1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện mường khương, tỉnh lào cai

68 513 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 833,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHAN HẢI NAM NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG CÁC LOÀI CÂY LÀM PHẨM MÀU THỰC PHẨM TẠI HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI KHOÁ LUẬN TỐ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHAN HẢI NAM

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG CÁC LOÀI CÂY LÀM

PHẨM MÀU THỰC PHẨM TẠI HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG

TỈNH LÀO CAI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHAN HẢI NAM

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG CÁC LOÀI CÂY LÀM

PHẨM MÀU THỰC PHẨM TẠI HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG

TỈNH LÀO CAI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực Các loại số liệu, bảng biểu được

kế thừa, điều tra dưới sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền chứng nhận

Xác nhận của Hội đồng phản biện

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi sinh viên, đây là thời gian

để sinh viên làm quen với công tác điều tra, nghiên cứu, áp dụng những kiến thức lý thuyết với thực tế nhằm củng cố và nâng cao khả năng phân tích, làm việc sáng tạo của bản thân phục vụ cho công tác sau này Đồng thời đó là thời gian quý báu cho tôi có thể học tập nhiều hơn từ bên ngoài về cả kiến thức chuyên môn và không chuyên môn như giao tiếp, cách nhìn nhận công việc và thực hiện công việc đó như thế nào

Xuất phát từ nhu cầu thực tế và nhu cầu bản thân đồng thời được sự đồng ý

của Ban chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tri thức

bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai”

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo ThS La Quang Độ người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, các cấp lãnh đạo, người dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai và bạn sinh viên thực tập đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành cuốn khóa luận này

Với trình độ năng lực và thời gian có hạn, bản thân lần đầu tiên xây dựng một khóa luận, mặc dù đã hết sức cố gắng song không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo

và các bạn để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn! Thái nguyên, ngày … tháng… năm

2015

Sinh viên

Phan Hải Nam

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4 1: Thống kê các loài cây nhuộm màu thực phẩm 25

Bảng 4 2: Một số loài cây sử dụng vào nhuộm màu thực phẩm 27

Bảng 4 3: Tỉ lệ các dạng sống của cây nhuộm màu thực phẩm 28

Bảng 4 4: Tỉ lệ các bộ phận được sử dụng của cây nhuộm màu thực phẩm 28

Bảng 4 5: Tri thức bản địa trong sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm 30

Bảng 4 6: Sự khác nhau về tri thức bản địa trong sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm giữa các tỉnh 37

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞI ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

2.1.1 Khải niệm về tri thức bản địa 4

2.1.2 Ý nghĩa của tri thức bản địa 4

2.2 Những nghiên cứu trong và ngoài nước 5

2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới 5

2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 9

2.3 Tổng quan điều kiện thực nhiên- kinh tế- xã hội của khu vực nghiên cứu 13

2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên- kinh tế - xã hội xã Lung Vai 13

2.3.2 Khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội xã Thanh Bình 16

2.3.3 Khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội thị trấn Mường Khương 18 PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21

3.3 Nội dung nghiên cứu 21

3.4 Phương pháp nghiên cứu 22

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

4.1 Các loài cây nhuộm màu thực phẩm 25

4.2 Đánh giá tình hình sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm 27

4.3 Nguồn gốc các cây nhuộm màu thực phẩm 29

4.4 Tri thức bản địa trong sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm 30

4.5 Đánh giá tri thức bản địa trong sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm ở Lào Cai so với Sơn La, Hà Giang 36

4.6 Đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển tri thức bản địa các loài cây nhuộm màu thực phẩm tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai 42

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 7

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Từ rất xa xưa, ông bà ta đã biết dùng nhiều loại cây có trong tự nhiên để chữa các bệnh hiểm nghèo, để nhuộm màu trong thực phẩm vừa làm đẹp món

ăn, vừa tăng giá trị dinh dưỡng

Chất nhuộm màu nói chung và chất nhuộm màu thực phẩm nói riêng từ các loài cây nhuộm đã được người dân các nước trên thế giới sử dụng vào cuộc sống

từ thời xa xưa Một chất màu được sử dụng không độc hại, không là tác nhân gây bệnh và nhuộm thực phẩm thành màu theo mục đích, phù hợp với công nghệ chế biến thực phẩm Ngoài ra, các chất nhuộm màu trong lĩnh vực này không gây mùi lạ và làm thay đổi chất lượng thực phẩm

Ngày nay, khi đời sống của người dân phát triển thì giá trị của thực phẩm không chỉ dừng ở giá trị dinh dưỡng mà nó còn bao hàm cả giá trị thẩm mỹ và vấn đề an toàn cho người sử dụng Để tạo cho thực phẩm có tính cảm quan cao

về phương diện màu sắc, hiện nay ngành công nghệ thực phẩm chủ yếu sử dụng chất màu tổng hợp… Tuy nhiên, vấn đề an toàn đối với sức khỏe của con người vẫn bị đe dọa bởi sự hình thành các sản phẩm phụ bất lợi vì ngoài những chất màu được phép sử dụng trong thực phẩm thì những chất màu không đủ tiêu chuẩn vẫn được sử dụng hoặc sử dụng quá giới hạn sẽ ảnh hưởng độc hại tới sức khỏe người tiêu dùng

Khác với chất màu tổng hợp, chất màu tự nhiên là chất màu có sẵn trong thực vật tự nhiên và không gây độc Và hiện nay nhu cầu sử dụng chất màu tự nhiên cho thực phẩm ngày càng nhiều vì tính ưu việt của nó như dễ kiếm, không độc, sử dụng

Trang 8

dễ dàng Chính vì vậy, nghiên cứu cây nhuộm màu thực phẩm và các chất màu từ chúng có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội của đất nước

Nhuộm màu thực phẩm bằng thực vật là tri thức và kinh nghiệm truyền thống lâu đời của các dân tộc Việt Nam, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số Hơn thế, với phong tục tập quán khác nhau, cư trú trên các vùng lãnh thổ có điều kiện tự nhiên riêng biệt, mỗi dân tộc có kinh nghiệm và tri thức độc đáo mang tính bản địa và văn hóa truyền thống

Xuất phát từ nhu cầu sử dụng chất màu thực phẩm, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên, Giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu tri thức bản địa

về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai” nhằm ứng dụng rộng rãi hơn nữa chất màu tự nhiên trong thực

phẩm và góp phần phát triển loài cây này ở nước ta

1.3 Ý nghĩa của đề tài

a Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Qua quá trình thực hiện đề tài giúp cho sinh viên hiểu biết, nâng cao kiến thức kỹ năng thực tiễn về sản xuất, linh vực cây trồng, bảo tồn và lưu trữ các giống cây quý; từ đó có kinh nghiệm để thực hiện tốt công việc sau này

Trang 9

- Góp phần tạo điều kiện cho sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học, tăng cường các kỹ năng, kinh nghiệm tìm hiểu, phân tích và nghiên cứu khoa học, tạo ra sản phẩm nghiên cứu có chất lượng phục vụ phát triển kinh tế - xã hôi

- Kết quả thực hiện đề tài có thể làm cơ sở cho giảng viên, sinh viên tiếp tục nghiên cứu sản xuất chất nhuộm màu thực phẩm có nguồn gốc thực vật ở quy

mô công nghiệp

- Nguồn gen cây nhuộm màu thực phẩm lưu giữ sẽ là ngân hàng cho các nghiên cứu về đa dạng sinh học và các nghiên cứu khác trong công nghệ sinh học

b Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

- Góp phần đẩy mạnh và phát triển sản xuất cây nhuộm màu thực phẩm, lưu giữ, bảo tồn và phát huy vốn kiến thức bản địa của người dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai

- Đa dạng hóa các sản phẩm hàng hóa từ cây trồng bản địa

- Bước đầu định hướng cho công nghiệp thực phẩm trong việc tạo nguồn cung cấp cây bền vững về phẩm màu thực phẩm an toàn, gia tăng chất lượng các sản phẩm thực phẩm trong công nghiệp chế biến thực phẩm

- Góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Lào Cai nói riêng và toàn quốc nói chung

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Khải niệm về tri thức bản địa

Tri thức bản địa nói một cách rộng rãi, là tri thức được sử dụng bởi những người dân địa phương trong cuộc sống của một môi trường nhất định [17]

Theo Johnson tri thức bản địa là nhóm tri thức được tạo ra bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong một vùng nhất định [14]

Theo Warren tri thức bản địa là một phần của tri thức địa phương - dạng kiến thức duy nhất cho một nền văn hoá hay một xã hội nhất định [13]

Tri thức bản địa là tri thức của cộng đồng dân cư trong một cộng đồng nhất định phát triển vượt thời gian và liên tục phát triển (IIRR, 1999) Tri thức bản địa được hình thành dựa vào kinh nghiệm, thường xuyên kiểm nghiệm trong quá trình sử dụng, thích hợp với văn hoá và môi trường địa phương, năng động và biến đổi

Tóm lại, tri thức bản địa là những nhận thức, những hiểu biết về môi trường sinh sống được hình thành từ cộng đồng dân cư ở một nơi cư trú nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của cộng đồng [4]

2.1.2 Ý nghĩa của tri thức bản địa

Con người quen thuộc với thực tiễn và kỹ thuật địa phương Họ có thể hiểu, nắm vững nó, duy trì chúng dễ hơn việc học tập và thực hành các kiến thức mới được cung cấp bởi những người xa lạ, không phù hợp với điều kiện tự nhiên địa phương

Trang 11

Tri thức bản địa được hình thành trên nguồn tài nguyên địa phương, người dân có thể ít phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ bên ngoài – có thể đắt tiền và không phải lúc nào cũng phù hợp với họ Theo Mundy và Compton,tri thức bản địa thường có thể được cung cấp rẻ tiền, giải quyết được các vấn đề mang tính địa phương nhằm nâng cao sức sản xuất và mức sống [16]

2.2 Những nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới

Chất nhuộm màu nói chung và chất nhuộm màu thực phẩm nói riêng đã được người dân các nước trên thế giới sử dụng vào cuộc sống từ thời xa xưa Một chất màu được sử dụng cho thực phẩm nhất thiết phải hội đủ ba tiêu chuẩn về mặt y

tế của chất phụ gia thực phẩm:

+ Nhuộm thực phẩm thành màu theo mục đích, phù hợp với công nghệ chế biến thực phẩm

+ Không có độc tính (gồm cả độc tính cấp, bán cấp và trường diễn)

+ Không là nguyên nhân hoặc tác nhân gây bệnh

Ngoài ra, do yêu cầu riêng của thực phẩm, các chất nhuộm màu trong lĩnh vực này không gây mùi lạ và làm thay đổi chất lượng thực phẩm Hiện nay, nghiên cứu các chất nhuộm màu cho thực phẩm trên thế giới được tập trung vào

các hướng chủ yếu sau đây:

- Điều tra, phát hiện và nghiên cứu chiết tách các chất nhuộm màu thực phẩm từ nguyên liệu tự nhiên, nhưng chủ yếu từ thực vật Đây là hướng nghiên cứu được đặc biệt quan tâm, bởi chất màu thu được thường có tính an toàn cao, giá thành thấp Theo hướng nghiên cứu này nhiều chất màu đã được sản xuất và đưa vào ứng dụng (Chất nhuộm màu tím thu từ vỏ quả

Trang 12

Nho, chất nhuộm màu đỏ thu từ hoa của cây Điều nhuộm, chất indigotine nhuộm màu xanh thu từ lá cây Chàm )

- Nghiên cứu bán tổng hợp chất nhuộm màu từ các hợp chất thu nhận từ thực vật Đây là hướng nghiên cứu có nhiều triển vọng, có thể sản xuất nhiều chất màu khác nhau Tuy nhiên giá thành sản phẩm cao và đòi hỏi công nghệ phức tạp Mặc dù vậy, hiện nay nhiều chất màu đang sử dụng được sản xuất theo hướng này (Beta Carotenal, Beta-apro-carotenal ) Các chất nhuộm màu thực phẩm bán tổng hợp thường thuộc họ Carotene, họăc nhóm monoazo

là hướng nghiên cứu đang được triển khai ở một số nước có trình độ kỹ thuật cao, các nhà nghiên cứu đang thử nghiệm thu nhận chất nhuộm màu từ nuôi cấy

mô một số loài thực vật (Aralia armata, ), hoặc sử dụng một số hệ men, một số loài vi khuẩn để chuyển hoá hợp chất hữu cơ thành chất màu Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này cho tới nay chưa đạt được kết quả thực tế

Đây là hướng nghiên cứu được tiến hành từ lâu Mặc dù vậy, các chất vô cơ có thể sử dụng cho thực phẩm còn rất hạn chế Hiện nay các chất vô cơ được phép

sử dụng cho thực phẩm mới chỉ có một số oxít sắt: FeO(OH)xH2O (màu đỏ), FeO.Fe2O3 (màu đen), FeO(OH).xH2O (màu vàng),… Xu hướng hiện nay của thế giới là hạn chế các chất nhuộm màu có nguồn gốc vô cơ trong công nghiệp thực phẩm

Do những tiêu chuẩn chặt chẽ về mức độ an toàn, cho tới nay thế giới mới chỉ thừa nhận 73 hợp chất (hoặc dịch chiết, phức chất) là chất nhuộm màu cho thực phẩm Trong số này một số hợp chất chỉ được phép sử dụng trong một số quốc gia nhất định

Trang 13

Hiện nay có một số loại cây cho chất nhuộm màu thực phẩm được trồng và khai thác với số lượng lớn ở một số nước Một vài sản phẩm trong số đó như

“Cutch”, là nước chiết sấy khô của cây Acacia catechu Lượng sản xuất hàng năm trên thế giới của Cutch khoảng 6.000 – 9.000 tấn/năm, trong đó lượng được xuất - nhập khẩu giữa các nước khoảng 1.500 tấn/năm Nước sản xuất chính là

Ấn Ðộ (các nước cũng sản xuất nhưng với số lượng ít hơn là Pakistan, Bangladesh, Myanmar và Thái lan), nước nhập khẩu chính là Pakistan Trước đây, vào những năm giữa của thập kỷ 70, hàng năm các nhà máy công nghiệp của Ấn Ðộ đã sử dụng tới 63.000 tấn gỗ nguyên liệu Trong thời gian từ 1988-

1993, Ấn Ðộ đã xuất sang Pakistan 1.000 - 1.300 tấn/năm Ngoài Cutch ra, còn

có một sản phẩm tự nhiên khác cũng được sản xuất và sử dụng với số lượng lớn,

đó là Annatto (được lấy từ cây Ðiều nhuộm - Bixa orellana) Lượng sản phẩm trên thế giới hàng năm khoảng 10.000 tấn, lượng sản phẩm tham gia mậu dịch khoảng 7.000 tấn Nước xuất khẩu chính các sản phẩm Annatto là Peru và Kenya, các nước nhập khẩu chính là Mỹ, Nhật và một số nước Đông Âu Một số cây khác được trồng để làm nguyên liệu sản xuất các chất màu thực phẩm là:

Indigofera tinctoria, Tagetes erecta, Lawsonia inermis, Curcuma longa, Crocus sativus, Gardenia jasminoides, Medicago sativa, Riêng ở vùng Andhra Pradesh của Ấn Ðộ các cây sau được trồng với số lượng tương đối nhiều: Bixa orellana (1.200 ha), Indigofera tinctoria (800 ha), Tagetes erecta (120 ha) và Lawsonia inermis (20 ha) Bên cạnh việc sử dụng các chất màu thu được bằng

các cách truyền thống thì ngày nay người ta còn áp dụng các kỹ thuật hiện đại để tăng nhanh quá trình tổng hợp tự nhiên Trên thế giới trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu mới đã áp dụng công nghệ sinh học trong việc nâng cao sản lượng tổng hợp các chất màu tự nhiên Các phương pháp mới chủ yếu dựa vào

Trang 14

việc nuôi cấy tế bào các loài thực vật, vi sinh vật đã xác định là có các thành phần sắc tố được trong công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm Năm

1995, Ajinomoto đã cho ra một phương pháp điều chế màu đỏ tự nhiên bằng cách nuôi cây mô sần của các cây thuộc chi Aralia (loài cho kết quả tốt nhất là Aralia cordata) Chất màu này được tổng hợp trong bóng tối, chất màu được tiết ra môi trường nuôi cấy [11] Năm 1995, Kondo T đưa ra phương pháp sản xuất anthraquinone từ một số cây thuộc họ cà phê (Rubiaceae) Tế bào được nuôi trong môi trường có nguồn Cac bon I, muối vô cơ và muối Can xi (Canxi chloride hoặc Canxi nitrate) với nồng độ 5- 90mM/l Lá Rubia akane được cắt thành những mảnh nhỏ và đưa vào một môi trường nuôi cấy có pH 5,8, các muối vô cơ (3 mM/l CaCL2), vitamin, 2,4- D, kinetin, đường mía và thạch Sản lượng lớn anthraquinone được sản xuất ra ở các nồng độ CaCL2 từ 5- 90 mM/l Narisu- Keshohin, 1991 đưa ra phương pháp sản xuất chất màu bằng cách nuôi cấy mô

của lá cây Oải hương (Lavandula angustifolia) Nuôi tế bào trong điều kiện có ánh

sáng thì cho hiệu suất cao hơn Với phương pháp này sản phẩm được tạo ra ở dạng vảy lớn với hiệu suất cao Phương pháp sản xuất màu đỏ hoa rum bằng nuôi trồng

mô sần Hồng hoa (Carthamus tinctorius), Mitsui- Eng Shipbldg được đề xuất vào

năm 1990 Màu đỏ hoa rum được điều chế bằng cách nuôi mô sần hoa rum trong môi trường kiềm, chất màu được tiết vào môi trường nuôi cấy Chất màu này là màu tự nhiên, có màu sắc đẹp và ổn định Các nghiên cứu về chất màu thực phẩm

tự nhiên không chỉ được tiến hành đối với các loài thực vật mà còn được nghiên cứu đối với các tế bào vi sinh vật Một số chi được quan tâm nhiều là

Aspergillus,Pseudomonas Năm 1996, Kasenkov O I đưa ra một phương pháp

điều chế chất nhuộm thực phẩm màu đỏ từ các nguyên liệu thực vật [15] Theo phương pháp này các nguyên liệu thực vật phải được nghiền nát và tẩy trùng, sau

Trang 15

đó ngâm trong môi trường lên men bởi Aspergillus, cuối cùng chúng được chọn

lọc và cô đặc Nguyên liệu thực vật là thành phần môi trường để nuôi cấy các loài

thuộc chi Trichoderma (tốt nhất là Trichoderma koningi và Trichoderma longibrachiatum) Sử dụng phương pháp này, môi trường được đơn giản hoá và hiệu suất chất màu được tăng lên đáng kể Cùng sử dụng Pseudomonas để sản

xuất ra các sản phẩm màu, House- Food (1991) đã chỉ ra một số dòng có thể cho

ra sản phẩm với hiệu suất cao Các dòng đó là FERM BP-2933, FERM BP- 2932 Trong dung dịch nuôi cấy Linsmaier- Skoog nếu có thêm một loại thực vật nhất định và muối sắt thì chúng có thể cho tới trên 400 ug sản phẩm/ml Chất màu ferropyrimine có thể thu trực tiếp từ môi trường nuôi cấy Loài thực vật được chọn

có thể thuộc các họ như: Liliaceae, Cruciferae, Polygonaceae, Leguminosae, Solanaceae và Gesneriaceae Sử dụng các chất màu thực phẩm do có quan hệ trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng con người Vì vậy ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã ban hành luật về sử dụng chất màu trong thực phẩm Trong các Bộ luật về chất màu thực phẩm, các chất màu có nguồn gốc là sắc tố thực vật (chất mầu tự nhiên) được quy định ưu tiên

Tóm lại, hiện nay nghiên cứu chất màu thực phẩm trên thế giới được quan tâm rất lớn ở nhiều quốc gia với nhiều hướng nghiên cứu mới Trong các hướng nghiên cứu đó, tìm kiếm và chiết tách chất màu từ thực vật vẫn được ưu tiên hàng đầu trong các nghiên cứu

2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Kinh nghiệm sử dụng tài nguyên thực vật của nhân dân ta rất phong phú và

đa dạng dưới nhiều hình thức vào các mục đích khác nhau như: làm lương thực, thực phẩm, xây dựng, chăm sóc sức khoẻ, thẩm mỹ, làm cảnh Đặc biệt phải kể đến mục đích nhuộm màu thực phẩm, các cây dùng để nhuộm màu gồm tất cả

Trang 16

các loài thực vật có thể dùng trực tiếp hoặc được chế biến thành các sản phẩm dùng để nhuộm màu cho các loại thực phẩm

Từ lâu, các nhà khoa học đã tiến hành chiết tách các chất nhuộm màu thực phẩm từ thực vật Tuy nhiên hiện vẫn còn phải sử dụng nhiều chất màu được tổng hợp bằng con đường hoá học Khi chất màu nhuộm công nghiệp được đem vào sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt của nhân dân thì người ta đã phát hiện ra các nhược điểm của sản phẩm chất màu công nghiệp vì chúng có thể gây nên các tác dụng phụ (chúng có thể là tác nhân gây ung thư, rối loạn thần kinh, tiêu hoá hoặc ngộ độc gây tử vong ) Vì vậy trong những năm gần đây con người càng thấy được tính ưu việt của các sản phẩm tự nhiên và đã quan tâm nghiên cứu các chất nhuộm màu có nguồn gốc thực vật để sử dụng chúng nhất là trong ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm [12]

Chất nhuộm màu có nguồn gốc thực vật thuộc nhiều nhóm cấu trúc hoá học khác nhau, một số có thể nhìn thấy bằng trực giác, một số khác chỉ biểu hiện màu qua quá trình xử lý (thuỷ phân, ) Do vậy, nghiên cứu các loài cây cho màu nhuộm trong hệ thực vật Việt Nam là vấn đề cần được nghiên cứu có hệ thống cả hiện tại và lâu dài

Ở nước ta trong những năm trước đây, do khó khăn về điều kiện và phương tiện nên vấn đề này chưa được nghiên cứu nhiều Một số công trình còn sơ sài với quy mô hẹp, hầu hết các số liệu, thông tin về cây nhuộm màu thực phẩm đều trích dẫn từ tài liệu nước ngoài, nên ít có khả năng ứng dụng [18]

Về điều tra cơ bản mang tính liệt kê các loài thực vật cho màu nhuộm mới chỉ có 2 công trình được tiến hành:

Lưu Đàm Cư, Trần Minh Hợi đã sơ lược đánh giá các cây nhuộm màu nói chung thường gặp ở nước ta, và ghi nhận ở Việt Nam có trên 200 loài cây cho chất nhuộm màu thuộc 57 chi, thuộc 28 họ [3]

Trang 17

Gần đây, Lưu Đàm Cư và cộng sự (2002) đã điều tra phát hiện 114 loài cây được hoặc có thể sử dụng để nhuộm màu thực phẩm ở Việt Nam Với hệ thực vật ở Việt Nam đa dạng và phong phú (ước tính có khoảng 11.000 đến 12.000 loài) chắc chắn đây sẽ là nguồn nguyên liệu cho chất nhuộm màu đa dạng và phong phú về chủng loài, vì vậy đây mới chỉ là bước nghiên cứu khởi đầu [2] Theo Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường, Chất lượng, hiện nay tất cả các chất nhuộm màu cho thực phẩm ở Việt Nam đều phải nhập khẩu từ nước ngoài Do yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm, bộ Y tế nước ta chỉ cho phép nhập và sử dụng chất màu thực phẩm với số lượng hạn chế [1,7]

Bảng 2.1: Danh mục các chất màu thực phẩm được phép sử dụng ở Việt Nam

Tổng hợp

process

Nâu, Xử lý nhiệt từ đường

Tổng hợp

Sodium and Potassium salts

Trang 18

STT Tên chất Màu và nhóm chất Nguồn gốc

Trang 19

Có thể nói rằng các nghiên cứu về cây nhuộm màu thực phẩm hiện nay chỉ tập trung vào việc sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm, chưa chú ý đến nghiên cứu bảo tồn và phát triển Do vậy nguồn gen cây nhuộm màu thực phẩm đang

bị đe dọa do khai thác quá mức bởi các cá nhân, doanh nghiệp Việc nghiên cứu nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen cây nhuộm màu thực phẩm

là cần thiết, trước khi chúng bị cạn kiệt và tuyệt chủng

Vì vậy, việc đầu tư kinh phí để bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây nhuộm màu thực phẩm là cần thiết

2.3 Tổng quan điều kiện thực nhiên- kinh tế- xã hội của khu vực nghiên cứu

2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên- kinh tế - xã hội xã Lung VaiError!

Reference source not found

+ Vị trí địa lý, địa hình

Lùng Vai [10] là một xã vùng thấp, xã biên giới của huyện Mường Khương

có tổng diện tích đất tự nhiên là 5.904,5 ha, tróng đó đất nông nghiệp là 636,37 ha; đất lâm nghiệp là 1.070 ha Xã có đường quốc lộ 4D chạy dọc qua trung tâm

xã dài 12 km thuận tiện cho việc đi lại và giao lưu hàng hóa của nhân dân địa phương +Tình hình dân số, lao động

Dân số xã năm 2014 có 1.220 Hộ = 5.080 nhân khẩu gồm 12 dân tộc anh em cùng chung sống, đượng phân bố ở 21 thôn bản nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nâm – lâm nghiệp, các ngành nghề dịch vụ khác tuy đã phát triển song còn nhỏ

lẻ tăng thêm thu nhập, trình độ dân trí chưa đồng đều, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn +Tình hình kinh tế, xã hội

Trang 20

Theo kết quả của báo cáo tinh hình kinh tế - xã hội – an ninh quốc phòng 6 thán đầu năm 2014 của xã

Nông nghiệp

- Lúa xuân: diện tích gieo trồng là 89 ha đạt 100% kế hoạch giao Năng suất đạt 55 tạ/Ha đạt 100% kế hoạch giao ( Năng suất giảm 4 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước) sản lượng đạt 489,5 tấn ( giảm 35,6 tấn so với cùng kỳ)

- Ngô xuân: Diện tích gieo trồng 370 ha đạt 78,7% kế hoạch giao cả năm.Năng suất đạt 30,5 tạ/ha giảm 11,5 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước (Nguyên nhân do hạn hán và gió lốc bị thiệt hại nặng trên 70% là 139,8ha)

- Cây chè: Tổng diện tích chè tập trung là 840 ha.Năng suất chè kinh doanh

ước đạt 57 tạ/ha/năm đạt 100% kế hoạch giao – chè trồng mới theo chỉ tiêu kế hoạch giao 57 ha(trong đó: chè Ô Long 6 ha)

- Cây chuối: Diện tích 14 ha chủ yếu ở thôn Cốc Lấy, Na Lang, Trung tâm

Lâm nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm công tác lâm nghiệp thương xuyên được duy trì, bào

vệ và phát triển tốt Công tác phòng chống cháy rừng, chống khai thác lâm sản trái phép thường xuyên được quan tâm và thực hiện tốt Thực hiện tốt kiểm tra bảo vệ rưng Qua kiểm tra đã phát hiện 6 trường hợp phát rừng tái sinh, đã xử lý

6 vụ Đã triển khai đăng ký trồng rừng năm 2014 là 80 ha/50 ha đã đạt 160 kế hoạch

Hiện nay ban quản lý dự án rừng phòng hộ đang hoàn thiện hồ sơ để triển khai trồng rưng

Chăn nuôi

Trang 21

Ngay từ đâu năm Ủy ban nhân dân xã đã chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể tuyên truyền vận động nhân dân chăm sóc phòng chống dịch bệnh, tiêm phòng cho đàn gia súc với gia cầm, đến nay trên địa bàn xã không còn dịch bệnh sảy ra

Tổng đàn gia súc, gia cầm 6 tháng đầu năm như sau:

+ Tổng đàn trâu 810 con đạt 95,8% kế hoạch cả năm, giảm 5 con so với cùng

kỳ năm trước

+ Tổng đàn bò 12 con đạt 92% kế hoạch cả năm, tăng 3 con so với cùng kỳ + Tổng đàn lợn 1.450 con đạt 50,6% kế hoạch giao cả năm, giảm 90 con so với cùng kỳ

+ Tổng đàn gia cầm: 19.000 con đạt 94,8% kế hoạch giao cả năm, giảm 870 con so với cùng kỳ

sự đợt 1 năm 2014 đạt 100% Kết quả có 08 công dân đủ điều kiện nhập ngũ Ban chỉ huy quân sự xã tham mưu cho Ủy ban xã xây dựng kế hoạch chống lụt bão, cứu hộ cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai khi có tình huống xấu xẩy ra Phối

Trang 22

hợp với đồn biên phòng Bàn Lầu, thường xuyên tuần tra, kiểm tra đường biên mốc giới chấm xâm canh, xâm cư

2.3.2 Khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội xã Thanh Bình

Thanh Bình [9] là xã vùng cao, nội địa của huyện Mường Khương, xã có tổng diện tích tự nhiên là 3.915 ha, đất nông nghiệp là 1.803 ha ( Đất sản xuất nông nghiệp là 503 ha, trong đó: Đất trồng cây hàng năm 408,62 ha, đất trồng lúa 142

ha, đất trồng cây hàng năm khác 277,82 ha, đất lâm nghiệp: 1299,3 ha, trong đó: Đất rừng sản xuất 935,2 ha, đất rừng phòng hộ 364,1 ha) Đất phi nông nghiệp là 74,95 ha, đất khác là 2.036ha

+ Tình hình dân số, lao động

Toàn xã có 649 hộ = 3.262 khẩu, 1779 lao động, có 11 dân tộc anh em cùng sinh sống trong 11 thôn ( Trong đó dân tộc Nùng 44%, dân tộc Mông 20,6% dân tộc Tu Dí 12,2%, dân tộc Dao 10,7%, còn lại các dân tộc khác 12,5%)

+ Tình hình kinh tế, xã hội

Nông nghiệp

- Cây lúa xuân: kế hoạch giao 52ha, thực hiện 40 ha, còn 12 ha chuyển sang trồng ngô, tập chung chủ yếu thôn Nậm Rúp, Sín Pao Chải, Cán Hồ Thời điểm gieo mạ thời tiết khí hậu không thuận lợi cây mạ phát triển kém, có sâu bệnh hại lúa như: Rầy nâu, bênh đạo ôn, ốc bưu vàng… Ủy ban nhân dân xã đã kịp thời chỉ đạo các thôn phun thuốc phòng trừ, đến nay cây lúa xuân cơ bản đã thu hoạch xong, năng suất ước tính đạt 53 tạ/ha, sản lượng đạt 212 tấn=77,1% kế hoạch

- Cây lú mùa: chỉ tiêu giao 138 ha, đến nay cấy được 55% diện tích =76ha diện tích còn lại đang làm đất chuẩn bị cấy

Trang 23

- Cây ngô: DIện tích kế hoạch giao cả năm là 470 ha, thực hiện được 550 ha tăng 80 ha so với kế hạch giao Trong tháng 3 và tháng 4, sảy ra bão lốc gây thiệt hại hoa màu, 20,5 ha ngô bị gẫy đổ, tháng 5,6 nắng hạn kéo dài cây ngô khô héo thiệt hại trên 70% là 579 hộ=148,5 ha

- Cây đậu tương vụ xuân trồng được 15 ha, đã thu hoạch năng suất đạt 10 tạ/ha

= 30% kế hoạch Do năng suất thấp nhân dân chuyển sang trồng ngô

- Cây chè: Tổng diện tích 214,5 ha, trong đó: chè kinh doanh là 122,7 ha Chè thâm canh là 655 ha, đến nay thu hái được 50 tấn = 16,8% Chè đã đăng ký được 68,54 ha=200 hộ

- Ngoài ra còn trồng các cây khác như: cây mía 26 ha, cây đậu các loại 30ha

Lâm nghiệp

Ủy ban nhân dân xã đã quan tâm chỉ đạo các ban ngành, cán bộ phụ trách thôn tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng, không thả rông gia súc phá họa rừng trồng mới Tuy nhiên vẫn còn một số

hộ dân gia đình phát lấn rừng sản xuât, rừng phòng hộ, Ủy ban nhân dân xã đã tiến hành xử phạt hành chính và thu hồi lại đất Tổng số hộ vi phạm là: 51 hộ, đã triệu tập đến trụ sở xã nhắc nhở và xử phạt vi phạm hành chính 6 hộ = 6.100.000 đồng

- Đàn gia cầm có 12.800/12528 con = 102,2% kế hoạch

Chỉ đạo, triển khai, thực hiện tốt công tác phòng chống đói, rét cho đàn gia súc, quán triển tốt việc phòng chống dịch Ủy ban nhân dân xã đã ra quyết định kiện toàn ban chỉ đạo và các tổ công tác phụ trách các thôn, kết hợp các ban

Trang 24

ngành đoàn thể của xã tập trung tuyên truyền vận động nhân dân phòng chống dịch

+ Tình hình an ninh – quốc phòng

Ban chỉ huy quân sự xã dưới sự chỉ đạo của chi huy quân sự Huyện, đảng ủy

xã, trực tiếp điều hành của Ủy ban nhân dân đã thực hiện tốt kế hoạch nhiệm vụ được giao, xây dựng công tác quân sự - quốc phòng, bổ sung kế hoạch chiến đấu trị an Củng cố lực lượng, quân số đảm bảo theo yêu cầu của cấp trên, thực hiện nhiệm vụ huấn luyện cụm xã tại xã Bản Xen 21/23 đồng chí tham gia, chất lượng đạt khá, huấn luyện tại xã: 36/37 đồng chí tham gia, chất lượng đạt khá

Các ban ngành đoàn thể tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chủ trương chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, các quy định của địa phương, phòng chống các loại tội phạm, bảo vệ tài sản của nhân dân, phòng chống cháy rừng…

2.3.3 Khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội thị trấn Mường Khương

Tổng diện tích đất tự nhiên thị trấn Mường Khương [8] là 3565 ha, toàn thị trấn có dân số 8.207 người, bao gồm 14 dân tộc anh em cùng sinh sống trong đó: dân tộc Nùng chiếm 31%, H’ Mông, Thái, Kinh…

+ Tình hình kinh tế, xã hội

Nông nghiệp

- Cây đậu tương: kế hoạch giao là 130 ha, đã thực hiện được 60 ha đạt 46% kế hoạch, hiện đang cho thu hoạch, năng xuất ước tính đạt 12tạ/ha giảm do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài

- Cây ngô: chỉ tiêu giao 490 ha Đã thực hiện trồng 460 ha bằng 93% kế hoạch, trong đó có 30 ha ngô nếp trong 6 tháng đầu năm diện tích ngô bị ảnh hưởng thời tiết nắng hạn kéo dài là 102 ha

Trang 25

- Cây thuốc lá vụ xuân: thực hiện trông 0,7 ha do ảnh hưởng của thời tiết nắng hạn kéo dài nên không cho thu hoạch

- Cây lúa mùa: kế hoạch giao 146 ha, hiện bà con nhân dân đang tranh thủ thời tiết thuận lợi để gieo trồng đến nay trên thị trấn đã cấy được 146ha/146ha đạt 100% kế hoạch được giao Tập trung vào một số giống như: séng cù, trà chéo và một số giống khác

- Giống bí đỏ: cấp phát hạt giống bí đỏ 15,5kg = 22,14/12 thôn/331 hộ tuy nhiên nhân dân trồng với mật độ dày nên diện tích còn 15 ha Do ảnh hưởng của thời tiết làm chết 4ha, 6 ha bị ảnh hưởng thời tiết cho năng xuất thấp, còn khoảng

5 ha chuẩn bị cho thu hoạch

- Cây ăn quả: Bà con đang tập trung chăm sóc 68 ha cây quýt, chanh ở một số thôn nằm trong vùng dự an, hiện đang sinh trưởng phát triển bình thương

Lâm nghiệp

Duy trì khoanh nuôi bảo vệ 1069,8 ha rừng trong đó có rừng trồng, rừng khoanh nuôi và rừng đâu nguồn

Duy trì chăm sóc 76 ha rừng thay thế nương rãy ở khu vực trung tâm thị trấn,

đã chủ dộng hỗ trợ gạo kịp thời cho các hộ gia đình tham gia trồng rừng thay thế cho nương rẫy

Thường xuyên tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ, phòng chống cháy rừng, không xảy ra vi phạm quản lý bảo vệ rừng

Chăn nuôi

Ủy ban nhân dân đã phôi hợp với các ban ngành triển khai chỉ đạo, thực hiện làm tốt công tác tuyên truyền phòng chống rét cho các đàn gia súc, vận động nhân dân tiêm phòng cho gia súc, gia cầm đến nay đã tổ chức tiêm phòng đợt 1 cho các đàn gia súc, số lượng tiêm phòng đạt 86% Tổ chức tiêm phòng cho đàn

Trang 26

gia súc và đàn gia cầm các loại khác Cho đến nay không có dịch sảy ra trên đàn gia súc

+ Trâu: 880 con/880 con đạt kế hoạch đề ra

Dưới sự chỉ đạo của cấp đảng ủy, chính quyền thị trấn công an thị trấn đã phối hợp với các lực lượng chức năng có liên quan tổ chức tuyên truyền vận động nhân dân giao nộp vũ khí, vật liệu nổ tự chết…

Đảng ủy ra nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo công tác quân sự - quốc phòng, xây dựng kế hoạch quốc phòng Chỉ đạo ban quân sự thị trấn, lực lượng công an phối hợp với đồn biên phòng Mường Khương nắm chắc tình hình an ninh trên tuyến biên giới và nội địa tham mưu cho cấp ủy, chính quyền xử lý tốt các vấn đề xảy

ra trên địa bàn Phối hợp với các lực lượng vũ trang trên dịa bàn quản lý đường biên mốc giới, phôi hợp cùng các lực lượng tổ chức tuần tra, canh gác trong và sau tết, các ngày lễ lớn

Trang 27

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là tri thức bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thành phần loài cây nhuộm màu thực phẩm tại các xã Thanh Bình, Lùng Vai

và thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai

- Nguồn gốc và tình hình khai thác sử dụng các loài cây nhuộm màu thực phẩm

- Tri thức bản địa về cách sử dụng cũng như chế biến các loài cây nhuộm màu thực phẩm

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

3.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu

Tại các xã Thanh Bình, Lùng Vai và thị trấn Mường Khương – huyện Mường Khương – tỉnh Lào Cai

3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu

Thời gian: 15/08/2014 – 25/12/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tiến hành nghiên cứu một số nội dung sau:

- Điều tra, thu thập các loài nhuộm màu thực phẩm tại huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai

Trang 28

- Tình hình sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm tại huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai

- Tìm hiểu nguồn gốc của các loài cây nhuộm màu thực phẩm tại huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai

- Nghiên cứu tri thức bản địa trong sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm tại huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai

- So sánh tri thức bản địa trong sử dụng và chế biến màu nhuộm thực phẩm giữa tỉnh Lào Cai, Sơn La và Hà Giang

- Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển tri thức bản địa các loài cây nhuộm màu thực phẩm tại huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin

a Phương pháp thu thập tổng hợp

Đề tài sử dụng tài liệu thứ cấp là các báo cáo khoa học và tài liệu hội thảo, các báo cáo về tình trạng và hiện trạng nghiên cứu, sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm bản địa, số liệu thống kê của các ban ngành và cơ quan; sách báo, tạp chí, các tác phẩm đã xuất bản có liên quan đến nội dung của đề tài

b Phương pháp điều tra thực tế

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA): nhằm tìm hiểu thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu đề tài

Áp dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) để tiến hành phỏng vấn cá nhân và điều tra theo bảng câu hỏi để thu thập số liệu liên quan đến hiện trạng sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm trong vùng, khả năng áp dụng các

Trang 29

tiến bộ kỹ thuật và nhu cầu áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới trong việc phát triển cây nhuộm màu thực phẩm tại các địa phương nghiên cứu

+ Kỹ thuật điều tra

Xây dựng hệ thống câu hỏi theo nội dung nghiên cứu nhằm thu thập thông tin

về những kinh nghiệm của đồng bào các dân tộc trong việc sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm Đối tượng điều tra được chọn theo phương pháp kết hợp giữa chọn ngẫu nhiên và phương pháp chọn có chủ định

Cơ cấu mẫu điều tra khảo sát như sau:

Việc điều tra khảo sát được tiến hành tại tỉnh Lào Cai Đây là tỉnh có tỉ lệ cao người dân sử dụng các loại cây nhuộm màu thực phẩm tự nhiên trong việc sản xuất thực phẩm truyền thống tại địa phương Trong tỉnh chọn huyện Mường Khương, trong huyện chọn 03 xã Thanh Bình, Lùng vai và thị trấn Mường Khương, mỗi xã chọn 01thôn điển hình còn giữ được khá nguyên vẹn bản sắc văn hoá, phong tục tập quán liên quan đến vấn đề sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên trong việc nhuộm màu thực phẩm

Cơ cấu phiếu điều tra như sau:

Các điểm nghiên cứu trên được chọn theo nguyên tắc đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu với các tiêu chí: chọn những huyện có tỉ lệ người dân sử dụng các loại cây nhuộm màu thực phẩm trong chế biến thực phẩm truyền thống, đặc sản tại địa phương cao Trong tỉnh chọn các huyện, trong huyện chọn các xã, trong xã chọn các thôn còn giữ được khá nguyên vẹn bản sắc văn hoá, phong tục tập quán liên quan đến vấn đề sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên trong việc chế biến thực phẩm

Trang 30

+ Kỹ thuật thảo luận theo nhóm (PRA):

Thông qua nghe trực tiếp ý kiến của các đối tượng có liên quan, ghi nhận những đánh giá khác nhau của họ Lựa chọn mẫu thảo luận nhóm như sau: 10 hộ

ở cấp thôn được lựa chọn để điều tra theo phiếu, sau đó 10 hộ nŕy sẽ tham gia trực tiếp vŕo các bŕi tập PRA để thu thập thęm thông tin

Người ta hướng dẫn phỏng vấn và thảo luận nhóm dựa trên bảng hướng dẫn phỏng vấn để gợi ý thảo luận và căn cứ vào các tình huống trả lời mà phát biểu thêm các câu hỏi cần thiết khác Bảng hướng dẫn cần được xây dựng dựa trên các mục tiêu nghiên cứu và các giả định nghiên cứu nhằm phát hiện những mối quan hệ và những nguyên nhân sâu xa của hiện tượng cần nghiên cứu

3.4.2 Phương pháp xử lý thông tin

- Tài liệu và số liệu thu thập được sẽ được phân loại và lưu trữ phục vụ cho công tác tổng hợp và xử lý Thông tin định lượng thu thập được qua số liệu thứ cấp và điều tra sơ cấp sẽ được mã hóa và lưu trữ trong Excel phục vụ cho công tác xử lý so sánh và chắt lọc thông tin bằng các phần mềm thống kê

- Xử lý số liệu: Toàn bộ việc quản lý, xử lý thông tin trong đề tài sử dụng phần mềm Excel

Trang 31

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Các loài cây nhuộm màu thực phẩm

Điều tra kiến thức bản địa về sử dụng các loài cây nhuộm màu thực phẩm được thực hiện tại xã Thanh Bình, Lùng Vai và thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai Kết quả nghiên cứu đã xác định được thành phần loài cây nhuộm màu thực phẩm được đồng bào dân tộc nơi đây thường xuyên sử dụng bao gồm những loài cây được thống kê trong 4.1:

Bảng 4.1: Thống kê các loài cây nhuộm màu thực phẩm

Nam

Tên địa phương

Màu nhuộm

1 Peristrophe bivalvis (L.) Merr Cẩm đỏ Chằm thủ Đỏ

2 Peristrophe bivalvis (L.) Merr Cẩm tím Chẳm lai,

chẳm khâu

Tím

3 Peristrophe bivalvis (L.) Merr Cẩm vàng Chằm hiên Vàng

4 Curcuma longa L Nghệ vàng Nghệ Vàng

5 Curcuma aeruginosa Rosc Nghệ đen Nga truật Đen

6 Zingiber officinale (Willd v.)

Roscoe

7 Alpinia officinarum Hance Riềng Thung kiang Xanh

9 Canarium tramdeum Dai &

Yakovl

10 Liquidambar formosana Hance Sau sau Sau mạy Tím đen

12 Pandanus amaryllifolius Roxb Dứa thơm Đúng đáo Xanh

14 Buddleia officinalis Maxim Mật mông

16 Artemisia vulgris L Ngải cứu Nhả ngại Xanh

17 Macaranga denticulata lá nến Tùng ngong Đen

19 Rhus chinensisMuell Cây muối Tùng pha Đen

Trang 32

Qua bảng 4.1 ta thấy: tổng số cây cho màu nhuộm thực phẩm mà người dân

ở huyện Mường khương, tỉnh Lào Cai thường sử dụng là 19 loài Trong đó:

- Nhuộm màu đỏ: 02 loài

- Nhuộm màu đen: 07 loài

- Nhuộm màu xanh: 04 loài

- Nhuộm màu tím: 02 loài

- Nhuộm màu vàng: 03 loài

- Nhuộm màu tím đen: 01 loài

Như vậy số lượng các loài cây nhuộm màu thực phẩm điều tra được không phải là ít Tuy nhiên nếu so sánh với tài nguyên thực vật phong phú ở đây thì con

số này không nhiều Dưới đây là bảng tỉ lệ các loài cây cho màu nhuộm thực phẩm:

Hình 4.1: Biểu đồ tỉ lệ các loài cây cho màu nhuộm thực phẩm

Như vậy có thể thấy, số lượng loài cây tạo ra màu đen để nhuộm cho thực phẩm chiếm tỉ lệ cao nhất (36.84%), chiếm tỉ lệ thấp nhất là loài cây nhuộm màu tím đen (5.26%)

Trang 33

Các loài cây được người dân nơi đây sử dụng để nhuộm màu thực phẩm chủ yếu là các loài cây bản địa, gần gũi với người dân, tạo ra các màu sắc rất đẹp mắt, thu hút Những loài cây này đều dễ tìm trên núi hoặc trong vườn nhà Tuy nhiên, dưới tác động của hiện đại hóa, các tri thức trong việc dùng thực vật để nhuộm màu cho thực phẩm có nguy cơ xói mòn và thất thoát cao Bởi vậy, cần

phải sớm có biện pháp lưu giữ, bảo tồn

4.2 Tình hình sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm

Kết quả điều tra tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai cho thấy phần lớn người dân sử dụng các loài cây để nhuộm màu làm sôi và bánh Các dạng sống,

bộ phận sử dụng và mùa thu hái mỗi loài cây là khác nhau Kết quả được thể hiện ở bảng 4.2:

Bảng 4.2: Một số loài cây sử dụng vào nhuộm màu thực phẩm

STT Tên loài cây Dạng

Trang 34

Nhìn vào bảng 4.2 có thể thấy, hầu hết tại khu vực điều tra các loài cây được

sử dụng làm màu nhuộm đều rất dễ trồng, đa số là thu hái quanh năm Do đó nhu cầu sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm của người dân luôn được đáp ứng trong bất kỳ thời gian nào trong năm Đây là một trong những thuận lợi rất lớn để phát triển các loài cây này

Cây nhuộm màu thực phẩm có nhiều dạng sống phong phú, có thể gặp từ dạng cây cỏ đứng cho tới cây gỗ nhỏ Bảng 4.3 trình bày tỉ lệ các dạng sống của cây nhuộm màu thực phẩm

Bảng 4.3: Tỉ lệ các dạng sống của cây nhuộm màu thực phẩm

Về các bộ phận sử dụng của cây nhuộm màu thực phẩm cũng khá đa dạng từ thân, lá, củ, hoa, quả cho đến vỏ Tỉ lệ các bộ phận được sử dụng của cây nhuộm màu thực phẩm được thể hiện ở bảng 4.4:

Bảng 4.4: Tỉ lệ các bộ phận được sử dụng của cây nhuộm màu thực phẩm

Ngày đăng: 08/08/2016, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lưu Đàm Cư (2003), Nghiên cứu cây nhuộm màu thực phẩm ở Việt Nam, Hội nghị quốc gia lần 2: nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, Huế, tr 47-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cây nhuộm màu thực phẩm ở Việt Nam
Tác giả: Lưu Đàm Cư
Năm: 2003
3. Lưu Đàm Cư và Trần Minh Hợi (1995), Các cây nhuộm màu phổ biến ở Việt nam, Tuyển tập công trình nghiên cứu, Viện STTNSV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cây nhuộm màu phổ biến ở Việt nam
Tác giả: Lưu Đàm Cư và Trần Minh Hợi
Năm: 1995
4. Hồ Đăc Thái Hoàng và Nguyễn Thanh Thự (2000), Vài suy nghĩ về dạy tri thức bản địa trong chương trình giảng dạy đại học Việt nam, Tạp chí Hoạt động Khoa học. Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, Số: 7, tr 45-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về dạy tri thức bản địa trong chương trình giảng dạy đại học Việt nam
Tác giả: Hồ Đăc Thái Hoàng và Nguyễn Thanh Thự
Năm: 2000
7. Tổng cục Tiêu chuẩn- Đo lường chất lượng (1998), TCVN: 6470. Phụ gia thực phẩm - Phương pháp xác định cho phẩm màu thực phẩm, tr 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TCVN: 6470. Phụ gia thực phẩm - Phương pháp xác định cho phẩm màu thực phẩm
Tác giả: Tổng cục Tiêu chuẩn- Đo lường chất lượng
Năm: 1998
10. UBND xã Lung Vai (2013), Báo cáo tổng kết cuối năm về tình hình tự nhê - kinh tế - xã hội xã Lũng Vai năm 2013.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết cuối năm về tình hình tự nhê - kinh tế - xã hội xã Lũng Vai năm 2013
Tác giả: UBND xã Lung Vai
Năm: 2013
5. Nguyễn Thị Mai (2014), khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện Phù Yên và Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La&#34 Khác
6. Ngô Thị Phượng (2014), khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loại cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang&#34 Khác
8. UBND thị trấn Mường Khương (2013), Báo cáo tổng kết cuối năm về tình hình tự nhiên - kinh tế - xã hội thị trấn Mường Khương năm 2013 Khác
9. UBND xã Thanh Bình (2013), Báo cáo tổng kết cuối năm về tình hình tự nhê - kinh tế - xã hội xã Thanh Bình năm 2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Danh m ục các chất màu thực phẩm đượ c phép sử dụng ở Việt Nam - Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 2.1 Danh m ục các chất màu thực phẩm đượ c phép sử dụng ở Việt Nam (Trang 17)
Bảng 4.1: Thống kê các loài cây nhuộm màu thực phẩm - Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 4.1 Thống kê các loài cây nhuộm màu thực phẩm (Trang 31)
Hình 4.1: Biểu đồ tỉ lệ các loài cây cho màu nhuộm thực phẩm - Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Hình 4.1 Biểu đồ tỉ lệ các loài cây cho màu nhuộm thực phẩm (Trang 32)
Bảng 4.2: Một số loài cây sử dụng vào nhuộm màu thực phẩm - Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 4.2 Một số loài cây sử dụng vào nhuộm màu thực phẩm (Trang 33)
Bảng 4.4: Tỉ lệ các bộ phận được sử dụng của cây nhuộm màu thực phẩm - Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 4.4 Tỉ lệ các bộ phận được sử dụng của cây nhuộm màu thực phẩm (Trang 34)
Bảng 4.6: Nguồn gốc của các loài cây nhuộm màu thực phẩm - Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 4.6 Nguồn gốc của các loài cây nhuộm màu thực phẩm (Trang 35)
Bảng 4.6: Tri thức bản địa trong sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm (tiếp) - Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 4.6 Tri thức bản địa trong sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm (tiếp) (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm