Vì thế ưu tiên phát triểnnhân tố con người, đặc biệt là đầu tư đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn, khoa học kỹ thuật không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn làm chủ và khẳng định
Trang 1Chúng ta đều biết rằng,ở mỗi quốc gia, dân tộc trong mọi thời đại muốn tồn tại và
phát triển đều rất cần đến con người “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”luôn được cha
ông nhấn mạnh vì nhân tài chính là nhân tố cốt lõi của nguồn lực con người trong mọithời đại Hơn nữa chúng ta sống và làm việc trong thời đại mà khoa học thực sự đã trởthành lực lượng sản xuất vật chất trực tiếp, thời đại mà không còn khoảng cách về khônggian và thời gian thì chính tiềm lực khoa học – công nghệ và trình độ dân trí mới là nhân
tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới Vì thế ưu tiên phát triểnnhân tố con người, đặc biệt là đầu tư đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn, khoa học
kỹ thuật không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn làm chủ và khẳng định vị thếcủa mình trên trường quốc tế trong tiến trình hội nhập của mỗi quốc gia nói chung vàViệt Nam nói riêng
Thực tế hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã và đang ngày càng coi trọng nguồn nhân
lực có chất lượng cao, lấy vấn đề đào tạo và xây dựng nó làm “quốc sách hàng đầu”
trong chiến lược quốc gia đặc biệt là trong tiến trình hội nhập như hiện nay
Điều này đã được xác định rõ qua từng chủ trương chính sách phát triển đất nước.Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và chiến lược phát triển kinh tế – xãhội của Đảng đã chỉ rõ: Con người là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọinguồn lực, quyết định sự hưng thịnh của đất nước Đại hội lần thứ IX của Đảng đã định
hướng cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là: “Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”.
Vậy theo xu hướng khách quan và chủ quan của sự phát triển hiện nay đặc biệt làtheo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thì hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhânlực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao phải luôn chiếm một vị trí trung tâm vàđóng vai trò quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất làtrong giai đoạn hiện nay –giai đoạn đẩy mạnh sự hợp tác toàn cầu, hội nhập quốc tế
Trang 2Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề về nguồn nhân lực chất lượng cao của ViệtNam trong tiến trình hội nhập quốc tế.
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC)
1.1.1 Cơ sở lí luận về nguồn nhân lực chất lượng cao
1.1.1 Cơ sở lí luận chung
Từ thời của Mác, dù chưa đề cập đến thuật ngữ NNLCLC nhưng Mác đã nêu ra quan
niệm có liên quan đến vấn đề này: “Những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn” Ở đây,
Mác muốn nói đến những con người có trình độ, có khả năng ứng dụng những thành tựukhoa học-kỹ thuật vào sản xuất
Hiện nay,theo nghiên cứu trên thế giới và thực tiễn, có rất nhiều quan niệm vềNNLCLC Trong “Đại từ điển kinh tế thị trường” của Trung Quốc giải thích khái niệm nhântài: “Là những người, trong điều kiện xã hội nhất định, có tri thức chuyên môn nhất định, cónăng lực và kỹ năng cao, với tính lao động sáng tạo của bản thân trong điều kiện thực tiễnhoạt động xã hội, có khả năng góp phần cống hiến nào đó đối với sự phát triển của xã hội,của nhân loại”
Ở nước ta, lần đầu tiên thuật ngữ NNLCLC xuất hiện đó là trong Văn kiện ĐảngVăn kiện Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định “Phát triển nhanh nguồn nhân lực chấtlượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành” [tr 96] Nó đã thể hiện rằng trong chiến lượcphát triển nguồn nhân lực Việt Nam có những điểm mới, trong đó tập trung phát triểnNNLCLC, xem đó là bước đột phá nhằm sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém pháttriển, đồng thời tạo sự phát triển nhanh, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế Những năm gần đây, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã đi sâu vào để tìm hiểu,nghiên cứu vấn đề này và đưa ra một số quan niệm về NNLCLC Tiêu biểu như:
Trong “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”,GS.VS.TS Phạm Minh Hạc quan niệm NNLCLC là: Đội ngũ nhân lực có trình độ và
Trang 3năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện
có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đivào công nghiệp hóa, hiện đại hóa được mở rộng theo kiểu “vết dầu loang”, bằng cáchdẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh
Ở trên tác giả nhấn mạnh đến “trình độ và năng lực” ,chú trọng đến chuyển giaocông nghệ
Còn theo GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn trong “Nghiên cứu văn hóa con người,nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI” đưa ra khái niệm “một nguồn nhân lực mới” để chỉ “lựclượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứngnhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất” Tác giả chỉ chú trọngđến học vấn và chuyên môn
NNLCLC được TS Nguyễn Hữu Dũng quan niệm trong “Phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh
tế quốc tế” là: “Nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một ngườilao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề
cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (trên đại học,cao đẳng, công nhân lành nghề)” Ở đây tác giả lại chú ý đến trình độ lành nghề
Trong tạp chí “Thông tin Chủ nghĩa xã hội - lí luận và thực tiễn”, TS Bùi Thị NgọcLan cho rằng: NNLCLC là bộ phận tinh túy nhất của nguồn nhân lực Lực lượng này cótrình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi và có khả năngthích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất, có phẩm chấttốt và có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vàoquá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao Tác giả đãđưa ra thêm khá nhiều tiêu chí để xác định hơn
Như vậy, NNLCLC đã được đưa ra và hiểu dưới nhiều góc độ tùy theo nhưng tiêuchí cụ thể đặt ra, ở góc độ tổng hợp nhất ta có thể hiểu như sau : NNLCLC là một bộphận kết tinh những gì tinh túy nhất của nguồn nhân lực Là bộ phận lao động có trình độhọc vấn và chuyên môn kỹ thuật cao hay có kỹ năng lao động giỏi, có năng lực sáng tạo,phải có tác phong công nghiệp và đạo đức trong nghề nghiệp Đặc biệt là khả năng thích
Trang 4ứng nhanh, đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn, biết vận dụng tri thức, kỹ năng vàkinh nghiệm đã được đào tạo và tích lũy trong quá trình lao động nhằm đem lại kết quảsản xuất với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
NNLCLC chính là lực lượng cốt lõi cả trong hai mặt số lượng và chất lượng của nguồnnhân lực NNLCLC có lực lượng nòng cốt là những công nhân lành nghề – những ngườitrực tiếp sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng cả ở trong nước vànước ngoài Do đó, họ phải có một trình độ trí tuệ nhất định để tiếp thu và làm chủ đượccông nghệ tiên tiến Hơn thế nữa, với những tri thức khoa học và những kinh nghiệm tíchluỹ được trong quá trình sản xuất trực tiếp, người công nhân không những sử dụng cáccông cụ lao động hiện có, mà còn có thể sáng chế ra những tư liệu lao động mới, hoànthiện kỹ thuật và phương pháp sản xuất Lực lượng lao động “đầu tàu”của NNLCLC làđội ngũ trí thức Đội ngũ trí thức Đảng ta đã khẳng định: “Trong mọi thời đại, tri thứcluôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền
bá tri thức”để mở rộng hợp tác quốc tế song phương và đa phương, đặc biệt với các tổchức quốc tế, các tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Luôn mở rộng hợp tác vớicác tổ chức khoa học và công nghệ trong khu vực và trên thế giới, chia sẻ kinh nghiệm,trao đổi thông tin, thu hút nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức trong nước giaolưu khoa học với thế giới bằng các hình thức phù hợp…
1.1.1.2 Đào tạo, phát triển nâng cao chất lượng NNL- kinh nghiệm ở một số nước trên thếgiới
Trong mấy chục năm gần đây, nhìn ra nước ngoài, chúng ta thấy sự phát triển rất nhanhchóng của nhiều nước ở khu vực Đông á bao gồm Nhật Bản, Hàn quốc và Đài Loancũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh của nhiều nước công nghiệp mới, các nướcASEAN , Trung Quốc và ngay cả những nước rất phát triển như Mỹ.Tất cả đều phần lớnnhờ vào sự phát triển của nguồn nhân lực có chất lượng cao
Ở châu Á, Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực.chúng ta đã biết rằng Nhật – là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên vì vậy để phát
Trang 5triển họ chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật Bản và Chính phủ nước nàyngay từ rất lâu đã đặc biệt chú trọng tới tiềm năng của nguồn lực quý giá này thông qua
sự phát triển của giáo dục đào tạo, thực sự coi đây là quốc sách hàng đầu Cụ thể nhưchương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc; tất cả học sinhtrong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi được học miễn phí Kết quả là, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào cáctrường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng nhiều Nhật Bản trở thành một trongnhững cường quốc giáo dục của thế giới Thực tế hiện nay là một minh chứng cụ thểnhất Nhật đã đứng trong top những cường quốc trên thế giới Nhật Bản luôn là bài họcđiển hình về sự thành công cho sự đầu tư phát triển về con người để chúng ta học hỏi.Với một thị trường lao động khá năng động, Mỹ rất coi trọng môi trường sáng tạo vàkhuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài trong nhiều lĩnh vực.Chiến tranh thế giới thứ hai đã mang lại cho Mỹ - nước duy nhất trên thế giới, cơ hội thuhút nguồn chất xám rất lớn, đó là rất nhiều các nhà khoa học, bác học giỏi từ châu Âu vànhiều nước khác trong đó có Việt Nam đã nhập cảnh vào Mỹ Thực tế này trả lời cho câuhỏi, tại sao hiện nay Mỹ là một trong những nước có nhiều nhà khoa học hàng đầu thếgiới trong nhiều lĩnh vực.Và Mỹ luôn là cường quốc trong nhiều thập niên qua
Trung Quốc ngay từ những năm 2003 đã đề ra Chiến lược tăng cường hơn nữa công tácbồi dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giảđược đề ra trong Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc Nội dung của chiến lượclà: lấy nhân tài chấn hưng đất nước, xây dựng đội ngũ đông đảo nhân tài có chất lượngcao; kiên quyết quán triệt phương châm tôn trọng lao động, trí thức, tôn trọng nhân tài và
sự sáng tạo, lấy thúc đẩy phát triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tác nhân tài, điềuchỉnh nhân tài một cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, ra sức đẩy mạnhcông tác bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình thành cơ chế đánh giá
và sử dụng nhân tài một cách khoa học Hiện nay sự phát triển về kinh tế của họ là mộtminh chứng rõ ràng nữa.Trung Quốc hiện nay phát triển kinh tế chỉ sau Mỹ
Trong khu vực Đông Nam Á, Xin-ga-po được coi là hình mẫu về phát triển nguồn nhânlực Thực tế đã minh chứng, quốc gia nhỏ bé này đã rất thành công trong việc xây dựng
Trang 6một đất nước có trình độ dân trí cao và và cũng rất đặc biệt đề cao vai trò của giáo dục
mà hiện nay họ đang là một trong những nước có nền giáo dục đứng trong tốp đầu
Hệ thống giáo dục của nước này rất linh hoạt và luôn hướng đến khả năng, sở thích cũngnhư năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy cao nhất tiềm năng củamình Bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học - công nghệ mới vào giảng dạy,chương trình đào tạo của Xin-ga-po luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách, truyền thốngvăn hóa dân tộc
Chủ trương thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, Chính phủ Xin-ga-po miễn xét thị thựccho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí học tập vừaphải, môi trường học tập hiện đại, các ngành nghề đào tạo đa dạng Nhà nước Xin-ga-pochỉ đầu tư vào rất ít trường công lập để có chất lượng mẫu mực, có chính sách tín dụngthích hợp để thu hút đào tạo nhân tài Đối với khối ngoài công lập, Chính phủ tạo điềukiện để phát triển, khuyến khích việc liên thông, liên kết với nước ngoài, mời gọi các đạihọc quốc tế đặt chi nhánh
Trên đây là những ví dụ điển hình cho việc coi trọng và phát triển nguồn lực con người
mà đặc biệt là NNLCLC đã đem lại thành công và vị thế trên trường quốc tế của các quốcgia
1.1.1.Mối quan hệ giữa nguồn nhân lực (NNL) và nguồn nhân lực chất lượng cao
Với bài tham luận “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao – Nhu cầu cấp bách” TổngBiên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng Trần Thế Tuyển dẫn chứng, cụm từ “nguồn nhân lực”trên công cụ tìm kiếm Google, trong 0,1 giây cho ra 65.300.000 kết quả; còn nếu gõ cụm
từ “nguồn nhân lực chất lượng cao”, trong 0,1 giây cho ra 29.500.000 kết quả Những con
số đó đã phần nào nói lên tầm quan trọng của nguồn nhân lực, mà đặc biệt là nguồn nhânlực chất lượng cao trong thời đại khoa học - kỹ thuật phát triển như vũ bão với một quátrình hội nhập quốc tế đang diễn ra một cách chóng mặt ở mọi ngõ ngách của thế giới nhưhiện nay
Trang 7Khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam córất nhiều học giả, các nhà nguyên cứu đã đưa nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhânlực Có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực một cách ngắn gọn là nguồn lực con người.
Cụ thể, khái niệm nguồn nhân lực tập trung phản ánh ba vấn đề sau đây:
Thứ nhất, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người-yếu tố quyết định sựphát triển của xã hội
Thứ hai, nguồn nhân lực bao gồm số lượng và chất lượng, trong đó mặt chất lượng thểhiện ở trí lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống và sự kết hợp giữa các yếu tố đó.Thứ ba, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất thiết phải gắnliền với thời gian và không gian mà nó tồn tại
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực theo nghĩa rộng làbao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thực tế đang làm việc (gồm những người trong
độ tuổi lao động và những người trên độ tuổi lao động), những người trong độ tuổi laođộng có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợtrong gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạo trongcác trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…)
Giữa chất lượng NNL và NNLCLC có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệgiữa cái chung và cái riêng Khi đề cập tới nguồn lực con người, người ta thường nói tớimặt số lượng và mặt chất lượng của nó Số lượng nguồn lực con người chính là lực lượnglao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động cho sự phát triển kinh tế - xã hội.Nhưng, yếu tố quan trọng nhất trong nguồn lực con người không phải là số lượng, mà làchất lượng nguồn lực con người Đây mới chính là yếu tố quyết định đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội Nói đến chất lượng của nguồn lực con người là nói đến hàm lượng trí tuệ
ở trong đó, nói tới “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chấttốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền vớimột nền khoa học, công nghệ hiện đại” Sở dĩ người ta nói đến tính vô tận, tính không bị
Trang 8cạn kiệt, tính khai thác không bao giờ hết của nguồn lực con người chính là nói tới yếu tốtrí tuệ Trí tuệ của con người ngày càng phát triển và có tác động mạnh mẽ nhất đối với
sự tiến bộ và phát triển xã hội Nhà tương lai học Mỹ- Alvin Toffler khẳng định rằng, mọinguồn lực tự nhiên đều có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ có trí tuệ con người là không baogiờ cạn kiệt và “tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết” Để khẳng định mình trongmột thế giới cạnh tranh đầy khốc liệt, chất lượng nguồn nhân lực đóng một vai trò sốngcòn đối với một nền kinh tế đang trên đà phát triển và hội nhập như Việt Nam
Và tổng thể NNL của một quốc gia, NNLCLC chính là bộ phận cấu thành đặc biệt quantrọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất Bởi vậy, khi bàn về NNLCLC không thểkhông đặt nó trong tổng thể vấn đề nguồn nhân lực nói chung của một đất nước
Nguồn nhân lực chất lượng cao là NNL phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường ( yêucầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức: chuyên môn, kinh tế,tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác;
có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc
Như vậy, NNLCLC cao phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả vềkhả năng lao động, về tính tích cực chính trị- xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng.Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải đi vàothực chất, chất lượng
1.1.2.Yêu cầu của NNLCLC
Nguồn nhân lực chất lượng cao không đồng nghĩa với học hàm, học vị cao, nghĩa là nếumột người nào đó cho dù có học hàm, học vị cao nhưng lại không có đóng góp gì thực
sự có giá trị về mặt khoa học hay thực tiễn trong suốt quá trình lao động hoặc nghiêncứu khoa học thì không được gọi là nguồn nhân lực chất lượng cao Ngược lại, nhữngngười không hề có học hàm, học vị cao, thậm chí chỉ là người công nhân, kỹ thuật viên,cán bộ có trình độ trung cấp, hay kỹ sư, cử nhân, nhưng nếu họ lại có tay nghề haychuyên môn rất giỏi về một lĩnh vực nào đó, đáp ứng tốt nhất yêu cầu công việc và cónhững đóng góp thực sự có giá trị cho xã hội thì đó chính là nguồn nhân lực chất lượng
Trang 9cao Vì vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao là những người có khả năng hoàn thànhnhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và hoàn hảo nhất, có đóng góp thực
sự hữu ích cho công việc, cho xã hội
Để làm rõ hơn khái niệm “nguồn nhân lực chất lượng cao”, cũng như để dễ dàng hơntrong việc thống kê, phân tích và đánh giá lực lượng lao động này, cần thiết phải xâydựng những tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao ở mức độ cụ thể hơn
Có nhiều chỉ số để đánh giá vấn đề này, chúng ta điểm qua chỉ số tổng hợp chung nhất là Chỉ số phát triển con người (HDI) Đây cũng là chỉ tiêu mà Việt Nam đạt mức cao và hoàn thành mục tiêu trong Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 Theo số liệu công bố trong báo cáo phát triển con người của các nước ASEAN, in trong niên giámthống kê tóm tắt năm 2009 của tổ chức thống kê mới công bố Chỉ số HDI của các nước ASEAN như sau: Brunây 0,919; Campuchia 0,575; Indonesia 0,726; Lào 0,608; Malaysia0,823; Myanmar 0,585; Philipine 0,745; Thái Lan 0,786; Singapore 0,918; Việt Nam 0,718 Như vậy, mặc dù đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực này nhưng ngay trong khối ASEAN chỉ số HDI của chúng ta cũng chỉ cao hơn 3 nước là Lào, Campuchia và Myanmar Cũng theo số liệu của TĐTDS 2009, tỷ lệ lao động được đào tạo có trình độ từ
sơ cấp trở lên cũng chỉ đạt 14,9% Sơ bộ những điều này cho thấy mặc dù đã đạt nhưng thành tích nhất định nhưng để nâng cao chất lượng dân số, phát triển được nguồn nhân lực chất lượng cao, tận dụng hiệu quả, thì còn là một thách thức rất lớn đối với chương trình phát triển kinh tế-xã hội của nước ta trong giai đoạn tới
Dưới đây là các chỉ tiêu cụ thể hơn
Thứ nhất, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có đạo đức nghề nghiệp, đó là lòng yêu nghề, say mê với công việc, có tính kỷ luật và có trách nhiệm với
công việc Cao hơn cả, đạo đức nghề nghiệp còn thể hiện ở mong muốn đóng góp tàinăng, công sức của mình vào sự phát triển chung của dân tộc Đây được coi là tiêu chí
Trang 10mang lại tính chất nền gốc trong quá trình xây dựng những tiêu chí các định nguồn nhânlực chất lượng cao.
Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có khả năng thích ứng công nghệ mới và linh hoạt cao trong công việc chuyên môn Tiêu chí này đòi
hỏi nguồn nhân lực phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, để có khả năng thích ứngtốt với những công việc phức tạp và luôn thay đổi trong thời đại ngày nay Điều này cũng
có nghĩa là nguồn nhân lực chất lượng cao phải có bản lĩnh nghề nghiệp để không bịđộng trước những thay đổi nhanh chóng cả về nội dung và cách thức tiến hành công việccủa thời đại toàn cầu hóa vá kinh tế tri thức
Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có khả năng sáng tạo trong công việc.
Sáng tạo bao giờ cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển Đặc biệttrong thời đại ngày nay, những gì là mới và sôi động của ngày hôm qua nhanh chóng trởthành cũ kỹ và tầm thường trong ngày hôm nay Nếu không liên tục có những ý tưởngsáng tạo thì hoạt động của các tổ chức và suy rộng ra là của một dân tộc sẽ bị tê liệt Vìvậy, tiêu chí này nhằm xác định nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung nhưng đặc biệtnhấn mạnh tới một lực lượng tinh túy nhất, đó là những nhà lãnh đạo, chủ doanh nghiệp
và các nhà khoa học Họ được gọi chung là nhân tài Họ, “trước hết phải là những người
có nhân cách, trí tuệ phát triển, có một số phẩm chất nổi bật mà rất ít người có, đồng thờiphải là người giàu tính sáng tạo, có tư duy độc đáo, giải quyết các công việc nhanh, chínhxác, mang lại hiệu quả rất cao”
Và một yếu tố không thể thiếu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao là sức khoẻ.
Sức khoẻ ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sựhoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần Mọi người lao động, dù lao động cơ bắp hay laođộng trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải trithức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất Hơn nữa cần phải có
Trang 11sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trongnhững điều kiện khác nhau hết sức khó khăn và khắc nghiệt.
Ngoài ra còn có một số tiêu chí khác như:
Nền sản xuất công nghiệp hiện nay còn đòi hỏi ở người lao động phải có các năng lực cầnthiết như: có kỷ luật tự giác, biết tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, có tinh thần tráchnhiệm, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, lương tâm nghề nghiệp,
… nghĩa là phải có văn hóa lao động công nghiệp
Người lao động còn phải có năng lực xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại,giữa dân tộc và thời đại Truyền thống được hiểu là: phức hợp những tư tưởng, tình cảm,những tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí, v.v của mộtcộng đồng người đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác Như vậy, truyền thống có cả mặt tích cực và tiêu cực dù muốn haykhông vẫn để lại dấu ấn vào hiện tại, và ở mức độ nhất định, có thể còn ảnh hưởng đến sựvận động của tương lai Quá trình hội nhập đòi hỏi người lao động vừa biết kế thừanhững giá trị truyền thống, vừa biết phát triển những giá trị đó lên tầm cao hơn, đồng thờitiếp thu những tinh hoá quý giá của văn hoá nhân loại Nếu không biết kết hợp truyềnthống với cách tân để vượt lên, để hội nhập, để tìm mọi cách bước vào xã hội hiện đại thìtương lai chỉ mãi là sự tụt hậu
1.3 Vai trò NNLCLC trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
1.3.1 Khái niệm về hội nhập quốc tế
Khác với toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là hành động chủ quan, có chủ đích của conngười nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh của đất nước mình.Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhậpnhưng không hoà tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và nhất là bảo vệ đượcnền độc lập dân tộc
Trang 12Hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăngcường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực,quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuônkhổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.
Tìm hiểu thêm về khái niệm này nên lấy hội nhập quốc tế hay hội nhập kinh tế
1.3.2.Tác động của hội nhập quốc tế đến NNLCLC
1.3.2.1 Thách thức
Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực.Mỗi một lĩnh vực, một bộ phận lạichịu sự tác động riêng của quá trình này Là bộ phận không thể thiếu của một quốc giaNNLCLC cũng sẽ có cơ hội phát triển cũng như thách thức khó khăn trong quá trình hộinhập
Quá trình hội nhập sẽ tiếp nhận những công nghệ mới – đặc biệt là công nghệ máy tính –làm thay đổi bản chất của công việc, đòi hỏi người lao động nói chung phải được trang bịnhững kỹ năng tổng hợp thông tin và kỹ năng tư duy độc lập, họ cần có khả năng học tậpsâu hơn, phân tích dữ liệu tốt hơn và ứng phó giải quyết các vấn đề mới nhanhhơn.NNLCLC ngày càng có nhiều cơ hội để nâng cao khả năng cũng như để hoàn thiệnmình hơn
Hội nhập và mở cửa làm thay đổi cấu trúc nền kinh tế, cơ cấu giá cả, khả năng và cáchthức tiêu dùng dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế và thu nhập của người dân trongnhững khu vực chưa theo kịp với tiến trình toàn cầu hoá (việc làm năng suất thấp, thunhập thấp do kỹ năng thấp) Đặc biệt là về tiền lương và thưởng phải đảm bảo thu hútnhân tài luôn là vấn đề nan giải Lương phải đảm bảo sự khuyến khích và thỏa mãnnhững nhu cầu cần thiết người lao động nói chung , phải đảm bảo cung cấp điều kiệnlàm việc phù hợp với năng lực chuyên môn nghề nghiệp của NNLCLC nói riêng và đảmbảo sự cạnh tranh về thu hút nhân lực với các nước
Trang 13Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra nhiều thách thức trong giải quyết việc làm, các doanhnghiệp có sức cạnh tranh kém, quy mô nhỏ có nguy cơ phá sản; mất việc làm, thiếu việclàm lớn trong khu vực phi chính thức; Phải nhấn mạnh rằng đã tham gia hội nhập làchúng ta đã phải chịu sự cạnh tranh rất lớn từ nước ngoài Vì thế vấn đề quản lí doanhnghiệp, nếu không thích ứng tất yếu sẽ bị loại và dễ dàng dẫn đến tình trạng chảy máuchất xám và khả năng mất đi nguồn lực chủ chốt này chỉ còn là vấn đề thời gian–thực sự
là một vấn đề hết sức cấp bách hiện nay
Bên cạnh đó thì cạnh tranh về lao động trình độ cao sẽ ngày càng gay gắt Hội nhập, toàn cầu hoá trở thành xu thế chung, lao động nước ngoài (đặc biệt là lao động có kỹ thuật, trình độ quản lý…) tham gia vào thị trường lao động Việt Nam nhiều hơn, đồng thời lao động của Việt Nam cũng di chuyển ra nước ngoài nhiều hơn Đòi hỏi chính sách thu hút nguồn nhân lực có chất lượng càng.Chúng ta thấy rõ điều này qua Nước Mỹ.Trong số 10trường Đại học nổi tiếng nhất trên thế giới thì Mỹ chiếm tới 8 trường, như Havard (lập năm 1636), Yale ,Pennsylvania, Princeton, Colombia, Brown, Dartmouth, Cornell Những trường đại học này được dư luận Mỹ và các nước gọi là “Nhóm vạn niên thanh”, tức luôn luôn tiếp nhận số lượng lớn sinh viên ở Mỹ và các nước tới học Các trường đại học Mỹ chẳng những là nơi cung cấp mà còn là “Đại lý” tìm kiếm và thu hút nhân tài chocác doanh nghiệp Mỹ
Các nhà kinh tế Mỹ cho rằng nhân tài là nhân tố quan trọng để các doanh nghiệp Mỹ vươn lên hàng đầu thế giới về phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật Nhận thức rõ điều này, nên các đời Chính phủ nước Mỹ từ trước tới nay đã ban hành nhiều đạo luật giúp doanh nghiệp bồi dưỡng và thu hút nhân tài trên thế giới Năm 1963, Mỹ ban hành “Luật giao dục ngành nghề” và năm 1990 được sửa đổi bổ sung để thu hút có hiệu quả cao nhântài từ các nước trên thế giới Năm 1996, Mỹ lại thông qua “Luật giáo dục người lớn tuổi”,trong đó yêu cầu tất cả doanh nghiệp công hữu và tư nhân hàng năm phải chi khoản kinh phí chiếm 1% tổng thu nhập của doanh nghiệp dành cho huấn luyện đào tạo nâng cao tay nghề cho nhân viên
Trang 14Ngoài việc phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề thì các yêucầu khác về chất lượng nguồn nhân lực đang được đặt ra như những thách thức mới trôngquá trình hội nhập Đó là yêu cầu về ngoại ngữ, tin học, tác phong và văn hoá ứng xửcông nghiệp, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế… Điều này đòi hỏi lao động phảinhanh chóng học tập những cái mới, cái ưu việt, nhưng cũng cần phải loại bỏ những yếu
tố không phù hợp và đi ngược lại với đạo đức và văn hoá Việt
Sự dịch chuyển về cơ cấu lao động và di chuyển lao động tự do tới các vùng đô thị đang
là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan chức năng, nhiều địa phương vàcác nhà nghiên cứu hoạch định chính sách Khi Việt Nam gia nhập WTO (năm 2007),thực trạng này còn diễn ra mạnh hơn và kéo theo nhiều tác động với mức độ lớn hơn.Hơn nữa, hội nhập kinh tế quốc tế có thể dẫn tới nguy cơ tăng khoảng cách thu nhập củangười lao động Điều này góp phần làm tăng khoảng cách về quyền lợi và địa vị xã hộigiữa các nhóm lao động.Vấn đề là làm sao để hài hòa giữa mức thu nhập của lao độngchất lượng cao và các bộ phận khác và vẫn đảm bảo “giữ chân người tài”-một thực tếkhó khăn
Trên thực tế, tiêu chuẩn lao động của quốc tế mang tính nhân quyền cao như: qui địnhcác vấn đề liên quan đến lao động trẻ em; lao động cưỡng bức; chống phân biệt đối xử tạinơi làm việc, tự do hiệp hội và thoả ước lao động tập thể… Điều này đang đặt ra chonguồn nhân lực các vấn đề mới cần giải quyết, như chi phí về nhân công tăng lên, cácđiều kiện làm việc cần được đầu tư và cải thiện tốt hơn, thành lập các hiệp hội tự do trongcác ngành nghề…Và NNLCLC lại càng được tiêu chuẩn hóa cao hơn, khắt khe hơn nữa.1.3.2.2 Cơ hội
Mặc dù các nền kinh tế trên thế giới đang gặp khó khăn do khủng hoảng, nhưng giai đoạn2006-2010, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng ổn định, hợp tác để cùngphát triển tác động mạnh đến sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang