1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tâm lí học phát triển

27 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 389,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói một cách khác thì tâm lí bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọihành đồng, hoạt động của con người.. Và trong cácmối quan h

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Nghiên cứu tâm lí là một vấn đề khá khó khăn, bởi tâm lí là một bộ môn khoa học

mang tính chất rộng lớn, liên quan đến nhiều ngành khoa học khác Với khả năng và giới

hạn cho phép, bài viết dưới đây chỉ đi sâu vào phân tích một số vấn đề liên quan đến nguồngốc của tâm lí, một số sự khác biệt giữa các lí thuyết phát triển tâm lí của một số nhà tâm líhọc vĩ đại thế kỉ XIX – XX

Mặc dù lĩnh vực mà bài viết đề cập đến phần dưới đây đã có nhiều nhà tâm lí học đềcập đến Tôi chỉ hệ thống lại và trên cơ sở đó nêu lên một số đánh giá, nhận xét chủ quancủa riêng mình về vấn đề đặt ra Tất nhiên, bài viết mang tính lí giải, giải thích một số giảthiết được đặt ra, cụ thể là: Chứng minh hoạt động là yếu tố quyết định đến sự phát triển tâm

lí con người? So sánh lí thuyết phát triển của J Watson với L.X Vugotxki và thuyết của E.Ericson với S Freud Đồng thời đưa ra một số ứng dụng của thuyết phân tâm trong thựchành công tác xã hội Hy vọng bài viết sẽ mang lại cho bạn đọc những kiến thức hữu íchcũng như là một nguồn tài liệu thiết thực cho quá trình tìm hiểu và học tập phân môn Tâm líhọc phát triển và các lĩnh vực có liên quan

Mặc dù, khi tìm hiểu, nghiên cứu để viết bài đã có sự hỗ trợ của đồng nghiệp Tuynhiên, vấn đề của chúng ta đặt ra mang tính chất trừu tượng, rộng lớn, thật sự rất khó lòng

để phân tích, lí giải một cách hoàn mĩ, đầy đủ nhất rất mong bạn đọc bỏ qua và đóng góp ýkiến để cho vấn đề của chúng ta trở nên hoàn thiện và phong phú hơn, chính xác hơn

Xin chào và trân trọng cảm ơn bạn đọc!

Trang 2

MỤC LỤC

I Dẫn nhập trang 02

II Nội dung 02

1 Hoạt động - yếu tố quyết định sự phát triển tâm lí người 02

1.1 Vài nét về tâm lí người 02

1.2 Sự phát triển tâm lí người 03

1.3 Hoạt động - yếu tố quyết định sự phát triển tâm lí người 05

1.3.1 Hoạt động là gì? 05

1.3.2 Đặc điểm của hoạt động 06

1.3.3 Cơ chế tiến hành hoạt động 07

1.3.4 Hoạt động - yếu tố quyết định sự phát triển tâm lí người 09

2 Sự giống nhau và khác nhau trong lí thuyết phát triển tâm lí của J Watson với L.X Vugotxki và của S Freud với E Ericson 12

2.1 Sự giống và khác nhau giữa thuyết Watson và thuyết Vugotxki 12

2.2 Sự giống nhau và khác nhau giữa thuyết Ericson và Freud 15

3 Một số ứng dụng thuyết phân tâm của Freud trong thực hành Công tác xã hội 20

3.1 Phương pháp trị liệu của S Freud trong phân tâm học 20

3.1.1 Phương pháp lâm sàng 20

3.1.2 Phương pháp phân tích tâm lí 20

3.2 Ứng dụng thuyết phân tâm học trong thực hành công tác xã hội 21

III Thay lời kết 23

1

Trang 3

I Dẫn nhập

Tâm lí học là một lĩnh vực rất lớn đối với những ai tiếp xúc, học tập và nghiên cứu

nó Bởi đây là một lĩnh vực nghiên cứu sâu về con người Cụ thể đó là những biến đổi, pháttriển về tâm lí, tâm tư, tình cảm, xúc cảm, trí tuệ, tính cách của con người, mà những vấn đềnày thật sự rất khó để phân tích, để hiểu hết, vì những yếu tố này ở mỗi người là khác nhau

và luôn luôn biến động, phát triển không ngừng

Trên thực tế qua quá trình phát triển cho đến nay, tâm lí học đã phân chia thành nhiềunhánh, nhiều trường phái lĩnh vực khác nhau như: tâm lí học hành vi, tâm lí học hoạt động,tâm lí học Gestal, tâm lí học phân tâm, tâm lí học nhận thức, tâm lí học nhân văn… Xét vềtổng quát thì có rất nhiều lí thuyết liên quan đến tâm lí học vẫn chưa đề cập đến Riêng đốivới tâm lí học phát triển chúng ta chỉ đề cập đến một số lí thuyết, một số trường phái đượcxem là tiêu biểu trong hệ thống tâm lí học thế kỷ XX mà thôi Cụ thể là bốn lí thuyết phổbiến nhất đó là: tâm lí học hành vi, tâm lí học phân tâm, tâm lí học phát sinh và tâm lí họchoạt động

Tuy nhiên, vì khả năng và trong giới hạn cho phép, bài viết này chỉ đề cập đến một

số khía cạnh trong tâm lí học phát triển nhằm phần nào làm rõ hơn một số vấn đề cần quantâm có liên quan đến lĩnh vực tâm lí học phát triển Vậy cụ thể bài viết quan tâm đến vấn đề

gì? Đề cập đến khía cạnh nào trong tâm lí học phát triển? Trong giới hạn, bài viết sẽ tìm hiểu và chứng minh vì sao hoạt động là yếu tố quyết định đến sự phát triển tâm lí của con người? Đồng thời, so sánh lí thuyết phát triển của J Watson với L.X Vugotxki và của S Freud với E Ericson Bên cạnh đó, tài liệu này còn đề cập đến việc ứng dụng thuyết phân tâm học của S Freud vào trong thực hành công tác xã hội Hy vọng với những phân tích,

nhận định và đánh giá về các vần đề trên sẽ mang lại cho bạn đọc sự hữu ích, thuận lợi tronghọc tập và nghiên cứu học phần tâm lí học phát triển, nhất là đối với các bạn sinh viênchuyên ngành công tác xã hội

II Nội dung

1 Hoạt động - Yếu tố quyết định đến sự phát triển của tâm lí con người

1.1 Vài nét về tâm lí con người

Theo cuốn “Giáo trình Tâm lí học đại cương” do Nguyễn Quan Uẩn chủ biên thì:

“Tâm lí học (Psychologie) là khoa học về tâm hồn Nói một cách khác thì tâm lí bao gồm tất

cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọihành đồng, hoạt động của con người Các hiện tượng tâm lí đóng vai trò quan trọng đặc biệttrong đời sống con người, trong quan hệ giữa con người với con người và con người với cả

xã hội loài người”1

Như vậy, tâm lí là một hiện tượng nảy sinh trong đầu óc con người thông qua việcphản ảnh lại hiện thực khách quan, đồng thời, tâm lí còn là yếu tố chi phối, điều hành hoạtđộng của con người Về điều này, “chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng khẳng định rằng:Tâm lí người là sự phản hảnh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể, tâm língười có bản chất xã hội - lịch sử”2 Như vậy thì tâm lí con người bắt nguồn từ đâu?

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì tâm lí người không phải do thượng đế, do trờisinh ra, cũng không phải do não tiết ra như gan tiết mật, mà tâm lí người là sự phản ánh hiệnthực khách quan vào não con người thông qua “lăng kính chủ quan” Theo đó, thế giớikhách quan luôn tồn tại bằng các thuộc tính không gian, thời gian và luôn vận động Phản

ảnh là thuộc tính phổ biến trôngmị dạng vật chất Trong cuốn “Giáo trình Chủ nghĩa Mác

-1 Nguyễn Quang Uẩn chủ biên (2003), Giáo trình Tâm lí học đại cương, Nxb ĐHSP Hà Nội, trang 19.

2 Nguyễn Quang Uẩn chủ biên, đã dẫn, trang 21.

2

Trang 4

Lênin” có ghi: “Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ

thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng kết quả của sự phản ảnh nàyphụ thuộc vào cả hai vật (vật tác động và vật nhận tác động) Trong quá trình ấy, vật nhậntác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động Đây cũng là điều quan trọng minhchứng cho nguồn gốc tự nhiên của ý thức, tâm lí người nói chung”3

Trong quá trình tiến hóa của thế giới vật chất, các vật thể càng ở bậc thang cao baonhiêu thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu Theo đó, phản ánh diễn ra từđơn giản đến phức tạp và có sự chuyển hóa lẫn nhau, từ phản ánh cơ, vật lí, hóa học đếnphản ánh sinh vật và phản ánh xã hội, trong đó có phản ánh tâm lí

Đối với từng cá nhân thì tâm lí người này hiển nhiên sẽ khác với tâm lí người kia.Điều này do nhiều yếu tố chi phối, trước hết, do mỗi con người có những đặc điểm riêng về

cơ chế, giác quan, hệ thần kinh và não bộ Mỗi người có hoàn cảnh sống khác nhau, điềukiện giáo dục không như nhau, và đặc biệt là mỗi cá nhân thể hiện mức độ tích cực hoạtđộng, tích cực giao lưu khác nhau trong cuộc sống Vì thế, tâm lí người này khác với tâm língười kia

Tóm lại, thế giới khách quan (thế giới vật chất) luôn tồn tại và phát triển khôngngừng Trong đó, thế giới khách quan này tác động đến con người thông qua các giác quan

mà đích đến đó là não người Bộ não người tiếp thu các kích thích từ môi trường, từ đó giải

mã và đáp trả các kích thích đó Trong quá trình này tâm lí người bắt đầu nảy sinh, pháttriển Điều này cho chúng ta thấy rằng, tâm lí con người có nguồn gốc từ thế giới kháchquan - thế giới vật chất

Không chỉ có thế, “tâm lí con người còn có nguồn gốc từ xã hội”4 Bởi nói đến conngười xã hội tức là nói đến các mối quan hệ giữa con người với con người Và trong cácmối quan hệ này tất yếu sẽ có các hoạt động giao tiếp, trao đổi thông tin, đồng thời, kèmtheo đó là sự hình thành và phát triển về tâm lí

Trên đây là một số nét về tâm lí người, về bản chất và nguồn gốc chung quy lại tâm língười xuất phát từ thế giới khách quan thông qua cơ chế phản ánh vào bộ não người Tuynhiên, khi nói đến tâm lí người, quả thật đó là một vấn đề rất lớn, rất khó Bởi tâm lí conngười luôn biến chuyển và phát triển không ngừng và ở mỗi người thì có những đặc điểm

tâm lí khác biệt nhau Vậy, sự phát triển tâm lí con người như thế nào? Tại sao chúng ta có thể nói hoạt động là yếu tố quyết định đến sự phát triển tâm lí của con người? Chúng ta hãy

cùng đi vào phân tích mấy vấn đề sau:

1.2 Sự phát triển tâm lí của con người

Theo các nhà tâm lí học thì sự nảy sinh và phát triển tâm lí người gắn liền với sựsống Theo đó, hiện tượng tâm lí đơn giản nhất đó là cảm giác, và từ hiện tượng tâm lí đơngiản nhất này dần dần phát triển lên thành các hiện tượng tâm lí khác phức tạp hơn

Khi nghiên cứu các thời kì phát triển tâm lí của con người các nhà tâm lí học đã phânchia theo hai phương diện:

- Theo cấp độ phản ánh thì quá trình phát triển tâm lí của loài người trãi qua 3 thời

kì: Cảm giác, tri giác, tư duy (bằng tay và ngôn ngữ):

+ Thời kì Cảm giác: Là thời kì đầu tiên trong phản ánh tâm lí với đặc trưng là

cơ thể có khả năng đáp trả lại các kích thích riêng lẻ từ môi trường bên ngoài Cảm giác là

cơ sở cho sự xuất hiện các thời kì phản ánh tâm lí cao hơn

3 Bộ Giáo dục và đào tạo (2003), Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 190 – 191.

4 Giáo trình Triết học Mác – Lênin, đã dẫn, trang 193.

3

Trang 5

+ Thời kì Tri giác: Là khả năng mà cơ thể đáp trả lại một tổ hợp kích thích

ngoại giới chứ không đáp lại từng kích thích riêng lẻ

+ Thời kì Tư duy: Là thời kì phức tạp của tâm lí, được thể hiện qua những

hành động có “suy nghĩ” trước đó Đối với con người, tư duy không chỉ bằng tay (hoạtđộng) mà còn tư duy bằng ngôn ngữ Đây cũng là đặc trưng tâm lí chỉ có ở người Nhờ cóđặc trưng này mà hoạt động của con người mang tính mục đích, kế hoạch cao nhất, hoànchỉnh nhất, giúp con người không chỉ nhận thức, cải tạo thế giới mà còn nhận thức và sángtạo ra chính bản thân mình

- Theo cấp độ hành vi thì quá trình phát triển tâm lí trải qua 3 thời kì: Bản năng, kỉ xảo và trí tuệ:

+ Thời kì Bản năng: Ở góc độ tâm lí hành vi thì đây là thời kì mang tính bẩm

sinh di truyền, có cơ chế thần kinh là phản xạ không điều kiện

+ Thời kì Kỹ xảo: Là hành vi mới do cá thể tự tạo bằng cách luyện tập hay lập

đi lập lại nhiều lần tới mức thuần thục trên cơ sở phản xạ có điều kiện Chẳng hạn như ta sửdụng máy vi tính (gõ văn bản words) mà không cần nhìn bàn phím

+ Thời kì hành vi Trí tuệ: Là kết quả của quá trình luyện tập, do cá thể tự tạo

ra trong quá trình sống Đối với con người thì hành vi trí tuệ được sinh ra trong hành độngnhằm nhận thức, thích ứng và cải tạo thế giới khách quan Hành vi trí tuệ của con người gắnliền với ngôn ngữ, đó chính là hành vi có ý thức

Mặt khác, nếu xét ở phương diện cá thể thì sự phát triển tâm lí của con người là quátrình chuyển đổi liên tục từ cấp độ này sang cấp độ khác tương ứng với các giai đoạn lứatuổi kế tiếp nhau Ở mỗi cấp độ lứa tuổi, sự phát triển tâm lí đạt tới một chất lượng mới vàdiễn ra theo các qui luật đặc thù Gắn liền với sự phát triển tâm lí là hoạt động chủ đạo ởtừng giai đoạn lứa tuổi Theo đó, các nàh tâm lí học đã phân chia các giai đoạn phát triểntâm lí cá thể như sau:

- Giai đoạn tuổi sơ sinh, hài nhi gồm có:

+ Tuổi sơ sinh (0 - 2 tháng): Là tuổi “ăn ngủ” phối hợp với phản xạ bẩm sinh,

tác động bộc phát thực hiện các chức năng sinh lí người

+ Tuổi hài nhi (3 - 12 tháng): Hoạt động chủ đạo là giao tiếp xúc cảm với

người lớn, trước hết là với cha mẹ

- Giai đoạn tuổi nhà trẻ (1 - 2 tuổi): Hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật, bắt

chước hành động sử dụng đồ vật và tìm hiểu, khám phá các sự vật xung quanh

- Giai đoạn tuổi mẫu giáo (3 - 5 tuổi): Hoạt động chủ đạo là vui chơi mà trung tâm là

trò chơi sắm vai

- Giai đoạn tuổi đi học gồm có:

+ Thời kì đầu tuổi học (Nhi đồng, học sinh tiểu học: 6 - 12 tuổi): Hoạt động

chủ đạo là học tập, lĩnh hội nền tảng tri thức, phương pháp, công cụ nhận thức và các chuẩnmực hành vi

+ Thời kì giữa tuổi học (Thiếu niên, học sinh Trung học: 12 - 14, 15 tuổi):

Hoạt động chủ đạo là học tập và giao tiếp nhóm Đây là lứa tuổi dậy thì với nhiều phẩm chấttâm lí mới xuất hiện, đặc biệt là nhu cầu tình bạn, nhu cầu tự khẳng định mình

+ Thời kì cuối tuổi học (Tuổi đầu thanh niên, học sinh Phổ thông: 15 - 18 tuổi): Hoạt động chủ đạo là học tập Ở tuổi này đã hình thành thế giới quan, định hướng

nghề nghiệp

4

Trang 6

- Giai đoạn tuổi thanh niên, sinh viên (19 - 25 tuổi): Hoạt động chủ đạo là học tập và

lao động Đây là giai đoạn tiếp tục lĩnh hội các giá trị vật chất của xã hội theo nghề nghiệphoặc tham gia lao động sản xuất

- Giai đoạn tuổi trưởng thành (25 tuổi trở đi): Hoạt động chủ đạo là lao động và hoạt

động xã hội

- Giai đoạn tuổi già (55 - 60 tuổi trở đi): Hoạt động chủ đạo là nghỉ ngơi Ở giai

đoạn này, con người phản ứng chậm chạp dần, độ nhạy cẩm của các giác quan giảm đi rõrệt…Kèm theo đó là những biến đổi và thường xuất hiện những phẩm chất tâm lí mới, đặctrưng của lứa tuổi về hưu

Tóm lại, mỗi giai đoạn lứa tuổi đề có một vị trí và vai trò nhất định trong quá trìnhphát triển tâm lí người nói chung Sự chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác bao giờcũng gắn liền với sự xuất hiện dạng hoạt động chủ đạo mới có tác dụng quyết định đối với

sự hình thành những cấu tạo tâm lí mới, cơ bản và đặc trưng cho thời kì hoặc giai đoạn lứatuổi đó

Từ những phân tích mà các nhà tâm lí học đã đưa ra ở trên, chúng ta có thể thấy,trong từng giai đoạn phát triển độ tuổi nhất định thì đi kèm theo đó là những hoạt động chủđạo đặc trưng Những hoạt động chủ đạo này là “hoạt động mà sự phát triển của nó quy địnhnhững biến đổi chủ yếu nhất trong quá trình tâm lí và trong các đặc điểm tâm lí của nhâncách trẻ em ở giai đoạn phát triển nhất định”5 Theo đó, hoạt động chủ đạo là hoạt độngquyết định sự ra đời thành tựu mới (cấu tạo tâm lí mới) đặc trưng cho một lứa tuổi

1.3 Hoạt động - yếu tố quyết định đến sự phát triển tâm lí của con người

Hoạt động, giao tiếp, tâm lí, ý thức là những khái niệm cơ bản nhất của tâm lí học.Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hoạt động và giao tiếp của con người khôngthể diễn ra nếu thiếu sự tham gia của tâm lí, ý thức Mặt khác, tâm lí, ý thức cũng không thể

tự nhiên sinh ra bên ngoài cuộc sống hoạt động và giao tiếp của con người

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì “bất kì sự vật hiện tượng nào cũng luôn vậnđộng không ngừng” Bằng vận động và thông qua vận động mà sự vật, hiện tượng tồn tại vàthể hiện đặc tính của nó Bởi vậy vận động là thuộc tính cơ bản, vốn có, là phương thức tồntại của sự vật và hiện tượng Ở con người, thuộc tính đó, phương thức đó chính là hoạtđộng Hay nói cách khác, con người tồn tại và phát triển cả về mặt thể chất và tinh thần (tâm

lí) thông qua (bằng) hoạt động, mà trước hết đó là hoạt động lao động Vậy, hoạt động là gì?

1.3.1 Hoạt động là gì?

Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động, tùy theo góc độ xem xét:

Dưới góc độ triết học Mác - Lênin, hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể vàkhách thể Trong quan hệ đó, chủ thể là con người còn khách thể là hiện thực khách quan Ởgóc độ này thì hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữahai cực “Chủ thể - Khách thể”

Dưới góc độ sinh học, hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và bắp thịt củacon người khi tác động và hiện thực khác quan nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thầncủa con người

Dưới góc độ tâm lí học, theo cuốn “Các lí thuyết phát triển tâm lí người” do Phan

Trọng Ngọ chủ biên thì: “Hoạt động của con người là quá trình diễn ra giữa con người vớigiới tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung

5 Nguyễn Quang Uẩn chủ biên, đã dẫn, trang 63.

5

Trang 7

gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”6 Theo đó, trong phần trìnhbày về thuyết tâm lí học hoạt động, tác giả cũng trích dẫn định nghĩa về hoạt động: “Hoạtđộng là một quá trình thực hiện sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực - chủ thể và khách thể.Theo nghĩa rộng nó là đơn vị phân tử, chứ không phải là đơn vị cộng thành của đời sốngchủ thể nhục thể Đời sống của con người là một hệ thống (một dòng) các hoạt động thaythế nhau Hoạt động theo nghĩa hẹp hơn, tức là ở cấp độ tâm lí học, là đơn vị của đời sống,

mà khâu trung gian là phản ánh tâm lí, có chức năng hướng dẫn chủ thể trong thế giới đốitượng”7

Cũng ở góc độ tâm lí học khi nói về hoạt động, xuất phát từ quan điểm cho rằng:Cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vàonhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Do vậy, xuất

hiện quan điểm cho rằng: “Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại của con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể)” 8

Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thốngnhất với nhau:

- Quá trình thứ nhất là quá trình Đối tượng hóa (còn gọi là “xuất tâm”): Trong đó,

chủ thể chuyển năng lượng bản thân thành sản phẩm hoạt động Đây là quá trình xuất tâm:tâm lí của con người (chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sảnphẩm Nhờ vậy mà chúng ta có thể tìm hiểu tâm lí con người thông qua hoạt động của họ

- Quá trình thứ hai là quá trình Chủ thể hóa (còn gọi là “nhập tâm”): Trong đó, con

người chuyển nội dung khách thể (qui luật, bản chất, đặc điểm…) vào bản thân mình, tạonên tâm lí, ý thức, nhân cách của bản thân Vì thế chúng ta có thể nói tâm lí là sự phản ánhthế giới khách quan; nội dung của tâm lí do thế giới khách quan qui định

Như vậy, trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ratâm lí, ý thức của mình Hay nói khác đi thì tâm lí, ý thức, nhân cách được bộc lộ, hìnhthành và phát triển trong hoạt động

Hoạt động của con người bao gồm các quá trình con người tác động và khách thể(thế giới) gọi chung là quá trình bên ngoài và quá trình tinh thần, trí tuệ - quá trình bêntrong Nghĩa là trong hoạt động bao gồm cả hành vi và tâm lí, cả công việc chân tay lẫncông việc trí óc

1.3.2 Đặc điểm của hoạt động

Hoạt động của con người nói chúng rất đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, xét ở góc độđặc điểm thì hoạt động của con người gồm có các đặc điểm cụ thể sau:

- Hoạt động bao giờ cũng là “hoạt động có đối tượng”: Đối tượng của hoạt động là

cái ta tác độn vào nhằm thay đổi hoặc lĩnh hội Nó có thể là sự vật hiện tượng, khái niệm,con người hoặc mối quan hệ… có khả năng thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, thúcđẩy con người hoạt động Vì vậy, đối tượng của hoạt động là hiện thân của động cơ hoạtđộng Ví dụ: Đối tượng của hoạt động học tập đó là kiến thức, kĩ năng…có khả năng thỏamãn nhu cầu nhận thức - học tập của con người nên nó trở thành động cơ thúc đẩy conngười tích cực học tập

Cần phải nói thêm rằng, đôi khi đối tượng của hoạt động không phải là một cái gì đósẵn có mà có thể là cái đang xuất hiện ngay trong quá trình hoạt động Đặc điểm này thườnghay thấy nhất là trong hoạt động nghiên cứu, học tập tích cực của chúng ta

6 Phan Trọng Ngọ chủ biên (2003), Các lí thuyết phát triển tâm lí người, Nxb ĐHSP, Hà Nội, trang 447.

7 Phan Trọng Ngọ chủ biên, đã dẫn, trang 579.

8 Nguyễn Quang Uẩn chủ biên, đã dẫn, trang 55.

6

Trang 8

- Hoạt động bao giờ cũng có tính chủ thể: Chủ thể là con người có ý thức tác động

vào khách thể - đối tượng của hoạt động Như vậy, ẩn chứa trong hoạt động là tính chủ thể

mà đặc điểm nổi bật nhất là tính tự giác và tính tích cực trong hoạt động

Chủ thể hoạt động có thể là cá nhân hoặc nhóm người Chủ thể là nhóm người khi họcùng nhau thực hiện hoạt động với cùng một đối tượng, một động cơ chung Chẳng hạn nhưhoạt động xây cầu của những kĩ sư và công nhân

- Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích: Mục đích là biểu tượng về sản phẩm

hoạt động có khả năng thỏa mãn nhu cầu nào đó của chủ thể, nó điều khiển, điều chỉnh hoạtđộng Tính mục đích gắn liền với tính đối tượng Tính mục đích luôn bị chế ước bởi nộidung xã hội, vì thế chúng ta không nên hiểu mục đích một cách thuần túy là ý thích riêng, làmong muốn, ý định chủ quan…

Biểu tượng trong đầu người về kết quả lao động được tạo ra bởi những yếu tố do đốitượng là công cụ lao động, do con người tạo ra Chính đó là nguồn gốc tạo ra ý thức và tínhmục đích của hoạt động của con người Và đó cũng là ý thức tâm lí tồn tại để thực hiện chứcnăng của chúng

- Hoạt động luôn vận hành theo nguyên tắc gián tiếp: Trong hoạt động, con người

bao giờ cũng phải sử dụng những công cụ nhất định

Trong hoạt động lao động, chúng ta dùng các công cụ kĩ thuật như máy móc, công cụlao động khác… tác động vào đối tượng lao động Tương tự như vậy, tiếng nói, chữ viết,kinh nghiệm và các hình ảnh tâm lí khác là công cụ tâm lí được sử dụng để tổ chức, điềukhiển thế giới tinh thần của mỗi người Những công cụ đó giữa chức năng trung gian giữachủ thể và đối tượng hoạt động, tạo ra tính gián tiếp của hoạt động Điều này chỉ ra sự khácbiệt về chất giữa hoạt động của con người với hành vi bản năng của con vật

1.3.3 Cơ chế khi tiến hành hoạt động.

Như đã biết thì hoạt động của con người bao gồm cả hai mặt: mặt chủ thể và mặtkhách thể Theo đó, giữa hai mặt này có mối quan hệ biện chứng với nhau, và dồng thời sảnphẩm của quá trình hoạt động được tạo ra đó là “sản phẩm kép” (sản phẩm của cả chủ thể và

Tóm lại, về cơ chế hoạt động bao gồm 6 thành tố cơ bản có mối quan hệ biện chứngvới nhau như sau:

- Phần chủ thể bao gồm 3 thành tố: Hoạt động, hành động, thao tác (đơn vị của hoạt động).

- Về phía khách thể (thế giới - đối tượng hoạt động) bao gồm 3 thành tố: Động cơ, mục đích, phương tiện (nội dung đối tượng của hoạt động).

Sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể, hay cơ chế của hoạt động có thể kháiquát theo sơ đồ sau

7

Trang 9

Trong cơ chế này, cần nhấn mạnh tính độc lập tương đối và sự chuyển hóa lẫn nhaugiữa các thành tố, đặc biệt là yếu tố hành động - mục đích:

- Thứ nhất: Một động cơ có thể được cụ thể hóa trong nhiều mục đích Ngược lại,

một mục đích có thể được thể hiện qua nhiều động cơ khác nhau Do đó, một hoạt độngđược thực hiện bởi nhiều hành động khác nhau

- Thứ hai: Một hoạt động sau khi đã thực hiện được động cơ thì trở thành một hành

động cho hoạt động khác

- Thứ ba: Để đạt được một mục đích, ta cần phải thực hiện một hành động Mục đích

có thể phát triển theo hai hướng:

+ Trở thành động cơ (khi mà mục đích không chỉ có chức năng hướng dẫn mà

còn có khả năng kích thích, thúcđẩy), lúc này hành động của chủ thể sẽ biến thành hoạtđộng cụ thể

+ Trở thành phương tiện (khi mà mục đích đã được thực hiện và hành động

kết thúc), lúc này hành động của chủ thể sẽ trở thành thao tác và có thể thâmgi vào nhiềuhành động khác

Việc phát hiện ra cơ chế của hoạt động và mối liên hệ biện chứng giữa các thành tố

có ý nghĩa rất lớn;

- Về mặt lí luận, các nhà tâm lí học đã tìm ra sự thống nhất giữa cái khách quan và

cái chủ quan giữa đối tượn và chủ thể, đồng thời cũng khẳng định rằng, trong hoạt động baogiờ cũng chứa đựng nội dung tâm lí và tâm lí vận hành, phát triển trong hoạt động

- Về thực tiễn, vận dụng cách hiểu về cơ chế hoạt động được mô tả ở trên vào giáo

dục cho ta thấy: hoạt động của học sinh là hoạt động có tổ chức, bắt đầu từ bên ngoài mộtcách vật chất có thể kiểm soát được Do vậy, giáo dục về bản chất là liên tục tổ chức, điềukhiển, điều chỉnh hoạt động của học sinh

Mặt khác, nội dung, tâm lí, nhân cách của học sinh có nguồn gốc từ bên ngoài, đượchình thành từ quá trình biến hình thức bên ngoài (nội dung đối tượng) thành hình thức bêntrong Quá trình đó chính là hoạt động của học sinh với tư cách là chủ thể hoạt động có đối

Hành động

Sản phẩm kép

Trang 10

tượng Vì vậy, trong giáo dục dạy học cần phải phát huy tính chủ thể của học sinh mà đặctrưng là tính tự giác tích cực của hoạt động.

1.3.4 Hoạt động - yếu tố quyết định đến sự phát triển tâm lí của con người

Đứng ở góc độ lịch sử tiến hóa của loài người, các nhà sử học, khoa học đã chứngminh được rằng: Bằng hoạt động lao động và giao tiếp mà con người đã tách khỏi thế giớiđộng vật và tiến hóa thành con người như ngày nay Theo C Mác thì: “Lao động là một quátrình diễn biến giữa người và tự nhiên, một quá trình trong đó con người đóng góp vai tròmôi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người và tự nhiên Lao động làđiều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại Lao động cung cấp cho con người nhữngphương tiện cần thiết để sống, đồng thời lao động sáng tạo ra cả bản thân con người Nhờ cólao động, con người tách ra khỏi giới động vật… Chính thông qua hoạt động lao động nhằmcải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh được thế giới khách quan,mới có ý thức về thế giới đó”9 Cũng trong vấn đề này Ph Ăngghen đã cho rằng: “Lao động

là nguyên nhân sâu xa cho quá trình chuyển biến từ vượn thành người và cũng là điều kiệncho con người tồn tại và phát triển”10

Như vậy, dưới sự tác động của môi trường, tạm gọi là kích thích, đối với động vậtbậc cao sẽ tạo ra các phản xạ để đáp trả Còn đối với con người (động vật cấp cao) thì đểđáp trả lại những kích thích từ môi trường thông qua hệ thần kinh trung ương đó là tâm lí,

mà cao hơn đó là ý thức Như vậy về mặt bản chất thì ý thức là quá trình biến chuyển, thayđổi về mặt tâm lí, nhận thức của con người qua các kích thích từ phía môi trường Tuynhiên, ý thức (bao gồm cả những sự chuyển biến về tâm lí) của con người ra đời cùng vớiquá trình hình thành bộ óc con người nhờ hoạt động lao động, ngôn ngữ và những quan hệ

xã hội Nói cách khác thì thông qua lao động, ngôn ngữ và quan hệ xã hội con người mới cóđược, mới thể hiện được những ý thức của mình Đồng nghĩa là tâm lí con người được hìnhthành và thể hiện thông qua lao động, ngôn ngữ và các mối quan hệ xã hội

Trong đó, yếu tố quyết định đến ý thức (các phản ứng tâm lí) của con người đó làhoạt động lao động Thực tế cho thấy, bằng hoạt động lao động, giao tiếp và khả năng tưduy của mình mà con người đã tiến hóa từ vượn người cho đến như ngày nay Bắt đầu bằnghoạt động hái lượm, săn bắt rồi đến săn bắn, trồng trọt, chăn nuôi… Cứ như thế, ở mỗi giaiđoạn phát triển của loài người có một loại hình lao động, phương thức sản xuất đặc thù Tấtnhiên, trong quá trình lao động này, con người có những sáng tạo nổi bật, đặc biệt là vềcông cụ lao động (từ công cụ đồ đá cho đến công cụ bằng sắt) Và trong quá trình sáng tạonày đòi hỏi một quá trình tư duy trong đầu óc con người Đây là một điều tất yếu, và hẳnnhiên khi con người suy nghĩ, tư duy sáng tạo thì tâm lí cũng nảy sinh và biến đổi, phát triểntheo Hay nói cách khác, lao động là yếu tố tiền đề cho hoạt động tâm lí của con người Bắtđầu bằng sự hái lượm để duy trì sự tồn tại, con người đã tìm cách để cuộc sống của mình no

đủ hơn… Đó cũng là động lực để họ sáng tạo ra những cái mới trong hoạt động lao độngcủa chính mình Điều này có nghĩa là, hoạt dộng lao động là đầu cơ để con người tư duy,suy nghĩ (quá trình này làm nảy sinh và phát triển tâm lí con người) Ngược lại, sự suy nghĩ,

tư duy này không ngoài mục đích nhằm thực hiện hoạt động lao động được tốt hơn, đáp ứngnhư cầu của con người ngày một cao hơn

Tóm lại, ở góc độ tâm lí học, theo trường phái tâm lí học mácxít (lấy chủ nghĩa Mác

- Lênin làm cơ sở lí luận và phương pháp luận) thì “tâm lí người mang tính chủ thể, có bản

9 Giáo trình Triết học Mác – Lênin, đã dẫn, trang 193.

10 Bộ Giáo dục và đào tạo (2003), Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 257.

9

Trang 11

chất xã hội, tâm lí người được hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động và trongcác mối quan hệ giao lưu của con người trong xã hội”11.

Đến đây chúng ta cần nói thêm về mối quan hệ giữa hoạt động và giao tiếp (giao lưu

xã hội) Thực ra, có không ít nhà tâm lí học cho rằng giao tiếp chính là một dạng đặc biệtcủa hoạt động Xét về cấu trúc thì giao tiếp có cấu trúc chung của hoạt động Giao tiếp cũngdiễn ra bằng các hành động và các thao tác cụ thể, sử dụng các phương tiện khác nhau nhằmđạt được những mục tiêu cụ thể, thỏa mãn được các nhu cầu Nghĩa là giao tiếp cũng đượcthúc đẩy bởi một động cơ nào đó Ngoài ra giao tiếp cũng có những đặc điểm cơ bản củamột hoạt động: Có tính chủ thể, đối tượng, động cơ, mục đích… Do đó, giao tiếp cũng làmột hoạt động

Trong cuộc sống, hoạt động và giao tiếp có mối quan hệ qua lại với nhau: Có trườnghợp giao tiếp là điều kiện của một hoạt động khác Chẳng hạn trong lao động sản xuất thìgiao tiếp là điều kiện để mọi người phối hợp với nhau trong một hoạt động chung nào đó.Cũng có trường hợp, hoạt động là điều kiện để thực hiện mối quan hệ giao tiếp giữa conngười với con người Chẳng hạn như trong giao tiếp vật chât (tặng quà), giao tiếp phi ngônngữ (hành vi, cử chỉ, điệu bộ…) là điều kiện để trao đổi thông tin, cảm xúc

Có thể nói giao tiếp và hoạt động là hai mặt không thể thiếu của cuộc sống conngười, có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển tâm lí, ý thức, nhâncách của con người Thực tế, bằng hoạt động và giao tiếp, con người với tư cách là chủ thểtiếp thu kinh nghiệm lịch sử xã hội, biến nó thành tâm lí, ý thức, nhân cách Nói cách khác,tâm lí là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp Hoạt động và giao tiếp và mối quan hệ biệnchứng giữa chúng là qui luật tổng quát hình thành và biểu lộ tâm lí người

Tâm lí học mácxít cũng đã nêu quan điểm của mình trong vấn đề này rằng: “Sự vậnđộng của tâm lí, ý thức là sự vận động của hoạt động Lấy hoạt động, nói theo ngôn ngữ củakhoa học hiện đại, làm mô hình để tìm hiểu, lí giải và hơn thế nữa, điều khiển, hình thànhthế giới tâm lí”12 Trong khi con người hoạt động để tạo ra thế giới đối tượng hay học tập đểlĩnh hội “tinh thần” của đối tượng ấy, trong khi tạo ra và lĩnh hội các quan hệ xã hội, thì conngười cũng hình thành bộ mặt tâm lí - cái gọi là “tính người của bản thân mình” Thực ra,hoạt động của con người nói cho cùng bao giờ cũng là hoạt động thực tiễn, mang tính chấtthực tiễn, tất nhiên, có khi là trực tiếp có khi là gián tiếp Trong hoạt động đó, não chỉ là mộttrong nhiều công cụ Phải nhấn mạnh rằng chính hoạt động thần kinh cấp cao của não bộ ởcon người thoạt đầu cũng là sản phẩm, rồi sau đó vừa là kết quả, vừa là tiền đề của hoạtđộng vui chơi, haọt động học tập (hoạt động nhận thức nói chung), hoạt động lao động…Hoạt động là chìa khóa tìm hiểu, đánh giá, hình thành, điều khiển tâm lí”13

Cũng để giải thích cho vấn đề hoạt động quyết định đến sự hình thành và phát triểntâm lí người, chúng ta cùng đến với vấn đề nguồn gốc của ý thức Theo cuốn “Giáo trìnhtâm lí học đại cương” do Nguyễn Quang Uẩn chủ biên thì: Ý thức là hình thức phản ánh tâm

lí cao nhất chỉ có ở người, là sự phản ảnh bằng ngôn ngữ những gì còn đã tiếp thu đượctrong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan Có thể ví ý thức như là “cặp mắt thứhai” soi vào các kết quả do “cặp mắt thứ nhất” (cảm giác, tri giác, tư duy…) mang lại Với ýnghĩa đó ta có thể nói “ý thức là tồn tại được nhận thức”

Theo đó, các nhà tâm lí học khi nghiên cứu về sự hình thành và phát triển ý thức,người ta thường đề cập đến hai phương diện: phương diện loài người và phương diện cá thể:

11 Nguyễn Quang Uẩn chủ biên, đẫ dẫn, trang 16.

12 Phạm Minh Hạc (1980), Nhập môn Tâm lí học, Nxb Giáo dục, Tp Hồ Chí Minh, trang 77.

13 Phạm Minh Hạc, đã dẫn, trang 78.

10

Trang 12

- Về phương diện loài người, ngay cả những tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mác đã

chỉ rõ: Trước hết là lao động, sao lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là haiđộng lực chủ yếu đã khiến bộ não vượn thành bộ óc người, biến tâm lí động vật thành ýthức

- Về phương diện cá nhân thì ý thức có nguồn gốc từ:

+ Ý thức của cá nhân được hình thành trong hoạt động và thể hiện trong sản phẩm hoạt động của cá nhân: Hoạt động nói chung đòi hỏi cá nhân phải nhận thức được

nhiệm vụ, các phương thức, điều kiện và kết quả hành động Đó chính là yếu tố khách quanthúc đẩy sự phát triển khả năng xây dựng mục đích và kế hoạch hoạt động của con người.Trong hoạt động, cá nhân đem vốn kinh nghiệm, năng lực…bản thân thể hiện trong quátrình làm ra sản phẩm, sản phẩm hoạt động này luôn chứa đựng bộ mặt tâm lí, ý thức củangười tạo ra nó Vì vậy, qua sản phẩm cá nhân “nhìn thấy’ được chính mình, nhận thứcđược vai trò xã hội của mình, từ đó có khả năng tự đánh giá, điều chỉnh, điều khiển hành vi

Như vậy, trong hoạt động và bằng hoạt động, cá nhân hình thành ý thức về thế giớixung quanh và về bản thân mình

+ Ý thức được tạo thành trong sự giao tiếp với người khác, với xã hội; Trong giao tiếp, cá nhân được truyền đạt và tiếp nhận thông tin Trên cơ sở nhận thức người khác,

đối chiếu mình với người khác, với chuẩn mực xã hội, cá nhân tự nhận thức, tự đánh giá vàđiều khiển hành vi của mình Như vậy, chính nhờ hoạt động giao tiếp mà con người có thểđiều chỉnh được những hành vi của mình theo hướng tích cực hơn

+ Ý thức hình thành từ việc tiếp thu thành tựu của nền văn hóa xã hội: Tri thức là hạt nhân của ý thức Nền văn hóa xã hội, ý thức xã hội là tri thức của loài người đã

tích lũy được, và đó là nền tảng của ý thức cá nhân Thông qua các hình thức hoạt động đadạng, bằng giáo dục, giao tiếp xã hội, dạy học…cá nhân tiếp thu các giá trị xã hội, cácchuẩn mực để hình thành ý thức, nhân cách, tâm lí bản thân

+ Ý thức được hình thành từ sự tự nhận thức, đánh giá, phân tích hành vi của bản thân Trong quá trình hoạt động, giao tiếp xã hội, trên cơ sở đối chiếu mình với người

khác, với chuẩn mực xã hội, cá nhân hình thành nên ý thức bản thân (ý thức bản ngã - tựnhận thức), từ đó cá nhân có khả năng tự giáo dục - tự hoàn thiện mình theo yêu cầu của xãhội

Tóm lại, từ những phân tích trên chúng ta thấy rằng: Tâm lí của con người có bảnchất từ sự hoạt động Nói cách khác, không có hoạt động, tâm lí cũng không còn Vì vậy,các hiện tượng tâm lí, từ cảm giác, tri giác, trí nhớ đến tư duy, ngôn ngữ, ý thức…đều làhoạt động (từ đây ta có thể gọi là hoạt động cảm tính, hoạt động trí nhớ, hoạt động tưduy…) Mỗi hoạt động tâm lí bao giờ cũng gắn liền với mục đích, động cơ và phương tiệncủa nó, xét các hiện tượng tâm lí là xét sự vận động của các yếu tố đó - mối liên quan giữađộng cơ - mục đích - phương tiện Với ý nghĩa đó, theo tâm lí học mácxít, cuộc sống củacon người là một chuỗi những hoạt động luôn luôn thay thế nhau Các hiện tượng tâm lí gắnliền với các hoạt động nhằm vào tri thức, vào thế giới tự nhiên, vào quan hệ xã hội… Cónghĩa là hoạt động tâm lí bắt nguồn từ những hoạt động của con người nói chung, nhất làhoạt động lao động và hoạt động giao tiếp, nhưng đồng thời, tâm lí là trung tâm chi phối,điều tiết, điều chỉnh trở lại đối với hoạt động

Tuy nhiên, một cách chung nhất, cơ bản nhất thì hoạt động vẫn là yếu tố quyết địnhđến tâm lí Bởi chỉ có thể khi hoạt động, tác động vào đối tượng hoạt động con người mới tưduy, tìm ra cách thức, phương pháp…để tạo ra sản phẩm Có nghĩa là con người đã phátsinh ra tâm lí trong quá trình thực hiện hoạt động đó

11

Trang 13

2 Sự giống nhau và khác nhau trong lí thuyết phát triển tâm lí của J Watson với L.X Vugotxki và của S Freud với E Ericson.

2.1 Sự giống và khác nhau trong lí thuyết tâm lí phát triển của J Watson và L.X Vugotxki.

- J Watson (1878 - 1958), nhà tâm lí học người Mỹ, ông được xem là người tiên

phong khai sinh ra thuyết tâm lí học hành vi (ra đời ở Mỹ vào năm 1913)

- L.X Vugotxki (1896 - 1934), nhà tâm lí học người Liên Xô cũ, là người đặt nền

móng cho tâm lí học hoạt động

Xét một cách chung nhất thì J Watson và L.X Vugotxki đều là hai nhà tâm lí học vĩđại, và đã có nhiều đóng góp quan trọng cho lĩnh vực tâm lí học nói chung, mà đặc biệt làđối với trường phái tam lí do các ông sáng lập

Ở một khía cạnh nào đó thì hai nhà tâm lí học trên đều nghiên cứu về hành vi, hànhđộng - hoạt động của con người và những yếu tố đó có những ảnh hưởng gì đến tâm lí, ýthức của con người? Tuy nhiên, về cơ bản thì mỗi người có một hướng đi, phương phápnghiên cứu riêng, xây dựng một học thuyết riêng cho mình Đó cũng chính là yếu tố làmnên sự khác biệt giữa lí thuyết phát triển của J Watson và L.X Vugotxki

Một số điểm khác nhau giữa lí thuyết phát triển tâm lí của J Watson và L.X Vugotxki

Thuyết phát triển tâm lí của J Watson Thuyết phát triển tâm lí của Vugotxki

- Là lí thuyết về tâm lí học hành vi của con

- Tư tưởng cốt lõi của tâm lí học hành vi

bắt nguồn từ triết học thức chứng của

Auguste Comte (mọi lập luận phải có

chứng cứ khách quan, quan sát được chứ

không chỉ là tự biện

Tức là thuyết Watson xây dựng theo học

thuyết phản xạ có điều kiện

- Tư tưởng cốt lõi của tâm lí học hoạtđộng là tư tưởng triết học Mác - Lênin.Xây dựng lâu đài tâm lí học trên cơ sởtriết học duy vật lịch sử

Tức là thuyết Vugotxki xây dựng theohọc thuyết, tư tưởng Mác - Lênin

-Tiền đề xuất phát từ sự quan sát thực

nghiệm để phân tích hoạt động tâmlí

người, những thay đổi về hành vi

- Tiền đề xuất phát từ hoạt động thực tiễncủa con người để phân tích đời sống tâm

lí Nghiên cứu cấu trúc hoạt động để điđến ý thức

- Sự hình thành chức năng tâm lí bằng cơ

- Hoạt động tâm lí được thực hiện (thể

hiện) thông qua sự kích thích có điều kiện

đối với cơ thể

- Hoạt động tâm lí được thực hiện (thểhiện) gián tiếp qua công cụ kí hiệu

- Yếu tố (công cụ) kích thích tự bên ngoài

tác động vào và hình thành nên “phản ứng

tâm lí

- Công cụ tâm lí (kí hiệu) hướng vào chủthể làm biến đổi chủ thể (biến đổi tâm lí)

- Cơ chế tâm lí là xuất phát từ việc tiếp

nhận kích thích, buộc cơ thể phải trả lời

kích thích ấy (phản ứng của cơ thể)

- Cơ chế tâm lí đó là xuất phát từ hoạtđộng chuyển hóa vào trong não ngườigiúp hình thành tâm lí

- Nguyên tắc gián tiếp thông qua quan sát - Nguyên tắc gián tiếp thông qua công cụ

12

Ngày đăng: 22/01/2016, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w