Nhóm đề tài nghiên cứu về vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Cần Thơ hiện nay Nghiên cứu về vấn đề nhân lực ở thành phố Cần Thơ, hai đề tài của tác giả Nguyễn Tấn Quyên là “
Trang 1
NGUYỄN THÀNH ĐÔ
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO
Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2
NGUYỄN THÀNH ĐÔ
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO
Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ NGỌC TRIẾT
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi! Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; những kết luận mới trong khoa học trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nào, nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Cần Thơ, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Đô
Trang 4Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới Tiến sĩ Lê Ngọc Triết, người đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn em trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình
Em cũng xin gửi lời chân thành đến Quý thầy cô Phòng Sau Đại học, Khoa Triết học - Trường Đại học sư phạm Hà Nội và các Quý thầy cô thỉnh giảng đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài
Cũng xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, tất cả bạn bè, đồng nghiệp, đã luôn quan tâm, khích lệ và chia sẻ với em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
Cần Thơ, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Đô
Trang 51.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển nguồn nhân
1.2 Tính tất yếu của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng
1.2.1 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để
1.2.2 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay 26
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ CẦN
2.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
2.1.1 Thành tựu và nguyên nhân của những thành tựu trong
việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành
Trang 62.2 Quan điểm chỉ đạo và những giải pháp phát triển nguồn
nhân lực chất lƣợng cao ở Thành phố Cần Thơ hiện nay 56 2.2.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Cần Thơ về
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 56 2.2.2 Những giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử của sự phát triển văn minh văn hóa nhân loại, vấn đề con người và tương lai của con người luôn giữ vị trí trung tâm và trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau, đặc biệt là khoa học xã hội nhân văn, nhưng chỉ có triết học mới nhận thức con người một cách toàn diện trong tính chỉnh thể của nó
Tư tưởng về con người của triết học Mác - Lênin được hình thành trên
cơ sở kế thừa biện chứng những tư tưởng tiến bộ của nhân loại Từ đó, triết học Mác - Lênin đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử của con người Trong tư tưởng khoa học và cách mạng ấy, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển của lịch sử Bản chất nhân đạo, mục tiêu cao cả, thước đo nhân văn của sự phát triển xã hội là phát triển con người
Trên bình diện thực tiễn, lợi thế so sánh sự phát triển của một quốc gia đang chuyển nhanh dần từ yếu tố giàu tài nguyên, tiền vốn, giá nhân công rẻ sang lợi thế về trình độ trí tuệ, chuyên môn cao của người lao động Nguồn nhân lực trở thành tài sản quý giá và là yếu tố có vai trò quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của mọi quốc gia và vùng lãnh thổ Điều này được minh chứng qua sự thành công của mô hình tăng trưởng kinh tế của Nhật, Singapore và một số nước khác Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến sự phát triển và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực ở tất cả các cấp, các ngành và vùng miền của đất nước để phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước trong thời gian tới
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và tại các Hội nghị Trung ương của mình, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững… Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện
Trang 8đời sống nhân dân; phát triển văn hóa, giáo dục Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và đồng bộ; kết hợp đào tạo kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp với bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức nhằm hình thành một đội ngũ lao động giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ; có tác phong công nghiệp, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cáo; có ý thức phấn đấu vì sự phồn vinh của
Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân Chỉ những con người như vậy mới đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong xu thế đổi mới đất nước, thành phố Cần Thơ tuy có điều kiện tự nhiên và con người có nhiều tiềm năng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội, song cũng có không ít những khó khăn trên bước đường phát triển Vấn đề đặt ra là thành phố phải có chủ trương chính sách phù hợp, nhằm phát huy cao
độ nguồn lực con người để thực hiện thắng lợi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Cần Thơ phấn đấu trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của nhân tố con người trong quá trình phát triển đất nước nói chung cũng như ở thành phố Cần Thơ nói riêng, trên cơ sở nhận thức sâu sắc lý luận của chủ nghĩa Mác - LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tôi đã chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay” để làm luận văn tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu
- Nhóm đề tài nghiên cứu về con người
Con người là chủ thể của hoạt động sản xuất, là yếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội và là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử Vấn đề con người được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau như:
N.M.Beredơnôi, “Vấn đề con người trong các tác phẩm của C.Mác” D.M.Kakabátde, “Con người với tư cách một vấn đề triết học”
Trang 9Viện Triết học Việt Nam, (1978), “Về vấn đề con người và xây dựng con người mới”, Giáo sư Phạm Như Cương chủ biên
Công trình khoa học cấp nhà nước KX-07, (1991 - 1995), “Con người Việt Nam- mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội”, GS-TS Phạm
Nhóm đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất Nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng l;à nguồn lực quan trọng nhất và quyết định cho sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghiên cứu sâu về vấn đề này, đã có nhiều công trình của nhiều tác giả như:
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2009), Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Đoàn Văn Khái (1995), Nguồn lực con người, yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Nxb Giáo dục
Các tác phẩm của tác giả Phạm Minh Hạc như “Văn hóa và giáo dục - Giáo dục và văn hóa”, Nxb Giáo dục, (năm 2001), “Nghiên cứu con người và
Trang 10nguồn nhân lực”, Nxb Chính trị quốc gia (2004), “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực”, Nxb Khoa học xã hội, (2004)
Đường Vinh Sường, (12/4/2012), “Giáo dục đào tạo với phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản
Những đề tài nghiên cứu trên đã đưa ra những phân tích, luận giải về vấn đề nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời cũng đưa
ra một số giải pháp để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của các công trình trên là trên phạm vi toàn quốc, mang tính khái quát chung của các tỉnh, thành trên cả nước
Nhóm đề tài nghiên cứu về vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Cần Thơ hiện nay
Nghiên cứu về vấn đề nhân lực ở thành phố Cần Thơ, hai đề tài của tác giả Nguyễn Tấn Quyên là “Thành phố Cần Thơ trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và “Xây dựng thành phố Cần Thơ thành thành phố cấp quốc gia văn minh, hiện đại” đã nêu lên những nguồn lực trong quá trình phát triển thành phố Cần Thơ trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó chú trọng vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước nói chung và của thành phố Cần Thơ nói riêng Bên cạnh đó, các báo cáo tổng kết về tình hình lao động việc làm, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động,… của các ban ngành địa phương cũng cung cấp một số thông tin liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực ở thành phố Cần Thơ hiện nay
Thông qua việc chọn lọc và kế thừa những kết quả nghiên cứu trên, luận văn của tôi nghiên cứu, làm rõ vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay và phân tích những phương hướng
đã được đề ra, từ đó đề xuất một số giải pháp cho vấn đề trên
Trang 113 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay
4 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay
5 Giả thuyết khoa học
Đề tài nghiên cứu này nhằm chứng minh những giả thuyết khoa học sau:
- Nguồn nhân lực với 3 yếu tố quan trọng nhất là trí lực, thể lực và nhân cách giữ vai trò quyết định sự vận động và phát triển của xã hội
- Các yếu tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực như: trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, trình độ phát triển khoa học, công nghệ, kế hoạch phát triển dân số, trình độ phát triển y tế và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chính sách vĩ mô của nhà nước,… có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, tạo thành động lực và thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích lý luận về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay
- Khảo sát thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay
Trang 127 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chủ yếu là ở thành phố Cần Thơ Trong đó, việc khảo sát thực trạng
để nhận thức những thành tựu, những hạn chế việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ được tập trung giai đoạn 2010 - 2016
8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong đó chú ý các phương pháp: Phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, gắn với lý luận với thực tiễn để thực hiện nhiệm vụ đề tài đặt ra
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có 2 chương, 4 tiết
10 Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới
10.1 Các luận điểm cơ bản
- Cần Thơ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhưng thực tiễn cho thấy lực lượng này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố hiện nay
- Thành phố Cần Thơ cần kết hợp và vận dụng linh hoạt những giải
pháp phù hợp như: Đẩy mạnh phát triển kinh tế; Đổi mới giáo dục; Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về phát triển nguồn nhân lực; Nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng nguồn nhân lực thì sẽ đạt được hiệu quả cao trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay
10.2 Những đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Về lý luận: Làm sâu sắc thêm lý luận về phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao
- Về thực tiễn: Làm tài liệu tham khảo, nâng cao hiểu biết về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là ở thành phố Cần Thơ hiện nay
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là một khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét nhân tố con người với tư cách là nguồn lực cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội, nhưng mức độ tác động và vai trò của chúng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội không giống nhau Trong tất cả các nguồn lực thì nguồn lực con người là quan trọng nhất
vì nó tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng, phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội Bởi vì phải thông qua hoạt động của con người thì các nguồn lực khác mới có thể phát huy được tác dụng, mới có thể biến tiềm năng thành hiện thực Chính con người đã phát hiện và sáng tạo ra những nguồn lực mới, phát triển và phát huy ra nguồn lực tinh thần và sử dụng nó để phục
vụ con người Hiện nay, khi nói về khái niệm nguồn nhân lực (nguồn lực con người) thì có nhiều quan niệm khác nhau:
Theo lý luận Mác- Lênin về con người, thì nguồn nhân lực được xem xét như một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, là phương tiện để phát triển kinh tế xã hội Nguồn nhân lực được coi như nhu cầu tất yếu cùng với các nguồn lực khác cho sự phát triển đất nước Đầu tư cho con người càng nhiều, càng có hiệu quả và thu hồi vốn khá cao so với đầu tư vào các lĩnh vực khác, cho nên hầu hết các nước trên thế giới đều chú trọng áp dụng phương pháp này để phát triển kinh tế - xã hội
Trang 14Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu khái niệm nguồn lực con người hay nguồn nhân lực như sau: “Nguồn lực con người là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến, gắn liền với nền khoa học, công nghệ hiện đại” [34, tr.09]
Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) cho rằng: “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ tiềm năng về vốn người bao gồm: thể lực, trí lực, tâm lực mà mỗi cá nhân sở hữu” [47, tr.231]
Tổ chức Liên hiệp quốc (UNESCO) thì cho rằng: “Nguồn nhân lực là tất
cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước” [47, tr.08]
Ở nước ta khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng tương đối rộng rãi Tuy nhiên, trong Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng như các Từ điển Tiếng Việt chưa thấy đưa ra định nghĩa “Nguồn lực con người” Dù vậy, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau khi bàn về nguồn nhân lực , về nguồn nhân lực
Bộ Lao động - Thương binh và xã hội quan niệm: Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kì xác định của một quốc gia, suy rộng
ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng Đây
là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế- xã hội Theo quan điểm này, nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội
Trong dịp gặp gỡ các nhà doanh nghiệp, các nhà khoa học - công nghệ các tỉnh, thành phố phía Bắc, Thủ tướng Phan Văn Khải đã khẳng định:
“Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta” [41, tr.37]
Trang 15Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn lực con người được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [42, tr.328]
Giáo sư Tiến sĩ Lê Du Phong cho rằng: “Nguồn lực con người được hiểu là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động của con người Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người” [28, tr.14]
Phó Giáo sư Tiến sĩ Đoàn Văn Khái cho rằng: “Nguồn nhân lực là khái niệm dùng chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả các đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội” [40, tr.62]
Như vậy ta thấy, do nhiều cách tiếp cận khác nhau nên đã có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực Tuy nhiên, cho dù có quan niệm khác nhau, song giữa các quan niệm này cũng có điểm chung thống nhất đó
là: hầu hết các tác giả đều xem Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng
và năng lực của con người được huy động vào trong quá trình lao động sản xuất và phát triển của một quốc gia hay một địa phương
Khi xem xét cấu trúc nguồn nhân lực trước hết phải tính đến phương
diện cá thể của nó gồm 3 yếu tố: thể lực, trí tuệ và nhân cách Ba yếu tố này
cấu thành chất lượng cá thể của nguồn nhân lực và nó ảnh hưởng đến chất
lượng phát triển nguồn nhân lực Trong đó, trí lực thể hiện ở trình độ dân trí,
trình độ chuyên môn là yếu tố trí tuệ, tinh thần là cái nói lên tiềm lực sáng tạo
ra các giá trị vật chất, văn hóa tinh thần của con người, vì thế, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực
Sau trí lực là thể lực hay thể chất, bao gồm không chỉ có sức mạnh cơ
bắp, mà còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thịt là sức mạnh niềm tin và ý chí là khả năng vận động của trí lực Thể lực là điều kiện tiên quyết
Trang 16để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để truyền tải tri thức vào hoạt động thực tiễn để biến tri thức thành sức mạnh vật chất Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể được phát huy được lợi thế khi thể lực con người được phát triển Nói cách khác, trí tuệ là tài sản quý nhất trong mọi tài sản nhưng chính sức khỏe là một tiền đề để làm ra tài sản đó
Ngoài ra, nói đến nguồn nhân lực không thể không nói đến nhân cách, thẩm mỹ, quan điểm sống Đó là sự thể hiện nét văn hóa của người lao động,
được kết tinh từ một loạt các giá trị đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc, khả năng hội nhập với môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc và các tri thức khác về giá trị của cuộc sống Trong mối quan hệ với các yếu tố khác cấu thành nguồn nhân lực, trình độ phát triển nguồn nhân lực, đạo đức đóng vai trò quan trọng vì nó đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt hơn các chức năng xã hội và nâng cao năng lực sang tạo của họ trong hoạt động thực tiễn Và như Hồ Chí Minh đã nói:
Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, nhưng có tài mà không có đức là người vô dụng Bởi vì sẽ không đầy đủ khi nói đến nguồn nhân lực mà không đề cập đến sự kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố: trí lực, thể lực và nhân cách thẩm mỹ Vì nó là điều kiện tạo nên sức mạnh trong mỗi con người, cộng đồng và cũng là hướng để người lao động đến sự phát triển toàn diện Đây là nguồn nội lực cực kì quan trọng của mỗi quốc gia để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước; cho sự phát triển kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội là đội ngũ những người lao động biết làm chủ và sáng tạo khoa học - công nghệ Do đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là tăng cường các yếu tố cấu thành và khả năng của năng lực thể chất và tinh thần đó trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội, đặc biệt là năng lực tinh thần, trí tuệ của nguồn nhân lực
Dựa theo những quan niệm nêu trên và gắn với góc độ nghiên cứu của
đề tài, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của
Trang 17một quốc gia, một địa phương với những năng lực thể chất, tinh thần, trình độ tri thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tác phong lao động đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia
Trong thời đại tiến bộ kỹ thuật, một nước cần và có thể đưa chất lượng nguồn nhân lực vượt trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất trong nước để sẵn sàng đón nhận tiến bộ kỹ thuật - công nghệ, hòa nhập với trình độ phát triển của nhân loại
- Quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao
C.Mác và V.I.Lênin mặc dù không đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực chất lượng cao nhưng đã nêu ra những quan niệm có liên quan đến nguồn nhân lực chất lượng cao Để nhấn mạnh đến tính hiệu quả và năng lực ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, C.Mác đề cập đến "những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn” [15, tr.474], hay đưa ra quan niệm nhân tài để chỉ nguồn nhân lực chất lượng cao “nhân tài tuyệt nhiên không phải chỉ là một số ít, những nhân vật nhân tài, nhân vật vĩ đại mà các nhân tài chuyên môn và công nhân, nông dân tiên tiến đều là nhân tài” [15, tr.28] V.I.Lênin quan niệm rằng: Lực lượng nòng cốt của nguồn nhân lực chất lượng cao là giai cấp công nhân, đó là “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại” [17, tr.430] Họ là những người có trình độ lao động cao, có tính
kỷ luật, tinh thần tự giác và mang lại năng suất lao động cao
Trong Từ điển Tiếng Việt cũng như từ điển Bách khoa Việt Nam hay các từ điển khác, cho đến nay vẫn chưa thấy đề cập đến thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao, mặc dù trong thực tế thuật ngữ này đã được sử dụng khá phổ biến, rộng rãi
Ở Việt Nam, thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao chính thức được nêu ra trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X: “Thông qua việc đổi mới toàn
Trang 18diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [37, tr.34], có thể nói đây là lần đầu tiên thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao đã xuất hiện trong Văn kiện của Đảng Điều này thể hiện sự phát triển trong nhận thức của Đảng mới về chiến lược phát triển con người, đồng thời cũng là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một khái niệm thống nhất và những tiêu chí
cơ bản để xác định thế nào là nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong những giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội thì có những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực chất lượng cao
Đề cập đến nguồn nhân lực chất lượng cao, C.Mác nêu quan niệm nhân tài Theo C Mác: nhân tài tuyệt nhiên không phải chỉ là một số ít, những nhân vật nhân tài, nhân vật vĩ đại mà các nhân tài chuyên môn và công nhân, nông dân tiên tiến đều là nhân tài [16, tr.28] Còn V.I.Lênin cho rằng: Chính giai cấp công nhân là lực lượng nòng cốt của nguồn nhân lực chất lượng cao Bởi, công nhân là yếu tố hàng đầu của lực lượng sản xuất [16, tr.43]
Thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao tuy mới được Đảng ta sử dụng trong Văn kiện từ năm 2006, nhưng các nhà khoa học của Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao và đã đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực chất lượng cao ở nhiều góc độ khác nhau
Khi nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức, Phó Giáo sư Tiến sĩ Bùi Thị Ngọc Lan đã có khẳng định: “Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh túy nhất của nguồn nhân lực Lực lượng này có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có phẩm chất tốt và có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” [45, tr.12]
Trang 19Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, sử dụng có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa được mở rộng theo kiểu vết dầu loang bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh” [42, tr.147-148]
Bên cạnh những quan niệm nêu trên, còn có những thuật ngữ khác nói về nguồn nhân lực chất lượng cao mang nghĩa gần gũi thường hay được sử dụng như khi nói về người lao động có đào tạo, có trình độ, có chất lượng, trong lĩnh vực sản xuất có hiệu quả cao Những thuật ngữ thường gặp như: thuật ngữ chuyên gia, nghệ nhân, công nhân lành nghề; nhà chuyên môn, bác học, nhà khoa học, chuyên gia
Từ những cách tiếp cận trên cho thấy, khi đề cập đến thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao có thể hiểu nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận ưu việt của nguồn nhân lực Đó là nguồn lực lao động có khả năng đáp ứng nhu cầu cao và có phương pháp tối ưu trong việc giải quyết vấn đề của thực tiễn Lực lượng này có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có khả năng nhận thức, tiếp thu nhanh kiến thức mới; biết vận dụng sáng tạo tri thức, kỹ năng được đào tạo và những thành tựu khoa học - công nghệ vào lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao Mặt khác, đây còn là lực lượng lao động có tác phong nghề nghiệp, tính kỷ luật cao, có tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, có ý chí tự lập, tự cường và có phẩm chất đạo đức tốt
Tóm lại, Nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng công nhân kỹ
thuật lành nghề, đội ngũ trí thức, các nhà khoa học kỹ thuật với trình độ chuyên môn cao và những nông dân giỏi có khả năng ứng dụng những thành tựu của khoa học - kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào sản xuất để đem lại hiệu
Trang 20quả kinh tế cao Nhìn chung, họ là những người vừa có trình độ học vấn, vừa
có trình độ tay nghề, đặc biệt, lao động có chất lượng và hiệu quả và biết sáng tạo trong lao động sản xuất
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật có khẳng định phát triển là phạm trù dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn V.I lênin cho rằng: để có tri thức đúng về sự vật, bản thân sự vật phải được xem xét trong những quan hệ nó và trong sự phát triển của nó Trên ý nghĩa
đó nguồn nhân lực chất lượng cao cần được xem xét trong sự vận động theo khuynh hướng đi lên Tức thuật ngữ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được xem xét với sự hoàn thiện, nâng cao chất lượng
Ở Việt Nam hiện nay, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn
đề quan trọng, vừa mang tính cơ bản, vừa có tính cấp bách Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được hiểu là những hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực xã hội với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân sao cho phù hợp với yêu cầu của xã hội
Đề cập đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải nói đến
những nội dung quan trọng đó là phát triển số lượng, phát triển về chất lượng cũng như việc nâng cao hiệu quả trong hoạt động thực tiễn của nguồn nhân lực
Phát triển về số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao là sự gia tăng về
số lượng và thay đổi cơ cấu của đội ngũ nhân lực theo hướng phù hợp với môi trường và điều kiện hoạt động mới Sự thay đổi này diễn ra theo cơ cấu phân
bố nhân lực, cơ cấu độ tuổi, và cơ cấu về nam nữ
Phát triển về chất lượng của nguồn nhân lực chất lượng cao là sự nâng cao về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe của các
Trang 21thành viên trong tổ chức, trong xã hội Chỉ số phát triển con người được xem thang đo sự phát triển nguồn nhân lực giữa các quốc gia trên thế giới
Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao còn được xem xét qua việc người lao động sử dụng tri thức vào trong quá trình lao động để đạt hiệu quả cao nhất
Để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới thì cần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, và khi phát triển nguồn nhân lực này cần chú
ý đến những điều kiện như về chủ thể nguồn nhân lực, các yếu tố bên ngoài chủ thể đang tác động đến chủ thể nguồn nhân lực đó như công tác tổ chức, đào tạo, yếu tố văn hóa - xã hội và cùng với các chính sách của nhà nước Về chủ thể nguồn nhân lực đó là trình độ kiến thức, năng lực, kỹ năng, sự sáng tạo của chủ thể nguồn nhân lực Chủ thể nguồn nhân lực có động lực, có hứng thú với việc nâng cao trình độ, kỹ năng của mình chắc chắn sẽ ảnh hưởng tốt tới việc học tập và rèn luyện các kỹ năng cũng như nâng cao trình
độ chuyên môn Khả năng phát triển của người lao động được thể hiện thông qua việc người đó có thể được tiếp tục phát triển các kỹ năng, năng lực cũng như có thể mở rộng tầm kiến thức về công việc của tổ chức hay không Về những yếu tố bên ngoài chủ thể nguồn nhân như: công tác đào tạo, về tổ chức
và về văn hóa- xã hội
Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực chính là việc thực hiện các chức năng và công cụ quản lý nhằm có được một đội ngũ nhân lực phù hợp về mặt
số lượng và có chất lượng cao, và thông qua hoạt động của nguồn nhân lực đó
để không ngừng nâng cao hiệu quả và sự phát triển bền vững của xã hội Về nội dung phát triển nguồn nhân lực bao gồm các chức năng công việc của quản lý nguồn nhân lực với mục đích phát triển nhân lực, đó là thu hút và tuyển dụng nhân sự; bổ nhiệm và sử dụng nhân sự; khích lệ, duy trì nhân sự; đào tạo và phát triển nhân sự
Trang 221.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời tới nay, luôn chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nhất là trong sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đảng ta xác định rất rõ rằng: con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Bởi vì, mục tiêu của
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước suy cho cùng là phải hướng tới phục vụ con người, vì con người và giải phóng con người
Chính vì lẽ đó, trước khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua tại Đại hội lần thứ VII (tháng 6-1991) Đảng ta khẳng định: “Phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” [33, tr.98]
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, vấn đề phát triển nguồn nhân lực càng được Đảng ta chú trọng, coi đây là động lực chính tạo nên lực lượng sản xuất - nhân tố quyết định tốc độ và sự phát triển bền vững của phương thức sản xuất mới ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế Vì thế, muốn phát triển đất nước bền vững không thể không chăm lo phát triển con người Đảng ta xác định: “con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển” Nguồn lực cơ bản, to lớn, quyết định này phải có hàm lượng trí tuệ, phẩm chất ngày một cao mới có thể đáp ứng được sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa Đại hội VIII nêu rõ: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa” [34, tr.102]
Trang 23Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, thực hiện chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Trung ương Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết về các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 khẳng định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [34, tr.203] Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục là xây dựng những thế hệ con người thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Nghị quyết xác định: phát triển nguồn nhân lực phải là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội được thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong
đó giáo dục và đào tạo là then chốt, là quốc sách hàng đầu; phát triển giáo dục, đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh Chú trọng phát triển nguồn lực con người một cách toàn diện về cả trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, thái độ…Những quan điểm, chủ trương của Đảng đã được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án nhằm thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng nêu rõ: “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa”, đồng thời khẳng định phương hướng: “Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; triển khai thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở; ứng dụng nhanh các công nghệ tiên tiến, hiện đại; từng bước phát triển kinh tế tri thức” [36, tr.96]
Đại hội X thể hiện rõ quyết tâm phấn đấu để giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu; tập trung đổi mới
Trang 24toàn diện giáo dục và đào tạo, chấn hưng giáo dục để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao… với các giải pháp cụ thể: quản lý quá trình phát triển dân số và nguồn nhân lực trong mối quan hệ với phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới phương thức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực gắn với tạo việc làm, tạo việc làm tại chỗ thông qua phát triển sản xuất, tập trung vào các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, xuất khẩu
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011) của Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” Đại hội xác định:
“gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” Để thực hiện chiến lược này, Đảng ta đưa ra nhiều giải pháp: “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam; đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”; “xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam” [38, tr.201]
Đảng ta nêu rõ 4 định hướng chiến lược về phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập: gắn phát triển nguồn nhân lực với việc đẩy nhanh tốc
độ phát triển kinh tế - xã hội; gắn việc phát triển nguồn nhân lực với quá trình dân chủ hóa, nhân văn hóa đời sống xã hội, khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại; nâng cao chất lượng sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ; có chiến lược phát triển con người trên cơ sở một hệ thống chính sách đồng bộ hướng tới con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Giải quyết tốt các vấn đề này sẽ tạo được yếu tố nội sinh của nguồn nhân lực, cơ sở bền vững cho phát triển và hội nhập Trong đó, một trong vấn đề then chốt được Đảng nêu ra là: “Đổi mới chính sách đào tạo,
sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài, kể cả người Việt
Trang 25Nam ở nước ngoài” [36, tr.98] Nghị quyết khẳng định: Việt Nam chỉ có thể
đi tắt đón đầu sự phát triển trên thế giới trong thời kỳ hội nhập bằng cách đầu
tư vào yếu tố con người
Đại hội XI (2011) kế thừa và phát triển quan điểm phát triển nguồn nhân lực từ các đại hội trước, đã nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [38, tr.122] Để đạt được mục tiêu đó Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó
“Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” được khẳng định là khâu đột phá thứ hai” [38, tr.141] Đây được xem là khâu đột phá đúng và trúng với hoàn cảnh nguồn nhân lực nước ta hiện nay khi hội nhập quốc tế, cạnh tranh quyết liệt và đòi hỏi của thời đại khoa học, công nghệ
Vì thế, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời cũng xác định rõ phải “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [38, tr.89] Đây chính là nội dung quan trọng thể hiện tính thực tế của chiến lược phát triển nhanh và bền vững của nước ta trong điều kiện hiện nay Để thực hiện chiến lược này, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng nêu rõ những giải pháp trực tiếp cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đó là: “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam”; “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý là khâu then chốt”; “Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam” [38, tr.92]
Thông qua các Đại hội, Đảng ta đã đưa định hướng chiến lược về phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Trước hết, gắn phát triển nguồn nhân lực với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội Chúng ta nhận thức rõ rằng, để có được những con
Trang 26người phát triển toàn diện, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội để ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động phải được coi là nhiệm vụ cấp bách và mang tính quyết định Vì thế, để có nguồn nhân lực có chất lượng Đảng và Nhà nước ta
đã và đang quan tâm đồng bộ tới những vấn đề sau:
- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với công bằng xã hội Tình trạng phân hóa giàu nghèo nhanh chóng cùng với việc phát triển kinh tế thị trường những năm đổi mới đã tạo ra những hệ lụy về mặt xã hội sâu sắc Giải quyết tình trạng này phải giữ vững nguyên tắc vừa bảo đảm kích thích sản xuất phát triển vừa có chính sách xã hội để tạo nên sự công bằng trong xã hội ở thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế thị trường với đặc trưng là cạnh tranh sẽ tạo được động lực to lớn thúc đẩy sự vươn lên của nguồn nhân lực Không vươn lên sẽ không có khả năng cạnh tranh, sẽ bị chính đòi hỏi của nền kinh tế đào thải Định hướng xã hội chủ nghĩa là thể hiện tính nhân văn đối với nguồn nhân lực Đây là quá trình đào tạo nên những con người Việt Nam mới thời kỳ hội nhập
để phát triển
- Phải giữ vững tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế trong hội nhập quốc
tế Điều này giúp người lao động nước ta một mặt phát huy được tính tự tôn dân tộc, quyết tâm phấn đấu cho nền kinh tế nước nhà phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu, mặt khác cũng tạo cơ hội để người lao động Việt Nam có thể tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới, bồi bổ nguồn nhân lực trong nước, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước
- Tạo thêm việc làm là trực tiếp phát triển nguồn nhân lực Vấn đề hết sức áp lực này phải được giải quyết theo phương hướng quan trọng nhất là Nhà nước cùng toàn dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các
Trang 27chương trình kinh tế - xã hội Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi người dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động…
Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn
- Tăng cường công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể chất cho người lao động và mọi người dân, đẩy mạnh kế hoạch dân số - kế hoạch hóa gia đình là bảo đảm thể chất và tính ổn định của nguồn nhân lực Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộng đồng và mỗi người dân, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các
tổ chức xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt, đồng thời đã có chương trình về kế hoạch hóa gia đình, ổn định tỷ lệ tăng dân số
- Ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn xã hội vừa trực tiếp bảo đảm thể chất cho nguồn nhân lực, vừa hướng tới mục tiêu phát triển con người Việt Nam
Bên cạnh đó, gắn việc phát triển nguồn nhân lực với quá trình dân chủ hóa, nhân văn hóa đời sống xã hội, khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại Đó là quan điểm tạo môi trường lành mạnh cho các giá trị sống của nguồn nhân lực phát triển Để có được môi trường đó, trước hết phải coi trọng giáo dục đạo lý làm người, ý thức, trách nhiệm công dân, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đạo đức, lối sống văn hóa, lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền
đồ của đất nước
Nâng cao chất lượng sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ Đảng ta đã chỉ rõ: “Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài, kể cả người Việt nam ở nước ngoài” [36, tr.89] Giải quyết tốt vấn đề này là tạo được yếu tố nội sinh của nguồn nhân lực, cơ sở bền vững cho phát triển và hội nhập
Để có nguồn nhân lực tốt trước hết phải có chiến lược phát triển con người trên cơ sở một hệ thống chính sách đồng bộ hướng tới con người vừa là
Trang 28mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Sự nghiệp đổi mới càng đi vào chiều sâu, thành tựu thu được ngày càng to lớn và được khẳng định Quan điểm về xây dựng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao được Đảng, Nhà nước thể hiện sâu sắc với quyết tâm chính trị cao và sự đồng thuận rộng lớn của toàn xã hội Đó là những định hướng để nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước nói chung và của thành phố Cần Thơ nói riêng phát triển nhanh, lành mạnh, đúng hướng
Để thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, với tinh thần “Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, những năm qua, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ đã cụ thể hóa những quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bằng các cơ chế, chính sách, đúng đắn và phù hợp với thực tiễn của địa phương Những văn bản thể hiện quan điểm của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có thể dẫn ra:
- Quyết định số 44/2010/QĐ-UBND Ban hành Quy định thực hiện Chính sách thu hút, hỗ trợ, khuyến khích nguồn nhân lực của thành phố Cần Thơ, Cần Thơ;
- Quyết định số 16/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của thành phố Cần Thơ, Cần Thơ
- Quyết định số 50/2007/QĐ-UBND ngày 28-12-2007 quy định thực hiện chính sách khuyến khích, hỗ trợ nguồn nhân lực thành phố Cần Thơ (giai đoạn 2007-2011), Cần Thơ
Tóm lại, những chủ trương chính sách của Trung Ương và của Thành
ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ đều tập trung nhằm phát triển nguồn nhân lực dân tộc Khmer, chất lượng cao nhờ đó nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng
Trang 29Những quan điểm trên thực hiện được khâu đột phá chiến lược là tập trung nâng cao sức mạnh nội sinh - nguồn nhân lực, để tồn tại và phát triển trong một thế giới năng động, thế giới của khoa học và công nghệ Phấn đấu những năm tiếp theo nguồn nhân lực này có thể phát triển và đáp ứng được xu thế phát triển và hội nhập quốc tế Những quan điểm trên đã và đang được các cấp chính quyền, các Sở, Ban ngành Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ tiếp tục triển khai có hiệu quả tốt
1.2 Tính tất yếu của việc phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao
ở Thành phố Cần Thơ hiện nay
1.2.1 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để hội nhập quốc tế
Nhận thức sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của con người và nhân tố con người trong sự nghiệp phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước xác định một trong những tiền đề, điều kiện quan trọng đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế thành công ở nước ta hiện nay, đó chính là yếu tố con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò quyết định, với tư cách là chủ thể của quá trình khai thác và sử dụng các nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác Chính con người, với sức mạnh và trí tuệ của mình là nhân tố quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng và phát triển các nguồn lực khác
Mặt khác, với tư cách là một khách thể, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành đối tượng của quá trình khai thác, sử dụng Nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác giàu có và phong phú đến mấy thì cũng sẽ bị cạn kiệt trước sự khai thác của con người và chỉ có nguồn lực con người mới là nguồn tài nguyên vô tận và khai thác không bao giờ hết Tuy nhiên, nguồn lực con người chỉ là vô tận khi vừa khai thác vừa biết tái tạo và phát triển nó
Trang 30Sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng thị trường ra thế giới đòi hỏi phải có sức cạnh tranh về số lượng, chất lượng và giá
cả hàng hóa mà tất cả những điều này lại phụ thuộc vào hai yếu tố: Trình độ công nghệ sản xuất và trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực Hơn nữa, để quá trình đổi mới diễn ra nhanh chóng, tiếp cận nền kinh tế tri thức trong điều kiện trình độ kinh tế - xã hội còn thấp thì đòi hỏi nước ta phải có nguồn nhân lực chất lượng cao để có thể đi tắt, đón đầu, kết hợp tuần tự và nhảy vọt
Từ những quan điểm nêu trên cho thấy việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta là rất quan trọng, không có nguồn nhân lực chất lượng cao về trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật, năng lực tổ chức quản lý, tâm huyết với công việc, thể lực tốt, ý thức tự lực, tự cường, phẩm chất đạo đức tốt thì không thể có sự tìm tòi, sáng tạo đưa đất nước ta vượt qua những khó khăn, phát triển đi lên Chỉ có nguồn nhân lực chất lượng cao mới có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ mới, sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất khác trong sản xuất xã hội, trở thành lực lượng xung kích, đi đầu trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế Chính vì vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao là tiền đề, điều kiện quyết định sự thành công sự nghiệp đổi mới cũng như hội nhập quốc tế
1.2.2 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực phát triển kinh tế - xã hội
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, con người là chủ thể của lịch sử, quyết định mọi thành bại của chính mình Đối với nước ta hiện nay, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là xu thế tất yếu để
đi đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Con người chính là yếu tố quyết định của sự nghiệp đổi mới đất nước
Mặc dù vấn đề con người đã được chú ý ít nhiều trong lịch sử, nhưng chỉ đến chủ nghĩa xã hội mới thực sự được quan tâm đầy đủ và tạo điều kiện
Trang 31để con người phát triển toàn diện Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhấn mạnh: Xã hội chủ nghĩa
xã hội mà chúng ta xây dựng là một xã hội “con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân” [13, tr.111] Con người được Đảng ta xác định là trung tâm của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục tiêu của xã hội chủ nghĩa xã hội nói chung và sự nghiệp đổi mới nói riêng Xét đến cùng, mọi sự phát triển của đất nước đều hướng đến con người, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho con người Nguồn nhân lực chất lượng cao vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng hưởng thụ những thành quả do mình sáng tạo ra
Không chỉ đóng vai trò chủ thể, mục tiêu của sự nghiệp đổi mới đất nước, mà con người, nguồn nhân lực chất lượng cao còn là động lực phát triển của sự nghiệp đó Bởi vì nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng lao động
có chất lượng cao, làm chủ các dây chuyền sản xuất, các công nghệ hiện đại
và tạo sản phẩm, năng suất lao động cao Đây là nguồn lực có khả năng soạn thảo chiến lược, các chính sách đổi mới, sáng tạo ra những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại và ứng dụng chúng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sản xuất vật chất, quản lý kinh tế - xã hội; đưa ra các giải pháp để điều chỉnh và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình đổi mới; dự báo khả năng phát triển, những nguy cơ tụt hậu có thể xảy ra và thực hiện vai trò đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khác
Điều kiện quan trọng để sự nghiệp đổi mới đất nước thành công là sự
nỗ lực và sáng tạo rất cao, biết tiếp cận và vận dụng những thành tựu mới về khoa học - công nghệ của nhân loại, sử dụng và phát huy đến mức tối đa lợi thế vốn có của nguồn lực con người Việt Nam, biến con người, nguồn nhân lực chất lượng cao thành động lực thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đất nước Chỉ
Trang 32có nguồn nhân lực chất lượng cao - những con người có năng lực phát triển toàn diện, nắm bắt nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, đáp ứng được nhu cầu khai thác và sử dụng các nguồn lực tự nhiên cho sự phát triển xã hội, lúc đó mới có thể đưa sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đến thắng lợi Sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời đại văn minh, trí tuệ, thời đại cách mạng khoa học - công nghệ không thể thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, thiếu đội ngũ cán bộ khoa học giỏi Quan điểm trên được thể hiện trong văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII:
“Con người phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” [33, tr.5]
Như vậy, sự nghiệp đổi mới nước ta là một quá trình với nhiều khó khăn và sự nghiệp sẽ không thể thành công được nếu không có những bước đi, không có những giải pháp phù hợp với đặc thù của đất nước và bối cảnh của quốc tế cho dù đất nước có đủ các nguồn lực để phát triển Yếu tố quyết định
sự thành công của sự nghiệp đổi mới chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, chứ không phải là nguồn của cải vật chất Do vậy, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Thành phố Cần Thơ hiện nay
- Điều kiện tự nhiên ở thành phố Cần Thơ
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng trung - hạ lưu và vị trí trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, phía Bắc giáp tỉnh An Giang; Phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long; Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang; Phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang, là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương, có diện tích tự nhiên 1.401,16, km2, chiếm 3,49% diện tích toàn vùng
Trang 33Dân số tính đến năm 2015, dân số toàn Thành phố Cần Thơ đạt gần 1.400.300 người, mật độ dân số đạt 995 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 791.800 người, dân số sống tại nông thôn đạt 408.500 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8,2 ‰, là thành phố đông dân thứ 4 tại Việt Nam và là thành phố lớn nhất của vùng hạ lưu sông Mê Kông
Ngày 26/11/2003, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11
về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh; trong đó có chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và tỉnh Hậu Giang Hiện nay thành phố Cần Thơ gồm 8 đơn vị hành chính là 4 quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn và 4 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt, có 67 đơn vị hành chính gồm: 30 phường, 33 xã và 4 thị trấn
Cần Thơ có vẻ đẹp của làng quê sông nước, dân cư tập trung đông đúc, làng xóm trù phú núp dưới bóng dừa Cần Thơ nổi tiếng với bến Ninh Kiều, vườn cò Bằng Lăng, chợ nổi Cái Răng, làng cổ miệt vườn…là những nét văn hóa đặc trưng của vùng miền Tây sông nước thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước chọn Cần Thơ là điểm đến và tham quan du lịch
Sau nhiều năm phát triển, thành phố đang là trung tâm quan trọng nhất của vùng đồng bằng sông Cửu Long về kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật Hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, nó giúp cho Cần Thơ mở rộng giao lưu ở đây giao lưu học hỏi, kích thích sáng tạo và sự phát triển toàn diện của con người, hợp tác phát triển kinh tế với các tỉnh, khu vực và vùng kinh tế trong cả nước cũng như với nước ngoài Với những thành tựu đó, Cần Thơ đã thu hút được nguồn lao động ở nhiều nơi tập trung về góp phần tăng cường thêm nguồn lực lao động cho thành phố, đặc biệt là nguồn lao động chất lượng cao Điều kiện tự nhiên - kinh tế đó đã tạo ra sự hấp dẫn đối với người lao động từ các nơi khác đến Cần Thơ là cơ sở, điều kiện để phát triển nguồn
Trang 34nhân lực chất lượng cao của thành phố nhờ sự giao lưu, hợp tác kinh tế, học tập, chuyển giao khoa học công nghệ với các nước trong khu vực và thế giới
- Điều kiện kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ
Về kinh tế: Cần Thơ là trung tâm kinh tế, văn hóa, đầu mối quan trọng
về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của các nước Ngày 1/1/2004 thành phố Cần Thơ trở thành thành phố trực thuộc Trung ương nhưng đến ngày 24/6/2009 thành phố Cần Thơ mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quyết định số 889/QĐ-TTg công nhận là đô thị loại I
Kinh tế thành phố đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, tăng trưởng kinh tế (GDP- giá so sánh 2010) bình quân giai đoạn 2010 - 2015 đạt 12,9% Đến năm 2015, tổng sản phẩm trên địa bàn đạt 77.925 tỷ đồng, tăng 1,8 lần so với năm 2010, hàng năm đóng góp cho vùng khoảng 12 - 12,5%; tổng sản phẩm bình quân đầu người (theo giá hiện hành) ướt đạt 78,46% triệu đồng, tương đương 3.626 USD, tăng 2,15 lần so với năm 2010 Cơ cấu các ngành, lĩnh vực kinh tế tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch
vụ và giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp, thủy sản Đến năm 2015, tỷ trọng khu vực I 6,75%, khu vực II chiếm 35,45%, tỷ trọng khu vực III chiếm 57,8% trong cơ cấu GDP
Trong lĩnh vực nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, chất lượng cao; cơ bản hoàn thành cơ giới hóa các khâu trong sản xuất; tiến hành quy hoạch các khu nông nghiệp công nghệ cao, triển khai xây dựng Trung tâm giống thủy sản cấp I Tích cực triển khai nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học kỹ thuật trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản; hình thành và phát huy mô hình cánh đồng lớn khá hiệu quả; đồng thời, triển khai thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị
Trang 35gia tăng và phát triển bền vững”… góp phần tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao thu nhập cho nông dân; giá trị sản xuất toàn ngành ướt đạt 12.267 tỷ đồng (giá so sánh 2010), bình quân giai đoạn 2011 - 2015 tăng 3,7%/năm, giá trị sản xuất bình quân trên một diện tích đất nông nghiệp đạt 109,4 triệu đồng/ha vào năm 2015
Trong lĩnh vực công nghiệp
Sản xuất công nghiệp, tập trung vào sản phẩm có giá trị gia tăng, từng bước đáp ứng yêu cầu thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Châu Âu Triển khai chương trình “Đổi mới công nghệ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố giai đoạn 2013
- 2017” tạo sự chuyển biến về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tăng hàm lượng khoa học và công nghệ trong các sản phẩm chủ lực của thành phố Một số doanh nghiệp tạo lập được thương hiệu và có vị trí trên thị trường quốc tế Đến năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) ướt đạt 103.324 tỷ đồng, tăng 1,6 lần so với năm 2010 và tăng bình quân 10,1 %/năm
Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ
Lĩnh vực thương mại phát triển nhanh, đa dạng với nhiều loại hình và
có tính chất chi phối, tác động các lĩnh vực khác phát triển; kết cấu hạ tầng thương mại không ngừng được cải thiện, tăng thêm năng lực bán buôn, bán lẻ hàng hóa trên địa bàn Đến nay, trên địa bàn thành phố có 107 chợ truyền thống, 12 siêu thị và trung tâm thương mại đang hoạt động, góp phần làm phong phú, đa dạng thị trường hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 320.916 tỷ đồng, vượt 10,1% kế hoạch, gấp 2,3 lần so với giai đoạn 2006 - 2010, tăng bình quân 20%/năm
Xuất khẩu hàng hóa tuy có khó khăn, do suy giảm kinh tế thế giới chậm phục hồi, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu, nhưng với sự cố gắng chỉ đạo tháo gỡ khó khăn của thành phố, kết quả tổng kim ngạch xuất khẩu
Trang 36hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ ướt đạt trên 7 tỷ USD, tăng bình quân 3,9%/năm, cơ bản đạt yêu cầu nghị quyết đề ra
Dịch vụ phát triển năng động, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng theo hướng đa dạng hóa loại hình, hướng tới những ngành dịch vụ có giá trị lớn Dịch vụ vận tải phát triển cả đường bộ, đường thủy và hàng không, vận chuyển hàng hóa tăng bình quân 3,34%/năm, vận chuyển hành khách tăng bình quân 4,15%/năm, đứng đầu trong vùng và đứng thứ 3 trên cả nước Các dịch vụ tài chính - ngân hàng phát triển mạnh, trên địa bàn thành phố hiện có
51 tổ chức tín dụng, với 232 điểm giao dịch, vốn huy động đạt 45.300 tỷ đồng (tăng hơn 02 lần so với năm 2010), đáp ứng 83,3% tổng dư nợ cho vay Dịch
vụ thông tin và truyền thông phát triển rộng khắp, với 54 cơ quan báo, đài Trung ương có Văn phòng đại diện, kịp thời thông tin, tuyên truyền nhiệm vụ chính trị của đất nước, khu vực và thành phố
Chú trọng quảng bá, xúc tiến du lịch; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất,
kỹ thuật dịch vụ ngày càng tăng, chất lượng các sản phẩm dịch vụ du lịch đặc thù của địa phương được nâng lên Hoạt động du lịch gắn với các sự kiện, lễ hội văn hóa - thể thao cấp vùng, quốc gia và quốc tế được tổ chức ngày càng chuyên nghiệp, quy mô hơn, tạo ấn tượng tốt đẹp với du khách, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của thành phố Trong 5 năm, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố đón 6,65 triệu lượt khách lưu trú và lữ hành, tăng bình quân 12%/năm; doanh thu toàn ngành du lịch đạt trên 5.000 tỷ đồng, tăng từ 12 - 20%/năm
Việc huy động các nguồn lực đầu tư phát triển đạt kết quả khá tốt; tổng vốn đầu tư trong 5 năm trên 200.000 tỷ đồng, tăng 2,3 lần so với giai đoạn
2006 - 2010 Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt được 58.256 tỷ đồng, vượt 23,9% chỉ tiêu nghị quyết, tăng bình quân 4,7%/năm; tỷ lệ huy động ngân sách/ GDP đạt 9,8% (chỉ tiêu là 10 - 11%); tổng chi ngân sách nhà
Trang 37nước ướt đạt 43.780 tỷ đồng, vượt 20,3% chỉ tiêu, tăng bình quân 6,9%/năm, đạt mục tiêu nghị quyết đề ra
Cơ sở hạ tầng nông thôn ngày càng phát triển, công tác thủy lợi kết hợp phát triển hệ thống giao thông nông thôn, xây dựng trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, cụm dân cư vùng lũ, phát triển mạng lưới điện, cung cấp nước sạch sinh hoạt… được quan tâm đầu tư, gắn với những chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư Đến năm 2015, công nhận 12 xã đạt tiêu chí nông thôn mới, chiếm 33,3% tổng số xã, vượt 20% kế hoạch; tổng vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới gần 3.700 tỷ đồng
Quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng được mở rộng, thành phố có quan
hệ xuất khẩu với gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, tập trung các nước khu vực Châu Á (chiếm 50,6%), Châu Mỹ (19,2%), Châu Âu (chiếm 13%) Đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 2011 - 2015 thu hút 38 dự án, với tổng vốn đăng kí 391 triệu USD, vốn thực hiện chiếm 43,5% tổng vốn đăng kí Việc huy động nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đầu tư hạ tầng giao thông, đô thị, hỗ trợ giảm nghèo, phát triển các lĩnh vực xã hội được tăng cường, góp phần nâng cao đời sống người dân, cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị, nông thôn Trong 5 năm, giải ngân các dự án ODA trên 217 triệu USD, tiếp nhận từ nguồn vốn viện trợ phi chính phủ (NGO) gần 7 triệu USD
Phối hợp với các cán bộ, ngành, địa phương trong vùng tổ chức nhiều hội nghị xúc tiến đầu tư vùng kinh tế trọng điểm, thông qua Diễn đàn hợp tác kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long và nhiều kênh khác Riêng thành phố
tổ chức hơn 15 cuộc hội thảo về đầu tư thương mại và du lịch, quảng bá du lịch thành phố và đồng bằng sông Cửu Long; hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước và trong vùng, qua đó thúc đẩy sự phát triển của toàn vùng
Về xã hội:
Lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế có nhiều tiến bộ; văn hóa - xã hội chuyển biến tốt, chính sách an sinh xã hội được đảm
Trang 38bảo, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng nâng lên, rút ngắn dần khoảng cách giữa nội thành và ngoại thành
Cơ sở vật chất trường học tiếp tục được đầu tư, phát triển theo hướng kiên cố hóa và chuẩn hóa, xây dựng mới 140 trường đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường đạt chuẩn lên 192 trường, đạt 43% tổng số trường Huy động học sinh đến lớp đúng độ tuổi ở các cấp học đạt mục tiêu nghị quyết đề ra, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em
05 tuổi Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được đào tạo đạt chuẩn, chất lượng dạy và học được nâng lên Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề trên địa bàn tiếp tục phát triển, nâng cấp,
mở rộng, đáp ứng nhu cầu đào tạo cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long
Hoạt động khoa học công nghệ có nhiều tiến bộ, đưa vào hoạt động Dự
án Trung tâm Kỹ thuật và ứng dụng công nghệ vùng, Trung tâm Thông tin tư liệu và Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ Cần Thơ, tiềm lực khoa học và công nghệ được nâng lên, từng bước phát huy vai trò là trung tâm của vùng về khoa học và công nghệ Triển khai 91 đề tài, dự án cấp thành phố thuộc các lĩnh vực: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo máy nông nghiệp, năng lượng, y tế, môi trường…bước đầu đem lại hiệu quả Dịch vụ khoa học công nghệ, nhất là dịch vụ kiểm nghiệm, kiểm định đã phát huy tác dụng trong công tác quản lý nhà nước và hỗ trợ cho các tỉnh trong vùng Hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được quan tâm, số văn bằng bảo hộ của các doanh nghiệp tại thành phố chiếm khoảng 25% tổng
số văn bằng bảo hộ cả vùng đồng bằng sông Cửu Long
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn được chú trọng Đầu
tư mở rộng, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở; xây dựng một số cơ sở y tế điều trị chuyên sâu, kỹ thuật cao và đầu tư nâng cấp trang thiết bị y tế hiện đại, từng bước giảm tải về giường bệnh, nâng cao chất lượng khám, điều trị bệnh cho nhân dân Đến nay, số giường bệnh trên vạn dân đạt 32,21 giường (tăng
05 so với năm 2010); số bác sĩ trên vạn dân đạt 11,33 bác sĩ (tăng 2,46 bác sĩ
Trang 39so với năm 2010), hàng năm có khoảng 30% bệnh nhân ngoài thành phố đến khám và chữa bệnh Thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch chủ động, kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm, không phát sinh ổ dịch lớn trên địa bàn
Quan tâm chăm lo các đối tượng chính sách và đảm bảo an sinh xã hội Vận động các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước xây mới, sửa chữa trên 2000 căn nhà tình nghĩa cho người có công với nước; xây dựng 8000 căn nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo và thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội, góp phần hạ tỷ lệ hộ nghèo của thành phố còn 1,84% vào năm 2015 Giải quyết việc làm và đào tạo nghề được thực hiện tốt, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, đạt chỉ tiêu nghị quyết đề ra
Trong quá trình đổi mớ đất nước, chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xác lập nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã mở ra khả năng khai thác và sử dụng một cách rộng hơn nguồn nhân lực của thành phố Cần Thơ Kinh tế thành phố tiếp tục phát triển trong điều kiện khó khăn chung của cả nước Sản xuất công nghiệp được duy trì sự tăng trưởng; thương mại - dịch vụ đạt mức tăng trưởng khá; chỉ số giá cả luôn thấp hơn bình quân của cả nước; sản xuất nông nghiệp từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả
Với những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội đã tạo nên những nét đặc thù của Cần Thơ và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đào tạo nguồn nhân lực Lợi thế của thành phố không chỉ ở các lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản mà còn
ở vị trí địa lý cho phép phát triển các lĩnh vực: hạ tầng đô thị; hạ tầng giao thông; nông nghiệp công nghệ cao; công nghiệp chế biến nông - thủy - hải sản; du lịch, hạ tầng phục vụ du lịch và các ngành công nghiệp phụ trợ Từ đó, nguồn nhân lực có điều kiện thuận lợi để phát triển cả về trí lực, thể lực, đời sống văn hóa tinh thần Vì vậy, Cần Thơ cần sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực để phát huy những lợi thế và nhanh chóng hội nhập với sự phát triển của khu vực và thế giới
Trang 40Kết luận chương 1
Khi ta nói tới nguồn lực con người là ta nói tới con người với tư cách là chủ thể hoạt động tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa học - công nghệ, nguồn lực con người là quyết định nhất, quan trọng nhất, bởi lẽ những nguồn lực khác có thể khai thác có hiệu quả khi mà nguồn lực con người được phát huy Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại nguồn lực con người ngày đa dạng và phong phú Xã hội muốn phát triển nhanh và bền vững phải quan tâm đào tạo nguồn lực con người và có chất lượng ngày càng cao Muốn thực hiện được điều đó, cần có sự quan tâm ngay trong quá trình đào tạo, trong quá trình sử dụng và phân công lao động xã hội
Ngày nay, những quan niệm về vai trò, vị trí của nguồn lực sự cho sư phát triển Nếu như trước đây, người ta nhìn nhận vai trò của nguồn lực con người chỉ đơn thuần là phương tiện, là nguồn lực cho phát triển giống như mọi nguồn lực khác Ngày nay, sự nhận thức như trên hoàn toàn khác, “con người” - nguồn nhân lực không chỉ là hoạt động chủ yếu mà quan trọng hơn
là nguồn nhân lực chất lượng cao còn là sự đánh giá sự thành công ở lĩnh vực
mà chúng ta sử dụng nguồn nhân lực đó Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt
là đội ngũ chuyên gia, cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của thời kỳ hội nhập đang trở thành đòi hỏi bức thiết của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Việt Nam có lợi thế về dân số đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng lao động khá dồi dào Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011-2020