1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

28 782 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 168 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy theo xu hướng khách quan và chủ quan của sự phát triển hiện nay đặc biệt làtheo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thì hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhânlực, đặc biệt là nguồn nh

Trang 1

TIỂU LUẬN

Đề tài:

Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Trang 2

Chúng ta đều biết rằng, ở mỗi quốc gia, dân tộc trong mọi thời đại muốn tồn tại và

phát triển đều rất cần đến con người “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” luôn được cha

ông nhấn mạnh vì nhân tài chính là nhân tố cốt lõi của nguồn lực con người trong mọithời đại Hơn nữa chúng ta sống và làm việc trong thời đại mà khoa học thực sự đã trởthành lực lượng sản xuất vật chất trực tiếp, thời đại mà không còn khoảng cách về khônggian và thời gian thì chính tiềm lực khoa học - công nghệ và trình độ dân trí mới là nhân

tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới Vì thế ưu tiên phát triểnnhân tố con người, đặc biệt là đầu tư đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn, khoa học kỹthuật không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn làm chủ và khẳng định vị thế củamình trên trường quốc tế trong tiến trình hội nhập của mỗi quốc gia nói chung và ViệtNam nói riêng

Thực tế hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã và đang ngày càng coi trọng nguồn nhân

lực có chất lượng cao, lấy vấn đề đào tạo và xây dựng nó làm “quốc sách hàng đầu” trong

chiến lược quốc gia đặc biệt là trong tiến trình hội nhập như hiện nay

Điều này đã được xác định rõ qua từng chủ trương chính sách phát triển đất nước.Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và chiến lược phát triển kinh tế – xãhội của Đảng đã chỉ rõ: Con người là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọinguồn lực, quyết định sự hưng thịnh của đất nước Đại hội lần thứ IX của Đảng đã định

hướng cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là: “Người lao động có trí tuệ cao, có tay

nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”.

Vậy theo xu hướng khách quan và chủ quan của sự phát triển hiện nay đặc biệt làtheo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thì hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhânlực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao phải luôn chiếm một vị trí trung tâm vàđóng vai trò quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất làtrong giai đoạn hiện nay - giai đoạn đẩy mạnh sự hợp tác toàn cầu, hội nhập quốc tế

CHƯƠNG 1:

Trang 3

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN

TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao

1.1.1 Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao

1.1.1.1 Cơ sở lý luận chung

Từ thời của Mác, dù chưa đề cập đến thuật ngữ “Nguồn nhân lực chất lượng cao”

nhưng C.Mác đã nêu ra quan niệm có liên quan đến vấn đề này: “Những con người có năng

lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn” Ở đây, Mác muốn nói đến những con người có trình độ, có khả năng ứng

dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất

Hiện nay, theo nghiên cứu trên thế giới và thực tiễn, có rất nhiều quan niệm về Nnguồn nhân lực chất lượng cao Trong “Đại từ điển kinh tế thị trường” của Trung Quốc giảithích khái niệm nhân tài: “Là những người, trong điều kiện xã hội nhất định, có tri thứcchuyên môn nhất định, có năng lực và kỹ năng cao, với tính lao động sáng tạo của bản thântrong điều kiện thực tiễn hoạt động xã hội, có khả năng góp phần cống hiến nào đó đối với sựphát triển của xã hội, của nhân loại”

Ở nước ta, lần đầu tiên thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao xuất hiện đó làtrong Văn kiện Đảng Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định “Phát triển nhanhnguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành” Nó đã thể hiện rằng trongchiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam có những điểm mới, trong đó tập trungphát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xem đó là bước đột phá nhằm sớm đưa nước tathoát khỏi tình trạng kém phát triển, đồng thời tạo sự phát triển nhanh, đáp ứng yêu cầucủa quá trình hội nhập quốc tế

Những năm gần đây, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã đi sâu vào để tìm hiểu,nghiên cứu vấn đề này và đưa ra một số quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao.Tiêu biểu như:

Trang 4

Trong “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”,GS.VS.TS.Phạm Minh Hạc quan niệm nguồn nhân lực chất lượng cao là: Đội ngũ nhânlực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệtiên tiến, thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnhvực của mình đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa được mở rộng theo kiểu “vết dầuloang”, bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc

Nguồn nhân lực chất lượng cao được TS.Nguyễn Hữu Dũng quan niệm trong

“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước và hội nhập kinh tế quốc tế” là: “Nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉmột con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹthuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn,

kỹ thuật nhất định (trên đại học, cao đẳng, công nhân lành nghề)” Ở đây tác giả lại chú ýđến trình độ lành nghề

Trong tạp chí “Thông tin Chủ nghĩa xã hội - lý luận và thực tiễn”, TS.Bùi ThịNgọc Lan cho rằng: Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh túy nhất của nguồnnhân lực Lực lượng này có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng laođộng giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệsản xuất, có phẩm chất tốt và có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹnăng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng,hiệu quả cao Tác giả đã đưa ra thêm khá nhiều tiêu chí để xác định hơn

Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao đã được đưa ra và hiểu dưới nhiều góc độtùy theo nhưng tiêu chí cụ thể đặt ra, ở góc độ tổng hợp nhất ta có thể hiểu như sau:

Trang 5

Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận kết tinh những gì tinh túy nhất của nguồnnhân lực Là bộ phận lao động có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao hay có kỹnăng lao động giỏi, có năng lực sáng tạo, phải có tác phong công nghiệp và đạo đức trongnghề nghiệp Đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng được những yêu cầu của thựctiễn, biết vận dụng tri thức, kỹ năng và kinh nghiệm đã được đào tạo và tích lũy trong quátrình lao động nhằm đem lại kết quả sản xuất với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao nguồn nhân lực chất lượng cao chính là lực lượng cốt lõi cả trong hai mặt số lượng vàchất lượng của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực chất lượng cao có lực lượng nòng cốt lànhững công nhân lành nghề - những người trực tiếp sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch

vụ cho người tiêu dùng cả ở trong nước và nước ngoài Do đó, họ phải có một trình độ trítuệ nhất định để tiếp thu và làm chủ được công nghệ tiên tiến Hơn thế nữa, với những trithức khoa học và những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình sản xuất trực tiếp,người công nhân không những sử dụng các công cụ lao động hiện có, mà còn có thể sángchế ra những tư liệu lao động mới, hoàn thiện kỹ thuật và phương pháp sản xuất Lựclượng lao động “đầu tàu”của nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ trí thức Đội ngũtrí thức Đảng ta đã khẳng định: “Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xãhội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức”để mở rộng hợptác quốc tế song phương và đa phương, đặc biệt với các tổ chức quốc tế, các tổ chức nướcngoài hoạt động tại Việt Nam Luôn mở rộng hợp tác với các tổ chức khoa học và côngnghệ trong khu vực và trên thế giới, chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin, thu hút nguồnlực, tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức trong nước giao lưu khoa học với thế giới bằngcác hình thức phù hợp…

1.1.1.2 Đào tạo, phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới

Trong mấy chục năm gần đây, nhìn ra nước ngoài, chúng ta thấy sự phát triển rấtnhanh chóng của nhiều nước ở khu vực Đông á bao gồm Nhật Bản, Hàn quốc và ĐàiLoan cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh của nhiều nước công nghiệp mới, cácnước ASEAN , Trung Quốc và ngay cả những nước rất phát triển như Mỹ.Tất cả đềuphần lớn nhờ vào sự phát triển của nguồn nhân lực có chất lượng cao

Trang 6

Ở châu Á, Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong phát triển nguồn nhânlực chúng ta đã biết rằng Nhật – là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên vì vậy để pháttriển họ chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật Bản và Chính phủ nước nàyngay từ rất lâu đã đặc biệt chú trọng tới tiềm năng của nguồn lực quý giá này thông qua

sự phát triển của giáo dục đào tạo, thực sự coi đây là quốc sách hàng đầu Cụ thể nhưchương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc; tất cả học sinhtrong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi được học miễn phí Kết quả là, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào cáctrường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng nhiều Nhật Bản trở thành một trongnhững cường quốc giáo dục của thế giới Thực tế hiện nay là một minh chứng cụ thể nhất.Nhật đã đứng trong top những cường quốc trên thế giới Nhật Bản luôn là bài học điểnhình về sự thành công cho sự đầu tư phát triển về con người để chúng ta học hỏi

Với một thị trường lao động khá năng động, Mỹ rất coi trọng môi trường sáng tạo

và khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài trong nhiều lĩnh vực.Chiến tranh thế giới thứ hai đã mang lại cho Mỹ - nước duy nhất trên thế giới, cơ hội thuhút nguồn chất xám rất lớn, đó là rất nhiều các nhà khoa học, bác học giỏi từ châu Âu vànhiều nước khác trong đó có Việt Nam đã nhập cảnh vào Mỹ Thực tế này trả lời cho câuhỏi, tại sao hiện nay Mỹ là một trong những nước có nhiều nhà khoa học hàng đầu thếgiới trong nhiều lĩnh vực.Và Mỹ luôn là cường quốc trong nhiều thập niên qua

Trung Quốc ngay từ những năm 2003 đã đề ra Chiến lược tăng cường hơn nữacông tác bồi dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hộikhá giả được đề ra trong Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc Nội dung củachiến lược là: lấy nhân tài chấn hưng đất nước, xây dựng đội ngũ đông đảo nhân tài cóchất lượng cao; kiên quyết quán triệt phương châm tôn trọng lao động, trí thức, tôn trọngnhân tài và sự sáng tạo, lấy thúc đẩy phát triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tácnhân tài, điều chỉnh nhân tài một cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, rasức đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình thành cơchế đánh giá và sử dụng nhân tài một cách khoa học Hiện nay sự phát triển về kinh tếcủa họ là một minh chứng rõ ràng nữa.Trung Quốc hiện nay phát triển kinh tế chỉ sau Mỹ.Trong khu vực Đông Nam Á, Xin-ga-po được coi là hình mẫu về phát triển nguồn nhânlực Thực tế đã minh chứng, quốc gia nhỏ bé này đã rất thành công trong việc xây dựng

Trang 7

một đất nước có trình độ dân trí cao và và cũng rất đặc biệt đề cao vai trò của giáo dục màhiện nay họ đang là một trong những nước có nền giáo dục đứng trong tốp đầu

Hệ thống giáo dục của nước này rất linh hoạt và luôn hướng đến khả năng, sở thích cũngnhư năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy cao nhất tiềm năng củamình Bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học - công nghệ mới vào giảng dạy,chương trình đào tạo của Xin-ga-po luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách, truyền thốngvăn hóa dân tộc

Chủ trương thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, Chính phủ Xin-ga-po miễn xétthị thực cho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí học tậpvừa phải, môi trường học tập hiện đại, các ngành nghề đào tạo đa dạng Nhà nước Xin-ga-po chỉ đầu tư vào rất ít trường công lập để có chất lượng mẫu mực, có chính sách tíndụng thích hợp để thu hút đào tạo nhân tài Đối với khối ngoài công lập, Chính phủ tạođiều kiện để phát triển, khuyến khích việc liên thông, liên kết với nước ngoài, mời gọi cácđại học quốc tế đặt chi nhánh

Trên đây là những ví dụ điển hình cho việc coi trọng và phát triển nguồn lực conngười mà đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao đã đem lại thành công và vị thế trêntrường quốc tế của các quốc gia

1.1.2 Mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao

Với bài tham luận “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - Nhu cầu cấp bách”Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng Trần Thế Tuyển dẫn chứng, cụm từ “nguồn nhânlực” trên công cụ tìm kiếm Google, trong 0,1 giây cho ra 65.300.000 kết quả; còn nếu gõcụm từ “nguồn nhân lực chất lượng cao”, trong 0,1 giây cho ra 29.500.000 kết quả.Những con số đó đã phần nào nói lên tầm quan trọng của nguồn nhân lực, mà đặc biệt lànguồn nhân lực chất lượng cao trong thời đại khoa học - kỹ thuật phát triển như vũ bãovới một quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra một cách chóng mặt ở mọi ngõ ngách củathế giới như hiện nay

Khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực ViệtNam có rất nhiều học giả, các nhà nguyên cứu đã đưa nhiều quan điểm khác nhau vềnguồn nhân lực Có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực một cách ngắn gọn là nguồn lựccon người Cụ thể, khái niệm nguồn nhân lực tập trung phản ánh ba vấn đề sau đây:

Trang 8

Thứ nhất, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người-yếu tố quyếtđịnh sự phát triển của xã hội.

Thứ hai, nguồn nhân lực bao gồm số lượng và chất lượng, trong đó mặt chất lượngthể hiện ở trí lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống và sự kết hợp giữa các yếu tốđó

Thứ ba, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất thiết phảigắn liền với thời gian và không gian mà nó tồn tại

Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực theo nghĩarộng là bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thực tế đang làm việc (gồm những ngườitrong độ tuổi lao động và những người trên độ tuổi lao động), những người trong độ tuổilao động có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nộitrợ trong gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạotrong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…)

Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệchặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Khi đề cập tới nguồn lựccon người, người ta thường nói tới mặt số lượng và mặt chất lượng của nó Số lượngnguồn lực con người chính là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng laođộng cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Nhưng, yếu tố quan trọng nhất trong nguồn lực con người không phải là số lượng,

mà là chất lượng nguồn lực con người Đây mới chính là yếu tố quyết định đối với sự pháttriển kinh tế - xã hội Nói đến chất lượng của nguồn lực con người là nói đến hàm lượngtrí tuệ ở trong đó, nói tới “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩmchất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liềnvới một nền khoa học, công nghệ hiện đại” Sở dĩ người ta nói đến tính vô tận, tínhkhông bị cạn kiệt, tính khai thác không bao giờ hết của nguồn lực con người chính là nóitới yếu tố trí tuệ Trí tuệ của con người ngày càng phát triển và có tác động mạnh mẽ nhấtđối với sự tiến bộ và phát triển xã hội Nhà tương lai học Mỹ- Alvin Toffler khẳng địnhrằng, mọi nguồn lực tự nhiên đều có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ có trí tuệ con người làkhông bao giờ cạn kiệt và “tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết” Để khẳng định

Trang 9

mình trong một thế giới cạnh tranh đầy khốc liệt, chất lượng nguồn nhân lực đóng một vaitrò sống còn đối với một nền kinh tế đang trên đà phát triển và hội nhập như Việt Nam

Và tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, nguồn nhân lực chất lượng caochính là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất.Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể không đặt nó trong tổng thểvấn đề nguồn nhân lực nói chung của một đất nước

Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu củathị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức:chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc antoàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc

Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao cao phải là những con người phát triển cả

về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạođức, tình cảm trong sáng Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về sốlượng, nhưng phải đi vào thực chất, chất lượng

1.2 Yêu cầu của nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực chất lượng cao không đồng nghĩa với học hàm, học vị cao, nghĩa

là nếu một người nào đó cho dù có học hàm, học vị cao nhưng lại không có đóng góp gìthực sự có giá trị về mặt khoa học hay thực tiễn trong suốt quá trình lao động hoặcnghiên cứu khoa học thì không được gọi là nguồn nhân lực chất lượng cao Ngược lại,những người không hề có học hàm, học vị cao, thậm chí chỉ là người công nhân, kỹ thuậtviên, cán bộ có trình độ trung cấp, hay kỹ sư, cử nhân, nhưng nếu họ lại có tay nghề haychuyên môn rất giỏi về một lĩnh vực nào đó, đáp ứng tốt nhất yêu cầu công việc và cónhững đóng góp thực sự có giá trị cho xã hội thì đó chính là nguồn nhân lực chất lượngcao Vì vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao là những người có khả năng hoàn thànhnhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và hoàn hảo nhất, có đóng góp thực

sự hữu ích cho công việc, cho xã hội

Để làm rõ hơn khái niệm “nguồn nhân lực chất lượng cao”, cũng như để dễ dànghơn trong việc thống kê, phân tích và đánh giá lực lượng lao động này, cần thiết phải xâydựng những tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao ở mức độ cụ thể hơn

Trang 10

Có nhiều chỉ số để đánh giá vấn đề này, chúng ta điểm qua chỉ số tổng hợp chungnhất là Chỉ số phát triển con người (HDI) Đây cũng là chỉ tiêu mà Việt Nam đạt mức cao

và hoàn thành mục tiêu trong Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 Theo sốliệu công bố trong báo cáo phát triển con người của các nước ASEAN, in trong niên giámthống kê tóm tắt năm 2009 của tổ chức thống kê mới công bố Chỉ số HDI của các nướcASEAN như sau: Brunây 0,919; Campuchia 0,575; Indonesia 0,726; Lào 0,608; Malaysia0,823; Myanmar 0,585; Philipine 0,745; Thái Lan 0,786; Singapore 0,918; Việt Nam0,718 Như vậy, mặc dù đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực này nhưng ngay trongkhối ASEAN chỉ số HDI của chúng ta cũng chỉ cao hơn 3 nước là Lào, Campuchia vàMyanmar Cũng theo số liệu của TĐTDS 2009, tỷ lệ lao động được đào tạo có trình độ từ

sơ cấp trở lên cũng chỉ đạt 14,9% Sơ bộ những điều này cho thấy mặc dù đã đạt nhưngthành tích nhất định nhưng để nâng cao chất lượng dân số, phát triển được nguồn nhân lựcchất lượng cao, tận dụng hiệu quả, thì còn là một thách thức rất lớn đối với chương trìnhphát triển kinh tế-xã hội của nước ta trong giai đoạn tới

Dưới đây là các chỉ tiêu cụ thể hơn:

Thứ nhất, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có đạo đức nghề nghiệp, đó là lòng yêu nghề, say mê với công việc, có tính kỷ luật và có trách nhiệm

với công việc Cao hơn cả, đạo đức nghề nghiệp còn thể hiện ở mong muốn đóng góp tàinăng, công sức của mình vào sự phát triển chung của dân tộc Đây được coi là tiêu chímang lại tính chất nền gốc trong quá trình xây dựng những tiêu chí các định nguồn nhânlực chất lượng cao

Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có khả năng thích ứng công nghệ mới và linh hoạt cao trong công việc chuyên môn Tiêu chí này đòi

hỏi nguồn nhân lực phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, để có khả năng thích ứngtốt với những công việc phức tạp và luôn thay đổi trong thời đại ngày nay Điều này cũng

có nghĩa là nguồn nhân lực chất lượng cao phải có bản lĩnh nghề nghiệp để không bị độngtrước những thay đổi nhanh chóng cả về nội dung và cách thức tiến hành công việc củathời đại toàn cầu hóa vá kinh tế tri thức

Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có khả năng sáng tạo trong công việc.

Trang 11

Sáng tạo bao giờ cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển Đặc biệttrong thời đại ngày nay, những gì là mới và sôi động của ngày hôm qua nhanh chóng trởthành cũ kỹ và tầm thường trong ngày hôm nay Nếu không liên tục có những ý tưởngsáng tạo thì hoạt động của các tổ chức và suy rộng ra là của một dân tộc sẽ bị tê liệt Vìvậy, tiêu chí này nhằm xác định nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung nhưng đặc biệtnhấn mạnh tới một lực lượng tinh túy nhất, đó là những nhà lãnh đạo, chủ doanh nghiệp

và các nhà khoa học Họ được gọi chung là nhân tài Họ, “trước hết phải là những người

có nhân cách, trí tuệ phát triển, có một số phẩm chất nổi bật mà rất ít người có, đồng thờiphải là người giàu tính sáng tạo, có tư duy độc đáo, giải quyết các công việc nhanh, chínhxác, mang lại hiệu quả rất cao”

Và một yếu tố không thể thiếu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao là sức khoẻ.

Sức khoẻ ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sựhoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần Mọi người lao động, dù lao động cơ bắp hay laođộng trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải trithức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất Hơn nữa cần phải có

sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trongnhững điều kiện khác nhau hết sức khó khăn và khắc nghiệt

Ngoài ra còn có một số tiêu chí khác như:

Nền sản xuất công nghiệp hiện nay còn đòi hỏi ở người lao động phải có các nănglực cần thiết như: có kỷ luật tự giác, biết tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, có tinhthần trách nhiệm, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, lương tâm nghềnghiệp,… nghĩa là phải có văn hóa lao động công nghiệp

Người lao động còn phải có năng lực xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiệnđại, giữa dân tộc và thời đại Truyền thống được hiểu là: phức hợp những tư tưởng, tìnhcảm, những tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí, v.v củamột cộng đồng người đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từthế hệ này sang thế hệ khác Như vậy, truyền thống có cả mặt tích cực và tiêu cực dùmuốn hay không vẫn để lại dấu ấn vào hiện tại, và ở mức độ nhất định, có thể còn ảnhhưởng đến sự vận động của tương lai Quá trình hội nhập đòi hỏi người lao động vừa biết

kế thừa những giá trị truyền thống, vừa biết phát triển những giá trị đó lên tầm cao hơn,

Trang 12

đồng thời tiếp thu những tinh hoá quý giá của văn hoá nhân loại Nếu không biết kết hợptruyền thống với cách tân để vượt lên, để hội nhập, để tìm mọi cách bước vào xã hội hiệnđại thì tương lai chỉ mãi là sự tụt hậu

1.3 Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam

1.3.1 Khái niệm về hội nhập quốc tế

Khác với toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là hành động chủ quan, có chủ đích củacon người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh của đất nướcmình Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hộinhập nhưng không hoà tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và nhất là bảo vệđược nền độc lập dân tộc

Hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăngcường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực,quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuônkhổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế

1.3.2 Tác động của hội nhập quốc tế đến nguồn nhân lực chất lượng cao

1.3.2.1 Thách thức

Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực.Mỗi một lĩnh vực, một bộphận lại chịu sự tác động riêng của quá trình này Là bộ phận không thể thiếu của mộtquốc gia nguồn nhân lực chất lượng cao cũng sẽ có cơ hội phát triển cũng như thách thứckhó khăn trong quá trình hội nhập

Quá trình hội nhập sẽ tiếp nhận những công nghệ mới - đặc biệt là công nghệ máytính – làm thay đổi bản chất của công việc, đòi hỏi người lao động nói chung phải đượctrang bị những kỹ năng tổng hợp thông tin và kỹ năng tư duy độc lập, họ cần có khả nănghọc tập sâu hơn, phân tích dữ liệu tốt hơn và ứng phó giải quyết các vấn đề mới nhanhhơn Nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng có nhiều cơ hội để nâng cao khả năngcũng như để hoàn thiện mình hơn

Hội nhập và mở cửa làm thay đổi cấu trúc nền kinh tế, cơ cấu giá cả, khả năng vàcách thức tiêu dùng dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế và thu nhập của người dântrong những khu vực chưa theo kịp với tiến trình toàn cầu hoá (việc làm năng suất thấp,

Trang 13

thu nhập thấp do kỹ năng thấp) Đặc biệt là về tiền lương và thưởng phải đảm bảo thu hútnhân tài luôn là vấn đề nan giải Lương phải đảm bảo sự khuyến khích và thỏa mãn nhữngnhu cầu cần thiết người lao động nói chung, phải đảm bảo cung cấp điều kiện làm việcphù hợp với năng lực chuyên môn nghề nghiệp của nguồn nhân lực chất lượng cao nóiriêng và đảm bảo sự cạnh tranh về thu hút nhân lực với các nước.

Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra nhiều thách thức trong giải quyết việc làm, cácdoanh nghiệp có sức cạnh tranh kém, quy mô nhỏ có nguy cơ phá sản; mất việc làm, thiếuviệc làm lớn trong khu vực phi chính thức; Phải nhấn mạnh rằng đã tham gia hội nhập làchúng ta đã phải chịu sự cạnh tranh rất lớn từ nước ngoài Vì thế vấn đề quản lý doanhnghiệp, nếu không thích ứng tất yếu sẽ bị loại và dễ dàng dẫn đến tình trạng chảy máuchất xám và khả năng mất đi nguồn lực chủ chốt này chỉ còn là vấn đề thời gian - thực sự

Các nhà kinh tế Mỹ cho rằng nhân tài là nhân tố quan trọng để các doanh nghiệp

Mỹ vươn lên hàng đầu thế giới về phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật Nhận thức rõđiều này, nên các đời Chính phủ nước Mỹ từ trước tới nay đã ban hành nhiều đạo luậtgiúp doanh nghiệp bồi dưỡng và thu hút nhân tài trên thế giới Năm 1963, Mỹ ban hành

“Luật giao dục ngành nghề” và năm 1990 được sửa đổi bổ sung để thu hút có hiệu quảcao nhân tài từ các nước trên thế giới Năm 1996, Mỹ lại thông qua “Luật giáo dục ngườilớn tuổi”, trong đó yêu cầu tất cả doanh nghiệp công hữu và tư nhân hàng năm phải chi

Trang 14

khoản kinh phí chiếm 1% tổng thu nhập của doanh nghiệp dành cho huấn luyện đào tạonâng cao tay nghề cho nhân viên.

Ngoài việc phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề thì cácyêu cầu khác về chất lượng nguồn nhân lực đang được đặt ra như những thách thức mớitrông quá trình hội nhập Đó là yêu cầu về ngoại ngữ, tin học, tác phong và văn hoá ứng

xử công nghiệp, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế… Điều này đòi hỏi lao độngphải nhanh chóng học tập những cái mới, cái ưu việt, nhưng cũng cần phải loại bỏ nhữngyếu tố không phù hợp và đi ngược lại với đạo đức và văn hoá Việt

Sự dịch chuyển về cơ cấu lao động và di chuyển lao động tự do tới các vùng đô thịđang là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan chức năng, nhiều địa phương

và các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách Khi Việt Nam gia nhập WTO (năm 2007),thực trạng này còn diễn ra mạnh hơn và kéo theo nhiều tác động với mức độ lớn hơn Hơnnữa, hội nhập kinh tế quốc tế có thể dẫn tới nguy cơ tăng khoảng cách thu nhập của ngườilao động Điều này góp phần làm tăng khoảng cách về quyền lợi và địa vị xã hội giữa cácnhóm lao động.Vấn đề là làm sao để hài hòa giữa mức thu nhập của lao động chất lượngcao và các bộ phận khác và vẫn đảm bảo “giữ chân người tài”-một thực tế khó khăn.Trên thực tế, tiêu chuẩn lao động của quốc tế mang tính nhân quyền cao như: qui định cácvấn đề liên quan đến lao động trẻ em; lao động cưỡng bức; chống phân biệt đối xử tại nơilàm việc, tự do hiệp hội và thoả ước lao động tập thể… Điều này đang đặt ra cho nguồnnhân lực các vấn đề mới cần giải quyết, như chi phí về nhân công tăng lên, các điều kiệnlàm việc cần được đầu tư và cải thiện tốt hơn, thành lập các hiệp hội tự do trong cácngành nghề… Và nguồn nhân lực chất lượng cao lại càng được tiêu chuẩn hóa cao hơn,khắt khe hơn nữa

1.3.2.2 Cơ hội

Mặc dù các nền kinh tế trên thế giới đang gặp khó khăn do khủng hoảng, nhưnggiai đoạn 2006-2010, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng ổn định, hợptác để cùng phát triển tác động mạnh đến sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là cácnước đang phát triển như Việt Nam Hơn ba năm Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thươngmại Thế giới (WTO) là cơ hội tốt để Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới,được đối xử bình đẳng trên “sân chơi chung” của thế giới Hội nhập đem lại nhiều cơ hội

Ngày đăng: 03/04/2015, 21:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w