1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế

103 361 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 679,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới thì UBND thành phố Huế đã rấtchú trọng đến phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao.Tuy nhiên, nhữ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trungthực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõnguồn gốc

Tác giả Nguyễn Thế Thìn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy, cô giáo trườngĐại học Kinh tế - Đại Học Huế, trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội, Học việnChính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trongsuốt khóa học Đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Xuân Khoát đã nhiệt tình, tận tâm, đầytrách nhiệm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ,viên chức phòng KHCN – HTQT –ĐTSĐH trường Đại học Kinh tế - Đại Học Huế; Ủy ban nhân dân thành phố Huế,Phòng Thống kê thành phố Huế, Phòng lao động thương binh và xã hội thành phốHuế đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, cùng toàn thể những người đãgiúp đỡ tôi trong quá trình điều tra phỏng vấn và thu thập số liệu Xin chân thànhcảm ơn quý thầy, cô cùng bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến cho tôihoàn thành luận văn này cũng như sự ủng hộ, tạo điều kiện của cơ quan và gia đìnhtrong thời gian vừa qua

Để thực hiện luận văn, bản thân tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi, tự nghiên cứuvới tinh thần chịu khó, nghị lực và ý chí vươn lên Tuy nhiên, với nhiều lý do chủquan và khách quan, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những hạn chế và thiếusót nhất định Tôi kính mong quý thầy, cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp tiếp tục đónggóp ý kiến để đề tài ngày càng được hoàn thiện hơn

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, ngày 01 tháng 07 năm 2013

Tác giả Nguyễn Thế Thìn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

Họ và tên học viên: NGUYỄN THẾ THÌN

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị Niên khóa: 2011 – 2013

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN XUÂN KHOÁT

Tên đề tài: PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở

THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta xác định lấy việc phát huy nguồnlực con người làm yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững

Đối với tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và thành phố Huế nói riêng để tiếp tục pháttriển vững chắc trong thời gian tới cần hết sức chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực, đặcbiệt là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Vì vậy, nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao để đưa

ra những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng này ở thành phố Huế, tỉnhThừa Thiên Huế là một việc làm cần thiết hiện nay

2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp lôgic - lịchsử; các phương pháp điều tra xã hội học, thu thập thông tin, thống kê, so sánh, …

3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn

- Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển NNLCLC

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển NNLCLC ở thành phố Huế giaiđoạn 2008 - 2012

- Đề xuất được những giải pháp cơ bản nhằm phát triển NNLCLC ở thànhphố Huế đến năm 2020

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu trình độ văn hóa của lực lượng lao động đang làm việc trong

các ngành kinh tế của thành phố Huế 51

Bảng 1.1: Dự báo nhu cầu đào tạo 25

Bảng 2.1: Tổng sản phẩm quốc nội giai đọan 2007-2011 của Thành phố Huế 38

Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động thành phố Huế giai đoạn 2007-2011 40

Bảng 2.3: Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế tại thành phố Huế 41

Bảng 2.4: Số trường, phòng học, giáo viên và học sinh phổ thông thành phố Huế 43

Bảng 2.5: Lao động và cơ cấu sử dụng lao động thành phố Huế 48

Bảng 2.6: Trình độ chuyên môn kỹ thuật người lao động 52

Bảng 2.7: Lao động có việc làm theo ngành kinh tế quốc dân 56

Bảng 2.8: Cơ cấu LLLĐ và tình trạng lao động chia theo trình độ CMKT 56

Bảng 3.1: Dự báo dân số và lao động 71

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU i

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn 3

3.2 Nhiệm vụ của luận văn 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của luận văn 4

7 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 6

1.1 NGUỒN NHÂN LỰC, NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 6

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 6

1.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 6

1.1.1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao 8

1.1.1.3 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 12

1.1.2 Đặc điểm và các tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao 13

1.1.2.1 Đặc điểm nguồn nhân lực chất lượng cao 13

1.1.2.2 Các tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao 17

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 18

1.2.1 Trình độ phát triển kinh tế - xã hội 18

1.2.2 Trình độ phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học công nghệ 18 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

1.2.3 Tình hình sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao 19

1.2.4 Điều kiện tự nhiên 22

1.2.5 Truyền thống văn hóa dân tộc và hội nhập quốc tế 22

1.3 VAI TRÒ CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 23

1.3.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH rút ngắn 23

1.3.2 Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu và tăng trưởng nhanh 24

1.3.3 Nguồn nhân lực chất lượng cao là chủ thể sáng tạo, đổi mới và hoàn thiện quá trình phát triển kinh tế - xã hội 26

1.3.4 Nguồn nhân lực chất lượng cao là đòi hỏi bức thiết trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội hiện nay 27

1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC 28

1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 28

1.4.1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 28

1.4.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 29

1.4.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 32

1.4.2.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh 32

1.4.2.3 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng 33

1.4.3 Những bài học rút ra cho việc vận dụng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Huế 35

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 36

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Huế 47

2.1.3.1 Thuận lợi 47

2.1.3.2 Khó khăn 47 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở

THÀNH PHỐ HUẾ 48

2.2.1 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 48

2.2.1.1 Về số lượng 48

2.2.1.2 Về chất lượng 50

2.2.2 Thực trạng phân bổ, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao 54

2.2.2.1 Thực trạng phân bổ nguồn nhân lực chất lượng cao 54

2.2.2.2 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao 56

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ HUẾ 57

2.3.1 Những kết quả đạt được 57

2.3.2 Những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân 58

2.3.2.1 Những hạn chế, thiếu sót 58

2.3.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót 59

2.3.3 Những vấn đề đặt ra trong công tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Huế .60

2.3.3.1 Về đào tạo nguồn nhân lực 60

2.3.3.2 Về sử dụng nguồn nhân lực 61

2.3.3.3.Về thu hút nguồn nhân lực 62

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 64

3.1 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ HUẾ ĐẾN 2020 64

3.1.1 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Huế 64 3.1.2 Phương hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Huế đến 2020 69

3.1.3 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Huế 72

3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ HUẾ ĐẾN 2020 .72 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

3.2.1 Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao.723.2.2 Phân bổ hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực 823.2.3 Tiếp tục thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đến làm việc ngoàithành phố Huế 863.2.4 Nâng cao tình trạng sức khỏe, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môitrường sống cho con người 883.2.6 Xây dựng chính sách đãi ngộ và môi trường xã hội thuận lợi, phục vụcho việc khai thác, sử dụng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nguồn lực con ngườiluôn là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triểncủa nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Đất nước đã và đang bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển, nhiều cơ hội,thách thức đang được đặt ra và lợi thế của sự phát triển kinh tế đang chuyển từ yếu

tố giàu tài nguyên, nhiều tiền vốn, giá nhân công rẻ sang lợi thế về nguồn nhân lựcchất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế

Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta xác định lấy việcphát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững

Để phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là “động lực của sự nghiệpxây dựng xã hội mới” thì phải tập trung xây dựng “con người phát triển cao về trítuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Nghịquyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển và nângcao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một độtphá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa họccông nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnhtranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh hiệu quả và bền vững Đặc biệtcoi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia quảntrị doanh nghiệp giỏi và cán bộ khoa học công nghệ đầu đàn… Thực hiện cácchương trình, đề án đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, cáclĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài, đàotạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức”

Thành phố Huế hiện là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh và được xác định trongquy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 sẽ là đô thị trung tâmcấp quốc gia cùng với các đô thị: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, CầnThơ Đồng thời, cùng với Đà Nẵng, Huế được xem là trung tâm giữ vai trò hạt nhâncủa vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, một đô thị có sức lan tỏa mạnh, tạo đà chocác đô thị trong khu vực miền Trung phát triển Để thành phố Huế sớm trở thànhTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới thì UBND thành phố Huế đã rấtchú trọng đến phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao.

Tuy nhiên, những kết quả đạt được chưa cao, nguồn nhân lực chưa đáp ứngđược yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chưa thực sự là động lực để pháttriển kinh tế - xã hội của thành phố và tỉnh Thừa Thiên Huế

Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng nguồn nhân lực để cónhững giải pháp nhằm tạo ra sự phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực chất lượng cao

ở thành phố Huế trở thành nhiệm vụ cấp thiết

Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài "Phát tri ển nguồn nhân lực chất lượng

cao ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế" làm luận văn thạc sĩ kinh tế của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam nói chung và thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng đã

có nhiều công trình, bài viết ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau liên quan đến vấn

đề này, trong đó, đáng chú ý là các công trình:

- “Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam” - TS Đoàn

Văn Khái, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 2005

- “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” - PGS Mai Quốc Chánh (chủ biên), Nxb Chính

trị Quốc gia, Hà nội 1999

- “Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực ở Việt Nam” - TS Nguyễn Hữu Dũng,

Nxb Lao Động -xã hội, Hà Nội 2003

- “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” - PGS TS Bùi

Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002

- “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng” - Trần Văn

Tùng, Nxb Thế giới, Hà Nội 2005

“Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực” GS.VS Phạm Minh Hạc

-PGS.TS Phạm Thành Nghị - TS Vũ Minh Chi (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội 2004

- “Đào tạo và quản lý nhân lực” - PGS.TS Nguyễn Duy Dũng (chủ biên),

Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội 2008

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

- “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực - một dòng chảy” - GS.

VS Phạm Minh Hạc, Tạp chí nghiên cứu con người, số 6 - 2007

- “Nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” - TS Nguyễn Ngọc Tú, Luận án tiến sĩ kinh tế.

- “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay” - TS.

Nguyễn Tiến Dũng - Đỗ Văn Dạo, Tạp chí Lao động và xã hội, số 329, tháng 2 - 2008

- “Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của một số nước trên thế giới” - Lê Văn Phục, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 6 - 10.

- “Vai trò của nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức” - Mạc Văn Tiến,

Tạp chí lao động và xã hội, số 9, 2000

- “Vài kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao từ Dung Quất” - TS Nguyễn An Ninh - Lê Thị Ánh Tuyết, Tạp chí Lao động công

đoàn, số 436, tháng 9 - 2009

Ngoài ra còn có hàng chục công trình, bài viết khác ít nhiều có bàn đến vấn

đề nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay chưa cócông trình nào đi sâu nghiên cứu trực tiếp, có hệ thống về phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 M ục đích nghiên cứu của luận văn

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực chất lượng cao, kết hợpphân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực này ở thành phố Huế, tỉnh ThừaThiên Huế, đề tài đề xuất phương hướng và các giải pháp có tính khả thi nhằm pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội củathành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020

3.2 Nhi ệm vụ của luận văn

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực chất

lượng cao

- Phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở thành phố Huế, giai đoạn

2008 – 2012 làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của chất lượng nguồn nhân lực đó

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm đàoTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế trongthời gian tới.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguồn nhân lực chất lượng cao ở thànhphố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

4.2 Ph ạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu : từ 2008 – 2012 và các giải pháp đến năm 2020

- Không gian nghiên cứu : Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp lôgic - lịch sử

- Các phương pháp điều tra xã hội học, thu thập thông tin, thống kê, so sánh,…

6 Đóng góp của luận văn

- Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ởthành phố Huế giai đoạn 2008 – 2012

- Đề xuất được những giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao ở thành phố Huế đến năm 2020

- Bằng xây dựng một hệ thống lý luận chặt chẽ và bằng minh chứng các sốliệu cụ thể, đầy đủ, luận văn đã khẳng định nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồnlực quan trọng nhất cho sự phát triển của mọi quá trình kinh tế xã hội Do đó, thànhphố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế muốn phát triển kinh tế, đi tắt đón đầu để trở thànhthành phố trực thuộc trung ương, trọng điểm công nghiệp miền trung trong nhữngnăm tới cần phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Huế,

tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3: Phương hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực chất

lượng cao ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

1.1 NGUỒN NHÂN LỰC, NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

1.1.1.1 Khái ni ệm nguồn nhân lực

Để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh cần phải có những yếu tố nhấtđịnh Các yếu tố của sản xuất thể hiện ra dưới dạng các nguồn lực Các nguồn lực

cơ bản của hoạt động sản xuất trước hết bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất.Theo yêu cầu phát triển của sản xuất trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học - côngnghệ trong nền kinh tế thị trường, các nguồn lực này cũng không ngừng phát triển

và được nghiên cứu phân tích theo nhiều phương diện, từ đó hình thành những kháiniệm mới bổ sung về các nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh như vốn, nhân lực,khoa học công nghệ… Như vậy, có thể khẳng định rằng, NNL là một trong nhữngkhái niệm được hình thành trong quá trình phát triển của khoa học kinh tế

Cho đến nay đã có nhiều quan niệm về NNL Theo thuyết lao động xã hội,NNL theo nghĩa rộng có thể hiểu là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xãhội Theo nghĩa hẹp, là khả năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cưtrong độ tuổi lao động, có tham gia vào nền sản xuất xã hội

Theo quan điểm của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO): NNL đồng nghĩa vớilực lượng lao động, là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động quy định có khả năng laođộng, bao gồm những người thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp

Trên thực tế, khi tính toán, thống kê lực lượng lao động, người ta thường quyđịnh lực lượng lao động là những người trong độ tuổi lao động có việc làm vànhững người ngoài độ tuổi lao động đang tham gia làm việc Như vậy, ở đây lựclượng lao động cũng đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế, nguồn lao động, baogồm toàn bộ những người có khả năng lao động dưới dạng hiện thực và tiềm năng.Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

Khi nghiên cứu về NNL cũng có ý kiến cho rằng, cần phân biệt khái niệmnày với các khái niệm có liên quan như sức lao động, nguồn lao động, tiềm năng laođộng… Sức lao động cần được hiểu là tổng thể những năng lực bao gồm thể lực vàtrí lực, tồn tại trong mỗi con người mà có thể mang ra vận dụng để sản xuất ra mộtgiá trị sử dụng nào đó Sức lao động là yếu tố cơ bản của mọi quá trình sản xuất.Nguồn lao động là bộ phân dân số có khả năng lao động, có đủ năng lực về thể chất,trí tuệ tài năng cần thiết để thực hiện hoạt động lao động có ích trong nền kinh tế.Vói tư cách là phạm trù kinh tế, nguồn lao động phản ánh mối quan hệ được hìnhthành giữa xã hội, tập thể và cá nhân trong việc sản xuất, phân phối, phân phối lại

và sử dụng khả năng lao động đã được hình thành phù hợp với lợi ích, nhu cầu xãhội và trình độ phát triển của tiến bộ khoa học - công nghệ Tiềm năng lao động làkhái niệm bổ sung cho các khái niệm sức lao động và nguồn lao động, phản ánh tậphợp những tiêu chí để xác định khả năng lao động hiệu quả Còn NNL là khái niệmphản ánh về con người trong vai trò là nguồn lực quý giá, không thể tái tạo với tưcách là thể thống nhất của ba thành tố gồm chức năng lao động, sự tham gia vào hệthống các quan hệ xã hội và có tư chất nghề nghiệp đặc thù cho phép sử dụng hiệuquả hơn những nguồn lực khác của sản xuất [39]

Như vậy, khi nói tới NNL, trước hết cần phải hiểu đó là nguồn cung cấp sứclao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ những người có khả năng tham gia vào cácquá trình phát triển kinh tế - xã hội Đó là yếu tố chủ động của sản xuất, là chủ thểsáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng tới mục tiêu đã chọn Do vậy, NNLkhông chỉ đơn thuần là số lượng người lao động đã có và sẽ có, mà còn bao hàmtổng thể những năng lực lao động (thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ vàphong cách làm việc…) của những người lao động đó

Từ những quan niệm trên, có thể hiểu rằng, NNL theo nghĩa rộng là nguồncung cấp sức lao động cho xã hội, theo nghĩa hẹp bao gồm những người trong độtuổi lao động và có khả năng lao động Do hệ thống thống kê hiện hành chưa cónhững chỉ tiêu phản ánh rõ NNL theo nghĩa rộng, nên trong đề tài tác giả chỉ sử

dụng khái niệm NNL theo nghĩa hẹp Như vậy, NNL là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và

tương lai của đất nước.

Với tư cách là yếu tố quan trọng của hoạt động kinh tế, có vai trò quyết định đốivới tăng trưởng và phát triển kinh tế, NNL của xã hội không ngừng phát triển theo sựphát triển của sản xuất dựa trên sự phát triển của khoa học - công nghệ và yêu cầu ứngdụng các thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất Xét về tổng thể, có thể nghiêncứu sự phát triển của NNL theo hai phương diện về số lượng và chất lượng Tuy nhiên,vấn đề phát triển số lượng của NNL gắn liền với sự phát triển về số lượng dân số, màthế giới ngày nay vẫn đang phải đối mặt với nguy co bùng phát dân số, đồng thời thựctiễn cho thấy trình độ phát triển kinh tế và sức cạnh tranh của các quốc gia ngày naychủ yếu được quyết định bởi chất lượng của NNL, do đề tài sẽ tập trung chủ yếu vàonghiên cứu NNL theo phương diện chất lượng

Chất lượng NNL phản ánh những yêu cầu cần thiết mà NNL cần phải đạtđược để thực hiện phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững Trong từng thời

kỳ phát triển của sản xuất xã hội, dưới tác động của khoa học - công nghệ đều hìnhthành những nhóm tiêu chí cụ thể về chất lượng NNL Theo sự phát triển của sảnxuất, chất lượng NNL không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, do nhiều nguyênnhân, đặc biệt là sự hạn hẹp về các nguồn lực cần thiết để phát triển NNL, chấtlượng NNL không thể được nâng lên một cách đồng đều, ngay tức khắc cùng mộtlúc đối với toàn bộ NNL của xã hội nói chung cũng như đối với từng ngành, lĩnhvực, vùng kinh tế nói riêng Do đó, trong NNL sẽ hình thành hai bộ phận: NNL cóchất lượng cao hơn và NNL có chất lượng thấp hơn Để không ngừng gia tăng pháthuy hiêu quả yếu tố con người trong phát triển kinh tế ngày nay, các quốc gia đều

cố gắng nâng cao chất lượng NNL của mình, cố gắng gia tăng tỷ trọng của NNLchất lượng cao trong điều kiện chưa thể nâng cao chất lượng toàn bộ NNL của mìnhtheo các yêu cầu mới của sản xuất dựa trên những thành tựu mới nhất của khoa học

- công nghệ Trong bối cảnh đó, đã hình thành khái niệm mới là NNLCLC

1.1.1.2 Khái ni ệm về nguồn nhân lực chất lượng cao

Cho đến nay, tại Việt Nam trong quá trình nghiên cứu tìm giải pháp pháttriển và nâng cao chất lượng NNL phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đã hình thànhnhiều quan điểm về NNLCLC như:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

TS Trần Văn Hùng cho rằng: “nguồn nhân lực chất lượng cao là nhữngngười có khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo

và hoàn hảo nhất, có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc, cho xã hội” [35].Trong quan điểm này chỉ rõ đặc điểm về trình độ phát triển và khả năng sáng tạocủa NNLCLC so với bộ phận còn lại của NNL nói chung

GS.TS Hoàng Văn Châu cho rằng, NNLCLC là “khái niệm chỉ lực lượng laođộng có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứng nhanhvới những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất” [3] Ở đây, NNLCLC đượcxác định là bộ phận có trình độ phát triển cao của lực lượng lao động

Theo tác giả Vũ Thị Phương Mai: Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộphận đặc biệt, kết tinh những gì tinh túy nhất của nguồn nhân lực Đó là lực lượng laođộng có khả năng đáp ứng nhu cầu cao của thực tiễn Họ được đặc trưng bởi trình độhọc vấn và chuyên môn cao, có khả năng nhận thức, tiếp thu nhanh những kiến thứcmới, có năng lực sáng tạo, biết vận dụng thành tựu khoa học và công nghệ, kinhnghiệm sản xuất vào thực tiễn Họ có phẩm chất công dân tốt, có đạo đức nghề nghiệp

và đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động cao hơn hẳn so với nguồn nhân lựclao động phổ thông [22]

Theo TS Nguyễn Hữu Dũng: Nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ mộtcon người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật)ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹthuật nhất định (trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề [5]

Theo tác giả Lê Xuân Bá và Lương Thị Minh Anh: NNL chất lượng cao là

“lao động được đào tạo, có kỹ năng” [1]

Theo TS Nguyễn Văn Thành, NNLCLC là: Đội ngũ nhân lực thể lực tốt,tầm vóc cường tráng, phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực tư duy sáng tạo

và đạo đức tốt; có năng lực tự học; tự đào tạo, có bản lĩnh, tự tin, năng động, chủđộng, sáng tạo; có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng thích ứng vàđối phó nhanh chóng với môi trường sống và làm việc không ngừng biến đổi [29]

TS Phạm Thị Khanh (2007), cho rằng, “nguồn nhân lực chất lượng cao lànguồn nhân lực có khả năng (hay năng lực) tạo ra những sản phẩm hàng hóa có giáTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

trị cao, sức cạnh tranh tốt, đảm bảo cho nền kinh tế hội nhập sau, rộng và hiệu quảvào nền kinh tế thế giới” [14].

Viện chiến lực phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong Báo cáo Đề tàinghiên cứu khoa học cấp Bộ (2006) về “Nguồn nhân lực chất lượng cao: Hiện trangphát triển, sử dụng và các giải pháp tăng cường” cho rằng, chất lượng NNL là tổngthể năng lực về trí lực, thể lực, khí lực (khí chất) của một tập hợp nhóm nhiều ngườitrong mối tương quan với khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển bản thân con người

và phát triển thông qua giáo dục, đào tạo nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe và quátrình lao động Đồng thời, thông qua phân tích các yếu tố cơ bản để đánh giá NNLnhư thể chất (gồm thể lực và thể trạng), tri thức, trí tuệ, khí chất (tinh thần, ý thức

xã hội)…đề tài đã chỉ ra rằng NNLCLC là một khái niệm rộng, được đánh giá thôngqua những yếu tố cấu thành chất lượng NNL (thể lực, trí lực, khí lực) trong mốitương quan so sánh với những chuẩn mực nhất định Những yếu tố tạo thành NNLnhư thể lực, trình độ kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cùng với phẩm chất củangười lao động được hình thành và phát triển qua hai con đường chủ yếu là giáo dục

- đào tạo và thực hành làm việc trong lĩnh vực sản xuất Trong đó, yếu tố thể lựcđược hình thành và phát triển bằng con đường di truyền, nuôi dưỡng và luyện tập,rèn luyện thân thể được đánh giá bằng chỉ số HDI; yếu tố trí lực được hình thành vàphát triển thông qua con đường giáo dục đào tạo, kinh nghiệm và thực tế lao độngsản xuất Căn cứ vào các tiêu chí trên có thể khái quát, nếu các yếu tố về thể lực nhưnhau thì NNLCLC là những người lao động đã trải qua thời gian đào tạo nhất định,

có cấp bậc đào tạo cao và có trình độ chuyên môn sâu

Từ các quan điểm trên cho thấy, các tác giả không những nêu ra quan niệmNNLCLC, mà còn cố gắng chỉ rõ những đặc điểm quan trọng của bộ phân NNLnày Các tiếp cận và đánh giá trên rất quan trọng, giúp cho việc xác định những tiêuchí cần thiết trong phát triển NNL đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế ngày nay Tuynhiên, trong những quan niệm trên chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa bản chất vàđặc điểm của NNLCLC, do đó chưa tạo ra cơ sở khoa học đầy đủ để xác địnhphương hướng, lộ trình phát triển NNLCLC phù hợp với trình độ phát triển củatừng quốc gia cho từng giai đoạn phát triển

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

Tổng hợp các quan điểm khác nhau, dưới góc độ kinh tế, có thể khái quát:Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phân của nguồn nhân lực được đào tạomột cách cơ bản, có trí tuệ, có trình độ chuyên môn cao có thể thực hiện tốt các loạihoạt động lao động phức tạp để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao.

Với cách hiểu như vậy có thể luận giải nội dung, phạm trù NNLCLC như sau:

Thứ nhất, sự tích lũy kỹ năng tri thức, năng lực dưới dạng dự trữ đang tồn tạitrong cơ thể người lao động

Thứ hai, sự dự trữ đó được con người sử dụng có mục đích ở lĩnh vực nàyhay lĩnh vực khác của sản xuất xã hội

Thứ ba, sử dụng năng lực cao trong hoạt động lao động để tạo ra năng suất,chất lượng và hiệu quả cao và đem lại thu nhập cao

Thứ tư, sự gia tăng của thu nhập trở thành nhân tố kích thích đầu tư củangười lao động cho sức khỏe và tri thức Từ đó tích lũy thêm năng lực và động cơ

để tiếp tục lao động tạo ra hiệu quả cao hơn trong điều kiện mới

Thực tế lịch sử cho thấy, để sản xuất của cải thỏa mãn nhu cầu xã hội cần cócác yếu tố cơ bản là sức lao động và tư liệu sản xuất Trong điều kiện khoa học -công nghệ chưa phát triển, sản xuất phổ biến mang tính chất đại trà, mặc dù conngười với tư cách là nhân tố chủ động, sáng tạo, được coi là lực lượng sản xuất chủyếu của xã hội, song lại nằm trong quan hệ bị chi phối, phụ thuộc vào tư liệu sảnxuất Điều đó thể hiện rõ rằng chủ thể sở hữu tư liệu sản xuất cũng đồng thời là chủthể quyết định và chi phối toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, còn chủ thể sởhữu sức lao động luôn là chủ thể phụ thuộc

Cho tới giữa thế kỷ XX, vai trò chủ yếu trong sản xuất vẫn thuộc về các yếu

tố như tư liệu sản xuất và các điều kiện vật thể của sản xuất, bởi lẽ các yêu cầu đốivới sức lao động vẫn ở mức tối thiểu, chủ yếu là những yêu cầu về sức lực tự nhiêncủa con người Theo con mắt của các chủ thể sử dụng lao động thì NNL được sửdụng không có gì khác nhiều so với các nguồn lực khác, không những thế lại còn lànguồn lực phụ thuộc vào công nghệ Kỹ năng lao động dễ trang bị, người lao độngkhông cần phải đào tạo lâu dài và tốn kém, mà lại có thể dễ dàng thay thế Trongđiều kiện đó, vẫn cần có đội ngũ lao động quản lý và kỹ thuật với tư cách là bộ phânTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

NNL có chất lượng cao, song sự tồn tại, vận động và phát triển của lực lượng này là

có giới hạn trên cơ sở phân công lao động

Theo sự gia tăng mức độ phức tạp của công nghệ sản xuất và sự xuất hiệncủa những ngành kinh tế mới - những ngành công nghệ cao, đòi hỏi đối với sức laođộng sử dụng công nghệ cũng tăng thêm Những tiêu chuẩn về chất lượng người laođộng như việc đào tạo chuyên nghiệp với thời gian dài, các đặc điểm về tâm lý,nhân cách, tác phong… ngày càng được đề cao Những kiến thức được trang bịthông qua đào tạo ban đầu đã không còn đủ để sử dụng hiệu quả những công nghệhiện đại hiện nay Người lao động không những cần có kiến thức, kỹ năng, mà cònphải có động cơ để phát huy khai thác toàn phần những kiến thức kỹ năng đó.Người lao động phải có lòng yêu nghề, yêu công việc bởi lẽ người chủ sử dụng laođộng không phải chỉ mong đợi người lao động thực hiện một cách giản đơn nhữngtrách nhiệm được giao, mà chủ yếu là sự sáng tạo trong công việc Người lao độngtrong điều kiện mới phải có khả năng tự phát triển Như vậy, cùng với đội ngũ cán

bộ quản lý, kỹ thuật thì đòi hỏi đối với các bô phận nhân lực khác cũng tăng lên Từ

đó, giới hạn phát triển của bộ phận nhân lực trình độ cao cũng ngày càng mở rộng

Như vậy, sự hình thành NNLCLC là một quá trình khách quan xuất phát từ sựphát triển khách quan của sản xuất dưới tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật

Từ đó có thể xác định rõ bản chất của NNLCLC là bộ phận NNL hình thành và pháttriển phù hợp với yêu cầu của nền sản xuất hiện đại dựa trên cơ sở cách mạng khoa học

- công nghệ NNLCLC được đánh giá là lực lượng rất cần thiết cho sự phát triển kinh tếngày nay đặc biệt trong xu thế hình thành và phát triển kinh tế tri thức và hội nhập

1.1.1.3 Khái ni ệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Tương tự như các thuật ngữ tăng trưởng và phát triển kinh tế, thuật ngữ pháttriển NNL gắn liền với sự hoàn thiện, nâng cao chất lượng NNL Trong xu thế pháttriển của thời đại, phát triển NNLCLC là yêu cầu cơ bản, lâu dài của tất cả các quốcgia Do xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực nên cũng cónhiều cách hiểu khác nhau về phát triển NNLCLC

Tác giả Đỗ Minh Cương (2002), cho rằng, “phát triển NNLCLC là cả mộtquá trình quan trọng mà qua đó sự lớn mạnh của cá nhân hay tổ chức có thể đạtđược những tiềm năng đầy đủ nhất của họ theo thời gian” [4] Trong xu thế hộiTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến sự phát triểnnguồn nhân lực, tạo ra đội ngũ nhân lực có chất lượng, có trình độ cao, có khả năngnắm bắt khoa học công nghệ mới và ứng dụng vào sản xuất đời sống.

Theo tác giả Nguyễn Thanh (2005), “phát triển NNLCLC là một quá trìnhlàm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứngtốt hơn yêu cầu của nền kinh tế- xã hội" [28], đó là tổng thể các hình thức, phươngpháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồnnhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi vềnguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển

Đối với nước ta, phát triển NNLCLC trở thành vấn đề hệ trọng, vừa cơ bản,

vừa cấp bách Có thể hiểu phát triển NNLCLC là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo ra sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng để

chúng đáp ứng ngày càng tốt hơn sự phát triển bền vững của đất nước.

Như vậy, nội dung phát triển NNLCLC bao gồm: phát triển cả về số lượng,chất lượng cao về mặt chất lượng và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng NNLCLC

Phát triển NNLCLC về mặt số lượng được thể hiện ở quy mô dân số, cơ cấu vềgiới và độ tuổi Phát triển NNLCLC về mặt chất lượng thể hiện ở sự phát triển cả về: thểlực, trí lực và nhân cách Phát triển thể lực là gia tăng chiều cao, trọng lượng cơ thể, tuổithọ, sức mạnh và độ dẻo dai cơ bắp và thần kinh Phát triển trí lực là phát triển năng lựctrí tuệ; trong đó bao gồm việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức sáng tạo,kinh nghiệm, kỹ năng của con người Phát triển nhân cách là phát triển những phẩmchất chính trị, đạo đức, tác phong, lối sống lành mạnh, tính tích cực hoạt động, tinh thầntrách nhiệm công dân Bên cạnh đó, phát triển NNLCLC còn bao hàm yếu tố nâng caohiệu quả sử dụng cả về số lượng, chất lượng và thời gian được sử dụng

1.1.2 Đặc điểm và các tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao

1.1.2.1 Đặc điểm nguồn nhân lực chất lượng cao

Từ cách hiểu về bản chất của NNLCLC như trên có thể xác định những đặcđiểm cơ bản của NNLCLC trong mối quan hệ so sánh khái niệm này với bản thânkhái niệm NNL theo các phương diện như sau:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

- Thứ nhất, về trình độ phát triển, NNLCLC là bộ phận phát triển cao nhất

của NNL, do đó phải đảm bảo ở mức cao các tiêu chí về chất lượng NNL như:

+ Về thể lực: NNLCLC phải đảm bảo thể lực ở mức tốt nhất để thực hiện

hiệu quả, lâu dài các hoạt động sản xuất kinh doanh, chịu được các áp lực về tâm lýtrước những công việc phức tạp, căng thẳng … Như vậy, NNLCLC phải có đủ sứckhỏe, phát triển hài hòa về mặt vật chất và tình thần Sức khỏe ngày này không chỉđược biểu hiện ở tình trạng không có bệnh tật mà còn là sự hoàn thiện về mặt thểchất và tinh thần Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại năng suất laođộng cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai Sức khỏe chịu tác động của nhiều yếu tố: tự nhiên,kinh tế - xã hội và được phản ánh bằng một chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu về sứckhỏe, bệnh tật, về cơ sở vật chất, và các điều kiện đảm bảo chăm sóc sức khỏe Quátrình CNH, HĐH thể hiện việc áp dụng phổ biến các phương pháp sản xuất côngnghiệp, công nghệ hiện đại, đòi hỏi sức khỏe và thể lực cường tráng Cụ thể là phải

có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng quá trình sản xuất liên tục kéo dài; Có các thông

số nhân chủng học đáp ứng được các hệ thống thiết bị công nghệ được sản xuất phổbiến và trao đổi trên thị trường khu vực và thế giới và phải luôn tỉnh tảo, sảng khoáitinh thần Kỹ thuật tinh vi đòi hỏi sự chính xác và an toàn cao độ

+ Về trí lực: NNLCLC phải có hiểu biết sâu, rộng, có khả năng vận dụng

sáng những tri thức đã có và sáng tạo ra những tri thức mới cần thiết trong hoạtđộng, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của môi trường

và công nghệ sản xuất Trí tuệ là yếu tố thiết yếu của con người, bởi vì tất cả những

gì thúc đẩy con người hành động đều phải thông qua đầu óc của họ, tức là phảithông qua trí tuệ Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ yêu cầu ngườilao động có học vấn., trình độ chuyên môn, kỹ thuật, làm việc chủ động, sử dụngđược các công cụ hiện đại Sự yếu kém về trí tuệ là lực cản nguy hại nhất dẫn đến

sự thất bại trong hoạt động của con người Năng lực, trí tuệ biểu hiện ở khả năng ápdụng những thành tựu khoa học đã có để sáng chế ra những kỹ thuật công nghệ mớitiên tiến và phù hợp hơn; ở sự nhạy bén, thích nghi nhanh và làm chủ được kỹ thuậtcông nghệ hiện đại và ở khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp.Quá trình CNH, HĐH càng đi vào chiều sâu càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hóaTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

cao của nhân lực để đạt năng suất cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn hơn nhiềulần Lực lượng nòng cốt của đội ngũ lao động là những công nhân lành nghề trựctiếp sản xuất hàng hóa và cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng trong nước và nướcngoài Do đó phải có trình độ trí tuệ nhất định tiếp thu làm chủ công nghệ tiên tiến.Hơn nữa, những tri thức khoa học và những kinh nghiệm được tích lũy yêu cầu họsáng chế ra những loại lao động mới, hoàn thiện kỹ thuật và phương pháp sản xuất.Lực lượng lao động dẫn đầu là đội ngũ lao động tri thức: có năng lực sáng tạo, xử lýcác mối quan hệ, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, tiếp thu tinh hoa văn hóa,văn minh thế giới Thông thường NNLCLC là NNL có trình độ học vấn cao đượcthể hiện thông qua bằng cấp Tuy nhiên, bằng cấp chỉ là môt hình thức phản ánh vềtrình độ và không phải lúc nào cũng phản ánh đúng trình độ học vấn của NNL.

+ Về trình độ chuyên môn tay nghề: NNLCLC là NNL có kỹ năng tay nghề

cao, có khả năng đảm nhận và thực thi những nhiệm vụ phức tạp Nhân lực chất lượngcao phải là người thành thạo trong công việc, có thể thực hiện một cách chuyên nghiệpcông việc và có khả năng nhanh chóng thích nghi với việc chuyển đổi hoạt động tronglao động, vì vậy phải có kiến thức đa ngành cùng với năng lực chủ động sáng tạo

+ Về nhân cách: NNLCLC phải có động cơ, tinh thần kỷ luật lao động cao,

tác phong làm việc chuyên nghiệp, có tinh thần hợp tác, có bản lĩnh song không bảothur, có tính sáng tạo và khả năng đổi mới… Nền sản xuất công nghiệp đòi hỏi ởngười lao động hàng loạt năng lực cần thiết như: Có kỷ luật tự giác, biết tiết kiệmnguyên vật liệu và thời gian, có tinh thần trách nhiệm trong việc bảo dưỡng thiết bịmáy móc, phương tiện sản xuất, có tinh thần trách nhiệm cao… nghĩa là phải có vănhóa lao động công nghiệp Một trong những phẩm chất quan trọng nhất của văn hóalao động công nghiệp là tinh thần trách nhiệm cao đối với chất lượng sản phẩm Vìchỉ có như vậy mới đáp ứng được lợi ích lâu dài của họ với tư cách là người sảnxuất và người tiêu dùng, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Mặt khácmột yêu cầu quan trọng không thể thiếu của NNLCLC là luôn có tinh thần yêu nước

ý thức công dân và chủ động hội nhập quốc tế, chấp nhận cạnh tranh với thế giớibên ngoài Trong điều kiện như vậy NNLCLC ngoài bản lĩnh chính trị vững vàng, ýthức dân tộc cao còn có trình độ, trí tuệ ngang tầm khu vực và thế giới

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

Như vậy, NNLCLC của thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế phải

là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, năng lực lao động và sáng tạo

về tính tích cực chính trị - xã hội về đạo đức tình cảm trong sáng…

- Thứ hai, về xu thế phát triển, NNLCLC được hình thành và phát triển

nhanh trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ hiện đại

NNLCLC được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực, từ nông nghiệp, tớicông nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, sựnâng cao năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học - côngnghệ, phân công lao động xã hội cũng có xu hướng đẩy nhanh sự phát triển của cácngành mới thuộc nhóm các ngành công nghệ cao, các ngành dịch vụ, do đóNNLCLC cũng có xu hướng phát triển không đều mà tập trung vào các ngành đó

Cạnh đó, cách mạng khoa học - công nghệ với sự hình thành của nền kinh tếtri thức làm cho tri thức ngày càng trở thành nguồn lực được coi là quyết định đốivới tăng trưởng và phát triển kinh tế hiện đại, vòng đời của từng tri thức cụ thể cũngnhư những sản phẩm khác có xu hướng rút ngắn lại, do đó đã tạo ra nguy cơ “lãohóa” nhanh đối với cả NNLCLC

- Thứ ba, về vai trò quan trọng NNLCLC đối với phát triển kinh tế - xã hội

thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:

Với tư cách là yếu tố của lực lượng sản xuất, nằm trong lực lượng sản xuấtchủ yếu, NNLCLC là bộ phận tinh túy của NNL, là lực lượng xung kích trong lãnhđạo điều hành, tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có hiệu quảviệc ứng dụng công nghệ mới; là hạt nhân trong hoạt động kinh tế, dẫn dắt những

bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn trong quá trình tiếp cận và sử dụng côngnghệ tiên tiến Do đó sự phát triển của NNLCLC là yếu tố quyết định đối với pháttriển sản xuất trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại

Với tư cách là biểu hiện của quan hệ sản xuất, NNLCLC được coi là nguồnvốn được đầu tư nhằm sinh lợi cao, do đó NNLCLC có vai trò tạo thu nhập ngàycàng lớn dưới hình thái giá trị gia tăng cho các chủ thể của NNL này từ cấp độ quốcgia tới doanh nghiệp và từng người lao động - nhân lực chất lượng cao

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

Từ phân tích về bản chất và những đặc điểm chủ yếu của NNLCLC kể trên

có thể khẳng định rằng, sự phát triển của NNLCLC đang trở thành yếu tố quyếtđịnh phát triển kinh tế - xã hội ngày nay, do đó đầu tư phát triển NNLCLC là yêucầu cấp thiết đới với mọi quốc gia, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, trong

đó có Việt Nam để có thể nhanh chóng rút ngắn chênh lệch về trình độ phát triển sovới các quốc gia khác trên thế giới

1.1.2.2 Các tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao

Cho đến nay vấn đề tiêu chí xác định NNLCLC đã bước đầu được các nhànghiên cứu đề cập tới (xem [7], [18], [36], [37]) Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ đềcập tới các tiêu chí về định tính Xét trên phương diện tổng thể các tiêu chí xác địnhNNLCLC về định tính bao gồm các nội dung sau:

- Thứ nhất, NNLCLC là lực lượng lao động có khả năng thích ứng với công

nghệ mới và tính linh hoạt năng động cao trong chuyên môn Tiêu chí này đòi hỏi NNLphải có trình độ văn hóa cao (12/12) cũng như được đào tạo một cách cơ bản, có trình

độ chuyên môn kỹ thuật cao (từ cao đẳng, đại học trở lên, thợ bậc 3 trở lên) để có khảnăng thích ứng với những công việc phức tạp và luôn thay đổi trong thời đại ngày nay.Điều này cũng có nghĩa là NNLCLC phải có bản lĩnh nghề nghiệp để không bị động, engại trước những thay đổi nhanh chóng cả về nội dung và cách thức tiến hành côngviệc trong thời đại toàn cầu hóa - hội nhập và kinh tế tri thức

- Thứ hai, NNLCLC là lực lượng lao động có khả năng sáng tạo trong công

việc Sáng tạo bao giờ cũng là một động lực thức đẩy sự phát triển Đặc biệt trongthời đại ngày nay: “Những gì làm mới và sôi động ngày hôm qua nhanh chóng trởthành cũ kỹ và tầm thường cho ngày hôm nay” (TonyBuzan - 2006) Nếu khôngliên tục có những lý tưởng sáng tạo thì hoạt động của các tổ chức và suy rộng ra là

cả nền kinh tế sẽ bị trì trệ và dẫn tới tê liệt

- Thứ ba, NNLCLC có phẩm chất, ý thức của người lao động như có lòng

yêu nghề, say mê với công việc, có tính kỷ luật và có trách nhiệm với công việc.Cao hơn cả là đạo đức nghề nghiệp còn thể hiện ở mong muốn được đóng góp tàinăng sức lực của mình cho sự phát triển chung của đất nước Đây có thể coi là tiêuchí nền tảng xây dựng những tiêu chí xác định NNLCLC

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

1.2.1 Trình độ phát triển kinh tế - xã hội

Trình độ phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia đóng vai trò quyết địnhđến trình độ phát triển NNL nhất là NNLCLC của nước đó.Tại một quốc gia cótrình độ kinh tế phát triển cao, thì ở đó NNL có chất lượng cao, kể cả trình độ họcvấn, trình độ CMKT, sức khỏe, tuổi thọ

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội góp phần quan trọng vào việc nâng caomức sống có điều kiện chăm sóc sức khỏe nâng cao thể lực, trí lực, nâng cao tuổithọ của người lao động Trình độ kinh tế-xã hội càng phát triển, càng có điều kiệnnâng cao chất lượng NNL và NNL có chất lượng càng cao

Trình độ phát triển kinh tế- xã hội cao càng có điều kiện đầu tư cho giáo dục vàđào tạo, khi giáo duc đào tạo phát triển lại góp phần quyết định trực tiếp vào việc tạo raNNLCLC Do đó, trình độ phát triển kinh tế xã hội và NNLCLC có mối quan hệ biệnchứng với nhau và tác động qua lại lẫn nhau Hay nói cách khác, kinh tế là nền tảngcủa phát triển xã hội, của con người, trong đó có NNLCLC và đến lượt nó NNLCLC làđộng lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế

Đối với Việt Nam, do trình độ kinh tế - xã hội còn ở mức thấp nên chất lượngnguồn nhân lực chưa cao, do đó việc phát triển NNLCLC trong thời kỳ đẩy mạnhCNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế là khâu đột phá nhằm thực hiện thắng lợi cácmục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020 và tạo ra bước pháttriển mới trong thập niên của thế kỷ XXI

1.2.2 Trình độ phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học công nghệ

NNLCLC được hình thành và phát triển trước hết thông qua con đường giáodục – đào tạo, là sản phẩm của các hoạt động giáo dục, đào tạo trong nước Ngoài

ra, ở nhiều quốc gia hiện nay (kể cả Việt Nam) còn có một bộ phận NNLCLC đượcđào tạo ở nước ngoài hoặc thu hút từ nước ngoài Tuy vậy, hệ thống giáo dục quốcgia vẫn luôn đóng vai trò chính

Trình độ phát triển của hệ thống giáo dục quốc gia tác động đến sự hìnhthành và phát triển NNLCLC thể hiện ở hai điểm chủ yếu sau:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

Một là, mức độ bao trùm của hệ thống: hệ thống giáo dục phát triển mạnh,

bao trùm rộng có năng lực thu hút được nhiều người học, càng thúc đẩy mạnhNNLCLC tăng nhanh về số lượng và ngược lại Mặt khác, việc liên kết đào tạo vàgửi đi đào tạo ở nước ngoài cũng là một giải phát hữu hiệu một mặt góp phần tăng

số lượng NNLCLC, mặt khác về chất lượng được tăng cường người học được tiếpcận môi trường, phương pháp giảng dạy tiên tiến

Hai là, trình độ phát triển của hệ thống: Trình độ phát triển của hệ thống giáo

dục đào tạo chủ yếu tác động đến yếu tố chất lượng NNL Trình độ phát triển của hệthống giáo dục quốc gia càng cao, đạt trình độ quốc tế thì NNL được đào tạo cũng

có chất lượng càng cao đạt đẳng cấp quốc tế Do đó, mỗi quốc gia cần xây dựngmột số trường đại học đạt đẳng cấp quốc tế và chú trọng đầu tư để nâng cao trình độphát triển của cả hệ thống giáo dục các cấp nhất là cấp đào tạo đại học và trên đạihọc để xây dựng và phát triển NNLCLC có trình độ đạt chuẩn quốc tế

1.2.3 Tình hình sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao

Sử dụng là một thuật ngữ chung để chỉ quá trình tiếp nhận, phát huy và đánhgiá kết quả hoạt động thực tiễn của NNL Đối với NNLCLC, quá trình sử dụng đượcbiểu hiện ra là quá trình thu hút và trọng dụng nhằm phát huy tối đa khả năng của lựclượng này Vì vậy, dù NNL được đào tạo với chất lượng của một nhân tài thì đó vẫnchưa phải là yếu tố quyết định đến giá trị của họ đối với quốc gia, dân tộc Vấn đề sửdụng, hay chính xác hơn là vấn đề thu hút và trọng dụng mới vừa là động cơ, vừa làcái đích, vừa là một khâu trong quá trình đào luyện và hiện thực giá trị của NNLCLCnói chung và nhân tài nói riêng Như vậy, việc thu hút và trọng dụng NNLCLCkhông chỉ có tác động trực tiếp tới việc phát triển lực lượng này mà còn tác độngquyết định tới sự hưng vong của mỗi quốc gia

Quá trình sử dụng NNLCLC không chỉ tác động trực tiếp tới việc gia tăng sốlượng mà còn tác động tới việc phát huy những tố chất tiêu biểu của lực lượng này.Bằng các chính sách trọng dụng đối với NNLCLC, tố chất dân tộc, tố chất thích ứng

và đặc biệt là tố chất sáng tạo sẽ được phát huy để lực lượng này đủ khả năng thúcđẩy mỗi quốc gia phát triển theo hướng bền vững

Để NNLCLC có thể phát huy tối đa những tố chất tiêu biểu, các quốc giathường quan tâm thực hiện các chính sách trọng dụng cơ bản sau:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

Một là, chính sách tuyển dụng, bố trí công việc hợp lý.

Tác động rõ nét nhất của chính sách tuyển dụng đối với việc phát huy tố chất

và khả năng NNLCLC thể hiện ở chỗ, nếu chính sách và phương pháp tuyển dụnghợp lý, khách quan, chính xác thì sẽ tuyển dụng ngay từ đầu Đội ngũ nhân lực chấtlượng cao được tuyển dụng sẽ phát huy được thế mạnh của mình ở những vị trí phùhợp với trình độ chuyên môn nghề nghiệp của họ

Việc bố trí, phân công công việc hợp lý dựa trên cơ sở năng lực và phân tíchcông việc sẽ có tác động phấn đấu, cống hiến và vươn lên trong quá trình làm việc.Khi cơ hội thăng tiến rộng mở đối với cả đội ngũ thì đội ngũ sẽ có động lực để sángtạo và bứt phá nhằm khẳng định khả năng

Trong chính sách này thì việc trọng dụng nhân tài là việc rất cần thiết nhằmphát huy khả năng sáng tạo của đội ngũ nhân tài cho sự phát triển bền vững của mộtquốc gia Chính sách này cần phải hướng tới giải quyết hai vấn đề về công nghệ (điềukiện vật chất phục vụ cho công việc) và sự khoan dung (môi trường văn hóa tinhthần) trong quá trình thực hiện hoạt động chuyên môn của đội ngũ nhân tài

+ Chính sách đầu tư trọng điểm để xây dựng cơ sở vật chất phục vụ hoạt

động chuyên môn của đội ngũ nhân tài

Trong nền kinh tế thị trương, những sáng tạo khoa học - công nghệ thườnggắn với điều kiện vật chất phục vụ cho việc được đầu tư tốt Đặc biệt, có những phátminh khoa học - công nghệ cần một số vốn đầu tư cơ sở vật chất khổng lồ Vì vậy,mỗi quốc gia, tùy vào trình độ phát triển hiện tại và tùy vào mục tiêu phát triển trongtương lai, cần phải có chính sách đầu tư trọng điểm về cơ sở vật chất nhằm phục vụtốt nhất cho hoạt động chuyên môn mang tính sáng tạo của đội ngũ nhân tài

+ Xây dựng môi trường văn hóa dân chủ để phát huy tối đa tố chất sáng tạo

của đội ngũ nhân tài

Nhân tài chỉ có thể phát huy tối đa tố chất sáng tạo nếu họ được sống trongmột môi trường văn hóa dân chủ Ở đó, tư tưởng được tự do, sự khác biệt được tôntrọng và tài năng của họ được đánh giá cao Điều này đặc biệt liên quan tới đời sốngtinh thần của đội ngũ nhân tài Nếu môi trường sống thực sự mang tính dân chủ vàthể hiện văn hóa khoan dung, đời sống tinh thần của đội ngũ nhân tài sẽ thực sựTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

được tự do và đó chính là nguồn cảm hứng và động lực thúc đẩy những sáng tạo và

sự cống hiến không ngừng của họ cho xã hội

Hai là, chính sách tiền lương.

Chính sách tiền lương tác động rất lớn tới ý thức và trách nhiệm của đội ngũlao động nói chung Nếu tiền lương và mức thu nhập mang tính công bằng đánh giáchính sách và hợp lỹ năng lực của người lao động, đặc biệt là lao động trình độ caothì người lao động sẽ gắn bó và cống hiến tối đa khả năng của họ

Để tiền lương thực sự phát huy tác dụng trong việc thúc đẩy khả năng củaNNLCLC, thì chính sách tiền lương phải hết sức linh hoạt, luôn bám sát những thayđổi của thị trường lao động Trong đó sự linh hoạt phải thể hiện rõ nét trong việcđiều chỉnh chính sách tiền lương của đội ngũ nhân lực chất lượng cao làm việctrong khu vực tư Bởi vì tiền lương trong hai khu vực này thường có sự chênh lệchlớn và dẫn đến hiện tượng di chuyển lao động chất lượng cao từ khu vực công sangkhu vực tư Nếu không điều chỉnh được sự bất hợp lý về tiền lương giữa hai khuvực thì chất lượng đội ngũ cán bộ hành chính quốc gia sẽ rất thấp Quốc gia đó sẽkhông có điều kiện để thực hiện bước phát triển đột phá bởi sự kìm hãm của chính

Đối với nhân tài, được cống hiến cho xã hội là mục đích sống cao hơn cả.Tuy nhiên, những đãi ngộ vật chất hợp lý cũng là một trong những động lực khuyếnkhích sự cống hiến của đội ngũ nhân tài trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt để thuhút nhân tài ở tất cả các quốc gia Những đãi ngộ cần hướng tới việc đảm bảo ở mứctốt nhất đời sống vật chất của đội ngũ này so với mức sống chung của xã hội

Bốn là, chính sách hỗ trợ trong hoạt động nghiên cứu triển khai.

Trong thành phần NNLCLC, có nhóm NNL quan trọng thực hiện các hoạtđộng nghiên cứu - triển khai nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sự hình thành nền kinh tế thịTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

trường Đây là một hoạt động đặc thù và cần có điều kiện làm việc hiện đại, đượcđầu tư lớn Vì vậy, nếu chính sách hỗ trợ trong hoạt động nghiên cứu triển khai thực

sự quan tâm tới việc hỗ trợ và đầu tư để nhóm nhân lực khoa học - công nghệ cónhững điều kiện làm việc lý tưởng thì họ sẽ sản sinh ra rất nhiều sản phẩm trí tuệmang tính sáng tạo cao và thích ứng với nhu cầu của xã hội hiện đại Đây chính lànhững sản phẩm có đóng góp quan trọng vào việc hình thành và phát triển nền kinh

tế thị trường của các quốc gia trong thời đại ngày nay

1.2.4 Điều kiện tự nhiên

và NNL diễn ra chậm và khó kiểm soát Vì vậy nhân tố về vị trí địa lý có ảnh hưởngtrực tiếp đến khả năng thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội – mà đây là chính lànhân tố vừa thu hút, vừa phát triển và làm thay đổi chất lượng NNL

- Tự nhiên:

Đây là những nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hộiđặc biệt là tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú có tácđộng mạnh mẽ đến cơ cấu kinh tế và đây cũng chính là điều kiện thuận lợi để thuhút, sử dụng NNL đặc biệt là NNLCLC

1.2.5 Truyền thống văn hóa dân tộc và hội nhập quốc tế

- Về văn hóa dân tộc

Truyền thống lịch sử và nền văn hóa của một quốc gia cũng bồi đắp và kếttinh trong mỗi con người và cả cộng đồng dân tộc, hun đúc nên bản lĩnh, ý chí, tácphong của con người trong lao động

Hoạt động văn hóa góp phần vào việc hoàn thiện nhân cách của mỗi conngười Nó góp phần giáo dục, tuyên truyền nâng cao hiểu biết cho người dân Nângcao chất lượng NNL vừa góp phần giáo dục đào tạo NNL chất lượng cao trongTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

- Về hội nhập quốc tế

Trong quá trình toàn cầu hóa, Việt Nam tham dự ngày càng sâu vào nền kinh

tế Thế giới và dưới tác động của tiến bộ khoa học – công nghệ, sự xuất hiện “nềnkinh tế tri thức” trên thế giới Để hóa giải những thách thức và nâng cao năng lựccạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trên thị trường quốc tế, đòi hỏi nhân lực ViệtNam phải không ngừng phát triển đạt tới trình độ cao, ngang tầm với các nước tiêntiến trong khu vực và trên thế giới

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy các ngành, các lĩnh vực khôngngừng phát triển NNL để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động trongnước và thị trường lao động quốc tế Quá trình này cũng tạo ra nhu cầu cấp bách vềviệc nâng cao chất lượng NNL, trong đó lao động tri thức đang được ưu tiên hàngđầu trong phát triển

1.3 VAI TRÒ CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT

LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.3.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH rút ngắn

Xuất phát từ yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức sẽ thúc đẩy

sự phát triển, sự thay đổi về nhiều mặt Chẳng hạn, nó làm thay đổi cơ cấu NNL,làm chuyển biến từ một cơ cấu lạc hậu sang một cơ cấu tiến bộ hơn; cơ cấu các khuvực lớn trong kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế kỹ thuật, cơ cấu trong nội bộ mỗingành, cơ cấu NNL ở từng vùng, từng địa phương cho đến cơ cấu NNL trong nội bộtừng doanh nghiệp CNH, HĐH là một yếu tố tác động rất mạnh đến NNL và pháttriển NNL

Đối với Việt Nam, bước vào giai đoạn CNH, HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tếtri thức trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầunâng cao chất lượng NNL, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành côngcủa sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và phát triển bền vững Bởi vì: Việt Nam đangtrong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, riêng về kinh tế, mục tiêu nàyngày càng mở rộng được thị trường, bán được nhiều hàng hóa dịch vụ Muốn thế,phải có sức mạnh trong cạnh tranh, tức là chất lượng và giá cả Chất lượng và giá cảTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

hàng hóa lại phụ thuộc vào hai yếu tố chủ chốt: đó là trình độ công nghệ của sảnxuất và trình độ chuyên môn, kỹ thuật của NNL Hơn nữa, quá trình hội nhập kinh

tế thế giới là quá trình giao lưu, trao đổi giữa Việt Nam và các nước trên thế giới vềhàng hóa dịch vụ, tiền tệ, công nghệ mới, NNL… theo hai chiều ra và vào Nguồnvốn đầu tư nước ngoài và công nghệ mới vào Việt Nam kéo theo công việc làm, cácnghề mới, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý…Những diễn biến này tác động trựctiếp vào NNL và phát triển NNLCLC của Việt Nam

Do vậy, phát triển NNL ở Việt Nam đặc biệt quan trọng cho sự thành côngcủa CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Cho nên, cần tạo ra và cải thiện tất cảcác điều kiện cần thiết để phát triển NNL nhanh, có chất lượng, đáp ứng nhu cầucấp bách của công cuộc đổi mới, của CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế

1.3.2 Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu và tăng trưởng nhanh

Trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Namđang đứng trước thách thức rất lớn về NNLCLC Sau nhiều thập niên tập trung sứcphát triển NNL theo diện rộng, đến nay trình độ dân trí của nước ta đã được nânglên đáng kể Tuy nhiên, so với nhiều nước trong khu vực và so với yêu cầu của quátrình CNH, HĐH đất nước, trình độ khoa học - công nghệ và chất lượng của lựclượng lao động nước ta nhình chung còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triểnmới Không thể nói đến NNLCLC khi tỉ lệ lao động qua đào tạo mới chỉ có từ 30 -40% Không thể nói đến NNLCLC khi có tới 80% công chức, viên chức không biết

sử dụng máy vi tính, hơn 90% không biết sử dụng ngoại ngữ, nhất là tiếng anh,trình độ chuyên môn nghiệp vụ kém [34]

Trong khi dư thừa rất lớn lao động phổ thông, thì lại thiếu hụt nghiêm trọng laođộng có trình độ cao, nhất là lao động cung cấp cho các khu công nghiệp, khu chế xuất

và cho xuất khẩu lao động Đây là tình trạng đáng báo động, không phù hợp với quyluật tăng trưởng là tỷ lệ tăng trưởng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bao giờcũng phải cao hơn tốc độ tăng GDP để đảm bảo tăng GDP một cách vững chắc

Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp, chủ yếu vẫn là nước nôngnghiệp, nên ngay cả NNL được gọi là chất lượng cao vẫn còn mang nặng thói quenTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

và tập quán của người tiểu nông, thiếu năng động, tính tổ chức kỷ luật trong nền sảnxuất công nghiệp hiện đại còn yếu, thích tự do, tác phong công nghiệp, trình độ vănhóa còn thấp Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn khoảng cách khá xa so vớimột số nước Đông Á Cụ thể, ta đang ở mức gần tương đương với Indonesia, nhưngthua hầu hết các nước và lãnh thổ khác như Nhật bản, Hàn Quốc, Singapore, ĐàiLoan, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông, Thái Lan, Philippin Từ đó dẫn đến mộtloạt các yếu kém khác như trình độ vận dụng khoa học kỹ thuật kém, năng suất laođộng thấp, giá thành sản phẩm cao và đương nhiên, dẫn đến sức cạnh tranh của nềnkinh tế nước ta còn ở vị trí rất thấp.

Với mục tiêu phát triển NNL đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nướccông nghiệp, có cơ cấu công, nông và dịch vụ trong GDP chiếm khoảng 85-90%, nôngnghiệp chỉ còn 10-15% thì nhu cầu đào tạo NNLCLC theo dự báo như sau:

Bảng 1.1: Dự báo nhu cầu đào tạo

Năm Tỷ lệ lao động được đào tạo (%) Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề (%)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

1.3.3 Nguồn nhân lực chất lượng cao là chủ thể sáng tạo, đổi mới và hoàn thiện quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Thực tế, quá trình CNH ở các quốc gia trên thế giới cho thấy: trong tiến trìnhCNH, nếu nước nào biết dựa vào việc khai thác và sử dụng năng lực của NNL, thìluôn giữ được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định như Nhật Bản, Hàn Quốc, PhầnLan, sinhgapore là những nước nghèo tài nguyên nhất, nhưng đã vươn lên thànhnhững quốc gia giàu có hàng đầu, phần lớn là họ dựa vào quá trình phát triển NNL

về khả năng lao động về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạo đức và phẩm chất

Như vậy, con người không chỉ là yếu tố hàng đầu năng động của quá trìnhsản xuất mà còn là chủ thể sáng tạo, sự sáng tạo của con người được thể hiện trênnhững mặt: sáng tạo ra vật chất, sáng tạo ra cuộc sống tinh thần và sáng tạo ra chínhbản thân con người

Khi những nhu cầu vật chât và tinh thần càng cao, đa dạng về cả số lượng vàchủng loại, con người phải tìm tòi, suy nghĩ, nâng cao trình độ kỹ thuật, kỹ xảo đểtạo ra những sản phẩm phù hợp và ngược lại xã hội phải phát triển và đảm bảo lợiích và nhu cầu cho con người Cứ như thế con người sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo rachính bản thân mình, đưa xã hội phát triển, thúc đẩy xã hội phát triển

Nhưng bên cạnh đó con người luôn có ý thức tự chủ và vươn lên làm chủmọi hạt động, mọi mối quan hệ Đặc biệt, khi quá trình sản xuất mang tính tậpthể, xã hội hóa cao, hoạt động quản lý xuất hiện, vai trò chủ thể của con ngườicàng dược chú trọng trên tất cả các phương diện Con người làm chủ quản lý thìcon người phải tạo ra hoàn cảnh và môi trường thích đáng để người lao độngphát huy hết mọi khả năng sáng tạo của mình, khi đó hệ thống quản lý xã hội vàdân chủ nó sẽ khôi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, thúc đẩy kinh tế - xãhội phát triển cao

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

Chính vì thế, nhân tố đóng vai trò quyết định cho sự phát triển kinh tế - xãhội chính là NNL mà đặc biệt là NNLCLC chứ không chỉ là nguồn của cải vật chất.

Do vậy, hình thành và phát triển NNL có chất lượng cao là yếu tố quan trọng nhấtkhông chỉ trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mà còn tạo cơ hộitiếp cận kinh tế tri thức trong thời đại hiện nay

1.3.4 Nguồn nhân lực chất lượng cao là đòi hỏi bức thiết trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội hiện nay

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ năm 2011 - 2020 Đảng Cộngsản Việt Nam coi phát triển nhanh NNL, nhất là NNLCLC, là một trong nhữngkhâu “đột phá” Tại Đại hội lần thứ XI, Đảng ta đã đề ra mục tiêu: đến năm 2020nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xãhội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhândân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đượcgiữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền

đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau

Để đạt được mục tiêu đó, phải xác định đúng những khâu đột phá - tức lànhững khâu trọng yếu của sự phát triển, trong đó việc phát triển NNLCLC đượcĐảng ta xem là một trong những khâu trọng yếu đó

Sở dĩ Đảng ta xác định: “Phát triển nhanh NNL, nhất là NNLCLC” là mộttrong những khâu đột phá là xuất phát từ thực trạng NNL của nước ta đối với yêucầu phát triển nhanh và bền vững trong điều kiện đất nước hội nhập ngày càng sâurộng Quá trình đổi mới đất nước, mặc dù đã có những bước phát triển, nhưng nhìnchung NNL của nước ta còn thấp kém so với một số nước trong khu vực và trên thếgiới, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Nềnkinh tế nước ta tăng trưởng nhưng thiếu tính bền vững là do chúng ta xây dựng môhình tăng trưởng chủ yếu dựa vào nguồn vốn đầu tư, tài nguyên thiên nhiên; thiếutính chiều sâu mà mấu chốt là NNLCLC

Trong điều kiện nền kinh tế thế giới chuyển dần sang kinh tế tri thức,NNLCLC đang trở thành nguồn lực vô cùng quý giá đối với bất cứ quốc gia nào, thìviệc lựa chọn phát triển nhanh NNL là tất yếu, khách quan và phù hợp Nhận địnhnày cũng được minh chứng bằng thành công trong quá trình phát triển của các nướctrên thế giới Chỉ có phát triển NNLCLC thông qua chiến lược con người đúng đắnTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

như vậy mới có thể đảm bảo không bị tụt hậu về kinh tế và sự bền vững của quátrình phát triển đất nước; đồng thời tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đềthách thức chung của nhân loại.

1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC

1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước

1.4.1.1 Kinh nghi ệm của Nhật Bản

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản là một nước bại trận, chịu hậu quảnặng nề do chiến tranh để lại, nền kinh tế - xã hội tụt hậu xa so với các nước phươngTây, nhưng sau một thời gian ngắn Nhật Bản đã vực dậy và nhanh chóng trở thànhmột nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới Có được những thành tựu đó lànhờ Nhật Bản có chiến lược đầu tư cho nền giáo dục, cho việc đào tạo NNLCLCđúng đắn và khoa học Nhật Bản đã thực hiện một nền giáo dục - đào tạo nhờ vàotruyền thống thuần Nhật, chú ý giáo dục đạo đức, nhân cách, kỷ luật, lòng yêu laođộng, tính kiên trì, tiết kiệm Cùng với đó, Nhật Bản đặc biệt chú ý giáo dục lý thuyết

đi đôi với việc rèn luyện kỹ năng thực hành, nhờ vậy Nhật Bản đã tạo ra cho mìnhmột đội ngũ lao động có chuyên môn kỹ thuật khá cao, bảo đảm không những tiếpthu kỹ thuật, công nghệ của phương Tây mà còn tiến đến làm chủ sáng tạo, trở thànhmột trong những nước hàng đầu về sản xuất công nghệ và sáng tạo kỹ thuật của thếgiới Tại Hội nghị thượng đỉnh (Đan Mạch 1995), Nhật Bản đã đưa ra ba nguyên tắc

để phát triển kinh tế - xã hội, đó là: lấy con người làm trung tâm; lấy phát triển NNL

là biện pháp quyết định; và động viên quần chúng tham gia tích cực

Các nước trên thế giới mà đặc biệt là các nước Đông Á rất coi trọng vấn đềquản lý và sử dụng NNLCLC Điểm nổi bật trong chính sách quản lý và sử dụngNNLCLC là hệ thống kích thích lao động có hiệu quả Nó động viên mỗi ngườicũng như tập thể cống hiến tri thức, kinh nghiệm và trình độ nghề nghiệp cho côngviệc vì sự phát triển của công ty, của bản thân

Nhật Bản được xem là nước có kinh nghiệm trong vấn đề này Những côngtrình nghiên cứu về hệ thống quản lý và sử dụng NNL ở Nhật Bản đều cho rằng, vềbản chất, tất cả những biện pháp kích thích lao động đều được tập trung vào nhữngyếu tố tâm lý và kinh tế Sự kết hợp một cách tài tình giữa yếu tố tâm lý và kinh tếTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

đã góp phần tạo nên những người lao động luôn toàn tâm, toàn ý cho công việcchung, vì sự phát triển của công ty, đơn vị mình Ở Nhật Bản, người lao động bêncạnh được hưởng lương và phụ cấp, còn được lĩnh tiền thưởng hàng năm được phátvào các ngày lễ lớn của dân tộc, bên cạnh đó, người lao động còn được thưởng mỗikhi có những sáng kiến làm lợi cho công ty và có thành tích tốt Nhờ vậy, người laođộng Nhật Bản luôn tin tưởng vào nơi mình làm việc, họ có thể nâng cao thu nhập

và làm giàu lên nhờ vào năng lực của mình Trên thực tế đã chứng minh rằng,không đâu như người lao động lại trung thành và gắn bó với nơi làm việc của mìnhnhư ở các công ty Nhật Bản

Tuy nhiên, nét đặc sắc trong việc động viên tính tích cực của người lao động

Nhật Bản lại là kích thích về tâm lý, đạo đức Nhật Bản thực hiện mô hình “Văn

hóa công ty” đó là: toàn bộ những giá trị tinh thần được xây dựng và hình thành

xung quanh hoạt động sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp Nó bao gồm lễ nghi giaotiếp nội bộ, thói quen sinh hoạt, nghỉ nghơi, họp hành, giáo dục, đào tạo tất cả đều

được ghi vào cuốn “cẩm nang hành động” và tất cả mọi người đều có Ngoài ra để thực hiện “Văn hóa công ty” còn thực hiện nhiều hình thức sinh hoạt tinh thần như:

giao lưu giữa các thành viên, các gia đình, đi thăm quan, du lịch, chúc mừng sinhnhật, găp gở thân thiện giữa lãnh đạo và người lao động Tất cả những hình thứcnày góp phần tạo nên bầu không khí sinh hoạt và môi trường làm việc thuận lợi choviệc phát huy năng lực cũng như động viên tính tích cực của mỗi cá nhân

Ngày nay, mô hình này được các nước Đông Á và Đông Nam Á áp dụng vàcũng rất thành công trong việc phát huy, khơi dậy tiềm năng của người lao động Chính

hệ thống kích thích lao động (cả kinh tế lẫn tâm lý) đã góp phần thúc đẩy nền kinh tếcác nước Đông Á phát triển một cách “thần kỳ” mà cả thế giới đều khâm phục

1.4.1.2 Kinh nghi ệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc rất chú ý đến phát triển giáo dục - đào tạo, coi trọng người thầy,hàng năm Hàn Quốc dành một số lượng ngân sách rất lớn để đầu tư cho giáo dục -đào tạo, cho phát triển NNLCLC Sở dĩ, Hàn Quốc có được một nền KT - XH pháttriển như ngày nay một phần lớn là nhờ biết chú ý đến sự nghiệp phát triển giáo dục

- đào tạo và NNLCLC

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

Vốn là nước chậm phát triển lại tiến hành công nghiệp hóa sau các nướcphương Tây, các nước Đông Á và Đông Nam Á đặc biệt coi trọng việc thu hút và

sử dụng nhân tài Nhờ có những chính sách thu hút nhân tài, các nước Đông Ákhông bị chảy máu chất xám và không những đào tạo ta được một lực lượng nhânlực tài năng mà còn thu hút nhân tài, các nhà khoa học đến sống, làm việc và trởthành lực lượng lao động rất quý giá Hàn Quốc đã dựa vào tinh thần dân tộc củamỗi người dân Hàn để phát hiện và lưu giữ nhân tài trong các lĩnh vực nghiên cứu,sản xuất đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao Hơn nữa còn đề ra chính sáchlương và các điều kiện ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút trí thức và cả sinh viên từ cácnước tiên tiến trên thế giới trở về Trong những năm gần đây Hàn Quốc ngoài việckhơi dậy tình cảm dân tộc của mỗi người con xa xứ còn đề ra một số ưu đãi đặc biệtcho các nhân tài trong nước cũng như nước ngoài trở về phục vụ đất nước Điều đócho thấy rằng, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài là một bộ phận quan trọngcủa chính sách sử dụng nguồn lao động mà đặc biệt là NNLCLC

Chính sách quản lý và sử dụng NNL, suy cho cùng là khai thác năng lực sángtạo của nguồn lao động Các nước Đông Á nói chung và Hàn Quốc nói riêng đãnhận ra vấn đề này và khai thác chúng rất hiệu quả Để kích thích và động viên cóhiệu quả năng lực sáng tạo, nhiều hình thức, biện pháp cụ thể được đưa ra và ápdụng rộng rãi trong quản lý, sử dụng nguồn lao động, trong đó nổi lên là cơ chế mởcửa thu hút sáng kiến của mỗi cá nhân Nhờ đó mà các công ty ở Nhật Bản, HànQuốc luôn nhận được những sáng kiến, sáng tạo của những cá nhân và nó góp phầnkhông nhỏ áp dụng vào sản xuất, kinh doanh

Để khai thác triệt để năng lực sáng tạo của lực lượng lao động thì việckhuyến khích lối sống tư duy sáng tạo cũng phải được chú trọng Ở một số nướcĐông Á mà tiêu biểu là Hàn Quốc, họ khuyến khích bằng mọi cách, những cuộctranh luận giữa các nhà quản lý hoặc giữa các nhân viên về một vấn đề nào đó đểtìm ra cách giải quyết, điểm chung thống nhất Một nhà quản lý giỏi nên biếtkhuyến khích và duy trì các hình thức tranh luận mang tính xây dựng, tôn trọng các

ý kiến của người lao động, làm như vậy sẽ khuyến khích những nhân tố mới xuấtTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

nên áp đặt lối tư duy, cách làm của lớp trước cho thế hệ sau Nếu làm như vậy, độingũ nhân viên sẽ mất tính sáng tạo trong khi họ có khả năng để phát triển năng lực

đó, thậm chí phát triển tốt hơn Quan điểm như vậy có ý nghĩa rất lớn cho việc nuôidưỡng óc sáng tạo của đội ngũ lao động

Từ kinh nghiệm phát triển NNLCLC của một số nước có thể rút ra một sốvấn đề tham khảo cho Việt Nam hiện nay:

Một là, nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của NNL

nói chung và đặc biệt là NNLCLC nói riêng của phát triển kinh tế - xã hội thời kỳđẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế để có những chính sách, biệnpháp trước mắt và lâu dài để phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, tạo tiền đềcho kinh tế xã hội phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Hai là, phải trẻ hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhà

nước, bởi vì đây là đội ngũ có trình độ trí thức công nghệ hiện đại, nhạy bén, năngđộng dễ bắt nhịp với yêu cầu phát triển Tuy nhiên, cần phải định hướng chính trị đểlôi cuốn đội ngũ cán bộ trẻ, chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp phát triển chungcủa đất nước

Ba là, phát hiện, tạo nguồn nhân tài là trách nhiệm của gia đình và xã hội,

trong đó vai trò quan trọng của nhà nước được thể hiện thông qua chế độ chính sáchnuôi dưỡng và phát huy nhân tài

Bốn là, có chính sách để thu hút và sử dụng người tài thông qua các chế độ

đãi ngộ về tinh thần và vật chất, điều kiện để họ thể hiện, cống hiến tài năng chođất nước

Năm là, đào tạo NNLCLC hướng vào yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

trong nước và xu thế hội nhập quốc tế Đặc biệt chú trọng những kiến thức trongphát triển kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế

Sáu là, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thúc đẩy phát triển thị trường

hàng hóa sức lao động chất lượng cao Giải quyết thỏa đáng các quan hệ lao độngthông qua kết hợp hài hòa giữa nhà nước, người sử dụng lao động, lao động và các

tổ chức bảo vệ quyền lợi người lao động nhất là về thu nhập, tiền lương và các chế

độ đãi ngộ khác đối với lao động trình độ cao

Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 08/11/2016, 11:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Bá, Lương Thị Minh Anh (2005), “Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam”, Quản lý kinh tế, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đềphát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam”, "Quản lý kinh tế
Tác giả: Lê Xuân Bá, Lương Thị Minh Anh
Năm: 2005
2. Ban tuyên giáo Trung ương (2009), Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị Trung ương VII, Khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hộinghị Trung ương VII, Khóa X
Tác giả: Ban tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
3. Hoàng Văn Châu (2010), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập kinh tế-vấn đề cấp bách sau khủng hoảng”, Báo nhân tài nhân lực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hộinhập kinh tế-vấn đề cấp bách sau khủng hoảng”
Tác giả: Hoàng Văn Châu
Năm: 2010
4. Đỗ Minh Cương, Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay, NXB Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiệnnay
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Nguyễn Hữu Dũng (2002), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế”, Lý luận chính trị, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế”,"Lý luậnchính trị
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2002
6. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
10. Trần Thọ Đạt (2010), “Giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”, Nghiên cứu kinh tế, (381) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”, "Nghiêncứu kinh tế
Tác giả: Trần Thọ Đạt
Năm: 2010
11. Lê Thị Hồng Điệp (2010), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành kinh tế tri thức, Luận án tiến sĩ Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hìnhthành kinh tế tri thức
Tác giả: Lê Thị Hồng Điệp
Năm: 2010
12. Hà Thị Hằng (2012), “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thừa Thiên Huế”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, tập 72B, số 3.Trường Đại học Kinh tế Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứngyêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thừa Thiên Huế”, "Tạp chí khoa học,Đại học Huế, tập 72B, số 3
Tác giả: Hà Thị Hằng
Năm: 2012
8. Đảng Bộ thành phố Huế (2010), Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Huế lần thứ IX Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động thành phố Huế giai đoạn 2007-2011 - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.2 Tình hình dân số và lao động thành phố Huế giai đoạn 2007-2011 (Trang 49)
Bảng 2.3: Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế tại thành phố Huế - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.3 Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế tại thành phố Huế (Trang 50)
Bảng 2.4: Số trường, phòng học, giáo viên và học sinh phổ thông thành phố Huế - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.4 Số trường, phòng học, giáo viên và học sinh phổ thông thành phố Huế (Trang 52)
Bảng 2.5: Lao động và cơ cấu sử dụng lao động thành phố Huế - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.5 Lao động và cơ cấu sử dụng lao động thành phố Huế (Trang 57)
Bảng 2.6: Trình độ chuyên môn kỹ thuật người lao động - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.6 Trình độ chuyên môn kỹ thuật người lao động (Trang 61)
Bảng 2.7: Lao động có việc làm theo ngành kinh tế quốc dân - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.7 Lao động có việc làm theo ngành kinh tế quốc dân (Trang 65)
Bảng 2.8: Cơ cấu LLLĐ và tình trạng lao động chia theo trình độ CMKT - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.8 Cơ cấu LLLĐ và tình trạng lao động chia theo trình độ CMKT (Trang 65)
Bảng 3.1: Dự báo dân số và lao động - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.1 Dự báo dân số và lao động (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w