Tiêu biểu: Luận văn thạc sĩ Luật học “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động – TB&XH - Thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thị Hồng Điệp năm 2009; Luận văn thạc sĩ Luật học “Thanh t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Giảng viên hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Nguyễn Hoàng Anh
Hà Nội, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Thị Hiền
Trang 44
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA 7
TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG 7
1.1 Thanh tra và pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động 7
1.1.1 Thanh tra 7
1.1.2 Thanh tra trong lĩnh vực lao động (Thanh tra Lao động – TB&XH)18 1.1.3 Pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động 25
1.2 Thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động 29
1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động29 1.2.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động 30 1.2.3 Hình thức, nội dung của thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động 34
Kết luận chương 1 45
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG (QUA THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH) 46
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, quốc phòng an ninh tỉnh Quảng Ninh ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động 46
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 46
Trang 55
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng 48
2.2 Thực trạng tình hình thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 49
2.2.1 Thực trạng chủ thể thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động 49 2.2.2 Đối tượng thanh tra việc thực hiện PLLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 55 2.2.3 Các hoạt động thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động tại Quảng Ninh 56 2.2.4 Hình thức thanh tra 73 2.2.5 Nội dung thực hiện pháp luật thanh tra trong lĩnh vực lao động 74
2.3 Đánh giá chung việc thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động tại Quảng Ninh 83
2.3.1 Những ưu điểm và nguyên nhân 83 2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân: 84 2.3.3 Bài học kinh nghiệm từ thực tế thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 92
Kết luận chương 2 96 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG 97 3.1 Yêu cầu thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam hiện nay 97
3.1.1 Thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động đáp ứng yêu cầu cấp bách của phát triển kinh tế - quản lý xã hội ở Việt Nam hiện nay 97 3.1.2 Thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động xuất phát
từ yêu cầu tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế 98
Trang 66
3.1.3 Thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động xuất phát
từ yêu cầu khắc phục những bất cập về thanh tra trong lĩnh vực lao động98
3.2 Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh
vực lao động ở Việt Nam hiện nay 99
3.2.1 Các giải pháp hoàn thiện về nội dung và hình thức của pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động 99
3.2.2 Giải pháp tăng cường cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật thanh tra về lao động 100
3.2.3 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra 105
3.2.4 Các giải pháp khác 106
Kết luận Chương 3 108
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 7Lao động – TB&XH Lao động –Thương binh và Xã hội
Trang 81
Phần I
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng
và hiệu quả là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước Chính vì vậy, không một quốc gia nào trên thế giới từ bỏ quyền quản lý lao động của mình Thanh tra việc thực hiện pháp luật về lao động cũng làm một trong các hình thức quản lý lao động của nhà nước
Trong mối quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ, thế yếu thường thuộc về NLĐ Người sử dụng lao động vì lợi ích kinh tế, luôn có xu hướng
vi phạm PLLĐ, xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng của người lao động được pháp luật bảo vệ Một thực tế đáng lo ngại là tình hình vi phạm PLLĐ ngày càng phức tạp; TNLĐ, bệnh nghề nghiệp tiếp tục tăng, có xu hướng mở rộng đối tượng, thậm chí có nhiều vụ TNLĐ nghiêm trọng, làm chết nhiều người Vì vậy, thanh tra lao động phải đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng ý thức về công bằng và gắn kết xã hội, đảm bảo PLLĐ được thực thi nghiêm túc
Quảng Ninh là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, là tỉnh công nghiệp – dịch vụ, du lịch và có tỷ lệ lao động tăng hàng năm cao so với dân số (lực lượng lao động chiếm tới 54% dân số) Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, số lượng doanh nghiệp phát triển và tăng nhanh, nhất là những năm gần đây, mỗi năm có từ 350 đến 400 doanh nghiệp mới được thành lập, thu hút từ 1,7 vạn – 1,9 vạn lao động vào làm việc
Năm 2010 toàn tỉnh Quảng Ninh có 3.477 doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước chiếm 2,68%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 92
chiếm 2,47%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 94,85% Đến tháng 6 năm 2015, tổng số doanh nghiệp đăng ký trong tỉnh là 10.809 đơn vị, số doanh nghiệp đang hoạt động là 7.210 đơn vị; trong đó, doanh nghiệp nhà nước chiếm 1,01%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 0,96%, ngoài ra còn có hàng ngàn cơ sở, tổ chức ngoài công lập (tư nhân, hộ gia đình …) có thuê mướn, sử dụng lao động
Bên cạnh các doanh nghiệp đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của PLLĐ vẫn còn không ít doanh nghiệp chưa thực hiện đúng, thậm chí cố tình
vi phạm PLLĐ: không ký HĐLĐ, ký HĐLĐ không đúng loại; trả lương không đúng quy định; vi phạm các quy định về ATLĐ, VSLĐ…
Với đặc thù là tỉnh công nghiệp, nhiều doanh nghiệp khai thác khoáng sản nên tình hình TNLĐ có nhiều diễn biến phức tạp Năm 2012, Quảng Ninh
có 454 vụ tai nạn lao động với 515 người bị nạn; 33 vụ tai nạn lao động làm chết 39 người; 273 người bị thương nặng So với năm 2011, tuy có giảm 30
vụ tai nạn lao động nhưng lại tăng 11 vụ tai nạn chết người, tăng số người chết là 14 người Năm 2012, Quảng Ninh là tỉnh thứ hai trên toàn quốc (sau
TP Hồ Chí Ninh ) về số vụ tai nạn lao động làm chết người Năm 2013, Quảng Ninh xảy ra 528 vụ tai nạn lao động; trong đó có 32 vụ tai nạn lao động làm chết
36 người So với năm 2012, tổng số vụ tai nạn lao động tăng 74 vụ; tổng số nạn nhân tăng 22 người; số vụ tai nạn lao động chết người giảm 01 vụ; số người chết giảm 3 người; số người bị thương nặng tăng 25 người
Trong những năm vừa qua, Thanh tra ngành Lao động – TB&XH nói chung và Thanh tra Sở Lao động – TB&XH tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động Hằng năm, Thanh tra Sở đã tiến hành thanh tra thường xuyên, thanh tra đột xuất, đặc biệt quan tâm đến việc thanh tra các doanh nghiệp có nguy cơ mất ATLĐ như khai thác, chế biến, kinh doanh than, sản suất vật liệu xây dựng
Trang 103
Tuy nhiên, kết quả hoạt động thực tiễn cho thấy hoạt động thanh tra việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực lao động chưa phát huy hết hiệu lực và hiệu quả, mục đích đạt được còn hạn chế
Trước đòi hỏi ngày càng cao của nhu cầu quản lý nhà nước và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt trước đòi hỏi của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, trước yêu cầu nâng cao hiệu quả thanh tra lao động nói riêng và thanh tra nói chung; trong đó, hoàn thiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động là vấn đề đặt ra cấp thiết Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài:
“Thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động (qua thực tiễn tỉnh Quảng Ninh)” làm luận văn thạc sĩ luật học
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, công trình nghiên cứu, đề tài khoa học và bài viết liên quan đến thanh tra ngành Lao động –TB&XH Các luận văn, công trình nghiên cứu trên tập trung nghiên cứu vào các quy định của pháp luật về thanh tra lao động - TB&XH ; tổ chức bộ máy của ngành lao động – TB&XH ; các nội dung đã nghiên cứu mang tính vĩ mô, tổng thể, khái quát Tiêu biểu: Luận văn thạc sĩ Luật học “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động – TB&XH - Thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thị Hồng Điệp năm 2009; Luận văn thạc sĩ Luật học “Thanh tra lao động theo pháp luật Việt Nam” của Đỗ Thị Thu Hiền năm 2010; Luận án tiến sĩ Luật học “Quản lý Nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam” của Vũ Minh Tiến năm 2011.Có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành liên quan đến thực hiện thanh tra PLLĐ: bài viết “Vai trò của thanh tra lao động trong việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” của Tiến sĩ Bùi Sỹ Lợi đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội năm 2006 Ngoài ra còn có nhiều bài viết trên các báo, tạp chí và trang website của ngành Lao động – TB&XH cũng phản ánh về vấn đề này
Trang 114
Đó là những thành quả nghiên cứu lý luận chung đóng góp ở mức độ khác nhau vào QLNN về lao động nói chung và thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động nói riêng Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động tại Quảng Ninh – địa bàn nổi bật về công nghiệp, dịch vụ Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn về vấn đề này trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát là tổng hợp các quy định của pháp luật về thanh tra, thanh tra PLLĐ; phân tích, đánh giá được thực trạng việc thực hiện pháp luật
về thanh tra trong lĩnh vực lao động tại tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay; đề xuất một số giải pháp để thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động tốt hơn
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận việc thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động;
- Phân tích, đánh giá thực trạng; xác định ưu, nhược điểm và những vấn
đề đặt ra trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động – qua thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Ninh;
- Đưa ra những giải pháp để bảo đảm thực hiện và tiếp tục nâng cao chất lượng việc thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng
4 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu là hệ thống các văn bản luật về thanh tra, thanh tra PLLĐ của Việt Nam; thực trạng việc thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động của Thanh tra Sở Lao động – TB&XH tỉnh Quảng Ninh
Trang 125
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn về không gian được giới hạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, giới hạn thời gian là từ 2012 - 2014
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh tra Cùng với các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực lao động
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng một cách linh hoạt và hợp lý các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp khảo sát thực tế; Phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp; Phương pháp phân tích, đối chiếu; Phương pháp so sánh; Phương pháp tọa đàm trao đổi
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về công tác thanh tra trong lĩnh vực lao động đầy đủ, khoa học; tính phổ biến, đặc thù của pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động
Tiến hành nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động của Sở Lao động – TB&XH tỉnh Quảng Ninh Tập trung vào đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động; kết hợp rà soát và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động nhằm loại bỏ các văn bản hết hiệu lực, kiến nghị ban hành các văn bản điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động của tỉnh Quảng Ninh
Nghiên cứu, dự báo tình hình và đề xuất các giải pháp mới nhằm nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động của địa phương trong thời gian tới
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho tất cả các các bộ, công chức trong ngành lao động – thương binh và xã hội hoặc bất kỳ ai quan
Trang 136
tâm đến công tác thanh tra Tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo nghiên cứu về luật học, về thanh tra, về quản lý lao động – xã hội……
7 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động (qua thực tiễn tỉnh Quảng Ninh)
Chương 3: Một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động
Trang 14“thanh tra là kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” Với nghĩa này, thanh tra bao hàm kiểm tra nhằm “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định” Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”
Các cơ quan Thanh tra không phải chỉ mới được thành lập và hoạt động
từ khi có Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 mà khái niệm về thanh tra và tổ chức hoạt động thanh tra đã được hình thành trong lịch sử Đó là sự phản ánh về
mô hình tổ chức các cơ quan nhà nước, về sự kiểm soát đối với hoạt động của
bộ máy hành chính nhà nước:
Thời kỳ phong kiến, khái niệm thanh tra chưa được sử dụng, nhưng đã
có các chức quan làm công việc giống như thanh tra Ngày 23 tháng 11 năm
1945, ngay sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập, Hồ Chủ tịch
ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt Sắc lệnh nêu rõ:
Trang 158
“Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của UBND và các cơ quan của Chính phủ” Từ đây thuật ngữ “Thanh tra” xuất hiện, được chỉ một cơ quan cụ thể, quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ”[25]
Năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta được ban hành Trong
đó quy định quyền “kiểm soát” đối với Chính phủ được giao cho Ban Thường
vụ của Nghị viện: “Khi Nghị viện không họp, Ban Thường vụ có quyền kiểm soát, phê bình Chính phủ”, thực chất đây là quyền giám sát của cơ quan dân
cử (cũng như quyền giám sát của Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội đối với Chính phủ)
Hiến pháp năm 1959 đã đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành các quyết định quản lý nhà nước: “Hội đồng Chính phủ ra những thông
tư, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các Thông tư và Chỉ thị ấy” và “Uỷ ban hành chính các cấp quản lý công tác hành chính ra Quyết định, Chỉ thị và kiểm tra việc thi hành Quyết định, Chỉ thị ấy” Như vậy, thanh tra, kiểm tra ở đây ngoài việc xem xét vi phạm của các cơ quan, nhân viên hành chính hay Chính phủ còn mở rộng ra giám sát, kiểm tra các hoạt động xây dựng, ban hành, thực hiện các văn bản pháp quy
Hiến pháp 1980 sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý nhà nước Khoản 15 Điều 107 của Hiến pháp quy định Hội đồng Bộ trưởng có nhiệm vụ: “Tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra và kiểm tra của Nhà nước”, Điều 110 quy định: “Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lãnh đạo công tác của Hội đồng Bộ trưởng, đôn đốc, kiểm tra việc thi hành những quyết định của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng”
Đến Hiến pháp 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện tại khoản 7 Điều 112: “Chính phủ có nhiệm vụ tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước,
Trang 169
chống quan liêu, tham nhũng, trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân” Hiến pháp 2013, hoạt động thanh tra được quy định cụ thể trong nhiệm vụ của Chính phủ tại Điều 96: … “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra”… Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 là văn bản đầu
tiên về công tác thanh tra, tạo cơ sở pháp lý và xác định hoạt động thanh tra
là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước Luật Thanh tra
2004 và Luật Thanh tra năm 2010 không quy định nhiệm vụ, quyền hạn chung của các cơ quan thanh tra nhà nước mà quy định cụ thể cho từng cơ quan thanh tra nhà nước, nhưng có thể khái quát nhiệm vụ, quyền hạn chung của các cơ quan thanh tra nhà nước là quản lý nhà nước về công tác thanh tra; thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp; thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về chống tham nhũng Căn cứ Luật Thanh tra năm 2010, có một số văn bản hướng dẫn thực hiện công tác thanh tra:
- Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 09 năm 2011 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra;
- Nghị định số 97/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Chính Phủ quy định về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra
- Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 9/12/2012 của Chính phủ Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành
Từ những phân tích trên có thể khái quát khái niệm thanh tra như sau: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của QLNN, là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp
Trang 1710
luật quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân” [36, tr.78]
1.1.1.2 Đặc điểm của thanh tra
Một là, thanh tra gắn liền với QLNN:
Với tư cách là một chức năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý nên thanh tra gắn liền với QLNN Thanh tra là một phạm trù lịch sử, thanh tra gắn liền với vai trò của Nhà nước trong kiểm soát nhà nước, kiểm soát xã hội Chính bản chất của quá trình lao động xã hội đã đòi hỏi tất yếu phải có sự quản lý của Nhà nước để điều hoà những hoạt động đơn lẻ và thực hiện những chức năng chung
Một chu trình QLNN gồm ba bước: ra quyết định quản lý, tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện quyết định ấy Quyết định quản lý là hành vi sáng tạo của chủ thể quản lý nhằm định ra chương trình và tính chất hoạt động của tập thể để giải quyết vấn đề đã chín muồi, trên cơ sở hiểu biết các qui luật vận động khách quan của hệ thống quản lý và việc phân tích các thông tin về hiện trạng của hệ thống Quyết định quản lý là sản phẩm đặc biệt của lao động quản lý và có ở tất cả các cấp quản lý nhưng mới là điểm xuất phát trong quá trình quản lý Tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện quyết định là những giai đoạn tiếp theo của quá trình quản lý Các giai đoạn này gồm những công việc như: truyền đạt quyết định; lập kế hoạch
tổ chức; điều chỉnh quyết định; kiểm tra việc thực hiện quyết định và tổng kết tình hình thực hiện quyết định Ở đây kiểm tra được hiểu là hình thức tác động có hướng đích nhằm quan sát cả hệ thống để phát hiện những sai lệch so với yêu cầu đề ra, tìm ra nguyên nhân và từ đó có những giải pháp phù hợp đảm bảo để đối tượng bị quản lý tự điều chỉnh hoạt động, để hoạt động của nó
Trang 1811
đạt tới mục tiêu mà chủ thể quản lý đã xác định Trong một phạm vi, chừng mực nhất định nào đó, hoạt động kiểm tra theo nghĩa thông thường có thể đưa lại những thông tin cần thiết, đáp ứng được yêu cầu của việc tìm giải pháp phù hợp Thực tiễn điều hành và quản lý nói chung và QLNN nói riêng đòi hỏi phải có một phương thức kiểm tra khác với nghĩa kiểm tra thông thường Loại phương thức kiểm tra này không chỉ dừng lại ở chỗ phát hiện sai lệch của đối tượng bị quản lý so với yêu cầu đề ra mà còn phải tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan của sự sai lệch đó Nếu có yếu tố trách nhiệm thì đương nhiên phải chỉ rõ trách nhiệm đó thuộc về ai? tổ chức, cá nhân nào? chính từ việc tìm nguyên nhân và qui trách nhiệm cùng những yếu
tố khác đã làm nảy sinh những yêu cầu mới đối với chính hoạt động kiểm tra như phải thu thập và xử lý; nhận xét và đánh giá, phân tích tổng hợp nguyên nhân, dữ liệu, số liệu nhiều hơn, phức tạp hơn, loại hình kiểm tra như vậy hay nói cách khác phương thức kiểm tra như vậy rất gần với hoạt động thanh tra Thực chất thanh tra là một phương thức của kiểm tra, là công cụ của quản lý Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ các cơ quan QLNN nhất thiết phải tiến hành việc hoạt động thanh tra thực hiện các quyết định mà mình đã ban hành Như vậy, việc xem xét, định hướng đánh giá kết quả quản lý là một phương diện của quản lý xã hội QLNN là một bộ phận quản lý xã hội, ở đâu
có QLNN ở đó có thanh tra.Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra thì QLNN giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (quy định thẩm quyền của các cơ quan thanh tra, quy định về tổ chức, quyết định và kết luận thanh tra, sử dụng các kết quả, các thông tin từ phía các cơ quan thanh tra) Mặt khác, hoạt động chấp hành của QLNN thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong quá trình thực hiện các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm ngặt của các cơ quan có thẩm quyền
Trang 1912
QLNN và thanh tra có điểm chung là nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng bị quản lý Song xem xét theo cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là chức năng, công cụ, phương tiện để
thực hiện QLNN Hai là, thanh tra là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước:Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra có mối liên hệ chặt
chẽ với tính quyền uy - phục tùng của QLNN Là một chức năng của QLNN, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý Nói về quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức thanh tra Vì vậy, thanh tra phải được Nhà nước sử dụng như một công cụ có hiệu quả trong quá trình quản lý.Có thể nói, thanh tra là một hoạt động luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước Chủ thể tiến hành thanh tra luôn luôn là cơ quan nhà nước Thanh tra (ở đây được dùng với tính chất là một danh từ chỉ cơ quan có chức năng này) luôn luôn áp dụng quyền năng của Nhà nước trong quá trình tiến hành hoạt động của mình và nó nhân danh Nhà nước khi áp dụng quyền năng đó Thanh tra chỉ xuất hiện từ khi Nhà nước ra đời và nó cũng sẽ tiêu vong cùng với sự tiêu vong của Nhà nước Chủ thể duy nhất tiến hành thanh tra là Nhà nước, thanh tra xuất hiện, tồn tại
và tiêu vong cùng với Nhà nước Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ, các cơ quan thanh tra nhà nước có quyền hạn được xác định và khả năng thực hiện những quyền hạn đó: quyền quyết định thanh tra; quyền yêu cầu với đối tượng thanh tra; xử phạt vi phạm hành chính….Tính quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra được cụ thể hoá trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra, phương thức tiến hành thanh tra, xử lý kết quả thanh tra, quan hệ giữa cơ quan thanh tra với đối tượng bị thanh tra Nếu chỉ chú trọng đến một mặt nào đó mà không thực hiện đồng bộ tính quyền lực nhà nước trên các lĩnh vực trên đều dẫn đến hạ
Trang 2013
thấp vai trò và hiệu quả của hoạt động thanh tra, hạn chế hiệu lực thanh tra.Ba
là, thanh tra có tính độc lập tương đốiĐây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ
bản chất của thanh tra Đặc điểm này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy QLNN Khác với hoạt động kiểm tra thường
do bản thân các cơ quan, tổ chức tự thực hiện, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách Ngoài những nhiệm vụ như những cơ quan QLNN khác, các cơ quan thanh tra có nhiệm vụ chủ yếu là xem xét, đánh giá một cách khách quan việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân Tính độc lập tương đối của thanh tra với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp thể hiện ở một số nội dung sau:Các cơ quan thanh tra nhà nước chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ truởng cơ quan QLNN cùng cấp đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác tổ chức, nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Chính phủ; chịu sự hướng dẫn về công tác, nghiệp vụ của cơ quan thanh tra cấp trên.- Chánh Thanh tra do Thủ trưởng cơ quan QLNN bổ nhiệm sau khi thống nhất với Chánh Thanh tra cấp trên.- Trong trường hợp những kiến nghị về thanh tra do Chánh Thanh tra đề nghị, thủ trưởng cơ quan QLNN cùng cấp không nhất trí, Chánh thanh tra có quyền bảo lưu báo cáo với người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên xem xét, quyết định.- Tổng Thanh tra Chính phủ, Chánh Thanh tra các cấp, các ngành có quyền ra quyết định thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật
- Thủ trưởng các cơ quan thanh tra nhà nước được quyền ra quyết định
xử lý theo quy định của pháp luật đối với những hành vi vi phạm
Các cơ quan thanh tra nhà nước là bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong cơ cấu bộ máy nhà nước, là công cụ đắc lực để giữ gìn, bảo vệ và tăng cường trật tự, kỷ cương quản lý, là chức năng thiết yếu của các cơ quan quản
lý nhà nước, nhưng có tính độc lập tương đối với cơ quan quản lý
Trang 2114
1.1.1.3 Phân loại thanh tra
Sự phân biệt giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành xuất phát từ quan niệm coi thanh tra là chức năng thiết yếu của QLNN Mục đích của QLNN xét cho cùng là bảo đảm cho mọi hoạt động trong xã hội tuân thủ theo các quy định của pháp luật, bảo đảm cho công dân thực hiện được các quyền cơ bản của mình, tạo điều kiện phát huy mọi năng lực sản xuất của xã hội Để đạt được mục đích đó, Nhà nước phải thực hiện hai nhiệm vụ chính là tăng cường các biện pháp nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội và phải thường xuyên hoàn thiện, loại trừ các khuyết tật trong quá trình vận hành bộ máy nhà nước Tương ứng với hai nhiệm vụ này là hai loại hình hoạt động thanh tra: thanh tra hành chính (hướng vào bản thân bộ máy quản lý) và thanh tra chuyên ngành (hướng vào xã hội, các đối tượng quản lý)
- Thanh tra hành chính:
Khoản 2 Điều 3 Luật Thanh tra 2010 quy định: “Thanh tra hành chính
là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan,
tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm
vụ, quyền hạn được giao” Theo khái niệm này, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra trong nội bộ bộ máy nhà nước; là thanh tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân cấp dưới (thuộc quyền quản lý trực tiếp);
là thanh tra của chủ thể quản lý này với chủ thể quản lý khác Thanh tra hành chính vì vậy mang tính kiểm soát nội bộ (được hiểu theo nghĩa rộng là nội bộ của bộ máy nhà nước hay nội bộ của bộ máy các cơ quan nhà nước, thường là theo hệ thống) Mục đích của thanh tra hành chính là làm trong sạch bộ máy, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong quản lý, điều hành Đối tượng của hoạt động thanh tra hành chính phải là các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước Hoạt động thanh tra hành chính không hướng vào các đối tượng là các
Trang 2215
doanh nghiệp mà phải hướng vào việc xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật, nhiệm vụ cũng như hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước -
Thanh tra chuyên ngành
Khoản 3 Điều 3 Luật thanh tra 2010 quy định: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó”
Mục đích của hoạt động thanh tra chuyên ngành là bảo đảm sự chấp hành pháp luật của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, bảo đảm trật tự, kỷ cương trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động kinh tế tài chính, kinh tế xã hội cũng như trong mọi lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội
Đối tượng thanh tra của thanh tra chuyên ngành có phạm vi rộng hơn rất nhiều so với thanh tra hành chính và chủ yếu là khu vực tư, chẳng hạn các cuộc thanh tra PLLĐ, thanh tra về vệ sinh an toàn thực phẩm, thanh tra chất lượng mũ bảo hiểm xe máy, thanh tra tài nguyên môi trường, thanh tra việc khám chữa bệnh hay hành nghề y dược tư nhân, thanh tra xây dựng…
Thanh tra chuyên ngành có quyền xử phạt hành chính trong khi thanh tra hành chính, với đối tượng là cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước chủ yếu áp dụng các biện pháp kỷ luật hành chính Thanh tra chuyên ngành thực chất là hoạt động kiểm tra thường xuyên của cơ quan quản lý, kết hợp với xử lý vi phạm
Như vậy, trong các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành và thực tiễn hiện nay về mô hình tổ chức và hoạt động thanh tra trong các bộ, ngành rất phức tạp; còn tồn tại mô hình tổ chức và hoạt động thanh tra khác nhau giữa các bộ, ngành… Những yếu tố này không thể không ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của hoạt động QLNN Vì vậy, cần rà soát lại toàn bộ các
Trang 2316
quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến
mô hình tổ chức, hoạt động thanh tra trong các lĩnh vực chuyên ngành để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật
1.1.1.4 Vị trí, vai trò của thanh tra
Thanh tra là phương thức đảm bảo pháp chế và kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động QLNN
Một trong những nguyên tắc cơ bản phải được tuân thủ của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước ta là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Nội dung của nguyên tắc pháp chế là sự bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ một cách tuyệt đối, không có một thực thể nào đứng trên pháp luật hay đứng ngoài pháp luật Nguyên tắc pháp chế hiện hữu ở việc chấp hành pháp luật cả từ phía các cơ quan nhà nước và từ phía các cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu
sự quản lý của nhà nước Về phía các cơ quan nhà nước, nguyên tắc pháp chế thể hiện ở việc các cán bộ, công chức Nhà nước thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà pháp luật đã quy định Ở bình diện rộng hơn, nó còn là việc mỗi cơ quan nhà nước thực thi đúng phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm đã được quy định trong các văn bản pháp luật Ngay trong hoạt động ban hành các quyết định, các văn bản của cơ quan cấp dưới phải phù hợp với các quy định trong các văn bản của cơ quan cấp trên, văn bản có hiệu lực cao hơn và mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp - đạo luật gốc, có hiệu lực pháp lý cao nhất
Với tư cách là chức năng quản lý, thanh tra chính là hoạt động xem xét tại chỗ việc làm của các cơ quan, tổ chức cá nhân có đúng chính sách, pháp luật hay không Nếu họ làm sai hoặc làm chậm thì giúp họ sửa chữa và làm cho đúng Mục đích của thanh tra là nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật, bảo đảm để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành một cách chính xác, đầy đủ và nghiêm chỉnh pháp luật nhà
Trang 2417
nước Muốn có pháp chế cần phải làm cho mọi người hiểu biết pháp luật Mặc
dù công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật không phải là chức năng chính của thanh tra, nhưng thông qua hoạt động của mình, công tác thanh tra đã góp phần tích cực vào việc giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu đúng và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và đó cũng là một hoạt động bảo đảm tăng cường pháp chế Tuy nhiên, trong thực tế không ít trường hợp vi phạm pháp luật, nhưng không phải do không hiểu đúng các quy phạm pháp luật, mà do thiếu trách nhiệm dẫn đến vi phạm, hoặc cố tình vi phạm Trong những trường hợp đó đòi hỏi thanh tra phải có hình thức xử lý nghiêm khắc Xử lý mạnh mẽ, nghiêm khắc là để cho đối tượng quản lý phải sửa chữa những vi phạm pháp luật và việc xử lý đó còn có tác dụng lâu dài đến đối tượng quản lý
đó cũng như mang tính chất răn đe đối với các đối tượng quản lý khác Tóm lại, vi phạm pháp luật đã, đang và sẽ còn là một thực tế với nhiều lý do khác nhau Để giải quyết vấn đề này, chủ thể quản lý có thể áp dụng nhiều biện pháp từ giáo dục, thuyết phục đến cưỡng chế Các biện pháp đó đều có thể được thực hiện thông qua công tác thanh tra, qua thanh tra có thể đánh giá được một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đó chấp hành pháp luật như thế nào,
có vi phạm pháp luật hay không, vi phạm ở mức độ nào Từ đó đề ra những biện pháp xử lý thích hợp Do vậy, thanh tra là một phương thức bảo đảm
pháp chế xã hội chủ nghĩa Thanh tra là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật
Thanh tra, kiểm tra, giám sát luôn là cách thức phân tích, mổ xẻ một cách sâu sắc đầy đủ nhất về nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất mức
độ của hành vi vi phạm Do vậy các giải pháp (các khuyến nghị, kiến nghị, yêu cầu, quyết định xử lý về thanh tra ) được đưa ra từ hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ hướng vào việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật
mà nó phát hiện được mà nó còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính
Trang 251.1.2 Thanh tra trong lĩnh vực lao động (Thanh tra Lao động – TB&XH)
1.1.2.1 Khái niệm
Thanh tra Lao đô ̣ng – TB&XH là tổ chức thanh tra thuộc ngành lao
đô ̣ng, thương binh và xã hội, có chức năng giúp các cơ quan QLNN trong lĩnh vực lao đô ̣ng , thương binh và xã hô ̣i về công tác thanh tra và thực hiê ̣n chức năng thanh tra chuyên ngành về lao đô ̣ng , người có công và xã hô ̣i trên pha ̣m
vi quản lý ; thanh tra hành chính đối với cơ quan , tổ chức và cá nhân thuô ̣c quyền quản lý về việc thực hiện chính sách , pháp luật, nhiê ̣m vu ̣ của đơn vi ̣; phòng, chống tham nhũng ; tiếp công dân , giải quyết khiếu nại , tố cáo theo quy đi ̣nh của pháp luật Cũng như các tổ chức thanh tra khác, thanh tra lao động chịu sự chi phối “song trùng lãnh đạo” Một mặt, Thanh tra Lao động – TB&XH là cơ quan thuộc cơ cấu, tổ chức của cơ quan quản lý cùng cấp Do vậy, nó chịu sự chỉ đạo về mọi mặt của thủ trưởng cơ quan trực thuộc Mặt khác, Thanh tra Lao động – TB&XH là một tổ chức thuộc hệ thống tổ chức thanh tra nhà nước, do vậy nó chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức, nghiệp vụ của tổ chức thanh tra cấp trên
1.1.2.2 Đặc điểm của Thanh tra Lao động- TB&XH
Thanh tra Lao động – TB&XH là thanh tra ngành, là một bộ phận của hoạt động thanh tra nhà nước Thanh tra lao động ngoài mang những đặc điểm của thanh tra nhà nước nói chung còn mang những đặc điểm thể hiện tính chất đặc trưng sau:
Trang 2619
Một là, hoạt động thanh tra lao động, thương binh và xã hội do các cơ
quan có chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực tiến hành: Thanh tra Bộ Lao động – TB&XH; Thanh tra Sở Lao động – TB&XH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành: Tổng cục Dạy nghề, Cục Quản lý Lao động ngoài nước
Quản lý theo ngành chính là hoạt động quản lý các đơn vị, tổ chức kinh
tế, văn hoá, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế - kỹ thuật hoặc hoạt động có cùng mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được yêu cầu của Nhà nước
và xã hội
Quản lý theo chức năng là quản lý theo từng lĩnh vực chuyên môn nhất định của quản lý hành chính nhà nước như kế hoạch, tài chính, khoa học công nghệ, lao động, nội vụ, quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế, tổ chúc và công vụ
Hai là, đối tượng của thanh tra lao động, thương binh và xã hội là bất
kỳ cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân nào thực hiện các công việc có liên quan
và trong phạm vi quản lý của ngành lao động, thương binh và xã hội
Khi thực hiện thanh tra hành chính, đối tượng của thanh tra hành chính
là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc Nó thể hiện quan hệ trong chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, kiểm soát giữa cấp trên đối với cấp dưới, giữa cơ quan có thẩm quyền với đối tượng trực thuộc chịu sự quản lý nhằm xem xét, đánh giá trong tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân có tuân thủ các quy định của pháp luật không Mặt khác, còn nhằm xem xét, đánh giá
về việc thực hiện các nhiệm vụ được giao mang tính kế hoạch, chỉ đạo, điều hành giữa cơ quan cấp trên đối với cấp dưới có được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, đúng đắn hay không
Tuy vậy, thanh tra chuyên ngành có điểm khác biệt với thanh tra hành chính về đối tượng thanh tra Những đối tượng của Thanh tra Lao động –
Trang 2720
TB&XH có thể không phụ thuộc về mặt tổ chức đối với các chủ thể thực hiện thanh tra Thanh tra về lĩnh vực dạy nghề, đối tượng thanh tra là các trung tâm, trường, cơ sở đào tạo nghề; các đơn vị này không thuộc sự quản lý trực tiếp của các chủ thể thanh tra Thanh tra việc thực hiện quyền được khai sinh của trẻ em, đối tượng thanh tra là UBND các xã, phường, thị trấn, nơi trực tiếp thực hiện các thủ tục khai sinh cho trẻ; các đơn vị này không phải là đơn
vị chịu sự quản lý trực tiếp của ngành lao động, thương binh và xã hội Chiến lược thanh tra việc thực hiện PLLĐ tại ngành may mặc trong toàn quốc có đối tượng thanh tra không trực thuộc ngành lao động, thương binh và xã hội nhưng thuộc lĩnh vực QLNN của ngành về lao động, việc làm
Như vậy, đối tượng của Thanh tra Lao động – TB&XH không chỉ là các đơn vị trực thuộc, có mối quan hệ trên - dưới mà đa dạng, gắn với chức năng QLNN của ngành
Ba là, nội dung của Thanh tra Lao động – TB&XH là xem xét, đánh giá
việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, qui tắc quản lý của ngành, lĩnh vực Khi xem xét, các cơ quan tiến hành có quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm Đây cũng là đặc điểm để phân biệt thanh tra chuyên ngành khác nhau theo từng lĩnh vực quản
lý của ngành theo quy định của pháp luật:
“Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp: Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo; đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” [15, Điều 155] Như vậy, thanh tra ngành lao động, thương binh và xã hội không được kiến nghị cũng như lập biên bản về hành vi vi phạm khi người sử dụng lao động bố trí lao động nữ có thai dưới tháng thứ 5 làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ và
đi công tác xa; đang nuôi con nhỏ từ 12 tháng tuổi trở lên
Trang 28Thanh tra việc thực hiện chính sách trợ cấp đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học, đối tượng phải có hồ sơ, giấy tờ chứng minh về việc có thời gian tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại vùng quân đội Mỹ có sử dụng chất độc hoá học từ tháng 8/1961 đến 30/4/1975
Như vậy, mỗi một đối tượng thuộc lĩnh vực quản lý của ngành lao động, thương binh và xã hội đều có các quy định, tiêu chuẩn riêng biệt, mang tính đặc thù của ngành
1.1.2.3 Hình thức thực hiện của Thanh tra Lao động- TB&XH
Thanh tra Lao động – TB&XH được thực hiện hiện với hình thức: thanh tra theo kế hoạch và thanh tra đột xuất
Thanh tra theo kế hoạch là hoạt động thanh tra được tiến hành trên cơ
sở kế hoạch thanh tra đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Điều này đồng nghĩa với quyền chủ động của các cơ quan thanh tra nhà nước trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức tiến hành thanh tra Thanh tra Lao động – TB&XH phải căn cứ vào Định hướng chương trình thanh tra của Thanh tra Chính phủ, nhiệm vụ chính trị, yêu cầu công tác quản lý của địa phương, bộ ngành trong từng thời kỳ, từ đó xây dựng kế hoạch thanh tra của cấp mình có trọng tâm, trọng điểm, trình Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp phê duyệt làm căn cứ cho việc tiến hành
Thanh tra đột xuất được tiến hành khi có yêu cầu bất thường, để giải
Trang 2922
quyết kịp thời các đòi hỏi phát sinh trong công tác quản lý Đây là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn, vì vậy các cơ quan thanh tra không chỉ chủ động tổ chức tốt các cuộc thanh tra theo kế hoạch mà còn kịp thời triển khai nhanh các cuộc thanh tra theo yêu cầu đột xuất Có như vậy thì mới nhanh chóng phát hiện để ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật
1.1.2.4 Vai trò của Thanh tra Lao động – TB&XH
Một là, Thanh tra Lao động – TB&XH nhằm hoàn thiện cơ chế, chính
sách về kiểm soát quyền lực trong lĩnh vực quản lý của ngành
Thanh tra đảm bảo việc thực thi chính sách một cách thống nhất, nhất quán trong hệ thống hành pháp Sau quy trình ban hành chính sách pháp luật
là việc tuyên truyền, tổ chức thực hiện chính sách pháp luật Thông qua công tác thanh tra các cơ quan thanh tra giúp các chủ thể có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách pháp luật nhận thức đúng chủ trương, chính sách, giúp
cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận thức chưa đúng hoặc làm chưa đúng thì sửa chữa, khắc phục để từ đó đảm bảo việc thực thi chính sách được thông suốt, đồng bộ, thống nhất từ trên xuống, đảm bảo quyền, lợi ích của công dân từ đó đảm bảo nguyên tắc chế xã hội chủ nghĩa
Hai là, Thanh tra Lao động – TB&XH nhằm đảm bảo sự tuân thủ chỉ
đạo điều hành của cơ quan cấp trên với cơ quan cấp dưới trong việc tổ chức thực hiện pháp luật và quản lý hành chính nhà nước
Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước gồm nhiều cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức theo thứ bậc nhất định từ Chính phủ, các bộ, UBND cấp tỉnh, các sở ngành, UBND cấp huyện, phòng, ban thuộc UBND cấp huyện và UBND cấp xã Với bộ máy các cơ quan nhà nước đồ sộ được tổ chức ở các cấp hành chính một trong những yêu cầu đảm bảo nền hành chính mạnh đó là bộ máy hành chính phải thông suốt, việc chỉ đạo, điều hành được thực hiện nhanh chóng, hệ thống hành chính có kỷ luật, cấp dưới tuân thủ cấp
Trang 3023
trên, mệnh lệnh hành chính được ban hành cần phải được tổ chức đồng bộ; cán bộ làm hết chức trách, nhiệm vụ được giao, tận tụy với công việc Với chức năng của mình, các cơ quan thanh tra làm nhiệm vụ kiểm tra tính thông suốt, đồng bộ, kỷ luật của bộ máy hành chính, phát huy nhân tố tích cực, khen thưởng
cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện tốt, xem xét xử lý trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện không tốt chức năng, nhiệm vụ, từ đó giúp cho thủ trưởng cơ quan QLNN cùng cấp nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN
Ba là, Thanh tra Lao động – TB&XH nhằm hạn chế lạm dụng quyền
lực, phòng ngừa vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước
Để kiểm soát tính hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước mà cụ thể
là thủ trưởng cơ quan hành chính kiểm soát chính bộ máy hành chính dưới quyền của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý là một yêu cầu quan trọng để đảm bảo tính chính đáng của bộ máy hành chính nhà nước Muốn vậy, thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước thường xuyên kiểm soát các cơ quan thuộc quyền quản lý của mình, cán bộ, công chức do mình quản lý còn phải có bộ phận, cơ quan chuyên trách thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ công vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản
lý của mình để từ đó kịp thời phòng ngừa những vi vi phạm pháp luật của cán
bộ, công chức đồng thời cũng kịp thời uốn nắn những cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm, cần thiết thì xử lý những vi phạm làm gương cho những người khác không vi phạm, không lạm dụng quyền lực của nhà nước vì mục đích riêng
Bốn là, Thanh tra Lao động - TBXH nhằm đảm bảo cung cấp thông tin
phản hồi liên quan đến việc thực hiện chính sách pháp luật và kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn nhằm
sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu lực, hiệu quả
Trang 3124
Đây là một vai trò quan trọng của thanh tra Lao động – TB&XH trong việc đảm bảo quyền lực nhà nước được sử dụng một cách đúng mục đích, có hiệu lực, hiệu quả Cơ quan thanh tra không chỉ giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận thức đúng pháp luật, sửa chữa những sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công cụ mà cũng thông qua công tác thanh tra cơ quan thanh tra, người cán bộ thanh tra cung cấp thông tin phản hồi về những thuận lợi, khó khăn của các cơ quan, tổ chức trong việc triển khai thực hiện chính sách, pháp luật, nêu lên những kiến nghị, phản ánh tới người có trách nhiệm để có biện pháp tháo gỡ khó khăn, sửa đổi, cơ chế chính sách góp phần nâng cao hiệu quả QLNN
Năm là, Thanh tra Lao động – TB&XH nhằm góp phần đảm bảo phát
huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân từ đó thúc đẩy cơ chế kiểm soát quyền lực của công dân đối với các cơ
quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng
Khi thực hiện chức năng thanh tra, các cơ quan thanh tra không chỉ đảm bảo hệ thống cơ quan hành chính trong đó là các cơ quan hành chính, cán
bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện quyền lực trong giới hạn pháp luật cho phép, thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ với yêu cầu về chất lượng Từ đó tạo điều kiện cho người dân được đảm bảo các quyền từ phía cơ quan nhà nước và thúc đẩy công dân tăng cường hoạt động giám sát, kiểm soát quyền lực của cơ quan nhà nước đặc biệt là quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, phương thức người dân đấu tranh với những cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính hay cơ quan hành chính nhà nước khi mà họ không thực hiện hết chức trách, nhiệm
vụ của mình
Ngoài vai trò của thanh tra như đã trình bày, Thanh tra Lao động – TB&XH còn có vai trò đặc thù trong quản lý nhà nước về lao động; trong xây dựng pháp luật; trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội
Trang 32nó cũng thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực lao động, gắn với từng giai đoạn phát triển của đất nước
- Giai đoạn trước khi có Pháp lệnh thanh tra năm 1990:
Ngay sau Cách ma ̣ng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Tuyên cáo thành lập 13 Bô ̣ của Chính phủ lâm thời , trong đó
có các Bộ đảm nhận công tác Lao động - Thương binh và Xã hô ̣i “Từ ngày Bản Tuyên ngôn Độc lập được công bố đến ngày 19/12/1946 - Ngày Toàn quốc kháng chiến, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 479 văn bản pháp luật, trong đó có 243 sắc lệnh, 172 nghị định, 46 thông tư và 12 văn bản khác [28] Trong lĩnh vực PLLĐ, Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/03/1947 quy định những giao dịch về việc làm công giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam tại xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do Sắc lệnh này bao gồm 9 chương với 187 điều, bao quát gần như toàn bộ các chế định cần thiết của một bộ luật lao động Tại Sắc lệnh đã quy định về hoạt động thanh tra lao động:
Điều thứ 136: Chủ các xưởng nói ở điều thứ 133 phải có một cuốn sổ biên những điều mà sở Lao động bắt thi hành Sổ đó phải đưa trình khi Thanh tra và kiểm soát viên ty Lao động hỏi đến
Điều thứ 137: Trước khi lập biên bản phạt, các Thanh tra và Kiểm soát lao động phải ra lệnh bắt chủ thi hành những phương pháp đã định trong một thời gian không được kém 15 ngày Lệnh đó phải ghi vào quyển sổ nói ở điều 136
Trang 3326
Điều 148: Để kiểm soát việc thi hành luật lệ lao động, một sắc lệnh sẽ lập những ngạch Thanh tra và Kiểm soát lao động cùng định rõ nhiệm vụ và quyền hành của những viên chức này
Như vậy, trong giai đoạn đầu tiên xây dựng đất nước, mặc dù chưa có các quy định cụ thể nhưng một số nội dung của pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động đã dần được hình thành
- Giai đoạn từ khi có Pháp lệnh thanh tra năm 1990 đến nay
Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước và chuyển đổi cơ chế kinh tế, trong các văn kiện của mình Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm: Phải quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không chỉ bằng đường lối, bằng tuyên truyền, bằng đạo lý Quan điểm này của Đảng đã được ghi nhận chính thức trong Điều 12 Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”
Sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 cùng với chính sách đổi mới cơ chế quản lý và chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước đã khiến nhiều lĩnh vực hoạt động được xã hội hóa Nhiều lĩnh vực trước đây do nhà nước nắm giữ và thực hiện đã được chuyển giao cho khu vực tư, với sự tham gia của các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh (khu vực tư) Điều đó đòi hỏi phải kiểm soát việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể này Do đó, công tác thanh tra, kiểm tra nói chung nằm trong xu hướng phải được mở rộng về đối tượng cũng như phạm
vi hoạt động Từ đó xuất hiện nhu cầu thành lập thêm tổ chức thanh tra để thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra chuyên ngành
Thanh tra về PLLĐ là thanh tra chuyên ngành, gắn liền với công tác QLNN về lao động, thương binh và xã hội Bản chất của thanh tra chuyên ngành chính là một loại hình hoạt động kiểm tra hành chính Do đặc thù của hoạt động quản lý luôn đứng trước yêu cầu bảo đảm tính kịp thời và linh hoạt
Trang 3427
nên hoạt động kiểm tra hành chính phải gắn liền với thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, đặc biệt là quyền xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực PLLĐ
Cùng với việc hoàn thiện pháp luật về thanh tra, pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật thanh tra còn phải tuân theo các quy định chuyên ngành về PLLĐ, gắn với các quy định của pháp luật lao động tại từng thời điểm Quy định xử lý vi phạm hành chính về PLLĐ được ban hành lần đầu tại Nghị định số 38/CP ngày 25 tháng
6 năm 1996, ngay sau ngay sau Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và
Bộ luật lao động năm 1995 Lĩnh vực PLLĐ đã có bước phát triển mới với sự ra đời của Bộ luật Lao động năm 1995, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02/4/2002 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29/11/2006, đặc biệt là Bộ luật lao động 2012
Về nguyên tắc, hoạt động thanh tra PLLĐ có những nguyên tắc đặc thù Nếu như nguyên tắc đầu tiên trong hoạt động thanh tra là “tuân theo pháp luật” thì hoạt động thanh tra chuyên ngành không những tuân theo pháp luật về thanh tra
mà còn phải nhấn mạnh đến việc tuân theo các quy định của BLLĐ Khi các quy định của pháp luật thanh tra, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, BLLĐ được sửa đổi, bổ sung; các quy định về xử phạt vi phạm hành chính về PLLĐ cũng được điều chỉnh cho phù hợp với hệ thống pháp luật
1.1.3.2 Văn bản và các chế định chính về thanh tra lao động
- Luật Thanh tra năm 2010;
- Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thanh tra
- Nghị định 07/2012/NĐ-CP quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành
- Bộ luật lao động ngày 18 tháng 6 năm 2012
Trang 3528
- Nghị dịnh số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động
- Nghị định số 39/2013/NĐ-CP ngày 24/4/2013 của Chính phủ “Về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội”;
- Nghị định 33/2015/NĐ-CP ngày Quy định việc thực hiện kết luận thanh tra - Thông tư 01/2013/TT-TTCP quy định về hoạt động theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra
- Thông tư 05/2014/TT-TTCP về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra
1.1.3.3 Cơ quan thanh tra lao động Các cơ quan thanh tra về lao động gồm
các cơ quan thanh tra nhà nước và các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành Các cơ quan thanh tra nhà nước gồm: Thanh tra Bộ Lao động – TB&XH; Thanh tra Sở Lao động – TB&XH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương [10, Điều 5]
Thanh tra Bộ Lao động – TB&XH (gọi tắt là Thanh tra Bộ) là cơ quan thuộc Bộ Lao động – TB&XH, “có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện các quy định của pháp luật về công tác thanh tra; tiến hành thanh tra hành chính đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ; tiến hành thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi QLNN của Bộ ….” [3]
Thanh tra Sở Lao động – TB&XH là cơ quan thuộc Sở Lao động – TB&XH (gọi tắt là Thanh tra Sở), “giúp Giám đốc Sở tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật” [10, Điều 9] Thanh tra Sở Lao động – TB&XH chịu sự chỉ đạo, điều hành của Giám đốc Sở Lao động – TB&XH; chịu sự chỉ đạo về công tác thanh tra và hướng dẫn về nghiệp vụ
Trang 36Vụ, tại Cục Quản lý Lao động ngoài nước tổ chức thành Phòng [10, Điều 5]
Vụ Thanh tra Tổng cục Dạy nghề, Phòng Thanh tra Cục quản lý lao động ngoài nước chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, Cục trưởng Cục quản lý lao động ngoài nước đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức, nghiệp vụ thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ
1.2 Thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động
1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động
Theo giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội thì “thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động
có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật”[13, tr.494] Cũng theo giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội thì “thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các chu thể pháp luật” [12, tr.468] Như vậy, về cơ bản, quan niệm thực hiện pháp luật trong hai cuốn giáo trình trên là tương đồng nhau và qua đó có thể thấy bản chất của thực hiện pháp luật chính là tạo lập các hành
vi hợp pháp của các tổ chức và cá nhân trong xã hội Các tổ chức và cá nhân khi gặp phải những tình huống thực tế mà pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình sẽ chuyển hóa một cách sáng tạo các quy định pháp luật vào tình huống cụ thể của cuộc sống thông qua hành vi hợp pháp của mình
Trang 3730
Trên cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động như sau: Thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động là hoạt động của các cơ quan, các tổ chức, các hộ gia đình và các cá nhân nhằm đưa các quy phạm pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động vào cuộc sống Nói cách khác, đó là quá trình vật chất hóa, hiện thực hóa các quy phạm pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động Như vậy, thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động luôn là hoạt động có
ý thức và mục đích rõ ràng
1.2.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động
Tìm hiểu đặc điểm của hệ thống văn bản pháp luật về thực hiện thanh tra lao động có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật thanh tra nói chung và PLLĐ nói riêng Những đặc điểm đó là:
Một là, thực hiện pháp luật thanh tra về lao động phải tuân theo các quy
định về thanh tra chuyên ngành
Thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc chung của hoạt động thanh tra “không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động hình thường của cơ quan, tổ chức, các nhân là đối tượng thanh tra” [14, Điều 7] thì phải tuân theo các nguyên tắc của thanh tra chuyên ngành, đó là “Hoạt động thanh tra chuyên ngành phải được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm
vụ về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật” [8, Điều 3]
Đối tượng của thanh tra việc thực hiện PLLĐ là cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có nghĩa vụ chấp hành các quy định pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi QLNN của Bộ Lao động – TB&XH, Sở Lao động – TB&XH [10, khoản 2 Điều 2] Chính vì vậy, Đoàn thanh tra thực hiện
Trang 3831
PLLĐ không có thẩm quyền trong việc thanh tra đối với Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo, cơ sở giáo dục đại học và trường trung cấp chuyên nghiệp về việc thực hiện quy chế chuyên môn, quy chế thi cử, thực hiện nội dung, phương pháp giáo dục; quản lý, cấp phát văn bằng, chứng chỉ; thực hiện phổ cập giáo dục, chống mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn; cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục đối với cơ sở giáo dục … vì đây là các nội dung thanh tra thuộc thẩm quyền thanh tra trong lĩnh vực giáo dục
Trong quá trình thanh tra việc thực hiện PLLĐ, căn cứ kế hoạch tiến hành thanh tra, “Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo và gửi đối tượng thanh tra trước ngày công bố quyết định thanh tra” [8, Điều 20] Nội dung của đề cương thanh tra thực hiện PLLĐ phải là những nội dung liên quan đến quản lý, sử dụng lao động Khi tiến hành thanh tra, Đoàn thanh tra phải căn cứ trên các văn bản quy định về nội dung tại đề cương để yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp hồ
sơ, tài liệu; việc xem xét, kết luận các nội dung thanh tra phải căn cứ trên các quy định của pháp luật cụ thể
Ví dụ: nội dung thanh tra về HĐLĐ thì văn bản pháp luật quy định về HĐLĐ là BLLĐ năm 2012, Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về HĐLĐ Theo đó, “HĐLĐ là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” [15, Điều 15] HĐLĐ được xác lập một cách bình đẳng, song phương giữa NSDLĐ và NLĐ Nguyên tắc của HĐLĐ là sự “thoả thuận”, được giao kết trực tiếp giữa NSDLĐ và NLĐ nhưng không được thoả thuận thực hiện những hành vi trái pháp luật (HĐLĐ để trồng cây cần sa, HĐLĐ gia công hàng giả…); trong
Trang 3932
một số trường hợp thì nhóm người lao động có thể uỷ quyền cho một NLĐ trong nhóm ký HĐLĐ đối với người sử dụng lao động Như vậy, hình thức thanh tra việc thực hiện PLLĐ phải tuân thủ theo quy định của Luật thanh tra nhưng nội dung thanh tra phải tuân thủ theo quy định của PLLĐ Hai là,
thực hiện pháp luật về thanh tra trong lao động là hoạt động thanh tra chuyên ngành có tính kế hoạch cao
“Căn cứ định hướng chương trình thanh tra do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo đề nghị của Tổng Thanh tra Chính phủ” [14, khoản 4 Điều 3], Thanh tra Bộ có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch thanh tra trình Bộ trưởng phê duyệt; tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra thuộc trách nhiệm của Thanh tra bộ; hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra thuộc trách nhiệm của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ [14, khoản 1 Điều 18] Thanh tra Sở có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch thanh tra trình Giám đốc sở phê duyệt; tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra thuộc trách nhiệm của Thanh tra sở; hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở [14, khoản 1 Điều 24] Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định cụ thể hơn về thời gian của việc trình, duyệt
kế hoạch thanh tra so với Luật thanh tra năm 2004 nhằm tạo điều kiện cho cơ quan thanh tra nhà nước và cơ quan được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành các cấp chủ động thời gian xây dựng và triển khai chương trình, kế hoạch thanh tra Theo Khoản 3, Khoản 4, Điều 36 Luật Thanh tra năm 2010: Chậm nhất vào ngày 15 tháng 11 hàng năm Chánh Thanh tra bộ, Thủ trưởng
cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ căn cứ vào định hướng chương trình thanh tra, hướng dẫn của Tổng Thanh tra Chính phủ
và yêu cầu công tác quản lý của bộ, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ trình Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước
Trang 4033
cùng cấp phê duyệt kế hoạch thanh tra; chậm nhất vào ngày 05 tháng 12 hàng năm Chánh Thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở căn cứ vào kế hoạch thanh tra của Thanh tra Bộ, yêu cầu công tác quản lý của sở, cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở trình cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp phê duyệt kế hoạch thanh tra Trách nhiệm phê duyệt kế hoạch thanh tra cũng được quy định rất
rõ ràng: Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm phê duyệt kế hoạch thanh tra chậm nhất vào ngày 24 tháng 11 hàng năm; Giám đốc sở, Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm xem xét, phê duyệt kế hoạch thanh tra chậm nhất vào ngày 15 tháng 12 hàng năm
Như vậy, nội dung của Kế hoạch thanh tra do ngành lao động, thương binh và xã hội chủ động lựa chọn, xây dựng căn cứ định hướng chương trình thanh tra và tình hình thực hiện nhiệm vụ của ngành Nội dung của kế hoạch thanh tra ngành lao động, thương binh xã hội phải căn cứ chức năng, nhiệm
vụ quản lý của ngành Thanh tra Lao động – TB&XH không thể thực hiện thanh tra việc điều tra, truy tố của ngành công an; không thể thực hiện thanh tra việc quản lý, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức của UBND các huyện nhưng có quyền thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ về lao động, người có công
và xã hội của cán bộ, công chức của UBND cấp huyện
Ba là, nội dung thực hiện thanh tra được quy định cụ thể tại BLLĐ năm
2012 và một số văn bản liên quan: việc thực hiện các loại báo cáo định kỳ; tuyển dụng và đào tạo lao động; HĐLĐ; thỏa ước lao động tập thể; thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; tiền công và trả công lao động; an toàn lao động, vệ sinh lao động; việc thực hiện các quy định đối với lao động nữ, lao động là người cao tuổi, lao động là người tàn tật, lao động chưa thành niên; việc thực hiện các quy định đối với lao động là người nước ngoài; kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất; việc thực hiện các quy định khác của pháp luật lao động [10, điểm a khoản 2 điều 20]