1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên Luận văn ThS. Luật

122 883 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 852,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời gian qua, ở nước ta, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở nói chung và ở xã, phường, thị trấn nói riêng đã được cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ TUYẾT

THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ D¢N CHñ C¥ Së ë X· TR£N §ÞA BµN HUYÖN KIM §éNG, TØNH H¦NG Y£N

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG HỒ HẢI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Tuyết

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở XÃ 7

1.1 Khái niệm, quan điểm về dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh 7

1.1.1 Khái niệm 7

1.1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ 9

1.2 Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã 12

1.2.1 Khái niệm pháp luật về dân chủ 12

1.2.2 Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã 13

1.2.3 Đặc điểm của thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã 16

1.3 Pháp luật về dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam từ năm 1945 đến khi có Chỉ thị số 30 của Bộ Chính trị……….20

1.4 Các hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã 21

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã 24

1.5.1 Thể chế 25

1.5.2 Sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cơ sở 26

1.5.3 Tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động của chính quyền cấp xã 27

1.5.4 Sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã 28

1.5.5 Trình độ, năng lực, uy tín của đội ngũ cán bộ, công chức xã 30

1.5.6 Đặc điểm địa bàn dân cư, trình độ dân trí 31

Trang 4

1.6 Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường,

thị trấn của một số địa phương trong tỉnh và trong cả nước 33

1.6.1 Những kinh nghiệm rút ra từ phong trào xây dựng nông thôn mới gắn với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại xã Tuy Lộc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái 33

1.6.2 Những kinh nghiệm rút ra từ mô hình tổ dân vận điểm thực hiện tốt Quy chế dân chủ của thôn Bãi Sậy 3, xã Tân Dân 35

1.6.3 Những kinh nghiệm trong thực hiện QCDC ở cơ sở của xã Nhật Tân, huyện Tiên Lữ 38

1.6.4 Bài học kinh nghiệm rút ra trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở đối với huyện Kim Động 40

Chương 2: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM ĐỘNG 41

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn huyện Kim Động 41

2.1.1 Hệ thống pháp luật về thực hiện dân chủ hiện nay 41

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và dân cư 41

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 42

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Kim Động 45

2.2.1 Tình hình triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã 45

2.2.2 Kết quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã 50

2.2.3 Nguyên nhân của những kết quả đạt được 67

2.2.4 Đánh giá chung 67

2.3 Những hạn chế, nguyên nhân trong quá trình thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn huyện Kim Động 68

Trang 5

2.3.1 Hạn chế 68 2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế 73

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC

HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM ĐỘNG 77 3.1 Các quan điểm về tăng cường thực hiện pháp luật về dân

chủ ở xã, phường, thị trấn 77

3.1.1 Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, thị trấn phải trên cơ sở

chủ trương, chính sách của Đảng về dân chủ nói chung và dân chủ ở xã, phường, thị trấn nói riêng 77 3.1.2 Hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân phải có vị trí, vai

trò quan trọng việc thực hiện pháp luật dân chủ ở xã 78 3.1.3 Mở rộng dân chủ phải bảo đảm trật tự, kỷ cương, trong khuôn

khổ Hiến pháp và pháp luật 79 3.1.4 Thực hiện pháp luật dân chủ ở xã gắn với đẩy mạnh học tập và

làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua yêu nước 80 3.1.5 Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phòng, chống

quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở cơ sở 81

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về

dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Kim Động 82

3.2.1 Kiến nghị cấp có thẩm quyền trong việc hoàn thiện pháp luật

về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn 82 3.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng 88 3.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

về dân chủ ở cơ sở 90 3.2.4 Nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền xã 92

Trang 6

3.2.5 Phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị

- xã hội và các tổ chức xã hội khác 95 3.2.6 Phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân 99 3.2.7 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có đủ phẩm chất,

năng lực 101 3.2.8 Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về dân

chủ ở xã 105

KẾT LUẬN 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBCC Cán bộ, công chức CNXH Chủ nghĩa xã hội GDTX Giáo dục thường xuyên GSĐTCCĐ Giám sát đầu tư của cộng đồng HĐND Hội đồng nhân dân

HTX Hợp tác xã

KT - XH Kinh tế - xã hội Nxb Nhà xuất bản PLTHDC Pháp luật thực hiện dân chủ THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thông TSVM Trong sạch vững mạnh TTND Thanh tra nhân dân TTNN Thanh tra nhà nước UBMTTQ Ủy ban Mặt trận tổ quốc UBND Ủy ban nhân dân

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xuyên suốt tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh luôn quan niệm “Dân là chủ” và “Dân làm chủ” Quán triệt tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ, Đảng ta đã đề ra những chủ trương, chính sách để đề cao và phát huy dân chủ trong nhân dân và nhà nước ta đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối

đó thành pháp luật và đảm bảo thi hành Thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 Bộ Chính trị khóa XIII về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ

ở cơ sở, Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 (sau được thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003) ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh

số 34) ngày 20/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn được ra đời Đây là những văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu một bước phát triển

về thực hiện dân chủ và sự thể chế hoá phương châm ''dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra'' của Đảng nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngay từ cơ sở

Thời gian qua, ở nước ta, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở nói chung và ở xã, phường, thị trấn nói riêng đã được cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở quan tâm thực hiện nghiêm túc, từ việc ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, đề ra những giải pháp đẩy mạnh thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn đạt hiệu quả cao hơn Chính vì vậy, trong những năm gần đây, ở Hưng Yên nói chung và huyện Kim Động nói riêng việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã đạt được kết quả đáng kể và tương

Trang 9

đối toàn diện góp phần bảo đảm quyền lực thực sự của nhân dân trong xây dựng Nhà nước, quản lý xã hội; kiện toàn nâng cao chất lượng hoạt động của

hệ thống chính trị ở cơ sở; phát triển kinh tế, xã hội; bảo đảm an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội ở địa phương Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn còn nhiều hạn chế, yếu kém Ở một số nơi, nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên, công chức chưa đầy đủ, chưa thấy hết tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, còn xảy ra tình trạng cản trở việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân Một số địa phương thực hiện còn hình thức, tổ chức triển khai chưa đồng bộ và thường xuyên Một số cán bộ, công chức cơ sở còn thiếu trách nhiệm, không muốn triển khai thực hiện hoặc triển khai còn nặng về hình thức, làm qua loa, chiếu lệ Quyền làm chủ của nhân dân ở không ít địa phương chưa được thực hiện một cách đầy đủ, quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân còn bị vi phạm Một bộ phận nhân dân chưa biết và chưa thấu hiểu về thực hiện dân chủ ở cơ sở, chưa nhận thức đầy đủ quyền và lợi ích của mình khi tham gia các quan hệ xã hội, nhất là quan hệ với chính quyền cơ sở, cá biệt còn có trường hợp lợi dụng dân chủ, gây mất ổn định về an ninh trật tự ở nông thôn Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật còn chưa phù hợp với thực tiễn, tính khả thi không cao khi áp dụng đã ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở hiện nay

Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) luôn là vấn đề mang tính thời sự Vì thế, chúng ta vừa phải thường xuyên tổng kết thực tiễn vừa

đi sâu nghiên cứu và nhận thức đúng đắn về lý luận, vừa phải thường xuyên đổi mới hình thức, biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã

Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ

sở ở xã trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” làm luận văn Thạc sĩ,

chuyên ngành lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật Đây là vấn đề cần

Trang 10

thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, tác giả hi vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã nói chung và trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Những nội dung liên quan đến vấn đề thực hiện pháp luật về dân chủ ở

cơ sở nói chung và ở xã, phường, thị trấn nói riêng được nhiều nhà khoa học, những người làm công tác lý luận nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau được công bố dưới dạng đề tài khoa học, chuyên đề, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài báo đăng tải trên các tạo chí, sách, báo

Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu như:

- “Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới” của GS,TS Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị Quốc gia, 2010

- "Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước

ta hiện nay" của TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông, Nxb Chính trị quốc gia, 2003

- "Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa" của Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991

- "Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của PGS,TS Dương Xuân Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

- "Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay" của TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông, Nxb Chính trị quốc gia, 2005

Ngoài ra một số các bài viết của các tác giả đã nghiên cứu một cách cơ bản, đưa ra những luận cứ khoa học phân tích làm rõ khái niệm, bản chất, vai trò quan trọng của dân chủ, dân chủ ở cơ sở, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở; những thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong xây dựng và thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở nói chung và từng địa phương nói riêng như:

- "Quan hệ giữa thực thi Quy chế dân chủ ở cơ sở với xây dựng chính

Trang 11

quyền cơ sở nông thôn", của TS Nguyễn Văn Sáu, Tạp chí Lý luận chính trị,

- "Về dân chủ ở cơ sở" của PGS Nguyễn Huy Quý, Tạp chí Cộng sản,

số 4, tháng 2/2004

Tuy nhiên, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở vẫn là đề tài luôn có tính thời sự cao, bởi việc thực hiện hầu như ở bất cứ nơi nào cũng có rất nhiều khiếm khuyết, bất cập, mỗi nơi mỗi khác Trong luận văn này, tác giả sẽ cố gắng góp phần nghiên cứu, bổ sung những vấn đề mới để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Kim Động nói riêng và tỉnh Hưng Yên nói nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

* Mục đích: Làm rõ những vấn đề lý luận thực hiện pháp luật về dân

chủ ở xã và đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, luận văn đề xuất các giải pháp bảo

Trang 12

đảm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn toàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay

* Nhiệm vụ: Để đạt mục đích trên luận văn có nhiệm vụ làm rõ các vấn

đề cơ bản sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở

- Đánh giá thực tế kết quả, chỉ rõ những hạn chế, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn huyện

- Đưa ra quan điểm, đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn huyện và trên phạm vi toàn tỉnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã từ khi

thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị, trọng tâm từ khi thực hiện Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa

XI về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đến nay

Phạm vi nghiên cứu: Việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã từ năm

2007 đến nay trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu;

- Phương pháp so sánh;

- Phương pháp phân tích và tổng hợp;

- Kết hợp phương pháp thống kê, điều tra xã hội học

Trang 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn đóng góp thêm nhận thức về cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã hiện nay

- Góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện pháp luật về dân chủ

ở xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

về dân chủ ở xã trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về dân chủ ở

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn

huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về dân

chủ ở xã trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ

1.1 Khái niệm, quan điểm về dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh

1.1.1 Khái niệm

* Dân chủ và các hình thức của dân chủ

- Khái niệm dân chủ

Thuật ngữ "dân chủ" ra đời sớm vào thế kỷ thứ VII-VI (TCN), người đầu tiên đặt nền móng cho nguyên lý này là nhà triết học cổ đại Xôlông Theo tiếng Hy Lạp thì "dân chủ" là một từ ghép của hai từ Demos (người bình dân)

và Kratos (quyền lực) Như vậy, với nguyên nghĩa của từ dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực của nhân dân

Có nhiều quan niệm khác nhau về dân chủ Có quan niệm cho rằng dân chủ như một dòng sông chảy xuyên suốt lịch sử, kể cả khi trong đời sống xã hội trước đây chưa xuất hiện và sau này không còn giai cấp, Nhà nước, vì thế,

có một nền dân chủ chung cho toàn nhân loại và dân chủ là một phạm trù vĩnh viễn Quan niệm khác lại hiểu dân chủ là một thể chế chính trị, một hình thức Nhà nước, ra đời và tồn tại gắn với sự hiện diện của một giai cấp và Nhà nước nhất định, do đó, nó là một phạm trù lịch sử mang tính giai cấp Một số học giả lại cho rằng dân chủ là một phạm trù lịch sử, gắn với giai cấp khi nó là một hình thức Nhà nước và dân chủ là một phạm trù vĩnh viễn không nhất thiết phải gắn với giai cấp khi nó là một kiểu tổ chức quản lý xã hội

Từ góc độ khái quát nhất có thể hiểu dân chủ là một phương thức cầm quyền mà cho phép các cá nhân, các nhóm và tất cả các chủ thể khác nhau trong xã hội có những cơ hội bình đẳng để tham gia các tiến trình và hoạt động chính trị một cách đầy đủ và thực sự

Trang 15

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, dân chủ là mục tiêu và nguyên tắc trong mọi hoạt động xã hội mà giai cấp công nhân và chính đảng tiền phong của nó phải quán triệt, chỉ đạo thực hiện nhằm hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân vào cuộc sống Dân chủ xã hội chủ nghĩa là đỉnh cao của nền dân chủ, vì các nền dân chủ trước đó đều là dân chủ cho giai cấp thiểu số trong xã hội, dân chủ mang bản chất giai cấp sâu sắc Trong đó, con người là thành viên của xã hội có đầy đủ tư cách công dân - đó là quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở là tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, dân là gốc, dân là chủ, dân làm chủ

- Các hình thức của dân chủ

Hình thức dân chủ là toàn bộ các phương pháp, cách thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Hai hình thức của dân chủ, đó là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp

Dân chủ đại điện là một thể thức dân chủ, trong đó nhân dân thực hiện chủ quyền của mình qua khâu trung gian của những đại diện được chọn bằng phương pháp bầu cử Phương pháp này được áp dụng rộng rãi trong chế độ tư bản và trong chủ nghĩa xã hội Vì thế cho nên, các nhà tư bản hoặc xã hội chủ nghĩa phần lớn chỉ tổ chức theo chính thể cộng hòa mà không được tổ chức theo một loại chính thể nào khác

Dân chủ trực tiếp là hình thức qua đó bằng hành vi của mình nhân dân trực tiếp thực hiện quyền dân chủ Về nguyên tắc, dân chủ trực tiếp được hiểu

là dân tự mình quyết định các vấn đề của nhà nước và xã hội Cao nhất của dân chủ trực tiếp là hình thức trưng cầu ý dân Những hình thức thấp hơn của

nó là các hình thức dân chủ như người dân được bàn bạc về các công việc của Nhà nước và của cộng đồng dân cư; được bàn và quyết định những vấn đề ở

cơ sở; nhân dân trực tiếp kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước nhất là ở cơ sở

Trang 16

Ở nước ta, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước theo quy định tại Điều 6 của Hiến pháp năm 2013

Nhìn chung, dân chủ được tiến hành bằng hình thức nào cũng phải đảm bảo yêu cầu, nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa, tuân thủ nghiêm túc Hiến pháp, pháp luật và giữ vững đường lối của Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh, trí tuệ của nhân dân để ngày càng thu hút đông đảo nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội

1.1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ

Kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với giá trị truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh đã tiếp cận và lý giải khái niệm "dân chủ" một cách đơn giản, nhưng hết sức cô đọng và điều quan trọng là mọi người

(đặc biệt là người dân) dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm soát Người nói: "Chế

độ ta là chế độ dân chủ Tức là dân làm chủ" [50, tr.251] “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [46, tr 515]

Như vậy, "dân là chủ" và "dân làm chủ" là cốt lõi trong khái niệm "dân chủ" mà Hồ Chí Minh giải thích Quan điểm "dân là chủ", "dân làm chủ" là quan điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một chế độ xã hội mới, một nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, mà trong đó địa vị của người dân từ một người dân mất nước (nô lệ) trở thành chủ nhân của xã hội với tư cách là một "công dân" và nhà nước đó đã bảo đảm quyền "là chủ" đó của công dân để họ trở thành người "làm chủ" trong việc xây dựng nhà nước và

xã hội Do vậy, thực hành dân chủ (biến dân chủ trở thành hiện thực) được Hồ Chí Minh xem như là chiếc "chìa khóa vạn năng" để đi đến thành công

Theo Người quyền lực của nhà nước là của nhân dân, Nhà nước là của dân, do dân, vì dân Trong tổ chức bộ máy Nhà nước có thang, bậc, quyền hạn

Trang 17

khác nhau nhưng đều là một công cụ thể hiện quyền lực nhân dân Cán bộ từ trên xuống dưới làm đầy tớ cho nhân dân, phải xứng đáng là người công bộc

trung thành của nhân dân; “dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa,

là mục tiêu và động lực của phát triển xã hội, dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ; thực hiện dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn để giành thắng lợi” [51, tr.249]

Cùng với việc xây dựng chế độ dân chủ, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân vì Người cho rằng đây là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, là cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo

quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ

đại hơn hết”, “không ai chiến thắng được lực lượng đó” [52, tr.20] Người đã

sớm nhận thức được sức mạnh của quần chúng nhân dân, coi trọng dân, lấy dân

làm gốc và đã nhắc nhở cán bộ, đảng viên: "dân chúng đồng lòng việc gì cũng

làm được, dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên" [50, tr.239]

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc chúng ta: Nước lấy dân làm gốc, dân lấy cuộc sống làm đầu, chế độ ta là chế độ của dân, do dân Dân theo Đảng đứng lên đánh đuổi kẻ thù giành lấy chính quyền mà có được Các cấp chính quyền

và đoàn thể từ trung ương đến địa phương, cơ sở là do nhân dân bầu cử ra Do vậy, mỗi cán bộ phải vì dân, hết lòng phục vụ mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Theo người phương thức cơ bản của dân chủ cơ sở

là “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trên thế giới không có sức mạnh nào bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân; dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ

Thực hiện tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ và vai trò của dân chủ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi dân chủ là một nội dung quan trọng trong xây dựng, chỉ đạo

Trang 18

thực hiện đường lối, chính sách của Đảng Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để nhân dân vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng, lại vừa là bản chất, là đặc trưng của chế độ mới

Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã triển khai mạnh mẽ sự nghiệp dân chủ hóa trên các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, đặc biệt là dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, trao cho nhân dân quyền chủ động sản xuất kinh doanh, chủ động cải thiện đời sống của mình Dân chủ hóa đời sống xã hội đã khơi nguồn sáng tạo cho nhân dân trong lao động, sản xuất, tham gia xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân Vì vậy, các nhiệm kỳ Đại hội VII, Đại hội VIII, Đại hội IX, Đại hội X, Đại hội XI đã giành sự chú ý quan tâm nhiều đến vấn đề dân chủ và đặt ra một cách dứt khoát mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân, vì dân Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới nói chung và xây dựng Nhà nước nói riêng Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật

về dân chủ Đây là một chủ trương đúng đắn, kịp thời, phù hợp với xu thế phát triển, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, thể hiện ý thức trách nhiệm cao của Đảng, của Nhà nước trước nhân dân và xã hội Để tiếp tục khẳng định mục tiêu trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định:

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục

vụ nhân dân [29, tr.238-239]

Hiện nay, trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở

Trang 19

nước ta, Đảng và Nhà nước đã đề ra những nguyên tắc thể chế hóa, đưa ra những phương châm hành động nhằm hiện thực hóa dân chủ vào cuộc sống ngày càng sâu rộng và đầy đủ hơn Đó là cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ với phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra để thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhờ vậy, dân chủ đã từng bước phát triển và đạt được những thành tựu nhất định trong đời sống xã hội; nền dân chủ đang từng bước được mở rộng và hoàn thiện, là điều kiện để nhân dân sáng tạo, cống hiến cho công cuộc đổi mới đất nước

1.2 Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã

1.2.1 Khái niệm pháp luật về dân chủ

Dân chủ có mối quan hệ mật thiết với pháp luật Dân chủ chính là cơ sở, nền tảng để xây dựng pháp luật Dân chủ là thước đo giá trị của pháp luật, phản ánh mức độ của nền dân chủ Ngược lại, pháp luật đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, bởi vì pháp luật là công cụ quản lý chủ yếu, phổ biến, hiệu lực nhất của quản lý nhà nước Đồng thời, nó là phương tiện ghi nhận và thực hiện nền dân chủ xã hội Pháp luật chứa đựng nội dung của dân chủ, quy định các quyền tự do dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Cụ thể là, pháp luật là phương tiện để xác lập cơ chế làm chủ cho các tổ chức và cá nhân, quy định các biện pháp củng cố, mở rộng và thực hiện dân chủ trên thực tế Pháp luật với thuộc tính vốn có quy định chặt chẽ, chính xác nhiệm vụ, quyền hạn của các thiết chế quyền lực, hạn chế tình trạng lạm quyền, độc đoán chuyên quyền, vi phạm các quyền tự do dân chủ của các chủ thể cầm quyền

Từ những trình bày ở trên, ở mức độ chung nhất, có thể hiểu pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước, các tổ chức và cá nhân

Trang 20

trong việc thực hiện quyền làm chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội Còn, pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn là một nội dung quan trọng của pháp luật về dân chủ, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thừa nhận hoặc ban hành nhằm điều chỉnh quan

hệ giữa chính quyền cơ sở, các tổ chức và cá nhân đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình trong đời sống xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn

1.2.2 Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã

1.2.2.1 Khái niệm

Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý Quá trình thực hiện pháp luật được diễn ra tiếp nối với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của nhà nước Về phương diện lý luận, thực hiện pháp luật là khái niệm hiện nay đang có những cách hiểu ít nhiều khác nhau

Theo Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của Trường Đại

học Luật Hà Nội, “Thực hiện pháp luật được quan niệm là quá trình hoạt động

có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [66, tr.463]

Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước và pháp luật - Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh:

Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích là cho những quy phạm của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật [35, tr.270]

Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật

đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật [44, tr.494]

Trang 21

Nhìn chung các định nghĩa nêu trên đều có nội hàm tương đối giống nhau, theo đó, thực hiện pháp luật là hoạt động (việc, quá trình) nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật, làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống Trong quan hệ với cơ sở, thực hiện pháp luật

về dân chủ ở xã, phường, thị trấn là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã đi vào cuộc sống nhằm

mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự là của dân, do dân và vì dân

Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã được thực hiện theo nguyên tắc: đảm bảo trật tự kỷ cương, đảm bảo quyền của nhân dân được biết, được bàn, được tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp xã để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp xã; đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước Hiện nay, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã chủ yếu là tập trung thực hiện những nội dung quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11)

1.2.2.2 Nội dung pháp luật về thực hiện dân chủ ở xã

Nội dung pháp luật về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn theo quy định tại Pháp lệnh số 34 gồm:

- Những nội dung công khai để dân biết:

+ Chính quyền cấp xã thực hiện công khai các nội dung như kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hàng năm của cấp xã; dự án, công trình đầu tư và thứ tự

ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư

Trang 22

trên địa bàn cấp xã; nhiệm vụ, quyền hạn của CBCC cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân; quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu

tư, tài trợ, các khoản huy động nhân dân đóng góp; chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn; đề án thành lập mới, nhập, chia đơn

vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã; kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của CBCC cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố, kết quả lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt cấp xã; nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân; đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cáp xã trực tiếp thu; các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện

Nội dung đó được công khai bằng các hình thức như niêm yết tại trụ sở HĐND, UBND cấp xã; trên hệ thống loa truyền thanh của cấp xã; công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố

- Những nội dung nhân dân bàn và quyết định:

+ Nội dung, hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp như chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí dưới hình thức như tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn; phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình

+ Nội dung, hình thức nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định như hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; thành viên Ban thanh tra nhân

Trang 23

dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng dưới hình thức như tổ chức cuộc họp

cử tri, hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; phát phiếu lấy ý kiến tới từng cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình

- Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định: dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sản xuất; dự thảo quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã… thể hiện dưới hình thức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; phát phiếu lấy ý kiến; thông qua hòm thư góp ý

- Những nội dung nhân dân giám sát: là những nội dung công khai để dân biết; những nội dung nhân bàn và quyết định trực tiếp; nội dung nhân dân bàn, biểu quyết và những nội dung nhân dân tham gia ý kiến được thực hiện dưới hình thức thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng; thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị

- Quy định trách nhiệm của chính quyền, CBCC xã, phường thị trấn; của cán bộ thôn, làng; của tổ dân phố, khu phố, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã

1.2.3 Đặc điểm của thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã

Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã bên cạnh những đặc điểm chung, còn có điểm riêng, đó là:

Một là, chủ thể thực hiện:

Thực hiện pháp luật dân chủ ở xã được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau, trong đó, nhân dân là một chủ thể đặc biệt quan trọng Không ít người dân hiện nay khi được hỏi về quy chế dân chủ, dân chủ ở cấp xã thì trả lời với một thái độ rất bàng quan rằng đó là việc của chính quyền, đoàn thể Nhiều người dân quanh năm sống với đồng ruộng, một quyết định từ UBND xã ban

Trang 24

hành chứ chưa nói đến những cấp cao hơn là huyện, tỉnh, rồi trung ương, họ luôn tự nhìn nhận mình với vị trí là “đối tượng phải thi hành” Khác với nhiều quan hệ pháp luật trong đó chủ thể thực hiện chủ yếu là nhà nước thì pháp luật về dân chủ ở xã được thực hiện bởi nhiều chủ thể Đó chính là hệ thống chính trị ở cơ sở, và quan trọng hơn là những người dân sống tại địa bàn cơ

sở Chính họ sẽ quyết định hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã Xét cho cùng, sự nghiệp đổi mới của đất nước nói chung và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng tùy thuộc lớn vào cơ sở, vào chính quyền xã, mà sức mạnh của chính quyền là ở nơi dân, là việc quy tụ được lòng dân, là phát huy tình đoàn kết, truyền thống, tinh thần làm chủ của nhân dân, là hướng tới dân, vì lợi ích của dân

Hai là, phạm vi thực hiện: việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã được

triển khai trên địa bàn rộng lớn nhất so với các loại hình dân chủ khác ở cơ sở Điều này lý giải bởi hệ thống chính quyền xã là hệ thống quyền lực có địa bàn rộng lớn nhất Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009, 70% dân số nước

ta đang sống ở khu vực nông thôn, lao động nông thôn hiện chiếm 75% tổng lực lượng lao động cả nước và chủ yếu tập trung sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, cấp xã chính là cấp gắn với cuộc sống nhân dân nhất Chính quyền cấp cơ sở được hình thành trên một cộng đồng dân cư, cộng đồng lãnh thổ bền vững Do đó “dân chủ ở cơ sở” phải được hiểu là dân chủ ở cấp thấp nhất,

là nơi người dân thể hiện trực tiếp nhất quyền làm chủ của mình Đó là thôn, làng, bản, ấp - là những đơn vị hành chính tự nhiên được hình thành bằng một cộng đồng dân cư chặt chẽ Và suy cho cùng, tất cả các tổ chức quyền lực nhà nước cấp trên, muốn phát huy tác dụng cuối cùng đều phải thông qua vai trò của hệ thống chính quyền xã; dân gắn với nhà nước, trước hết và trực tiếp thông qua quan hệ với chính quyền cơ sở; tạo lập lòng tin của dân với Đảng, với Nhà nước trước hết cũng thực hiện thông qua quan hệ giữa nhân dân với

Trang 25

chính quyền xã Vì vậy thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã được triển khai trên phạm vi rộng lớn nhất, tác động đến nhiều chủ thể nhất so với việc thực hiện dân chủ ở cơ quan hay doanh nghiệp…

Ba là, nội dung thực hiện: pháp luật về dân chủ ở cơ sở khá rộng bao

hàm trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, có liên quan trực tiếp đến quyền

và lợi ích của người dân nơi cư trú, được thực hiện theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, có mối quan hệ mật thiết với nhau, chất lượng của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã góp phần đảm bảo sự tồn tại, phát triển của pháp luật nói chung, và pháp luật về dân chủ nói riêng, tiến tới để hoàn thiện hệ thống pháp luật trong tương lai, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đó là các quy định của pháp luật về dân chủ ở cấp xã đã, đang và sẽ được triển khai trên địa bàn từng xã cụ thể với những nội dung chủ yếu: quy định cụ thể những nội dung công khai

để nhân dân biết, nhân dân bàn và quyết định trực tiếp, nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định; hoặc nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định; nhân dân thực hiện giám sát Phạm vi này diễn ra giữa các chủ thể mà một bên bao giờ cũng là công dân sống trong một đơn vị hành chính nhất định hoặc những đơn vị nhỏ nhất

Bốn là, tính chất thực hiện:

Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục gắn liền với các hoạt động trên địa bàn thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố Nói rằng dân chủ ở xã - tên gọi là thế nhưng kỳ thực mảnh đất hiện sinh cho dân chủ không hẳn tập trung tại trụ sở của chính quyền xã, là thuần tuý xã mà

nó phải đi xuống thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố - là những đơn vị hành chính

tự nhiên Hơn nữa, dân chủ không chỉ là thực hiện những quy định trong các quy chế dân chủ, mà thể hiện thường xuyên, liên tục bằng tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội của chính người dân tại đây Chính vì thế, dân chủ ở xã không

Trang 26

thể khác hơn là trở về, được thực hiện bởi chính dân chủ thôn, làng Chính quyền xã chỉ còn tồn tại với vai trò là đại diện cho nhà nước giám sát, kiểm tra việc thực hiện dân chủ, của cấp xã mang tính chất định hướng cho thôn, làng phát triển

Năm là, thực hiện pháp luật dân chủ ở xã là thực hiện các quy phạm cụ thể

quy định trong các văn bản do Nhà nước ban hành, cụ thể ở đây là các quy định trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ tại xã, phường, thị trấn Điều này là hoàn toàn cần thiết để tránh các trường hợp lợi dụng dân chủ, dân chủ quá trớn, vô chính phủ Dân chủ phải được hiểu là sự tự do trong khuôn khổ pháp lý Do vậy, không thể cho rằng "dân chủ" và "hoàn toàn tự do" là một Dân chủ phải gắn liền với chuyên chính Chuyên chính không phải là mục đích của dân chủ

mà là phương tiện bảo vệ nền dân chủ, bảo vệ những lợi ích của nhân dân, chống lại những kẻ đi ngược lại lợi ích của nhân dân, đi ngược lại chế độ dân chủ của nhân dân Quyền làm chủ của một cá nhân không được đi ngược lại quyền làm chủ của các cá nhân khác và của cộng đồng Xã hội dân chủ là một

xã hội có trật tự kỷ cương Dân chủ đối lập với sự độc đoán, chuyên quyền, đồng thời cũng đối lập với sự hỗn loạn, vô chính phủ Để tránh tình trạng mất dân chủ hoặc lợi dụng dân chủ, đòi hỏi phải có các quy định mang tính quyền lực nhà nước cũng như các cơ chế để đảm bảo thực hiện được trên thực tế Hơn nữa, thực hiện dân chủ với nhân dân không chỉ là các quy định trong Pháp lệnh

34 là đủ, mà đòi hỏi chính quyền cấp xã phải thể hiện được vai trò tích cực của mình trong tất cả lĩnh vực theo các quy định có liên quan của Nhà nước

Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã còn liên quan tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện tốt ở địa phương cơ

sở Hơn nữa, pháp luật về dân chủ còn quy định việc xây dựng hương ước, quy ước mang tính xã hội, tính cộng đồng, do đó, pháp luật về dân chủ không chỉ là công cụ để quản lý nhà nước mà còn là công cụ để nhân dân xây dựng

Trang 27

nếp sống tự quản trong cộng đồng dân cư, góp phần không nhỏ trong việc bảo

vệ an ninh trật tự nơi thôn, xóm, phố

1.3 Pháp luật về dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam từ năm 1945 đến khi

có Chỉ thị số 30 của Bộ Chính trị

Ngay từ khi thành lập ra nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chỉ sau ngày Tuyên ngôn độc lập, ngày 3/9/1945, Hồ Chủ tịch đã đề nghị Chính phủ lâm thời sớm tổ chức một cuộc tuyển cử và xây dựng Hiến pháp Người nói:

Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế cai trị, nên nước

ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ, Tôi đề nghị Chính phủ phải tổ chức càng sớm càng hay cuộc tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Tất cả mọi công dân, trai gái, từ 18 tuổi đều có quyền bầu cử, ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, dòng giống [48, tr.6-7]

Hiến pháp năm 1946 chú trọng đặc biệt đến việc bảo đảm quyền lợi dân chủ cho nhân dân Hiến pháp đã xây dựng một chương riêng về chế định công dân Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân được bảo đảm các quyền

tự do dân chủ Điều 10 Hiến pháp ghi nhận:

Công dân Việt Nam có quyền:

Trang 28

Đến Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992, 2013 tiếp tục quy định và

mở rộng quyền tự do dân chủ của người dân

Ngày 18/2/1998 Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra Chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở

cơ sở Chỉ thị nêu rõ:

Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được Phương châm

"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hóa và thể chế hóa thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống [12, tr 9]

Nhằm khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng, Chỉ thị nhấn mạnh:

Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất

Muốn vậy, Nhà nước cần ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện [12, tr.10]

Như vậy, Đảng ta đã xác định dân chủ phải bắt đầu từ cơ sở, bởi vì cơ

sở là nơi trực tiếp gắn bó với nhân dân, tổ chức, vận động nhân dân thực hiện mọi chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; mọi sự đổi mới của hệ thống chính trị ở cơ sở dù lớn hay nhỏ đều tác động trực tiếp và nhanh chóng đến quyền và nghĩa vụ của nhân dân

1.4 Các hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã

Căn cứ vào tính chất hoạt động thực hiện pháp luật, có thể xác định thực

Trang 29

hiện pháp luật bao gồm các hình thức: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật,

sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật Trong đó, thi hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Sử dụng pháp luật là hình thức trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình là những hành

vi mà pháp luật cho phép Ở hình thức này, các chủ thể pháp luật có thể thực hiện hay không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã được sử dụng chủ yếu ở hình thức sử dụng pháp luật (đối với chủ thể là công dân) và chấp hành pháp luật (đối với chủ thể

là chính quyền và các tổ chức chính trị, xã hội ở cơ sở) Việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã được thực hiện thông qua các hình thức sau:

- Hình thức tuân thủ pháp luật dân chủ:

Đây là hình thức thực hiện pháp luật yêu cầu các chủ thể tự kiềm chế không thực hiện những điều mà pháp luật ngăn cấm

+ Đối với chính quyền xã: trong quan hệ với nhân dân không được giải quyết các vụ việc vượt quá thẩm quyền; không được bao che, dung túng cho những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật như vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thủy lợi, đê điều, giao thông đường bộ , thu các khoản thu trái pháp luật và đặc biệt không được cản trở hoặc vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân như cấm không cho nhân dân hội họp, phát ngôn, không được có những hành vi, thái độ gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân

+ Đối với nhân dân: khi thực hiện tuân thủ pháp luật về dân chủ ở xã được biểu hiện qua việc không lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân để gây rối trật tự công cộng, chống đối chính quyền làm ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước của chính quyền cấp xã, gây mất trật tự địa phương; không tự ý dịch chuyển mốc địa giới thuộc quyền quản lý của chính quyền xã…

Trang 30

- Hình thức chấp hành pháp luật về dân chủ:

+ Đối với chính quyền xã: công khai những việc nhân dân được biết bằng việc niêm yết công khai tại trụ sở UBND, thời gian niêm yết; công khai trên hệ thống truyền thanh của xã; hoặc thông qua thôn, tổ dân phố, là những hình thức cụ thể mà chính quyền cấp xã phải thực hiện để công khai hóa toàn

bộ nội dung phải được công khai cho nhân dân biết tại mục 2 Pháp lệnh số 34 Công khai, minh bạch các nội dung đó là vừa yêu cầu khách quan, cấp bách vừa là hình thức thi hành quyền lực nhà nước, là điều kiện đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, là cơ sở để nhân dân giám sát Nhà nước Thực hiện tốt việc công khai góp phần khắc phục tình trạng che dấu thông tin, hạn chế tham nhũng, tiêu cực, tránh được tình trạng cục bộ địa phương Để làm được điều đó đòi hỏi chính quyền địa phương phải thực hiện tốt các công việc

từ việc lựa chọn, bố trí CBCC cấp xã đến việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện một cách chi tiết, cụ thể, đảm bảo tính hợp pháp và tính hợp lý để thực hiện công khai cho mọi người dân biết, có như vậy mục đích của công khai mới đạt được

+ Đối với nhân dân: hình thức chấp hành pháp luật về dân chủ ở xã thể hiện trong việc thực hiện tích cực các nghĩa vụ pháp lý của mình như đóng các khoản phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền xã trực tiếp thu; các khoản đóng góp tự nguyện đã được thống nhất trong nhân dân trong xây dựng các công trình phúc lợi, công trình công cộng; nghĩa vụ chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã phê duyệt như giải phóng mặt bằng theo phương án đã được cấp có thẩm quyền quyết định; quyết định giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo

- Hình thức sử dụng pháp luật về dân chủ:

Đây là một trong những hình thức quan trọng nhất của nhân dân được pháp luật về dân chủ ở xã quy định chi tiết, cụ thể trong Pháp lệnh, là cơ sở

Trang 31

pháp lý để buộc chính quyền xã phải tôn trọng và phải tạo mọi điều kiện cho nhân dân sử dụng quyền dân chủ của mình Đó là các quyền được bàn về chủ trương đóng góp xây dựng hạ tầng cơ sở, công trình phúc lợi ở địa phương, đóng góp ý kiến vào quy hoạch, kế hoạch; quy định kế hoạch sử dụng đất đai; bàn xây dựng hương ước của thôn, của tổ dân phố; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố; bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng… Trên cơ sở đó nhân dân được quyền thể hiện ý chí, quan điểm của mình một cách chủ động, phù hợp với điều kiện, khả năng của bản thân và của địa phương góp phần thực hiện dân chủ ở cơ sở đúng với bản chất của dân chủ XHCN

- Hình thức áp dụng pháp luật về dân chủ:

Pháp luật về dân chủ ở cơ sở tác động vào các quan hệ xã hội, vào cuộc sống đạt hiệu quả cao nhất chỉ khi tất cả những quy định của nó đều được thực hiện chính xác, triệt để trong thực tế Tuy nhiên, nếu chỉ thông qua các hình thức tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật trên thì sẽ có rất nhiều quy phạm pháp luật về dân chủ ở cơ sở không được thực hiện Lý do

có thể là các chủ thể không muốn thực hiện hoặc không đủ khả năng tự thực hiện nếu thiếu sự tham gia của các chủ thể có thẩm quyền Vì vậy, phải có hình thức áp dụng pháp luật về dân chủ ở cơ sở, đây là hình thức mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua chính quyền xã hoặc CBCC xã nhằm

cá biệt hóa, hiện thực hóa các quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, như theo thẩm quyền chính quyền xã ra quyết định phê chuẩn công nhận kết quả bầu, bãi nhiệm trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố; quyết định kỷ luật CBCC xã vi phạm, cản trở việc thực hiện các quyền dân chủ công dân; quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật khiếu nại, Luật tố cáo

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã

Từ lý luận và thực tiễn cho chúng ta thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã Cụ thể là:

Trang 32

Tính toàn diện, đồng bộ thể hiện ở chỗ mỗi văn bản quy phạm pháp luật phải có đủ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật; từng quy phạm pháp luật về dân chủ phải có cấu trúc lôgic chặt chẽ; tránh hiện tượng trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn ngay trong các quy định của văn bản; ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn chi tiết cho văn bản hay các quy định pháp luật về dân chủ trong những trường hợp cần có sự quy định chi tiết, để khi văn bản pháp luật về dân chủ có hiệu lực thì nó cũng đã có đủ các điều kiện để có thể được tổ chức thực hiện ngay trên thực tế

Tính phù hợp thể hiện ở nội dung của pháp luật về dân chủ luôn có sự tương quan với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Pháp luật về dân chủ nói riêng cũng như pháp luật nói chung phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, nó không thể cao hơn, hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó Pháp luật về dân chủ ở cơ sở ra đời, tồn tại và phát triển ở cơ sở nên nó phải có nội dung phù hợp với điều kiện ở cơ sở

Chất lượng của pháp luật về dân chủ còn thể hiện ở ngôn ngữ và kỹ thuật xây dựng pháp luật, đó phải là cách thức phương tiện, kỹ thuật pháp lý, các quy tắc pháp lý tiên tiến, khoa học nhất đảm bảo các quy phạm pháp luật về dân chủ được lôgic, chặt chẽ, với các thuật ngữ chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quần chúng nhân dân… Hơn nữa, tính khả thi của pháp luật về dân chủ cũng là một trong những yếu tố rất quan trọng đảm bảo triển khai thực hiện trong thực tế Nghĩa là các quy định của

Trang 33

pháp luật về dân chủ phải có khả năng thực hiện được trong những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội hiện tại

Như vậy, thể chế về dân chủ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở đạt được kết quả cao trong thực tiễn, đồng thời cho phép dự báo được khả năng hiện thực hóa các quy định pháp luật trong đời sống xã hội Pháp luật được ban hành kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với các quy luật khách quan và phù hợp với điều kiện kinh

tế xã hội và ở trình độ pháp lý cao, rõ ràng, chính xác và một nghĩa thì tạo cơ

sở cho điều chỉnh và tác động pháp luật đạt được kết quả cao và ngược lại

1.5.2 Sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cơ sở

Đảng bộ ở xã là hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Với vị trí, chức năng của mình, Đảng bộ xã có nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng và thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; giám sát mọi hoạt động của xã theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Chi bộ khu phố, thôn xóm là chi bộ trực thuộc Đảng bộ xã, phường, thị trấn, là “tế bào” của Đảng, là gốc rễ và là nơi mà mọi đường lối, chủ trương của Đảng đến được với nhân dân Cán bộ, đảng viên của Đảng bộ xã gương mẫu thực hiện nhiệm vụ do Chi bộ thôn, khu phố giao và giám sát kiểm tra việc thực hiện đó Với vai trò lãnh đạo toàn diện, Đảng bộ xã phải lãnh đạo các chi bộ trực thuộc, đảng viên, chính quyền, đoàn thể đưa pháp luật dân chủ

về cơ sở để thực hiện trong cuộc sống

Để nhân dân trên địa bàn thực hiện pháp luật về dân chủ Trước tiên, cán

bộ đảng viên phải là người nhận thức sâu sắc về dân chủ, thực hiện và triển khai thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và tập trung chỉ đạo thể chế hóa

Trang 34

các nghị quyết của Đảng về dân chủ thành các chương trình kinh tế - xã hội phục vụ cho lợi ích của nhân dân Thực tiễn cho thấy, ở nơi nào tổ chức Đảng

cơ sở quán triệt đầy đủ, sâu sắc, xác định đúng đắn vị trí, vai trò lãnh đạo toàn diện và thực hiện nghiêm túc pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở thì ở đó quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng và phát huy hiệu quả Ngược lại,

ở địa phương nào chi bộ, Đảng bộ yếu kém thì dân chủ bị vi phạm, kỷ cương phép nước không nghiêm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Hơn mười năm thực hiện Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, các tổ chức Đảng ở cơ sở đã thể hiện được vai trò, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình trong việc triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở Thông qua tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý thức pháp luật nói chung, ý thức về dân chủ nói riêng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Đảng bộ xã đã đưa các văn bản pháp luật về dân chủ đi vào cuộc sống Vì thế, việc thực hiện dân chủ ở xã có đạt chất lượng hiệu quả cao hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, điều hành của chính quyền cơ sở theo phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"

1.5.3 Tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động của chính quyền xã

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân, chính quyền từ Trung ương đến địa phương đều do nhân dân bầu ra để thay mặt nhân dân thực hiện các nhiệm vụ nhất định, đảm bảo cuộc sống của nhân dân, đặc biệt là thực hiện các quyền dân chủ của nhân dân Do

đó, việc chính quyền xã thực hiện chức năng nhiệm vụ pháp luật quy định cũng chính là việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở

Để tổ chức thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã thì trước hết chính quyền

cơ sở phải thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà pháp luật đã

Trang 35

quy định theo nguyên tắc được làm những gì mà pháp luật cho phép Chẳng hạn, với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND khi làm nhiệm vụ cũng không được đặt ra những quy định trái với Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Trong phạm vi thẩm quyền của mình, HĐND trước khi ban hành những nghị quyết gắn với lợi ích của nhân dân, tiềm năng của địa phương hay mức sống của nhân dân cũng không được tùy tiện, tự ý mà phải xin ý kiến đóng góp của nhân dân Nghị quyết của HĐND về chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội riêng mang bản sắc, đặc trưng của địa phương Trên cơ sở Nghị quyết của HĐND, UBND có trách nhiệm triển khai thực hiện các chủ trương, định hướng mà HĐND xã đã thông qua Trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định rất rõ trách nhiệm của HĐND và UBND xã đối với việc tổ chức thực hiện những nội dung về quyền dân chủ của nhân dân Tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện trong hoạt động của chính quyền cơ sở như thông qua nhân dân những nội dung liên quan đến quyền, lợi ích chung, những chủ trương, chính sách liên quan đến cuộc sống người dân Trên thực tế vẫn còn có những tình trạng vi phạm dân chủ, gây khiếu kiện kéo dài là do chính quyền cơ sở ở một vài địa phương đã không thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, thậm chí lợi dụng quyền hạn đã làm trái với lợi ích của cộng đồng xã hội, vi phạm Hiến pháp và pháp luật

1.5.4 Sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở xã

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở có vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở Hiến pháp năm

2013, Điều 9 khẳng định:

1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã

Trang 36

hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

3 Mặt trâ ̣n Tổ quốc Viê ̣t Nam , các tổ chức thành viên của

Mă ̣t trâ ̣n và các tổ chức xã hội khác hoa ̣t đô ̣ng trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luâ ̣t Nhà nước ta ̣o điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức

xã hội khác hoạt động [57, Điều 9]

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được cụ thể hóa tại Điều 1 Luật

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của

hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [58] Mặt

trận Tổ quốc Việt Nam là một trong những chủ thể quan trọng trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, quyền và trách nhiệm của chủ thể thực hiện pháp luật được quy định rõ trong Luật Mặt trận Tổ quốc và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Mặt trận Tổ quốc thực hiện và tổ chức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong cơ chế tham gia quản lý lẫn cơ chế tác động vào quản lý Nhà nước Nhà nước không thể đảm đương hết các công việc nếu như không có sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên

Quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở có được thực hiện triệt để hay không phụ thuộc vào sự phối hợp giữa Mặt trận tổ quốc và các tổ chức đoàn

Trang 37

thể ở cơ sở Với vai trò là cơ quan phản biện xã hội, thông qua các hoạt động của mình Mặt trận tổ quốc và các thành viên đảm bảo cho nhân dân thực hiện các quyền dân dủ, đảm bảo cho pháp luật về dân chủ ở cơ sở được thực hiện triệt để Thực tế đã thấy rõ ở đâu Mặt trận làm tốt công tác phối hợp, phát huy vai trò phản biện tốt bấy nhiêu thì ở đó quyền làm chủ của người dân được đảm bảo bấy nhiêu

Chính vì vậy, vai trò lãnh đạo của cả hệ thống chính trị cấp cơ sở là yếu

tố ảnh hưởng đến quyền làm chủ của nhân dân ở xã

1.5.5 Trình độ, năng lực, uy tín của đội ngũ cán bộ, công chức xã

Theo nghĩa rộng, CBCC cấp cơ sở là người làm việc cho Nhà nước ở cấp

cơ sở, được Nhà nước trả một khoản nhất định liên quan đến phụ cấp làm việc, chế độ lương, bảo hiểm Đó là những người làm việc cho chính quyền cấp cơ sở; những người tham gia các hoạt động mang tính thường xuyên và không thường xuyên như dân số, phụ nữ, làm việc ở các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội Phụ cấp của họ lấy từ ngân sách Nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước

Theo nghĩa hẹp, CBCC cấp cơ sở là người làm việc cho các cơ quan quản lý Nhà nước ở cấp cơ sở Căn cứ điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ, cán bộ chuyên trách cấp xã bao gồm các chức danh sau: Bí thư, phó bí thư đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND; Chủ tịch, phó phủ tịch UBND; chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp và có tổ chức Hội nông dân Việt Nam) Công chức cấp xã có các chức danh sau: trưởng công an, chỉ huy trưởng quân sự, văn phòng thống

kê, địa chính xây dựng đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính nông nghiệp, xây dựng và môi trường (đối với xã); tài chính, kế

Trang 38

toán; tư pháp - hộ tịch; văn hóa - xã hội; Cán bộ không chuyên trách ở thôn và

tổ dân phố gồm: bí thư chi bộ, trưởng thôn; công an viên ở thôn và bí thư chi

bộ, tổ trưởng tổ dân phố ở phường, thị trấn

Hội nghị Trung ương 3 (khoá VIII) đã khẳng định: Cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới CBCC cơ

sở có góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương, đường lối và nhiệm

vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Họ vừa là người trực tiếp đem các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với dân, vừa là người giải thích cho dân hiểu, vừa là người thi hành, vừa là người phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng, Nhà nước Cho nên, họ

là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân Mặt khác, CBCC ở

cơ sở có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ, bảo đảm kỷ cương tại cơ

sở, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Vì thế, việc xây dựng đội ngũ CBCC cơ sở vững vàng về chính trị, có đạo đức, trong sạch về lối sống, có kiến thức, trình độ, năng lực

là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở Vì vậy trình độ, năng lực, uy tín của đội ngũ cán bộ ảnh hưởng rất lớn đến thực hiện pháp luật dân chủ ở xã

1.5.6 Đặc điểm địa bàn dân cư, trình độ dân trí

Đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã Cấp xã chủ yếu là địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi còn nhiều khó khăn về giao thông, thông tin liên lạc Vì vậy, trình độ dân trí cũng không đồng đều giữa xã, phường, thị trấn Người dân ở xa trung tâm thị xã, thị trấn có thể trình độ dân trí thấp hơn Đó là môi trường tốt để tình trạng quan liêu, hách dịch nảy sinh và lây nan Một khi người dân không được tiếp cận đầy đủ và nhận thức thông tin, trình độ để thấy rõ các hành vi quan

Trang 39

liêu của các cơ quan, quan chức công quyền, thì cuộc đấu tranh giành những quyền dân chủ chính đáng được pháp luật bảo vệ thường không triệt để, thậm chí còn tạo kẽ hở cho việc hợp thức hoá thủ tục chui gây khó khăn cho cơ quan chức năng điều tra Có thể do quá bức xúc nhưng nhận thức không đúng đắn lại bị kích động nên đã có những hành động quá khích, thực tế vấn đề này được giải quyết tương đối hợp lý nhưng vẫn khiếu kiện vượt cấp Dân trí thấp thì dù có thực hiện dân chủ cũng không mang lại hiệu quả

Trên thực tế thì hiện nay quan niệm "phép Vua thua lệ làng" vẫn còn ăn sâu, bám rễ vào trong tiềm thức của người dân nông thôn do sự hiểu biết hạn chế của họ; tư tưởng cục bộ dòng họ, địa phương, quan liêu, hách dịch, cửa quyền bất chấp pháp luật nảy sinh Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn đã thúc đẩy đô thị hóa, song đặt ra cho chính quyền

cơ sở nhiều đòi hỏi, thách thức trong việc phát huy dân chủ

Trình độ dân trí cũng ảnh hưởng rất nhiều tới việc thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Khi chính quyền đặt ra những chương trình, kế hoạch, quy định mà vượt quá khả năng của người dân thì đương nhiên sẽ khó được thực hiện trong thực tế Nếu người dân không đủ trình độ, khả năng để “biết” những quyền của mình, không đủ trình độ để đánh giá hoạt động của cơ quan công quyền có đảm bảo dân chủ hay không thì họ không thể đấu tranh để bảo vệ quyền của họ, chứ chưa nói đến việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan công quyền Dân chủ trực tiếp không thể đảm bảo nếu trình độ dân trí thấp Mặt khác, đội ngũ CBCC cấp xã

đa số là người địa phương, trưởng thành từ cơ sở, chủ yếu đào tạo tại chức nên chịu ảnh hưởng lớn từ mặt bằng chung của trình độ dân trí Các yếu tố ảnh hưởng từ dòng họ, nếu thiếu tích cực đối với các quyết định của địa phương cũng gặp khó khăn nhất định Thực tế hiện nay không ít các thôn, làng có truyền thống “hay kiện” làm cho tình hình ở xã có nhiều diễn biến

Trang 40

phức tạp nhất là những nơi thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để triển khai các dự án, xây dựng các công trình công cộng và sản xuất kinh doanh Pháp luật về dân chủ nói chung và dân chủ ở xã nói riêng được hoàn thiện đến đâu, chỉ được đánh giá khi thực sự đi vào cuộc sống nếu mỗi người dân nhận thức được đầy đủ quyền cũng như trách nhiệm của mình Pháp luật được đảm bảo thực hiện khi họ đủ nhận thức và năng lực thực hiện, đòi hỏi các cơ quan công quyền phải đảm bảo thực hiện dân chủ và thực hiện tốt phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra

1.6 Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn của một số địa phương trong tỉnh và trong cả nước

Trong qua trình thực hiện luận văn này, tác giả chỉ tham khảo các bài viết liên quan về xây dựng và thực hiện pháp luật về dân chủ ở một số địa phương trong tỉnh, một số Luận văn đã được bảo vệ gần đây và các bài viết trên các trang Báo điện tử của Trung ương và các địa phương Đây có thể là kinh nghiệm tốt để huyện Kim Động cần nghiên cứu triển khai áp dụng trong quá trình thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã:

1.6.1 Những kinh nghiệm rút ra từ phong trào xây dựng nông thôn mới gắn với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại xã Tuy Lộc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái

Vậy là Tuy Lộc đã hội tụ đủ 19/19 tiêu chí trong bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới Một bài học kinh nghiệm đúc rút sau 3 năm triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Tuy Lộc chính là phải luôn đề cao vai trò chủ thể của nhân dân, thông qua việc thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở

Ngay từ khi bắt tay vào thực hiện xây dựng nông thôn mới, Đảng bộ xã Tuy Lộc đã xác định, người dân giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới, bởi họ chính là người trực tiếp thực hiện và thụ hưởng thành quả từ chương trình xây dựng nông thôn mới Do vậy, việc thực

Ngày đăng: 15/07/2015, 23:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm