Chỉ ra được những phương diện tiêu biểu trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ này từ cách tiếp cận hiện thực đời sống, con người đến những thành công đặc sắc về nghệ thuật xây dựng nhâ
Trang 1Đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kì
đổi mới
Nguyễn Hồng Thắm
Trường Đại học KHXH&NV Luận văn ThS Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Người hướng dẫn: PGS TS Hà Văn Đức , Mã số: 60 22 34
Năm bảo vệ:2010
Abstract: Nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới một cách
toàn diện Chỉ ra được những phương diện tiêu biểu trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ này từ cách tiếp cận hiện thực đời sống, con người đến những thành công đặc sắc
về nghệ thuật xây dựng nhân vật, giọng điệu trần thuật, kết cấu, ngôn ngữ…Từ đó khẳng
định những đóng góp của Ma Văn Kháng đối với sự phát triển của VHVN hiện đại
Keywords: Ma, Văn Kháng, 1936-,Văn học Việt Nam, Truyện ngắn
Content:
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 7
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Đóng góp của luận văn 12
6 Cấu trúc luận văn 12
NỘI DUNG 14
Chương 1 Sáng tác của Ma Văn Kháng trong dòng chảy của truyện ngắn đương đại Việt Nam 14
1.1 Khái quát chung về truyện ngắn đương đại Việt Nam 14
1.2 Hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng 15
1.2.1 Cuộc đời 15
1.2.2 Sự nghiệp 18
1.2.3 Truyện ngắn Ma Văn Kháng trong dòng chảy truyện ngắn đương đại Việt Nam 22
Chương 2 Những đặc điểm nội dung trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới 30
2.1 Cảm hứng thế sự đời tư trong truyện ngắn Ma Văn Kháng 30
2.1.1 Vấn đề tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình 31
2.2.2 Vấn đề nhân cách con người 36
2.2.3 Sự cô đơn trong tâm hồn con người 42
2.2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng 46
2.2.1 Kiểu nhân vật tha hóa 48
2.2.2 Nhân vật bi kịch 55
2.2.3 Nhân vật vượt lên số phận 59
Chương 3 Những đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới 67
Trang 33.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 67
3.1.1 Yếu tố ngoại hình, nghề nghiệp 67
3.1.2 Yếu tố tâm linh 76
3.1.3 Yếu tố ngôn ngữ 81
3.2 Ngôn ngữ 85
3.2.1 Ngôn ngữ đời thường, đậm chất khẩu ngữ 85
3.2.2 Ngôn ngữ văn xuôi giàu tính nhạc 88
3.3 Kết cấu 94
3.3.1 Kết cấu mở 95
3.3.2 Kết cấu lồng ghép 100
3.3.3 Kết cấu tâm lý 104
3.4 Giọng điệu trần thuật 106
3.4.1 Giọng điệu xót xa, ngậm ngùi 107
3.4.2 Giọng triết lý, tranh biện 109
3.4.3 Giọng ngợi ca 112
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hơn 50 năm trong nghề cầm bút, Ma Văn Kháng đã sở hữu một gia tài nghệ thuật khá đồ sộ: 15 cuốn tiểu thuyết, khoảng 200 truyện ngắn và một hồi ký văn học… Trong suốt hành trình lao động nghệ thuật, Ma Văn Kháng luôn ý thức được sứ mệnh là viết để bảo vệ và khẳng định những giá trị chân chính của con người, của sự sống Thành tựu của Ma Văn Kháng kết tinh ở cả hai thể loại: Tiểu thuyết và truyện ngắn, tuy nhiên Ma Văn Kháng thực sự đặc sắc ở truyện ngắn Truyện ngắn Ma Văn Kháng có vị trí đặc biệt trong văn nghiệp của ông Đặc biệt từ 1980 truyện ngắn Ma Văn Kháng mới cất cánh, thăng hoa, vươn tới đỉnh cao
mà không mấy ai theo nghiệp bút nghiên lại không mong đạt tới, ông liên tiếp nhận được những giải thưởng cao quý về Văn học nghệ thuật Sáng tác của Ma Văn Kháng chia làm hai giai đoạn: trước và sau đổi mới (1986) Giai đoạn trước chủ yếu viết về cuộc sống, phong tục của ngừoi dân miền núi, giai đoạn sau viết về những đa đoan, phức tạp của đời sống thị thành và nông thôn Cùng với sự thay đổi về đề tài, sáng tác của Ma Văn Kháng cũng có những sự đổi thay đáng kể, những bước đột phá về tư duy nghệ thuật Nếu như những trang viết của Ma Văn Kháng trước thập kỉ 80 thể hiện cái nhìn mang hơi hướng sử thi thì ở giai đoạn sau đã chuyển sang cái nhìn thế sự Cuộc sống hiện lên trong tác phẩm của ông giờ đây không còn đơn tuyến mà đa tuyến, nhiều chiều, cái xấu chen lẫn cái tốt, ma quỷ chen lẫn với thánh thần Ông quan tâm đến thân phận con người trong nhiều quan hệ hoàn cảnh khác nhau và cố gắng thể hiện con người một cách đầy đủ nhất trong tính đa dạng toàn vẹn như nó vốn có
Nhìn chung khi bàn về tác phẩm của Ma Văn Kháng giới nghiên cứu phê bình cũng như độc giả đều thống nhất khẳng định sáng tác của nhà văn thành công hơn ở những năm sau Đổi mới (1986) Ma Văn Kháng là cây bút sung sức thời kỳ Đổi mới và tác phẩm của ông đã có nhiều sự đổi thay mới mẻ để đáp ứng yêu cầu của thời đại
Trang 5Tìm hiểu truyện ngắn Ma Văn Kháng từ thời kỳ Đổi mới chúng tôi mong muốn khái quát, khẳng định được chiều sâu tư tưởng, giá trị nhân văn và những đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng với nền Văn học Việt Nam hiện đại, thấy được những thành tựu mới của nhà văn thời kỳ này so với thời kỳ trước; qua đó thấy được bước chuyển mình của Văn học Việt Nam nói chung thời kỳ Đổi mới
2 Lịch sử vấn đề
Ngay từ khi tập truyện ngắn Xa phủ ra đời, giới phê bình văn học
đã quan tâm nhiều đến tác phẩm của Ma Văn Kháng Tính cho đến thời điểm hiện nay việc tìm hiểu và khám phá văn chương của ông thật phong phú và đa dạng Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo, nhiều
ý kiến đánh giá của các giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu phê bình, nhà thơ, nhà văn được đăng tải trên các sách báo, tạp chí…
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn đặc biệt chú ý đến những bài viết về truyện ngắn của Ma Văn Kháng
Nhìn chung, những đánh giá, ghi nhận của các học giả, nhà nghiên cứu và công chúng về tác phẩm cũng như chặng đường sáng tác của Ma Văn Kháng là đồng thuận và thống nhất Ông được cả bạn đọc chuyên nghiệp và không chuyên đón nhận nhiệt thành cũng như dõi theo từng bước cống hiến cho nghệ thuật của nhà văn Tuy nhiên, chưa thực sự có một công trình mang tính hệ thống hoặc khảo sát một cách kĩ lưỡng về mảng truyện ngắn, đặc biệt là đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng từ đổi mới đến nay Đây vừa là gợi ý, là cơ sở để người viết tiếp thu, hoàn thành luận văn của mình
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi
mới” chúng tôi chọn khảo sát các tập truyện ngắn sau:
- Truyện ngắn Ma Văn Kháng tập 1 (NXB Văn hóa thông tin Hà Nội 2001)
- Truyện ngắn Ma Văn Kháng tập 2 (NXB Văn hóa thông tin Hà Nội 2001)
- 50 truyện ngắn chọn lọc (NXB Văn hóa Sài Gòn 2006)
Ngoài ra để phục vụ cho việc so sánh đối chiếu cũng như thấy được
sự kế thừa, phát triển, đổi mới của truyện ngắn Ma Văn Kháng ở giai
Trang 6đoạn sau đổi mới, chúng tôi có tìm hiểu một số truyện ngắn sáng tác trước năm 1986
4 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những vấn đề liên quan đến đề tài luận văn, chúng tôi thực hiện một số phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, phương pháp khảo sát thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống… để có cái nhìn tổng quan hơn về đối tượng nghiên cứu
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn mong chỉ ra những phương diện tiêu biểu trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ này từ cách tiếp cận hiện thực đời sống, con người đến những thành công đặc sắc về nghệ thuật xây dựng nhân vật, giọng điệu trần thuật, kết cấu, ngôn ngữ…Từ đó khẳng định những đóng góp của Ma Văn Kháng đối với sự phát triển của VHVN hiện đại
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Sáng tác của Ma Văn Kháng trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam đương đại
Chương 2: Những đặc điểm nội dung trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
Chương 3: Những đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
Trang 7Chương 1 Sáng tác của Ma Văn Kháng trong dòng chảy
của truyện ngắn đương đại Việt Nam
1.1 Khái quát chung về truyện ngắn đương đại Việt Nam
Chiến thắng lịch sử mùa xuân 1975 đã mở ra một chân trời mới cho đất nước Việt Nam, đặc biệt từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) Cùng với những chuyển đổi mạnh mẽ của đất nước, nền văn học Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới ngày càng sâu sắc toàn diện Người ta nói tới một sự đổi mới mạnh mẽ trong đời sống tư tưởng, trong quan niệm về nghệ thuật và con người cũng như sự đổi mới về thi pháp thể hiện Truyện ngắn đương đại Việt Nam xuất hiện một số khuynh hướng mới như: khuynh hướng nhìn lại hiện thực, khuynh hướng đời tư thế sự, khuynh hướng triết luận, hồi kí tự truyện, văn xuôi kì ảo
Nhìn chung thành tựu nổi bật của văn học thời kỳ đổi mới được kết tinh ở truyện ngắn và tiểu thuyết Tiếp theo lớp nhà văn thành danh như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng…người ta thấy nổi lên những cây bút mới rất sung sức như: Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh, Lê Minh Khuê…Sáng tác của họ đã góp phần tạo nên diện mạo riêng vừa độc đáo, vừa đa dạng của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
1.2 Hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng
1.2.1 Cuộc đời
Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, quê gốc phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Ông được đánh giá là một nhà văn lớn có những đóng góp đáng kể vào công cuộc đổi mới của nền văn xuôi đương đại Việt Nam
Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nhưng Ma Văn Kháng có một thời gian khá dài sống ở miền núi Tây Bắc Suốt hai mươi năm gắn bó với mảnh đất Tây Bắc, Ma Văn Kháng am hiểu lối sống, phong tục của đồng bào các dân tộc thiểu số Tình yêu, sự gắn bó ấy đã thôi thúc ông viết văn, viết báo Những trang viết đầu tay của ông toát lên cái nhanh nhạy của
Trang 8một cây bút trẻ, hăm hở vào nghề, tự tin, mạnh mẽ và thiết tha Cứ thế ông cần cù, bền bỉ, chắt chiu từng giọt tinh túy của cuộc sống rồi bày lên tác phẩm Ông viết, xuất hiện đều đặn trên các mặt báo và nhanh chóng chiếm được cảm tình của độc giả
Đối với Ma Văn Kháng, viết văn trước tiên là câu chuyện về số phận con người, sự đấu tranh của mỗi người để hướng tới cái đẹp, cái thiện Thấp thoáng trong các trang sách, người đọc có thể nhìn ra nỗi buồn, nỗi đau đời của riêng ông, nhưng trên tất cả đó là những ưu tư của ông trước nhân tình thế thái Ông thực sự muốn dùng sức mạnh ngòi bút của mình để mang tới những giá trị nhân văn cho con người, vì con người ở nghĩa rộng lớn nhất
Và giờ đây, khi đã ở cái tuổi xưa nay hiếm Ma Văn Kháng vẫn dành sự tận tâm, lòng say mê nghệ thuật và đau đáu với nghiệp viết, ông
đã và đang tiếp tục có những đóng góp đáng kể cho nền văn học đương đại Việt Nam
1.2.2 Sự nghiệp
Ma Văn Kháng có một sự nghiệp văn chương đồ sộ cả về số lượng tác phẩm và thành tựu: 15 tiểu thuyết, 25 tập truyện ngắn và 1 hồi ký, tính ra ông đã viết hàng vạn trang văn trong đời mình Ma Văn Kháng thực sự “sống đã rồi hãy viết” – như tâm nguyện của mình
Có thể khẳng định rằng hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng
được đánh dấu từ truyện ngắn Phố cụt in trên Báo Văn nghệ 1961 Tuy
nhiên truyện ngắn có tính chất ghi dấu ấn sâu sắc đối với Ma Văn Kháng, theo đó, đã ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định đi theo văn nghiệp của ông
sau này lại là Xa phủ (1969) và liền ngay sau đó ông tiếp tục cho ra đời 4 tập truyện ngắn: Mùa mận hậu (1972); Người con trai họ Hạng (1972);
Bài ca trăng sáng (1972); Cái móng ngựa (1974) Năm 1974 Ma Văn
Kháng trở thành Hội viên Hội nhà văn Việt Nam Một năm sau khi đất nước thống nhất, năm 1976, Ma Văn Kháng về Hà Nội Về Hà Nội, ông
đã phải đối mặt với bao nỗi nhọc nhằn mưu sinh, thế sự dường như là
Trang 9quá sức đối với con người Nhưng chính những giai đoạn đan kết bao khó khăn khắc nghiệt và đáng nhớ nhất này cộng với khoảng thời gian trên 20 năm sống tại Lao Cai đã thôi thúc mạnh mẽ ngòi bút ông ghi lại:
đó là những câu chuyện thấm đẫm chất đời, tình người và dư vang của một thời kỳ lịch sử xã hội còn chưa thoát ra khỏi những nỗi đau, sự nhọc
nhằn Hàng loạt tác phẩm đã ra đời trong giai đoạn này như: Ngày đẹp
trời (truyện ngắn 1986), Vệ sỹ của Quan Châu (truyện ngắn 1988), Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988), Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết
1989), Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992), Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992), Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994), Ngoại thành (truyện ngắn 1996), Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập 1996)… Mỗi con
chữ như mặn xót mồ hôi, nước mắt, chắt ra qua nghiền ngẫm và trải nghiệm từ chính dòng đời, mạch sống của nhà văn và được chuyển vào tác phẩm
1.2.3 Truyện ngắn Ma Văn Kháng trong dòng chảy truyện ngắn đương đại Việt Nam
Ma Văn Kháng thuộc nhóm đại biểu tinh anh của văn học một thời, xứng danh là một trong những ngọn cờ tiên phong đổi mới, tác phẩm
Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985) là những tác phẩm
có tính chất mở đường
Chính thức từ 1990 là thời được mùa của văn học đổi mới Đã có
sự đồng hành của nhiều cây bút tạo nên một khí thế mới: Bảo Ninh, Dương Hướng, Chu Lai, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp
Trước 1975 độc giả biết đến Ma Văn Kháng với tư cách là một nhà văn chuyên viết về cuộc sống và con người miền núi Khi chuyển hướng ngòi bút về đồng bằng, Ma Văn Kháng nhanh chóng tiếp cận với một hiện thực mới, đó là “cuộc sống thành thị với nhiều màu sắc phong phú
và độc đáo, những hoạt động hối hả, nhộn nhịp suốt đêm ngày” Bằng sự nhạy cảm tinh tế của mình cộng với tinh thần trách nhiệm của một ngòi
Trang 10bút tâm huyết Ma Văn Kháng viết về cuộc sống và con người đô thị trong sự day dứt, trăn trở khi phát hiện ra những “lỗ hổng”, những
“khoảng trống”, những “vùng lặng” đang tồn tại và vây bủa con người Cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Ma Văn Kháng là cái đời tư, thế sự
Đặt sáng tác của Ma Văn Kháng vào trong dòng mạch chung của văn học Việt Nam sau 1975 chúng ta có thể nhận ra những nét riêng cũng như những đóng góp của cây bút này
Ma Văn Kháng đã tạo nên một dấu ấn riêng trong khuynh hướng văn học thế sự sau 1975 Trên con đường sự nghiệp, ngòi bút Ma Văn Kháng còn tiếp tục tỏa sáng bởi lẽ ở con người này nội lực sống, nội lực viết vẫn còn mãnh liệt, dẻo dai Và cùng với thế hệ nhà văn tiên phong của phong trào đổi mới văn học… Ma Văn Kháng đã góp phần không nhỏ tạo nên một diện mạo mới cho văn học Việt Nam hiện đại
Trang 11Chương 2 Những đặc điểm nội dung trong truyện ngắn
Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới 2.1 Cảm hứng thế sự đời tư trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
Văn học sau 1975, đặc biệt là văn học sau đổi mới (1986) là giai đoạn chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng cao cả, hào hùng sang cảm hứng thế sự đời tư Ma Văn Kháng đã hòa vào bầu không khí chung của văn học đổi mới, có thể thấy đặc điểm nội dung nổi bật trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới là nhà văn đã chuyển sang cái nhìn tiểu thuyết, tiếp cận đời sống ở bình diện sinh hoạt thế sự
Về con người nhà văn đã chuyển sang quan tâm đến con người cá nhân, khám phá con người ở nhiều chiều, nhiều bình diện
Ông đi sâu vào từng khía cạnh của cuộc sống con người mới: tình yêu, tình dục, hôn nhân, những tính toán thấp hèn, những ước mơ, khát vọng cao đẹp, hạnh phúc và bất hạnh… Nhà văn lo lắng đến quặn lòng trước lẽ sống, sự thờ ơ, đạo đức giả, sự phi lí, bất ổn trong quan hệ của con người với con người, trong gia đình và ngoài xã hội
2.1.1 Vấn đề tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình
Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình trong văn học nói chung và trong truyện ngắn Ma Văn Kháng nói riêng là đề tài đang được nhiều nhà văn quan tâm chú ý Từ sau cuộc chiến đấu cho quyền sống của dân tộc thì đấu tranh cho quyền sống của con người đã trỗi dậy Con người tự ý thức và tự quyết định hạnh phúc cá nhân, gia đình của mình Song, trong cuộc sống tự do, thoải mái về tình cảm thì nhiều người đã lạm dụng điều đó gây đau khổ cho nhiều người thân trong gia đình và cho cả bản thân mình
Tình yêu của thời mở cửa, của nền “kinh tế thị trường” đòi hỏi “có thực mới vực được đạo” để nhằm đáp ứng nhu cầu sống thỏa mãn về tinh thần và vật chất Đồng tiền lại trở thành chìa khóa vạn năng có thể mua được tình cảm và tình cảm lại trở thành thứ hàng hóa trao đổi cho con người Với sức mạnh tưởng như vô hình mà lại hữu hình, đồng tiền đã gây ra biết bao sóng gió cho tình yêu và hôn nhân gia đình: tình yêu thì chia lìa, hôn nhân đổ vỡ Bên cạnh đó, đồng tiền còn gây nên nhiều đau
Trang 12đớn, bất hạnh cho con người làm cho cuộc sống gia đình của họ bị chao đảo, nghiêng ngả Trong rất nhiều truyện ngắn của mình, nhà văn đề cập
đến vấn đề này: Chị Thiên của tôi, Heo may gió lộng, Suối mơ, Chọn
chồng, Nhiên, nghệ sĩ múa, Một mối tình si…
Tình yêu vốn là niềm khao khát cháy bỏng, một niềm đam mê mà
ai cũng muốn chiếm giữ, muốn được hưởng thụ trọn vẹn Có thể trong suốt cuộc đời, người ta chỉ đi tìm cho mình hạnh phúc, hạnh phúc đích thực Bên cạnh đó, trong truyện ngắn Ma Văn Kháng ta còn bắt gặp những con người mặc dù đã có sự “bừng ngộ” về ý thức kiếm tìm hạnh phúc nhưng cuối cùng đều không vượt qua trở ngại quyền lực hay sức cuốn hút của đời sống giàu sang quyền quý cũng như không vượt qua được chính mình để thay đổi số phận
Ma Văn Kháng đã nhìn thấy nỗi đau lớn nhất của bao người, đặc biệt là nỗi bất hạnh của con người trong cuộc sống gia đình và khát vọng hạnh phúc lứa đôi Phần lớn sáng tác của Ma Văn Kháng đề cập đến nỗi đau khổ, bất hạnh nhiều hơn niềm vui, hạnh phúc trong tình yêu, hôn nhân gia đình của con người Đứng trước cơn áp đảo của nền kinh tế thị trường, Ma Văn Kháng muốn nói với tất cả chúng ta hãy biết nâng niu quý trọng, giữ gìn hạnh phúc gia đình mình
2.2.2 Vấn đề nhân cách con người
Cùng với vấn đề tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình thì vấn đề nhân cách con người cũng là phạm vi quan tâm trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới của Ma Văn Kháng Bên cạnh những nhân vật tích cực, có nhân cách cao đẹp và có ý thức bảo vệ nhân cách của mình khỏi những cám dỗ của đời sống, nhà văn còn tập trung xoáy sâu vào những nhân vật tiêu cực của xã hội từ những người trí thức đến những người bình thường trong xã hội – đó là phần tử tôn thờ chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa danh lợi hay là loại trí thức giả danh, bất tài, vô dụng, những kẻ quyền thế lộng hành, lộng quyền
Ở nhiều trang văn của Ma Văn Kháng, ta bắt gặp vẻ đẹp của những tâm hồn thánh thiện, của lòng nhân ái bao dung, của những tâm hồn đồng cảm, của một nghị lực phi thường, vượt lên trên thế tục để yêu người và
Trang 13yêu đời Và nhiều nhân vật trong hoàn cảnh éo le, bất hạnh nhưng họ vẫn chủ trương lấy tình thương, ân nghĩa để hóa giải hận thù, để nâng đỡ tinh thần Cổ vũ cho tình thương có thể cứu vãn những mối quan hệ của con người, tư tưởng của Ma Văn Kháng rất gần với cách cảm, cách nghĩ của người Việt Nam chúng ta
Con người không chỉ có ý thức khẳng định nhân cách mà còn có nhu cầu hoàn thiện nhân cách Tuy nhiên, xã hội thời nào cũng vậy, đặc biệt là xã hội thời kỳ đổi mới, kinh tế thị trường phát triển… con người rất dễ bị cuốn theo những cám dỗ về vật chất, những ham muốn tầm thường Không ít người vì thế mà hủy hoại mất nhân cách và ngày càng trượt dốc trên con đường tha hóa nhân cách, đó là những con người không có bản lĩnh và đánh mất mình Thông qua một loạt các nhân vật:
Phú (Quê nội), Phùng (Đất màu), Hoàn (Chị em gái), bà Nhàn (Trung du
chiều mưa buồn), Nhần (Suối mơ), Oanh (Một mối tình si)… Ma Văn
Kháng muốn đối thoại với người đọc về đạo đức, lối sống, về bản năng của con người, để từ đó Ma Văn Kháng muốn gióng lên tiếng chuông về
sự tha hóa đạo đức của con người trong thời buổi kinh tế thị trường
Có thể nói, đứng về phía cái tốt, cái thiện, Ma Văn Kháng đã đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu cái thấp hèn, cái tha hóa của đạo đức, nhân cách con người Đề cập đến vấn đề nhân cách đạo đức con người, nhà văn đã thức tỉnh ở người đọc ý thức tẩy trừ, gột sạch những phần tăm tối, những góc khuất trong tâm hồn con người và qua đó đấu tranh chống những cái xấu, tiêu cực trong bản thân con người và bất công ngoài xã hội
2.2.3 Sự cô đơn trong tâm hồn con người
Bên cạnh những nhu cầu tự ý thức, sự thức tỉnh của cá nhân là trạng thái tâm lý cô đơn, khao khát cái đẹp, cái thiên lương của con người Cô đơn là vấn đề của mỗi bản thể, cá nhân những nó không hẳn là vấn đề riêng tư, nhỏ bé mà nó còn là vấn đề của cộng đồng, của xã hội
Bi kịch của sự cô đơn, “côi cút giữa cảnh đời” là một trong những bi kịch đáng nói trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới của Ma Văn Kháng Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến trạng thái cô đơn, cô đơn vì thấy mình lạc
Trang 14lõng giữa đời thường, cô đơn là ở sự trống trải trong tâm hồn mình, cô đơn của những người đàn bà suốt cuộc đời vẫn không tìm thấy tổ ấm, một nơi trú ngụ tinh thần bởi sự thât vọng vì tình yêu về người bạn đời trăm năm Vì thế họ luôn phải đối diện với sự trống vắng trong tâm hồn mình mà không có cách nào thoát khỏi được nó Đó là những con người rơi vào bi kịch trong sự tương phản giữa cá nhân và hoàn cảnh xã hội Họ muốn sống hết mình cho gia đình và cống hiến tài năng cho xã hội những đều bị những kẻ có quyền chức cơ hội tùy thời, lòng tham, sự ganh ghét
tị nạnh, đố kị vùi dập
Song những con người này dù sống trong bất hạnh cô đơn nhưng không yếm thế buông xuôi, không hèn hạ, chịu nhục Họ coi những đau khổ của mình như sự trải nghiệm của chính mình để có thêm bản lĩnh vượt khó, bảo toàn được nhân phẩm quý giá của mình Họ đã biết nuốt vào lòng nỗi đau đớn, nhục nhã, ê chề và gồng mình lên mà dốc hết sức lực để không bị tha hóa nhân cách, để vẫn mãi là mình, mãi mãi là mình Bất hạnh cô đơn mà nhân văn, văn hóa dường như đã trở thành một phạm trù mỹ học của Ma Văn Kháng
2.2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
Nhân vật chính là hình thức nghệ thuật cơ bản, đầu tiên để nhà văn xây dựng thế giới nghệ thuật bằng hình tượng Là con đẻ tinh thần của người nghệ sĩ, nhân vật văn học vừa thể hiện cái nhìn của nhà văn về cuộc sống và con người, vừa là nơi kí thác những nỗi niềm, những trăn trở, những ước mơ được biểu đạt ở dạng khái quát nhất Qua nhân vật người đọc hiểu được giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm, đánh giá được cá tính sáng tạo của tác giả
Căn cứ vào tác phẩm cụ thể, đồng thời gắn chúng với những quan niệm của nhà văn về con người trong quá trình xây dựng nên thế giới nhân vật phong phú ấy, chúng tôi tạm phân định thành ba kiểu loại nhân vật: nhân vật tha hóa, nhân vật bi kịch và nhân vật vượt lên số phận
2.2.1 Kiểu nhân vật tha hóa
Nếu trong văn học trước 1975, các nhân vật loại hình đã thể hiện tập trung những phẩm chất ưu tú của dân tộc, thời đại, trở thành những
Trang 15hình mẫu lý tưởng (nhân vật lý tưởng) của xã hội và được miêu tả trong
vẻ đẹp kì diệu khác thường thì đến văn học đổi mới trong bối cảnh đất nước hòa bình, con người đã bước ra khỏi ánh hào quang của chiến thắng
để trở về với đời sống xã hội, phải đối diện với mọi nhu cầu cá nhân, khi
ấy con người trở nên thật hơn rất nhiều Thực tế đời sống thiếu thốn, khó khăn đã có tác động trực tiếp đến tính cách con người Nó biến một bộ phận người này thành một kiểu người trở nên lãnh cảm, trơ lạnh, một bộ phận người kia trở thành người tha hóa, “mòn đi, ruỗng ra”, vụ lợi, nhỏ nhen, bần tiện…
Trong xu hướng chung của văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay,
Ma Văn Kháng cũng viết nhiều về nhân vật tha hóa Thông qua những nhân vật tha hóa, nhà văn muốn cảnh báo về tình trạng xuống cấp của đạo đức con người, thậm chí dẫn tới hoại suy nền tảng đạo đức xã hội Nhân vật tha hóa trong sáng tác của Ma Văn Kháng bao gồm đầy đủ các
tầng lớp trong xã hội, đó có thể là trí thức (Trăng soi sân nhỏ, Quê nội),
là nhân viên (Cái Tý Ngọ), là nông dân (Xóm giềng, Suối mơ)…
Những nhân vật tha hóa hiện lên đa dạng về phương diện biểu hiện, phong phú về tính chất Có thể là tha hóa về lối sống, tha hóa tinh thần, quyền lực, dục vọng… nhưng cũng có những nhân vật vì không làm chủ được bản thân trước những biến đổi của hoàn cảnh mà rơi vào con đường tội lỗi Với kiểu nhân vật này, Ma Văn Kháng đã thực sự thành công và đặc biệt tinh tế khi phân tích, khai thác mọi dạng thái tồn tái của kiểu tha hóa; lật xới ở những tầng vỉa biểu hiện của chúng và bóc dần lớp vỏ che đậy sự tha hóa trong những hoàn cảnh cụ thể nhất Viết về cái xấu, về nhân vật tha hóa, nhà văn muốn cất lên một tiếng nói riêng thức tỉnh lương tâm con người, cảnh báo con người trước vực thẳm của cái xấu xa Nhà văn kêu gọi phần người, phần tình nằm sau trong tiềm thức để xã hội này tốt đẹp hơn trong các quan hệ, con người gần nhau hơn, có thể nương tựa vào nhau
2.2.2 Nhân vật bi kịch
Ở giai đoạn sáng tác sau đổi mới, Ma Văn Kháng cũng đi sâu khám phá thế giới tâm hồn con người và làm nổi bật bi kịch mà họ gặp phải
Trang 16Có thể nói Ma Văn Kháng là nhà văn đặc biệt quan tâm đến số phận con người Giữa cái vô tận vô cùng của vũ trụ và cuộc đời, nhà văn cảm thấy con người thật nhỏ bé, hữu hạn Thế nên sáng tác của ông luôn là sự trăn trở, lo âu cho số phận bất ổn của con người trong xã hội đầy những bất trắc, phải trái trắng đen lẫn lộn Nhiều truyện ngắn của ông luôn chứa đựng nỗi ám ảnh về con người bị mưu phản mưu hại, bị các ác săn đuổi Hàng loạt các nhân vật của ông luôn có những kết cục số phận đầy bất ngờ, ngẫu nhiên, phi lí Không chỉ mang trong mình nỗi ám ảnh về thân phận con người bị mưu phản, mưu hại, Ma Văn Kháng còn luôn bị ám ảnh, day dứt, xót xa cho kiếp người nhỏ bé, hữu hạn giữa cuộc đời đầy bất trắc, ngẫu nhiên, phi lý
Truyện ngắn sau đổi mới Ma Văn Kháng thường viết về đề tài thế
sự, đời tư Trọng tâm của đề tài này là gia đình với mối quan hệ vợ - chồng, mẹ - con, anh – em Gia đình là hạt nhân của xã hội và bị chi phối bởi các yếu tố về kinh tế, tài chính Lấy bối cảnh là những năm khi mà đất nước đang trong thời kỳ quá độ, có được cuộc sống đầy đủ, sung túc đối với con người còn là một điều mơ ước Trong bối cảnh ấy, với những
mâu thuẫn trong gia đình ấy, con người dễ rơi vào bi kịch (Truyện Bồ
nông ở biển, Đoan trong Heo may gió lộng)
Ở một loạt truyện ngắn khác của Ma Văn Kháng ta lại bắt gặp những con người không làm chủ được hoàn cảnh số phận, luôn tỏ ra nhu
nhược, hèn yếu trước hoàn cảnh như Lợi, Hào (Lỡ làng), Quý (Chọn
chồng), Thuấn (Trăng soi sân nhỏ), Hoằng, bà cụ Mạ (Người giúp việc),
Bướm (Cái Bướm tung tăng), Huấn (Một chốn nương thân)…
Đúng là đứng trước cuộc đời con người thật nhỏ bé Xây dựng nên những nhân vật bi kịch, Ma Văn Kháng muốn góp tiếng nói xót thương cho những con người cô đơn, lạc lõng và bất hạnh ở đời Điều đáng quý
là miêu tả những cảnh đời u uất, những số phận bất hạnh, long đong, những con người vỡ mộng nhưng sáng tác của Ma Văn Kháng không làm người đọc thấy bi quan, chán ghét cuộc sống, xã hội Trái lại, ẩn sau những trang văn buồn xót đó là trái tim biết xúc động trước nỗi đau của