1. Lý do chọn đề tài:1.1. Ma Văn Kháng là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam đương đại, ông được coi là “người đi tiền trạm” cho đổi mới văn học. Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của Ma Văn Kháng đã nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, từ đó tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học. Ông cũng là một trong số các nhà văn Việt Nam hiện đại sáng tác thành công ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Qua từng tiểu thuyết, truyện ngắn, Ma Văn Kháng không ngừng tìm kiếm những cách thể hiện mới. Thời gian và kinh nghiệm nghệ thuật đã tôi luyện ngòi bút Ma Văn Kháng làm cho ông luôn gặt hái được những thành tựu đáng kể. Có thể nói Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001 cùng con đường sáng tác gần nửa thế kỷ đã khẳng định vị thế của ông trong lòng độc giả cũng như trong đời sống văn học. Vì thế việc tiếp tục nghiên cứu về Ma Văn Kháng là cần thiết để hiểu hơn thành tựu văn học Việt Nam hiện đại. 1.2. Ma Văn Kháng thành công ở cả truyện ngắn và tiểu thuyết. Toàn bộ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn chung được sáng tác theo hai mảng đề tài lớn với hai cảm hứng chủ đạo: Đề tài về dân tộc miền núi với cảm hứng sử thi và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư. Ở đề tài nào ông cũng có những tác phẩm có giá trị, thu hút được sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu, phê bình văn học. Ngoài Mùa lá rụng trong vườn được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1984, Ma Văn Kháng còn có nhiều tiểu thuyết gây được tiếng vang. Vì thế, đề tài của chúng tôi muốn góp phần khẳng định vị trí của Ma Văn Kháng trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.1.3. Ma Văn Kháng là nhà văn có nhiều tác phẩm xuất sắc dành cho người lớn nhưng ít ai biết đến ông còn rất thành công khi viết về thế giới trẻ em. Ngoài phản ánh về cuộc sống với những lo toan bộn bề của người lớn ông còn quan tâm đến những số phận trẻ em trong cuộc sống đầy ngổn ngang biến động. Ma Văn Kháng tâm sự rằng : “Viết cho thiếu nhi quan trọng không chỉ là viết cái gì ? mà là viết như thế nào? Mà viết như thế nào lại quan hệ đến tâm hồn người viết.Tôi ao ước ngoài cái duyên với chữ nghĩa và con trẻ ra, tâm hồn mình lúc nào cũng tươi mát, trong sáng và dào dạt tình yêu với cuộc đời với con người”.Với một tâm sự như thế ông đã có những tác phẩm đặc sắc viết cho thiếu nhi. Trong thể loại tiểu thuyết có thể kể đến: Côi cút giữa cảnh đời, Chó Bi, đời lưu lạc, Chuyện của Lý... Khi viết về trẻ em ông luôn dành cho nhân vật của mình sự quan tâm sâu sắc, sự chia sẻ và tình cảm yêu thương trân trọng nhất. Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Ma Văn Kháng, tuy nhiên việc đi sâu khảo sát một cách toàn diện, hệ thống về các tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng thì vẫn còn những khoảng trống.Với những lý do trên chúng tôi chọn vấn đề: Đặc điểm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Ma Văn Kháng là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn họcViệt Nam đương đại, ông được coi là “người đi tiền trạm” cho đổi mới văn học.Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của Ma Văn Kháng đã "nhìnthẳng vào sự thật, nói rõ sự thật", từ đó tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổitrên các diễn đàn văn học Ông cũng là một trong số các nhà văn Việt Nam hiệnđại sáng tác thành công ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Qua từngtiểu thuyết, truyện ngắn, Ma Văn Kháng không ngừng tìm kiếm những cách thểhiện mới Thời gian và kinh nghiệm nghệ thuật đã tôi luyện ngòi bút Ma VănKháng làm cho ông luôn gặt hái được những thành tựu đáng kể Có thể nói Giảithưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001 cùng con đường sáng tác gầnnửa thế kỷ đã khẳng định vị thế của ông trong lòng độc giả cũng như trong đờisống văn học Vì thế việc tiếp tục nghiên cứu về Ma Văn Kháng là cần thiết đểhiểu hơn thành tựu văn học Việt Nam hiện đại
1.2 Ma Văn Kháng thành công ở cả truyện ngắn và tiểu thuyết Toàn bộtiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn chung được sáng tác theo hai mảng đề tàilớn với hai cảm hứng chủ đạo: Đề tài về dân tộc miền núi với cảm hứng sử thi
và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư Ở đề tài nào ông cũng cónhững tác phẩm có giá trị, thu hút được sự quan tâm của độc giả và giới nghiên
cứu, phê bình văn học Ngoài Mùa lá rụng trong vườn được giải thưởng Hội
Nhà văn năm 1984, Ma Văn Kháng còn có nhiều tiểu thuyết gây được tiếngvang Vì thế, đề tài của chúng tôi muốn góp phần khẳng định vị trí của Ma VănKháng trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
1.3 Ma Văn Kháng là nhà văn có nhiều tác phẩm xuất sắc dành chongười lớn nhưng ít ai biết đến ông còn rất thành công khi viết về thế giới trẻ em.Ngoài phản ánh về cuộc sống với những lo toan bộn bề của người lớn ông cònquan tâm đến những số phận trẻ em trong cuộc sống đầy ngổn ngang biến động
Ma Văn Kháng tâm sự rằng : “Viết cho thiếu nhi quan trọng không chỉ là viếtcái gì ? mà là viết như thế nào? Mà viết như thế nào lại quan hệ đến tâm hồnngười viết.Tôi ao ước ngoài cái duyên với chữ nghĩa và con trẻ ra, tâm hồn mìnhlúc nào cũng tươi mát, trong sáng và dào dạt tình yêu với cuộc đời với con
Trang 2người”.Với một tâm sự như thế ông đã có những tác phẩm đặc sắc viết cho thiếu
nhi Trong thể loại tiểu thuyết có thể kể đến: Côi cút giữa cảnh đời, Chó Bi, đời lưu lạc, Chuyện của Lý Khi viết về trẻ em ông luôn dành cho nhân vật của
mình sự quan tâm sâu sắc, sự chia sẻ và tình cảm yêu thương trân trọng nhất.Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết MaVăn Kháng, tuy nhiên việc đi sâu khảo sát một cách toàn diện, hệ thống về cáctiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng thì vẫn còn những khoảng
trống.Với những lý do trên chúng tôi chọn vấn đề: Đặc điểm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về Ma Văn Kháng nói chung
Ma Văn Kháng là một trong số những nhà văn có đóng góp đáng kể vàocông cuộc đổi mới văn xuôi giai đoạn sau 1975 Con người và những sáng táccủa ông có sức hút kỳ lạ không chỉ đối với các nhà văn mà còn đối với giớinghiên cứu phê bình Ông "đã cố gắng đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết, tìmhướng đi mới trong lao động sáng tạo nghệ thuật" Nhiều công trình của các nhàvăn, nhà thơ và các nhà nghiên cứu như: Phong Lê, Lã Nguyên, Tô Hoài, TrầnĐăng Xuyền, Nguyễn Bích Thu, Nguyễn Ngọc Thiện, Đào Thủy Nguyên đã đềcập đến nhiều phương diện trong sáng tác của Ma Văn Kháng Các bài viết đãlàm sáng tỏ nhữ ng đóng góp của ông trong quá trình vận động và phát triển củavăn học Việt Nam đương đại Ở đây chúng tôi chỉ khái quát một số ý kiến tiêubiểu
Tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã thật sự gây được sự chú ý, quan tâm đặcbiệt của đông đảo độc giả cũng như giới nghiên cứu, phê bình văn học và đã trởthành hiện tượng văn học một thời Ở bình diện này có thể nói Lã Nguyên,TrầnĐăng Xuyền, Nguyễn Ngọc Thiện, Phong Lê là những người có những ý kiếnsâu sắc Lã Nguyên đã nhận xét về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng: “Xuyên suốtnhững trang văn là một triết luận đời sống hết sức nhất quán.Triết luận ấy là tínhngười, tình người, là sự hồn nhiên làm mẫu số để nhà văn trò chuyện về conngười và cuộc đời.”[25, 38] Đáng chú ý là các bài nghiên cứu của Trần Đăng
Xuyền đăng trên báo Văn nghệ : “Đọc Đồng bạc trắng hoa xòe” (Báo Văn nghệ ngày 8/12/1979); “Phải chăm lo cho từng người” ( Báo văn nghệ số 40 ngày 15/10/1985); “Một cách nhìn cuộc sống hôm nay” (Báo văn nghệ số 15 ngày
Trang 39/4/1983) Qua những bài viết này, tác giả có những cảm nhận sâu sắc về cái
nhìn, cảm quan hiện thực cuộc sống trong các tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe, Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn Khi nói về Đồng bạc trắng hoa xòe,
tác giả Trần Đăng Xuyền cho rằng: “Ma Văn Kháng , bằng hình tượng nghệthuật đã chứng minh rằng đồng bào các dân tộc ít người, mặc dù bị đắm chìmtrong đau khổ, tăm tối nhưng đều có mầm sống , khả năng cách mạng.”[57,8]
Ông cũng đã đưa ra nhận định xác đáng về tiểu thuyết Mưa mùa hạ: Giá trị của Mưa mùa hạ không chỉ là chỗ mạnh dạn lên án cái tiêu cực mà chủ yếu là xây
dựng được cách nhìn, thái độ đúng đắn trước những cái xấu, trước những bước
cản đi lên Chủ nghĩa xã hội Sau Mưa mùa hạ, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn xuất hiện Trong cuộc hội thảo về tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn do
Câu lạc bộ Báo Người Hà Nội và Nhà xuất bản phụ nữ phối hợp tổ chức, cácnhà văn, nhà lí luận phê bình đã có nhiều ý kiến đánh giá cao giá trị tư tưởng củatác phẩm.Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân khẳng định: Mùa lá rụng trong vườnbiểu hiện cho xu thế văn học đang vươn tới những vấn đề cốt yếu; Hoàng KimQuý lại nhấn mạnh: Tác giả Mùa lá rụng trong vườn đã nhìn thẳng vào cuộcsống của những gia đình với mỗi người Nói về cái nhìn của Ma Văn Kháng
trong tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, trong bài viết: “Đọc Đám cưới không có giấy giá thú” của Lê Ngọc Y, tác giả đã nhận thấy bằng cách
nhìn tinh tế vào hiện thực đời sống tác giả đã mô tả những người giáo viên sống
và làm việc gặp quá nhiều khó khăn Những vui buồn của thời thế đã phản ánhvào những trang tiểu thuyết trở nên sống động Từ đó, tác giả nhấn mạnh MaVăn Kháng "đã có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo nên không bị thói xấu, cái bấtbình thường vốn nảy sinh trong xã hội đang vận động lấn át, hoặc chỉ thấy mộtchiều này u ám mà không thấy chiều khác đầy nắng rực rỡ"[11] Cùng với ýkiến đó, có tác giả thì cho rằng: Có lẽ Ma Văn Kháng muốn bộc lộ một cái nhìntiến bộ và khá mới mẻ, một nhận định khá chính xác về hiện thực đời sốngđương thời - cái xấu, cái ác vẫn tồn tại, hoành hành và sinh sôi trong đời sống,còn cái thiện, cái tốt mặc dù có nhưng có lẽ chưa đủ mạnh để có thể chiến thắng Tác giả Trần Cương đã nhận định: "Nghệ thuật viết tiểu thuyết của Ma VănKháng đã có bề dày, kết quả của một quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ và ở tácgiả đã có định hình rõ nét phong cách nghệ thuật của mình" [3, 6]
Trang 4Về truyện ngắn, trong công trình nghiên cứu của Đào Thủy Nguyên
“Truyện ngắn Ma văn Kháng và vấn đề thức tỉnh tinh thần con người vùng cao”
có viết: “Tác giả đi sâu vào nghiên cứu khẳng định một cách đầy thuyết phụcnhững vấn đề nhân sinh, thế sự, những thành công đặc sắc về nghệ thuật xâydựng nhân vật và sử dụng ngôn từ trong truyện ngắn viết về đề tài dân tộc vàmiền núi của Ma văn kháng”[24, 56] Còn tác giả Nguyễn Nguyên Thanh trong
bài viết “Ngày đẹp trời –tính dự báo về những tình thế xã hội”(Báo Văn nghệ số
21 ngày 23/5/1987) khẳng định: “Ma Văn Kháng đã khám phá cuộc sống từnhững bình diện khác nhau,ông lách sâu hơn vào ngõ ngách đời sống tinh thần,tìm ra những nguyên nhân và quy luật khắc nghiệt của tồn tại xã hội” [38, 19]
Về cách xây dựng nhân vật, Lã Nguyên nhấn mạnh: “Nhân vật của Ma VănKháng dù phức tạp đến đâu, có những biểu hiện phong phú như thế nào, sau khitiếp xúc, ta có thể nhận diện được ngay nhân vật ấy thuộc hạng người nào, caothượng hay đê tiện, độc ác hay nhân từ, ích kỉ hay hảo tâm ”[25, 40]
Bàn về nghệ thuật viết của Ma văn Kháng, trong bài viết “Tư duy mới về
nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 1980” Nguyễn Thị
Huệ nhận xét: “Khi chuyển hướng trong ngòi bút sáng tác của mình, Ma VănKháng đã nhanh chóng tiếp cận với một hiện thực mới, một hiện thực phong phúnhưng ngổn ngang, bề bộn, phải trái, trắng đen lẫn lộn xen cài trong biết baobiến động Đó là cuộc sống của thành thị với những màu sắc phong phú và độcđáo”[7, 65]
Trong bài viết “Cốt truyện trong tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma VănKháng” Đỗ Phương Thảo viết : “Hầu như ở mỗi tiểu thuyết Ma Văn kháng đềutìm ra một kết cấu phù hợp mới mẻ, đây là một trong những biểu hiện cho thấyđổi mới tư duy nghệ thuật cũng như đánh dấu bước trưởng thành trên con đườngnghệ thuật của ông”[43, 55]
2.2 Lịch sử nghiên cứu về tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng
Tiểu thuyết viết cho thiếu nhi là một trong những mảng rất thành công của
Ma Văn Kháng Khi viết về thiếu nhi, nhà văn luôn dành những tình cảm yêuthương, trân trọng nhất
Đến với tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời - tác phẩm mà nhà văn tâm đắc nhất, đã có không ít ý kiến bàn bạc Phong Lê trong cuốn Vẫn chuyện Văn và Người - Nhà xuất bản Văn hoá thông tin (1990) cho rằng: "Cuốn sách của Ma
Trang 5Văn Kháng đã vục vào cái sự thật tối tăm oan khổ đó như nhiều cuốn sách khác.
Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo những tình cảm nhân hậu tốt lành
Có thể nói, đó là hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa Cái hiệu quả thanh lọc này vốndành cho nghệ thuật và dường như cũng chỉ có nghệ thuật đích thực, nghệ thuậtcao hơn cuộc đời mới có thể làm nổi"…[19, 23]
Trong bài viết Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời, Phong Lê cũng
nhận thấy: “Cuốn sách chất đầy những đau khổ, oan khiên lên thân phận ba bàcháu còm cõi, bơ vơ Cuốn sách mạnh mẽ đẩy ta vào giữa dòng sống hôm nayvới cảm hứng lớn là cảm hứng sự thật với sự bất bình và khát vọng dân chủ,cũng đồng thời cho ta sự gắn nối với văn mạch truyền thống là chủ nghĩa nhânvăn và tình yêu thương con người”[19, 56]
Trong bài viết “Một vài suy nghĩ khi đọc Côi cút giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng”, tác giả Vũ Thị Oanh cho rằng: "Côi cút giữa cảnh đời - cuốn sách viết
theo đề nghị cho lứa tuổi sắp vào đời, không đề cương, không hợp đồng, đượcxuất bản bởi sự hợp tác của Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà xuất bản Văn học
là một cuốn sách tiêu biểu… viết cho lứa tuổi sắp vào đời nhưng tác giả không
hề né tránh cái xấu, cái ác; những yếu tố tồn tại khách quan làm rõ thêm bứctranh cuộc sống với những cuộc đấu tranh thể hiện ở nhiều bình diện, sắc tháikhác nhau Đó là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác Tất cả được thể hiệnbằng ngòi bút mềm mại, uyển chuyển, ngôn ngữ hóm hỉnh, phong phú sắc màu:kết cấu có hậu kiểu truyện cổ dân gian của tác giả Ma Văn Kháng” [29, 103]
Lê Thị Bắc Lý trong bài viết “ Đọc sách Chó Bi – đời lưu lạc” đăng trên
Tạp chí Tác phẩm mới số 6, năm 1997 nhận xét: “ Cuốn sách tạo nên sự kỳ thúcho văn học thiếu nhi bởi sức thu hút tự thân của nó”[23, 32] Người đọc có thểnhận ra chó Bi không chỉ là sự lắp ghép thêm thắt vào gia đình mà chính thức đãhòa nhập, cùng đồng hành chia sẻ với hoàn cảnh éo le, cô đơn của gia đình béToản
Các tài liệu kể trên sẽ là những gợi ý, định hướng, là nguồn tư liệu quý báu
và cần thiết cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là Đặc điểm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng.
Trang 63.2.Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung khảo sát, tìm hiểu các tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của
Ma Văn Kháng Tư liệu khảo sát là các tiểu thuyết:
- Côi cút giữa cảnh đời, Nxb Kim Đồng , Hà Nội, Năm 2006
- Chó Bi-đời lưu lạc, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, Năm 2006
- Chuyện của Lý, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, Năm 2013
Tuy nhiên, để làm nổi bật những đặc sắc của tiểu thuyết thiếu nhi của
Ma Văn Kháng, chúng tôi có so sánh với một số tác phẩm khác của ông khi cầnthiết
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau :
4.1 Đưa ra cái nhìn tổng quát về sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng vàtiểu thuyết viết cho thiếu nhi của ông, xác định vị trí, ý nghĩa của những tácphẩm này trong sự nghiệp sáng tác của tác giả
4.2 Khảo sát, phân tích những vấn đề được quan tâm trong tiểu thuyết viếtcho thiếu nhi của Ma Văn Kháng
4.3 Phân tích, chỉ ra được những nét đặc sắc trong hình thức nghệ thuật củatiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứuchúng tôi sử dụng các phương pháp khác nhau:
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm một cáinhìn khái quát, hệ thống hơn về đặc điểm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của MaVăn Kháng, từ đó khẳng định những đóng góp của ông cho văn học dân tộc vềmảng đề tài này
Ở một mức độ nào đó, kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệu thamkhảo cho việc dạy - học về tác giả Ma Văn Kháng trong nhà trường
Trang 77 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính củaluận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Nhìn chung về sự nghiệp sáng tác và mảng tiểu thuyết viết cho
thiếu nhi của Ma Văn Kháng
Chương 2 Cái nhìn về thiếu nhi và “quyền trẻ em” trong tiểu thuyết viết cho
thiếu nhi của Ma Văn Kháng
Chương 3 Đặc điểm hình thức nghệ thuật trong tiểu thuyết viết cho thiếu
nhi của Ma Văn Kháng
Trang 8Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC VÀ MẢNG TIỂU THUYẾT
VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA MA VĂN KHÁNG
1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội và sự vận động của tiểu thuyết từ 1945 đến
nay
1.1.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam từ 1945 đến nay
Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, mở ra một kỷ nguyên mới chođất nước - kỷ nguyên độc lập, tự chủ Ách nô lệ bị đập tan, con người Việt Namđược giải phóng; bừng lên một niềm hạnh phúc lớn lao đến thiêng liêng, như kếtquả tất yếu từ khát vọng tự do và quyết tâm cứu nước của cả dân tộc Nhưngthực dân Pháp vẫn quyết tâm xâm lược đất nước ta Khi mọi biện pháp ngoạigiao không còn hiệu quả, trước dã tâm của Pháp nhằm áp đặt chế độ thuộc địalên nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu Ðáp lời kêu gọingày 19-12-1946 của Hồ Chủ tịch, cả đất nước đã đứng lên, vừa đánh giặc vừacủng cố lực lượng, huy động sức mạnh dân tộc không chỉ ở hiện tại mà cả từtruyền thống quật khởi bốn nghìn năm Cuối cùng, chiến thắng Ðiện Biên Phủ(1954) làm lịm tắt ý đồ xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải chấp nhậnthương lượng và ký kết hiệp định Giơnevơ về Ðông Dương (20-7-1954)
Cuộc kháng chiến chín năm đã kết thúc thắng lợi Một nửa nước được giảiphóng nhưng một nửa vẫn nằm dưới tay đế quốc Mĩ Chúng ta lại tiếp tục bắttay vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam Đây là một trongnhững giai đoạn lịch sử gay go, căng thẳng đồng thời cũng ghi dấu những tranghào hùng trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta Vận mệnh của đất nước đứngtrước nguy cơ một mất một còn Đây là một cuộc kháng chiến mà các nhà vănvừa tham gia chống kẻ thù cướp nước, vừa chống lại một cuộc xâm lăng văn hóacủa đế quốc Mỹ trên đất nước ta Nhanh nhạy và kịp thời, các nhà văn đã nhậpcuộc, tham gia vào cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của Tổ quốc Các thế hệ nhà
Trang 9văn cùng có mặt bên nhau trong trận tuyến đánh Mỹ Hàng trăm nhà văn trẻtrực tiếp cầm súng ra chiến trường và sáng tác như Nguyễn Thi, Thu Bồn, LêAnh Xuân…
Từ sau 30/4/1975, đất nước thống nhất trong niềm vui khôn xiết của đôi bờNam Bắc, trong hạnh phúc của giấc mơ giải phóng miền Nam nay đã thành hiệnthực Giấc mơ ấy vẫn hằn in trong từng giấc ngủ của người dân nước Việt Đểrồi ngày cả dân tộc bắt tay vào xây dựng lại đất nước tràn đầy tự hào Tuy nhiên,thách thức đến với nước ta còn nhiều Trải qua 10 năm thực hiện hai kế hoạch 5năm (1976 – 1980 và 1981 – 1985), Việt Nam đạt được những kết quả nhất địnhtrên cả hai phương diện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song cũng gặp nhiều khókhăn do mắc sai lầm nghiêm trọng trong chủ trương, chính sách chỉ đạo chiếnlược phát triển đất nước Đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng vềkinh tế – xã hội Nhưng sức sống bền bỉ của một dân tộc lại một lần nữa đưa tathoát khỏi khó khăn Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt quakhủng hoảng, Đảng và Nhà nước đã tiến hành công cuộc đổi mới Công cuộc ấy
là bước ngoặt lịch sử vĩ đại, làm thay da đổi thịt cả đất nước Đó không chỉ làđổi mới trên lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội mà còn là đổi mới trên góc độ tưtưởng, trong đó có tư duy về văn nghệ Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cũngtuyên bố “cởi trói”, “đổi mới tư duy” cho văn nghệ Sau cách mạng các nhà vănkhông xuất hiện với tư cách nhà văn – chiến sĩ nữa mà với tư cách những côngdân có trách nhiệm sống trong đất nước đang vặn mình đổi mới
1.1.2. Sự vận động của tiểu thuyết
1.1.2.1. Sự vận động về đội ngũ sáng tác
Từ 1945 tới 1975, diện mạo của tiểu thuyết cũng được hình thành quanhững trang viết của Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Kim Lân, HồPhương,…Đặc biệt, năm 1950-1954 là những năm văn học gặt hái được nhiềuthành tựu rực rỡ với nhiều tác giả cùng nhiều tiểu thuyết tiêu biểu Các tác giả
đã có những thể nghiệm bước đầu đáng khích lệ với Con trâu (Nguyễn Văn Bổng), Xung kích (Nguyễn Ðình Thi), Vùng mỏ (Võ Huy Tâm) Nhưng nhìn
Trang 10chung, giai đoạn này, đội ngũ sáng tác tiểu thuyết chưa nhiều Phải sau hoà bìnhlập lại, các nhà văn mới có thời gian để chú ý tới thể loại này
Sau 1975, tiểu thuyết phát triển rực rỡ Có được sự phát triển rực rỡ ấy lànhờ công sức của nhiều thế hệ cầm bút Đội ngũ viết tiểu thuyết đa dạng, nhiềuthế hệ khác nhau tạo cho tiểu thuyết mang bức tranh phong phú đa sắc màu củahiện thực, cuộc sống và con người Các thế hệ nhà văn cao niên vẫn mải miếttrên cánh đồng chữ nghĩa, lặng lẽ cho ra mắt bạn đọc những đứa con tinh thầncủa mình và không phải ngẫu nhiên mà người ta đã cảm nhận thời bây giờ là
“thời của tiểu thuyết” (Nguyễn Huy Thiệp), thời của dân chủ hoá trong sáng tạo
và tiếp nhận Nhà văn lão thành như Nguyễn Khải với Thượng đế thì cười
dường như muốn khép lại một hành trình hơn nửa thế kỷ cầm bút để lại nhiều dư
ba trên những trang tự thuật của mình Sau những tháng năm im lặng, với Người sông Mê, Châu Diên không ngại ngùng cách tân kỹ thuật viết tiểu thuyết Dù đã
thuộc vào hàng cây cao bóng cả, Mạc Can vẫn không thôi làm người đọc ngạc
nhiên và cảm động với tiểu thuyết đầu tay Tấm ván phóng dao Ma Văn Kháng vẫn dồi dào bút lực với Ngược dòng nước lũ Có những nhà văn chuyển
từ viết truyện ngắn sang tiểu thuyết như Nguyễn Khải, Lê Lựu Cũng có nhữngnhà văn tên tuổi viết tiểu thuyết đã khẳng định tài năng ở các giai đoạn trướcnhư Tô Hoài nay càng sắc sảo, tinh tế trong đời thường Bên cạnh đó nhiều câybút mới nổi lên như Dương Hướng, Chu Lai, Bảo Ninh và nhất là xuất hiệnnhiều cây bút nữ có tư duy tiểu thuyết sắc bén như Phạm Thị Hoài, Võ ThịHảo Đồng hành là một dàn những cây bút của thế hệ kế tiếp sáng tạo, sẵn sàngthể nghiệm, cách tân như: Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Tạ DuyAnh Đội ngũ các tiểu thuyết gia cho thấy tiểu thuyết đã vận hành trong cơ chếvận động và đổi mới của văn xuôi đương đại Những người cầm bút đã chứngminh được sự sáng tạo cùng với nỗ lực đổi mới và hiện đại hoá ngòi bút củachính họ Nhiều nhà văn chuyên tâm viết tiểu thuyết và có nhiều thành tựu lớnnhư Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Khải và đặc biệt là Ma Văn Kháng với hơn 12
tiểu thuyết, trong đó nổi lên những tiểu thuyết như Mùa lá rụng trong vườn
Trang 11(1985); Đám cưới không giấy giá thú (1989); Ngược dòng nước lũ (1999); Một mình một ngựa (2009) Tiểu thuyết Ma Văn Kháng giai đoạn này mang đậm
phong cách triết luận - trữ tình, đánh dấu một Ma Văn Kháng có nhiều đổi mớitrong tư duy, cách viết, từng trải và sâu sắc hơn Không khí dân chủ của môitrường sáng tạo đã giúp các nhà văn ý thức sâu sắc tư cách nghệ sĩ của mình, vượtlên trên những quy định, khuôn khổ đã thành áp lực với ngòi bút của người viết lâunay
1.1.2.2. Sự vận động về nội dung, nghệ thuật
Có thể nói trong quá trình vận động và đổi mới, tiểu thuyết đã trải qua
“những bước thăng trầm” Trong quá trình 30 năm phát triển của văn học cáchmạng (1945-1975), tiểu thuyết đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt củahoàn cảnh chiến tranh để khẳng định sự tồn tại Tuy những thành tựu còn ở mức
độ ban đầu nhưng đóng góp chính của nó là mang đến một sắc thái độc đáo, làmbừng lên khí thế mới chưa từng có trong đời sống văn học dân tộc Nhìn chung,sáng tác thời kỳ này tập trung nói về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, tố cáotội ác dã man của đế quốc; từ đó, giáo dục ý thức trân trọng, thiết tha với chế độ
mới như: Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển của Nguyên Hồng, Vùng trời
của Hữu Mai… Khuynh hướng sử thi và lãng mạn hoá trở thành khuynh hướngtiêu biểu của thể loại tiểu thuyết giai đoạn này Tuy có nhắc đến đau thươngsong cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết về chiến tranh giai đoạn 1945 –1975 làngợi ca chủ nghĩa yêu nước, là khát vọng tự do độc lập, là niềm tự hào về sựnghiệp cứu nước vĩ đại của nhân dân ta và niềm tin tưởng mãnh liệt vào chủnghĩa xã hội Mọi đối kháng trong tác phẩm đều xoay quanh cuộc chiến của dân
tộc Trong Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, tác phẩm đã tái hiện
bầu không khí lịch sử sôi sục, quyết liệt, sẵn sàng “Quyết tử cho Tổ quốc quyếtsinh” trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội Nhà văn thườngđẩy xung đột đến mức gay gắt, quyết liệt qua việc thể hiện tội ác của kẻ thù vớinhân dân Chiến tranh, bom đạn chỉ được miêu tả như một cái nền để nhà văndẫn độc giả vào một thế giới khác: thế giới của tình người, của đức vị tha, lòng
Trang 12dũng cảm và nghĩa tình chung thuỷ Nói cách khác, đó là thế giới của cái cao cả,cái đẹp vượt lên trên sự tàn phá, huỷ diệt của bom đạn chiến tranh Vì thế cácnhân vật được vẽ nên cũng mang nét sử thi lãng mạn Sự hi sinh, cống hiến của
họ đều xứng đáng là bức tượng đài biểu dương cho lòng yêu nước Họ sống chủ
yếu trong tư cách con người chính trị, con người công dân Hay trong Hòn Đất,
việc kẻ thù thả thuốc độc xuống suối và thằng Xăm chém đầu chị Sứ một cáchman rợ đã làm bùng lên ngọn lửa căm thù, khơi dậy sức mạnh mãnh liệt ở ngườidân và những người chiến sĩ du kích, buộc giặc phải rút lui khỏi hang Hòn Bị
kẻ thù treo lơ lửng trên cây dừa, đứa con nhỏ cùng em gái và đồng đội bị vâyhãm trong hang đá, chị Sứ tự nhủ: Bữa nay, có lẽ mình chết Nhưng mình chỉthấy tiếc chớ không ân hận mắc cỡ gì cả Tới phút này đối với Đảng, mình vẫn
y nguyên, như chị Minh Khai, như Võ Thị Sáu nên từ phút này trở đi, mìnhcũng phải giữ được như vậy Hay bi kịch cá nhân qua mối tình trái ngang
Xiêm – Lượng và cuộc hôn nhân bất hạnh Xiêm – Kiếm trong tác phẩm Dấu chân người lính của nhà văn Nguyễn Minh Châu đã để lại trong lòng người
những nỗi căm hờn về tội ác của bọn giặc Giọng điệu trữ tình rưng rưng, hàosảng không chỉ là giọng điệu chủ đạo của thơ, mà còn là giọng điệu chủ đạo củatiểu thuyết, khiến cho các tác phẩm văn xuôi thời ấy đầy ắp chất thơ và câu vănxuôi của hầu hết các nhà văn luôn luôn ngân vang âm hưởng trữ tình Nhưngcũng chính vì thế mà tiểu thuyết không thể trở thành thể loại cái của hệ thốngvăn học 1945 – 1975 Truyện và thơ trữ tình vẫn là hai thể loại cơ bản, giữ vaitrò thống soái tạo nên sự kết tinh nghệ thuật và diện mạo của văn học Việt Namgiai đoạn 1945 – 1975
Sau 1975, trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại, tiểu thuyết đã sớm bắtnhịp trong xu hướng đổi mới văn học giai đoạn này Sự phát triển mạnh mẽ củatiểu thuyết không chỉ ở số lượng lớn tác phẩm và đội ngũ nhà văn tham gia sángtác đông đủ, phong phú mà chủ yếu còn vì chất lượng của những tác phẩm nàyđạt giá trị cao Trong khoảng mười năm đầu (1975 - 1985), khuynh hướng sử thivẫn còn dư âm đặc biệt là trong tiểu thuyết viết về chiến tranh Sau chiến tranh
Trang 13kết thúc, người ta có điều kiện để tái hiện cuộc chiến đấu trên cái nhìn bao quáttheo suốt chiều dài lịch sử như đưa ra ánh sáng những cuộc chiến đấu thầm lặng
trong lòng địch (Ông cố vấn của Hữu Mai) hay một con đường mòn Hồ Chí Minh bí mật trên biển (Đường mòn trên biển của Hồ Phương) Khuynh hướng
sử thi tuy có mờ nhạt dần nhưng đã góp phần vào bức tranh văn xuôi trongkhoảng thời gian 10 năm đầu với những thành tựu nhất định Và lúc này khi viết
về lịch sử, các nhà văn không chỉ tái hiện lịch sử mà còn có điều kiện tập trungvào xây dựng tính cách nhân vật đa chiều hơn, phân tích và lý giải các sự kiện,biến cố
Trong giai đoạn sau 1986, trong cao trào đổi mới, tiểu thuyết đã thật sựbộc lộ ưu thế của mình trên con đường dân chủ hoá nội dung và nghệ thuật Với
xu hướng nhìn thẳng vào sự thật, các nhà tiểu thuyết đã dấn thân vào hiện thựcđương thời với nhiều ngổn ngang bề bộn Trong tác phẩm của họ xuất hiện ýthức “lột trần mặt nhau, lột trần mặt mình, lột trần mặt đời” và cao hơn là “bóctrần thế giới”, đồng thời còn là ý thức hướng tới đề cao tính nhân văn Đọc
những tác phẩm như Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu; Cơ hội của chúa (1999) của Nguyễn Việt Hà; Thiên thần sám hối (2004) của Tạ Duy Anh; Một mình một ngựa (2009) của Ma Văn Kháng không ai có thể phủ nhận sự phát triển
ngày càng cao trong từng góc cạnh của tiểu thuyết Chúng ta cũng có thể điểmqua một số hiện tượng tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Có thể nói tácphẩm đánh dấu sự đổi mới của văn xuôi theo tinh thần đổi mới tư duy là tiểu
thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu Đến với những sáng tác của Tạ Duy Anh, ta
thấy được sự cách tân nghệ thuật táo bạo trong văn phong của ông.Những tác
phẩm: Lão khổ (1992), Khúc dạo đầu (1991), Thiên thần sám hối (2004) là
những tác phẩm xuất sắc được dư luận quan tâm nhiều và ghi dấu ấn trong lòngđộc giả Bên cạnh đó, chúng ta có thể kể thêm một hiện tượng nữa đó là tiểu
thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, tiểu thuyết đã đem lại khá nhiều yếu tố mới
mẻ cho kinh nghiệm đọc tiểu thuyết của số đông độc giả Và gần đây người ta
chú ý những tiểu thuyết mới mẻ của Thuận, trong đó có tiểu thuyết Phố tàu
Trang 14(China Town) Đây là một cuốn tiểu thuyết khá lạ như Dương Tường nhận xét
“đây là cuốn tiểu thuyết khó đọc vì nó lạ và mới”, nó đã “khước từ truyềnthống” Chiến tranh cũng được nhận thức lại từ sự tác động ghê gớm của nó đếntình cảm và số phận con người với bao nỗi éo le, bi kịch, xót xa, nỗi buồn dai
dẳng (Thân phận tình yêu của Bảo Ninh) Một số tác phẩm nổi bật với cảm hứng
phê phán và ý nghĩa nhân văn sâu sắc Những tác phẩm viết về nông thôn chothấy sự chi phối của những tập tục, những tâm lý cố hữu ở làng xã đến các mốiquan hệ gia đình, dòng họ Những cuộc tranh giành quyền lực giữa họ tộc,những mối thù truyền kiếp tất cả đè nặng lên cuộc sống, số phận bao nhiêu
người (Bến không chồng; Mảnh đất lắm người nhiều ma ) Các tác giả còn đi
sâu vào khám phá đời sống muôn màu trong cái hàng ngày với các quan hệ thế
sự phức tạp; với đời sống cá nhân của mỗi con người ở những vấn đề riêng tư,
số phận, nhân cách (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng) Như vậy tiểu
thuyết Việt Nam đương đại phát triển khá phong phú và đa dạng, từ “phản ánhhiện thực” đến “nghiền ngẫm về hiện thực” với vai trò chủ thể của nhà văn tănglên Nhà văn thoát ra khỏi ràng buộc của chủ nghĩa đề tài Chính vì thế, giaiđoạn này thể loại văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng có sự xuất hiện củanhiều khuynh hướng Đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều cây bút đãnhìn lại hiện thực của thời kỳ vừa qua, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất,lên án những thế lực, những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời
Điểm qua một số nét về khuynh hướng vận động cũng như những hiệntượng khá nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại ta thấy bức tranh chungcủa văn học thời kỳ này có sự phát triển mau lẹ, nhiều bước đổi mới quan trọng,trong đó tiểu thuyết có sự phát triển phong phú và đa dạng Hiện nay, trong sựvận động chung của văn học, tiểu thuyết - một loại hình tự sự cỡ lớn vẫn đang nỗlực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học
và của đông đảo độc giả đương đại
1.2. Ma Văn Kháng - nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương đại
1.2.1. Cuộc đời Ma Văn Kháng
Trang 15Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 1/12/1936, quê gốc
ở phường Kim Liên - quận Đống Đa - Hà Nội Hiện tại, ông sống ở quận BaĐình - Hà Nội Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1959 và hộiviên hội Nhà văn Việt Nam từ 1974
Bút danh Ma Văn Kháng bắt nguồn từ câu chuyện đặc biệt của ông Năm
1963, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, ông lên dạy học ở tỉnh Lào Cai, sống
và gắn bó với đồng bào dân tộc miền núi hơn 20 năm Ngày ấy, ông quen anh
Ma Văn Nho, phó chủ tịch huyện Bảo Thắng, Lào Cai Anh Nho cũng là ngườiKinh, quê ở Hạ Hòa, Phú Thọ Hai anh em cùng đi cơ sở, thực hiện ba cùng vớinhân dân, vận động họ tăng gia sản xuất, đóng thuế, đi dân công, xóa mù chữ, vệsinh phòng dịch bệnh Trong đợt đi làm thuế ở thôn Giáng Tùng Tung, huyệnBảo Thắng, ông bị sốt rét ác tính, may mà có anh Ma Văn Nho - là phó bí thưHuyện ủy Bảo Thắng cứu sống nhờ kiếm được mấy mũi tiêm Từ đó ông kếtnghĩa anh em với anh Ma Văn Nho và đổi tên thành Ma Văn Kháng
Từ tuổi thiếu niên, Ma Văn Kháng đã tham gia quân đội và được cử đi học
ở khu học xá Trung Quốc Năm 1954, sau khi tốt nghiệp sư phạm trung cấp tạikhu học xá Nam Ninh (Trung Quốc), Ma Văn Kháng được cử về tiếp quản thủ
đô nhưng ông từ chối và xin về dạy học ở Lào Cai với lý do “muốn viết vănthành ra dám liều mạng lên miền biên ải một phen xem sao” Chuyến đi lên LàoCai lập nghiệp cũng là bởi ảnh hưởng của các tiểu thuyết lãng mạn Có gì đó đầyhào hứng lôi cuốn, thực sự rất hấp dẫn và mới mẻ cứ lớn lên trong tâm hồn anhgiáo viên trẻ tìm được lý tưởng Ông về dạy cấp II ở Lào Cai và bắt đầu xungphong tham gia nhiều hoạt động xã hội Năm 1960 ông được cử về học Đại học
Sư phạm Hà Nội, tốt nghiệp năm 1964 ông lại xin về Lào Cai để dạy cấp III.Sau đó ông chuyển sang làm thư ký cho đồng chí Bí thư Tỉnh ủy rồi làm PhóTổng biên tập báo Lao Cai, Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Laođộng, Uỷ viên Ban chấp hành, Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài củaHội Nhà văn Việt Nam Sau này, ngẫm lại, ông thấy việc bị điều lên làm thư kýcho ông bí thư tỉnh ủy tưởng là điều không may nhưng lại rất may Vì ở vị trí đó,
Trang 16ông được gắn bó với những gì thuộc về vận mệnh con người, vận mệnh của đấtnước Ông nhận ra rằng ngẫu sự rất quan trọng, cứ để cho cuộc sống chủ độngđến với đời mình, nhiều khi sự rủi ro đối với người làm nghệ thuật lại là điềumay mắn.
Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 ông chuyển về công tác tại Hà Nội,từng làm tổng biên tập, phó giám đốc nhà xuất bản Lao động Từ tháng 3/1995
là Ủy viên Ban Chấp hành, Uỷ viên Đảng đoàn, Hội Nhà văn khóa V - Tổng
Biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài Sự chuyển đổi công tác ấy cũng làm ông
đã phải đánh đổi nhiều thứ Đó là những ngày ăn nhờ ở đậu tại nhà tập thể Tổngliên đoàn lao động Việt Nam với không gian chật hẹp Bốn năm sau, hai vợchồng ông vất vả lắm mới lo toan để xin được cấp căn hộ chung cư ở ThànhCông rộng khoảng 28 m2 Đến khi chuyển về nhà mới, ông vẫn chưa tin mình
có nhà, chưa có cảm giác là nhà của mình, nằm ngủ vẫn chỉ mê thấy chuyện nhàcửa Khi “an cư” cũng là thời gian nhà văn Ma Văn Kháng viết được nhiều nhất
và thăng hoa nhất Nhiều tác phẩm của ông trong thời kỳ này đã trở thành nhữngdấu ấn không thể mờ phai trong nền văn xuôi hiện đại Ông chia sẻ: “Về Hà Nộirồi, tôi mới nhận ra rằng, hóa ra mình đã ở miền núi đến một phần tư thế kỷ.Tỉnh lẻ rất tình cảm, rất gắn bó, như một phần cơ thể mình vậy, nhưng nếu đểlàm văn chương chuyên nghiệp thì hóa ra mình cần nhiều điều hơn thế Mảnhđất Lào Cai mang lại cho tôi vốn sống về dân tộc rất lớn thậm chí còn là
“nguồn” để bè bạn hỏi mỗi khi cần cho sáng tác” [56, 15] Nhưng ông cũng hốitiếc: “Lẽ ra tôi nên về Hà Nội sớm hơn chục năm để học được nhiều hơn cho tácphẩm của mình nó bớt đi chất tỉnh lẻ Nói vậy không phải tôi chê tỉnh lẻ, nhưngthực sự cái gọi là “văn hóa tỉnh lẻ” nó cản trở và làm mình bé đi ghê lắm, cảmgiác nơi đó như cái lồng chật chội dù tình cảm rộng mênh mông, nhưng muốnbứt phá được là rất khó Chuyển đổi không gian văn chương khiến mình đầy lạlẫm nhưng thức ngộ, bừng sáng Bởi vậy mà tôi về từ năm 1976, đến năm 1982
mới viết lại được tác phẩm Mưa mùa hạ, một tác phẩm thể hiện sự khai sáng
cuộc đời mình Hồi đó, một ông bạn văn đã nói với tôi: “Lão Kháng này mới ở
Trang 17miền núi về thấy cái gì cũng lạ nên cứ kêu toáng lên, còn bọn mình ở đây quenrồi nên thấy cái gì cũng quen hết cả” [56, 15]
Ngoài ra, Ma Văn Kháng còn đứng lớp dạy viết văn nhiều khóa tại trườngviết văn Nguyễn Du khi xưa, nay là khoa Viết văn - Báo chí của Đại học Vănhóa Hà Nội Học trò của ông hiện nay nhiều người đã trở thành những tên tuổilớn trên văn đàn Nhà văn Ma Văn Kháng chia sẻ: “Có hai việc cần thiết vàocuối đời thì tôi đã nỗ lực để làm trong những năm qua, vì con cái tôi không aiquan tâm đến gia tài văn chương của bố, nên nếu mình không làm thì không ailàm cho mình cả, bởi thế tôi hệ thống hóa những điều đã viết, gom góp để hoànthành nốt những tư liệu dở dang, tổng kê lại những cuốn sách đã xuất bản,những bài báo người ta đã viết về mình Điều thứ hai là tôi soạn xong di chúc,thực sự phải hoàn toàn thanh thản chuẩn bị cho mình mọi tâm thế an lành nhất,
để có thể yên tâm một điều rằng, sinh ra trên cõi đời này, mình đã tận tâm, tậnlực đến cùng để có thể có một cuộc đời tròn vẹn nhất…” [ 56, 30]
Dù tuổi cao cùng những chứng bệnh mà bất kỳ tuổi già nào đều có thể gặpphải nhưng Ma Văn Kháng không những chăm chỉ viết, ông còn rất chịu khóđọc tác phẩm của các đồng nghiệp, mà trong đó đa phần là các đồng nghiệp lớpsau, những người vốn là học trò của ông, thậm chí, ông còn đọc cả tác phẩm củanhững cây bút trẻ một cách chân thành, không màu mè “Đọc nhà văn trẻ đểthấm thấu cái tươi mát phi truyền thống, phi cổ điển”, ông tâm sự Ngoài việctham dự vào đời sống văn học, thi thoảng, các đồng nghiệp vẫn thấy ông… đithực tế, dự các buổi gặp gỡ của các ngành Quan niệm của ông là đừng bao giờcho rằng mình đã trưởng thành, không hiểu các nghề khác thế nào, riêng nghềvăn mà tôi theo đuổi thì đó là một nghề cần học hỏi suốt đời Học nghề mải mê,không biết mệt, nếu anh còn muốn tiếp tục sống với cái nghề vất vả cực nhọc vàtràn đầy niềm vui này Ông tâm niệm: “Chẳng ai dự liệu được đời mình sẽ là thếnào cả Cách mạng là ngọn gió lớn thổi ta là hạt bụi đi đến các chân trời - mộtnhà thơ đã viết thế Khoa học nhân sinh cho biết 70% đời người do ngẫu nhiênquyết định Không ai chọn thời đại, hoàn cảnh để sinh ra và sống với nó cả Vấn
Trang 18đề đặt ra là biết sống cho đúng với tư cách một con người trong mỗi hoàn cảnh.Đến tuổi này thì tôi hài lòng với những gì đã trải qua, đã làm được và bằng lòngvới cả những gì chưa làm được…” [11, 22].
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác
1.2.2.1. Ma Văn Kháng – nhà văn của gia tài sáng tác đồ sộ
Nhà văn Ma Văn Kháng chia sẻ rằng, thực ra, văn chương đến với ông cũng làmột sự tình cờ Ngày bé ông thích văn, đã viết tham gia các cuộc thi của nhàtrường nhưng không nghĩ mai này sẽ là nhà văn Lớn hơn một chút, trong thâmtâm ông bắt đầu tâm niệm mình sẽ phải viết
Ma Văn Kháng là một trong số người có tốc độ viết nhiều nhất trong sốnhững nhà văn thế hệ ông Dường như ít thấy ông ở những cuộc trà dư tửu hậu,những cuộc xôm tụ bạn bè, mà chỉ thấy ông tranh thủ từng giây khắc của cuộcđời để cần mẫn gieo trồng trên cánh đồng chữ nghĩa Nói về điều này, nhà văn
Ma Văn Kháng khiêm tốn tự nhận mình là người cần cù, chịu khó và vẫn giữđược ngọn lửa men say trong cảm xúc Bởi vì, văn chương là thứ mà ông đãsống với nó, chết với nó nên ngày nào còn sức khỏe, là ông còn đọc, còn viết.Rồi ông bảo, thực sự thì văn chương cũng mang lại cho ông nhiều thứ Từ ngàykhốn khó sống bằng nhuận bút, đến xây nhà dựng cửa cũng có phần của nhuậnbút, đến tự cứu mình bằng việc mổ tim đặt stant động mạch vành cũng là tiềnnhuận bút bao năm tích cóp
Gia tài văn chương của ông cho đến hết năm 2013 có khoảng 200 truyệnngắn, 17 cuốn tiểu thuyết, một cuốn hồi ký, một tập bút ký- tiểu luận phê bình.Trong số này, có nhiều cuốn viết về đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như:
Xa phủ (1969), Bài ca trăng sáng (1972), Góc rừng xinh xắn (1972), Người con trai họ Hạng (1972), Mùa mận hậu (1972), Cái móng ngựa (1973), và các tiểu thuyết như: Gió rừng (1976), Đồng bạc trắng hoa xòe (1978), Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Vùng biên ải (1983), Đám cưới không
có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989), Gần đây trong hai năm
từ năm 2010- 2011, ông vừa cho ra mắt độc giả liên tiếp ba cuốn tiểu thuyết Một
Trang 19mình một ngựa, Bóng đêm và Bến bờ Và năm 2013 ông có tiểu thuyết Chuyện của Lý Có người bảo tiểu thuyết Chuyện của Lý là cuốn sách cuối cùng của lão
nhà văn này Nói là vậy, ai dám chắc được với niềm đam mê văn chương, sứclao động bền bỉ, dẻo dai và nghiêm túc, biết đâu ông vẫn còn tiếp tục cho ra lònhững cuốn sách mà ông tâm đắc từ lâu đang được gấp rút hoàn thành Với số lượng tác phẩm văn chương khá đồ sộ như vậy, nhà văn Ma Văn
Kháng đã từng nhận được nhiều giải thưởng quan trọng, như truyện ngắn Xa phủ đoạt giải nhì của tuần báo văn nghệ 1968 - 1969 Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn được xem là cuốn tiểu thuyết viết về gia đình xuất sắc nhất của ông
được tặng giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1985 Tập truyện
Trăng soi sân nhỏ nhận tặng thưởng của Hội đồng Văn xuôi Nhà văn Việt Nam năm 1995 và giải thưởng văn học Đông Nam Á 1998 Truyện ngắn San cha chải
nhận giải thưởng “Cây bút vàng” cuộc thi truyện ngắn và ký 1996 - 1998 do BộCông an và Hội Nhà văn đồng tổ chức Năm 2001, Ma Văn Kháng được vinh dự
nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật với cụm tác phẩm: Đồng bạc trắng hoa xòe, Mùa lá rụng trong vườn.
1.2.2.2. Ma Văn Kháng – nhà văn mang phong cách riêng
So với các nhà văn đàn anh người dân tộc thiểu số như Nông Quốc Chấn,Bàn Tài Đoàn, Cầm Biêu,…và các đàn anh dân tộc Kinh như Nguyễn Tuân và
Tô Hoài, điểm xuất phát đến với văn chương của Ma Văn Kháng cao hơn, khiông là sinh viên Ngữ văn của trường đại học Sư phạm Hà Nội Đấy là một lợithế rất đáng kể trên con đường văn nghiệp của ông sau này Cũng như NguyễnTuân và Tô Hoài, ông không phải là người dân tộc thiểu số, nên dễ mắc nghiệnbản sắc văn hóa của đồng bào cũng là điều dễ hiểu Còn so với các thế hệ cácnhà văn đi sau là người dân tộc thiểu số như Y Phương, Mai Liễu, DươngThuấn, Cao Duy Sơn, Inrasara, thì thầy giáo trẻ Đinh Trọng Đoàn lại có lợi thế
so sánh ở bề dày kinh nghiệm, đặc biệt là thời gian tuổi trẻ ông từng bôn ba hơn
20 năm cùng với đồng bào các dân tộc thiểu số Vì vậy, tác phẩm nào của ôngcũng để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc và gặt hái được nhiều thành
Trang 20công xuất sắc đưa ông lên vị trí là nhà văn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiệnđại Ma Văn Kháng không chỉ khẳng định tài năng của mình với số lượng tácphẩm văn học đồ sộ mà hơn hết là những sáng tác của ông có giá trị lớn thấmnhuần tư tưởng nhân văn, triết lý, đạo lý ở đời một cách sâu sắc Những tácphẩm của ông dù thuộc đề tài miền núi hay đô thị cũng đều khám phá tận cùngbản chất cuộc sống và khai thác hết mọi góc cạnh của con người nên người đọc
có cảm giác được đi sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc đời, hiểu sâu về cuộcsống con người với muôn hình muôn vẻ với những xô bồ hỗn độn của nó MaVăn Kháng còn được coi là “người đi tiền trạm” cho đổi mới văn học Vàonhững năm 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của Ma Văn Kháng đã "nhìnthẳng vào sự thật, nói rõ sự thật", từ đó tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổitrên các diễn đàn văn học Ông cũng là một trong số các nhà văn Việt Nam hiệnđại sáng tác thành công ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết
Có thể phân chia sáng tác của ông thành ba thời kì Thời kì đầu là những
sáng tác mang tính sử thi, với các tác phẩm tiêu biểu là Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải Tư tưởng nhân văn được thể hiện ngay trong những tác phẩm của ông trong thời kì đầu Có thể thấy điều đó qua tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xòe Trong tác phẩm, Ma Văn Kháng hiểu thấm thía một hiện tượng cuộc
sống đặc biệt đến quái dị là chế độ thổ ty phong kiến thế tập phiên thần đã tồntại hàng trăm năm ở đây Tác giả đã tái hiện một giai đoạn lịch sử ngắn ngủinhưng rắc rối vào bậc nhất của cách mạng Việt Nam được tiến hành trên mộtvùng núi phong kiến thế tập phiên thần nghèo nàn và lạc hậu, đặt trong bối cảnhlịch sử ngàn cân treo sợi tóc của dân tộc
Ở thời kì thứ hai, ông chú ý tới những sáng tác thế sự - đời tư, với các tiểu
thuyết như Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Ngược dòng nước lũ, Đám cưới không có giấy giá thú, bắt đầu từ giữa những năm 80 của thế kỉ trước.
Sau 1986, văn học từ cảm hứng sử thi chuyển sang cảm hứng thế sự, Ma VănKháng không là ngoại lệ của xu thế đó Ông đã vững bước trên đường đổi mớivới những cảm hứng mới, tâm thế mới và bút lực ngày càng mạnh mẽ Sự
Trang 21nghiệp đổi mới văn học đã được khẳng định trong đó có đóng góp tích cực củacây bút điềm đạm mà quyết liệt, bình tĩnh chọn lựa, kiên định trước những chaođảo, nhiễu loạn của văn đàn khi không tránh khỏi những xu thế cơ hội và vụ lợicủa cơ chế thị trường và mở cửa văn hóa hội nhập toàn cầu Ma Văn Kháng trảiqua quá trình đổi mới với những nhọc nhằn nhưng can đảm và nhẫn nại Nhàvăn là một minh chứng cho thái độ chừng mực, ôn hòa mà kiên cường, khíphách Nhà văn đã nhìn hiện thực cuộc đời với cái nhìn mới nhiều chiều để thấy
cả bề mặt lẫn bề sâu với tất cả quan hệ ngổn ngang, chồng chéo, phức tạp của
nó Con người là đối tượng để khám phá không còn và không thể được quanniệm như trước Đó là con người trong mối quan hệ đa chiều lịch sử, xã hội, giađình và với chính mình, là con người trong tính toàn vẹn, phong phú và phứctạp, có hạnh phúc lẫn khổ đau, có cao cả lẫn thấp hèn, bóng tối lẫn ánh sang.Với
Ma Văn Kháng, con người, đó là một luận đề lớn ngày càng được nhận thức,chiêm nghiệm với chiều sâu triết học, xã hội học, văn hóa học và tâm lý học Có
thể lấy ví dụ bằng Mùa lá rụng trong vườn - một tiểu thuyết của nhà văn Ma
Văn Kháng, hoàn thành vào tháng 12 năm 1982 và được xuất bản lần đầu vàonăm 1985 Lấy bối cảnh một gia đình truyền thống vào những năm 80 của thế kỉ
XX, khi đất nước bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ sau chiến tranh,gây ra nhiều thay đổi tốt có, xấu có; truyện đã phản ánh chân thực những biếnđộng trong xã hội thời bấy giờ và những ảnh hưởng to lớn của nó tới gia đình -
tế bào của xã hội Truyện đã giành giải thưởng loại B của Hội Nhà văn ViệtNam năm 1986
Và thời kì thứ ba có thể nói là giai đoạn tác giả đi ngược trở lại quá khứ, hồi
tưởng về quá khứ, bắt đầu từ những năm đầu thế kỉ XXI với cuốn hồi kí Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương, tiểu thuyết Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, Một mình một ngựa Một mình một ngựa là câu chuyện của một nhân vật mang tên
Toàn chuyển đổi môi trường sống, từ một cán bộ trong ngành giáo dục được tổchức điều động trở thành thư kí riêng cho bí thư tỉnh ủy một tỉnh miền núi Cuốn
sách mang tính tự truyện rõ rệt Ở tiểu thuyết Một mình một ngựa câu chuyện
Trang 22được kể lại kết hợp lời kể của một nhân vật văn học vừa là lời của chính tác giả,
kẻ lẩn mặt, cố tình không xưng tôi để kể lại câu chuyện của mình
Suốt 50 năm miệt mài cầm bút, nhà văn Ma Văn Kháng đã để lại dấu ấnriêng biệt trong tâm trí nhiều thế hệ độc giả Đồng thời, nhiều tác phẩm của ông
đã cắm những dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn học
Ma Văn Kháng giờ đã ở tuổi 76 tuổi song ông vẫn lao động chữ nghĩa, vẫn
có bạn đọc Bên cạnh ông luôn có những người yêu mến, những người bạn tri
âm Nhìn ông làm việc, nhìn ông được đón nhận thành quả, nhìn ông lắng nghenghiêm cẩn và cầu thị, nhiều người ước ao, đến tuổi ấy mà được như vậy thậtchẳng gì bằng Tên tuổi của ông vẫn còn sức sống với thời gian và những tácphẩm của ông vẫn luôn sống mãi trong lòng bạn đọc
1.3. Vị trí của tiểu thuyết Ma Văn Kháng
1.3.1. Các đề tài nổi bật
Toàn bộ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn chung được sáng tác theo haimảng đề tài lớn với hai cảm hứng chủ đạo: Đề tài về dân tộc miền núi với cảmhứng sử thi và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư
Viết về đề tài miền núi, ông tập trung đi vào khám phá, phản ánh cuộc đấutranh của đồng bào các dân tộc thiểu số, về hiện thực cuộc sống lao động vàchiến đấu của người dân miền núi Tây Bắc Trải qua 22 năm công tác, giảng dạy
ở vùng dân tộc, Ma Văn Kháng hiểu rõ được đời sống của đồng bào dân tộcmiền núi mà nhất là vùng đất Lào Cai nơi ông công tác Đó là cuộc sống cònnhiều gian nan, khó khăn còn nhiều vết tàn dư của những quan niệm, phong tụclạc hậu Ông là người chứng kiến những biến động to lớn trong đời sống chínhtrị - xã hội cũng như cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa cái mới và cái cũ Đó
là cuộc cách mạng có tính chất rộng lớn không riêng gì đồng bào dân tộc LàoCai mà còn là cuộc đấu tranh chung của đồng bào các dân tộc Tây Bắc Mỗi conngười, từ già đến trẻ đều có một mảng đời, một biến cố, một bước ngoặt liênquan đến cuộc đấu tranh có tính chất chuyển đổi của “thời kỳ bão táp dữ dộiđó”
Trang 23Viết về đề tài miền núi, Ma Văn Kháng còn muốn lột tả thế vươn vaiđứng dậy đổi đời của những con người cách mạng núi rừng Sống cùng đồngbào dân tộc, tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng của ông đã thấm thía và thấu hiểumột cách sâu sắc “lịch sử đớn đau trầm luân, khổ ải cùng khát vọng mãnh liệt vàsức mạnh tiềm ẩn muốn vươn lên tự giác, giải phóng thoát ra khỏi ràng buộc áp
bức của họ” [11, 56] Điều đó có thể thấy rõ qua tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe được xuất bản năm 1979 Đây là cuốn tiểu thuyết tái hiện lại một giai đoạn
lịch sử ngắn ngủi nhưng rắc rối của cách mạng Việt Nam “một cuộc cách mạngtiến hành trên một vùng núi phong kiến thế tập phiên thần, nghèo nàn và lạc hậutrong cái không gian tỉnh biên giới Lào Cai hỗn loạn, rối ren” [9, 12] Tiếp sau
Đồng bạc trắng hoa xòe là tiểu thuyết Vùng biên ải (1983), là cuốn tiểu thuyết
tái hiện lại cuộc đấu tranh căng thẳng, ác liệt giữa các lực lượng cách mạng vàphản cách mạng ở vùng biên giới phía bắc, là cuộc đấu tranh tự giải phóng của
đồng bào dân tộc miền núi Ma Văn Kháng đã tâm sự: “Tôi viết Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải trong cảm hứng của cơn vò xé tâm hồn rất nhiều trước lịch
sử đau thương và bi hùng của một dân tộc” [9, 13]
Ở đề tài miền núi, ông đã có nhiều tác phẩm xuất sắc ghi thêm danh sáchvào những nhà văn viết về miền núi hay cùng với Tô Hoài, Nguyên Ngọc.Nhưng ông thành công hơn cả và gặt hái được nhiều thành tựu lớn là ở mảng đềtài đô thị Ở đề tài này ông quan tâm đến đời sống đô thị với những ngột ngạt,ngổn ngang của đời sống thời kỳ đổi mới Ông đã hướng ngòi bút của mình vàotất cả những vấn đề đời tư, thế sự và các khía cạnh của đời sống con người hiệnđại; tình yêu, tình dục, hôn nhân, hạnh phúc, bi kịch con người đều được ôngkhai thác một cách triệt để, sâu sắc nhất
Năm 1982 ông cho ra đời cuốn tiểu thuyết Mưa mùa hạ Đây là cuốn tiểu
thuyết đánh dấu bước chuyển mình của nhà văn từ đề tài miền núi chuyển sang
đề tài thành thị Mưa mùa hạ tái hiện lại cuộc đấu tranh giữa con người với thiên
tai, thể hiện cuộc đụng độ giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái cao cả và cái thấp hèn.Hình ảnh con đê Nghĩa Lộc mang tính chất ẩn dụ ngày đêm phải đương đầu với
Trang 24sự đục khoét của họ hàng nhà mối Khi mùa lũ đến phải chịu sự công phá dữ dộicủa 18 tỷ m3 nước để so sánh với cuộc đấu tranh giữa cái tích cực và cái tiêu cựcđang tồn tại, tiếp diễn trong đời sống xã hội như một vấn nạn Trong cuộc đấutranh ấy, dẫu cái cũ, cái xấu chưa hoàn toàn triệt tiêu song đã tạo tiền đề mởđường cho cái tốt, cái đúng được khẳng định, được chiến thắng
Sau chiến tranh, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn của thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội, nhiều quan điểm và giá trị đạo đức truyền thống đang có nguy
cơ bị bào mòn, xem nhẹ Nhận thấy rõ được sự biến đổi sâu sắc đó, Ma Văn
Kháng cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn (1985) và
ngay từ khi ra đời nó đã được đông đảo bạn đọc đón nhận và bàn luận sôi nổi
Mùa lá rụng trong vườn xoay quanh chủ đề gia đình, những chuyện liên quan
mật thiết đến đời sống hàng ngày trong sự quan hệ, ứng xử giữa các thành viêngồm nhiều thế hệ Trong đó, vấn đề lớn được quan tâm, phản ánh là thái độsống, ý thức sống của mỗi thành viên trước những tác động nhiều mặt của đờisống kinh tế thị trường Sự cảnh tỉnh về những giá trị đạo đức truyền thống đang
có nguy cơ bị bào mòn, bị xâm thực bởi những giá trị vật chất Xung quanh vấn
đề gia đình, tác phẩm còn đề cập đến sự vận động, phát triển tính cách cá nhântrong quan hệ nhiều mặt với đời sống xã hội, sự quan tâm tới số phận của mỗi cánhân trong cuộc sống giao thời hiện nay Lối sống thực dụng, ích kỷ cùng vớinhững dục vọng thấp hèn coi đồng tiền là trên hết, bất chấp mọi chuẩn mực, mọigiá trị đạo đức đang hình thành và có nguy cơ lấn át giá trị truyền thống Tác giả
Trần Đăng Xuyền nhận định: “Mùa lá rụng trong vườn là tác phẩm đã khơi
được vào dòng chảy của cuộc sống chúng ta hôm nay, đã lẫy ra được một mảngtươi nguyên của cuộc sống đó, gợi cho ta bao suy nghĩ về nó, lo lắng, băn khoăn
về nó và cũng hy vọng, tin yêu ở nó Từ đó đặt ra cho mỗi chúng ta một thái độ
sống, một trách nhiệm sống” [59; 18] Với giá trị đó, năm 1985, tiểu thuyết Mùa
lá rụng trong vườn được tặng giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam.
Cũng trong giai đoạn này, ông cho xuất bản tập truyện ngắn Ngày đẹp trời Năm 1988, nhà xuất bản Phụ nữ cho xuất bản cuốn Trái chín mùa thu.
Trang 25Năm 1989, tiểu thuyết Đám cưới không giấy giá thú ra đời đã tạo ra một
cuộc tranh luận sôi nổi, dài dòng trên báo chí và ở bàn hội nghị Đây là tiểuthuyết có tính luận đề sâu sắc, xung quanh về đề tài người trí thức, tác giả đã đềcập đến những vấn nạn của tình hình giáo dục nói chung, tình trạng tha hóa củamột bộ phận giáo viên nói riêng Đặc biệt, tác phẩm đã đề cập trực tiếp đến vấn
đề nhân cách của người thầy giáo trong cơ chế thị trường Đó là thói vô liêm sỉ,đạo đức giả, lợi dụng chức quyền , kết bè kéo cánh trù dập những người trí thứcchân chính
Cũng trong năm 1989, Ma Văn Kháng cho phát hành tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời, đây là tiểu thuyết viết về đề tài gia đình nhưng hơn hết nó là tác
phẩm dành cho thiếu nhi, là tác phẩm mà nhà văn tâm đắc nhất Ma Văn Kháng
đã từng tâm sự: “Côi cút giữa cảnh đời là cuốn sách tôi viết về gia đình mình.
Trong đó có hình ảnh mẹ tôi, một người mà tôi luôn yêu thương kính trọng vàkhông cầm được nước mắt khi nghĩ đến” [9; 19]
Năm 1999, tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ xuất hiện tạo nên làn sóng
tranh luận sôi nổi của giới nghiên cứu và độc giả yêu văn học Đây là cuốn tiểuthuyết được thực hiện với một bút pháp phóng túng hơn so với những sáng táctrước đó Nó tạo điều kiện cho ngẫu hứng, cho cái tự nhiên của đời thường vàthế giới tâm linh, cái thực của tâm trạng của con người được phát triển Mộttrong những mạch chính của truyện là mối tình ghềnh thác, trắc trở của Khiêm
và Hoan Xoay quanh cuộc đời của hai nhân vật là những vấn đề của đạo đứcnhân sinh Cách viết sáng tạo đan xen tài tình giữa thực và ảo, giấc mơ và hiệntại, ý thức và tiềm thức, hiện thực và lãng mạn, ngợi ca và phê phán đã tạo nênhiệu quả nghệ thuật của tiểu thuyết Là cuốn tiểu thuyết gây chú ý nhất năm
1999 “vừa thú vị vừa có nhiều điều đáng bàn lại”
Năm 2009, Ma Văn Kháng lại làm nên cơn chấn động dữ dội, ngạc nhiên
cho độc giả với cuốn tiểu thuyết Một mình một ngựa (2009) với giải thưởng của
Hội Nhà văn Hà Nội Theo tâm sự của nhà văn thì đây là cuốn tiểu thuyết ôngviết về lớp cán bộ lãnh đạo, những người đã cộng tác cùng nhà văn ở miền núi
Trang 26Đây là cuốn tiểu thuyết có dáng dấp một cuốn tự truyện của tác giả Một mình một ngựa, hình tượng đầy cảm hứng kiêu hùng đó đồng thời đã hàm chứa ở
trong nó mặc cảm cô đơn của mỗi đời người trong cuộc sống vốn là sản phẩmcủa tạo hóa mang sự hòa trộn hữu cơ giữa vẻ đẹp anh hùng cao cả lãng mạn phithường với thói đời nhỏ nhặt, tầm thường, thậm chí đê tiện xấu xa… Chủ đề ấycủa tiểu thuyết được thực hiện bằng một nghệ thuật trần thuật có dụng ý phácthảo một loạt chân dung một lớp người - một thế hệ cán bộ ở một thời điểm nhấtđịnh của đất nước, những tính cách giàu tính chân thực, sinh động như một đính
chính những ngộ nhận về họ ở cả hai phía cực đoan” Một mình một ngựa cũng
là tiểu thuyết cuối cùng của ông và được hội đồng chung khảo biểu dương làmột cuốn sách thể hiện được sự vững vàng về kỹ thuật và nghệ thuật tiểu thuyết
Gần đây nhất, năm 2013, tác giả lại cho ra đời tiểu thuyết Chuyện của Lý.
Tiểu thuyết kể về cô bé tên Lý Tuy cuộc sống của cô gặp nhiều điều không maynhưng cô lại được sống trong tình yêu của cha mẹ và sớm hình thành cá tínhriêng làm mọi người ngưỡng mộ
Như vậy, tính từ tác phẩm đầu tay cho đến tác phẩm cuối cùng, Ma VănKháng không chỉ thể hiện tài năng của mình ở số lượng lớn tác phẩm mà hơnhết đó là những tác phẩm của ông đều có giá trị và được đánh giá cao Từnhững sáng tác về đề tài miền núi cho đến những sáng tác mang cảm hứng đời
tư thế sự sau này đã thực sự đưa Ma Văn Kháng trở thành một hiện tượng trênvăn đàn văn học Việt Nam và là nhà văn có công mở đường cho sự nghiệp đổimới văn học
1.3.2. Những đóng góp chính
Qua từng tiểu thuyết, Ma Văn Kháng liên tục gặt hái được những thànhtựu đáng kể Ở đề tài nào ông cũng có những tác phẩm có giá trị, thu hút được
sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu, phê bình văn học Trong đó có
những tác phẩm được giải thưởng trong nước, quốc tế Ngoài Mùa lá rụng trong vườn được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1984, Ma Văn Kháng còn vinh dự
nhận được giải thưởng văn học Đông Nam Á (1998) và giải thưởng Nhà nước
Trang 27về văn học nghệ thuật (2001) Có thể nói các giải thưởng cùng con đường sángtác gần nửa thế kỷ đã khẳng định vị thế của ông trong lòng độc giả cũng nhưtrong đời sống văn học
Ma Văn Kháng là nhà tiểu thuyết viết đều, viết khỏe và thành công ở thểloại tiểu thuyết Với chặng đường gần 50 năm trong cuộc đời văn nghiệp củamình, Ma Văn Kháng đã có một gia tài đồ sộ về sáng tác tiểu thuyết Trong số
đó có rất nhiều tác phẩm ngay từ khi ra đời đã trở thành tâm điểm chú ý của dưluận và trở thành đề tài tranh luận phê bình của các nhà nghiên cứu, tạo nênhiệu ứng tích cực trong đời sống văn học Việt Nam đương đại
Về mặt nội dung, đọc các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, chúng ta thấy
Ma Văn Kháng quan tâm nhiều đến hiện thực của cuộc sống Tất cả những hiệnthực của cuộc sống đều được ông phơi bày trên trang văn một cách tường tận, cụthể Ở mỗi khía cạnh của hiện thực cuộc đời, mỗi góc khuất của tâm hồn conngười ông đều thể hiện một cái nhìn, một quan niệm mới Trong tác phẩm củaông, hiện thực được phản ánh một cách chân thật mà gần gũi, ông viết về giađình với những số phận cá nhân, những mảnh đời trong những mối quan hệ giađình, anh em, xã hội; viết về bi kịch của người trí thức, ông đều thể hiện mộtvăn phong điêu luyện, một tâm hồn đồng cảm của nhà văn đối với con người vàthân phận của họ
Tác giả Trần Đăng Xuyền, trong bài viết “Một cách nhìn cuộc sống hômnay” đăng trên báo Văn nghệ số 15 - 19 - 1983 đã đưa ra nhận định xác đáng
về tiểu thuyết Mưa mùa hạ: "Giá trị của Mưa mùa hạ không chỉ là chỗ mạnh dạn
lên án cái tiêu cực mà chủ yếu là xây dựng được cách nhìn, thái độ đúng đắntrước những cái xấu, trước những bước cản đi lên Chủ nghĩa xã hội" [58;56]
Sau Mưa mùa hạ, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn xuất hiện Đó là cuốn
tiểu thuyết biểu hiện cho xu thế văn học đang vươn tới những vấn đề cốt yếunhư nhìn thẳng vào cuộc sống của những gia đình với mỗi người
Nói về cái nhìn của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, trong bài viết: "Đọc Đám cưới không có giấy giá thú của Lê Ngọc
Trang 28Y, tác giả đã nhận thấy "Bằng cách nhìn tinh tế vào hiện thực đời sống tác giả
đã mô tả những người giáo viên sống và làm việc gặp quá nhiều khó khăn.Những vui buồn của thời thế đã phản ánh vào những trang tiểu thuyết trở nênsống động"[tr13] Từ đó, tác giả nhấn mạnh Ma Văn Kháng đã có cái nhìn hiệnthực, tỉnh táo nên không bị thói xấu, cái bất bình thường vốn nảy sinh trong xãhội đang vận động lấn át, hoặc chỉ thấy một chiều này u ám mà không thấychiều khác đầy nắng rực rỡ
Xét về mặt nghệ thuật, với sự đóng góp của mình, Ma Văn Kháng được coi
là một trong những người có thành tựu đáng kể trong quá trình đổi mới tư duytiểu thuyết, tìm hướng đi mới trong sự sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là sự sángtạo về ngôn ngữ
1.4 Nhìn chung về tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng
1.4.1 Khái niệm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi
Đầu tiên, ta phải hiểu văn học cho thiếu nhi là gì “Từ điển thuật ngữ vănhọc” do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi chủ biên (Nxb Giáo dục– 1992) đã viết: “Theo nghĩa hẹp, văn học thiếu nhi gồm những tác phẩm vănhọc hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi” [4; 353] Tuy vậy trên thực
tế, khái niệm văn học thiếu nhi không bó hẹp như vậy, nó còn bao gồm mộtphạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi
vào phạm vi đọc của thiếu nhi như: Đôn Kihôtê của M Xecvantex, Roobinxơn Cruxô của Đêphô, Gulivơ du ký của Gi Xuypt, Xpactac của R Goovahihôli, Túp lều bác Tôm của Bichơ Xtâu v.v…
Khoảng thế kỷ XIV – XVI tại châu Âu, đã có một bộ phận sáng tác văn họcdành riêng cho thiếu nhi, những cuốn sách đầu tiên thuộc loại này là những cuốnsách có nội dung giáo khoa và đạo lí thường là sách học vần, sách bách khoa,sách về các quy tắc ứng xử trong xã hội Tính giáo huấn được người ta coi lànhững đặc điểm quan trọng của văn học thiếu nhi bởi vậy cho đến giữa thế kỷXIX những tác phẩm viết dành riêng cho thiếu nhi vẫn nằm ngoài phạm vi củavăn học Trong khi đó những tác phẩm văn học viết cho người lớn lại đi vào
Trang 29phạm vi đọc của trẻ em nhất là thể loại truyện cổ tích hoặc một số tiểu thuyếtthuộc thể loại phiêu lưu.
Tới thế kỷ XX, văn học thiếu nhi phát triển khá đa dạng và pha tạp Ở nhiềunước phát triển, nó ít nhiều còn bị chi phối bởi xu hướng thương mại, bị pha trộnvới sự bành trướng của văn học đại chúng
Ở Việt Nam, tới thế kỷ XX mới xuất hiện văn học thiếu nhi Cho tới nay đã
có sự phát triển phân nhánh Văn xuôi cho thiếu nhi đã hình thành các loại như:Truyện sinh hoạt, truyện cổ tích, sáng tác hiện đại theo lối cổ tích, truyện lịch
sử, truyện loài vật Thơ cho thiếu nhi cũng thường viết theo các loại như: sinhhoạt, dựa vào đồng dao, cổ tích, lịch sử, loài vật mà sáng tạo
Như vậy, tiểu thuyết viết cho thiếu nhi là những tác phẩm tự sự viết bằngvăn xuôi với dung lượng lớn với đối tượng hướng đến là trẻ em Trẻ em khôngchỉ là đối tượng miêu tả mà còn là đối tượng tiếp nhận Hình ảnh cuộc sống, cốttruyện, nhân vật, chi tiết, trong tác phẩm dù phong phú mấy cũng phải hướngtới bồi đắp cho tâm hồn trẻ Có những tác phẩm xuất hiên nhân vật trẻ em nhưng
tư tưởng truyện lại không hướng tới giáo dục trẻ, không coi trẻ là đối tượng tácđộng thì cũng không gọi là tiểu thuyết cho thiếu nhi
Ngoài ra, cũng cần phân biệt cụm từ “viết cho thiếu nhi” và “viết về thiếunhi” “Viết cho” là chuyển tác phẩm thuộc sở hữu của nhà văn sang thành củangười khác mà không đổi lấy gì cả Chính vì thế cụm từ “Viết cho thiếu nhi” đốitượng nhắm đến là thiếu nhi, chịu tác động là thiếu nhi, ảnh hưởng của tác phẩmcũng là thiếu nhi Còn cụm từ “viết về thiếu nhi” phạm vi của nó là thiếu nhi,trong nội hàm của phạm vi vẫn bao gồm đối tượng chịu sự tác động và ảnhhưởng
Tiểu thuyết cho thiếu nhi cũng giống như tác phẩm văn xuôi cho thiếu nhinói chung Nó phải chú ý tới tâm sinh lí của các em Lứa tuổi nhỏ có những đềtài, cách hiểu và diễn đạt khác người lớn Phong Lê cho rằng: “Rõ ràng, khôngphải một sáng tác hay nào cho người lớn, các em cũng ham đọc; nhưng bất kìsáng tác nào hay cho trẻ em cũng đều nhanh chóng trở thành của chung cho mỗi
Trang 30người là vì trong những câu chuyện trẻ em kia hàm chứa biết bao điều lớn lao
mà bất cứ ai đều quan tâm.” [20; 29] Đó chính là cách ứng xử trong tình bạn,thầy cô, trong quan hệ cha mẹ và con cái, trong ảnh hưởng của môi trường vớitrẻ nhỏ, Tác phẩm hấp dẫn là tác phẩm thể hiện chân thực nhất tính cách, tâmhồn các em mà vẫn đảm bảo tính giáo dục, tinh thần nhân bản Ngôn từ phảitrong sáng, dễ hiểu Kết cấu tác phẩm rõ ràng, không mang tính đánh đố như cáctiểu thuyết đương đại
Tuy nhiên, điều này không phải thời điểm nào trong lịch sử văn học ViệtNam cũng được thể hiện đầy đủ Tuy tiểu thuyết cho thiếu nhi cũng đã đượcquan tâm từ xưa, song nhìn chung đề tài, nội dung còn khô cứng, chưa phongphú Trước 1975, tiểu thuyết chủ yếu xoay quanh tinh thần yêu nước, ý thứccách mạng Điều đó là dễ hiểu do ảnh hưởng của tình hình đất nước, song thực
tế, nó không phản ánh được đúng đắn, chân thực sự ngây thơ, hồn nhiên của tuổicác em Trong khoảng 10 năm sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiểu thuyết chothiếu nhi tuy có dấu hiệu mới nhưng chưa tạo được biến chuyển rõ rệt Môitrường hoạt động của trẻ được phản ánh trong tác phẩm chưa rộng rãi Chủ yếuvẫn chỉ trong đời sống cách mạng, chiến đấu và gắn với các vấn đề đạo lí xã hội.Một số tác phẩm có đổi mới như “Hành trình ngày thơ ấu” của Dương ThuHương lập tức bị công kích Từ năm 1986, văn học nói chung và tiểu thuyết chothiếu nhi mới có sự đổi mới thực sự với sự mở rộng đề tài phù hợp với trẻ em;đổi mới cách tiếp cận đời sống và tăng cường sự khám phá tâm lí trẻ thơ
1.4.2 Nhìn chung về tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng là nhà văn có nhiều tác phẩm xuất sắc dành cho người lớnnhưng ít ai biết đến ông còn rất thành công khi viết về thế giới trẻ em Tiểuthuyết viết cho thiếu nhi là một trong những mảng rất thành công của Ma VănKháng
Khi viết về thiếu nhi, nhà văn luôn dành những tình cảm yêu thương, trântrọng nhất Ngoài phản ánh về cuộc sống với những lo toan bộn bề của ngườilớn ông còn quan tâm đến những số phận trẻ em trong cuộc sống đầy ngổn
Trang 31ngang biến động Ma Văn Kháng tâm sự rằng : “Viết cho thiếu nhi quan trọngkhông chỉ là viết cái gì ? mà là viết như thế nào? Mà viết như thế nào lại quan hệđến tân hồn người viết Tôi ao ước ngoài cái duyên với chữ nghĩa và con trẻ ra,tâm hồn mình lúc nào cũng tươi mát, trong sáng và dào dạt tình yêu với cuộc đờivới con người” [14; 9] Khi viết về trẻ em ông luôn dành cho nhân vật của mình
sự quan tâm sâu sắc, sự chia sẻ và tình cảm yêu thương trân trọng nhất Với mộttâm sự như thế ông đã có những tác phẩm đặc sắc viết về thiếu nhi Trong thể
loại tiểu thuyết có thể kể đến: Côi cút giữa cảnh đời, Chó Bi - đời lưu lạc, Chuyện của Lý
Tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời - tác phẩm mà nhà văn tâm đắc nhất kể
về ba bà cháu của cậu bé Duy Truyện được kể dưới cái nhìn của Duy khi cậu 15tuổi Cậu tự nhìn lại 10 năm tuổi thơ của mình Ngây thơ, bé bỏng, vụng dại màtrí tuệ thông minh sắc sảo với một bản năng tự nhiên hướng về cái thiện màtrường đời là Thầy Và trường đời đối với bé Duy lại là những khổ đau, bất công
và đắng cay Nhưng cái thiện ở Duy không nảy sinh ngẫu nhiên mà nó có sựươm mầm ở những phía khác Đó là bà nội - như một nhân vật cổ tích; là đứa
em còi cọc, đáng thương như một đòi hỏi che chở Và không ít gương mặt kháctrong cuộc sống như là một điểm tựa cho con người Duy cho ta hình ảnh một sựchống chọi vượt lên bao đau khổ, oan khiên mà không quá tầm với tuổi lên 10
mà không cường điệu giả tạo Từ bé Duy một câu hỏi đặt ra cho xã hội: bối cảnhnào, đất đai nào đã gieo trồng được những mầm cây ấy? Dứt khoát không phải
là tiền bạc, sự giàu có, dư dật, sức mạnh quyền lực, thói ăn trên ngồi trốc, sựmóc ngoặc và những liên minh ma quỷ Và một chọn lựa cho số đông các bậccha mẹ, hạnh phúc lớn nhất cho mỗi đơn vị gia đình, không thể là sự giàu sang,tiền tài mà là những đứa con nên người, những đứa con như sự tiếp tục giữa
cuộc đời Côi cút giữa cảnh đời vừa mang dáng dấp của một cuốn tự truyện vừa
có dấu ấn của truyện cổ tích Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết phân thành haituyến tốt - xấu và mang dáng dấp của nhân vật chức năng Đặc biệt là nhân vậtngười bà được tác giả xây dựng như một nhân vật cổ tích, người bà ở đây như là
Trang 32Bụt, là Tiên xuất hiện để cưu mang, nâng đỡ hai đứa trẻ côi cút, bơ vơ giữa dòngđời nghiệt ngã, nhiều ngang trái Và kết thúc của tiểu thuyết là kết thúc có hậu,người đọc không cầm nổi nước mắt Cuốn sách hướng về một cuộc sống diễn raquanh ta với lôgich tự nhiên của nó và với sự tiếp nhận tự nhiên của từng người.Trên cả vấn đề hiện thực cuộc sống, trên cả những bất hạnh, khổ đau của hai anh
em Duy và Thảm là tình yêu thương, sự gắn bó chia sẻ giữa những con ngườivới nhau Tác giả một lần nữa bộc lộ quan điểm, thái độ, tư tưởng của mình về
cuộc sống, con người theo hướng mới, hướng tích cực Trong Côi cút giữa cảnh đời, ta thấy Ma Văn Kháng không lên giọng khuyên nhủ hoặc răn dạy nhưng
cũng không tỏ thái độ thờ ơ, khách quan, ông đứng giữa hai cực ấy để người đọc
tự cảm nhận và chính vì thế tác phẩm mang một tiếng nói mới so với nhữngsáng tác khác của ông kể cả những sáng tác trước và sau này Với cốt truyện dễhiểu, cách kể chuyện truyền thống, tự nhiên xen kẽ các vai kể chuyện một cáchlinh hoạt, cuốn sách đã thực để lại xúc động mạnh và ấn tượng sâu sắc trong
lòng độc giả cũng như giới phê bình nghiên cứu Phong Lê trong cuốn Vẫn chuyện Văn và Người - Nhà xuất bản Văn hoá thông tin (1990) cho rằng: "Cuốn
sách của Ma Văn Kháng đã vục vào cái sự thật tối tăm oan khổ đó như nhiềucuốn sách khác Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo những tình cảmnhân hậu tốt lành Có thể nói, đó là hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa Cái hiệu quảthanh lọc này vốn dành cho nghệ thuật và dường như cũng chỉ có nghệ thuậtđích thực, nghệ thuật cao hơn cuộc đời mới có thể làm nổi" [19; 11]…Hay trong
bài viết “Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời”, Phong Lê cũng nhận thấy:
“ Cuốn sách chất đầy những đau khổ, oan khiên lên thân phận ba bà cháu còmcõi, bơ vơ” ” Cuốn sách mạnh mẽ đẩy ta vào giữa dòng sống hôm nay với cảmhứng lớn là cảm hứng sự thật với sự bất bình và khát vọng dân chủ, cũng đồngthời cho ta sự gắn nối với văn mạch truyền thống là chủ nghĩa nhân văn và tình
yêu thương con người” Trong bài viết “Một vài suy nghĩ khi đọc Côi cút giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng”, tác giả Vũ Thị Oanh đã cho rằng: "Côi cút giữa cảnh đời - cuốn sách viết theo đề nghị cho lứa tuổi sắp vào đời, không đề cương,
không hợp đồng, được xuất bản bởi sự hợp tác của Nhà xuất bản Kim Đồng và
Trang 33Nhà xuất bản Văn học là một cuốn sách tiêu biểu… viết cho lứa tuổi sắp vào đờinhưng tác giả không hề né tránh cái xấu, cái ác; những yếu tố tồn tại khách quanlàm rõ thêm bức tranh cuộc sống với những cuộc đấu tranh thể hiện ở nhiều bìnhdiện, sắc thái khác nhau Đó là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác Tất cảđược thể hiện bằng ngòi bút mềm mại, uyển chuyển, ngôn ngữ hóm hỉnh, phongphú sắc màu: kết cấu có hậu kiểu truyện cổ dân gian của tác giả Ma VănKháng.” [29; 17].
Tiểu thuyết Chó Bi – đời lưu lạc lại kể về gia đình bé Toản với những trắc
trở như bám theo từng thành viên; mỗi người là một số phận đau khổ Gia đìnhhợp tan theo số phận đưa đẩy từng người Đến cuối truyện, cái khát khao sumhọp ấy vẫn là kết mở trong tương lai Nhân vật dặc biệt trong truyện đi theo sốphận lênh đênh của gia đình này là chú chó Bi – một chú chó khôn ngoan, kiêncường Nó lưu lạc theo các thành viên rồi vô tình đi theo ông bố của gia đìnhnhư định mệnh Chính nó nói lên nghị lực của các thành viên cũng như sự kếtnối kì diệu của họ Lê Thị Bắc Lý trong bài viết “Đọc sách Chó Bi – đời lưu lạc”đăng trên tạp chí Tác phẩm mới số 6, năm 1997 nhận xét: “ Cuốn sách tạo nên
sự kỳ thú cho văn học thiếu nhi bởi sức thu hút tự thân của nó” Người đọc cóthể nhận ra “Chó Bi không chỉ là sự lắp ghép thêm thắt vào gia đình mà chínhthức đã hòa nhập, cùng đồng hành chia sẻ với hoàn cảnh éo le, cô đơn của giađình bé Toản” [23;11]
Chuyện của Lý là tác phẩm mới nhất của Ma Văn Kháng vừa được xuất bản bản vào tháng 6/2013 Chuyện của Lý dường như là những gì lắng đọng, chắt
chiu của Ma Văn Kháng về đề tài thiếu nhi Truyện kể về cô bé Lý Mở đầu, tácgiả cho Lý xuất hiện như một biểu tượng của sự sống Cái Lý lúc đó là em bévài tháng tuổi, còn nằm trong cái nôi mây đan vành quết dầu nâu óng Khuônmặt em tròn trịa trắng hồn, hai bàn chân mũm mĩm Tác phẩm thông qua sự lớnlên của Lý mà kể những câu chuyện cuộc đời Truyện khép lại khi Lý 17 tuổi,đẹp rạng rỡ như trăng rằm Những lời văn đẹp thể hiện một cái kết có hậu: “Em
là Lý đây Em đã được sống trong lòng cuộc sống của Phong Sa với đủ cả các
Trang 34cung bậc buồn vui, đau khổ và sung sướng Em là con đẻ của cuộc đời Là concủa người đời, em đang can đảm bước vào đời đây" [17; 397] Nhân vật Lýtrong truyện được nhà văn xây dựng như cái mầm sống hồn nhiên tràn đầy sinhlực Lý giống như là đứa con của đời, của cuộc sống Thông qua nhân vật Lý,
Ma Văn Kháng đưa ra nhân chứng cho nhận định về nhân sinh: Con người là cái
lý do sâu xa nhất của cuộc đời
Ba tiểu thuyết trên đã thể hiện sự quan tâm tới thiếu nhi qua nhiều phươngdiện đời sống: đời sống thiếu nhi trong gia đình, đời sống thiếu nhi trong họcđường nhà trường và trong các mối quan hệ xã hội khác Các đề tài viết về đờisống thiếu nhi qua các tiểu thuyết được Ma Văn Kháng phản ánh toàn diện, đềcập đến tất cả các khía cạnh trong đời sống tâm hồn của các em
Đời sống thiếu nhi trong gia đình là đề tài quen thuộc, bởi gia đình có vaitrò rất lớn trong việc bồi dưỡng tâm hồn và giáo dục nhân cách con người.Khi viết truyện cho thiếu nhi, Ma Văn Kháng đặc biệt quan tâm đến tình cảmgia đình Gia đình hạnh phúc chính là nơi an toàn nhất cho trẻ em Ở trong cácsáng tác của Ma Văn Kháng viết cho thiếu nhi, ta thấy đời sống thiếunhi trong gia đình hiện lên khá rõ nét Đó là đời sống thiếu nhi trong các giađình khá giả, giàu có và đời sống thiếu nhi trong các gia đình nghèo khổ Đạidiện cho lớp thiếu nhi sống ở trong các gia đình nghèo khổ nhưng lại chăm
ngoan, hiếu học, giàu tình cảm là Duy, Thảm (Côi cút giữa cảnh đời) và Lý (Chuyện của Lý) Song cũng có đứa trẻ giàu có song lại ăn chơi, hống hách, dễ
nhiễm phải những tính xấu của người lớn xung quanh như Vàng Anh, Học đường là trường học lớn, học sinh như anh em phải thương yêu nhau,
và muốn giáo dục được các em có tình thương yêu chân thành, thì trong nhàtrường, thầy và trò phải có quan hệ thiện cảm với nhau Nhưng ở đây, tác giả táihiện cuộc sống ở nhà trường có cả mặt trái Duy coi ngày đi học đối với tôi vẫn
là một ngày hội nhưng cô giáo Thìn khiến cho cậu thật sự bỗng rơi xuống địangục Cô hỏi cậu bằng những câu hỏi cục cằn đến khó hiểu Cô làm cho Duy
Trang 35càng ngày càng cảm thấy tự ti về con người và khả năng của mình Như vậy, trẻ
em đâu đã được tạo điều kiện học tập tốt nhất
Trong các tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng, đời sống thiếunhi hiện lên rõ nhất là trong mối quan hệ với lãnh đạo địa phương, đây là mốiquan hệ quyết định ý nghĩa sống còn đối với số phận trẻ thơ Bởi vì, nhữngngười lãnh đạo là những người phải luôn quan tâm sát sao đến dân, ý thức vì dân
và phục vụ dân, đặc biệt là những trẻ thơ nghèo khổ, bơ vơ, không nơi nươngtựa… Song qua ba tiểu thuyết nói trên, Ma Văn Kháng nhìn rõ chân dung củamột số người cầm quyền một thời, họ không vì dân mà họ còn lợi dụng chứcquyền để bóc lột và chèn ép người dân vô tội Mục đích duy nhất của họ là làmsao vơ vét được càng nhiều tiền của cho bản thân mình càng tốt cho dù phảidùng thủ đoạn gì chăng nữa
Tiểu kết chương 1
Với hơn 50 năm cầm bút, nhà văn Ma Văn Kháng là một trong nhữngngười chứng kiến và trải nghiệm nhiều thăng trầm của cuộc đời và lịch sử dântộc Ông cũng đã từng vượt qua các lối rẽ bất ngờ của cuộc sống cá nhân và đã
để lại cho đời một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, có giá trị tư tưởng và nghệthuật cao về đủ các thể loại như: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký- tiểu luận phêbình, hồi ký Với tư cách là nhà văn, ông đã làm được nhiều điều mà các nhàvăn khác không phải ai cũng làm được
Ma Văn Kháng cũng là nhà văn thành công khi viết về trẻ em Ông đã có
những tác phẩm đặc sắc viết cho thiếu nhi, như tiểu thuyết: Côi cút giữa cảnh đời, Chó Bi - đời lưu lạc, Chuyện của Lý Tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma
Văn Kháng tràn đầy tinh thần nhân ái, sự yêu thương, trân trọng trẻ nhỏ Ôngmong ước cho trẻ em được sống hạnh phúc trong sự yêu thương đùm bọc củamọi người Ông đặc biệt quan tâm đến những số phận trẻ em không may mắntrong cuộc sống đầy ngổn ngang biến động Từ đó, ông đưa ra những cảnh báocho người lớn về lối sống thực dụng, chạy theo vật chất đang tác động xấu tới
Trang 36tâm hồn trẻ nhỏ Chính điều ấy đã góp phần làm tên tuổi ông không thể phai mờtrên văn đàn Việt Nam đương đại cũng như trong trái tim người đọc
Trang 37
Chương 2 CÁI NHÌN VỀ THIẾU NHI VÀ “QUYỀN TRẺ EM” TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA MA VĂN KHÁNG
2.1 Trẻ em – nhân vật dễ bị tổn thương nhất trong xã hội hiện đại
Hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Khángkhông chỉ có trẻ em, song nhân vật trẻ em là trung tâm của câu truyện Ở cả batiểu thuyết, nhân vật trẻ em ở vị trí trung tâm truyện, ít nhiều còn chính là hìnhbóng của tác giả thưở ấu thơ
2.1.1 Những đau khổ về vật chất
Trẻ em đáng lẽ phải được hưởng sự chăm sóc đầy đủ về vật chất nhưngtrong các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, các nhân vật trẻ nhỏ thường bị đặt vàohoàn cảnh nghèo khó, người thân trong gia đình không thể chu cấp đầy đủ chocác em Cái thiếu thốn ấy cứ lẩn quất qua hình ảnh về một căn nhà cũ nát, qua
sự khác biệt của các em với bọn trẻ giàu có,
Trong Côi cút giữa cảnh đời, tác giả đã để cho nhân vật tôi - một cậu bé
mới 15 tuổi nhìn lại cuộc sống còn khó khăn thiếu thốn của hai bà cháu Duy, kể
từ ngày mẹ Duy bỏ đi Nhân vật trung tâm trong thế giới trẻ em là Duy Duy lớnlên trong sự cưu mang đùm bọc của người bà nhân hậu song bà đã già và ốmyếu lắm rồi Đọc truyện, ta thấy tội nghiệp trước hình ảnh một người bà đã ngoài
60 tuổi và một đứa cháu trai mới tròn 5 tuổi phải nương tựa vào nhau sống trongcảnh cô đơn Mẹ Duy vừa bỏ đi chưa được bao lâu, thì cái căn nhà từng là tổ ấm
êm đềm ngày xưa của gia đình Duy đã bị ông Đào Chí Hứng - Trưởng phònghành chính, nơi mẹ Duy làm việc câu kết với ông Luông - Chủ tịch phườngNgọc Sinh, nơi bà cháu Duy cư trú đến thu hồi, thực chất là chiếm riêng cho bảnthân Từ căn hộ hai mươi tư mét vuông, chỉ để lại cho bà cháu Duy một gócphòng sáu mét vuông vừa kê được một chiếc giường chen giữa lối đi chung cho
cả hai nhà Bây giờ hai bà cháu phải sống trong cảnh chật chội, chèn ép vàđặc biệt phải hàng ngày chứng kiến, chịu đựng những hành động thô bỉ, xỉ
Trang 38vả, hành hạ, truy bức của bọn ma giáo kia vì lý do này nọ, kể cả vu khống chínhtrị Cuộc sống chỉ trông cậy vào đồng lương công nhân ít ỏi của bà
Cuộc sống đó tưởng như là sự tận cùng về nỗi khổ với hai bà cháu nhưng
nó lại càng éo le, nghiệt ngã hơn nữa khi có sự xuất hiện của bé Thảm (con côQuỳnh) Người bà hết lo cho đứa cháu nội 5 tuổi giờ lại phải cưu mang đứa cháungoại vừa lọt lòng đã phải xa rời vòng tay mẹ và cuộc sống của 3 bà cháu từ đócàng khó khăn, túng thiếu khi mà sức bà ngày một yếu, hai cháu đang ở tuổi ăntuổi lớn mà giá cả thị trường ngày càng đắt đỏ Sự xuất hiện của bé Thảm làmcho cuộc sống của hai bà cháu đã lao đao, khốn khó nay lại càng rơi vào bế tắc
và có lúc tưởng như là không tồn tại được nữa Thảm sinh ra chỉ được ít ngày búsữa mẹ, còn những ngày về sau em được nuôi nấng hoàn toàn nhờ vào sữa đi búchực của các cô, các chị có con nhỏ trong phường và bằng những thìa nướcđường, nước cơm nặng tình bà
Trong Chó Bi-đời lưu lạc, tác giả lại kể về gia đình cậu bé “tan đàn xẻ
nghé” Cậu vốn có cả bố lẫn mẹ, một gia đình hạnh phúc, ấm êm Nhưng vì bị
đổ vạ nên bố cậu phải vào tù, anh cậu vì đánh nhau nên cũng theo chân bố đinốt Cuộc sống trở nên khó khăn với đồng lương quá eo hẹp của mẹ Đến lúc mẹcậu ốm liệt thì trách nhiệm gia đình hoàn toàn thuộc về cậu Cậu vừa phải tự làmmọi thứ vừa phải chăm sóc mẹ Cảnh nhà cứ nghèo túng dần
Trong Chuyện của Lí, cuộc sống của Lí cũng được tái hiện không phải
sung sướng, đầy đủ Lý là đứa trẻ sinh ra phải chịu nhiều thiệt thòi về cả vật chấtlẫn tinh thần Vì “Lý là con không giá thú Là con không cha Là con hoang Làmột thành viên của nhân loại năm tỷ con người Nhưng không phải là công dânnước Việt Nam dân chủ cộng hòa Đến cái giấy khai sinh cũng không có nữa là.Cái Lý không có tên trong sổ hộ tịch Nó không được hưởng tiêu chuẩn gì hết từkhi hoài thai trong bụng mẹ Mẹ nó không được khám thai Không có tiêu chuẩnnằm nhà hộ sinh Không được cấp tiền để sắm tã lót Không có tiền bồi dưỡng.Không được nghỉ một tháng trước và một tháng sau khi sinh” [17;83]
Trang 39Như vậy trong các tiểu thuyết này những đứa trẻ như Duy, Thảm, Lý đềuphải sống cuộc sống hết sức khổ cực; qua đó ta thấy được sự xót xa, thương cảmcủa nhà văn đối với những số phận trẻ thơ.
2.1.2 Những tổn thương về tinh thần
Nhân vật trong tác phẩm của Ma Văn Kháng nói chung và nhân vật trẻ emnói riêng đều khắc khoải, trăn trở, đớn đau trước nhân tình thế thái và thời cuộc.Nhân vật không hề yên bình trong tâm tưởng mà luôn suy tư, trăn trở, đánh giá
về cuộc sống, những người xung quanh và chính bản thân mình Trong sự trăntrở ấy, các em đã tự ý thức được những thiệt thòi, tổn thương về tinh thần củachính mình Cuộc sống của các em không còn được vô tư nói cười mà thường tựbiết cách kìm nén nỗi đau, nước mắt trước nghịch cảnh xảy ra với gia đình
Trong Côi cút giữa cảnh đời, cuộc sống của bà cháu Duy không chỉ thiếu
thốn về mặt vật chất mà còn buồn tủi về tinh thần Cả hai đứa bé trong truyệnđều thiếu vắng tình yêu thương của cha mẹ Cuộc đời hai đứa trẻ đều chịu nhiềubất hạnh Từ nhỏ đã phải sống trong cảnh “còn mẹ còn cha mà hóa ra côi cút”
Bố của Duy đi vào chiến trường và chưa rõ tin tức còn mẹ của Duy lại vì sự nhẹ
dạ cả tin, bỏ lại mẹ chồng già và đứa con thơ đang cần người chăm sóc để theongười đàn ông khác hứa hẹn một cuộc sống sung sướng Những ngày đầu xa mẹ,Duy chưa biết giận cũng chưa biết thương mà chỉ biết nhớ mẹ Nhưng sau nàykhi lớn hơn vài tuổi nữa, Duy đã cảm nhận được nỗi đau, sự cô đơn khi không
có mẹ bên cạnh “thời gian khơi sâu vết thương vì càng lớn tôi càng hiểu, càngcảm được độ buồn đau của câu chuyện” Khi đến trường Duy cũng biết tự ti mặccảm với bạn bè vì mình không được bố, mẹ đưa đi học bằng xe đẹp và niềm vuiđến trường của em tan biến khi không có quần áo đẹp, đồ chơi đẹp
Còn Thảm là em con cô của Duy Đúng như cái tên của em, cuộc sống của
em thật bị thảm Thảm không biết bố là ai, mẹ bé chỉ vì phút lầm lỡ đã phải để
em lại cho bà ngoại nuôi nấng từ lúc mới lọt lòng Hai anh em, hai số phận đơncôi bất hạnh cùng được bà ẵm bồng, dạy dỗ khôn lớn nên người Cũng giốngnhư Duy, Thảm phải xa mẹ, ở với bà ngoại ngay từ khi mới chào đời Tuổi thơ
Trang 40của Thảm không có, không được trọn vẹn: “em thiếu hụt những đoạn đời nhonhỏ Em qua tuổi biết phun mưa, biết làm mặt xấu Em không biết đánh tay đichợ Bà bảo em trốn lẫy, trốn ngồi, trốn cả bò Vào tuổi thứ ba của cuộc đời emmới tập đi và nói bập bẹ những tiếng nói đầu tiên” [13; 161] Nỗi khổ của Thảmcũng lớn hơn Duy vì ngay từ lúc chào đời, khi chưa ấm vòng tay mẹ, em đã phảichia lìa, chịu cảnh thiếu sữa thiếu mẹ Nhưng cũng như Duy, em được bà ân cầnnuôi nấng nên người trong khó khăn thiếu thốn bằng cả tình yêu thương, sựnhẫn nhịn.
Không chỉ thiếu vắng tình thương, hai anh em mà còn phải gồng mình lên
để chống lại với lũ cầm quyền dốt nát nay dọa nạt, mai tra khảo và lúc nào cũngtìm cách để đuổi hai bà cháu ra khỏi ngôi nhà đang sống
Trong Chó Bi-đời lưu lạc, gia đình tan nát cũng là một chấn thương tinh
thần với những đứa trẻ nhỏ Phải chứng kiến hết cảnh cha và anh phải đi tù chỉ
vì những thứ tội vô lí, mẹ thì bị người ta ức hiếp tới đổ bệnh, một đứa trẻ saocòn có thể hồn nhiên nói cười? Cậu bé trong truyện đã sớm suy nghĩ về cuộcsống, hiểu rõ sự lộng hành của những loại người xấu trong xã hội và sự thiệtthòi, yếu thế của gia đình mình Bản thân cậu cũng không bảo vệ được cho conchó Bi bé nhỏ, chỉ có thể cầu mong nó không sao Những hành động, phản ứngcủa chú chó Bi cũng chính là những suy nghĩ của cậu bé Chú chó nem nép khi
bị chửi là đồ chó cắn hoang cũng chính là sự sợ hãi của cậu bé khi biết người ta
bị cắn do ăn trộm đồ nhà mình mà lại không làm gì được họ Chú chó muốnxông vào cắn lão Viễn cụt, tên Xuân Chương như chính sự phẫn uất cao độ củachú bé với sự độc ác, hống hách của bọn chúng Hình ảnh chú chó Bi theo giađình cậu bé suốt cả tiểu thuyết là một ẩn dụ đẹp về cuộc sống nói chung và sốphận chìm nổi của những đứa bé bất hạnh nói riêng Cả quãng đời niên thiếu,thanh xuân đẹp đẽ cho đến khi trưởng thành của Bi đầy gian truân và “lưu lạc”:
bị tiêm thuốc độc, bị bọn trộm chó bắt, bị lôi tuột ra khỏi căn nhà thân yêu, lênrừng, xuống bể, lạc vào đảo Khỉ, bị truy đuổi, săn bắn Mãi tới khi kết thúc tác