Luận văn có những đóng góp mới về khoa học thể hiện trên những điểm sau: - Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công tác PCMT và thực hiện pháp luật về PCMT; - Góp phần khẳng đị
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN XUÂN HIẾN
THùC HIÖN PH¸P LUËT TRONG LÜNH VùC PHßNG, CHèNG MA TóY, QUA THùC TIÔN THµNH PHè H¶I PHßNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN XUÂN HIẾN
THùC HIÖN PH¸P LUËT TRONG LÜNH VùC PHßNG, CHèNG MA TóY, QUA THùC TIÔN THµNH PHè H¶I PHßNG
Chuyên ngành: Lý luận lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Xuân Hiến
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY 7
1.1 Nhận thức chung về ma túy và công tác phòng, chống ma túy 7
1.1.1 Nhận thức chung về ma túy 7
1.1.2 Nhận thức chung về công tác phòng, chống ma túy 13
1.2 Pháp luật Việt Nam về phòng, chống ma túy 16
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm cơ bản của pháp luật về phòng, chống ma túy 16
1.2.2 Nội dung chủ yếu của pháp luật về phòng, chống ma túy 19
1.3 Khái niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật về phòng, chống ma túy 25
1.4 Các hình hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống, ma túy 28
1.4.1 Tuân theo (tuân thủ) pháp luật về phòng, chống ma túy 28
1.4.2 Thi hành (chấp hành) pháp luật về phòng, chống ma túy 29
1.4.3 Sử dụng pháp luật về phòng, chống ma túy 30
1.4.4 Áp dụng pháp luật về phòng, chống ma túy 31
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về phòng, chống ma túy 33
1.5.1 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về phòng, chống ma tuý 33
1.5.2 Điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về phòng, chống ma tuý 41
1.6 Pháp luật quốc tế về PCM và vấn đề thực tiễn ở Việt Nam 44
1.6.1 Pháp luật quốc tế về phòng, chống ma túy 44
1.6.2 Vấn đề thực tiễn pháp luật về phòng, chống ma túy ở Việt Nam 46
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,
CHỐNG MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TP HẢI PHÒNG 50
2.1 Tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa bàn TP Hải Phòng 50
2.1.1 Tình hình tội phạm ma túy 50
2.1.2 Tình hình sử dụng trái phép chất ma túy 52
2.2 Quan điểm, chủ trương của Thành ủy, chính quyền TP Hải Phòng về công tác phòng, chống ma túy 52
2.3 Thực hiện pháp luật về phòng, chống ma túy trên địa bàn TP Hải Phòng 54
2.3.1 Tuân thủ pháp luật về phòng, chống ma túy 54
2.3.2 Thi hành pháp luật về phòng, chống ma túy 58
2.3.3 Sử dụng pháp luật về phòng, chống ma túy 59
2.3.4 Áp dụng pháp luật về phòng, chống ma túy 61
2.4 Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về phòng, chống ma túy 84
2.4.1 Kết quả đạt được 84
2.4.2 Nguyên nhân kết quả đạt được 86
2.4.3 Tồn tại, hạn chế 86
2.4.4 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 87
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TP HẢI PHÒNG 90
3.1 Dự báo tình hình tệ nạn ma túy và những nhân tố ảnh hưởng đến công tác phòng, chống ma túy trên địa bàn TP Hải Phòng 90
3.1.1 Dự báo tình hình tệ nạn ma túy 90
3.1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác phòng, chống ma túy trong thời gian tới 91
3.2 Quan điểm về bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống ma túy trên địa bàn TP Hải Phòng 92
3.3 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống ma túy trên địa bàn TP Hải Phòng 93
Trang 63.3.1 Giải pháp pháp luật: hệ thống các văn bản về PCMT phải đảm bảo
tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp và đáp ứng được yêu cầu thực
tiễn công tác PCMT 93
3.3.2 Giải pháp về chủ trương: tiếp tục đối mới phương pháp và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể; huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy 95
3.3.3 Giải pháp về cơ chế thực hiện 96
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LĐTB&XH: Lao động, Thương binh và xã hội MTTQVN: Mặt trận tổ quốc Việt Nam
TP Hải Phòng: Thành phố Hải Phòng
VHTT&DL: Văn hóa, thể thao và du lịch
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Thống kê người nghiện ma túy tại TP Hải Phòng từ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã và đang thực hiện đường lối đổi mới và đã thu được những thành tựu quan trọng: kinh tế đất nước luôn tăng trưởng ở mức cao và ổn định, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện, chính trị ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững, quan
hệ với nước ngoài được mở rộng, an sinh xã hội được thực hiện ngày một tốt hơn Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, dưới tác động của mặt trái kinh tế thị trường, của việc mở của hội nhập và xu hướng toàn cầu hóa đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong đời sống xã hội, trong đó tệ nạn ma túy là một trong những vấn đề nhức nhối đang được toàn xã hội quan tâm Ma túy làm gia tăng tội phạm, khánh kiệt kinh tế, phá hoại hạnh phúc gia đình, suy thoái nòi giống dân tộc, cầu nối cho căn bệnh thế kỉ HIV/AIDS
Với vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nên thời gian qua Nhà nước đã tập trung xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật Trong đó, việc ban hành các văn bản pháp luật về phòng, chống tệ nạn
xã hội nói chung và PCMT nói riêng được Đảng, Nhà nước rất quan tâm Luật PCMT được Quốc hội thông qua ngày 09/12/2000 là văn bản pháp luật quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong cuộc đấu tranh PCMT Tuy nhiên, việc đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật PCMT là một vấn
đề vô cùng khó khăn và phức tạp trong đời sống xã hội hiện nay
Hải Phòng là thành phố lớn, đô thị loại 1 cấp quốc gia, là đầu mối giao thông đi các tỉnh trong cả nước và quốc tế, do đó có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, những năm qua trước tác động của tình hình tội phạm
và tệ nạn ma túy ở trong nước, khu vực và trên thế giới, Hải Phòng đã trở thành địa bàn trọng điểm phức tạp về ma túy Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm cao của các cấp ủy đảng, chính quyền thành phố, sự vào cuộc tích cực của các ban, ngành, đoàn thể và sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân, công tác PCMT
Trang 10ở thành phố Hải Phòng những năm qua đã được triển khai quyết liệt và đã thu được những kết quả đáng khích lệ Tuy vậy, trên thực tế tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy vẫn diễn biến phức tạp, hiệu quả công tác PCMT vẫn chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Một trong những nguyên nhân của tình hình trên đó
là việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực PCMT vẫn còn có những hạn chế, hiệu quả chưa cao, pháp luật về PCMT chưa thực sự đi vào cuộc sống
Để góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCMT nhằm ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố Hải Phòng, là một cán bộ Công an công tác ở lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành
phố Hải Phòng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp: “Thực hiện pháp
luật trong lĩnh vực phòng, chống ma túy, qua thực tiễn thành phố Hải Phòng”
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, đặc biệt là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, vấn đề thực hiện pháp luật và bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống, xã hội đang được đặt ra là nhiệm vụ cấp bách của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân Tuy nhiên, việc xem xét thực hiện pháp luật
và hiệu quả thực hiện pháp luật là một vấn đề phức tạp, cho nên số lượng những công trình nghiên cứu khoa học về đề tài này còn ít Qua nghiên cứu, tham khảo nhiều tài liệu đã công bố, tác giả thấy rằng hầu hết các công trình nghiên cứu, bài viết, bài trao đổi chỉ đề cập đến lĩnh vực PCMT ở các khía cạnh khác nhau
Một số công trình nghiên cứu có liên quan về thực hiện pháp luật PCMT:
Luận án tiến sĩ “Hiệu quả pháp luật phòng, chống ma túy trong các trường đại
học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp ở Việt Nam” (năm 2012) của tác giả
Nguyễn Thị Hoàng Lan, Công trình nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu thực trạng
việc thực hiện pháp luật, phòng chống ma túy trong các trường Đại học, Cao đẳng
và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang từ năm 2003-2008” (năm
2010) của tác giả Trần Khánh Mai; về thực hiện pháp luật: Bài viết tham khảo
“Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở Việt Nam” (năm 2012) của
GS.TSKH Đào Trí Úc đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/2011
Trang 11Ngoài các công trình nghiên cứu có liên quan nên trên, qua tra cứu, tác giả nhận thấy: chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến thực hiện pháp luật
về PCMT một cách có hệ thống từ cả khía cạnh lý luận lẫn thực tiễn; đặc biệt là việc nghiên cứu trong phạm vi thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng Do đó, tác giả hi vọng, Luận văn sẽ là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống trên
cả phương diện lý luận và thực tiễn về việc thực hiện pháp luật PCMT, có giá trị tham khảo về mặt lý luận, cũng như góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng, trên phạm vi cả nước nói chung, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là trên cơ sở nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận và thực tiễn về hiệu quả thực hiện pháp luật về PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng, đề xuất và luận giải các quan niệm và giải pháp cơ bản bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, Luận văn có các nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật PCMT, bao gồm cả quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và của Thành ủy, chính quyền thành phố Hải Phòng về công tác PCMT;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả thực hiện pháp luật PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
Ba là, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật về PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu
Trong khuôn khổ Luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng Phạm vi nghiên
Trang 12cứu được giới hạn dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2008 đến nay, các thời gian trước năm 2008 chỉ phân tích để làm căn cứ so sánh, đánh giá
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn, các quan điểm, giải pháp bảo đảm việc thực hiện pháp luật PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng Trong đó phạm vi của Luận văn, chủ yếu tập trung vào thực trạng thực hiện pháp luật và các giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật về PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng
5 Cơ sở lý lý luận và Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về pháp luật, về công tác đấu tranh PCMT
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Kết hợp nghiên cứu giữa lý luận và thực tiễn, sử dụng các phương pháp khảo sát thực tế, thống kê số liệu, phân tích, tổng hợp, chứng minh, đối chiếu so sánh các tài liệu, số liệu để đánh giá kết quả việc thực hiện, từ đó phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp
6 Đóng góp khoa học của Luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu cơ bản, có hệ thống, chuyên sâu trên khía cạnh lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật tại địa bàn thành phố Hải Phòng
Luận văn có những đóng góp mới về khoa học thể hiện trên những điểm sau:
- Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công tác PCMT và thực hiện pháp luật về PCMT;
- Góp phần khẳng định sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và Thành
ủy, chính quyền thành phố Hải Phòng trong công tác đấu tranh PCMT, nhằm kiên quyết đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội;
- Phân tích, đánh giá có hệ thống thực trạng thực hiện pháp luật PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2008 đến nay;
Trang 13- Luận văn phân tích những quan điểm bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng; đề xuất và luận giải các giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm hiệu quả pháp luật PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng
7 Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần bổ sung, làm sáng tỏ lý luận về thực hiện pháp luật
- Trên cơ sở phân tích thực trạng thực hiện pháp luật PCMT trên địa bàn thành phố Hải Phòng, những kết quả đạt được và những khó khăn, hạn chế, bất cập, luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật PCMT, qua đó nâng cao nhận thức của xã hội đối với công tác PCMT, nhất là nhận thức về vị trí, vai trò và ý nghĩa thực hiện pháp luật trong PCMT, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong thực hiện pháp luật PCMT của các cơ quan bảo vệ pháp luật và ý nghĩa chấp hành pháp luật của các tổ chức, công dân đối với công tác PCMT
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu về thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật PCMT nói riêng
8 Bố cục của luận văn
Ngoài Lời Cam đoan, Danh mục từ viết tắt, Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bố cục gồm 03 chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PCMT
1.1 Nhận thức chung về ma túy và công tác PCMT
1.2 Pháp luật Việt Nam về PCMT
1.3 Khái niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật về PCMT
1.4 Các hình hình thức thực hiện pháp luật phòng, chống, ma túy
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về PCMT 1.6 Pháp luật quốc tế về PCMT và vấn đề thực tiễn ở Việt Nam
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PCMT TRÊN ĐỊA BÀN TP HẢI PHÒNG
2.1 Tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa bàn TP Hải Phòng
2.2 Quan điểm, chủ trương của Thành ủy, chính quyền thành phố Hải Phòng về công tác PCMT
Trang 142.3 Thực hiện pháp luật về PCMT trên địa bàn TP Hải Phòng
2.4 Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về PCMT
Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PCMT TRÊN ĐỊA BÀN TP HẢI PHÒNG
3.1 Dự báo tình hình tệ nạn ma túy và những nhân tố ảnh hưởng đến công tác PCMT trên địa bàn TP Hải Phòng
3.2 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật PCMT trên địa bàn TP Hải Phòng
3.3 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về PCMT trên địa bàn TP Hải Phòng
Trang 151.1.1.1 Khái niệm ma túy
Ma túy là hiểm ho ̣a của nhân loa ̣i , là mô ̣t vấn na ̣n trên toàn thế giới Ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe con người , mà còn là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự , an toàn xã hô ̣i , làm cho sự lây nhiễm HIV/AIDS có nguy cơ lan truyền rất rộng Cho đến nay, trên thế giới không có một khái niệm thống nhất về “ma túy” hay “chất ma túy”
Ma túy là t ừ Hán Việt, trong đó “ma” được hiểu là tê mê và “túy” là say sưa Theo đó, ma túy là chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, tê liệt, dùng quen thành nghiện, hay nói cách khác, ma túy là chất gây nghiện
Theo từ điển tiếng Việt, ma túy là tên gọi chung của những chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện; ma túy là những chất mà người dùng nó một thời gian sẽ gây nghiện hay nói cách khác là trạng thái phụ thuộc vào nó
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa “ma túy” là các chất khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng Đến năm 1982, WHO đã phát triển định nghĩa “ma tuý” theo nghĩa rộng, là mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật Liên Hợp Quốc cũng đã đưa ra định nghĩa “ma túy” là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng Tuy nhiên, các định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới hay của Liên Hợp Quốc đều mang tính khái quát, bao hàm tất
cả các chất làm biến đổi về mặt tâm sinh lý của con người
Trang 16Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961 (gọi tắt là Công ước 1961) không đưa ra khái niệm “chất ma túy” mà thay vào đó áp dụng phương pháp liệt kê để xác định trực tiếp danh mục các chất ma túy bị kiểm soát Kỹ thuật lập pháp này được sử dụng trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm của các điều ước quốc tế về kiểm soát ma túy trước đó, đặc biệt là Công ước về hạn chế việc sản xuất, phân phối chất ma túy năm 1931 (gọi tắt là Công ước 1931) Trong quá trình dự thảo Công ước 1931, một nhóm các chuyên gia quốc tế được yêu cầu đề xuất khái niệm “chất ma túy” để sử dụng trong Công ước Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu các chuyên gia đã kết luận rằng không thể đưa ra một khái niệm chung về “chất ma túy” mà chỉ có thể đưa ra nhiều khái niệm khác nhau để mô tả các chất được Công ước 1931 kiểm soát bởi vì Công ước này điều chỉnh nhiều loại chất với những thuộc tính khoa học khác nhau Ví dụ: có những chất thuộc nhóm “narcotic” có tính gây nghiện cao và không được sử dụng trong y khoa, có những chất cũng thuộc nhóm “narcotic” có tính gây nghiện cao nhưng lại được
sử dụng trong y khoa, cũng có những chất vừa không thuộc nhóm “narcotic” vừa không có tính gây nghiện nhưng có thể biến đổi thành “narcotic” gây nghiện Chính vì vậy, để tránh những khó khăn mà các nhà chuyên môn đã nêu, các nhà làm luật đã lựa chọn phương pháp liệt kê để chỉ rõ các chất bị kiểm soát Kế thừa kinh nghiệm của Công ước 1931 và một số điều ước quốc tế khác về kiểm soát
ma túy, Công ước 1961 áp dụng phương pháp liệt kê, tuy không nêu được những thuộc tính cơ bản và chung nhất nhưng có thể xác định được các chất ma túy mà công ước điều chỉnh Từ đó, đưa ra một danh mục cụ thể các chất ma túy bị kiểm soát, tạo ra sự thuận tiện trong việc áp dụng trên thực tế
Ở Việt Nam, theo các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, ma túy có thể hiểu là các chất bao gồm: nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao coca, lá, hoa, quả cây cần sa, quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiện tươi, heroine, cocaine, các chất ma túy khác ở thể lỏng hay thể rắn Tiếp đến, Luật PCMT năm 2000 đưa ra khái niệm về
chất ma túy tại khoản 1 Điều 2 như sau: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất
hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành” [50]
Trang 17Theo đó, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Luật PCMT năm 2000 quy định:
“chất gây nghiện” là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng và “chất hướng thần” là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện với người sử dụng
Như vậy, ma túy là những chất đã được khoa học xác định và có tên gọi riêng Danh mục các chất ma túy, tiền chất ma túy được quy định tại Nghị định của Chính phủ (Nghị định số 67/2001/NĐ-CP; Nghị định số 133/2003/NĐCP; Nghị định số 82/2013/NĐ-CP) Việc xác định là chất ma túy, tiền chất được tiến hành qua trưng cầu giám định
Từ các khái niệm của quốc tế và Việt Nam về ma túy, có thể đưa ra một
khái niệm chung như sau: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng
hợp, khi đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức
và sinh lý của con người Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi
đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng
1.1.1.2 Phân loại ma túy
Ma túy được phân thành nhiều nhóm dựa trên những căn cứ nhất định phục vụ cho những mục đích khác nhau Một số cách phân loại cơ bản như sau:
- Căn cứ vào nguồn gốc, ma túy được chia thành: ma túy tự nhiên, ma túy
tổng hợp và ma túy bán tổng hợp:
+ Ma túy tự nhiên là sản phẩm của các cây trồng tự nhiên hoặc nuôi trồng
và các chế phẩm của chúng Ví dụ: thuốc phiện và các sản phẩm của cây thuốc phiện như moocphin, codein, narcotics, coca và các hoạt chất của nó như cocain, cần sa và các sản phẩm của cây cần sa ;
+ Ma túy bán tổng hợp là các chất ma túy được điều chế từ ma túy tự nhiên, có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu Ví dụ: Heroin là chất ma túy được tổng hợp từ moocphin ;
+ Ma túy tổng hợp là các chất ma túy đã được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hóa học toàn phần từ hóa chất (được gọi là tiền chất) Điển hình là các amphetamine
Trang 18- Căn cứ theo tác dụng, ma túy được chia thành ba nhóm chính là kích
thích, ức chế thần kinh và gây ảo giác:
+ Chất kích thích: Thuốc kích thích là thuốc có tác dụng làm tăng nhanh hoạt động của hệ thống thần kinh và nhiều bộ phận trong cơ thể, bao gồm: Ni-cô-tin (nicotine) trong thuốc lá; Cà-phê-in (caffeine) trong trà, cà phê, các loại nước tăng lực (energy drinks), sô-cô-la (chocolate), nước cô-ca cô-la (coke); Am-phê-ta-min
và những loại thuốc cùng họ hoặc có công thức hoá học rất gần như: Dexamphetamine, Metamphetamine, Methylenedioxymethamphetamine (MDMA), Methylpheniate Cô-ken – Cocaine;
+ Chất ức chế: Ức chế là ngăn cản hoặc làm suy giảm hoạt động Thuốc
ức chế thần kinh có tác dụng làm suy giảm, làm chậm lại hoạt động của hệ thống thần kinh Một số loại thuốc ức chế thần kinh có tác dụng gây nghiện: Thuốc có tác dụng an thần, gây ngủ: Rượu (ethanol): Bia, rượu chát, rượu mạnh , Benzodiazepines là những thứ thuốc an thần loại nhẹ hoặc thuốc ngủ; Thuốc giảm đau thuộc nhóm á phiện: Thuốc phiện (opium), morphine, pethidine, codein, bạch phiến (heroin), methadone, buprenorphine ; Cần sa ở liều lượng nhẹ; Những ma túy dạng bốc hơi hoặc dạng hít: Xăng, thuốc chùi sơn, keo, dung dịch pha loãng sơn (paint thinner)
+ Chất gây ảo giác: Thuốc gây ảo giác có tác dụng tạo ra ảo giác như thấy hoặc nghe những điều không có thực, thấy thời gian và không gian thay đổi, thấy
sự vật chung quanh di chuyển hoặc thấy sự vật có màu sắc đậm hơn hay khác hơn bình thường Các loại thuốc gây ảo giác gồm có: LSD (lysergic acid diethylamide); DMT (dimethyltryptamine); Psilocybin (magic mushroom); Mescaline (peyote cactus); DOM hay STP (chất tổng hợp từ Mescaline); MDMA (ecstasy, thuốc lắc) ở liều lượng mạnh; Phencyclidine or PCP (angel dust); Ketamine; Cần sa ở liều lượng mạnh (marijuana, hash, hash oil)
- Căn cứ tính hợp pháp, ma túy chia làm hai nhóm: hợp pháp, bất hợp pháp:
+ Ma túy hợp pháp: Những loại thông dụng như Rượu, bia; Ni-cô-tin (thuốc lá); Ca-phê-in; Thuốc bác sĩ cho toa như thuốc ngủ an thần (sedative-
Trang 19hypnotics) gồm có: Benzodiazepines như Serepax, Valium, Librium Một số dược phẩm trong nhóm amphetamies như dexamphetamine, methylphenidate, phentermine Tuy nhiên, có một vài giới hạn đối với một số loại ma túy hợp pháp Vượt qua những giới hạn này, ma túy có thể trở thành bất hợp pháp, ví dụ như người dưới 18 tuổi mua rượu bia hay thuốc lá là bất hợp pháp, những loại thuốc trị bệnh có thể trở thành bất hợp pháp nếu mua không có toa bác sĩ
+ Ma túy bất hợp pháp: Cần sa (Cannabis); Bạch phiến (Heroin); Các loại gây ảo giác (Hallucinogens/Psychedelics): LSD, DMT, Psilocybin, Psilocin, Mescaline, DOM (STP), Phencyclidine or PCP, Ketamine Cô-ken (Cocaine); Mê-tha-qua-lôn (Methaqualone) và những loại gây nghiện (narcotics) mua không
có toa bác sĩ; Các loại amphetamine bất hợp pháp như methamphetamine, crystal methamphetamine
- Căn cứ nguồn gốc của ma túy và cơ chế tác động dược lý, các chuyên
gia của Liên hợp quốc đã thống nhất phân chia ma túy thành năm nhóm sau:
+ Nhóm 1: ma túy là các chất từ cây thuốc phiện (opiates);
+ Nhóm 2: ma túy là các chất làm từ cần sa (canabis);
+ Nhóm 3: ma túy là các chất gây kích thích (sitimulants);
+ Nhóm 4: ma túy là các chất gây ức chế (depressants);
+ Nhóm 5: ma túy là các chất gây ảo giác (hallucinorens)
1.1.1.3 Tác hại của ma túy
Theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Luật PCMT, tệ nạn ma túy bao gồm tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác liên quan đến ma túy Như vậy, nói đến tác hại của ma túy được hiểu là các tác hại do tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi khác liên quan đến
ma túy gây ra đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội
- Đối với cơ thể người nghiện ma túy:
+ Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều Nhiều trường hợp ngưng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi
Trang 20khi ngưng thở rất đột ngột Chẳng hạn một thanh niên đang cai nghiện đột ngột ngưng thở tử vong không rõ nguyên nhân, khi giải phẫu tử thi thì phát hiện nạn nhân có bao heroin bởi một màng mỏng rồi cấy dưới da để thuốc phóng thích từ
từ, nhưng bao thuốc đột nhiên vỡ và phóng thích quá nhiều gây ngộ độc
Ngoài ra, sau khi dùng ma túy (nhất là cocaine) có thể gây phù phổi cấp, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, xuất huyết phế nang, viêm tiểu phế quản tắc nghẽn, viêm phổi, lên cơn hen phế quản
+ Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim Chúng cũng là nguyên nhân của các rối loạn nhịp đe dọa tính mạng người dùng ma túy Ngoài ra còn gây nên tình trạng
co mạch làm tăng huyết áp
+ Đối với hệ thần kinh: Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng khoái, lệ thuộc thuốc…, cũng có thể gây các tai biến như:
co giật, xuất huyết dưới nhện, đột quỵ
Ngoài ra, người dùng ma túy còn phải chịu những tác hại khác như: hoại
tử tế bào gan, ảo thính, ảo thị
- Ảnh hưởng đến bản thân người nghiện:
+ Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại Dùng ma tuý quá liều có thể dẫn đến cái chết
+ Gây nghiện mạnh; Tiêm chích ma tuý dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi rút B, C, đặc biệt là HIV (dẫn đến cái chết)
+ Thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật; Mâu thuẫn và bất hoà với bạn bè, thầy cô giáo và gia đình; Mất lòng tin với mọi người, dễ bị người khác lợi dụng, học tập giảm sút hoặc bỏ học, ảnh hưởng đến tương lai tiền đồ, nếu đã có việc làm thì dễ bị mất việc làm
+ Ma tuý còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống: các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gen độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống
Trang 21- Ảnh hưởng đến gia đình người nghiện:
+ Làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình Nhu cầu cần tiền để mua
ma tuý của người nghiện là rất lớn, vì vậy khi lên cơn nghiện người nghiện ma tuý có thể tiêu tốn hết tiền của, tài sản, đồ đạc của gia đình vào việc mua ma tuý
để thoả mãn cơn nghiện của mình, hoặc để có tiền sử dụng ma tuý, nhiều người
đã trộm cắp, hành nghề mại dâm, hoặc thậm chí giết người, cướp của
+ Sức khoẻ các thành viên khác trong gia đình giảm sút (lo lắng, mặc cảm,
ăn không ngon, ngủ không yên vì trong gia đình có người nghiện)
+ Gây tổn thất về tình cảm (thất vọng, buồn khổ, hạnh phúc gia đình tan
vỡ, ly thân, ly hôn, con cái không ai chăm sóc ); tốn thời gian, chi phí chăm sóc
và điều trị các bệnh của người nghiện do ma tuý gây ra
Ma tuý còn là nguồn gốc, là điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS (một hiểm hoạ toàn cầu chưa có thuốc chữa Hiện nay nước ta có trên 130.000 người nhiễm HIV/AIDS thì có 75% là do tiêm chích ma tuý
+ Ảnh hưởng đến giống nòi, huỷ diệt giống nòi: do các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gen độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống
1.1.2 Nhận thức chung về công tác phòng, chống ma túy
1.1.2.1 Khái niệm phòng, chống ma túy
Ma túy và tội phạm về ma túy đang là hiểm họa của toàn cầu, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Trang 22Chính vì vậy, đấu tranh phòng và chống tội phạm về ma túy là nhiệm vụ đã và đang được tất cả các nhà nước trên thế giới quan tâm, lo lắng Mỗi một quốc gia đều nỗ lực quan tâm đến việc hoạch định các chính sách và đưa ra nhiều biện pháp nhằm phòng ngừa, đấu tranh để từng bước đẩy lùi loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm này
Đấu tranh phòng, chống tệ nạn và tội phạm ma túy là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước Đây là cuộc đấu tranh gay gay, quyết liệt, lâu dài, đòi hỏi sự bền bỉ, kiên trì, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội
Khái niệm PCMT được quy định Luật PCMT năm 2000: “PCMT là phòng
ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý và kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý” [50, Điều 2, khoản 7] Trong đó:
- Tệ nạn ma túy là tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy (khoản 8 Điều 2);
- Các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý bao gồm các hoạt động nghiên cứu, giám định, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý, trao đổi, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh các chất ma túy, tiền chất và thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, được cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật (khoản 9);
Kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý là việc cho phép, theo dõi, kiểm tra, giám sát các hoạt động quy định tại khoản 9 Điều này và phòng ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng các hoạt động đó vào mục đích khác (khoản 10)
- Phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh:
+ Phòng ngừa bao gồm “đề phòng” và “ngăn ngừa” Đề phòng là chuẩn bị trước để sẵn sàng đối phó, ngăn ngừa, hoặc hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra Ngăn ngừa là làm cho cái xấu, cái không hay đang có khả năng xảy ra sẽ không xảy ra được Phòng ngừa là chuẩn bị trước, bằng cách này hay bằng cách khác, không để cho cái xấu, cái không hay nào đó xảy ra
+ Phòng ngừa ma túy là bất cứ hoạt động nào nhắm đến việc giảm bớt hoặc giảm thiểu việc sử dụng ma túy và những hậu quả tai hại của nó
Trang 23+ Ngăn chặn tệ nạn ma túy là hoạt động nhằm ngăn ngừa, chặn đứng những tác hại, ảnh hưởng xấu của tệ nạn ma túy; ngăn chặn sự phát triển của tệ nạn ma túy trong cộng đồng, xã hội, bao gồm ngăn chặn các hoạt động bất hợp pháp liên quan đến việc trồng các cây có chứa ma túy; các hoạt động sản xuất, chế biến, mua bán, vận chuyển và sử dụng trái phép chất ma túy; ngăn chặn sự gia tăng số người nghiện, tái nghiện (ngăn chặn nguồn cung về ma túy)
+ Đấu tranh chống tệ nạn ma túy là hoạt động nhằm tiến tới việc ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ tệ nạn ma túy; xóa bỏ các tụ điểm phức tạp về ma túy; xóa bỏ việc buôn bán, sử dụng trái phép ma túy với mục đích hướng đến là xóa bỏ tệ nạn ma túy ra khỏi cộng đồng, xã hội
1.1.2.2 Công tác PCMT
Công tác PCMT có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc Hiệu quả của công tác này ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tội phạm, đời sống, trật tự xã hội và sự phát triển chung của quốc gia, dân tộc Chính vì vậy, công tác PCMT đòi hỏi sự quyết tâm, kiên trì, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội, không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm giáo dục, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân, đẩy mạnh hợp tác quốc tế vì mục tiêu xây dựng một đất nước phát triển bền vững
Trong những năm qua, trước những tác hại của tệ nạn ma túy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng thực hiện nhiệm vụ PCMT, coi công tác PCMT là nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động của hệ thống chính trị và của toàn xã hội
Nội dung cụ thể của công tác PCMT tập trung vào một số công tác như sau:
- Công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy là nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục, lâu dài và phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp ủy đảng, sự quản lý của chính quyền, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia Tổ chức phòng ngừa và cai nghiện có hiệu quả để kiềm chế, ngăn chặn sự gia tăng tệ nạn ma túy, giảm cầu về ma túy
Trang 24- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục PCMT trong hệ thống chính trị và toàn dân; chú ý tập trung vào nhóm đối tượng có nguy cơ cao, thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên, đồng bào vùng sâu, vùng xa
- Lồng ghép công tác PCMT với Chương trình xây dựng nông thôn mới
và cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư Tập trung chỉ đạo tạo chuyển biến từ cơ sở; xây dựng và nhân rộng các mô hình PCMT phù hợp với từng địa phương Tăng cường đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng mua bán, vận chuyển ma túy từ nước ngoài vào nước ta
- Tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về PCMT, Củng cố lực lượng chuyên trách PCMT; tăng cường trang bị, phương tiện đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế với các nước có chung đường biên giới, các nước nằm trên tuyến vận chuyển, nơi sản xuất, nguồn cung cấp ma túy và các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, liên minh chính phủ trong đấu tranh PCMT
1.2 Pháp luật Việt Nam về phòng, chống ma túy
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm cơ bản của pháp luật về phòng, chống ma túy
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ
sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội, vì sự phát triển bền vững của xã hội [56, tr.228]
Pháp luật PCMT là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước đã rất quan tâm đến công tác PCMT, coi PCMT là một trong những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước Những quy định về ngăn chặn, đấu tranh, loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội dần được hình thành và đến nay đã trở thành hệ thống những quy phạm pháp luật về PCMT Trong văn bản quy phạm
pháp luật cao nhất của Nhà nước là Hiến pháp quy định: “nghiêm cấm sản xuất,
vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma
Trang 25túy khác Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm ” [46, Điều 61]
Đặc biệt, tình hình ma túy và các tội phạm và ma túy diễn biến ngày càng phức tạp hơn, những quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1985 không đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh này Sau 03 lần (các năm: 1991, 1992, 1997) được điều chỉnh, bổ sung, ngày 10/5/1999, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ
11 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm
1985, quy định một chương riêng (Chương XVIII, từ Điều 192 đến Điều 201)
về các tội phạm về ma túy So với quy định về tội phạm ma túy của Bộ luật Hình sự năm 1985, quy định về tội phạm ma túy trong Bộ luật hình sự 1999 đầy
đủ và chi tiết hơn rất nhiều
Mặt khác, ngày 09/12/2000, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật PCMT gồm 8 chương, 56 điều, quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy, kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; quy định trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong PCMT Luật PCMT năm 2000 là nền tảng pháp lý vững chắc cho công tác đấu tranh PCMT hiện nay và trong thời gian tới, thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước quyết tâm PCMT – hiểm họa chung của nhân loại Các quy định của Luật PCMT năm 2000 còn được quy định cụ thể, chi tiết và được hướng dẫn thi hành trong các văn bản dưới luật (các Nghị định, Thông tư, Thông tư liên tịch) Các văn bản này cụ thể hóa, chi tiết các quy định của Luật, góp phần xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật về PCMT
Cùng với những diễn biến phức tạp của ma túy và tệ nạn ma túy, hệ thống pháp luật về ma túy và tệ nạn ma túy không ngừng được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Biểu hiện cụ thể là việc ban hành Luật PCMT sửa đổi năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành mới
Mặt khác, để các quy định pháp luật trên đi vào cuộc sống và phát huy hiệu lực, Đảng và Nhà nước đã có nhiều văn bản để chỉ đạo công tác PCMT, không những về chủ trương mà cả bằng những hành động cụ thể: các Chỉ thị
Trang 26của Bộ Chính trị; Nghị quyết của Chính phủ , đồng thời đầu tư kinh phí, thành lập Ban chủ nhiệm chương trình quốc gia 06 và sau này là Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS, tệ nạn ma túy và mại dâm, thành lập lực lượng chuyên trách PCMT
Như vậy, pháp luật về PCMT là tổng thể những quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạt động về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma túy, kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan tới ma túy, quy định trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong PCMT
Pháp luật về PCMT có những đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, Pháp luật PCMT có tính đa dạng về chủ thể: Chủ thể quan
hệ pháp luật PCMT có phạm vi rất rộng, mọi cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật tham gia vào các quan hệ pháp luật PCMT đều trở thành chủ thể quan hệ pháp luật PCMT Cá nhân bao gồm: Công dân, người nước ngoài, người Việt Nam ở nuớc ngoài Các tổ chức bao gồm các tổ chức nhà nuớc và các tổ chức phi nhà nước Cụ thể là các cơ quan nhà nước, nhà nước nói chung, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế Ngoài ra, gia đình cũng được coi là chủ thể của quan hệ pháp luật PCMT
- Thứ hai, Phương pháp điều chỉnh của pháp luật về phòng, chống ma tuý chủ yếu là phương pháp quyền lực và phương pháp hành chính - mệnh lệnh: Các quy phạm pháp luật phòng, chống ma tuý chủ yếu tập trung ở các
ngành luật: Luật Hình sự, Luật PCMT, Luật Xử lý vi phạm hành chính Phương pháp điều chỉnh của Luật Hình sự là phương pháp quyền uy, phương pháp điều chỉnh của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật Phòng, chống
ma tuý là phương pháp hành chính - mệnh lệnh
- Thứ ba, Các chế tài được sử dụng trong pháp luật về PCMT chủ yếu
là chế tài hành chính, chế tài hình sự và thể tính nghiêm khắc rất cao, phản ứng gay gắt của nhà nuớc đối với các hành vi vi phạm pháp luật
- Thứ tư, Pháp luật PCMT thể hiện tính nhân văn, cộng đồng, nhân
loại sâu sắc
Trang 271.2.2 Nội dung chủ yếu của pháp luật về phòng, chống ma túy
Từ khái niệm pháp luật về PCMT, nội dung của pháp luật về PCMT bao gồm:
- Những quy định về chất ma túy và tiền chất dùng vào việc sản xuất ma túy;
- Những quy định về trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong PCMT;
- Những quy định về kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy
- Trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật về PCMT Trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về PCMT, nhằm ngăn chặn, đầy lùi và xóa bỏ tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội Nội dung chủ yếu của pháp luật về PCMT được khái quát
Trang 28trong PCMT được quy định trong Luật PCMT (gồm 9 điều từ Điều 6 đến Điều 14), trong đó: Luật quy định rõ cá nhân phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, đối với gia đình mình và đối với xã hội Đối với chính bản thân mình, mỗi
cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ sức khoẻ của mình không được sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào; thực hiện đúng chỉ định của thầy thuốc về sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh Đối với gia đình mình phải có trách nhiệm giáo dục các thành viên trong gia đình, kể cả thân nhân và tác hại của ma tuý và thực hiện các quy định của pháp luật về PCMT; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn các thành viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma tuý Đối với xã hội, cá nhân có trách nhiệm cả trong phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với tệ nạn ma tuý và cả trong công tác cai nghiện
Đối với gia đình, do gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc phòng ngừa, ngăn chặn các thành viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma tuý, Luật quy định gia đình là một chủ thể có những trách nhiệm nhất định như: Giáo dục, quản
lý chặt chẽ, đấu tranh ngăn chặn thành viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma tuý; đấu tranh với các hành vi trái phép về ma tuý của thân nhân và của người khác; tham gia hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện và tại gia đình cộng đồng; đóng góp một phần kinh phí cho việc cai nghiện của các thành viên trong gia đình mình Tuy nhiên, Luật không quy định áp dụng chế tài đối với gia đình, vì vai trò của gia đình chỉ có thể được phát huy trên cơ sở nhận thức đầy đủ về tác hại của ma tuý đối với từng thành viên trong gia đình, không phải trên cơ sở chế tài nghiêm khắc
Đối với cơ quan, tổ chức Luật quy định, cơ quan tổ chức cũng có trách nhiệm như đối với cá nhân và gia đình có trách nhiệm phát hiện, cung cấp nhanh chóng các thông tin về tệ nạn ma tuý Riêng đối với cơ quan Nhà nước phải xem xét và giải quyết kịp thời những thông tin, tố giác về tệ nạn ma tuý; tham gia triệt phá cây có chứa do chính quyền địa phương tổ chức Luật còn quy định trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên, Nhà trường và các cơ
sở giáo dục, đơn vị vũ trang Đặc biệt, Điều 13 của Luật đã quy định rõ cơ quan
Trang 29chuyên trách phòng, chống tội phạm ma tuý thuộc lực lượng công an nhân dân và
cơ quan này có đặc quyền, được áp dung các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cần thiết để phát hiện tội phạm về ma tuý, bảo vệ người tố giác, người làm chứng và người bị hại trong các vụ án về ma tuý
c Pháp luật về PCMT quy định về về kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy
Luật PCMT dành một chương (Chương III) quy định kiểm soát chặt chẽ đối với việc nghiên cứu, giám định, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tồn trữ, tàng trữ, mua bán, phân phối, trao đổi, sử dụng, xử lý nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần (nội dung này phải phù hợp với yêu cầu của 3 Công ước của Liên hiệp quốc về phòng, chống ma tuý năm 1961, năm 1971 và năm 1998)
Luật không quy định cho một cơ quan chuyên trách kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý vì các hoạt động này thuộc các chuyên ngành khác nhau, nếu giao cho một cơ quan thực hiện việc kiểm soát thì khó đảm bảo hiệu quả do không đủ trình độ nghiệp vụ cũng như kinh phí để bao quát hết các vấn đề về ma túy Vì vậy, Luật quy định theo hướng:
- Bộ Y tế có thẩm quyền kiểm soát chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần sử dụng trong lĩnh vực y tế, phân tích, kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học;
- Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) có thẩm quyền kiểm soát chất
ma tuý, tiền chất sử dụng trong lĩnh vực sản xuất;
- Bộ Công an có thẩm quyền kiểm soát chất ma tuý, tiền chất vào, ra hoặc quá cảnh lãnh thổ Việt Nam và trong các hoạt động để phục vụ trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý (giám định, nghiên cứu, huấn luyện)
d Pháp luật về PCMT quy định về trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật về PCMT
- Luật PCMT quy định các hành vi bị cấm: tại Điều 3 của Luật quy định liệt kê một loạt các hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến ma tuý
Trang 30Mục đích của quy định nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và loại trừ tệ nạn ma túy
ra khỏi đời sống xã hội Các tổ chức, cá nhân nếu thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm này sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự và Pháp luật Xử lý vi phạm hành chính
- Chương XVIII Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các tội phạm về ma tuý gồm 10 Điều tương ứng với 10 tội danh khác nhau So với Chương VIIA (phần tội phạm) Bộ luật hình sự năm 1985, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định ít hơn 4 Điều (Bộ luật hình sự năm 1985 có 14 Điều) nhưng các hành vi phạm tội về ma tuý vẫn bị xử lý không sót một hành vi nào
Các tội phạm về ma tuý quy định tại Chương XVIII của Bộ luật hình sự năm 1999 có đặc điểm chung nhất là bất cứ hành vi phạm tội nào cũng trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến ma tuý Cũng chính vì vậy, Chương XVIII có tên gọi “Các tội phạm về ma tuý” Tuy nhiên, do tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm ma tuý cáo hơn so với các tội phạm khác được quy định trong Bộ luật Hình
sự (trừ cáctội xâm phạm an ninh quốc gia) nên mức hình phạt của tội các tội phạm ma tuý rất nghiêm khắc: trong số 10 tội thì có 3 tội có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình (khoản 4 Điều 193, khoản 4 Điều 194 và khoản 4 Điều 197); có 2 tội có mức cao nhất của khung hình phạt là chung thân (khoản 4 Điều 195, khoản 4 Điều 200 và khoản 4 Điều 201); có 12 trường hợp là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (khoản 3, khoản 4 Điều 193, khoản 3, khoản 4 Điều 194, khoản 3, khoản 4 Điều 195, khoản 3, khoản 4 Điều 197, khoản 3, khoản 4 Điều
200 và khoản 3, khoản 4 Điều 201); có 8 trường hợp là tội phạm rất nghiêm trọng (khoản 2 Điều 193, khoản 2 Điều 194, khoản 2 Điều 195, khoản 2 Điều
196, khoản 2 Điều 197, khoản 2 Điều 198, khoản 2 Điều 200 và khoản 2 Điều 201); có 10 trường hợp là tội phạm nghiêm trọng (khoản 2 Điều 192, khoản 1 Điều 193, khoản 1 Điều 194, khoản 1 Điều 195, khoản 1 Điều 196, khoản 1 Điều
197, khoản 1 Điều 198, khoản 2 Điều 199, khoản 1 Điều 200 và khoản 1 Điều 201); chỉ có 2 trường hợp là tội phạm ít nghiêm trọng (khoản 1 Điều 192 và khoản 1 Điều 199)
Trang 31Việc Quốc hội quy định một Chương các tội phạm về ma tuý đã đáp ứng yêu cầu bức xúc của tình hình đấu tranh PCMT đang xảy ra Nắm chắc những đặc điểm của các tội phạm về ma tuý không chỉ giúp cho các các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có phương pháp phù hợp trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự vào việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án
về ma tuý, mà còn có tác dụng vận động nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý trong tình hình hiện nay, góp phần chặn đứng và đẩy lùi tệ nạn này
Bên cạnh các quy định của Bộ luật Hình sự về các hình phạt đối với các hành vi phạm tội về ma túy, pháp luật Việt Nam còn có các quy định về xử lý hành chính đối với một số hành vi vi phạm trong công tác PCMT
Các hành vi bị xử lý vi phạm hành chính chủ yếu được áp dụng đối với một số hành vi mà tính chất, mức độ vi phạm chưa đến mức phải xử lý hình sự theo các quy định của Bộ luật hình sự
Các quy định về xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về PCMT được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (thay thế cho Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008) và các Nghị định do Chính phủ ban hành baogồm các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính được quy định trong Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật
tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (gọi tắt là Nghị định 167/2013/NĐ-CP) và các biện pháp
Trang 32Bên cạnh một số biện pháp xử lý vi phạm hành chính điển hình nêu trên, phụ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật về PCMT, chủ thể thực hiện hành vi còn bị áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
e Pháp luật về PCMT quy định về cai nghiện ma túy
Cai nghiện ma tuý được quy định trong Luật PCMT và Nghị định của Chính phủ Cai nghiện ma tuý là một trong những nội dung quan trọng nhất của Luật Việc cai nghiện ma tuý theo tinh thần của Luật là Nhà nước có chính sách khuyến khích việc tự nguyện cai nghiện ma tuý song song với việc áp dụng chế
độ cai nghiện đối với người nghiện ma tuý, đồng thời tổ chức các cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc và khuyến khích cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức thực hiện các hình thức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng bên cạnh đó khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hỗ trợ các hoạt động cai nghiện ma tuý
Đặc biệt, Luật giao cho ngành LĐTB&XH quản lý công tác cai nghiện ma tuý vì quản lý ma tuý là vấn đề mang tính xã hội cao và người nghiện ma tuý chưa phải là tội phạm, nên không nhất thiết phải giao cho lực lượng công an quản
lý Trong quá trình thực hiện, ngành LĐTB&XH phải có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan công an, y tế và các cơ quan hữu quan khác
Điều 28 quy định thời gian cai nghiện bắt buộc là từ một năm đến hai năm
vì khi nghiện ma tuý, người nghiện ma tuý sẽ mắc các rối loạn về thể chất và tâm
lý, thường kèm theo các triệu chứng tâm thần Do đó, muốn cai nghiện cho họ thì trước hết phải điều trị rối loạn tâm lý va các triệu chứng rối loạn tâm thần Việc điều trị này phải có thời gian dài mới có hiệu quả và phải trải qua các giai đoạn:
+ Cắt cơn giải độc, điều trị các bệnh phối hợp: tốn khoảng 03 tháng; + Điều trị phục hồi tâm lý, sức khoẻ: mất khoảng 09 tháng;
+ Lao động trị liệu, học nghề, chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng, chống tái nghiện: thường là 12 tháng
Điều 28 của Luật PCMT giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp huyện
Trang 33ra quyết định bắt buộc cai nghiện Hiện nay, theo Luật Xử lý vi phạm hành chính
2012 và Nghị định 221 của Chính phủ thì giao Toà án nhân dân cấp huyện ra quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc
Qua nghiên cứu nội dung pháp luật Việt Nam về phòng, chống ma tuý, có thể đưa ra một số kết luận về pháp luật PCMT như sau:
- Pháp luật Việt Nam về PCMT là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam, là tổng thể những quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạt động về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma túy, kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan tới ma túy, quy định trách nhiệm của
cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong PCMT;
- Pháp luật Việt Nam về phòng, chống ma tuý là sự thể chế hoá tư tưởng, quan điểm chỉ đạo, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, chống ma tuý;
- Pháp luật Việt Nam về PCMT có quy định trách nhiệm của gia đình trong PCMT (quy định trong Luật PCMT) Đây là một đăc điểm mang tính đặc thù của Pháp luật Việt Nam về phòng, chống ma túy
1.3 Khái niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật về phòng, chống ma túy
Các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cần được thực hiện trong cuộc sống thì chúng mới có ý nghĩa Mục đích của việc ban hành văn bản pháp luật chỉ đạt được khi các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ
Do vậy, vấn đề không chỉ là xây dựng và ban hành thật nhiều các văn bản pháp luật, điều quan trọng là phải thực hiện pháp luật, làm cho những yêu cầu, quy định của chúng trở thành hiện thực
Việc thực hiện chính xác, đầy đủ pháp luật xã hội chủ nghĩa là mối quan tâm không chỉ từ phía Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà từ cả mỗi người dân trong
xã hội Họ tự giác thực hiện pháp luật và đòi hỏi pháp luật phải được các tổ chức, các cá nhân khác tôn trọng, thực hiện chính xác và đầy đủ
Thực hiện pháp luật là một trong những vấn đề lý luận cơ bản, có ý nghĩa
Trang 34đặc biệt quan trọng trong khoa học pháp lý cũng như trong hoạt động thực tiễn Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về THPL xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Nhà nước của dân, do dân và vì dân Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm về vấn đề tăng cường pháp chế, coi trọng việc THPL Nghiên cứu các văn kiện Đại hội Đảng, nhất là từ Nghị quyết Đảng lần thứ VI đến nay, trong các văn kiện đều đề cập đến nhiệm vụ xây dựng pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật và tăng cường pháp chế, như: Pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Trong điều kiện Đảng cầm quyền, mọi cán bộ bất cứ cương vị nào đều phải sống và làm việc theo pháp luật, gương mẫu tôn trọng pháp luật, không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái pháp luật, mọi hành vi vi phạm đều phải xử lý hay: “Tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức”, hoặc: “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành luật”
Các quan điểm trên của Đảng về pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật
và tăng cường pháp chế XHCN đã được thể chế hóa trong hệ thống Hiến Pháp, pháp luật, mà sự thể chế hóa quan trọng và tập trung nhất được thể hiện trong Hiến pháp 1992:
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến Pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật [46, Điều 12]
Như vậy, có thể nói một trong những vấn đề quan trọng trong quản lý xã hội là phải đưa các quy định pháp luật vào cuộc sống, biến những quy định pháp luật thành hiện thực trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, hay nói cách khác là phải thực hiện pháp luật
Trang 35Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp với những quy định của pháp luật Nói khác đi, tất cả những hoạt động nào của con người, của các tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện các quy phạm pháp luật
Dưới góc độ, pháp lý, thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp Hành vi đó không trái mà phù hợp với quy định của pháp luật và có lợi cho xã hội, cho Nhà nước, cho cá nhân Hành vi hợp pháp có thể được thực hiện trên cơ sở nhận thức của chủ thể là cần thiết phải xử sự theo đúng quy định của pháp luật Cũng có thể chúng được thực hiện do chủ thể bị ảnh hưởng của những người xung quanh chứ bản thân người thực hiện hành vi đó chưa hoặc không nhận thức đầy đủ là tại sao phải làm như vậy Còn có thể có những hành vi hợp pháp được thực hiện do kết quả của việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế của nhà nước hoặc do sợ bị áp dụng những biện pháp đó Thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của chủ thể pháp luật và Thực hiện pháp luật PCMT là quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật, bằng hành vi của mình đưa các quy định của pháp luật về PCMT đi vào thực tế đời sống nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với tệ nạn ma túy
Đặc điểm thực hiện pháp luật về PCMT:
- Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật chủ yếu của thực hiện pháp luật về PCMT: Nội dung của pháp luật PCMT chủ yếu tập trung quy định về phòng, ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý, kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong PCMT Chính vì vậy, vai trò thực hiện pháp luật của các chủ thể là cơ quan có thẩm quyền (thưc hiện chức năng, thẩm quyền ) là cực kỳ quan trọng, quyết đến hiệu quả công tác phòng, chống ma tuý Chính vì vậy, áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện phápluật PCMT chủ yếu ( Nhà nước thông
Trang 36qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật PCMT thực hiện những quy định của pháp luật PCMT hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để thực hiện
- Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với thực hiện pháp luật về PCMT: Quan điểm chủ trương của Đảng, Nhà nước được thể chế hoá trong hệ thống pháp luật về PCMT trong quá trình xây dựng luật Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt nguy hiểm của tệ nạn ma tuý nên Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác PCMT nói chung và thực hiện pháp luật PCMT nói riêng nên sau khi các văn bản pháp luật PCMT được ban hành, Đảng, Nhà nước còn ban hành các văn bản thể hiện quan điểm, chủ trương định hướng cho công tác tổ chức triển khai thực hiện pháp luật PCMT để đưa pháp luật PCMT đi vào cuộc sống Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, định hướng cho thực hiện phápluật về PCMT
- Thực hiện pháp luật về PCMT gặp rất nhiều khó khăn so với thực hiện pháp luật về các lĩnh vực khác bởi tính chất nguy hiểm của tệ nạn ma tuý và tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh PCMT
1.4 Các hình hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống, ma túy
Thực hiện pháp luật thể hiện tính đa dạng về chủ thể Điều đó cho thấy sự
đa dạng trong mục đích của việc thực hiện pháp luật cũng như trong các phạm vi, quy trình, và các phương thức thực hiện pháp luật Theo lý luận chung, thực hiện pháp luật có các hình thức là: sử dụng pháp luật, thi hành pháp luật, tuân thủ (tuân theo) pháp luật, áp dụng pháp luật [77]
1.4.1 Tuân theo (tuân thủ) pháp luật về phòng, chống ma túy
Tuân theo pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hành động mà pháp luật ngăn cấm Những quy phạm pháp luật cấm trong luật hình sự, hành chính được thực hiện dưới hình thức này
Tuân theo pháp luật về PCMT là hình thức thực hiện pháp luật PCMT trong đó các chủ thể pháp luật PCMT kiềm chế không tiến hành những hành động mà pháp luật phòng, chống ma tuý ngăn cấm
Trang 37Ở hình thức thực hiện pháp luật PCMT này, các chủ thể phải kiềm chế không tiến hành những hành vi mà pháp luật PCMT cấm:
- Trồng cây có chứa chất ma túy;
- Sản xuất tàng trữ, vân chuyển, bảo đảm, mua bán, phân phối, giám định, xử lý trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, nghiên cứu trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;
- Sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, xúi giục, cưỡng bức, lôi kéo, chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy;
- Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất, sử dụng trái phép chất ma túy;
- Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội về ma túy mà có;
- Chống lại hoặc cản trở việc cai nghiện ma túy;
- Trả thù hoặc cản trở người có trách nhiệm hoặc người tham gia PCMT;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp để vi phạm pháp luật về PCMT;
- Các hành vi trái phép khác về ma túy
1.4.2 Thi hành (chấp hành) pháp luật về phòng, chống ma túy
Thi hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng những hành động tích cực Những quy phạm pháp luật bắt buộc (những quy phạm quy định nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi tích cực nhất định) được thực hiện ở hình thức này
Thi hành pháp luật về PCMT là hình thức thực hiện pháp luật PCMT, trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật PCMT bằng những hành động tích cực Có thể đưa ra những ví dụ cụ thể về thi hành pháp luật PCMT như sau:
- Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức phát hiện, báo cáo kịp thời cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền việc trồng cây có chứa chất ma túy, tham gia triệt phá cây có chứa chất ma túy do chính quyền địa phương tổ chức
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức được vận chuyển chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thực hiện sự đúng gói, niêm phong theo quy định của
cơ quan có thẩm quyền, có những biện pháp bảo vệ an toàn, không để bị thất thoát
Trang 38- Người nghiện ma túy tự khai báo về tình trạng nghiện ma túy của mình với cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc chính quyền cơ sở nơi cơ trú và tự đăng
Sử dụng pháp luật về PCMT là hình thực hiện pháp luật PCMT, trong đó các chủ thể pháp luật PCMT thực hiện quyền chủ thể của mình theo các quy định của pháp luật PCMT Ở hình thức này, các chủ thể thực hiện quyền chủ thể của mình, nghĩa là tiến hành những hành vi mà pháp luật cho phép Ví dụ:
- Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy thuộc Công an nhân dân có quyền chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện các hoạt động ngăn chặn đấu tranh chống các tội phạm về ma túy tại các địa bàn biên giới
và nội hạt; có quyền trưng cầu mẫu vật, mẫu phẩm sinh học cần thiết để phát hiện tội phạm về ma túy; có quyền yêu cầu cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, tình hình tài chính và tài khoản ngân hàng khi có căn cứ cho rằng có hành vi mà Điều 3 của Luật PCMT nghiêm cấm, có quyền yêu cầu cơ quan bưu điện mở bưu kiện, bưu phẩm để kiểm tra khi có căn
cứ cho rằng trong bưu kiện, bưu phẩm đó có chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần…;
Trang 39- Người nghiện ma túy tự nguyện làm đơn xin cai nghiện thì được nhận vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và không bị coi là bị xử lý vi phạm hành chính;
- Cơ quan tổ chức, cá nhân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật về PCMT
1.4.4 Áp dụng pháp luật về phòng, chống ma túy
Trong quá trình thực hiện các chức năng và thẩm quyền của mình, ngoài việc sử dụng pháp luật liên quan đến chức năng và thẩm quyền đó, các cơ quan công quyền phải dựa vào pháp luật, lấy các quy định cụ thể của pháp luật làm căn cứ để thực thi chức trách và thẩm quyền của mình: Căn cứ để ban hành quyết định hành chính; căn cứ nội dung hoặc thủ tục để giải quyết vụ án dân sự, xác định tội danh, hình phạt trong việc truy tố và xét xử vụ án hình sự v.v… Đó là hoạt động áp dụng pháp luật - hình thức thực hiện pháp luật gắn với hoạt động của các thiết chế công quyền trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
và thẩm quyền của các cơ quan đó Vì vậy, áp dụng pháp luật phải được đặt trên khuôn khổ những đòi hỏi nghiêm ngặt đảm bảo cho việc áp dụng đó không dẫn đến sai phạm, có khả năng làm sai lệch kết quả thực hiện các chức năng và thẩm quyền của các thiết chế công quyền, và suy cho cùng là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân
Cũng vì vậy, áp dụng pháp luật không có tính đa dạng về mặt chủ thể như các hình thức sử dụng pháp luật, thi hành và tuân theo pháp luật như đã nêu ở trên Áp dụng pháp luật không phải và không thể là hình thức thực hiện pháp luật của cá nhân công dân, các thể nhân và pháp nhân mà chỉ có thể là hình thức thực hiện pháp luật đối với các thiết chế quyền lực - quyền hành pháp, quyền tư pháp
Áp dụng pháp luật về PCMT là hình thức thực hiện pháp luật PCMT, trong đó, Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật PCMT thực hiện những quy định của pháp luật PCMT hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật PCMT
để thực hiện Theo hình thức pháp luật, có thể có các dẫn chứng sau:
- Tại các vùng trồng cây có chứa chất ma túy, chính quyền địa phương tổ
Trang 40chức cho nhân dân triệt phá cây có chứa chất ma túy, các cơ quan Nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước về phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp để thay thế việc trồng cây có chứa chất ma túy; quy hoạch cơ cấu nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ và thị trường phù hợp để nhân dân chuyển hướng sản xuất có hiệu quả
- Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ra quyết định đưa người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định vào cơ sở cai nghiện bất buộc (theo Luật PCMT năm 2000 và Nghị định 135/NĐ-CP của Chính phủ Hiện nay, Toà án nhân dân cấp huyện ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định đã bị
áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma tuý mà vẫn còn nghiện hoặc người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma tuý nhưng không có nơi cư trú nhất định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
và Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ)
- Người đứng đầu cơ sở cai nghiện ma túy được quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật để quản lý chặt chẽ, giáo dục, chữa bệnh cho người cai nghiện;
- Bộ Lao động – Thương binh xã hội hướng dẫn, chỉ đạo việc thành lập, giải thể cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động của các cơ sở khác về cai nghiện ma túy;
- Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức triển khai thực hiện các dự án giáo dục PCMT trong nhà trường, các cơ sở giáo dục khác;
- Cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền tiến hành xử lý những hành vi phạm pháp luật về PCMT
Như vậy, thực hiện pháp luật về PCMT là một nội dung của thực hiện pháp luật, được thể hiện thông qua bốn hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật phòng chống ma túy