số các vụ tố cáo được các cơ quan chức năng thụ lý, giải quyết trên cả nước có đến 70% số vụ việc liên quan đến đất đai Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại H
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÂN VĂN LỢI
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã ngành: 8380107
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN CƯƠNG
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai từ
thực tiễn tỉnh Bắc Giang là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Cương
Các số liệu, các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình nào khác Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Tác giả luận văn
Thân Văn Lợi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo và cán bộ của Trường Đại học Mở Hà Nội, về sự hướng dẫn nhiệt tình, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Thầy TS Nguyễn Văn Cương người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình làm luận văn Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ, hỗ trợ và cung cấp các tài liệu, số liệu liên quan phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Thân Văn Lợi
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CÁM ƠN
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỐ CÁO VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 7
1.1 Khái quát chung về tố cáo và giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại tố cáo 7
1.1.2 Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai 14
1.1.3 Ý nghĩa của công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai 18
1.2 Tổng quan pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai 19
1.2.1 Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai 19
1.2.2 Nội dung của pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai 23
Kết luận Chương 1 28
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG 30
2.1 Qui định của pháp luật về giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai 30
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết tố cáo 30
2.1.2 Điều kiện thụ lý đơn tố cáo trong lĩnh vực đất đai 33
2.1.3 Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai 34
2.1.4 Qui trình giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai 35
2.2 Khái quát chung về đất đai và quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 43
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 43
2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 48
2.3.1 Tình hình tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 48
2.3.2 Tình hình thực hiện pháp luật tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 51
2.3.3 Đánh giá kết quả giải quyết tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 52
Kết luận Chương 2 58
Trang 5Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG 59
3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai 59
3.1.1 Bám sát và quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng trong việc hoàn thiện pháp luật tố cáo và pháp luật đất đai 59
3.1.2 Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ quyền công dân 60
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật tố cáo trong lĩnh vực đất đai 61
3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết tố cáo 61
3.2.2 Đẩy mạnh tổ chức thực hiện các quy định về quản lý đất đai và giải quyết tố cáo về đất đai 62
3.2.3 Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ giải quyết tố cáo tại tỉnh Bắc Giang 63
3.2.4 Tăng cường giám sát của các cơ quan chức năng và đoàn thể 64
3.3 Kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tố cáo t i tỉnh Bắc Giang 66
3.3.1 Đối với các cấp ủy Đảng tại tỉnh Bắc Giang 66
3.3.2 Đối với UBND tỉnh Bắc Giang và UBND cấp huyện thuộc tỉnh Bắc Giang 67 3.3.3 Đối với Thanh tra tỉnh Bắc Giang và thanh tra cấp huyện 69
3.3.4 Đối với Sở Tài nguyên và Môi trường, thanh tra Sở và các đơn vị quản lý đất đai tại tỉnh Bắc Giang 70
Kết luận Chương 3 72
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật Việt Nam đang từng bước hướng tới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đất đai trở thành nguồn nội lực quan trọng để thực hiện Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước Do đó, việc quản lý đất đai được Đảng, nhà nước, các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm, chú trọng
Với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, đặc biệt
là Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003, mới đây nhất là Luật Đất đai năm 2013, hệ thống quy phạm pháp luật về đất đai đã từng bước được hoàn thiện, cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước về đất đai trong các thời kỳ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế,
xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân,
hộ gia đình, cơ quan, tổ chức trong quản lý, sử dụng đất đai Vì vậy, quản lý nhà nước bằng pháp luật về đất đai ngày càng hoàn thiện đã đạt được những tiến bộ rõ rệt, hệ thống quản lý về đất đai được tăng cường, từng bước phân cấp và phát huy tính tự chủ của địa phương
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tình hình quản lý và sử dụng đất đai hiện nay đang có những yếu kém như vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa có tính chiến lược lâu dài và ổn định hoặc thiếu tính khả thi; cơ chế quản lý về đất đai thiếu tính hiệu quả; cơ quan quản lý đất đai các cấp nhìn chung còn nhiều yếu kém Chính vì thế, tình trạng tranh chấp, khiếu nại,
tố cáo về quản lý và sử dụng đất đai có xu hướng diễn biến phức tạp Việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo còn chưa kịp thời, thiếu hiệu quả Đây
là một trong những nguyên nhân dẫn đến ngày càng có nhiều vụ tranh chấp,
tố cáo liên quan đến đất đai trên toàn quốc Theo số liệu thống kê, trong tổng
Trang 7số các vụ tố cáo được các cơ quan chức năng thụ lý, giải quyết trên cả nước
có đến 70% số vụ việc liên quan đến đất đai
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 “Mọi người có
quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [24, Điều
30] Đây là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội như là một phản ứng của con người trước một quyết định, một hành vi nào đó mà người khiếu nại,
tố cáo cho rằng quyết định hay hành vi đó là không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, trong những năm qua với sự tập trung chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và sự phối hợp với các đoàn thể nhân dân, công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có chuyển biến tích cực, góp phần phát triển kinh tế- xã hội, ổn định tình hình, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Tuy nhiên những năm gần đây, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế: Một số địa phương, đơn vị còn chưa thấy hết được ý nghĩa quan trọng của công tác này; hiệu quả công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo còn chưa cao, có nơi còn hình thức Điều đáng chú ý là khi nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân, không ít cán bộ, công chức còn thiếu tinh thần trách nhiệm, không thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết; chưa quan tâm đầy đủ đến việc tiếp dân, đối thoại và lắng nghe ý kiến của nhân dân, còn biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong việc tiếp dân
và giải quyết khiếu nại, tố cáo Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật khiếu nại, tố cáo chưa thường xuyên, chưa sâu rộng Không ít người dân chưa hiểu đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình nên gửi đơn khiếu nại, tố cáo vượt cấp khá nhiều
Trang 8Trong bối cảnh ấy, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về
tố cáo và giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai; đánh giá tình hình tố cáo trong lĩnh vực đất đai, kết quả thực hiện công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang để làm rõ những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công tác giải quyết tố cáo về đất đai,
từ đó tìm ra quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh là vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận
và thực tiễn
Xuất phát từ mục đích và ý nghĩa đó, tôi lựa chọn Đề tài "Pháp luật về
tố cáo trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang" làm Luận văn
thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về khiếu nại, tố cáo nói chung và pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng cũng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý và các cấp chính quyền Thời gian qua đã có các công trình nghiên cứu, sách báo pháp lý và các bài viết liên quan đến vấn đề này dưới góc độ lý luận và thực tiễn Tiêu biểu có thể kể đến như:
Một số sách chuyên khảo của PGS.TS Doãn Hồng Nhung: “Kỹ năng
áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam” (2014);
“Pháp luật về thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật đất đai ở Việt Nam”
(2013); Sách chuyên khảo của Viện khoa học thanh tra, Thanh tra Chính phủ,
“Khiếu nại, tố cáo hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính ở
Việt Nam hiện nay” (2012);
Một số luận văn thạc sỹ luật học có đề cập tới pháp luật tố cáo như:
Luận văn của Trần Ngân Hà: “Pháp luật về giải quyết khiếu nại tố cáo ở Việt
Nam” (2013), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luật văn của Nguyễn
Thị Hồng Thơm: “Hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ
Trang 9quan hành chính nhà nước ở Ninh Bình hiện nay” (2010), Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội; Luật văn của Phạm Anh Tuấn: “Cơ chế giải quyết khiếu nại
hành chính ở Việt Nam hiện nay và vấn đề hoàn thiện” (2011), Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội;
Một số bài viết được các tác giả công bố như: “Giải quyết khiếu nại, tố cáo
phải biến nhận thức thành hành động” trên trang www.thanhtra.gov.vn; “Cần đổi mới mô hình giải quyết khiếu nại, tố cáo” trên trang www.thanhtravietnam.vn;
“Giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống
chính trị” trên trang www.noichinh.com; “Khiếu nại,tố cáo về lĩnh vực đất đai vẫn tăng” trên trang www.dangcongsan.vn đã thể hiện sự quan tâm của xã hội
đến vấn đề này
Nhìn chung, nội dung của các công trình nghiên cứu kể trên khá chuyên sâu và cũng đã đề cập nhiều nội dung liên quan đến pháp luật về khiếu nại, tố cáo nói chung và pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng Bằng việc kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình, bài viết nêu trên, luận văn đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống và toàn diện pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai ở một địa bàn cụ thể là tỉnh Bắc Giang Địa bàn tỉnh Bắc Giang có những đặc điểm riêng biệt về nguồn tài nguyên đất đai và quản lý sử dụng đất đai Luận văn tìm hiểu thực tiễn thực thi pháp luật
và nguyên nhân dẫn đến tình trạng tố cáo kéo dài và phức tạp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong những năm gần đây để đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của luận văn là đánh giá đúng thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc
Trang 10Giang làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích trên, luận văn có 03 nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về tố cáo và pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai;
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật và tìm hiểu thực tiễn thi hành pháp luật về tố cáo và giải quyết về tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang;
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
4 Đối tượng và ph m vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành về tố cáo và giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Do tính chất phức tạp và rộng lớn của đề tài, luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở việc phân tích, tìm hiểu các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo được quy định tại Luật Tố cáo năm 2011, Luật Đất đai năm 2013 và tình hình thực hiện pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai trong những năm gần đây của tỉnh Bắc Giang
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích - tổng hợp, logic, so sánh, khảo sát, thống kê trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra của đề tài
Trang 116 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
Luận văn là nguồn tư liệu tổng hợp các quy định pháp luật về giải quyết
tố cáo trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn tại tỉnh Bắc Giang, cung cấp thêm các luận cứ khoa học trong công tác giải quyết tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới
Các đề xuất tại Luận văn có thể là những gợi ý để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tố cáo, giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai, đồng thời, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tố cáo và giải quyết tố cáo
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tố cáo và pháp luật về tố cáo trong
lĩnh vực đất đai;
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về tố
cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang;
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
thi pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỐ CÁO VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
1.1 Khái quát chung về tố cáo và giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại tố cáo
1.1.1.1 Khái niệm tố cáo, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
"Tố cáo" có nghĩa là: "Báo cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm
quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức hoặc của cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức" [34, tr.784]
Luật Tố cáo năm 2011 quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục
do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” [22, Điều 2, Khoản 1]
Dưới góc độ xã hội, tố cáo là vạch rõ hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội của chủ thể khác, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của công dân hoặc các chủ thể khác
Dưới góc độ pháp lý, tố cáo là quyền của công dân thông báo với cơ quan
có thẩm quyền và yêu cầu các cơ quan này xử lý các hành vi, quyết định trái pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân hoặc các chủ thể khác, cả trong trường hợp không trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân tố cáo Tố cáo là một trong những kênh thông tin phản hồi hữu hiệu để Nhà nước kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật [11, tr.158] Cách hiểu
Trang 13này cũng sát với định nghĩa về tố cáo trong Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998
và Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo hiện hành năm 2011
Về bản chất, tố cáo là việc các chủ thể báo cho cơ quan chức năng biết
về một hành vi có thể gây thiệt hại tới các quyền lợi ích hợp pháp của mình
và các chủ thể khác Do đó, tố cáo có thể góp phần ngăn chặc các hậu quả có thể xảy ra, đồng thời bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ Phạm vi của tố cáo nên được khuyến khích và mở rộng, bởi việc đưa các hành vi xấu ra trước pháp luật trước tiên sẽ giúp các chủ thể bị xâm hại quyền lợi lấy lại được những gì mình đã bị mất, đồng thời trừng trị những chủ thể gây ra những hậu quả đó Đây cũng chính là nền tảng để xây dựng một xã hội tốt đẹp và công bằng
Trên cơ sở các quan điểm và định nghĩa pháp lý về tố cáo, theo tác giả
khái niệm “tố cáo trong lĩnh vực đất đai” có thể được hiểu như sau: “Tố
cáo trong lĩnh vực đất đai là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”
1.1.1.2 Đặc điểm của tố cáo
Một là, về chủ thể có quyền tố cáo:
Chủ thể có quyền tố cáo là cá nhân công dân vì tố cáo làm phát sinh những hậu quả pháp lý và trách nhiệm pháp lý gắn với cá nhân công dân khi
tố cáo
Hai là, về đối tượng của tố cáo:
Đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,
tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Hành vi vi phạm pháp luật có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc có thể không ảnh hưởng trực
Trang 14tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo Cá nhân có quyền tố cáo ngay cả khi hành vi mới đe dọa gây thiệt hại nên khả năng phòng ngừa, ngăn
chặn và giảm các thiệt hại gây ra là rất cao [35, tr.161]
Ba là, về tính chất của hoạt động giải quyết tố cáo:
Giải quyết tố cáo là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật Việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo các trình tự, thủ tục nhất định tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm Tố cáo và giải quyết tố cáo được thực hiện theo hình thức và thủ tục chặt chẽ, bắt buộc do pháp luật quy định đảm bảo sự hoạt động chặt chẽ, chính xác thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước
Trên cơ sở những đặc điểm của tố cáo, cho thấy sự khác biệt giữa tố cáo và tố giác tội phạm; giữa tố cáo và khiếu nại Cụ thể là:
Thứ nhất, sự khác biệt giữa tố cáo và tố giác tội phạm
tố cáo rộng hơn và cơ bản đã bao hàm cả khái niệm tố giác tội phạm theo Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tố cáo là quyền của công dân Công dân có quyền quyết định việc mình sẽ tố
Tố giác tội phạm chỉ bao gồm việc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có thể cấu thành tội phạm đã được quy định trong Bộ luật Hình sự
Tố giác tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân Công dân bắt buộc phải tố giác nếu đã biết rõ về một tội phạm đang chuẩn bị hoặc đã được thực hiện và
Trang 15cáo hay không một hành vi vi phạm pháp luật
Tố cáo chỉ phát sinh quan hệ pháp lý khi công dân trực tiếp hoặc gửi đơn tố cáo đến cơ quan, cá nhân có thẩm quyền
có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội:
“Không tố giác tội phạm” theo quy định của Bộ luật Hình sự, nếu biết mà không
tố giác tội phạm
Tố giác tội phạm trong một
số trường hợp phát sinh quan hệ pháp lý ngay từ thời điểm tội phạm xảy ra (trường hợp phạm tội không
tố giác tội phạm)
Chủ thể
Chủ thể tố cáo là cá nhân, có tên tuổi, địa chỉ rõ ràng, người bị tố cáo cũng phải có tên tuổi, địa chỉ, nội dung tố cáo phải chỉ rõ hành vi bị tố cáo Người tố cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về nội dung tố cáo của mình, trường hợp tố cáo sai sự thật (vu khống) thì tùy theo mức
độ có thể bị xử lý về hành chính hoặc hình sự Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn
tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp
Chủ thể của tố giác là cá nhân Chủ thể này cho rằng
có một sự kiện vi phạm pháp luật đã hoặc sẽ xảy ra ngoài
xã hội có dấu hiệu tội phạm,
là một hình thức cung cấp nguồn tin, dấu hiệu hay sự việc vi phạm pháp luật bằng cách báo cho cơ quan Nhà nước xem xét, làm rõ Tố giác tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản Hành vi
bị tố giác tội phạm phải được quy định trong Bộ luật Hình sự
Đối tượng Đối tượng của tố cáo là hành Đối tượng của tố giác về tội
Trang 16vi vi phạm pháp luật trong mọi lĩnh vực, không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm
phạm chỉ có hành vi vi phạm pháp luật có thể cấu thành tội phạm
Thời hạn giải
quyết
Thời hạn giải quyết tố cáo là
60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo
Trường hợp cần thiết, người
có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày, đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày
Thời hạn giải quyết tố giác: trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được việc tố giác,
cơ quan điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra quyết định khởi tố hay không khởi
tố vụ án hình sự, hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác Nếu sự việc bị tố giác
có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh nhiều nơi, thời hạn giải quyết tố giác kéo dài không quá 2 tháng, hoặc Viện Kiểm sát
có thể gia hạn một lần (nhưng cũng không quá 2 tháng)
vi phạm Nếu công dân không
tố cáo dù là đã phát hiện ra hành vi vi phạm pháp luật của
cơ quan, cá nhân khác thì họ cũng không phải chịu bất kỳ hình thức xử lý theo pháp luật nào
Tố giác tội phạm trong một
số trường hợp phát sinh quan hệ pháp lý ngay từ thời điểm tội phạm có dấu hiệu xảy ra Khi công dân biết rõ tội phạm đang đựơc chuẩn
bị, đang được thực hiện hoặc
đã được thực hiện mà không
tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không
tố giác tội phạm theo Bộ luật Hình sự
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Trang 17Thứ hai, sự khác biệt giữa tố cáo và khiếu nại
Chủ thể Cá nhân, cơ quan, tổ chức Cá nhân
Đối tượng
Đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành
vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật đối với cán bộ, công chức Người khiếu nại chỉ thực hiện quyền khiếu nại khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Đối tượng của tố cáo rộng hơn rất nhiều, là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Cá nhân có quyền tố cáo ngay
cả khi hành vi mới đe dọa gây thiệt hại nên khả năng phòng ngừa, ngăn chặn và giảm các thiệt hại gây ra là rất cao
Là những hành vi nguy hiểm cho xã hội
Mức quan tâm của tố cáo rộng hơn khiếu nại, đối với lợi ích chung của toàn xã hội Mục đích của tố cáo không chỉ nhằm bảo vệ và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo mà còn bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước và xã hội
Trách nhiệm
pháp lý
Chủ thể thực hiện quyền khiếu nại không phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu căn
cứ pháp lý không đầy đủ, chính xác
Chủ thể thực hiện quyền tố cáo phải chịu trách nhiệm về những thông tin
tố cáo của mình (tội vu khống…)
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Trang 181.1.1.3 Phân loại tố cáo
Để giải quyết tố cáo của công dân có hiệu quả thì cần phải phân loại tố cáo Dựa trên thực tiễn thi hành thì tố cáo được phân thành ba loại sau:
Thứ nhất, tố cáo hành chính, tố cáo về các hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của cơ quan nhà nước
Việc tố cáo và giải quyết tố cáo được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật hành chính Đây cũng là dạng tố cáo hướng vào các hành vi vi phạm về các quy định của pháp luật về quản lý hành chính nhà nước Hậu quả pháp lý
mà người bị tố cáo phải gánh chịu chỉ có thể là chịu trách nhiệm hành chính
hoặc trách nhiệm kỷ luật
Thứ hai, tố cáo về các hành vi vi phạm của các tổ chức, đoàn thể, cộng đồng dân cư thuộc phạm vi điều chỉnh của nội bộ các tổ chức, đoàn thể, cộng đồng dân cư đó:
Đây là dạng tố cáo hướng vào các hành vi trái với tôn chỉ, mục đích đã được thể hiện quy định của tổ chức, của cộng đồng; trái với luân thường đạo
lý đã mặc nhiên được thừa nhận Xử lý tố cáo dạng này thực hiện theo quy định của tổ chức, cộng đồng đã được ghi nhận trong quy chế, điều lệ hoặc
được hình thành mặc nhiên trong cộng đồng
Thứ ba, tố cáo tội phạm, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật hình sự:
Khi công dân cho rằng một cá nhân, một tổ chức đã hoặc sẽ thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội hoặc cho rằng có thể hành vi đó đã vi phạm các quy định của pháp luật hình sự thì họ thực hiện tố cáo hành vi vi phạm trước cơ quan có thẩm quyền Hành vi là đối tượng của tố cáo dạng này được quy định cụ thể trong pháp luật hình sự Việc xử lý, giải quyết tố cáo tội phạm được quy định chặt chẽ và thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự Hậu quả pháp lý là chịu trách nhiệm hình sự.” [31, tr.5]
Việc phân loại tố cáo hiện nay dựa trên thực tiễn giải quyết tố cáo Việc phân loại đúng các dạng tố cáo nhằm xác định đúng phương thức giải quyết tố
Trang 19cáo cho phù hợp Tố cáo thông thường có hai dạng tố cáo hành chính và tố cáo tội phạm và hai dạng tố cáo này được pháp luật điều chỉnh tùy theo đối tượng được tố cáo
Tố cáo trong lĩnh vực đất đai hiện nay thường thể hiện ở các dạng tố cáo chủ yếu sau:
Thứ nhất, tố cáo cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lợi dụng các
chương trình, dự án của nhà nước để bao chiếm ruộng đất, chia chác đất đai, nhất là đối với chương trình trồng rừng, các dự án phát triển khu dân cư,các
dự án tái định cư
Thứ hai, tố cáo cán bộ cửa quyền, nhũng nhiễu trong việc thực hiện các
thủ tục hành chính về đất đai, như: giao đất, cho thuê đất; cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không thực hiện đăng ký trình tự, thủ tục thu hồi đất,đền bù,hỗ trợ
Thứ ba, tố cáo Ủy ban nhân dân giao đất trái thẩm quyền; giao đất, cho
thuê đất không đúng đối tượng, không đúng quy hoạch; sử dụng tiền thu từ quỹ đất công ích trái quy định của pháp luật
Thứ tư, tố cáo hành vi gian lận trong việc lập phương án bồi thường về
đất đai để tham ô, như lập 2 phương án bồi thường ( cho người có đất bị thu hồi riêng, để thanh toán với Nhà nước riêng)
Thứ năm, tố cáo hành vi trục lợi về đất đai thông qua việc lập phương
án hoặc điều chỉnh phương án quy hoạch xây dựng đô thị,quy hoạch điểm dân
cư nông thôn không phù hợp với thực tế, gây xáo trộn không cần thiết đối với đời sống nhân dân
1.1.2 Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
1.1.2.1 Quan niệm về giải quyết tố cáo và đặc điểm của giải quyết tố cáo
Theo quy định của Khoản 7 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011, “giải quyết
tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo”
Trang 20Giải quyết tố cáo được hiểu là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo, xác minh, kết luận nội dung tố cáo, xử
lý tố cáo của người giải quyết tố cáo và công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo Theo đó, giải quyết tố cáo có các đặc điểm chung cơ bản sau:
Thứ nhất, giải quyết tố cáo là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước
Giải quyết tố cáo là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo những thủ tục nhất định tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm Những hành vi vi phạm ở mức độ nhẹ thì bị xử lý bằng biện pháp hành chính và sẽ do cơ quan hành chính nhà nước tiến hành, còn những hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo trình tự, thủ tục được pháp luật về tố tụng quy định
Thứ hai, giải quyết tố cáo là hoạt động phải tuân theo những hình thức
và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định Trình tự thủ tục về giải quyết tố cáo của công dân là nhân tố đảm bảo cho sự hoạt động chặt chẽ, chính xác thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước
Thứ ba, giải quyết tố cáo là hoạt động mang tính phối hợp giữa cơ quan
hành chính với cơ quan tổ chức khác Đó là mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với cơ quan Tư pháp (cơ quan thanh tra với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tòa án); giữa cơ quan hành chính với cơ quan tổ chức khác (Ủy ban Kiểm tra Đảng, các tổ chức đoàn thể) nhất là việc giải quyết tố cáo đối với cán bộ, công chức nói chung, nhất là cán bộ, công chức là đảng viên hoặc thành viên các tổ chức chính trị- xã hội khác
1.1.2.2 Quan niệm về giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai và đặc điểm của giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Giải quyết tố cáo về đất đai là một dạng giải quyết tố cáo Giải quyết tố cáo về đất đai được hiểu là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận,
Trang 21xử lý thông tin tố cáo về đất đai, xác minh, kết luận nội dung tố cáo; xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo và công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử
lý hành vi vi phạm bị tố cáo trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai
Trên cơ sở khái niệm này, giải quyết tố cáo về đất đai có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, giải quyết tố cáo về đất đai phải đảm bảo nguyên tắc đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Kiên quyết bảo vệ những thành quả cách mạng về ruộng đất, đồng thời xử lý kịp thời, đúng pháp luật những trường hợp có hành vi vi phạm trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai
Hai là, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải nắm vững quan
điểm lấy dân làm gốc, phải dựa vào dân, bàn bạc dân chủ công khai quỹ đất với dân để giải quyết và phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ trong nội bộ nhân dân tìm ra giải pháp, không có ép mệnh lệnh
Ba là, giải quyết tố cáo về đất đai nhằm mục đích phát triển sản xuất,
ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân
Bốn là, giải quyết tố cáo về đất đai một mặt phải tuân thủ quy định của
Luật Tố cáo, mặt khác phải tuân thủ quy định của Luật Đất đai và các văn bản pháp luật khác có liên quan Đây là điểm đặc biệt trong giải quyết tố cáo về đất đai
1.1.2.3 Các nguyên tắc giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Luật Tố cáo năm 2011 và Điều 3 Thông tư số 06 2013 TT-CP ngày 30/9/2013 về “Quy trình giải quyết tố cáo” quy định về nguyên tắc giải quyết tố cáo, theo đó:
“1 Việc giải quyết tố cáo phải bảo đảm kịp thời, chính xác, khách quan,
đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật; bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Trang 222 Trong phạm vi trách nhiệm của mình, người giải quyết tố cáo, cơ quan,
tổ chức, đơn vị, cá nhân được giao xác minh nội dung tố cáo phải áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc báo ngay cho cơ quan công an, cơ quan có thẩm quyền để áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo, ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật” [22, Điều 4]
Như vậy, để hoạt động giải quyết tố cáo đạt hiệu quả cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Một là, nguyên tắc đúng pháp luật
Đây là nguyên tắc cơ bản, bao trùm toàn bộ quá trình giải quyết tố cáo Nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động giải quyết tố cáo phải tuân thủ đúng trình
tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định Không một cơ quan, tổ chức,
cá nhân nào có thể tham dự trái pháp luật vào quá trình và kết quả giải quyết
tố cáo và quyết định giải quyết tố cáo đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn
trọng và thực hiện
Hai là, nguyên tắc kịp thời, khách quan
Kịp thời trong giải quyết tố cáo nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và trong việc phát hiện, phòng ngừa những hành vi vi phạm trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai
Tính khách quan trong hoạt động giải quyết tố cáo đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải xem xét, đánh giá trung thực tình hình vụ việc, khách quan trong việc thu thập, xem xét các tài liệu, bằng chứng và khách quan trong kết quả giải quyết tố cáo Qua đây, thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Ba là, nguyên tắc chính xác, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng thời hạn
Khi thụ lý giải quyết tố cáo phải xác định đúng thẩm quyền theo chức năng,
nhiệm vụ và khi giải quyết tố cáo, người có thẩm quyền hoặc người được giao xác
Trang 23minh nội dung tố cáo phải đảm kết quả xác minh là chính xác, trung thực, khách quan; trình tự giải quyết tố cáo tuân thủ đúng các bước tiến hành và đúng thời hạn
đã được quy định
Bốn là, nguyên tắc đảm bảo an toàn cho người tố cáo
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc người được giao xác minh nội dung tố cáo, khi cần thiết, phải áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc báo ngay cho cơ quan công an, cơ quan có thẩm quyền để áp dụng các biện
pháp bảo vệ người tố cáo, ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật
Năm là, nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo
Không chỉ quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo hay lợi ích của nhà nước, của xã hội cần được bảo vệ, mà quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
tố cáo cũng rất quan trọng và cần được đảm bảo để tránh tình trạng vu khống, bôi nhọ danh dự công dân, không đúng sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của người bị tố cáo
1.1.3 Ý nghĩa của công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Tố cáo là quyền chính trị - pháp lý cơ bản của công dân, gắn liền với các quyền tự do khác của công dân trong tổng hòa quyền và nghĩa vụ của công dân Vì vậy, thực hiện quyền tố cáo và giải quyết tố cáo của công dân là hoạt động đảm bảo quyền làm chủ của công dân, góp phần mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm pháp chế
Hoạt động tố cáo khẳng định mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân trong quản lý nhà nước, đặc biệt là trong quản lý nguồn tài nguyên đất đai Khiếu nại, tố cáo nói chung và tố cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng hiện nay đang là vấn đề “nóng” trong xã hội Nếu không giải quyết nhanh chóng, kịp thời và dứt điểm các khiếu kiện, tố cáo về đất đai sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến tình hình kinh tế - xã hội nói chung của cả nước, của từng địa
phương, từng dự án nói riêng
Trang 24Giải quyết tố cáo về đất đai góp phần phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành vi tham nhũng, sai phạm trong quản lý nhà nước về đất đai Thông qua quá trình giải quyết đó, những hành vi tham nhũng, lãng phí, vi phạm pháp luật được làm sáng tỏ, trong sạch bộ máy quản lý nhà nước về đất
đai đồng thời củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
Giải quyết tố cáo về đất đai đảm bảo tính dân chủ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nếu hoạt động tố cáo của công dân chỉ dừng lại ở việc phát hiện và thông tin các hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ chức, cơ quan trong hoạt động quản lý đất đai thì chưa hoàn toàn đảm bảo quyền và lợi ích của công dân Kết quả của giải quyết tố cáo về đất đai còn khôi phục quyền và lợi ích của công dân bị xâm phạm, đáp ứng mong mỏi chính đáng của công dân khi khiếu kiện, tố cáo lên các cơ quan có
thẩm quyền
Tóm lại, giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai đáp ứng đầy đủ các vai trò, trách nhiệm của của hoạt động giải quyết tố cáo nói chung; đặc biệt là vai trò trong quản lý nhà nước về đất đai – nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của đất nước Hay nói cách khác, giải quyết tố cáo về đất đai có ý nghĩa quan trọng để ổn định tình hình trật tự ở địa phương Giải quyết tốt tố cáo trong lĩnh vực đất đai sẽ làm ổn định tình hình địa bàn nơi có xung đột, mâu thuẫn Giải quyết tốt khiếu nại tố cáo về đất đai sẽ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đất đai
1.2 Tổng quan pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai
1.2.1 Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Hiến pháp năm 1959 là bản Hiến pháp đầu tiên quy định cụ thể về quyền khiếu nại của công dân và là bước phát triển quan trọng trong quản lý Nhà nước, củng cố địa vị của công dân trong xã hội Điều 29 Hiến pháp năm
1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền khiếu
nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những việc làm vi phạm
Trang 25pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước…” Sau khi giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước, Hiến pháp năm 1980 tiếp tục quy định và nâng cao về
quyền tố cáo của công dân Điều 73 Hiến pháp 1980 quy định: “Công dân có
quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức, đơn vị đó…”
Sau Hiến pháp này, quyền tố cáo của công dân được ghi nhận và quy định cụ thể trong những quy định pháp luật Bản Hiến pháp mới nhất của nước ta cũng
khẳng định quyền tố cáo của mọi người tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013: “Mọi
người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”
Ngày 27/11/1981, Pháp lệnh quy định về việc xem xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 được ban hành và là văn bản pháp lý đầu tiên qui định một cách tập trung, đầy đủ và chi tiết việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Sau khi Pháp lệnh này được ban hành, ngày 29/3/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 58 HĐBT về việc thi hành Pháp lệnh đã qui định cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm của công dân trong việc khiếu nại, tố cáo Tiếp tục thừa kế những thành tựu đạt được của Pháp lệnh năm 1981 và bổ sung những thiếu sót, khắc phục những tồn tại, ngày 2/5/1991, Pháp lệnh Khiếu nại, Tố cáo được ban hành thay thế Pháp lệnh năm 1981 Trong Pháp lệnh Khiếu nại, Tố cáo năm 1991, lần đầu tiên quyền khiếu nại và quyền tố cáo được quy định riêng biệt Ngày 28/01/1992, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 38 HĐBT về việc thi
hành Pháp lệnh Khiếu nại, Tố cáo
Ngày 02/12/1998, Quốc hội đã thông qua Luật Khiếu nại, Tố cáo và Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 thay thế Pháp lệnh năm 1991 Đây là văn bản có hiệu lực cao nhất về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân so với các văn bản trước đó
Trang 26Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền khiếu nại, quyền
tố cáo, ngày 25/6/2004, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, Tố cáo Ngày 29/11/2005, Quốc hội thông qua Luật số 58/2005/QH11 ngày 29/11/2005 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo của
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Trong lĩnh vực đất đai, sau giai đoạn bắt đầu đổi mới (1986-1991), chúng ta vẫn còn thiếu nhiều quy định và ngay cả hệ thống pháp luật đất đai
đã ban hành cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được tình hình đổi mới của đất nước Để phù hợp với giai đoạn mới và thực hiện đổi mới toàn diện nền kinh tế, cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992, khắc phục những hạn chế của Luật Đất đai năm 1987, ngày 14/7/1993 Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm
1993 Tiếp đó, Luật Đất đai năm 1993 được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 1998 và năm 2001
Ngày 02/12/1998, Quốc hội đã thông qua Luật Khiếu nại, Tố cáo có hiệu lực từ ngày 1/1/1999 thay thế Pháp lệnh năm 1991 Đây là văn bản có hiệu lực cao nhất về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân so với các văn bản trước đó Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền khiếu nại, quyền tố cáo; ngày 25/6/2004 và ngày 29/11/2005, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998
Luật Đất đai năm 2003 được ban hành có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2004 và tiếp sau đó, nhiều chính sách pháp luật được từng bước thể chế hóa, điển hình như Nghị định số 181 2004 NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 182 2004 NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định số 197 2004 NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích cộng đồng, lợi ích quốc gia, mục đích an ninh, quốc phòng; nghị định số
198 2004 NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
Trang 27Tuy nhiên, chế định về quyền khiếu nại, tố cáo về đất đai cũng như thẩm quyền, trình tự và thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai chưa được cụ thể hóa tại các văn bản quy phạm này và còn nhiều bất cập so với pháp luật về khiếu nại, tố cáo
Một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về khiếu nại, tố cáo là sự ra đời của Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo Ngày 11/11/2011, Quốc hội ban hành Luật Khiếu nại năm 2011và Luật Tố cáo năm
2011 Hai đạo luật này đều có hiệu lực từ ngày 01/7/2012 Luật Tố cáo năm
2011 cũng có những quy định mới về giải quyết tố cáo, cụ thể: quy định cụ thể và đầy đủ hơn về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo; quy định cụ thể hơn nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ; quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; bổ sung các quy định bảo vệ người tố cáo (Chương V, từ Điều 34 đến Điều 40)…Có thể thấy, Luật Tố cáo năm 2011 đã tạo hành lang pháp lý để công dân thực hiện quyền tố cáo, giúp các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kịp thời phát hiện
và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật
Cụ thể là, Luật Tố cáo năm 2011 quy định cụ thể và đầy đủ hơn về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo; quy định cụ thể hơn nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ; quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; bổ sung các quy định bảo
Trang 28thể về thẩm quyền, trình tự thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực đất đai, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý về đất đai Chính vì, việc giải quyết các quan hệ về đất đai được chặt chẽ, góp phần đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước về đất đai
Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa và bảo vệ quyền, nghĩa vụ của các chủ thể sử dụng đất Do đó, người sử dụng đất có thể thực hiện quyền của mình trong việc khởi kiện, yêu cầu giải quyết tranh chấp về đất đai, khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai và quyền tố cáo các vi phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Luật Tố cáo năm
2011 quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết tố cáo Thông qua đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đất đai đã giải quyết được những
vướng mắc của đạo luật trước đó
Tuy nhiên, qua gần 6 năm triển khai thực hiện, văn bản pháp luật này cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Chính vì vậy, Quốc hội đã ban hành Luật số 25/2018/QH14 – Luật Tố cáo, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2019
1.2.2 Nội dung của pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình
Pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai là tổng hợp các quy định của pháp luật điều chỉnh nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo nhằm xử lý các hành vi vi phạm trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Pháp luật giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong tố cáo và giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai Hệ thống pháp luật giải quyết tố cáo trong
Trang 29lĩnh vực đất đai bao gồm các chế định cơ bản như: những quy định chung về nguyên tắc, đối tượng điều chỉnh; những quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo; những quy định về việc thực hiện các quyết định, kết luận xử lý tố cáo trong lĩnh vực đất đai… Những chế định này không chỉ được quy định trong Luật Tố cáo năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành, mà còn được quy định trong hệ thống pháp luật đất đai
Nội dung cơ bản của pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai gồm các quy định giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong lĩnh vực đất đai; tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan,
tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai; bảo vệ người tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo
Chủ thể thực hiện hành vi tố cáo chỉ có thể là cá nhân Các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố cáo gồm người tố cáo; người bị tố cáo và người giải quyết tố cáo
Đối tượng của quyền tố cáo trong lĩnh vực đất đai là những vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ về đất đai và những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai
Quy định về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào giải quyết tố cáo nhằm bảo đảm quyền tố cáo của công dân, bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo và bảo đảm những điều kiện cần thiết cho quá trình giải quyết đạt hiệu quả
Các quy định về thẩm quyền, trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong giải quyết tố cáo, các cơ quan quản lý công tác giải quyết tố cáo về đất đai và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết tố cáo Xác định đúng thẩm quyền, trách nhiệm, quyền hạn của các
Trang 30cơ quan, tổ chức trong giải quyết tố cáo nhằm đảm bảo giải quyết tố cáo chính xác, khách quan, đúng quy định
Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo bao gồm các quy định về trình tự, hình thức, thời hạn và nội dung các công việc từ tiếp nhận, xử lý thông tin và xác minh nội dung tố cáo đến việc hoàn tất hồ sơ, công bố kết luận nội dung
tố cáo, xử lý nội dung tố cáo
Các quy định về việc bảo vệ người tố cáo, gồm các đối tượng được bảo
vệ, các hình thức bảo vệ và quyền và nghĩa vụ của người được bảo vệ Những hành vi bị tố cáo nói chung và tố cáo về đất đai nói riêng là những hành vi thường nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích của người tố cáo và của toàn xã hội Chủ thể thực hiện quyền tố cáo phải chịu trách nhiệm về những thông tin tố cáo, thậm chí là trách nhiệm hình sự, vì vậy trong pháp luật về giải quyết tố cáo có những quy định về bảo vệ người tố cáo nhằm khuyến khích và bảo đảm quyền tố cáo của công dân
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai
1.2.3.1 Yếu tố chính trị
Tính giai cấp của pháp luật thể hiện ở chỗ pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị Pháp luật là sự cụ thể hóa ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là một trong những hình thức biểu hiện cụ thể của chính trị Đường lối, chính sách của giai cấp thống trị giữ vai trò chỉ đạo đối với pháp luật Với ý nghĩa đó, pháp luật nói chung và pháp luật về
tố cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng với những thuộc tính vốn có của mình đã trở thành một công cụ quản lý không thể thay thế được của Đảng
và nhà nước ta Trong đó, hình thức và hoạt động thực hiện pháp luật đất đai, pháp luật giải quyết tố cáo chính là sự hiện thực hóa vào thực tiễn ý chí của nhà nước Điều này xét về bản chất chính là ý chí của nhân dân lao động trong bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền và lợi ích của người sử dụng đất
Trang 31Ở Việt Nam, ý chí đó biểu hiện tập trung trong đường lối, chủ trương của Đảng Đảng cầm quyền lãnh đạo đối với bộ máy nhà nước, theo đó mọi chủ trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng luôn giữ vai trò chỉ đạo phương hướng xây dựng, nội dung, việc tổ chức thực hiện pháp luật, được Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa bằng những quy phạm pháp luật và được bảo đảm thực hiện Do đó, việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật phải luôn thấm nhuần các quan điểm thể hiện trong các đường lối, chủ trương của Đảng
để pháp luật luôn là phương tiện phản ánh đường lối, chủ trương của Đảng, là
sự thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội; là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội; là phương tiện để nhân dân phát huy dân chủ và quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
Để pháp luật nói chung và pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng luôn đạt hiệu quả thì không thể không nói đến những điều kiện chính trị nhất định Nếu tình hình chính trị trong nước ổn định, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và xác định tầm quan trọng của quyền tố cáo và việc giải quyết tố cáo trong công tác quản lý và sử dụng đất đai, xác định quyền sử dụng đất là quyền của công dân thì Đảng và Nhà nước sẽ lãnh đạo, chỉ đạo và có những quy định pháp luật phù hợp, hoàn thiện Ngược lại, nếu tình hình chính trị trong nước bất ổn; đường lối, quan điểm của Đảng về chính sách đất đai thiếu nhất quán, thiếu minh bạch, chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng và thực thi pháp luật Hiện nay, các điều kiện chính trị trong xã hội như
hệ thống chính trị xã hội ngày càng được củng cố và phát triển, sự khẳng định tính nhất quán xuyên suốt về chính sách đất đai trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước của Đảng đã được thể chế hóa vào Hiến pháp và pháp luật
là những nhân tố luôn hậu thuẫn tích cực, đảm bảo hiệu quả cho các quy định của pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai
1.2.3.2 Yếu tố điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Yếu tố điều kiện tự nhiên về vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên và môi
Trang 32trường có tác động rất lớn và trực tiếp đến quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật
Trong một quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thì cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định Do vậy, trong một quan hệ giữa các điều kiện kinh tế xã hội với pháp luật thì pháp luật ra đời, tồn tại và phát triển phải dựa trên nền tảng của kinh tế xã hội và phản ánh trình độ phát triển của kinh tế xã hội
Yếu tố kinh tế giữ vai trò quan trọng và tác động trực tiếp đến quá trình xây dựng và thực thi pháp luật Do vậy, một nền kinh tế xã hội phát triển năng động, bền vững, ổn định sẽ là điều kiện thuận lợi, quan trọng bậc nhất, tác động tích cực tới việc xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật Điều này cũng đồng nghĩa với việc nếu nền kinh tế chậm phát triển, thiếu tính năng động, xã hội lạc hậu, đời sống nhân dân khó khăn… sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai Vai trò của đất đai đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là vô cùng quan trọng Đất đai cũng
có ý nghĩa sống còn trong kinh tế nông nghiệp, trong việc đáp ứng nhu cầu của nhân dân về sử dụng đất, đặc biệt quyền sử dụng đất còn là hàng hóa trên thị trường bất động sản Chính vì vậy, quan hệ xã hội về đất đai luôn luôn được nhà nước và pháp luật quan tâm điều chỉnh và bảo đảm thi hành
Không những vậy, pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai là hành lang pháp lý tác động tích cực trở lại đối với sự phát triển kinh tế-xã hội Pháp luật cần luôn phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế-xã hội Nếu phản ánh không đúng thì sẽ có tác động tiêu cực, có thể kìm hãm sự phát triển kinh
tế xã hội cũng như không đảm bảo tính khả thi Do đó, trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng phải luôn gắn giữa lý luận với thực tiễn và xem xét đầy đủ mọi khía cạnh, điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể để xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp, đảm bảo tính khả thi
Trang 33Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã khái quát hóa, hệ thống hóa được: (i) Khái niệm, đặc điểm, phân loại tố cáo Trong đó, chỉ ra được khái niệm tố cáo, tố cáo trong lĩnh vực đất đai cùng với các đặc điểm của tố cáo để trên cơ sở đó phân biệt tố cáo với khiếu nại; tố cáo và tố giác tội phạm Đồng thời, tiến hành phân loại tố cáo
(ii) Nêu lên các quan niệm về giải quyết tố cáo và đặc điểm của giải quyết tố cáo Đồng thời, chỉ ra quan niệm về giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai và đặc điểm của giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
(iii) Nêu và phân tích các nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
(iv) Xác định những ý nghĩa của công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
(vi) Trình bày tổng quan pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai Trong đó nêu sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực
Trang 34đất đai; Nội dung của pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai; Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai như yếu tố chính trị; yếu tố điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Có thể nói, những kết quả nghiên cứu ở Chương 1 là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả triển khai việc nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, để từ đó có thể đưa ra các giải pháp kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng và trong cả nước nói chung
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO TRONG
LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
2.1 Qui định của pháp luật về giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết tố cáo
Tố cáo trong lĩnh vực đất đai có đặc điểm tương tự như tố cáo hành chính, do vậy, người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết tố cáo có các quyền và nghĩa vụ tương tự người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết tố cáo được quy định trong Luật Tố cáo năm 2011
2.1.1.1 Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo
Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo Với chủ thể này, Điều 9 Luật Tố cáo năm 2011 đã qui định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của người tố cáo Cụ thể là:
Về quyền của người tố cáo gồm:
(i) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
(ii) Được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của mình;
(iii) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo về việc thụ lý giải quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thông báo kết quả giải quyết tố cáo
(iv) Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết;
Trang 36(v) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập;
(vi) Được khen thưởng theo quy định của pháp luật
Bên cạnh các quyền cơ bản, người tố cáo cũng có các nghĩa vụ sau đây: (i) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;
(ii) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;
(iii) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình; (iv) Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra
2.1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo
Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo Điều
10 Luật Tố cáo năm 2011 đã qui định cụ thể quyền và nghĩa vụ của chủ thể này như sau:
Quyền của người bị tố cáo gồm có:
(i) Được thông báo về nội dung tố cáo;
(ii) Đưa ra chứng cứ để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật; (iii) Nhận thông báo kết luận nội dung tố cáo;
(iv) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý
tố cáo sai sự thật, người cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật;
(v) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được xin lỗi, cải chính công khai, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo, giải quyết tố cáo không đúng gây ra
Các nghĩa vụ của người bị tố cáo gồm có:
(i) Giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
(ii) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
Trang 37(iii) Bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra
2.1.1.3 Quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo
Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố
cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo Luật Tố cáo
năm 2011, tại Điều 11 cũng đã qui định cụ thể, chi tiết các quyền và nghĩa vụ của chủ thể này Theo đó:
Người giải quyết tố cáo có các quyền sau đây:
(i) Yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
(ii) Yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo; (iii) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
(iv) Tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ để giải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật; áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật;
(v) Kết luận về nội dung tố cáo;
(vi) Quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật
Người giải quyết tố cáo cũng phải đảm bảo thực thi các nghĩa vụ sau đây: (i) Bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải quyết tố cáo;
(ii) Áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp để bảo vệ người tố cáo, người thân thích của người tố cáo, người cung cấp thông tin có liên quan đến việc tố cáo;
(iii) Không tiết lộ thông tin gây bất lợi cho người bị tố cáo khi chưa có kết luận về nội dung tố cáo;
Trang 38(iv) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết tố cáo;
(v) Bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do hành vi giải quyết tố cáo trái pháp luật của mình gây ra
2.1.2 Điều kiện thụ lý đơn tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Luật Tố cáo năm 2011 quy định cụ thể về hình thức đơn tố cáo [22, Điều 19 :
1 Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp
2 Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo;
họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của
người giải quyết tố cáo
3 Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại việc tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định Trường hợp nhiều người đến
tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện để
trình bày nội dung tố cáo
Bên cạnh đó, Luật Tố cáo năm 2011 còn quy định về người có thẩm quyền không thụ lý giải quyết tố cáo trong các trường hợp sau đây [22, Điều
20, khoản 2 :
Một là, tố cáo về vụ việc đã được người đó giải quyết mà người tố cáo
không cung cấp thông tin, tình tiết mới;
Hai là, tố cáo về vụ việc mà nội dung và những thông tin người tố cáo
cung cấp không có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật;
Trang 39Ba là, tố cáo về vụ việc mà người có thẩm quyền giải quyết tố cáo không
đủ điều kiện để kiểm tra, xác minh hành vi vi phạm pháp luật, người vi phạm
2.1.3 Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Luật Tố cáo năm 2011 quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo (từ Điều 12 đến Điều 17) theo cơ quan quản lý cán bộ, công chức, gồm các nhóm
cơ quan: cơ quan quản lý hành chính nhà nước; cơ quan khác của nhà nước (Viện Kiểm sát; Tòa án; Kiểm toán; HĐND…); đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải
là cán bộ, công chức, viên chức
Đối với tố cáo, việc xác định thẩm quyền phải căn cứ vào các nguyên tắc được quy định tại Luật Tố cáo năm 2011 [22, Điều 12 như sau:
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công
vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công
vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan giải quyết
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công
vụ của cán bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự
Trang 402.1.4 Qui trình giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Căn cứ vào các quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 và Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định quy trình giải
quyết tố cáo, trình tự giải quyết tố cáo như sau:
2.1.4.1 Tiếp nhận tố cáo, xử lý thông tin tố cáo và kiểm tra điều kiện thụ lý tố cáo
Theo qui định của pháp luật hiện hành, khi nhận được tố cáo thì người giải quyết tố cáo có trách nhiệm phân loại và xử lý như sau:
Trường hợp 1: Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn tố cáo, phải kiểm tra, xác minh họ, tên, địa chỉ của người tố cáo và quyết định việc thụ lý hoặc không thụ
lý giải quyết tố cáo, đồng thời thông báo cho người tố cáo biết lý do việc không thụ lý, nếu có yêu cầu; trường hợp phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn kiểm tra, xác minh có thể dài hơn nhưng không quá 15 ngày;
Trường hợp 2: Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn tố cáo, người tiếp nhận phải chuyển đơn tố cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo, nếu có yêu cầu Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận tố cáo hướng dẫn người
tố cáo đến tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết
Người có thẩm quyền không thụ lý giải quyết tố cáo trong các trường hợp sau đây:
(i) Tố cáo về vụ việc đã được người đó giải quyết mà người tố cáo không cung cấp thông tin, tình tiết mới;
(ii) Tố cáo về vụ việc mà nội dung và những thông tin người tố cáo cung cấp không có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật;
(iii) Tố cáo về vụ việc mà người có thẩm quyền giải quyết tố cáo không