tộc ở xã Khâu Tinh - huyện Na Hang - tỉnh Tuyên Quang, trong đó có dân tộc Tày họ có những bài thuốc, kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả trong việc chữa bệnh Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc Tày Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp,
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang"
1.2 Mục đích và mục tiêu
1.2.1 Mục đích
Tìm hiểu, đánh giá, hệ thống lại kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên
Trang 12Quang liên quan đến việc nghiên cứu và bảo tồn tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ Từ
đó, đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hệ thống kiến thức bản địa về khai thác, sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày một cách bền vững
1.3 Ý nghĩa và yêu cầu của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa của đề tài
•Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế
- Tích lũy những kinh nghiệm cho công việc khi đi làm
- Nâng cao kiến thức thực tế
- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế
• Ý nghĩa trong thực tiễn
- Góp phần vào việc quản lí tài nguyên rừng bền vững
- Phát hiện, bảo tồn và phát triển tiềm năng của thực vật rừng được cộng đồng dân tộc Tày khai thác và sử dụng làm thuốc
- Duy trì và phát huy hệ thống kiến thức bản địa về cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày
1.3.2 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực và chính xác
- Phát hiện tương đối đầy đủ về cây thuốc, bài thuốc được cộng đồng dân tộc Tày khai thác và sử dụng
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế phù hợp với điều kiện của địa phương
- Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi ra trường
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở thực hiện đề tài
Tri thức bao gồm sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên xung quanh con người Hệ thống tri thức là sản phẩm trí tuệ của loài người được tích lũy
từ những kinh nghiệm của quá trình lao động sản xuất thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày Hệ thống tri thức này hình thành trong thời gian dài lịch sử, tồn tại và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội qua sự trải nghiệm của nhân dân lao động
Vậy tri thức bản địa là gì? Theo định nghĩa chung cuả tổ chức Di sản văn hóa thế giới (UNESCO), tri thức bản địa là tri thức hoàn thiện được duy trì, tồn tại và phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên nó được truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất ít khi được ghi chép lại Tri thức bản địa là tri thức được tạo ra bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong một vùng nhất định Tri thức bản địa là nguồn tài nguyên quốc gia giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển theo những phương sách ít tốn kém, có sự tham gia của người dân và đạt được sự bền vững Các dự án phát triển dựa trên cơ sở tri thức bản địa sẽ lôi kéo được nhiều người dân tham gia, vì nó hợp với suy nghĩ của nhân dân, dân biết phải làm gì và làm như thế nào Đó chính là cơ sở của sự thành công Đặc điểm quan trọng của tri thức bản địa là luôn thích ứng với sự thay đổi của môi trường, các cộng đồng cư dân địa phương luôn có ý thức bản địa hóa những du nhập từ bên ngoài có lợi và thích
hợp với cộng đồng (dẫn theo Peter K.V (2012)) [15]
Trước đây người ta khái niệm lâm sản chủ yếu là gỗ, ít quan tâm đến các thành phần khác gỗ Ngày nay, trong các chiến lược phát triển bền vững của các dự án lâm nghiệp xã hội, nông lâm kết hợp người ta đã chú ý nhiều đến các lâm sản khác ngoài gỗ Và có khái niệm cơ bản về Lâm sản ngoài gỗ là bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ ở tất cả các hình thái của nó Các
Trang 15loài cây thuốc đa phần là các sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ thuộc một phần của tài nguyên thực vật Tài nguyên thực vật là tổng hợp của sinh quyển trong một loạt các thảm thực vật Tài nguyên thực vật như là các nhà sản xuất chính, để duy trì chu kỳ dinh dưỡng sinh quyển và cơ sở dòng năng lượng trên trái đất Tài nguyên thực vật giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người nói riêng và sinh vật nói chung Nhưng trong thời gian vừa qua tài nguyên này đã bị suy thoái nghiêm trọng do sự tác động tiêu cực của con người, chính vì vậy, gần đây Đảng và nhà nước ta đã có những chủ trương, đường lối mới như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật đất đai năm 2013, Luật đa dạng sinh học năm 2008, Nghị định
32 của Chính phủ năm 2010,…cùng với hàng loạt các văn bản khác đã ra đời nhằm bảo vệ và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lí Đây là một cơ sở pháp lí quan trọng để thực hiện thành công đề tài tri thức bản về khai thác và sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày ở xã Khâu Tinh
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc, nhiều nước đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng nhiều nguồn tài nguyên này xuất khẩu làm dược liệu và thu được nguồn ngoại tệ đáng kể Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng
cây thuốc để chữa bệnh Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này được in ấn lại Nội dung cuốn sách đã
đưa đến cho con người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Năm 1954 tác
giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây
thuốc, tác dụng sinh lý, hóa sinh của chúng, công dụng và cách phối họp các loại
cây thuốc theo từng địa phương như “Giang Tô tỉnh tực vật dược tài chí”, “Giang
Tô trung dược danh thực đồ thảo” “Quảng Tây trung dược trí” …(Trần Hồng Hạnh,1996) [5]
Trang 16Năm 1968 một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam, Trung Quốc đã
xuất bản cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc” cuốn sách đã đề
cấp tới cây Thảo quả với nội dung sau:
- Phân loại cây Thảo quả: gồm tên khoa học (Amomum tsao-ko Crevost Lemaire), tên họ Zingiberceae
- Hình thái: dạng sống, thân, gốc, rễ, lá, hoa, quả
- Vùng phân bố ở Trung Quốc
- Đặc điểm sinh thái: Khí hậu và đất đai
- Kỹ thuật gây trồng: Nhân giống, làm đất, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh
- Thu hoạch và chế biến, phẩm chất quy cách, bao gói, bảo quản
- Công dụng: Làm thuốc trị các bệnh về đường ruột
Đây là cuốn sách tương đối hoàn chỉnh đã giới thiệu một cách tổng quát và có hệ
thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học (Phan Văn Thắng, 2002) [11]
Vị thuốc “Đông Trùng Hạ Thảo” của người Trung Quốc có giá tới 2000-5000
USD/ Kg Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân Sâm đã mang lại một nguồn lợi kinh tế khá lớn cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này
Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.s.de Padua,
N Bunyapraphatsara và R.H.M.J.Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây
thuộc chi Amomum trong đó có Thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân
loại của Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của Thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sốc bảo
vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán Thảo quả trên thế giới (Phan Văn Thắng, 2002) [11]
Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tọc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay
có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu
Trang 17phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006) [8]
Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tác giả A.l.Ermakov, V.V Arasimovich… đã nghiên cứu thành công công trình
“Phương pháp nghiên cứu hóa sinh – sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ sở
cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc Các tác giả A.F.Hammermen, M.D Choupinxkaia và A.A Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và
giá trị kinh tế) trong tập sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N.G Kovalena đã
công bố rộng rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích
cao vừa không gây hại cho sức khỏe của con người Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn (dẫn theo Trần Thị Lan, 2005) [7]
Tiến sĩ James A.Dule – nhà dược lý học người Mỹ đã có nhiều đóng góp cho
tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các loại cây thuốc
(dẫn theo Trần Thị Lan, 2005) [7]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thích hợp cho sự phát triển của thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng Một số vùng cao lại có khí hậu á nhiệt đới, phù hợp với việc trồng cây thuốc ưa khí hậu mát Đặc biệt là nước ta có dãy núi Trường Sơn rộng lớn là nơi có rất nhiều cây thuốc phục vụ cho đồng bào nhân dân sống gần đó mà họ sống xa các trạm xá, bệnh viện thì việc cứu chữa tại chỗ là rất cần thiết và cấp bách nhất
Theo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền (CREDEP) từ trước đến nay nhiều địa phương trong nước đã có truyền thống trồng cây thuốc và có nhiều nghiên cứu về thuốc như: Quế (ở Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi…), Hồi (ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu…), Hòe (ở Thái Bình), vv…Có những làng chuyên trồng thuốc như Đại Yên (Hà Nội), Nghĩa Trai (Văn
Trang 18Lâm, Hưng Yên) Gần đây nhiều loài thuốc ngắn ngày cũng được trồng thành công trên quy mô lớn như: Bạc Hà, Ác Ti sô, Cúc Hoa, Địa Liên, Gấc, Hương Nhu, Ích Mẫu, Kim Tiền Thảo, Mã Đề, Sả, Thanh Cao hoa vàng, Ý Dĩ , vv…[18]
Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các cây
thuốc và vị thuốc để chữa bệnh như: Đỗ Tất Lợi (1999) trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” giới thiệu 800 cây để làm thuốc; Sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 cây thuốc; Võ Văn Chi có cuốn
“Từ Điển cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc trong đó có cả cây thuốc nhập
nội… Theo tài liệu của Viện Dược liệu (2002) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một
số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ Trong những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô [14]
Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatin từ rễ,
củ của một số loài Bình vôi thì việc khai thác chúng cũng được tiến hành ồ ạt Để tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc ngủ rotundin người ta đã khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà trong đó có loại không chứa hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin không đáng kể Do khai thác bừa bãi
để chế biến trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà nhiều loại Bình vôi trở nên rất hiếm Đến năm 1996, tuy mới biết được trên 10 loài
thuộc chi Bình vôi (Stephania) thì đã có 4 loài phải đưa vào sách đỏ việt Nam (Viện Dược Liệu, 2002) [13]
Theo Lê Trần Đức (1997), Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền
phương Đông, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae) Trên thế giới chi Amomum roxb có khoảng 250 loài phân bố phân bố chủ yếu ở vùng
nhiệt đới núi cao Ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24 loài
Trang 19Ở nước ta, Sa nhân phân bố hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có khoảng
30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đã được xác định chắc chắn Ở Viện dược liệu và trường Đại học Dược hiện có 12 mẫu vật chưa đủ tài liệu định tên loài đều mang tên Sa nhân Ở Việt Nam, Sa nhân đã được biết đến
từ rất lâu đời là vị thuốc cổ truyền trong y học dân tộc bước đầu đã thống kê được trên 60 đơn vị thuốc có vị Sa nhân dùng trong các trường hợp ăn không tiêu, kiến
lỵ, đâu dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng, …Ngoài ra Sa nhân còn dùng trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu Các tác giả đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấu tạo, nơi phân bố, kỹ thuật, thời gian
trồng, thu hoạch của Sa nhân [4]
Khi nghiên cứu về trồng cây Nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng, Nguyễn Ngọc Bình (2000) đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới tán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các họ gia đình nhận khoán, bảo vệ, khoanh nuôi rừng Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân
bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích, Sa nhân, Thảo quả, Trám trắng, Mây nếp, … [2]
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền (2000) tại xã Địch Quả- huyên Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của cộng đồng dân tộccho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở đây Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên những kiến thức quý báu này chưa được phát huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào đó họ còn đưa ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ, và các điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc; Đánh giá mức độ tác động của người đân địa phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồng tài nguyên cây thuốc [6]
Trong công trình cây thuốc – nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có
nguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo (2003) đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt
nguồn tài nguyên cây thuốc như: diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả Từ đó tác giả
Trang 20cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị Y học và kinh tế, quý hiếm, đặc hữu,
có nguy cơ tuyệt chủng) và sự đa dạng di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức Y học cổ truyền và Y học dân gian gắn với sử dụng bền vững và phát triển cây thuốc [1]
Nguyễn Văn Thành (2004) khi nghiên cứu một số bài thuốc, cây thuốc dân gian của cộng đồng dân tộc thiểu số tại buôn Đrăng-Phốk vùng lõi vườn Quốc gia Yok Đôn, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăc Lắc đã chỉ ra các bài thuốc, cây thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống từ đó lựa chọn các bài thuốc, cây thuốc hay, quan trọng để bảo tồn và phát triển, nhân rộng dựa trên cơ sở
sự lựa chọn có sự tham gia của người dân Đề tài đã ghi nhận được 46 bài thuốc với tổng cộng 69 loài cây làm thuốc mà người dân tại cộng đồng đã sử dụng để điều trị
từ các bệnh thông thường đến các bệnh có thể gọi là nan y và đã sắp xếp thành 9 nhóm các bài thuốc theo nhóm bệnh [10]
Trong 2 năm 2004-2005 Ngô Qúy Công (2005) đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, nghiên cứu
kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại Đề tài được Quỹ nghiên cứu của Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam – pha II tài trợ, nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do
bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm
áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những
giải pháp và đề xuất hợp lý để bảo tồn và phát triển [3]
Theo Nguyễn Văn Tập (2005), để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường cây thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn chuyển vị kết hợp với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy các loại cây thuốc quý hiếm
Trang 21mới thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng Đồng thời lại tạo ra thêm nguyên liệu để làm
thuốc ngay tại các vùng phân bố vốn có của chúng [8]
Cũng trong thời gian này tác giả Nguyễn Văn Tập (2005) và cộng sự đã điều
tra đánh giá hiện trạng và tiềm năng về y học cổ truyền trong cộng đồng các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, kết quả đã thu thập được nhiều cây thuốc, bài thuốc các thời gian trong cộng đồng thường sử dụng, nhằm kế thừa và quảng bá rộng rãi những tri thức
bản địa này.[8]
Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản – Viện
Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ chức điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm - Hoàng Bồ - Quảng Ninh và ghi nhận được 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật, tất cả đều là cây thuốc mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi Trong
đó có 8 loài được coi là mới chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam
(Nguyễn Văn Tập, 2006) [9]
Đỗ Hoàng Sơn (2008) và cộng sự đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác,
sử dụng vầ tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm có
459 loài cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật là:
Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta Người dân thuộc
vùng đệm ở đây chủ yếu là cộng đồng dân tộc Sán Dìu sử dụng cây thuốc để chữa
16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trong rừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sở các nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên và bảo tồn [12]
Theo Nguyễn Văn Tập trong nguồn Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả Rêu và Nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên chủ yếu
Trang 22trong các quần thể rừng Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua cùng với nhiều nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã bị giảm sút nghiêm trọng, biểu hiện qua các thực tế sau:
- Hầu hết các cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù có vùng
phân bố rộng lớn, trữ lượng tự nhiên tới hàng ngàn tấn, như Vằng đắng (Coscinium fenestratum); Các loài Bình vôi (Stephania Spp)… hoặc hàng trăm tấn như Hoằng đắng (Fidraurea timctoria)… nhưng do khai thác quá mức, không chú ý bảo vệ tái
sinh, dẫn đến tình trạng mất khả năng khai thác Một số loài thuộc nhóm này như
Ba kích (Morinda offcinalis); Đẳng sâm (Codonopsis javanica)… đã phải đưa vào
Sách đỏ Việt Nam (1996) và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004) nhằm khuyến cáo bảo vệ
- Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâm mọc
tự nhiên, Hoàng liên, Lan một lá,…đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao
(Nguyễn Văn Tập, 2005) [8]
Việt Nam là một nước có tài nguyên rừng rất đa dạng và phong phú nhưng vì
ở trong những khu rừng hay gần rừng lại thường tập trung nhiều thành phần dân tộc sinh sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, kiến thức bản địa trong việc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng khác nhau Nên hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảm sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị suy giảm trong đó có cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn sử dụng tài nguyên cây thuốc bản địa là một việc rất cần thiết Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số, họ có những bài thuốc kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng chữa bệnh lại hiệu quả rất cao Tuyên Quang cũng là một tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống đặc biệt là huyện Na Hang nơi có khá nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống trong rừng và gần rừng, trong đó có dân tộc Tày Chính vì vậy, đây là một nơi lý tưởng cho nghiên cứu kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên
Trang 23cây thuốc, các bài thuốc dân gian từ thiên nhiên cuả cộng đồng dân tộc địa phương nơi đây
2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.3.1 Vị trí địa lý
Xã Khâu Tinh cách trung tâm huyện lỵ Na Hang 75km về phía Bắc, có tổng diện tích đất tự nhiên là 8.445,8 ha, có vị trí tiếp giáp với các đơn vị sau:
- Phía Bắc giáp các xã: Côn Lôn, Yên Hoa
- Phía Nam giáp với thị trấn Na Hang
- Phía Đông giáp các xã: Sơn Phú, Đà Vị
- Phía Tây giáp với xã Năng Khả
2.3.2 Địa hình địa thế
Địa hình xã Khâu Tinh chủ yếu là núi, núi cao nhất có độ cao 1200m, độ cao trung bình khoảng 600m - 700m so với mực nước Biển Mang đặc điểm của vòng cung núi đá vôi Lô Gâm ở vùng Đông Bắc Việt Nam có địa hình dốc, các dãy núi
đá vôi hiểm trở và các bãi phù xa xâm lấn trong thung lũng dọc theo con sông Năng, với các hệ thống hang động rộng khắp
2.3.3 Khí hậu- thuỷ văn
Khí hậu tại địa bàn xã Khâu Tinh được chia thành hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô, trong đó mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Nhiệt độ trung bình năm: 220- 240C; Nhiệt độ cao nhất: 350- 380C; Nhiệt độ thấp nhất: 40C, có năm nhiệt độ xuống tới 10C Hàng năm, vùng núi cao thường xuất hiện sương muối và băng giá, độ ẩm không khí trung bình
là 85%
Xã Khâu Tinh có hai hệ thống sông chính là sông Năng và sông Gâm, có một
hồ ngăn nước để phục vụ tưới tiêu cây nông nghiệp ngoài ra còn có hệ thống ao, đầm, khe suối nhỏ chảy từ các dãy núi cao
Mạng lưới sông ngòi nhỏ khá dày song chế độ nước lại không đều giữa các mùa trong năm Khu bảo tồn có nhiệm vụ quan trọng về bảo vệ đầu nguồn của 2 con sông này, cùng các nhánh của chúng Sông Năng (hiện bị ngập lũ do xây dựng đập thuỷ điện và tạo thành hồ) chia Khu bảo tồn thành 2 khu vực, còn sông Gâm
Trang 24phía trên đập trở thành hồ và tạo thành ranh giới phía Tây của Khu bảo tồn Các vùng ngập lũ của cả hai sông này tạo thành lũ cắt ngang vùng núi Pác Ta ở phía Tây
bờ đập, dưới đập sông Gâm chảy về phía Nam và gặp sông Lô
2.3.4 Địa chất , thổ nhưỡng
Xã Khâu Tinh có 4 loại đá mẹ chính: Đá Granit, đá Phiến thạch sét, đá vôi, đá Sa thạch Trong khu bảo tồn có những loại đất chủ yếu sau:
- Đất Feralit màu vàng nhạt trên núi thấp, tầng đất có nhiều mùn
- Đất Feralit màu đỏ vàng trên núi cao, tầng đất mỏng, có nhiều mùn
- Đất Feralit vàng đỏ trên sườn đồi và chân núi, tầng đất dày, có mùn
- Đất Feralit màu sẫm chân núi đá vôi
- Đất Feralit màu vàng nâu phát triển trên đá phiến thạch sét
2.3.5 Tài nguyên rừng
Theo tài liệu điều tra, thống kê của Cục Bảo vệ Môi trường, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật năm 2007, xã Khâu Tinh là một trong 4 xã thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang Về động vật: Thú có 87 loài thuộc 25 họ, 8 bộ, có 24 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; chim có 277 loài thuộc 45 họ, 13 bộ, có 19 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; bò sát, ếch nhái có 48 loài thuộc 17 họ, 3 bộ, có 11 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; côn trùng có 463 loài thuộc 50 họ, 11 bộ, có 3 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam; động vật thủy sinh có 76 loài thuộc 14 họ, 5 bộ, có 5 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam Về thực vật có 844 loài thuộc 127 họ, có 7 loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam
Diện tích đất lâm nghiệp 7.270 ha, chiếm 86 % diện tích đất tự nhiên của toàn
xã, trong đó diện tích đất có rừng 6.908,1 ha: Rừng đặc dụng 6.183,2 ha, rừng phòng hộ 582,9 ha, rừng sản xuất 142,0 ha; diện tích đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp 361,9 ha Độ che phủ của rừng đạt 82 %
2.3.6 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội
Xã Khâu Tinh có tổng dân số 1434 nhân khẩu, gồm 306 hộ gia đình, được phân chia thành 04 thôn, bản: Khâu Phiêng, Nà Lũng, Khâu Tinh, Tát Kẻ Thành phần dân tộc trên địa bàn xã không phức tạp, có 3 dân tộc chính là Tày ưu thế chiếm 39% số hộ,
Trang 25H'mông chiếm 43 % số hộ, Dao chiếm 16 % số hộ, ngoài ra là dân tộc Kinh, Mường, Hoa chiếm 2%
Về tình hình kinh tế - xã hội tại các thôn, bản trong xã tốc độ phát triển tương đối chậm, cơ cấu nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao Đa phần là lao động nông nghiệp, thất nghiệp theo thời vụ lớn, mức thu nhập bình quân thấp Nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây dựa chủ yếu vào các hoạt động nông nghiệp (với Lúa và Ngô là các cây trồng chính)
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Chỉ nghiên cứu các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày sử dụng làm thuốc
- Địa điểm nghiên cứu: Tại cộng đồng dân tộc Tày sống ở xã Khâu Tinh, huyện Na
Hang, tỉnh Tuyên Quang
3.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8/2014 đến tháng 11/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
Từ mục đích và mục tiêu nghiên cứu đặt ra của đề tài có những nội dung cơ bản sau:
Nội dung 1: Xác định các loài thực vật, tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa
học, họ thực vật và công dụng của các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày sử dụng làm thuộc
Nội dung 2: Liệt kê tên cây thuốc, bộ phận sử dụng, cách pha chế của các bài
thuốc được cộng đồng dân tộc Tày ở xã Khâu Tinh sử dụng
Nội dung 3: Xác định được một số loài cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn và
phân hạng mức độ đe dọa của một số loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng dân tộc Tày
Nội dung 4: Mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái một số loài cây thuốc cần
được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng dân tộc Tày
Nội dung 5: Hệ thống lại kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng một
số loài thực vật được người dân sử dụng làm thuốc như: Bộ phận thu hái, cách
sử dụng
Nội dung 6: Đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hệ thống
kiến thức bản địa của cộng đồng dân tộc Tày
Trang 273.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản
Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cùng các tài liệu có liên quan tớí các chuyên đề của các tác giả trong và ngoài nước tại khu vực nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp chuyên gia
Phân loại thực vật được giám định của các chuyên gia về thực vật tại các cơ sở có uy tín (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên)
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.3.1 Liệt kê tự do
Liệt kê tự do là kỹ thuật thường được áp dụng trong nghiên cứu xã hội Áp dụng trong điều tra cây thuốc, liệt kê tự do cần được thực hiện qua hai giai đoạn: liệt kê tự do và xác định cây thuốc
Liệt kê tự do: Là việc hỏi/ phỏng vấn một tập hợp người cung cấp tin (NCCT),
đề nghị họ cho biết tên tất cả các cây được dùng làm thuốc
Phỏng vấn: Sử dụng một số câu hỏi để hỏi NCCT điều quan trọng nhất khi phỏng vấn là đề nghị NCCT liệt kê đầy đủ tên cây làm thuốc bằng tiếng dân tộc của mình
Hình 3.1 Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng
Số tên cây thuốc
Số người cung cấp tin
Số người cần hỏi
Trang 28Xử lý dữ liệu: Dữ liệu điều tra được xử lý bằng tay hay bằng các phần mềm
máy tính, bao gồm: liệt kê tất cả các tên cây thuốc được NCCT nhắc đến, đếm số lần tên cây thuốc n được nhắc đến (tần số nhắc đến), và xếp danh mục các tên theo thứ tự hợp lí
3.4.3.2 Xác định cây thuốc
Sau khi xử lý dữ liệu và loại bỏ tên đồng nghĩa, chúng ta có trong tay một danh mục tên các cây được cộng đồng sử dụng là thuốc Tuy nhiên đây chỉ là danh mục bằng tên địa phương, chưa rõ tên nào thuộc loài nào Do đó, cần thiết phải xác định tên phổ thông và tên khoa học của các cây mang tên đó Để làm được việc này, cần thu thập mẫu tiêu bản của tất cả các tên cây thuốc đã được nêu ra trong danh mục,
xử lý và định tên
3.4.3.3 Điều tra theo tuyến với người cung cấp tin quan trọng
Đây là phương pháp thường được áp dụng trong điều tra tài nguyên thực vật Dựa trên cơ sở kết quả của bước liệt kê tự do, lựa chọn người cung cấp tin quan trọng và tiến hành xác định tên khoa học và vị trí phân loại của các loài cây thuốc trên thực địa Mục tiêu điều tra là xác định chính xác các loài cây đã được liệt kê tại bước liệt kê tự do Các bước thực hiện bao gồm:
+ Xác định tuyến điều tra tại cộng đồng dân tộc Tày, lấy trung tâm công đồng làm tâm và đi theo bốn hướng khác nhau Số lượng tuyến phụ thuộc vào thời gian
và nhân lực sẵn có
+ Thu thập thông tin tại thực địa: đi theo tuyến và phỏng vấn NCCT đối với bất kỳ cây nào gặp trên đường đi hoặc dừng lại tại mỗi điểm có sự thay đổi về thảm thực vật và phỏng vấn đối với tất cả các loài cây thuốc xuất hiện trong khu vực đó + Xử lý thông tin: Thông tin thu thập được theo phương pháp này thường có tính chất định tính, bao gồm: Danh mục loài (tên địa phương, tên khoa học, bộ phận dùng, công dụng, )
3.4.3.4 Xác định các loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn
Dựa vào điều tra, phỏng vấn người dân phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài:
+ Độ hữu ích của loài đối với người dân địa phương: sử dụng thang 3 mức điểm
Trang 29- Loài không có tiềm năng được dùng ở địa phương: 0 điểm
- Loài sử dụng ít đối với người dân địa phương: 1 điểm
- Loài có tầm quan trọng đối với người dân địa phương: 2 điểm
+ Mức độ để xâm nhập (vị trí mọc của loài để bị tìm thấy để khai thác): sử dụng thang 2 mức điểm
- Loài mọc ở nơi rất khó xâm nhập: 0 điểm
- Loài mọc ở nơi rất dễ xâm nhập: 1 điểm
+ Tính chuyên biệt về nơi sống (sự xuất hiện của loài thể hiện khả năng sống thích nghi của loài hạn hẹp hay phổ biến): sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài xuất hiện ở nhiều nơi sống khác nhau: 0 điểm
- Loài xuất hiện ở một số ít nơi sống: 1 điểm
- Loài có nơi sống hẹp: 2 điểm
+ Mức độ tác động đến sự sống của loài (sự tác động của người dân ảnh hưởng đến sự sống của loài): sử dụng thang mức 3 điểm
- Loài có ít nhất vài nơi sống của loài ổn định: 0 điểm
- Loài có nơi sống phần nào không ổn định hay bị đe dọa: 1 điểm
- Loài có nơi sống không chắc còn tồn tại: 2 điểm
3.4.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật học
- Thu mẫu: Các mẫu vật được thu thập theo kinh nghiệm sử dụng của người dân địa phương
- Ghi chép thông tin: được ghi chép ngay tại hiện trường, các thông tin về thực vật cần có như: Dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả dùng máy ảnh chụp trực tiếp mẫu khi tìm thấy
- Xử lý mẫu: các mẫu được cắt tỉa cho phù hợp sau đó kẹp vào giữa hai tờ báo
(kích thước 45 x 30 cm) cố thể phơi nắng để hạn chế hỏng mẫu do mưa ẩm để mang
về Khi về mang đi phơi hoặc sấy khô
- Định tên: Việc định tên được sử dụng theo phương pháp hình thái so sánh
Cơ sở để xác định là dựa vào các đặc điểm phân tích được từ mẫu vật, các thông tin ghi chép ngoài thực địa, từ đó so sánh với các khoá phân loại đã có hay với các bản
mô tả, hình ảnh
Trang 30- Lập danh lục: Từ các mẫu tiêu bản đã có tên, tiến hành lập danh lục thực vật, Tên khoa học của các loài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” [17]
3.4.5 Phương pháp nội nghiệp
Tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu, thống kê tất cả các loài cây thuốc lên danh lục thực vật và viết báo cáo Sử dụng phần mềm Microsoft Excel hoặc Microsoft Word để thống kê
Trang 31PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Các loài cây thuốc phát hiện được ở cộng đồng dân tộc Tày tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Trên cơ sở nghiên cứu điều tra, thu thập và xử lí thông tin, tôi đã thống kê được các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày khai thác và sử dụng làm thuốc Qua đó mô tả được đặc điểm hình thái, sinh thái một cách tương đối, xác định tên phổ thông, tên khoa học, ngành và họ thực vật của từng loài cây thuốc Kết quả đã xác định được 110 loài cây thuốc trong tổng số 59 họ thuộc 2 ngành thực vật hạt kín
và hạt trần là chủ yếu Dưới đây là bảng 4.1 hệ thống chi tiết về kết quả trên:
Bảng 4.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Tày khai thác và
sử dụng làm thuốc tại xã Khâu Tinh
STT Tên phổ
thông
Tên địa phương Tên khoa học
Bộ phận
I Ngành hạt trần
I.1 Podocarpaceae – Họ thông tre
Chữa ho ra máu
và sưng cuống phổi, dùng làm thuốc giải độc
cáy Celosia var cristata
Cụm hoa và hạt
Cầm máu, chữa sốt,…
II.2 Annacardiaceae – Họ Xoài
Trang 324 Dâu da xoan
-
Allospondias lakonensis
Lá, vỏ, thân Chữa ho, đau
nhức, sưng đầu gối,…
II.3 Apiaceae- Họ Hoa tán
nepalensis
Toàn cây Chữa thổ huyết,
tả lỵ, mụn nhọt, rôm sẩy…
II.4 Apocynaceae – Họ Trúc đào
chàng
Rauvolfia vervicillata
Vỏ rễ và rễ Hạ huyết áp
kinh, kiết lỵ, tiêu chảy
II.5 Araceae – Họ Ráy
paeoniifolius
ngực tức, bụng đầy,…
gigantean
gân cốt, kích thích tiêu hóa
Trang 33II.7 Asteliaceae – Họ Huyết dụ
-
Cordyline terminalis
Hoa, lá và
rễ
Trị chứng chảy máu cam, kiết lỵ chảy ra máu, ho
Lá, cành Thanh nhiệt, giải
độc, trị vú sưng đau, nhọt sưng đau
thửa
Spilanthes paniculata
strumarium
hàn, đau khớp,
lở ngứa,…
Trang 3421 Mần tưới
-
Eupatorium staechadosmum
sốt, mụn nhọt, lở ngứa
sơ cứu vết thương,…
Wedelia chinensis Toàn cây Tiêu độc, chữa
viên tấy ngoài
thấp, hoạt huyết, rắn rết cắn
II.10 Bignoniaceae - Họ Chùm ớt
cấp và mãn tính, viêm gan vàng da…
II.11 Campanulaceae - Họ Hoa chuông
javanica
nhức mỏi, đầy bụng, tức ngực, kiết lỵ, tiêu chảy
II.12 Caprifooliaceae - Họ Cơm cháy
Trang 35II.13 Caryophyllaceae – Họ Cẩm chướng
II.14 Cucurbitaceae - Họ Bầu Bí
khẩu
Momordica cochinchinensis
II.15 Cusaitaceae – Họ Tơ hồng
hạt
Chữa mụn nhọt, tiểu tiện không thông, hen, viêm sỏi thận…
II.16 Crassulaceae - Họ Thuốc bỏng
viêm họng, phù thận,…
II.17 Costaceae – Họ Mía dò
loạn tiêu hóa, đau bụng,…
Trang 3636 Sổ
-
Dillenia hererosepala
ho, phù thũng, đầy bụng
thổ huyết, viêm khí quản mạn tính
II.20 Erythropalum - Họ dây hương
39
scandens
Lá, ngọn non
Chữa viêm thận, viêm gan, viêm đường tiết liệu, tiểu tiện không thông
II.21 Euphorbiaceae - Họ Thầu dầu
-
Breynia fruticosa Lá, vỏ cây Chữa rắn cắn,
giun chỉ, cầm máu,…
arenarioides
mẩn ngứa, viêm loét, ho hen
Trang 37lá
Trị táo bón, viêm
mủ da, phong thấp đau nhức khớp
II.22 Fabaceae - Họ Đậu
-
Dendrololium lanceolatum
Toàn cây Thanh nhiệt, giải
độc, tiêu viêm, lợi thủy
hạt, rễ
Chữa táo bón, phù thũng, viêm
da thần kinh, hắc lào
lá và hoa
Trị kiết lị, tiêu chảy, giun sán,
hạ nhiệt, giảm đau
II.23 Iridaceae - Họ Lay ơn
II.24 Laauceae - Họ Long não
Trang 3851 Quế Que Cinnamomum
loureirii
cành và quả
Chữa đau bụng, đau thắt lưng, trị vẩy nến,mề đay
II.25 Lamiaceace - Họ Hoa môi
đeng
Hyptis suaveolens Toàn cây Chữa cảm sốt,
ho do cảm lạnh, đau bụng, mụn nhọt
II.26 Leeaceae - Họ Gối hạc
đau nhức khớp xương, đau bụng,…
II.27 Loranthaceae – Họ Tầm gửi
nghiến
Phác mạy nghiển
khỏe gân cốt, giảm đau nhức các khớp xương, thường ngâm với rượu uống
nghịu
Helixanthera sp Cả cây Bổ thận, mạnh
gân xương, phong thấp, an thai; thường dùng trị phong thấp, tê bại, lưng gối mỏi đau, gân xương nhức mỏi, thai động không yên, đau bụng,
Trang 39huyết áp cao
II.28 Malvaceae - Họ Bông
rễ
Chữa mụn nhọt, kiết lị, quai bị, viêm tuyến mang tai
toàn cây
Chữa lị, rắn độc cắn,…
II.29 Marantaceae - Họ Hoàng tinh
đeng
Phrynium placentarium
độc
II.30 Melastomataceae - Họ mua
normale
băng huyết, tụ máu bầm tím, ung thư dạ dày
II.31 Meliaceae - Họ Xoan
II.32 Menispermaceae - Họ Tiết dê
tong
Stephania rotunda Củ Chữa an thần,
mất ngủ, nhức đầu, khó thở,…
đúc
Timospora sinensis Dây và lá Chữa sốt rét,
đau dây thần kinh hông, phong thấp,…
rễ
Chữa viêm ruột, viêm gan, đau mắt,…
Trang 40chẻn hirsute kiết lị, đái dắt,…
II.33 Mimosaceae - Họ Trinh nữ
II.34 Moraceae - Họ Dâu tằm
cành, quả
Chữa lao hạch, táo bón, phổi nóng, táo bón,…
II.35 Musaceae - Họ Chuối
thanh nhiệt, giải độc, chữa bệnh trầm cảm, thiếu máu,…
II.36 Myristicaceae – Họ Máu chó
II.37 Myrsinaceae - Họ Đơn nem
Maesa montana Cả cây Chữa đau răng,
đau tai, băng huyết, đái ra máu,…
II.38 Myrtacea – Họ Sim
-
Melaleuca leucadendra
Lá, vỏ Trị sổ mũi, thấp
khớp đau nhức xương, viêm ruột