1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA VI PHẠM PHÁP LUẬT về môi TRƯỜNG TRONG LĨNH vực CÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn TỈNH VĨNH PHÚC

81 566 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 479,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: Những lí luận về vi phạm pháp luật môi trường tronglĩnh vực công nghiệp và hoạt động phòng ngừa vi phạm pháp luật môi trường trong lĩnh vực công nghiệp của lực lượng Cảnh sát m

Trang 1

NGUYỄN QUẢNG ĐẠI

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA

VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC

A

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Hµ néi – 2015

Trang 2

NGUYỄN QUẢNG ĐẠI

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA

VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Trinh sát phòng, chống tội phạm về môi trường

Mã số: 52860102

Người hướng dẫn khoa học:

GV: Tống Sơn Huy

Hµ néi – 2015

Trang 3

này là trung thực, chính xác và khách quan Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi

sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả khóa luận

Nguyễn Quảng Đại

Trang 4

CAND : Công an nhân dân

CTNH : Chất thải nguy hại

SXKD : Sản xuất kinh doanh

VPPL : Vi phạm pháp luật

Trang 5

Chương 1: Những lí luận về vi phạm pháp luật môi trường trong

lĩnh vực công nghiệp và hoạt động phòng ngừa vi phạm pháp luật môi trường trong lĩnh vực công nghiệp của lực lượng Cảnh sát môi trường

7

1.1 Nhận thức chung về công nghiệp và vi phạm pháp luật

môi trường trong lĩnh vực công nghiệp

7

1.2 Nhận thức lý luận và các biện pháp tiến hành hoạt động

phòng ngừa vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnhvực công nghiệp

12

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

phòng ngừa vi phạm pháp luật môi trường trong lĩnh vực công nghiệp của lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Vĩnh Phúc

26

2.1 Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực công nghiệp

trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

26

2.2 Thực trạng hoạt động phòng ngừavi phạm pháp luật môi

trường trong lĩnh vực công nghiệp của lực lượng CảnhSát môi trường tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

34

2.3 Những nhận xét, đánh giá về hoạt động phòng ngừa vi

phạm pháp luậ tmôi trường trong lĩnh vực công nghiệp trênđịa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

47

2.4 Dự báo tình hình liên quan đến hoạt động phòng ngừa vi

phạm pháp luật môi trường trong lĩnh vực công nghiệptheo chức năng của lực lượng Cảnh sát môi trườngVĩnhPhúc

54

2.5 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng

ngừa vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vựccông nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

59

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với cả nước, tỉnh Vĩnh Phúc đang trong quá trình phát triển mạnh

mẽ và là một trong những địa phương có nền công nghiệp phát triển nhất cảnước Tính đến năm 2013, tỉ trọng công nghiệp chiếm 60,39% trong cơ cấukinh tế của tỉnh, đến năm 2011 tỉnh Vĩnh Phúc đã thu hút được 681 dự ántrong đó có 127 dự án FDI với tổng số vốn đăng kí là hơn 2,4 tỷ USD và 554

dự án DDI với tổng số vốn đăng kí là 32.829,8 tỷ đồng

Sự phát triển công nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc phát triểnkinh tế xã hội của tỉnh, ngành công nghiệp của tỉnh đã thu hút và giải quyếtviệc làm cho hang chục ngàn lao động trên địa bàn tỉnh và các địa phương lâncận Đồng thời làm thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc theo hướngCNH-HĐH, nâng cao thu nhập và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân vàngười lao động

Tuy nhiên bên cạnh các yếu tố tích cực, thì quá trình phát triển côngnghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm qua đã và đang cónhững tác động tiêu cực đến môi trường làm ảnh hưởng tới sức khỏe củangười dân và điều kiện sống của các loài sinh vật.Tình trạng ô nhiễm môitrường và những VPPL về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực công nghiệpđang diễn phổ biến, gây ảnh hưởng tới đời sống nhân dân, bức xúc trong dưluận làm mất an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Tại nhiều khu côngnghiệp hiện nay vẫn chưa đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc cóđầu tư nhưng chỉ mang tính hình thức, đối phó với cơ quan chức năng Tìnhtrạng thải khí thải độc hại, chất thải rắn chưa qua xử lý ra môi trường vẫn diễn

ra nghiêm trọng, một số doanh nghiệp, cơ sở SXKD, làng nghề lợi dụng sơ hởthiếu sót trong công tác quản lý đã ngang nhiên thải bỏ chất thải rắn, chất thảinguy hại ra môi trường vào các lưu vực sông, khu vực vắng người Từ đó

Trang 7

dẫn đến môi trường nước tại nhiều lưu vực sông bị ô nhiễm, có nơi hàmlượng chất thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3 đến 5 lần Môi trường khôngkhí tại một số khu vực tập trung nhiều hoạt động sản xuất công nghiệp có hàmlượng bụi vượt tiêu chuẩn tới 7 lần, trong đó có chứa cả các khí thải độc hại.Nhiều bãi rác tự phát xuất hiện trên địa bàn tỉnh, gây ô nhiễm môi trường vàlàm ảnh hưởng tới người dân khu vực xung quanh.

Trong những năm qua, công tác phòng ngừa VPPL môi trường tronglĩnh vực công nghiệp đã được sự quan tâm chỉ đạo của các cơ quan chức năngtuy nhiên các hành viVPPL môi trường trong lĩnh vực công nghiệp vẫn khôngngừng diễn biến phức tạp Với thực tế đó lực lượng CSMTr Công an tỉnhVĩnh Phúc đã triển khai nhiều biện pháp nghiệp vụ để chủ động phòng ngừacác hành vi VPPL môi trường trong lĩnh vực công nghiệp Tuy vậy công tácphòng ngừa, điều tra xử lý các hành vi VPPL môi trường trong lĩnh vực côngnghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc còn gặp nhiều khó khăn hạn chế Sự phâncông, phân cấp chưa rõ ràng, chưa đồng bộ dẫn đến quản lý chồng chéo, bấtcập về cơ sở pháp lý; chế tài xử lý vi phạm chưa đủ tính chất răn đe, VPPLmôi trường trong lĩnh vực công nghiệp vẫn còn xảy ra nhiều, gây thiệt hại vềkinh tế và ảnh hường tới sức khỏe của người dân Do đó, chủ động phòngngừa để hạn chế các hành vi VPPL môi trường có vai trò quyết định, có tácdụng rất lớn để hạn chế hậu quả thiệt hại xảy ra, đảm bảo các quy định vềBVMT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúcđược thực thi có hiệu quả

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, việc chủ động phòngngừa VPPL môi trường trong lĩnh vực công nghiệp tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

là một yêu cầu cấp thiết.Vì vậy, việc nghiên cứu khóa luận: “ Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa vi phạm pháp luật môi trường trong lĩnh vực công nghiệp theo chức năng của lực lượng Cảnh sát môi trường trên

Trang 8

địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc ” làm khóa luận tốt nghiệp là cần thiết và phù hợp về cả

yêu cầu lý luận, cũng như thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu khóa luận

Hiện nay, công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực công nghiệp đãđược nhiều nhà khoa học quan tâm Trong thời gian qua đã có một số công trìnhkhoa học nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên hoạt động phòng ngừa VPPLtrong lĩnh vực công nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc theo chức năng của lực lưọngCSMTr là một trong những vấn đề mới cả về lí luận và thực tiễn Tính đến thờiđiểm hiện nay đã có một số công trình nghiêncứu vềcông tác phòng ngừa VPPLmôi trường trong lĩnh vực công nghiệpở các góc độ khác nhau như:

-Lê Quang Đồng (2013), “Thực trạng và giải pháp nâng cao hoạt

động kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật môi trường tại các khu công nghiệp theo chức năng của lực lượng Cảnh sát môi trường”, luận án thạc sĩ, Học

viện CSND

-Nguyễn Quang Huy (2011), “ Hoạt động phòng ngừa tội phạm và

vi phạm pháp luật về môi trường trong các khu công nghiệp theo chức năng của lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường trên địa bàn Hải Phòng”, luận văn thạc sĩ luật học, Học viện CSND

Dưới góc độ là chủ thể chuyên trách – Cảnh sát PCTP môi trường trongphòng ngừa VPPL môi trường trong lĩnh vực công nghiệp theo chức năng củalực lượng Cảnh sát PCTP môi trường Công an tỉnh Vĩnh Phúc thì chưa cócông trình khoa học nào nghiên cứu một cách trực tiếp và toàn diện về đề tàinày dưới góc độ pháp lý trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận

- Mục đích nghiên cứu

+ Làm rõ những vấn đề lý luận về công tác phòng ngừa VPPL môitrường trong lĩnh vực công nghiệp

Trang 9

+ Khảo sát, đánh giá đúng tình trạng VPPL môi trường trong lĩnh vựccông nghiệp và thực trạng công tác phòng ngừa các VPPL môi trường tronglĩnh vực công nghiệptại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Tìm ra nguyên nhân, dự báo tình hình và đề xuất những giải phápgóp phần nâng cao hiệu quà công tác phòng ngừa các VPPL môi trường tronglĩnh vực công nghiệp tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

- Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Thu thập và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phòng ngừa VPPL

môi trường nói chung và phòng ngừa VPPL mỏi trường trong lĩnh vực côngnghiệp nói riêng

+ Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của công nghiệp ở Vĩnh Phúc

để tìm ra những ảnh hưởng đến VPPL môi trường

+ Thu thập, phân tích tình trạng VPPL môi trường, nguyên nhân, điềukiện của VPPL trong lĩnh vực công nghiệp tai địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, so sánhđối chiếu với tình trạng VPPL môi trường trong các lĩnh vực khác trên địabàn tỉnh Vĩnh Phúc

+ Phân tích làm rõ hoạt động phòng ngừa VPPL môi trường trong lĩnhvực công nghiệp của lực lượng CSMTr Vĩnh Phúc Từ đó làm rõ những tồntại và nguyên nhân nảy sinh những tồn tại đó

+ Trên cơ sở đánh giá tình trạng VPPL môi trường trong lĩnh vực côngnghiệp, những tồn tại hạn chế trong hoạt động phòng ngừa VPPL môi trườngđưa ra những giải pháp góp phần phòng ngừa VPPL môi trường trong lĩnhvực công nghiệp của lực lượng CSMTr - Công an Vĩnh Phúc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận từ hoạt động phòng ngừa VPPLmôi trường trong lĩnh vực công nghiệp theo chức năng của lực lượng CSMTrtại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

- Phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Khóa luận chỉ nghiên cứu trong phạm vi hoạt động phòng ngừa VPPL môitrường trong lĩnh vực công nghiệp tại các KCN, CCN thuộc chức năng của lựclượng CSMTr - Công an Vĩnh Phúc Thời gian khảo sát nghiên cứu: Từ năm

2011 đến năm 2014

5 Phương pháp nghiên cứu của khóa luận

Trong quá trình nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luậnphép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về phòng ngừa tội phạm

Nghiên cứu để tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụthể như: phương pháp tổng kết thực tiễn, thống kê tội phạm, nghiên cứukhảosát địa hình, hội thảo, tọa đàm, trao đổi, nghiên cứu các báo cáo sơ kết, tổngkết báo cáo chuyên đề về tình hình và kết quả công tác tổ chức phòng ngừacác VPPL môi trường trong lĩnh vực công nghiệp thuộc chức năng của lựclượng CSMTr - Công an tỉnh Vĩnh Phúc Bên cạnh đó sử dụng các tài liệu,báo cáo của các Bộ, Sở ngành có liên quan như Sở Tài nguyên môi và trườngVĩnh Phúc

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận

Kết quả nghiên cứu khóa luận bổ sung thêm vào hệ thống lý luận chung

về hoạt động phòng ngừa tội phạm VPPL môi trường trong lĩnh vực côngnghiệp của lực lượng CSMTr góp phần đảm bảo chất lượng, chăm lo sứckhỏe, đời sống nhân dân trong quá trình thực hiện công cuộc CNH - HĐH đấtnước Khóa luận có thề sử dụng để làm lài liệu tham khảo phục vụ cho côngtác nghiên cứu, giảng dạy trong các trường CAND

Kết quả nghiên cứu khóa luận có thể tham khảo áp dụng vào thực tiễngóp phần nâng cao hiệu quà hoạt động phòng ngừa VPPL môi trường tronglĩnh vực công nghiệp của lực lượng CSMTr - Công an tỉnh Vĩnh Phúc và một

số địa phương trong thời gian tới

Trang 11

Chương 1 NHỮNG LÍ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP VÀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA VI PHẠM PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT MÔI TRƯỜNG

1.1 Nhận thức chung về công nghiệp và vi phạm pháp luật môi trường trong lĩnh vực công nghiệp

1.1.1 Nhận thức về công nghiệp

Ở Việt Nam, ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công ngành côngnghiệp Việt Nam đã ra đời Trải qua 70 năm xây dựng và phát triển, dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, mỗi giai đoạn phát triển của côngnghiệp Việt Nam đều gắn liền với những bước tiến của cách mạng và lịch sử đấtnước Trong hoàn cảnh nào công nghiệp Việt Nam cũng có những đóng gópquan trọng cùng cả nước xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Sau giải phóngmiền Nam năm 1975, tại Đại hội Đảng lần thứ IV của Đảng năm 1976 đã xácđịnh nội dung chủ yếu của công nghiệp trong chặng đường trước mắt là:”Tậptrung sức phát triển công nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưanông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sảnxuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp quan trọng”,với mục tiêu đó cả nước cùng với ngành công nghiệp đã ra sức hoàn thành tốtmục tiêu Tuy vậy trong quá trình thực hiện, ngành công nghiệp Việt Nam vẫngặp nhiều khó khăn do sự chi phối của cơ chế bao cấp, chỉ sau Đại hội Đảng lầnthứ VI năm 1986, chủ trương đổi mới kinh tế trong đó có đổi mới phát triểncông nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa, ngành công nghiệp Việt Nam mới thực

sự mới có những bước tiến nhảy vọt, tốc độ và tỉ trọng ngày càng tăng mạnh, đặcbiệt giai đoạn 2001-2004 giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước đạt

Trang 12

15,6%/năm Cho đến nay thực hiện đường lối của Đảng, ngành công nghiệp đãđạt tốc độ tăng trưởng ổn định vượt qua những khó khăn và khủng hoảng kinh tếthế giới, ngành công nghiệp vẫn đóng góp vào ngân sách nhà nước hàng chục tỷUSD mỗi năm, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và nângcao đời sống của nhân dân…

Ở nước ta ngay từ năm 1966 tại quyết định 468-TCTK/CN của Tổng cục

Thống Kê đã quy định rõ khái niệm về công nghiệp, cụ thể như sau:” Công

nghiệp là một nghành sản xuất vật chất bao gồm các hoạt động khai thác của cải vật chất sẵn có trong thiên nhiên mà lao động của con người chưa tác động vào; hoạt động chế biến những sản phẩm đã khai thác và chế biến sản phẩm của nông nghiệp; hoạt động sửa chữa máy móc thiết bị và và vật phẩm tiêu dùng”.[25]

Trong từ điển tiếng Việt cũng quy định rõ:” Công nghiệp là một ngành

chủ đạo của kinh tế quốc dân, bao gồm các xí nghiệp khai thác chế biến nguyên vật liệu, nhiên liệu, chế tạo công cụ lao động và hang tiêu dùng, chế biến sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.”

Từ đó ta có thể định nghĩa về công nghiệp như sau :” Công nghiệp là một

bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được chế tạo, chế biến cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy của các tiến bộ về công nghệ, khoa học kĩ thuật.”

Như vậy, Công nghiệp là một vấn đề không hề mới cả về lý luận và thựctiễn ở nước ta Trong quá trình phát triển, công nghiệp đã có nhiều đóng gópquan trọng vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta; đã vàđang là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tăng khả năng thu hútvốn đầu tư trong và ngoài nước; nhận chuyển giao công nghệ mới, đẩy mạnh sảnxuất tăng nguồn hàng xuất khẩu; tạo việc làm và thu nhập cho người lao động;

Trang 13

việc phát triển công nghiệp theo quy hoạch, có chiến lược đã tránh được sự pháttriển tự phát, phân tán, tiết kiệm được đất và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư pháttriển hạ tầng, đặc biệt là góp phần hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường do chấtthải công nghiệp gây ra Vì vậy, trong quá trình tổ chức thực hiện đòi hỏi phải cóquá trình đánh giá tổng kết về mọi mặt hoạt động của công nghiệp cũng nhưnhững tác động của nó đối với tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn để có nhữngđiều chỉnh phù hợp nhằm phát triển kinh tế và đồng thời phải đảm bảo ổn địnhtrật tự xã hội, BVMT.

1.1.2.Vi phạm pháp luật môi trường trong lĩnh vực công nghiệp

Theo giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật, Đại học Luật HàNội đưa ra khái niệm: “Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi,

do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan

hệ xã hội được pháp luật bảo vệ” [20]

Theo giáo trình Môi trường và bảo vệ môi trường của Tổng cục Xâydựng lực lượng Công an nhân dân năm 2005 thì:Vi phạm pháp luật về môitrường là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về Bảo vệ môi trường,

do cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,xâm hại đến các quan hệ xã hội về quản lý Nhà nước về môi trường, khai thác

sử dụng và bảo vệ các yếu tố của môi trường ở mức độ đáng kể Hành vi đó

sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế hoặc các chế tài theo quy định củangành luật [23]

Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực công nghiệp thực chất là thực hiệnnhững nội dung quản lý nhà nước về BVMTtrong lĩnh vực công nghiệp.Những hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước trong quản lý, bảo vệ môitrường trong lĩnh vực công nghiệp chính là những hành vi vi phạm các quyđịnh của pháp luật về BVMT Những hành vi này được thực hiện bởi các cơ

Trang 14

quan, tổ chức hay một cá nhân một cách cố ý hay vô ý Như vậy, có thể hiểuVPPL về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp như sau:

Vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp là hành vicủa các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức hay cá nhân thực hiện một cách cố ýhoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ môi trườngtrong lĩnh vực công nghiệp và theo quy định của pháp luật, chủ thể vi phạm sẽ bị

áp dụng các biện pháp cưỡng chế do chế tài của ngành luật quy định

- Pháp luật Hành chính:

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT là hành vi nguy hiểm cho xã hội

vi phạm các qưy định quản lý nhà nước về BVMT nhưng chưa đến mức truy cứutrách nhiệm hình sự

Theo nghị định 179/2013/NĐ-CP thì các vi phạm hành chính trong lĩnhvực BVMT bao gồm:

+ Các hành vi vi phạm các quy định về cam kết bảo vệ môi trường, báocáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường;

+ Các hành vi gây ô nhiễm môi trường;

+ Các hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải;

+ Các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạtđộng nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyênliệu, nhiên liệu, vật liệu, phế liệu, chế phẩm sinh học;

+ Các hành vi vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắcphục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường;

+ Các hành vi cản trở hoạt động quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra,

xử phạt vi phạm hành chính và các hành vi vi phạm quy định khác về bảo vệmôi trường.[12]

- Tội phạm về môi truờng theo pháp luật hình sự:

Điều 8 - BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội phạm:

Trang 15

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luậthình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ýhoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổquốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, anninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạmtính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi íchhợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự phápluật xã hội chủ nghĩa

Tội phạm về môi trường là những hành vi nguy hiểm cho xã hội đượcquy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiệnmột cách cố ý hoặc vô ý xâm hại tới các quan hệ xã hội về giữ gìn, bảo vệmôi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm đảm bảo môitrường sống an toàn cho con người và sinh vật

- Từ những phân tích trên và trên cơ sở quy định về tội phạm tại Điều 8

- BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 ta có thể đưa ra khái niệm về tộiphạm về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp như sau:

Tội phạm về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp là những hành vinguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có nănglực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vàocác quy định của Nhà nước trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường tronglĩnh vực công nghiệp gây ô nhiễm môi trường, gây hại cho sức khỏe, tínhmạng của mỗi con người và theo nguyên tắc phải bị xử lý theo quy định củapháp luật hình sự tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậuquả của nó gây ra

Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có những điều luật sau quy định về tộiphạm và hình phạt trong quản lý, bảo vệ môi trường trong lĩnh vực công nghiệp:

Điều 182.Tội gây ô nhiễm môi trường

Điều 182a.Tội vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại

Trang 16

Điều 182b Tội vi phạm các quy định về phòng ngừa, ứng phó sự cốmôi trường.

Điều 185.Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam.[6]

Như vậy, khi xem xét ở góc độ tội phạm hình sự, các tội phạm và hìnhphạt có liên quan đến tội phạm về môi trường trong quản lý, bảo vệ môitrường trong lĩnh vực công nghiệp gồm 04 Điều, được quy định tại chươngXVII của BLHS năm 1999

- Trong phạm vi của khóa luận chúng tôi chỉ xin nêu các dấu hiệu pháp

lý chung của tội phạm về môi trường trong quản lý, bảo vệ môi trường tronglĩnh vực công nghiệp:

+ Khách thể: Những tội phạm này xâm phạm vào các quy định của Nhànước về bảo vệ môi trường

+ Mặt khách quan: Tội phạm thể hiện ở hành vi nguy hiểm cho xã hội,gây ô nhiễm môi trường, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho tínhmạng, sức khỏe của con người và môi trường sinh thái

+ Chủ thể của tội phạm: Tội phạm được thực hiện bởi bất kỳ người nào

có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định

+ Mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện bởi lỗi cố ý hoặc vô ý, động

cơ mục đích chủ yếu là vì vụ lợi hoặc vì lý do cá nhân khác nhưng không phải

là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm

1.2 Nhận thức lý luận và các biện pháp tiến hành hoạt động phòng ngừa vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp

1.2.1 Khái niệm, nhiệm vụ hoạt động phòng ngừa vi phạm pháp luật

về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm

Phòng ngừa được đề cập trong hoạt động của nhiều lĩnh vực, trong lĩnhvực đấu tranh phòng, chống tội phạm thì phòng ngừa được hiểu là hệ thốngcác biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm khắc phục nguyên nhân và điều

Trang 17

kiện làm phát sinh tội phạm Phòng ngừa tội phạm là tư tưởng chỉ đạo trongđấu tranh phòng, chống tội phạm, bao gồm các hình thức và biện pháp đuợcthực hiện nhằm ngăn ngừa không để tội phạm xảy ra, nếu tội phạm xảy ra thìphải hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả, tác hại do tội phạm gây ra.

Phòng ngừa VPPL về BVMT trong lĩnh vực công nghiệp là một bộphận của công tác phòng ngừa tội phạm và các VPPL nói chung Dưới góc

độ nghiên cứu của Tội phạm học thì phòng ngừa tội phạm được hiểu là tổngthể các biện pháp do các Cơ quan, tổ chức và mọi công dân tiến hành nhằmtác động vào các yếu tố phát sinh tội phạm nhằm ngăn chặn và loại trừ tộiphạm ra khỏi đời sống xã hội

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam năm 2005 tập 3 thì phòngngừa tội phạm được hiểu là: "Phòng ngừa tội phạm là hệ thống các biệnphápcủa Nhà nước và của xã hội nhằm để phòng và ngăn ngừa tội phạm, tìm

ra nguyên nhân phát sinh tội phạm và áp dụng các biện pháp loại trừ tộiphạm ”.[16]

Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân năm 2005 thì phòng ngừatội phạm là: “Phòng ngừa tội phạm là hệ thống các biện pháp của Nhà nước

và cùa xã hội nhằm chủ động ngăn chặn không cho tội phạmxảy ra Nếu cótội phạm xảy ra thì phải kịp thời phát hiện; xử lý đúng người, đúng tội, đúngpháp luật Tiến hành cải tạo, giáo dục người phạm tội thành công dân có íchcho xã hội "[17]

Tổng hợp các quan điểm trên và nghiên cứu trong lĩnh vực BVMT, tácgiả đưa ra quan điểm về phòng ngừa VPPL môi trường trong lĩnh vực công

nghiệp như sau: Phòng ngừa VPPL môi trường trong lĩnh vực công nghiệp

là hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân nhằm tìm ra các nguyên nhân, điểu kiện phát sinh; áp dụng các biện pháp ngăn

Trang 18

chặn loại trừ VPPL môi trường trong lĩnh vực công nghiệp ra khỏi đời sống

xã hội.

1.2.1.2 Nhiệm vụ

Công tác phòng ngừa VPPL trong quản lý, bảo vệ môi trường tronglĩnh vực công nghiệp của lực lượng Cảnh Sát PCTP về môi trường là quátrình lực lượng Cảnh Sát PCTP về môi trường từ trung ương đến địa phương

sử dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm phòng ngừa, pháthiện, điều tra, xử lý, các hành vi VPPL trong quản lý, bảo vệ môi trườngtrong lĩnh vực công nghiệp của các tổ chức, cá nhân

Xem xét mục đích phòng ngừa VPPL trong quản lý, bảo vệ môi trườngtrong lĩnh vực công nghiệp có thể khái quát các nhiệm vụ cụ thể sau:

Một là: Nghiên cứu làm rõ về tình hình VPPL về môi trường, nguyên

nhân, điều kiện của tình trạng VPPL trong quản lý, bảo vệ môi trường tronglĩnh vực công nghiệp

Hai là: Xóa bỏ các nguyên nhân, điều kiện VPPL.

Ba là: Xây dựng các biện pháp phòng ngừa VPPL trong quản lý, bảo vệ

môi trường trong lĩnh vực công nghiệp

Bốn là: Tổ chức tiến hành các hoạt động phòng ngừa VPPL trong quản

lý, bảo vệ môi trườngtrong lĩnh vực công nghiệp

Năm là: Đấu tranh có hiệu quả với VPPL về môi trường nói chung và

trong quản lý, bảo vệ môi trường trong lĩnh vực công nghiệp nói riêng

1.2.2 Cơ sở pháp lí của hoạt động phòng ngừa vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp

Phòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường trong lĩnh vực côngnghiệp được các lực lượng chức năng tiến hành trên cơ sở các quy định củaHiến pháp và pháp luật Có thể xem xét cơ sở pháp lý của hoạt động phòng

Trang 19

ngừa tội phạm và VPPL về môi trường trong lĩnh vực công nghiệptheo nhữngphương diện sau đây:

Hệ thống các văn bản pháp luật là cơ sở pháp lý của hoạt động phòngngừa tội phạm và VPPL về môi trường tronglĩnh vực công nghiệp bao gồmcác quy định của Hiến pháp, quy định của các văn bản luật, các nghị định củaChính phủ, Thông tư của các Bộ, ban, ngành có liên quan.Bao gồm:

+ Hiến pháp năm 2013, Điều 29 quy định: "Cơ quan nhà nước, đơn

vị vũ trang, đơn vị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thựchiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

và BVMT Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên, hủy hoạimôi trường".[5]

+ Luật BVMT năm 2014 tại Điều 65, 66, 67, 68 quy định về BVMTđối với, khu kinh tế, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, khucông nghệ cao, các cơ sở SXKD dịch vụ… như sau: Ban quản lý khu côngnghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, chủ các cơ sở SXKD phốihợp với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tổ chứckiểm tra hoạt động về bảo vệ môi trường; báo cáo về hoạt động bảo vệ môitrường tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao theo quy địnhcủa pháp luật; ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao,các cơ sở SXKD phải có bộ phận chuyên trách về bảo vệ môi trường; chủ đầu

tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu côngnghệ cao, chủ các cơ sở SXKD phải bảo đảm các yêu cầu sau:

Quy hoạch các khu chức năng, các loại hình hoạt động phải phù hợpvới các hoạt động bảo vệ môi trường;

Đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹthuật môi trường và có hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục; có thiết

bị đo lưu lượng nước thải;

Trang 20

Bố trí bộ phận chuyên môn phù hợp để thực hiện nhiệm vụ bảo vệmôi trường.[9]

+ Bộ Luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tạiChương XVII quy định các tội phạm về môi trường Trong đó, có 11 tộidanh về môi trường được quy định dùng làm cơ sở, căn cứ cho công tácphòng ngừa, đấu tranh, phát hiện và xử lý các tội phạm về môi trường.[6]

+ Bộ Luật tố tụng hình sự, Điều 26, quy định: “trong phạm vi tráchnhiệm của mình các cơ quan Nhà nước phải áp dụng mọi biện pháp phòngngừa tội phạm; phối hợp với các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa ántrong việc phòng ngừa và chống tội phạm ”.[7]

+ Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2009 quyđịnh quyền hạn của lực lượng Cảnh sát nhân dân nói chung và Cảnh sát PCTP

về môi trường nói riêng trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm và hành

vi VPPL về môi trường.[15]

Bên cạnh các quy định của pháp luật là cơ sở pháp lý cho công tácphòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường trong lĩnh vực côngnghiệpcòn có hệ thống các quy định trong các Nghị định, Thông tư, điểnhình như: Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày

22 tháng 4 năm 2003 về việc phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sởgây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”; Nghị định số19/2015/NĐ-CPngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều củaLuật BVMT năm 2014; Nghị định số 179/2013/ NĐ-CP của Chính phủ về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường; Thông tư liên tịch

số 02/2009/ TTLT- BCA- BTNMT ngày 06/02/2009 của Bộ Công an và

Bộ TNMT về hướng dẫn mối quan hệ phối hợp công tác phòng, chống tộiphạm và VPPL về BVMT; Nghị định số 72/2010/NĐ-CP ngày 8/7/2010 củaChính phủ thì Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm và VPPL về môi

Trang 21

trường là lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường thuộc ngành Công an; Nghịđịnh số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ Quy định về đánh giámôi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết BVMT; Thông

tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ Tài nguyên và Môitrường Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CPngày 18/4/2011 của Chính phủ về đánh giá môi trường chiến lược, đánhgiá tác động môi trường, cam kết BVMT

Bên cạnh các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn trong phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và VPPL về môitrường còn có các quy định của Bộ Công an về chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường Điển hình như:Quyết định số 449/QĐ-BCA ngày 04 tháng 02 năm 2010 của Bộ trưởng

Bộ Công an quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chứccủa Cục Cảnh sát PCTP về môi trường; Quyết định số 10955/QĐ-X11ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Tổng Cục trưởng Tổng Cục Xây dựnglực lượng CAND quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổchức bộ máy của Phòng Cảnh sát PCTP về môi trường thuộc Công an cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Các Thông tư số 18, 19, 20, 21,22/2013-TT/BCA của Bộ Trưởng Bộ Công an năm 2013 quy định vềcông tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong đó cólực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường

1.2.3 Các biện pháp tiến hành hoạt động phòng ngừa vi phạm pháp luật môi trường trong lĩnh vực công nghiệp

1.2.3.1 Phòng ngừa xã hội

Sử dụng các biện pháp phòng ngừa xã hội trong phòng ngừa tội phạm

và VPPL về môi trường là sử dụng tổng hợp các biện pháp về chính trị, kinh

tế, văn hóa, pháp luật, giáo dục, được thực hiện trong quá trình xây dựng và

Trang 22

phát triển mọi mặt của đời sống xã hội Bản chất đó là quá trình giải quyếtnhững mâu thuẫn xã hội, các vấn đề khó khăn phức tạp, khắc phục nhữngnhược điểm thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước và xã hội Quá trìnhnày tạo ra những tiền đề về vật chất, tư tưởng, tinh thần nhằm xóa bỏ nhữngnguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm và các VPPL về môitrường.Trong hoạt động phòng ngừa xã hội đối với tội phạm và VPPL về môitrường trong lĩnh vực công nghiệp với chức năng và nhiệm vụ được giao lựclượng Cảnh sát PCTP về môi trường cần tập trung thực hiện tốt các nội dung cụthể sau:

Thứ nhất, tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền về các biện pháp

BVMT, phòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường nói chung và trong lĩnhvực công nghiệp nói riêng

Thứ hai, vận động quần chúng, công nhân viên, những người đang hoạt

động trong lĩnh vực công nghiệp tham gia BVMT, tuân thủ các quy định củapháp luật về BVMT, tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm và VPPL vềmôi trường

Thứ ba, phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức tuyên truyền giáo

dục pháp luật về BVMT cho cá nhân, tổ chức, người lao động, đầu tư sảnxuất, kinh doanh dịch vụ, làm việc trong lĩnh vực công nghiệp

Thứ tư,thanh tra, kiểm tra việc chấp hành những quy định của pháp luật

về BVMT trong lĩnh vực công nghiệp

1.2.3.2 Phòng ngừa nghiệp vụ

Sử dụng các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ là việc áp dụng các biện phápmang tính đặc trưng, chuyên môn của từng ngành, từng lực lượng để tập trungphòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường nói chung, phòng ngừa nhóm hành

vi và từng hành vi vi phạm cụ thể

Trang 23

Đối với lĩnh vực công nghiệp, công tác phòng ngừa nghiệp vụ về môitrường do lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường tiến hành được chia thành hainhóm biện pháp cụ thể sau:

Một là, các hoạt động phòng ngừa do lực lượng Cảnh sát PCTP về môi

trường là cơ quan chuyên trách trong đấu tranh phòng chống tội phạm, VPPL môitrường trong lĩnh vực công nghiệp Lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường vừa

có trách nhiệm trực tiếp tiến hành các hoạt động nghiệp vụ trinh sát như: Công tácđiều tra cơ bản, Công tác sưu tra; xác minh hiềm nghi; đấu tranh chuyên án côngtác xây dựng và sử dụng CTVBM Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, tácgiả nghiên cứu, khảo sát từ năm 2011 đến năm 2014, theo đó phân tích công tácNVCB của lực lượng CSND theo Chỉ thị số 02/CT-BCA-C41 của Bộ trưởng BộCông an ngày 01 tháng 4 năm 2013 về việc tập trung chấn chỉnh, nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác NVCB của lực lượng CSND trong tình hình mới và cácThông tư 18, 19, 20, 21, 22 - TT/BCA của Bộ trưởng Bộ Công an năm 2013

Công tác điều tra cơ bản: Tiến hành công tác ĐTCB, nắm tình hình là cơ

sở quan trọng để xác định hệ loại đối tượng; nắm vững tuyến, địa bàn, lĩnh vựctrọng điểm, phức tạp về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp; phát hiện việc,hiện tượng, con người có liên quan đến hoạt động phòng ngừa tội phạm và VPPL

về môi trường trong lĩnh vực này Khi tiến hành hoạt động này, cần nắm vữngtình hình kinh tế - chính trị - xã hội có liên quan, tập trung vào những tổ chức, cánhân, doanh nghiệp, cơ sở SXKD, dịch vụ, nhóm nghề phức tạp có nguy cơ caoxảy ra các VPPL về môi trường Từ đó, làm cơ sở đề ra các chủ trương, kế hoạch;tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền, lãnh đạo Bộ Công an và các cơquan chức năng có liên quan các biện pháp phòng ngừa thích hợp

Công tác sưu tra: lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường tiến hành hoạtđộng sưu tra đối tượng tội phạm và VPPL về môi trường trong lĩnh vực côngnghiệp Công tác ST tập trung điều tra, nghiên cứu đối với những người đã có

Trang 24

tiền án, tiền sự, có điều kiện, khả năng phạm tội hoặc không có tiền án, tiền sựnhưng có biểu hiện nghi vấn thực hiện tội phạm và VPPL về môi trường Trên

cơ sở đó có biện pháp phòng ngừa phù hợp, nhằm xóa bỏ nguyên nhân, điềukiện phạm tội ở các đối tượng trên

Xác minh hiềm nghi: Xác lập hiềm nghi về người, hiềm nghi về việc,hiện tượng trong lĩnh vực công nghiệp để tiến hành xác minh làm rõ các hành

vi, dấu hiệu có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội, tính chất mức độ củahành vi có liên quan đến đối tượng hiềm nghi đang xác minh, nhằm kịp thờiphòng ngừa các hành vi xâm hại đến môi trường trong lĩnh vực này

Công tác xây dựng, sử dụng công tác viên bí mật: công tác xây dựng và

sử dụng CTVBM của lực lượng CSND để tăng cường công tác nắm tình hình,phát huy các khả năng của các thành phần xã hội tham gia sự nghiệp bảo vệ trật

tự an toàn xã hội Lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường tiến hành xây dựng

và sử dụng CTVBM trong công tác đấu tranh PCTP và VPPL về môi trườngtrong lĩnh vực công nghiệp Đây là hoạt động rất cần thiết để thực hiện có hiệuquả các hoạt động phòng ngừa VPPL về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp.Cộng tác viên bí mật của lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường bao gồm: đặctình, cơ sở bí mật, cộng tác viên danh dự, người quản lý hộp thư bí mật

Lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường tuyển chọn, tổ chức hoạtđộng chặt chẽ theo quy định của pháp luật nhằm thu thập những thông tin, tàiliệu phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và VPPL về môitrường trong lĩnh vực công nghiệp

Công tác đấu tranh chuyên án: công tác đấu tranh chuyên án của lựclượng CSND là hoạt động điều tra trinh sát được thực hiện bởi việc sử dụngđồng bộ các lực lượng, phương tiện, biện pháp, chiến thuật nghiệp vụ dưới sựchỉ đạo tập trung, thống nhất nhằm ngăn chặn, khám phá và có biện pháp xử lý

Trang 25

kịp thời, có hiệu quả những đối tượng phạm tội nguy hiểm trong những trườnghợp phức tạp.

Hai là, phối hợp với các lực lượng khác tiến hành các hoạt động phòng

ngừa tội phạm và VPPL về môi trường như: Lực lượng Cảnh sát điều tra tộiphạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, lực lượng Cảnh sát quản lý hànhchính về trật tự xã hội, cơ quan cảnh sát điều tra trong hoạt động trao đổi,cung cấp thông tin về tội phạm và VPPL về môi trường trong lĩnh vực côngnghiệp, từ đó nhằm phát hiện nguyên nhân điều kiện phát sinh các hành viVPPL môi trường trong lĩnh vực công nghiệp để có kế hoạch phòng ngừa toàndiện và mang tính khả thi cao

1.2.3.3.Quan hệ phối hợp trong hoạt động phòng ngừa tội phạm và vi

phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp

Lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường được xác định là lực lượngnòng cốt, xung kích trong công tác phòng ngừa VPPL về môi trường nóichung, tội phạm và VPPL về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp nóiriêng Do đó, công tác này được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ giữalực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường với các lực lượng khác trong vàngoài ngành Công an Trong công tác phòng ngừa tội phạm và VPPL về môitrường trong lĩnh vực công nghiệplực lượng Cảnh sát PCTP về môi trườngphối hợp với các cơ quan khác theo các nội dung sau:

Một là, phối hợp trao đổi thông tin liên quan đến các hoạt động tội

phạm và VPPL về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp, chủ yếu là nhữngthông tin về các vụ việc xảy ra, phương thức thủ đoạn cũng như quy luật hoạtđộng của các đối tượng trong thực hiện hành vi vi phạm góp phần giúp lựclượng CSMTr phát hiện nhanh các hành vi vi phạm, kịp thời có biện phápngăn chặn và xử lí

Hai là, phối hợp triển khai kế hoạch phòng ngừa vi phạm như: các hoạt

động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; thanh tra, kiểm tra VPPL

Trang 26

nhằm răn đe, xử lý và phòng ngừa hành vi vi phạm có thể xảy ra; tổng kết rútkinh nghiệm, nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa; phối hợp tổ chức cáclớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về môi trường, kiến thức về nghiệp vụchuyên môn… nâng cao năng lực công tác.

Ba là, phối hợp trong giải quyết từng vụ việc cụ thể để đạt hiệu quả cao.

Trên cơ sở các nội dung quan hệ phối hợp đó, tùy từng nội dung, từng

vụ việc cụ thể, theo chức năng, thẩm quyền của mỗi cơ quan, đơn vị mà quan

hệ phối hợp được thực hiện với những nội dung phù hợp

Quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường với các lực lượng khác trong ngành Công an

Phòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trườngtrong lĩnh vực côngnghiệp là hoạt động trong lĩnh vực cụ thể, có ý nghĩa rất lớn trong công tácPCTP và VPPL về môi trường Lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường là lựclượng mới, căn cứ vào Quyết định số 499/QĐ-BCA quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Cảnh sát PCTP về môi trường cònnhiều hạn chế so với các cơ quan điều tra khác Bên cạnh đó, tội phạm vàVPPL về môi trường nói chung diễn ra phổ biến, trên phạm vi rộng, đặc biệt tộiphạm và VPPL về môi trườngtrong lĩnh vực công nghiệp có xu hướng diễnbiến phức tạp, với nhiều phương thức, hoạt động tinh vi… Giải quyết vấn đềnày, nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng ngừa tội phạm và VPPL về môitrườngtrong lĩnh vực công nghiệp, lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trườngcần phối hợp chặt chẽ với các lực lượng nghiệp vụ khác như: lực lượng Cảnhsát điều tra tội phạm về kinh tế; Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội;Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; lực lượng kỹ thuật hình sự; cácđơn vị quản lý tàng thư, thông tin nghiệp vụ Cảnh sát; lực lượng Công an địaphương như Công an phường, Công an xã…

Trang 27

Quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường với các lực lượng khác ngoài ngành Công an

Đối với các lực lượng khác ngoài ngành Công an có liên quan đến côngtác BVMT như: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương lực lượngCảnh sát PCTP về môi trường cần có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất trongcác hoạt động kiểm tra, phát hiện và xử lý những VPPL về môi trường tronglĩnh vực công nghiệp; xác định những địa bàn trọng điểm, những vi phạm cótính chất điển hình; tham mưu với Giám đốc Công an tỉnh có văn bản đề nghịUBND tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng kiên quyết xử lý và xử lý triệt để các

cá nhân, tổ chức , doanh nghiệp, cơ sở SXKD cố tình vi phạm

Nội dung phối hợp bao gồm:

Phối hợp nắm tình hình, trao đổi, tiếp nhận thông tin về tội phạm vàVPPL về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp, kết quả xử lý và các thôngtin tài liệu khác

Phối hợp thanh tra, xử lý VPPL về môi trường lĩnh vực công nghiệp.Trong một số trường hợp, cơ quan chuyên ngành có thể đề nghị lực lượngCảnh sát PCTP về môi trường tham gia các đoàn thanh tra về môi trường,

hỗ trợ phương tiện, kỹ thuật Ngược lại, trong trường hợp cần thiết, lựclượng Cảnh sát PCTP về môi trường có thể đề nghị cơ quan thanh trachuyên ngành thành lập đoàn thanh tra liên ngành về BVMT

Phối hợp rà soát, đề xuất cấp có thẩm quyền xây dựng, bổ sung, sửa đổicác văn bản quy phạm pháp luật; đề xuất sửa đổi, bổ sung các tiêu chuẩn, quychuẩn kỹ thuật về môi trường; triển khai thực hiện các dự án, đề tài nghiêncứu, đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và đầu tư trang thiết bị, kiến thứckhoa học kỹ thuật, sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường

Phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về BVMT trong các

cơ quan, tổ chức và quần chúng nhân dân; tổng hợp, thông báo tình hình VPPL

Trang 28

về môi trườngtrong lĩnh vực công nghiệpđề xuất biện pháp khắc phục và côngkhai cho nhân dân biết để cùng phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện.

Phối hợp trong bảo đảm yêu cầu BVMT trong chiến lược, quy hoạchtổng thể và kế hoạch phát triển công nghiệp; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm traviệc thực hiện pháp luật BVMT, xử lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh, cánhân, tổ chức đang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp có hành vi vi phạm.Phối hợp với chính quyền địa phương trong công tác ĐTCB, nắm tình hình, thanhtra, kiểm tra các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, các cơ sở SXKD

Trang 29

Kết luận chương I

Chương I của khóa luận đã trình bày về hệ thống các lí luận và nhậnthức về VPPL về môi trường và công tác phòng ngừa VPPL về môitrườngtrong lĩnh vực công nghiệp Đồng thời tác giả đã trình bày tương đối cơbản về hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam đối với lĩnh vực côngnghiệp, cũng như chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công nghiệp vàphát triển công nghiệp

Trên cơ sở đókhóa luận đưa ra các biện pháp phòng ngừa VPPL môitrườngtrong lĩnh vực công nghiệp, cũng như mối quan hệ phối hợp của hoạtđộng phòng ngừa giữa các lực lượng trong và ngoài ngành Công an Bên cạnh

đó cũng chỉ ra ngyên nhân nảy sinh VPPL về môi trườngtrong lĩnh vực côngnghiệp, cũng như những nguyên nhân của những khó khăn trở ngại trong quátrình thực hiện các hoạt động phòng ngừa VPPL môi trường trong lĩnh vựccông nghiệp của lực lượng CSMTr và các lực lượng có liên quan Từ đó nêu

rõ phòng ngừa VPPL môi trường trong lĩnh vực công nghiệp là trách nhiệmcủa toàn xã hội, trong đó lực lượng CSMTr là lực lượng nòng cốt Để côngtác phòng ngừa có hiệu quả, lực lượng CSMTr tiến hành đồng thời các biệnpháp, phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ và phối hợp chặt chẽ vớicác ban ngành có liên quan

Những vẫn đề trên là cơ sở cho việc nghiên cứu, phân tích, đánh giáthực trạng VPPL môi truờngtrong lĩnh vực công nghiệpcũng như việc đề racác giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm và các VPPL

về môi trườngtrong lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúccủa lựclượng CSMTr Công an tỉnh Vĩnh Phúc ở chương II

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA VI PHẠM PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNGCÔNG AN

TỈNH VĨNH PHÚC 2.1 Thực trạngvi phạm pháp luậttronglĩnh vực công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên- kinh tế- xã hội trên địa bàn có liên quan đến vi phạm pháp luật môi trường trong lĩnh vực công nghiệp

Vĩnh Phúc là một tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế nằm trong vùngđồng bằng châu thổ Sông Hồng và là cửa ngõ phía tây bắc của thủ đô Hà Nội, đồngthời Vĩnh Phúc còn là một trong tám tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía bắccủa cả nước Vĩnh Phúc có tổng diện tích tự nhiên là 1.231 km2, Phía tây giáp tỉnhTuyên Quang; phía Đông Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên; phía Đông Nam giáp thủ đô

Hà Nội; phía nam giáp tỉnh Hà Tây cũ; phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ

Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính trong đó có: 1 thành phố, 1 thị xã và 7huyện lị, 137 xã, phường, thị trấn với tổng số dân là 1.027.000 người và mật độ dân

số khoảng 831 người/km2

Địa hình tỉnh Vĩnh Phúc mang nhiều đặc trưng cơ bản, gồm có: đồng bằng,trung du và miền núi, trong đó diện tích đồng bằng chiếm khoảng 1/3 diện tích toàntỉnh Bên cạnh đó Vĩnh Phúc còn có nhiều tuyến giao thông quốc gia như: tuyếnđường cao tốc Nội Bài – Lào Cai; quốc lộ 2A Ngoài ra còn có các tuyến đường sắt,đường sông chạy qua và đặc biệt Vĩnh Phúc còn nằm gần sân bay quốc tế Nội Bàităng cường sự kết nối và lưu thông giữa Vĩnh Phúc với Hà Nội và Vĩnh Phúc với cácđịa phương khác trong cả nước

Hiện nay, chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc đang có nhiều chính sách mở cửa, ưuđãi và thu hút vốn đầu tư rất có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực mà đặc biệt là trong lĩnh

Trang 31

vực giải phóng mặt bằng và rút gọn các thủ tục hành chính tạo nên một môi trườngđầu tư rất tốt cho nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Bên cạnh đó phải kểđến cơ sơ vật chất kĩ thuật của tỉnh đang ngày càng được hoàn thiện mà đặc biệt làgiao thông vận tải, điện và các công trình kinh tế xã hội khác Nhiều tuyến đườngmới được xây dựng như tuyến đường 310, 312, 310B, 204, 212 Mạng lưới điệnđược đầu tư trạng bị hiện đại đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, nhiềutrạm điện được nâng cấp hoặc xây dựng như: trạm điện Hương Canh, Vĩnh Yên,Phúc Yên, Yên Lạc, Sông Lô

Với nhưng yếu tố nêu trên đã tạo nên cho Vĩnh Phúc những điều kiện vô cùngthuận lợi để phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng Hiệnnay, theo kế hoạch phát triển công nghiệp của tỉnh tầm nhìn đến năm 2020, tỉ

lệ công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh sẽ chiếm 70%, dự kiến trên toàntỉnh sẽ có khỏang 20 KCN với diện tich khoảng gần 6.000 ha, đa dạng hóacác ngành nghề trong sản xuất công nghiệp, đưa công nghiệp trở thành mộtmũi nhọn trong phát triển kinh tế của tỉnh việc phát triển công nghiệp trênđịa bàn tỉnh trong những năm vừa qua đã gây sức ép rất lớn đến môi trường,hiện nay trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều vấn đề bất cập như: vấn đề ônhiễm môi trường, VPPL về môi trường cũng như quản lí môi trường tronglĩnh vực công nghiệp… đang trở thành những vấn đề thực tế cần sự vào cuộccủa các cơ quan chức năng cũng như các cơ quan đoàn thể và toàn xã hội

2.1.2 Thực trạng vi phạm pháp luật môi trườngtrong lĩnh vực công nghiệptại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

2.1.2.1 Tình hìnhvi phạm pháp luật môi trường trong lĩnh vực công nghiệp tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường và VPPL về môi trường tại địabàntỉnh Vĩnh Phúc đang trở nên ngày càng bức xúc và diễn biến có chiềuhướng phức tạp, nhất là ở các KCN, làng nghề truyền thống, các nhà máy chế

Trang 32

biến phế liệu, sản xuất giày dép, lắp ráp linh kiện điện tử, lắp ráp ô tô, xemáy,các công ty kinh doanh hoá chất, các công ty sản xuất gạch men gốm xứ,

và nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp khác

Theo thống kê của Sở TN&MT tỉnh thì 80% nhà máy sản xuất gạchmen và gốm xứ, nhà máy tái chế phế liệu gây ô nhiễm môi trường; 76% cácKCN chưa có hệ thống xử lý nước thải; 100% các công ty, doanh nghiệp kinhdoanh hóa chất, thuốc trừ sâu không có báo cáo đánh giá tác động môi trườnghoặc bản cam kết BVMT; 70% nhà máy sản xuất và lắp ráp điện tử, ô tô, xemáy chưa thực hiện được phân loại CTNH

Theo thống kê của lực lượng CSMTr Công an tỉnh Vĩnh Phúc, các vụviệc VPPL môi trườngtrong lĩnh vực công nghiệptrong giai đoạn 2011 -2014là 144 vụ việc trong tổng sổ 231 vụ việc VPPL môi trường(chiếm62,33% tổng số các vụ việc VPPL môi trường).[18]

Tình hình diễn biến các vụ việc ngày càng phức tạp, nghiêm trọng gâythiệt hại nhiều tỷ đồng Hậu quả tác hại của các vụ việc VPPL môi truờngtrong lĩnh vực công nghiệp là rất lớn, khó thống kê và đưa ra con số cụ thể.Đặc biệt hậu quả của những hành vi này không chỉ gây hại trực tiếp đến mộtvài cá nhân mà số lượng lớn người dân bị ảnh hưởng về sức khỏe, điều kiệnsống và nhiều trường hợp còn đe dọa đến tính mạng của người dân

Từ các thống kê theo bảng 1.1 - phụ lụcta thấy các vụ việc VPPL môitrường trong lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có diễn biếnphức tạp, số vụ việc năm sau cao hơn năm trước và chiếm tỉ lệ cao hơn trongtổng số các vụ VPPL về môi trường nói chung trên phạm vi toàn tỉnh theotừng năm Nếu như năm 2011 có 32 vụ VPPL trong lĩnh vực công nghiệptrong tổng số 50 vụ VPPL về môi trường nói chung đã được lực lượngCSMTr Vĩnh Phúc lập hồ sơ xử lí (chiếm 64%) thì đến năm 2013 số vụ VPPL

về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp đã lên tới 38 vụ trong tổng số 58 vụ

Trang 33

VPPL về môi trường nói chung trên toàn tỉnh (chiếm 65,51%).Vì vậy có thểkhẳng định, đây là vấn đề cần tập trung giải quyết trong giai đoạn tiếp theo tạiđịa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới, cần tập trung công tác phòng ngừa

và phát hiện điều tra xử lý VPPL môi trường trong lĩnh vực công nghiệp mộtcách có hiệu quả hơn, nhằm hạn chế những hậu quả, thiệt hại xảy ra Bảo vệsức khỏe, tính mạng cho người dân cũng như đảm bảo an sinh, sự phát triểncủa toàn xã hội

Qua nghiên cứu,cho thấy các hành vi VPPL về môi trường trong lĩnh vựccông nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chủ yếu là các nhóm hành vi sau đây:

Một là, xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường.

Trong thời gian qua, công tác quản lý môi trường tại phần lớn cácKCN, CCN, các cơ sở SXKD, làng nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chưađược đầu tư đồng bộ, hầu hết các đơn vị, tổ chức này chưa có hệ thống xử línước thải tập trung,tình trạng nước thải chưa qua xử lý được xả trực tiếp ramôi trường gây bức xúc trong nhân dân Điển hình như: KCN Khai Quang chỉxây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất được giaocho các doanh nghiệp thứ phát xử lý, trong khi đó các doanh nghiệp thứ phátnày không thực hiện quá trình xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường;KCN Bá Thiện mặc dù đã có hệ thống xử lý nước thải, tuy nhiên hiện vẫn còn18/51 doanh nghiệp phát sinh nước thải chưa được đấu nối vào hệ thống thugom và xử lý nước thải tập trung của KCN, không có hệ thống xử lý nướcthải cục bộ do tranh chấp phí đầu tư hạ tầng, nước thải sản xuất không được

xử lý xả thẳng ra môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng

Các KCN, cơ sở SXKD công nghiệp khác chưa có hệ thống xử lí nướcthải tập trung hàu hết chỉ xử lí sơ bộ tại nguồn rồi thải trực tiếp ra môi trường,lượng chất thải này hàm chứa nhiều chỉ số vượt tiêu chuẩn cho phép như TSS,

Trang 34

BOD5, COD, tổng Nitơ xả thải thẳng ra môi trường bên ngoài gây ô nhiễmmôi trường nguồn nước mặt.

Hai là, vi phạm về xả khí thải công nghiệp chưa qua xử lý ra môi trường, tiếng ồn và độ rung.

Vần đề ô nhiễm không khí tại các KCN, các làng nghề, cơ sở SXKDcông nghiệp, khu vực tập trung nhiều hoạt động công nghiệp chủ yếu do cácdoanh nghiệp trong hoạt động sản xuất có phát sinh khí thải công nghiệp, tiếng

ồn trực tiếp thải ra môi trường Hiện nay, trong các KCN, cơ sở SXKD côngnghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hầu hết chưa có hệ thống xử lý khí thải,tiếng ồn đạt tiêu chuẩn môi trường

Theo đánh giá của sở TN&MT tỉnh thì mỗi ngày có khoảng 8.400 m3 khíthải từ các hoạt động công nghiệp trên toàn tỉnh thải ra môi trường không khí,

mà hầu hết trong số đó là không được kiểm soát Các khí thải ô nhiễm phátsinh từ các nhà máy, xí nghiệp chủ yếu do hai nguồn: quá trình đốt nhiên liệutạo năng lượng cho hoạt động sản xuất (nguồn điểm) và sự rò rỉ chất ô nhiễm

từ quá trình sản xuất (nguồn điện) Tuy nhiên, hiện nay khí thải từ hai nguồnkhông được kiểm soát, lan truyền ra ngoài khu vực sản xuất, gây tác động đếnsức khoẻ nhân dân xung quanh Vấn đề ô nhiễm không khí tại các KCN, làngnghề, cơ sở SXKD công nghiệp chủ yếu là ô nhiễm bụi, một số nơi có xuấthiện ô nhiễm CO, SO2 và NO2 Tại nhiều nhà máy cơ khí, luyện kim, côngnghiệp hoá chất, công nghiệp vật liệu xây dựng nồng độ bụi và khí độc hại(điển hình là khí SO2) trong không khí vượt quy chuẩn cho phép 2 - 5 lần

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc việc xác định vi phạm, đo đạc,quan trắc đối với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, làng nghề có phátsinh khí thải, tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép còn gặp nhiều khó khăn như đomôi trường không khí xung quanh chưa có đủ căn cứ để xử lý cá nhân, tổ chức,doanh nghiệp vi phạm điều đó cũng góp phần làm cho tình trạng ô nhiễm

Trang 35

không khí và ô nhiễm tiếng ồn tại các KCN, làng nghề, cơ sở SXKD côngnghiệptrên địa bàn tỉnh diễn ra ngày càng phức tạp.

Ba là, vi phạm các quy định về quản lý chất thải rắn công nghiệp.

Trong quá trình hoạt động sản xuấtcác cá nhân, tổ chức, doanh nghiệphoạt động sản xuất công nghiệp đã phát sinh ra các loại chất thải công nghiệptrong đó có chất thải công nghiệp thông thường và CTNH Đặc biệt, CTNH

có chứa các thành phần nguy hại cao, mức độ gây ô nhiễm lớn, tổng lượngCTNH nhiều nhưng thực tế việc quản lý CTNH của một số doanh nghiệp, cơ

sở SXKD còn lỏng lẻo Việc thu gom và phân loại tại nguồn của chủ nguồnthải chưa đảm bảo đúng quy định như: còn để lẫn CTNH với chất thải thôngthường và lẫn các loại CTNH khác nhau; khu vực lưu giữ còn chưa đầy đủcác thiết bị để phân loại từng loại chất thải và có ký hiệu riêng; các doanhnghiệp ký hợp đồng thu gom, vận chuyển và xử lý CTNH với các đơn vị chưa

có đầy đủ về năng lực pháp lý, năng lực hoạt động thực tế, công nghệ xử lý vàviệc giám sát hoạt động đối với các đơn vị này của chủ nguồn thải để đảm bảoCTNH được xử lý triệt để còn lỏng lẻo dẫn đến nhiều sơ hở Do vậy, vẫn cònmột phần lượng CTNH chưa được xử lý triệt để theo quy định của pháp luậtBVMT

Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay, tổng lượng CTNH phát sinh từ cáchoạt động sản xuất công nghiệp khoảng 21.000 tấn/năm, số CTNH này hầu hếtđược vận chuyển đến các công ti chuyên xử lí CTNH để thuê các đơn vị này xử

lí, lượng CTNH được xử lý triệt để chỉ chiếm khoảng 45%, phương pháp xử lýchủ yếu là chôn lấp và thiêu đốt Do vậy, tình trạng gây ô nhiễm và làm suythoái môi trường chưa được cải thiện và giảm thiểu một cách đáng kể

Một số doanh nghiệp sau sản xuất có phát sinh CTNH nhưng khôngđăng ký sổ chủ nguồn thải với sở TNMT Hiện nay, có khoảng 70% cácdoanh nghiệp, cơ sở SXKD đã đăng ký sổ chủ nguồn thải CTNH Mặc dù đã

Trang 36

đăng ký sổ chủ nguồn thải CTNH nhưng một số doanh nghiệp còn để sót một

số chủng loại CTNH chưa đăng ký hay bổ sung vào danh mục CTNH trong sổchủ nguồn thải Việc thực hiện chuyển giao CTNH theo chứng từ CTNH cònhạn chế, vẫn còn tình trạng một số doanh nghiệp kê khai chứng từ CTNH theotháng sai quy và việc báo cáo định kỳ kết quả quản lý CTNH (6 tháng/lần)của từng doanh nghiệp có phát sinh CTNH về Sở TNMT chưa thực hiệnnghiêm túc, đúng kỳ hạn Một số doanh nghiệp có chức năng vận chuyểnCTNH thấy số lượng quá thấp cũng không ký hợp đồng thu gom, do vậy dẫnđến tình trạng thu gom chung cùng với rác thải công nghiệp thông thườngkhác mà không làm thủ tục xin đăng ký sổ chủ nguồn thải CTNH và quản lýtheo quy định của pháp luật đối với CTNH Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạngcác doanh nghiệp có phát sinh loại chất thải trong gia công xử lý bề mặt kimloại là các phôi nhôm, sắt, đồng có dính thành phần nguy hại là loại dầu làmmát (dầu cắt) là loại CTNH nhưng không đăng ký vào sổ chủ nguồn thảiCTNH mà hợp đồng bán cho một số doanh nghiệp thu mua để tái chế ra phôi

mà không được quản lý theo CTNH còn gây ô nhiễm môi trường

Các doanh nghiệp, cơ sở SXKD, làng nghề hoạt động có liên quan đếnCTNH thường có các vi phạm như: không chuyển chứng từ CTNH cho cơquan có thẩm quyền theo quy định; không thực hiện việc kê khai chứng từCTNH theo quy định; không có văn bản báo cáo gửi cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền về tình hình phát sinh và quản lý CTNH theo quy định;không xây dựng kế hoạch hoặc biện pháp phòng ngừa, ứng phó với sự cố doCTNH gây ra; không đăng ký chủ nguồn thải CTNH, không điều chỉnh đăng

ký chủ nguồn thải CTNH, không đăng ký báo cáo với cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền về việc lưu giữ tạm thời CTNH quá hạn phải xử lý, tiêuhủy trong trường hợp chưa tìm được chủ xử lý, tiêu hủy phù hợp

Năm là, vi phạm trong khai thác tài nguyên nước ngầm, cát, sỏi

Trang 37

Tài nguyên nước bị nhiễm bẩn chủ yếu do chất thải tăng lên quá nhiều.Việc khai thác nước quá mức, làm cho mực nước hạ xuống sâu, tốc độ thấmtăng lên đồng nghĩa với việc các chất bẩn được chuyển tải một cách nhanhhơn Tại các KCN, cơ sở SXKD trên địa bàn tỉnh, việc khai thác nguồn nướcngầm để phục vụ cho nhu cầu sản xuất có xu hướng gia tăng Cùng với đóhiện tượng khai thác trái phép cát, sỏi để làm vật liệu xây dựng diễn ra phổbiến tại ven các con sông lớn như: sông Hồng, sông Phó Đáy Trong thực tế,

có một số doanh nghiệp mặc dù không được cấp phép song vẫn khai thác mộtcách lén lút nước ngầm, cát, sỏi để phục vụ nhu cầu sản xuất và nhu cầu xâydựng trong khi đó cơ quan quản lý thì không thể kiểm soát

Sáu là, vi phạm trong việc không lập đầy đủ các thủ tục môi trường theo quy định

Hiện nay, việc Ban quản lý các KCN và các doanh nghiệp, các cơ sởSXKD, làng nghề có hành vi VPPL về BVMT rất đa dạng, thể hiện cụ thểnhư: Không thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nội dung trong bảncam kết BVMT, đề án BVMT đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xácnhận; không có văn bản báo cáo cơ quan đã xác nhận đề án BVMT về việchoàn thành các biện pháp BVMT theo đề án BVMT đã được xác nhận; không

có văn bản báo cáo hoặc báo cáo không đúng thời hạn cho UBND tỉnh nơithực hiện dự án về nội dung quyết định phê duyệt ĐTM; không niêm yết côngkhai tại địa điểm thực hiện dự án bản tóm tắt ĐTM đã được cơ quan có thẩmquyền phê duyệt theo quy định; không có văn bản báo cáo, báo cáo khôngđúng thời hạn hoặc báo cáo sai sự thật cho cơ quan nhà nước đã phê duyệtĐTM về kế hoạch xây lắp các công trình xử lý môi trường và hồ sơ thiết kếchi tiết các công trình xử lý môi trường theo quy định; Không thực hiện việcgiám sát chất thải, giám sát môi trường xung quanh theo quy định; không cóĐTM được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; không lập ĐTM bổ

Trang 38

sung trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; khôngxây lắp, xây lắp không đúng, không vận hành, không vận hành thường xuyênhoặc vận hành không đúng quy trình đối với công trình xử lý môi trường theonội dung trong ĐTM đã được phê duyệt; thực hiện không đúng nội dung yêucầu, tiến độ xử lý ô nhiễm môi trường; không thực hiện các biện pháp khắcphục ô nhiễm, phục hồi môi trường; không tiến hành các biện pháp ngănchặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường, hạn chế sự lan rộng, ảnh hưởngđến sức khỏe và đời sống của nhân dân xung quanh

2.2 Thực trạng hoạt động phòng ngừavi phạm pháp luậtmôi trường tronglĩnh vực công nghiệp của lực lượng Cảnh Sát môi trường trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

2.2.1 Lực lượngCảnh sát môi trườngVĩnh Phúc trong hoạt động phòng ngừa vi phạm pháp luậtmôi trường trong lĩnh vực công nghiệp

Phòng cảnh sát PCTP về môi trường Công an tỉnh Vĩnh Phúc trải quamột quá trình phát triển và hoạt động cho đến nayvề biên chế phòng CSMTrCông an tỉnh Vĩnh Phúc có tổng số35 đồng chí và được chia thành 4 đội côngtác cụ thể như sau:

Đội 1- Tham mưu

Đội 2 - Phòng chống tội phạm môi trường trong lĩnh vực xây dựng cơbản, công nghiệp, môi trường đô thị

Đội 3 - Phòng chống tội phạm môi trường trong lĩnh vực tài nguyênkhoáng sản, nông nghiệp, nông thôn, làng nghề

Đội 4 - Phòng chống tội phạm môi trường trong lĩnh vực an toàn vệ sinhthực phẩm, y tế, du lịch, thương mại, xuất nhập khẩu và các lĩnh vực khác

Từ thống kê theo bảng 1.2 – phụ lục ta có thể thấy hiên nay do được sựquan tâm chỉ đạo của UBND tỉnh cũng như ban giám đốc công an tỉnh, lựclượng CSMTr Vĩnh Phúc đang dần được hoàn thiện về mọi mặt

Trang 39

Về cơ cấu tổ chức: Các đội nghiệp vụ được tổ chức với quân số hợp líphù hợp với những đặc trưng riêngvề các lĩnh vực công tác về môi trườngtrên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Tập trung chủ yếu vào những lĩnh vực mà tộiphạm về môi trường đang diễn ra nhức nhối và phức tạp như: Lĩnh vực côngnghiệp, lĩnh vực làng nghề, lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm…

Về trình độ học vấn: Kể từ khi được thành lập cho đến nay, trình độhọc vấn của CBCS lực lượng CSMTr công an tỉnh Vĩnh Phúc không ngừngđược nâng lên nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế đấu tranh với tội phạm vàcác hành vi VPPL về môi trường trên địa bàn tỉnh, trong tổng số 35 cán bộchiến sĩ của phòng, có 02 đồng chí có trình độ cao học, 19 đồng chí có trình

độ đại học, số còn lại đang được tiếp tục đào tạo nâng cao trình độ để phục vụcông tác Hiện nay, ban giám đốc công an tỉnh cũng như lãnh đạo phòngCSMTr Vĩnh Phúc tạo mọi điều kiện cho CBCS được đi học các lớp tập huấncũng như bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ, năng lực công tác và

đã đạt được nhiều kết quả tốt

Tuy nhiên bên cạnh đó ta cũng thấy rõ lực lượng CSMTr Vĩnh Phúchiện nay vẫn còn thiếu về lực lượng, quân số biên chế của các đội còn mỏng,đồng thời trình độ học vấn của CBCS còn nhiều hạn chế, không đồng đều, sốlượng CBCS được chuyển từ các lực lượng khác sang hoặc từ ngành ngoàivào công tác trong lực lượng CSMTr hiện đang theo học các lớp bồi dưỡngnghiệp vụ còn nhiều Hơn nữa lực lượng CSMTr cũng mới được thành lậpnên còn nhiều hạn chế trong nhiều mặt, đặc biệt là mặt tổ chức, trình độ vàkinh nghiệm công tác của CBCS.Vì vậy trong thời gian tới lực lượng CSMTrVĩnh Phúc cần được nhiều hơn nữa sự quan tâm của ban giám đốc công antỉnh, đồng thời phải nỗ lực hoàn thiện tổ chức, từng bước nâng cao trình độcũng như kinh nghiệm công tác của CBCS để đáp ứng tốt hơn yêu cầu củathực tế đấu tranh với tội phạm và các hành vi VPPL về môi trường trên địabàn tỉnh

Trang 40

2.2.2 Hoạt động phòng ngừa vi phạm pháp luật môi trường trong lĩnh vực công nghiệpcủa lực lượng Cảnh sát môi trường Vĩnh Phúc

2.2.2.1.Hoạt động phòng ngừa xã hội

Xác định phòng ngừa là một mặt công tác chủ chốt trong đấu tranhphòng chống các hành vi VPPL về môi trường nói chung và các hành viVPPL về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp nói riêng Trong đó thờigian qua phòng CSMTr công an tỉnh Vĩnh Phúc đã đẩy mạnh công tác phòngngừa xã hội, cụ thể trên những mặt sau đây:

- Tham mưu cho Giám đốc CA tỉnh, lãnh đạo Phòng phối hợp với các

cơ quan chức năng hoàn thiện các văn bản pháp quy về BVMT, tăng cườngcông tác BVMT, thực hiện tốt công tác phòng ngừa VPPL về môi trườngtrong lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn tỉnh Cụ thể:

+ Tham mưu cho UBND tỉnh ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bảnpháp luật liên quan đến công tác BVMT trong lĩnh vực công nghiệp; quyhoạch, cấp phép các dự án KCN, làng nghề, các đơn vị SXKD,… để BVMT.Tham mưu cho UBND tỉnh ra Quyết định số 2037/QĐ - UBND về việc Phêduyệt quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020; Chỉ thị

số 06/CT-UBND của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về triển khai thực hiện Chỉ thị số11/CT-TTG ngày 21/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ giải quyết khó khăn,vướng mắc, kiến nghị, thúc đẩy, phát triển sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đấtnước đến năm 2015

+ Tham mưu cho Giám đốc CA tỉnh phối hợp với các cơ quan chứcnăng thực hiện tốt công tác phòng ngừa VPPL về môi trườngtrong lĩnh vựccông nghiệp Cụ thể là kiến nghị thực hiện Chỉ thị số 24/TTg của Thủ tướngChính phủ; Kế hoạch số 139 của Bộ Công an

Ngày đăng: 24/06/2016, 12:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Chính phủ(2009) -Nghị định 179/2013/NĐ- CP ngày 14/11/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ(2009) -
13. Chính phủ(2008) -Nghị định số 72/CP năm 2010 của Chính phủ đã xácđịnh CSMTr là cơ quan chuyên trách trong đấu tranh phòng, chống tội phạm môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ(2008) -
14. Chính phủ(2008) - Chi thị số: 24/2008/CT-TTg ngày 08 tháng 08 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác phòng, chống vi phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi truờng trong thời kỳ hội nhập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ(2008) -
17. Từ điển bách khoa CAND ViệtNam (2005), Nhà xuất bản CAND, Hà Nội 18. Phòng Cảnh sát PCTP về môi trường Công an tỉnhVĩnhPhúcBáo cáo tổngkết năm 2013,2012,2013, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2005), Nhà xuất bản CAND, Hà Nội"18."Phòng Cảnh sát PCTP về môi trường Công an tỉnhVĩnhPhúc"Báo cáo tổng
Tác giả: Từ điển bách khoa CAND ViệtNam
Nhà XB: Nhà xuất bản CAND
Năm: 2005
19. Trường Đại học luật (2008), Giáo trình Luật môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học luật (2008), "Giáo trình Luật môi trường
Tác giả: Trường Đại học luật
Năm: 2008
20. Đại học Luật (2009), Giáo trình Lý luận chung nhà nước và pháp luật,NXB Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học Luật (2009)
Tác giả: Đại học Luật
Nhà XB: NXB Quốc gia
Năm: 2009
22. GS, TS Nguyền Duy Hùng (2003), Đề tài cấp Bộ "Nhữngviphạm phápluật về môi trường và giải pháp phòng, chống”Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhữngviphạmphápluật về môi trường và giải pháp phòng, chống
Tác giả: GS, TS Nguyền Duy Hùng
Năm: 2003
23. Tổng cục XDLL năm(2005), Giáo trình Môi trường và bảo vệ môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục XDLL năm(2005)
Tác giả: Tổng cục XDLL năm
Năm: 2005
24. Bộ Công an (2010) -Quyết định số 499/QĐ-BCA ngày 04/02/2010 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường 25. Tổng cục Thống Kê (1966) - Quyết định 486-TCTK/CN năm 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Công an (2010) -"Quyết định số 499/QĐ-BCA ngày 04/02/2010 củaBộ trưởng Bộ Công an quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổchức bộ máy của Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường25."Tổng cục Thống Kê (1966) -
11. Chính phủ(2005) - Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị 2004 về bảo vệ môi trườg trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khác
15. Pháp lệnh Tổ chức điều tra hìnhsự (2004) được sửa đổi bổ sung một sốđiều năm 2009 Khác
16. Từ điển Bách khoa toàn thư ViệtNam (2005), tập 3, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Tình hình triển khai công tác NVCB  của lực lượng CSMTr Vĩnh Phúc từ năm 2011 đến năm 2014 - THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA VI PHẠM PHÁP LUẬT về môi TRƯỜNG TRONG LĨNH vực CÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn TỈNH VĨNH PHÚC
Bảng 1.3 Tình hình triển khai công tác NVCB của lực lượng CSMTr Vĩnh Phúc từ năm 2011 đến năm 2014 (Trang 79)
Bảng 1.2: Cơ cấu các đội và trình độ học vấn của CBCS phòng Cảnh Sát - THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA VI PHẠM PHÁP LUẬT về môi TRƯỜNG TRONG LĨNH vực CÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn TỈNH VĨNH PHÚC
Bảng 1.2 Cơ cấu các đội và trình độ học vấn của CBCS phòng Cảnh Sát (Trang 79)
Hình thức xử li Xử lí - THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA VI PHẠM PHÁP LUẬT về môi TRƯỜNG TRONG LĨNH vực CÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn TỈNH VĨNH PHÚC
Hình th ức xử li Xử lí (Trang 80)
Bảng 1.4: Tình hình công tác điều tra xử lí VPPL về môi trường  của lực lượng CSMTr Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2014 - THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA VI PHẠM PHÁP LUẬT về môi TRƯỜNG TRONG LĨNH vực CÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn TỈNH VĨNH PHÚC
Bảng 1.4 Tình hình công tác điều tra xử lí VPPL về môi trường của lực lượng CSMTr Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2014 (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w