Được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Lâm Nghiệp và của giáo viên hướng dẫn, Tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tri thức bả
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận trên là kết quả nghiên cứu của riêng bản thân tôi không sao chép của ai Các kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, trang web theo danh mục tài liệu của khóa luận
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng khoa học
TS Nguyễn Công Hoan Thăng Thị Hảo
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm học học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học, khóa luận tốt nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi sinh viên, giúp áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, bổ sung và củng cố kiến thức của bản thân để phục vụ cho công việc chuyên môn sau này
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Lâm Nghiệp và của giáo viên hướng dẫn, Tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tri thức bản địa trong việc sử dụng một số loại cây LSNG để làm thuốc của đồng bào dân tộc Sán Dìu xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”
Để có được thành quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Lâm Nghiệp, các cán bộ của UBND, và các
hộ gia đình xã Sơn Nam, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi trong quá trình thực tập Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Công Hoan đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để
đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Thăng Thị Hảo
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 3.1: Điều tra thành phần LSNG làm dược liệu được sử dụng tại địa phương theo tuyến 18 Bảng 4.1: Danh mục các loài cây LSNG được người Sán Dìu sử dụng để làm thuốc tại địa phương 1 Bảng 4.2: Mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số cây tiêu biểu được người dân Sán Dìu thường sử dụng làm thuốc 22 Bảng 4.3: Một số bài thuốc theo nhóm bệnh của người Sán Dìu khu vực nghiên cứu 32 Bảng 4.4: Những loài cây được gây trồng tại xã Sơn Nam - Sơn Dương - Tuyên Quang 38 Bảng 4.5: Các loài cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn 39 Bảng 4.6: Các bài thuốc quan trọng của cộng đồng người Sán Dìu tại xã Sơn Nam cần được lưu giữ bảo tồn 40
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Trên thế giới 4
2.1.1 Lịch sử sử dụng cây cỏ làm thuốc của các dân tộc trên thế giới 4
2.1.2 Hiện trạng tài nguyên thuốc trên Thế giới 4
2.2 Ở Việt Nam 6
2.2.1 Lược sử các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam 6
2.2.2 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc Việt Nam 10
2.2.3 Một số nghiên cứu về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của dân tộc thiểu số ở Việt Nam 11
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 13
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 13
2.3.1.1 Vị trí địa lý 13
2.3.1.2 Địa hình, đất đai 13
2.3.1.3 Khí hậu, thủy văn 13
2.3.1.4 Hệ thực vật 14
2.3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội 14
Trang 82.3.2.1 Đặc điểm dân số và lao động 14
2.3.2.2 Điều kiện kinh tế 14
2.3.3 Văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế 15
2.3.3.1 Văn hóa 15
2.3.3.2 Xã hội 15
2.3.3.3 Giáo dục 15
2.3.3.4 Y tế 15
2.3.4 Cơ sở hạ tầng 15
Phàn 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.2 Nội dung nghiên cứu 17
3.3 Phương pháp nghiên cứu 17
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 17
3.3.2 Phương pháp xử lý thông tin 20
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Điều tra thành phần các loài LSNG sử dụng để làm thuốc 21
4.2 Đặc điểm sinh thái và hình thái của một số cây tiêu biểu dược người Sán Dìu sử dụng làm thuốc 21
4.2.1 Mô tả hình thái, đặc điểm của các loài cây được người Sán Dìu sử dụng
làm thuốc 21
4.2.2 Tổng hợp một số bài thuốc theo nhóm bệnh và cách chế biến 31
4.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng các loài LSNG làm thuốc 36
4.3.1 Những thuận lợi 36
4.3.2 Những khó khăn 36
4.4 Tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài LSNG làm thuốc 37
4.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác bảo tồn các loài LSNG và các bài thuốc của đồng bào người Sán Dìu 39
4.5.1 Những cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn 39
4.5.2 Các bài thuốc cần được lưu giữ và bảo tồn 40
Trang 9Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42 5.2 Kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10sự hiện diện của cây rừng Nó không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa trong đời sống mà còn chứa đựng ở đó những kiến thức bản địa của từng dân tộc, từng vùng miền Người Sán Dìu là một trong những dân tộc thiểu số ít người Nguồn kiến thức bản địa của họ vô cùng quý giá, nhất là nguồn kiến thức về các loài thực vật được sử dụng làm dược liệu Kho kiến thức của họ về dược liệu được đúc kết qua rất nhiều thế
hệ và được lưu truyền từ đời này sang đời khác Nguồn kiến thức này chưa được khoa học công nhận nhưng qua việc sử dụng và kiểm nghiệm trên thực tế đã được người dân
sử dụng một cách có hiệu quả và tốt hơn cả mong đợi Bằng chứng là bao đời nay họ
đã sử dụng chúng để chữa bệnh cho cộng đồng, các bài thuốc Đông Nam đều được chế biến từ các loài cây dược liệu có nguồn gốc từ rừng tự nhiên Những kinh nghiệm quý báu, công thức pha chế, cách sử dụng cây cỏ tự nhiên làm thuốc đã được lưu truyền và tích luỹ qua nhiều thế hệ Các ông lang, bà mế của đồng bào các dân tộc miền núi nước
ta đã tích luỹ nhiều đời tạo nên nhiều bài thuốc dân gian quý giá lấy từ cây cỏ Mặc dù vậy, việc duy trì và phát triển các kiến thức bản địa của các dân tộc ít người về dược liệu đang gặp nhiều khó khăn, thách thức bởi rừng tự nhiên đang bị khai thác đến mức nghiêm trọng một số vùng hầu hết còn rất ít rừng tự nhiên Vì vậy, việc chú trọng đến
Trang 11nguồn kiến thức này và sử dụng chúng một cách có hiệu quả đang là một vấn đề được quan tâm
Kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Sán Dìu ở Tuyên Quang nói riêng đã có từ ngàn đời nay Họ đã đúc kết thành kinh nghiệm dân gian không chỉ về vật chất mà còn là nền văn minh truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành tài sản riêng của mỗi dân tộc Thế nhưng
do nhận thức, do sự ưu việt của thuốc tây nên tài sản vô giá đó đang dần dần mất đi, nhiều loài đang có nguy cơ tuyệt chủng
Để phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp cũng như góp phần bảo tồn đa dạng sinh vật, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn những kinh nghiệm phong phú và quý báu của đồng bào dân tộc, bên cạnh đó thì việc kiểm kê, bổ sung và hệ thống hoá nguồn tài nguyên cây thuốc là việc làm cần thiết nhằm sử dụng một cách khoa học và có hiệu quả trong tương lai
Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tri
thức bản địa trong việc sử dụng một số loại cây LSNG để làm thuốc của đồng bào dân tộc Sán Dìu xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang” Để
đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc có giá trị và kinh nghiệm sử dụng các bài thuốc của người Sán Dìu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được danh mục các loài LSNG được sử dụng trong các bài thuốc của người Sán Dìu từ đó đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn các loài cây và các bài thuốc tại khu vực nghiên cứu
Trang 121.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Nhằm giúp cho sinh viên bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, củng cố được những kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, biết cách tích luỹ, thu thập thông tin, phân tích, xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng người dân trong thôn bản
Đây sẽ là điều kiện tốt để sinh viên tiếp xúc và học hỏi kiến thức và tích luỹ những kinh nghiệm ngoài thực tiễn, giúp sinh viên có một phương pháp làm việc khoa học gắn liền với thực tiễn
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chương trình phát triển kinh tế xã hội
Đánh giá được hiện trạng khai thác, sử dụng các loài thực vật rừng làm thuốc, nắm bắt được các loài cây thuốc quý, những bài thuốc hay từ người dân và những giải pháp đề xuất là cơ sở giúp chính quyền địa phương, người dân xác định được hướng bảo tồn, phát triển nhân rộng các loài cây thuốc quý, các bài thuốc mà cộng đồng dân đã và đang lưu truyền phát triển
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Trên thế giới
2.1.1 Lịch sử sử dụng cây cỏ làm thuốc của các dân tộc trên thế giới
Từ thời cổ xưa, loài người đã biết khai thác và sử dụng cây thuốc vào công tác chăm sóc sức khoẻ và các nhu cầu cuộc sống của mình
Theo Aristote (384 - 322 TCN) đã tổng kết trên 4000 năm trước, các dân tộc vùng trung cận đông đã biết đến cả ngàn cây thuốc, sau này người Ai Cập đã biết cách chế biến và sử dụng chúng (Võ Văn Chi và Trần Văn Hợp, 1999) [2]
Charles Pickering (1879) đã nghiên cứu và đúc rút lại cho biết người Ai Cập cổ đại đã biết sử dụng những cây có tinh dầu để trị bệnh và ướp xác các vua chúa hoặc làm nước thơm từ khoảng 4.000 năm TCN Người Trung Quốc đã biết sử dụng tinh dầu làm thuốc chữa bệnh từ lâu Tại Đông Á, người Nhật Bản đã biết sử dụng cây Bạc hà làm thuốc trị bệnh từ 2.000 năm trước đây (Lã Đình Mỡi và cs, 2001) [8] Theo Ahmad, U.& M N Nabi (1967) đã nghiên cứu và tổng kết rằng: Nền y học
cổ truyền Trung Quốc và Ấn Độ đều được ghi nhận trong lịch sử sử dụng cây cỏ làm thuốc cách đây 3.000/ 5.000 năm (Trần Văn Ơn, 2003) [9]
Qua các nghiên cứu về lịch sử sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên thế giới cho thấy, mỗi dân tộc trên thế giới đều có tri thức sử dụng cây thuốc để chữa bệnh
từ lâu đời và đặc sắc tuỳ thuộc vào từng nền văn hoá
2.1.2 Hiện trạng tài nguyên thuốc trên Thế giới
Theo ước tính quỹ thiên nhiên thế giới (WTO) có khoảng 35.000 - 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hoá Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc
Trang 14sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc các chất chiết xuất từ dược liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006) [11]
Theo thông tin của tổ chức Y tế thế giới (WHO) đến năm 1985, trên toàn thế giới
đã biết tới 20.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao (trong tổng số hơn 250.000 loài thực vật đã biết) được sử dụng trực tiếp làm thuốc hay có xuất xứ cung cấp các hoạt chất để làm thuốc (N.R.Farnsworth $ D.D.Soejarto, 1985) Theo Napralert năm 1990 con
số này được ước tính từ 30.000 - 70.000 loài cây thuốc Trong đó, ở Trung Quốc đã có tới trên 10.000 loài thực vật được coi là cây thuốc; Ấn Độ hơn 6.000 loài; vùng nhiệt đới Đông - Nam Á khoảng 6.500 loài N.R Farnsworth, 1985; S.K.Alok, 1991; P.G.Xiao,
2006 (Nguyễn Tập, 2007) [12]
Theo Lewington (1993) đã thống kê trên thế giới có hơn 35.000 loài thực vật được
sử dụng trong các nền văn hoá khác nhau vào mục đích chữa bệnh Nhiều loài trong số chúng là đối tượng không thể kiểm soát được trong các hoạt động buôn bán ở quy mô địa phương hoặc quốc tế (Phạm Minh Toại và Phạm Văn Điển, 2005) [11]
Tư liệu tổ chức bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (IUCN) cho biết, hiện nay trong tổng số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này có thông tin thì
có tới 30.000 loài được coi là đang bị đe doạ tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau Trong tập tài liệu “các loài thực vật bị đe doạ ở Ấn Độ” xuất bản từ 1980 đã đề cập tới 200 loài, trong đó phần lớn là các loại cây thuốc hay trong bộ “Trung Quốc thực vật hồng bì thư” (sách đỏ về thực vật của Trung Quốc), 1996 cũng giới thiệu tới gần
200 loài được sử dụng làm thuốc cần bảo vệ ( Nguyễn Văn Tập, 2007) [14]
* Các nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên cây thuốc
- Tàn phá thảm thực vật
- Hoạt động du canh du cư
- Khai thác quá mức và sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên cây thuốc
- Nhu cầu sử dụng cây thuốc tăng lên
- Khai thác không có kế hoạch và thay đổi cơ cấu cây trồng
- Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc không được tư liệu hoá và bị thất truyền
* Hoạt động bảo tồn tài nguyên cây thuốc
Trang 15Bảo tổn Nguyên vị (In situ conservation): Chỉ có một số nước tham gia Một trong những nước này là Sri Lanka, với 50 khu bảo tồn cây thuốc Tại Ấn độ có 30 trung tâm bảo tồn nguyên vị Tại Trung Quốc các khu bảo tồn tài nguyên cây thuốc cũng đang được thành lập
Bảo tồn chuyển vị (Ex situ conservetion): Năm 1989, tổ chức bảo tồn các vườn thực vật Quốc tế (BGCI) đã phối hợp với IUCN và WWF xây dựng “chiến lược bảo tồn ở các Vườn thực vật” Trên Thế giới có khoảng 1.500 Vườn thực vật đã xây dựng, trong đó 152 Vườn của 33 Quốc gia chuyên trồng cây thuốc hay trồng kết hợp với các cây kinh tế khác Vườn thực vật ở Tokyo có khoảng 1.600 loài
Trồng cây thuốc: Đã có một số nước gây trồng cây thuốc với quy mô lớn phục vụ công tác y tế và bảo tồn quy mô lớn; Trung Quốc; Ấn Độ (Trần Văn Ơn 2003) [9]
Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô
đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn, năm 1952 các tác giả A l Ermakov, V.V.Arsimovich đã nghiên cứu thành công công trình “phương pháp nghiên cứu hoá sinh - sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loại cây thuốc Các tác giả: A F Hammemen, M D Choupinxkaia và A A Yatsenko đã đưa ra giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N G Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nước Liên
Xô cũ việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao và không gây hại cho sức khoẻ của con người Qua cuốn sách “chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả N.G.Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn (Trần Thị Lan, 2005) [6]
2.2 Ở Việt Nam
2.2.1 Lược sử các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam
Nghiên cứu về cây thuốc ở Việt Nam đã có lịch sử rất lâu đời và có sự thay đổi nhất định qua các thời kỳ khác nhau, có thể chia ra làm các giai đoạn sau:
* Trước thời kỳ Pháp thuộc
Trang 16Thời kỳ này nước ta đã có những công trình nghiên cứu về cây thuốc và các phương pháp chữa bệnh bằng cây thuốc đồ sộ: “Nam dược thần hiệu”, “Hồng nghĩa giác tư y thư” của Đại y thiền sư Tuệ Tĩnh và tác phẩm “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác Các tác phẩm này có ý nghĩa to lớn cho nền YHCT dân tộc
Bộ “Nam dược thần hiệu” do Hòa Thượng Bản Lai ở chùa Hồng Phúc ở Trung Đô biên tập, bổ sung in lại năm 1761 gồm bản thảo dược tính 499 vị (bằng thơ) và 10 khoa chữa bệnh, với 3.932 phương thuốc nam ứng trị 184 loại bệnh, kèm theo môn thôn chữa bệnh gia súc
“Nam dược chính bản” do vua Vĩnh Thịnh năm thứ 13 (1705- 1719) sai các quan nội thị phủ chúa Trịnh, các quan y viện duyệt lại và bổ sung sắp xếp thành chương mục thứ tự và đổi tên thành “Hồng nghĩa giác tư y thư” in lại 1717 gồm quyển thượng và quyển hạ Quyển thượng gồm: “Nam dược quốc ngữ phú” (Danh
từ dược học 50 vị thuốc nam), “Trực giải chỉ nam dược tính phú” (220 vị thuốc nam) và một thiên Y luận về lý luận cơ bản, âm dương ngũ hành, tảng phủ, kinh mạch Quyển hạ gồm “Thập tam phương gia giảm” và “Bổ âm đơn” đã được đời sau diễn dịch ra ca nôm và in năm 1723 (Nguyễn Bá Tĩnh, 1998) [13]
Tuệ Tĩnh và Lê Hữu Trác có công to lớn trong việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân trong giai đoạn này, đồng thời các ông đã thống kê ghi chép lại các kinh nghiệm chữa bệnh dân gian quý báu và đúc rút ra những bài thuốc chữa bệnh hiệu nghiệm để viết thành sách lưu truyền cho hậu thế Tuy nhiên, các tác phẩm chỉ tập trung nghiên cứu về công dụng chữa bệnh của các cây thuốc, các phương pháp chữa bệnh mà chưa có điều kiện nghiên cứu về phân bố, trữ lượng các loài cây thuốc trên lãnh thổ Việt Nam
* Thời kỳ Pháp thuộc đến Cách mạng tháng 8 năm 1945
Dưới thời Pháp thuộc có một sự cạnh tranh chia rẽ sâu sắc giữa YHCT và YHHĐ Giai đoạn này, không có một công trình nào về cây thuốc của Việt Nam được thực hiện do nền YHCT bị chính quyền thực dân Pháp đàn áp và bóp nghẹt
không cho phát triển
Trang 17Một số nhà khoa học người Pháp đã có nhưng cố gắng tìm hiểu những cây thuốc
và vị thuốc ở Việt Nam và đã biên soạn thành tài liệu để lại bao gồm có hai bộ:
Bộ thứ nhất “Dược liệu và dược điển Trung Việt” của hai tác giả E.M.Perrot
và Paul Hurrier xuất bản tại Pari năm 1907 Trong bộ sách này các tác giả chia thành hai phần lớn Phần một có sự nhận xét chung về nền Y học Á Đông, việc hành nghề y ở Trung Quốc và Việt Nam; phần hai kiểm kê các danh mục thuốc có nguồn gốc thực vật, động vật, khoáng học dùng trong y học Trung Quốc và Việt Nam Tài liệu có tính chất toàn diện nhưng bộ sách xuất bản đã lâu nên so với sự tiến bộ của khoa học hiện nay thì có nhiều thiếu sót, cần phải được sửa lại và bổ sung thêm Nội dung giới thiệu từng vị thuốc còn quá sơ lược so với sự đòi hỏi thực
tế hiện nay
Bộ thứ hai “Danh mục những sản phẩm ở Đông Dương” phần cây thuốc do hai
tác giả Ch.Cevest và A.Pestelot biên soạn thành hai tập: Tập 1 in năm 1935 với 1.430
vị thuốc thảo mộc của 3 nước Đông Dương Đến năm 1952, A.Pestelot có sửa chữa lại
và bổ sung thêm, đặt cho bộ sách cái tên mới là “Những cây thuốc của Campuchia, Lào,Việt Nam” với 1.428 vị thuốc thảo mộc và được in thành 4 tập; tập I (1925), tập II (1953), tập III (1954), tập IV in năm 1954 dành riêng cho các mục lục và bảng tra cứu
(Đỗ Tất Lợi, 2006) [7]
Các tác phẩm nghiên cứu về cây thuốc của các tác giả người Pháp tuy chưa đầy đủ và tỉ mỉ nhưng các bộ sách biên soạn khá công phu và giúp ích nhiều cho những nhiên cứu về cây thuốc của Việt Nam sau này
* Sau cách mạng tháng 8 đến nay
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm, nghiên cứu các cây cỏ được sử dụng làm thuốc trên cả nước
Trong thời kì kháng chiến các nhà khoa học Việt Nam đã bước đầu thống kê,
hệ thống lại, tìm hiểu số lượng, khu phân bố các loại cây thuốc Công việc này được tiến hành trong suốt một thời gian dài với sự tham gia của nhiều nhà khoa học đầu ngành Đỗ Tất Lợi, Vũ Văn Chuyên, Võ Văn Chi
Trang 18Trong các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam có một công trình nghiên cứu điển hình như: Cuốn sách “ Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi gồm
6 tập được in năm 1962- 1965 Tác giả đã trình bày khoảng 430 loài thuốc thuộc
116 họ, đã thống kê các cây thuốc, ông đã ghi chép lại một cách tỉ mỉ các thông tin: Đặc điểm nhận biết, đặc tính sinh học và sinh thái học, phân bố địa lý, công dụng Cách dùng của các dân tộc có sử dụng vị thuốc này, các công trình khoa học trên thế giới đã công bố có liên quan đến cây thuốc (Đỗ Tất Lợi, 2006) [7]
“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” có một ý nghĩa quan trọng trong nền y dược học Việt Nam Cuốn sách được các nhà khoa học và nhân dân đón nhận rất lớn Từ khi xuất bản đầu tiên năm 1962-1965 đến 2006 cuốn sách đã được tái bản 14 lần, trong quá trình tái bản cuốn sách có chỉnh sửa bổ sung ngày càng hoàn thiện các thông tin cập nhật và hình ảnh minh họa về cây thuốc
Cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” của Vũ Văn Chuyên, xuất bản năm 1966 Cuốn sách đã tóm tắt được hầu hết các đặc điểm của các họ có cây thuốc
ở Việt Nam Tác giả đã mô tả đầy đủ các thông tin về; tên khoa học, tên phổ thông, đặc điểm nhận biết chung, khu vực phân bố của từng họ cây thuốc Đây là việc có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn đầu của công tác nghiên cứu về hệ thực vật cây thuốc Việt Nam
Cuốn sách “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi, xuất bản năm
1997 Tác giả đã thống kê, mô tả chi tiết về tên khoa học, tên phổ thông, tên địa phương, các đặc điểm nhận biết, đặc tính sinh học và sinh thái học, phân bố địa lý, công dụng cách dùng của các dân tộc có sử dụng vị thuốc này, các công trình khoa học trên thế giới đã công bố có liên quan đến cây thuốc của 3.200 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam và các cây thuốc được nhập gây trồng ở Việt Nam Cuốn sách mô tả sinh động hình ảnh các cây thuốc bằng các hình vẽ và ảnh mầu (Võ Văn Chi,1997) [1]
Các công trình khoa học: “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, “ Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” và “Từ điển cây thuốc Việt Nam” là những tài liệu cẩm nang tra cứu cần thiết cho cán bộ giảng dạy và nghiên cứu về cây thuốc cho các nhà
Trang 19khoa học, cán bộ, sinh viên, học sinh và những ai quan tâm đến việc tìm hiểu tài nguyên cây thuốc Việt Nam
Ngoài ra còn có rất nhiều các công trình khoa học được công bố có liên quan tới nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam: “Cây cỏ có ích Việt Nam” gồm 4 tập của Võ Văn Chi, Trần Hợp xuất bản năm 1999; “Từ điển thực vật thông dụng” tập I tập II của Võ Văn Chi xuất bản năm 2003
2.2.2 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm diện tích hẹp nhưng dài do đó đã tạo nên những khí hậu khác nhau theo vĩ tuyến và độ cao, là nơi hội tụ và phát triển một quần thể thực vật hết sức phong phú Cây thuốc là một thực vật được hình thành trong môi trường đó nên cây thuốc Việt Nam rất phong phú và
đa dạng về số lượng và chủng loại
Công tác điều tra nghiên cứu của Viện Dược liệu- Bộ Y tế ở tất cả các địa phương trên toàn quốc kết quả điều tra từ năm 1961 đến cuối năm 2004, đã ghi nhận
ở nước ta có 3.948 loài cây thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật kể cả nấm có công dụng là thuốc Trong đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên
Hiện nay đã thống kê được gần 300 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng thường xuyên được khai thác với khối lượng từ 10.000 - 20.000 tấn mỗi năm, cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu Các cây thuốc đang được khai thác với khối lượng lớn như: Vằng đắng (Coscinium fenestratum), Thiên niên kiện (Homalomena spp), Cẩu tích (Cibotium barometz), Hoàng đằng (Fibraurea recisa Piere), Chè dây (Ampelopsis cantoniensis) phần lớn các cây thuốc trên được đưa vào sử dụng trực tiếp trong nền YHCT Một số loài được đưa vào chiết xuất hoạt chất để dùng làm thuốc như: Thanh cao (Artemisia annua) chiết xuất L.tetrahydro palmatin làm thuốc an thần, giảm đau; Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium) chiết Saponin làm thuốc chữa sỏi thận (Nguyễn Tập, 2007) [12]
Với 3.948 loài cây thuốc đã biết, hiện nay vẫn còn có nguồn tài nguyên cây thuốc của các dân tộc thiểu số sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam vẫn chưa thống kê được đầy đủ có bao nhiêu loài cây thuốc (ngoài 3.948 loài cây thuốc đã thống kê) sự
Trang 20phân bố và sử dụng chúng Nước ta cũng chưa thể thống kê được chính xác có bao nhiêu loài đang bị mất và đang bị đe dọa tuyệt chủng
Trong bài báo “Sử dụng tài nguyên cây thuốc - sự chia sẻ công bằng và hợp lý” (2004) tác giả Trần Công Khánh đã làm rõ nét đặc trưng của cây thuốc dân gian Cùng một cây thuốc với dân tộc này thì rất quý nhưng với dân tộc khác thì nó không có giá trị, cũng cùng một loại cây thuốc đó mỗi dân tộc lại có một cách dùng chữa trị các bệnh khác nhau Như vậy, có thể nói giá trị và cách sử dụng cây thuốc của mỗi dân tộc mang lại những nét văn hóa và đặc trưng riêng
Hiện nay ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về các kinh nghiệm truyền thống y học dân gian của các dân tộc ít người nhưng còn mang tính thăm dò sưu tầm là chính; “Nghiên cứu về kinh nghiệm phòng chữa bệnh của dân tộc Mường Thanh Hóa, Nghệ An” (Phó Đức Thành,1930), “Kinh nghiệm của người Dao Ba Vì” (Phó Đức Thuần, Đỗ Thị Phương, 1996), “Kinh nghiệm của người Dao
Đà Bắc - Hòa Bình (Trần Hồng Hạnh,1997) (Phó Đức Thuần, 2005) [14]
Tư liệu hóa tài nguyên cây thuốc của tất cả các cộng đồng dân tộc Việt Nam là vấn đề cấp thiết hiện nay để bảo tồn tính ĐDSH cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc của các cộng đồng Tri thức sử dụng cây thuốc của các cộng đồng dân tộc thì có nhiều nhưng cho đến nay chưa có một người nào, một dân tộc miền núi nào của nước ta tự đến cơ quan nhà nước đăng kí bản quyền sở hữu trí tuệ tri thức đó Đây thực sự là nguồn tài sản có giá trị nếu biết cách quản lý thì nguồn tài nguyên tri thức này sẽ mang lại cuộc sống sung túc cho các dân tộc
có hoạt động làm thuốc và việc khai thác, sử dụng rừng bền vững
2.2.3 Một số nghiên cứu về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của dân tộc thiểu số
ở Việt Nam
Các dân tộc thiểu số nói chung, trong đó có Việt Nam, do đời sống còn gắn liền với khai thác và sử dụng thực vật nên có nhiều kinh nghiệm và tri thức quý báu trong lĩnh vực chế biến và sử dụng thực vật, đặc biệt là kinh nghiệm sử dụng cây thuốc Tuy nhiên các tri thức và kinh nghiệm dân tộc thường chỉ được sử dụng và lưu truyền trong phạm vi hẹp (dân tộc, dòng họ, gia đình) Vì vậy không được phát
Trang 21huy và phục vụ cho xã hội và nguy cơ thất thoát rất cao Nhận thức được tầm quan trọng này trong khoảng 10 năm lại đây nghiên cứu cây thuốc dân tộc đặc biệt quan tâm tại một số cơ sở của nước ta và đã thu được nhiều kết quả khả quan
Nhiều công trình điều tra thành phần loài và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được tiến hành trong những năm vừa qua Trong khoảng thời gian 1994- 2005, phòng Thực vật dân tộc học thuộc Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật đã triển khai nghiên cứu tại các cộng đồng dân tộc người H’mông, Dao, Tu Dí, Mường, Thái, Khơ Mu, Tày, Nùng, Hoa ở các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang
Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự nghiên cứu khá chi tiết thành phần loài cây thuốc của dân tộc Thái tại Con Cuông, tỉnh Nghệ An Trần Văn Ơn nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại vườn quốc gia Ba Vì Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu khác được công bố, Ty Thị Hoàn nghiên cứu sử dụng cây thuốc của người Cao Lan tại Tuyên Quang, Trần Thị Dung nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của dân tộc Bru - Vân Kiều tại Quảng Trị Kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy các dân tộc ở nước ta có nhiều tri thức quý giá và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc độc đáo để phòng chữa bệnh
Cùng với việc điều tra về thành phần loài, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu số, nghiên cứu sàng lọc các bài thuốc dân tộc để ứng dụng rộng rãi góp phần chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội được chú trọng nghiên cứu trong những năm gần đây Từ kinh nghiệm truyền thống của dân tộc Tày, nhóm nghiên cứu của Đại học Dược Hà Nội đã sản xuất thành công thuốc chữa đau dạ dày từ cây chè dây (Ampelopsis cantoniensis) Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã đưa vào thử nghiệm lâm sàn bài thuốc chữa phì đại tuyến tiền liệt TLC- 02 được phát triển từ bài thuốc dân gian của dân tộc Tày ở Cao bằng Hiện nay nhiều bài thuốc dân tộc đang được đánh giá và nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều cơ quan nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt chất ức chế ung thư của dịch chiết từ cây Ngái (Ficus hispida) tại Đại học khoa học tự nhiên, nghiên cứu các bài thuốc dân tộc chữa sỏi thận, viêm gan tại viện Y học cổ truyền trung ương Có thể nhận
Trang 22thấy, nghiên cứu cây thuốc dân tộc không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc của đất nước, mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới để điều trị các bệnh hiểm nghèo Đây thực sự là hướng nghiên cứu có triển vọng lớn trong tương lai
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Xã Sơn Nam thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Cách trung tâm huyện 35Km, địa bàn của xã như sau:
- Phía Đông giáp sông Phó Đáy, xã Ninh Lai
- Phía Tây giáp xã Đại Phú
- Phía Bắc giáp xã Tuân Lộ
- Phía Nam giáp xã Quang Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc
Xã có diện tích tự nhiên là 2.056ha, dân số 2.361 khẩu, mật độ nhân khẩu là 9.302, được chia thành 24 thôn Do nằm ở vị trí cửa ngõ giao thông nên có vai trò khá quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã cũng như của các
xã trong khu vực
2.3.1.2 Địa hình, đất đai
Xã Sơn Nam được bao bọc bởi hai dãy núi: Núi Bầu ở phía Bắc, Núi Sáng Sơn ở phía Nam, có hệ thống sông ngòi dày đặc Địa thế đặc biệt nghiêng dần theo hướng Đông sang Tây, từ Nam xuống Bắc, độ cao trung bình từ 40- 250m so với mực nước biển
2.3.1.3 Khí hậu, thủy văn
* Khí hậu
Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông
* Thủy văn
- Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1200- 1400mm
Trang 23- Độ ẩm trung bình năm 70- 80%, tương đối ôn hòa thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp
2.3.1.4 Hệ thực vật
Khu hệ thực vật của xã Sơn Nam mang yếu tố đặc trưng của vùng núi phía Bắc Việt Nam do vậy trong các tổ thành thực vật yếu tố bản địa và các loài cây thuộc họ Re, họ Dẻ, họ Xoan, họ Trám,… thường chiếm ưu thế
Khu vực núi đất trong rừng gỗ cũng như rừng thưa thường phổ biến là các loài Sau Sau, Trám, Thành Ngạnh,… Khu vực núi đá vôi tổ thành các loài Lát, Trai Lý, Mạy Tèo,… và được đặc trưng bởi ba kiểu rừng:
- Kiểu rừng kín thường xanh Á nhiệt đới ẩm đồi núi thấp
- Kiểu rừng kín lá rụng ẩm nhiệt đới
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm Á nhiệt đới
2.3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội
2.3.2.1 Đặc điểm dân số và lao động
Xã Sơn Nam có tổng diện tích tự nhiên là 2.025,6 ha; toàn xã có 2.361 hộ với 9.302 nhân khẩu Gồm có 07 dân tộc anh em sinh sống với nhau, nhưng chủ yếu là dân tộc Kinh và dân tộc Sán Dìu Ngoài ra còn có các dân tộc khác như: Dân tộc Hoa, Cao Lan, Tày, Nùng, Dao Được phân bố thành 24 thôn theo địa hình dân cư Nhân dân sinh sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp
2.3.2.2 Điều kiện kinh tế
- Về nông nghiệp:
Xã chủ yếu là trồng lúa, ngô, lạc và một số hoa màu khác với diện tích trồng lúa là 426 ha, trồng lạc là 34ha, và hoa màu khác là 45.7ha, với năng suất của lúa là 70,3 tạ/ha, năng suất của ngô là 50,2 tạ/ha, năng suất của lạc là 30 tạ/ha
- Về lâm nghiệp:
Diện tích đất Lâm Nghiệp là 840 ha đều là rừng sản xuất, với cây chủ yếu là keo, bạch đàn
Trang 24- Về chăn nuôi:
Đối với đàn gia súc tổng số trâu của xã là 357 con, tổng số bò là 196 con, tổng
số lợn là 5890 con Tổng số gia cầm của xã là 52645 con
2.3.3 Văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế
2.3.3.1 Văn hóa
Các hoạt động văn hóa nghệ thuật đang tổ chức và được triển khai thực hiện đến tận thôn bản Các cấp ủy Đảng, các tổ chức chính trị xã hội đã tập trung tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và đáp ứng tốt các nhu cầu về hưởng thụ văn hóa và tinh thần cho nhân dân
Đến nay xã có 20/24 thôn đạt tiêu chuẩn văn hóa, tổng số hộ gia đình đạt gia đình văn hóa là 1569 hộ
2.3.3.2 Xã hội
Trên địa bàn toàn xã có 7 dân tộc anh em cùng sống là dân tộc Kinh, Sán Dìu, Dao, Cao Lan, Hoa, Tày và dân tộc Nùng Mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán sinh hoạt kinh nghiệm sản xuất riêng
2.3.3.3 Giáo dục
Trong xã có 4 cấp học là Trung học phổ thông, Trung học cơ sở, Tiểu học và Mầm non Hàng năm 100% số trẻ em trong độ tuổi được đến trường Từ năm 2001 xã đạt tiêu chuẩn về phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, năm 2004 đạt phổ cập bậc Trung học
cơ sở được duy trì đến nay Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp theo học Trung học cơ sở tiếp tục theo học Trung học phổ thông đạt 100%
2.3.3.4 Y tế
Số người tham gia bảo hiểm y tế đạt 35% dân số, số người tham gia bảo hiểm
y tế bắt buộc đạt 100% Trạm y tế xã đạt tiêu chuẩn quốc gia theo tiêu trí của bộ Y
tế năm 2003
2.3.4 Cơ sở hạ tầng
+ Điện: Cho đến nay toàn bộ dân cư trong xã đã có điện 100% Mạng lưới điện đi tới khắp nơi trong các xã
Trang 25+ Đường: Xã có đường giao thông phát triển với trục đường chính là quốc lộ 2C chạy qua toàn xã ngoài xã còn nhiều đường giao thông liên thôn đã được bê tông hóa + Trường: Cho đến nay trong xã có 4 trường 1 trường Mầm non, 1 trường Tiểu học, 1 trường Trung học cơ sở, 1 trường Trung học phổ thông
+ Trạm y tế: Xã có 1 trạm y tế với 1 bác sỹ, 4 y sỹ, có 1 bệnh viện Đa khoa khu vực với 9 bác sỹ và 15 y sỹ đáp ứng được nhu cầu chữa bệnh cho nhân dân, 24/24 thôn có y tá thôn bản
Trang 26Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài LSNG được người dân tộc Sán Dìu sử dụng để làm thuốc
- Địa điểm thực tập tại xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
- Thời gian tiến hành: từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2015
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Thống kê thành phần loài, xác định tên của một số loài LSNG được sử dụng làm thuốc
- Mô tả được đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài LSNG được sử dụng làm thuốc
- Tri thức bản địa của người dân trong việc sử dụng các loài LSNG làm thuốc
- Đề xuất giải pháp bảo tồn các loài LSNG và gìn giữ bài thuốc của đồng bào người Sán Dìu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin
Trong quá trình điều tra nghiên cứu cần thu thập thông tin sau:
* Thông tin thứ cấp: Thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, xã hội của khu
vực nghiên cứu, những thông tin liên quan tới các loài cây dược liệu tại địa phương như; địa điểm thu hái và đặc điểm loài, bộ phận sử dụng mùa vụ thu hái, cách chế biến
và sử dụng từ người dân địa phương và Ủy ban nhân dân xã
* Thông tin sơ cấp: Thu thập bằng phương pháp phỏng vấn nhóm, xây dựng
bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp
- Phỏng vấn bán cấu trúc: Phỏng vấn những người đưa tin then chốt như già
làng, thầy lang, những người có ngành nghề liên quan đến dược liệu, hộ gia đình về các vấn đề liên quan đến mục tiêu, nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 27- Phỏng vấn trực tiếp: Hộ gia đình có sử dụng LSNG làm dược liệu, chọn
ngẫu nhiên 30 hộ ở 3 thôn tại xã Sơn Nam để tiến hành điều tra, phương pháp chọn
hộ điều tra; điều tra ngẫu nhiên
- Điều tra thực địa: Khu vực sinh sống của các loài LSNG được sử dụng làm dược liệu có sự hướng dẫn của người dân địa phương
Xác định tuyến điều tra: Dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa hình và phân
bố cây thuốc trong khu vưc Để đảm bảo tính khách quan trong qua trình điều tra, tuyến điều tra được chọn cụ thể là các tuyến sau:
- Tuyến 01: bắt đầu từ điểm đầu của thôn Lõng Khu đến điểm cuối của thôn Lõng Khu
- Tuyến 02: bắt đầu từ điểm đầu thôn Ba Nhà đến điểm cuối của thôn Ba Nhà
- Tuyến 03: bắt đầu từ điểm đầu của thôn Nam Hiên đến điểm cuối của thôn Nam Hiên
- Trên mỗi tuyến, tiến hành quan sát điều tra trong phạm vi 10m về 2 phía, kết hợp với người dân địa phương có kinh nghiệm nghề làm thuốc dẫn đường và phát hiện các loài LSNG làm thuốc Các loài thực vật sử dụng làm thuốc được chụp ảnh, thu mẫu và mô tả sơ bộ các đặc điểm để làm cơ sở giám định tên khoa học cho loài Nội dung và kết quả điều tra theo tuyến được ghi ở bảng 3.1
Bảng 3.1: Điều tra thành phần LSNG làm dược liệu được sử dụng tại địa
phương theo tuyến
STT
Tên cây thuốc
Họ thực vật
Dạng cây
Môi trường sống
Cách khai thác
Mùa khai thác
Biện pháp
sử dụng
Công dụng
Tên
dân
tộc
Tên phổ thông
Điểm phân
Trang 28Điều tra ô tiêu chuẩn: Trên tuyến điều tra, tại mỗi vị trí có sự thay đổi về thảm
(10 × 10 m) Trên OTC điều tra một số chỉ tiêu; thành phần loài là số loài xuất hiện trên đơn vị diện tích; xác định mật độ loài là số cá thể trong mỗi loài trên đơn vị diện tích; tần số xuất hiện là tỷ lệ phần trăm hay số lần xuất hiện của loài trong tất cả các OTC Sau một thời gian thảo luận nhóm cùng người dân địa phương, những người then chốt và cán bộ của Ủy ban nhân dân xã, chúng tôi đã nhất trí và đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá mức độ bị đe dọa của loài để xác định các loài cây thuốc cần được
ưu tiên bảo tồn tại địa phương như sau:
* Độ hữu ích của loài đối với người dân địa phương: Sử dụng thang 3 điểm
+ Loài không có tiềm năng được dùng ở địa phương: 0 điểm;
+ Loài sử dụng ít đối với người dân địa phương: 1 điểm;
+ Loài có tầm quan trọng đối với người dân địa phương: 2 điểm
* Mức độ dễ xâm nhập (vị trí mọc của loài dễ bị tìm thấy để khai thác): Sử dụng thang 2 điểm
+ Loài mọc ở nơi rất khó xâm nhập: 0 điểm;
+ Loài mọc ở nơi rất dễ xâm nhập: 1 điểm
* Tính chuyên biệt về nơi sống ( sự xuất hiện của loài thể hiện khả năng sống thích nghi của loài hạn hẹp hay phổ biến): Sử dụng thang 3 điểm
+ Loài xuất hiện ở nhiều nơi sống khác nhau: 0 điểm;
+ Loài xuất hiện ở một số ít nơi sống: 1 điểm;
+ Loài có nơi sống hẹp: 2 điểm
*Mức độ tác động đến sự sống của loài (sự tác động của người dân ảnh hưởng đến sự sống của loài): Sử dụng thang 3 điểm
+ Loài có ít nhất vài nơi sống của loài ổn định: 0 điểm;
+ Loài có nơi sống phần nào không ổn định hay bị đe dọa: 1 điểm;
+ Loài có nơi sống không chắc còn tồn tại: 2 điểm
Trang 293.3.2 Phương pháp xử lý thông tin
- Thông tin từ tài liệu thứ cấp: Thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài, chọn lọc và tổng hợp thông tin
- Thông tin từ phỏng vấn, thảo luận nhóm, tiến hành tổng hợp các nội dung phục vụ cho đề tài
- Tổng hợp các thông tin từ nguồn đã thu thập được, so sánh đối chiếu và sử dụng các nguồn thông tin về đề tài
Trang 30Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều tra thành phần các loài LSNG sử dụng để làm thuốc
Đã từ lâu đời những người Sán Dìu tại xã Sơn Nam có cuộc sống gắn bó vào rừng Họ thường sử dụng những sản phẩm sẵn có trong thiên nhiên sử dụng để phòng
và chữa bệnh Qua nhiều đời và nhiều năm sử dụng họ đã đúc kết thành những bài thuốc gia truyền quý báu và ngày càng được hoàn thiện hơn nữa Chữa bệnh bằng thảo dược có nhiều ưu điểm, tính hiệu quả cao, rẻ tiền, dễ kiếm, khi sử dụng thì ít gây ra tác dụng phụ cho người bệnh Điều tra các hộ gia đình tại 3 thôn tại xã có đồng bào người Sán Dìu sinh sống thì số lượng hộ gia đình sử dụng cây thực vật làm thuốc là rất ít chiếm 10% Trong đó có một nửa số hộ là sử dụng thường xuyên và là những thầy lang Tuy vậy số lượng, thành phần các loài cây sử dụng cây thực vật lầm thuốc của đồng bào rất đa dạng và phong phú với nhiều loại cây, nhiều vị thuốc Phỏng vấn và thảo luận cùng các hộ gia đình đã xác định được các loài LSNG của cộng đồng sử dụng chủ yếu là các loài cây mọc tự nhiên ở trên rừng và một số vườn nhà
4.2 Đặc điểm sinh thái và hình thái của một số cây tiêu biểu dược người Sán Dìu sử dụng làm thuốc
4.2.1 Mô tả hình thái, đặc điểm của các loài cây được người Sán Dìu sử dụng làm thuốc
Để tiện cho việc nghiên cứu, sử dụng một số loài cây thuốc và bài thuốc được phát hiện tại khu vực nghiên cứu Tôi tổng hợp một số đặc điểm về hình thái, sinh thái và phân bố, kết hợp với hình ảnh minh họa kèm theo của các loài thuốc thông dụng Kết quả được trình bày ở bảng dưới đây
Trang 31Bảng 4.1: Mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số cây tiêu biểu được
người dân Sán Dìu thường sử dụng làm thuốc
STT Tên
cây
Đặc điểm hình thái, phân bố Hình ảnh
Thân thảo, lá đơn nguyên, hình trứng rộng, phía gốc hình tim, đầu lá nhọn, mặt lá láng bóng, có 5 gân chính phân ra từ cuống lá, cuống lá
có bẹ Hoa hợp thành cụm ở nách lá
Mọc hoang ở các tỉnh Miền Bắc nước ta
Thân thảo, thân cao từ 0.60m đến 1 m ,
lá hình trái xoan thon gọn ở hai đầu, hai mặt đều nhẵn dài tới 45 cm, rộng tới 18cm Cuống lá có bẹ Hoa tự mọc
từ giữa các lá lên Phân bố ở khắp nơi trong nước ta
lá xanh thẫm, mặt dưới lá màu trắng xám, có lông Cụm hoa màu vàng lục nhạt Quả bế nhỏ Phân bố ở khắp nước ta vùng ôn đới ẩm, Châu
có nhiều hạt đen Phân bố ở khắp nơi trong nước ta
Trang 32Quả mọng hình cầu Đài hoa tồn tại trên quả Phân bố ở khắp nơi trong nước
đỏ Tiểu đài 6- 10, Đài gồm 5 lá đài, màu lục dính vào nhau Tràng 5, rời nhau, phiến rộng, mỏng hẹp Bộ nhị đơn thể dính liền nhau bởi chỉ nhị thành một ống dài mang những bao phấn chỉ có một ô phấn, 5 lá noãn dính nhau thành một bầu thượng 5 ô
Vòi dài nằm trong ống nhị, đầu nhụy
có 5 núm Quả là một nang Phân bố khắp nơi trong nước
đất
Cây thảo, rễ mập hình thoi, thân phân nhánh nhiều, mọc tỏa sát mặt đất, lá mọc đối, hình trái xoan hay hình trứng, gốc gần hình tim, đầu tù, mặt trên nhẵn, mặt dưới có nhiều lông màu trắng bạc Hoa mọc ở kẽ
lá, lá bắc nhỏ, hình tam giác, hoa màu đỏ tía Quả hình trụ, phồng ở đầu có 5 cạnh lồi và lông dính Phân
bố ở khắp nơi trong nước ta
Trang 33Hoa tự mọc thành bông ỏ đầu cành, không cuống, hình trứng Quả nang dài, nhiều hạt, nhẵn, màu đen bóng
Phân bố ở khắp nơi trong nước ta
đỏ, mọc tập trung ở đầu cành Quả mọng hình cầu, có đài tồn tại Phân bố
ở khắp nơi trong nước ta
ngựa
Là cây nhỏ, cao khoảng 2 m thân có khía rãnh Lá mọc so le, phiến lá hình chùy không đều mép có răng cưa, gân lá hình chân vịt, thân và lá
có lông ngắn Hoa tự mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành Quả giả hình thoi ngoài có lông cứng đầu quả có hai móc trong chứa hai quả thật Phân
bố ở khắp nơi trong nước ta
có 3 cánh sớm rụng Quả nang thuôn dài, có góc và gai nhọn, trên mang vòi, trong như chiếc lồng có chứa rất nhiều hạt tròn dẹt, màu đen Phân bố ở khắp nơi trong nước ta
Trang 34Phân bố ở khắp nơi trong nước ta
Cây cỏ, thân mọc bò, từ mỗi đốt mọc
ra rất nhiều rễ Lá đơn mọc so le, hình mác hay hình trứng mác, cuống ngắn, bẹ chia ngắn, trên mặt lá có những gân chạy song song, dài khỏi
bẹ Hoa mọc thành bông hẹp, gầy đơn độc hoặc xếp đôi Quả nhỏ, ba cạnh, hai đầu nhọn bóng nhẵn Phân
bố ở khắp nơi trong nước ta
le, hình tim, dài 7- 15 cm, rộng 4- 8
cm, mép có răng cưa, mặt dưới lá trắng, mặt trên có màu lục sẫm Hoa dơn tính cùng gốc, hoa đực có 4 lá đài và 4 nhị, hoa cái có đài hợp chia làm 3 răng Quả bế mang đài tồn tại
Phân bố ở khắp nơi nước ta
co 5 cạnh, vị chua Phân bố ở khắp nơi trong nước ta