1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của ma văn kháng

114 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Tiểu Thuyết Viết Cho Thiếu Nhi Của Ma Văn Kháng
Tác giả Đặng Thị Nga
Người hướng dẫn PGS. TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Ma Văn Kháng, tuy nhiên việc đi sâu khảo sát một cách toàn diện, hệ thống về các tiểu thuyết viết cho thiếu nh

Trang 1

ĐẶNG THỊ NGA

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT VIẾT CHO THIẾU NHI

CỦA MA VĂN KHÁNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS ĐINH TRÍ DŨNG

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC VÀ MẢNG TIỂU THUYẾT VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA MA VĂN KHÁNG 9

1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội và sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam từ 1945 đến nay 9

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam từ 1945 đến nay 9

1.1.2 Sự vận động của tiểu thuyết 10

1.2 Ma Văn Kháng - nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương đại 16

1.2.1 Cuộc đời Ma Văn Kháng 16

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác 20

1.3 Vị trí của tiểu thuyết Ma Văn Kháng 24

1.3.1 Các đề tài nổi bật 24

1.3.2 Những đóng góp chính 29

1.4 Nhìn chung về tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng 31

1.4.1 Khái niệm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi 31

1.4.2 Nhìn chung về tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng 34

Tiểu kết chương 1 39

Chương 2 CÁI NHÌN VỀ THIẾU NHI VÀ “QUYỀN TRẺ EM” TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA MA VĂN KHÁNG 40

2.1 Trẻ em - nhân vật dễ bị tổn thương nhất trong xã hội hiện đại 40

2.1.1 Những đau khổ về vật chất 40

Trang 4

2.2.1 Ngoan ngoãn, hồn nhiên, giàu mơ ước 45

2.2.2 Giàu lòng yêu thương, gắn bó, chia sẻ 48

2.2.3 Giàu ý chí, nghị lực, có tinh thần phản kháng mạnh mẽ 52

2.3 Tiếng chuông cảnh tỉnh xã hội về trách nhiệm đối với thế hệ trẻ 57

2.3.1 Sự đồng cảm thấu hiểu của nhà văn 57

2.3.2 Tiếng nói báo động cho gia đình và xã hội 61

Tiểu kết chương 2 71

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA MA VĂN KHÁNG 73

3.1 Điểm nhìn trần thuật 73

3.1.1 Khái niệm điểm nhìn trần thuật 73

3.1.2 Trần thuật theo điểm nhìn trẻ thơ 74

3.2 Nghệ thuật xây dựng tình huống 76

3.2.1 Tình huống bất ngờ, gay cấn 77

3.2.2 Tình huống bi kịch giữa đời thường 79

3.3 Nghệ thuật tổ chức giọng điệu 80

3.3.1 Giọng trữ tình, thiết tha, sâu lắng 81

3.3.2 Giọng triết lí, suy tư 84

3.3.3 Giọng châm biếm, mỉa mai, hài hước 87

3.4 Ngôn ngữ nghệ thuật 90

3.4.1 Ngôn ngữ đậm chất thơ, giàu tính biểu cảm 91

3.4.2 Ngôn ngữ giàu kịch tính 95

3.4.3 Ngôn ngữ chân thật, gần gũi với đời sống hàng ngày 98

Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ma Văn Kháng là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam đương đại, ông được coi là “người đi tiền trạm” cho đổi mới văn học Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của Ma Văn Kháng đã “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, từ đó tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học Ông cũng là một trong số các nhà văn Việt Nam hiện đại sáng tác thành công ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Qua từng tiểu thuyết, truyện ngắn, Ma Văn Kháng không ngừng tìm kiếm những cách thể hiện mới Thời gian và kinh nghiệm nghệ thuật đã tôi luyện ngòi bút Ma Văn Kháng làm cho ông luôn gặt hái được những thành tựu đáng kể Có thể nói, giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm

2001 cùng con đường sáng tác gần nửa thế kỷ đã khẳng định vị thế của ông trong lòng độc giả cũng như trong đời sống văn học Vì thế, việc tiếp tục nghiên cứu về Ma Văn Kháng là cần thiết để hiểu hơn thành tựu văn học Việt Nam hiện đại

1.2 Ma Văn Kháng thành công ở cả truyện ngắn và tiểu thuyết Toàn

bộ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn chung được sáng tác theo hai mảng đề tài lớn với hai cảm hứng chủ đạo: Đề tài về dân tộc miền núi với cảm hứng sử thi và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư Ở đề tài nào ông cũng có những tác phẩm có giá trị, thu hút được sự quan tâm của độc giả và giới

nghiên cứu, phê bình văn học Ngoài Mùa lá rụng trong vườn được giải

thưởng Hội Nhà văn năm 1984, Ma Văn Kháng còn có nhiều tiểu thuyết gây được tiếng vang Vì thế, đề tài của chúng tôi muốn góp phần khẳng định vị trí của Ma Văn Kháng trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

1.3 Ma Văn Kháng là nhà văn có nhiều tác phẩm xuất sắc dành cho người lớn nhưng ít ai biết đến ông còn rất thành công khi viết về thế giới trẻ

Trang 6

em Ngoài phản ánh về cuộc sống với những lo toan bộn bề của người lớn ông còn quan tâm đến những số phận trẻ em trong cuộc sống đầy ngổn ngang biến động Ma Văn Kháng tâm sự rằng: “Viết cho thiếu nhi quan trọng không chỉ

là viết cái gì ? mà là viết như thế nào? Mà viết như thế nào lại quan hệ đến tâm hồn người viết Tôi ao ước ngoài cái duyên với chữ nghĩa và con trẻ ra, tâm hồn mình lúc nào cũng tươi mát, trong sáng và dào dạt tình yêu với cuộc đời với con người” Với một tâm sự như thế ông đã có những tác phẩm đặc

sắc viết cho thiếu nhi Trong thể loại tiểu thuyết có thể kể đến: Côi cút giữa

cảnh đời, Chó Bi, đời lưu lạc, Chuyện của Lý Khi viết về trẻ em ông luôn

dành cho nhân vật của mình sự quan tâm sâu sắc, sự chia sẻ và tình cảm yêu thương trân trọng nhất Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Ma Văn Kháng, tuy nhiên việc đi sâu khảo sát một cách toàn diện, hệ thống về các tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng thì vẫn còn những khoảng trống.Với những lý do trên chúng tôi chọn

vấn đề: Đặc điểm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng làm đề

tài nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về Ma Văn Kháng nói chung

Ma Văn Kháng là một trong số những nhà văn có đóng góp đáng kể vào công cuộc đổi mới văn xuôi giai đoạn sau 1975 Con người và những sáng tác của ông có sức hút kỳ lạ không chỉ đối với các nhà văn mà còn đối với giới nghiên cứu phê bình Ông "đã cố gắng đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết, tìm hướng đi mới trong lao động sáng tạo nghệ thuật" Nhiều công trình của các nhà văn, nhà thơ và các nhà nghiên cứu như: Phong Lê, Lã Nguyên, Tô Hoài, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Bích Thu, Nguyễn Ngọc Thiện, Đào Thủy Nguyên đã đề cập đến nhiều phương diện trong sáng tác của Ma Văn Kháng Các bài viết đã làm sáng tỏ những đóng góp của ông trong quá

Trang 7

trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam đương đại Ở đây, chúng tôi chỉ khái quát một số ý kiến tiêu biểu

Tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã thật sự gây được sự chú ý, quan tâm đặc biệt của đông đảo độc giả cũng như giới nghiên cứu, phê bình văn học và đã trở thành hiện tượng văn học một thời Ở bình diện này có thể nói Lã Nguyên, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Ngọc Thiện, Phong Lê là những người có những

ý kiến sâu sắc Lã Nguyên đã nhận xét về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng:

“Xuyên suốt những trang văn là một triết luận đời sống hết sức nhất quán Triết luận ấy là tính người, tình người, là sự hồn nhiên làm mẫu số để nhà văn trò chuyện về con người và cuộc đời.” [25, 38] Đáng chú ý là các bài nghiên

cứu của Trần Đăng Xuyền đăng trên báo Văn nghệ: “Đọc Đồng bạc trắng hoa

xòe” (Báo Văn nghệ ngày 8/12/1979); “Phải chăm lo cho từng người” (Báo Văn nghệ số 40 ngày 15/10/1985); “Một cách nhìn cuộc sống hôm nay” (Báo Văn nghệ số 15 ngày 9/4/1983) Qua những bài viết này, tác giả có những

cảm nhận sâu sắc về cái nhìn, cảm quan hiện thực cuộc sống trong các tiểu

thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe, Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn Khi nói về Đồng bạc trắng hoa xòe, tác giả Trần Đăng Xuyền cho rằng: “Ma Văn

Kháng, bằng hình tượng nghệ thuật đã chứng minh rằng đồng bào các dân tộc

ít người, mặc dù bị đắm chìm trong đau khổ, tăm tối nhưng đều có mầm sống, khả năng cách mạng” [57, 8] Ông cũng đã đưa ra nhận định xác đáng về tiểu

thuyết Mưa mùa hạ: Giá trị của Mưa mùa hạ không chỉ là chỗ mạnh dạn lên

án cái tiêu cực mà chủ yếu là xây dựng được cách nhìn, thái độ đúng đắn

trước những cái xấu, trước những bước cản đi lên Chủ nghĩa xã hội Sau Mưa

mùa hạ, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn xuất hiện Trong cuộc hội thảo về

tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn do Câu lạc bộ Báo Người Hà Nội và Nhà

xuất bản Phụ nữ phối hợp tổ chức, các nhà văn, nhà lí luận phê bình đã có nhiều ý kiến đánh giá cao giá trị tư tưởng của tác phẩm Nhà nghiên cứu Lại

Trang 8

Nguyên Ân khẳng định: Mùa lá rụng trong vườn biểu hiện cho xu thế văn học

đang vươn tới những vấn đề cốt yếu Hoàng Kim Quý lại nhấn mạnh: Tác giả

Mùa lá rụng trong vườn đã nhìn thẳng vào cuộc sống của những gia đình với

mỗi người Nói về cái nhìn của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết Đám cưới

không có giấy giá thú, trong bài viết: “Đọc Đám cưới không có giấy giá thú”

của Lê Ngọc Y, tác giả đã nhận thấy bằng cách nhìn tinh tế vào hiện thực đời sống tác giả đã mô tả những người giáo viên sống và làm việc gặp quá nhiều khó khăn Những vui buồn của thời thế đã phản ánh vào những trang tiểu thuyết làm cho nó trở nên sống động Từ đó, tác giả nhấn mạnh Ma Văn Kháng

“đã có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo nên không bị thói xấu, cái bất bình thường vốn nảy sinh trong xã hội đang vận động lấn át, hoặc chỉ thấy một chiều này u

ám mà không thấy chiều khác đầy nắng rực rỡ” [11] Cùng với ý kiến đó, có tác giả thì cho rằng: Có lẽ, Ma Văn Kháng muốn bộc lộ một cái nhìn tiến bộ và khá mới mẻ, một nhận định khá chính xác về hiện thực đời sống đương thời - cái xấu, cái ác vẫn tồn tại, hoành hành và sinh sôi trong đời sống, còn cái thiện, cái tốt mặc dù có nhưng có lẽ chưa đủ mạnh để có thể chiến thắng

Tác giả Trần Cương đã nhận định: “Nghệ thuật viết tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đã có bề dày, kết quả của một quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ

và ở tác giả đã có định hình rõ nét phong cách nghệ thuật của mình” [3, 6]

Về truyện ngắn, trong công trình nghiên cứu của Đào Thủy Nguyên

Truyện ngắn Ma văn Kháng và vấn đề thức tỉnh tinh thần con người vùng cao

có viết: “Tác giả đi sâu vào nghiên cứu khẳng định một cách đầy thuyết phục những vấn đề nhân sinh, thế sự, những thành công đặc sắc về nghệ thuật xây dựng nhân vật và sử dụng ngôn từ trong truyện ngắn viết về đề tài dân tộc và miền núi của Ma văn kháng” [24, 56] Còn tác giả Nguyễn Nguyên Thanh

trong bài viết “Ngày đẹp trời - tính dự báo về những tình thế xã hội” (Báo

Văn nghệ số 21 ngày 23/5/1987) khẳng định: “Ma Văn Kháng đã khám phá

Trang 9

cuộc sống từ những bình diện khác nhau,ông lách sâu hơn vào ngõ ngách đời sống tinh thần, tìm ra những nguyên nhân và quy luật khắc nghiệt của tồn tại

xã hội” [38, 19]

Về cách xây dựng nhân vật, Lã Nguyên nhấn mạnh: “Nhân vật của Ma Văn Kháng dù phức tạp đến đâu, có những biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi tiếp xúc, ta có thể nhận diện được ngay nhân vật ấy thuộc hạng người nào, cao thượng hay đê tiện, độc ác hay nhân từ, ích kỉ hay hảo tâm ” [25, 40]

Bàn về nghệ thuật viết của Ma văn Kháng, trong bài viết “Tư duy mới

về nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 1980”, Nguyễn

Thị Huệ nhận xét: “Khi chuyển hướng trong ngòi bút sáng tác của mình, Ma Văn Kháng đã nhanh chóng tiếp cận với một hiện thực mới, một hiện thực phong phú nhưng ngổn ngang, bề bộn, phải trái, trắng đen lẫn lộn xen cài trong biết bao biến động Đó là cuộc sống của thành thị với những màu sắc phong phú và độc đáo” [7, 65]

Trong bài viết “Cốt truyện trong tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn Kháng” Đỗ Phương Thảo viết: “Hầu như ở mỗi tiểu thuyết Ma Văn kháng đều tìm ra một kết cấu phù hợp mới mẻ, đây là một trong những biểu hiện cho thấy đổi mới tư duy nghệ thuật cũng như đánh dấu bước trưởng thành trên con

đường nghệ thuật của ông” [43, 55]

2.2 Lịch sử nghiên cứu về tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng

Tiểu thuyết viết cho thiếu nhi là một trong những mảng rất thành công của Ma Văn Kháng Khi viết về thiếu nhi, nhà văn luôn dành những tình cảm yêu thương, trân trọng nhất

Đến với tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời - tác phẩm mà nhà văn tâm đắc nhất, đã có không ít ý kiến bàn bạc Phong Lê trong cuốn Vẫn chuyện Văn

và Người - Nhà xuất bản Văn hoá thông tin (1990) cho rằng: "Cuốn sách của

Ma Văn Kháng đã vục vào cái sự thật tối tăm oan khổ đó như nhiều cuốn sách

Trang 10

khác Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo những tình cảm nhân hậu tốt lành Có thể nói, đó là hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa Cái hiệu quả thanh lọc này vốn dành cho nghệ thuật và dường như cũng chỉ có nghệ thuật đích thực, nghệ thuật cao hơn cuộc đời mới có thể làm nổi"… [19, 23]

Trong bài viết “Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời”, Phong Lê

cũng nhận thấy: “Cuốn sách chất đầy những đau khổ, oan khiên lên thân phận

ba bà cháu còm cõi, bơ vơ Cuốn sách mạnh mẽ đẩy ta vào giữa dòng sống hôm nay với cảm hứng lớn là cảm hứng sự thật với sự bất bình và khát vọng dân chủ, cũng đồng thời cho ta sự gắn nối với văn mạch truyền thống là chủ nghĩa nhân văn và tình yêu thương con người” [19, 56]

Trong bài viết “Một vài suy nghĩ khi đọc Côi cút giữa cảnh đời của

Ma Văn Kháng”, tác giả Vũ Thị Oanh cho rằng: "Côi cút giữa cảnh đời -

cuốn sách viết theo đề nghị cho lứa tuổi sắp vào đời, không đề cương, không hợp đồng, được xuất bản bởi sự hợp tác của Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà xuất bản Văn học là một cuốn sách tiêu biểu… viết cho lứa tuổi sắp vào đời nhưng tác giả không hề né tránh cái xấu, cái ác; những yếu tố tồn tại khách quan làm rõ thêm bức tranh cuộc sống với những cuộc đấu tranh thể hiện ở nhiều bình diện, sắc thái khác nhau Đó là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác Tất cả được thể hiện bằng ngòi bút mềm mại, uyển chuyển, ngôn ngữ hóm hỉnh, phong phú sắc màu: kết cấu có hậu kiểu truyện cổ dân gian của tác giả Ma Văn Kháng” [29, 103]

Lã Thị Bắc Lý trong bài viết “Đọc sách Chó Bi - đời lưu lạc” đăng trên Tạp chí Tác phẩm mới số 6, năm 1997, nhận xét: “Cuốn sách tạo nên sự

kỳ thú cho văn học thiếu nhi bởi sức thu hút tự thân của nó” [23, 32] “Người đọc có thể nhận ra chó Bi không chỉ là sự lắp ghép thêm thắt vào gia đình mà chính thức đã hòa nhập, cùng đồng hành chia sẻ với hoàn cảnh éo le, cô đơn của gia đình bé Toản” [23, 32]

Trang 11

Các tài liệu kể trên sẽ là những gợi ý, định hướng, là nguồn tư liệu quý báu và cần thiết cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là Đặc điểm tiểu thuyết viết cho

thiếu nhi của Ma Văn Kháng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung khảo sát, tìm hiểu các tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng Tư liệu khảo sát là các tiểu thuyết:

- Côi cút giữa cảnh đời, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, năm 2006

- Chó Bi - đời lưu lạc, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, năm 2006

- Chuyện của Lý, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, năm 2013

Tuy nhiên, để làm nổi bật những đặc sắc của tiểu thuyết thiếu nhi của

Ma Văn Kháng, chúng tôi có so sánh với một số tác phẩm khác của ông khi cần thiết

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

4.1 Đưa ra cái nhìn tổng quát về sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng

và tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của ông, xác định vị trí, ý nghĩa của những tác phẩm này trong sự nghiệp sáng tác của tác giả

4.2 Khảo sát, phân tích những vấn đề được quan tâm trong tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng đặc biệt là vấn đề “ quyền trẻ em.”

4.3 Phân tích, chỉ ra được những nét đặc sắc trong hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp khác nhau:

Trang 12

- Phương pháp cấu trúc, hệ thống

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm một cái nhìn khái quát, hệ thống hơn về đặc điểm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của

Ma Văn Kháng, từ đó khẳng định những đóng góp của ông cho văn học dân tộc về mảng đề tài này

Ở một mức độ nào đó, kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc dạy - học về tác giả Ma Văn Kháng trong nhà trường

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Nhìn chung về sự nghiệp sáng tác và mảng tiểu thuyết viết

cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng Chương 2 Cái nhìn về thiếu nhi và “quyền trẻ em” trong tiểu thuyết

viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng

Chương 3 Đặc điểm hình thức nghệ thuật trong tiểu thuyết viết cho

thiếu nhi của Ma Văn Kháng

Trang 13

Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

VÀ MẢNG TIỂU THUYẾT VIẾT CHO THIẾU NHI

CỦA MA VĂN KHÁNG

1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội và sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam từ 1945 đến nay

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam từ 1945 đến nay

Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước - kỷ nguyên độc lập, tự chủ Ách nô lệ bị đập tan, con người Việt Nam được giải phóng; bừng lên một niềm hạnh phúc lớn lao đến thiêng liêng, như kết quả tất yếu từ khát vọng tự do và quyết tâm cứu nước của cả dân tộc Nhưng thực dân Pháp vẫn quyết tâm xâm lược đất nước ta Khi mọi biện pháp ngoại giao không còn hiệu quả, trước dã tâm của Pháp nhằm áp đặt chế độ thuộc địa lên nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu Đáp lời kêu gọi ngày 19-12-1946 của Hồ Chủ tịch, cả đất nước đã đứng lên, vừa đánh giặc vừa củng cố lực lượng, huy động sức mạnh dân tộc không chỉ ở hiện tại mà cả từ truyền thống quật khởi bốn nghìn năm Cuối cùng, chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) làm lịm tắt ý đồ xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải chấp nhận thương lượng và ký kết hiệp định Giơnevơ về Đông Dương (20-7-1954)

Cuộc kháng chiến chín năm đã kết thúc thắng lợi Một nửa nước được giải phóng nhưng một nửa vẫn nằm dưới tay đế quốc Mĩ Chúng ta lại tiếp tục bắt tay vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam Đây là một trong những giai đoạn lịch sử gay go, căng thẳng đồng thời cũng ghi dấu những trang hào hùng trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta Vận mệnh của đất nước đứng trước nguy cơ một mất một còn Đây là một cuộc kháng chiến

mà các nhà văn vừa tham gia chống kẻ thù cướp nước, vừa chống lại một

Trang 14

cuộc xâm lăng văn hóa của đế quốc Mỹ trên đất nước ta Nhanh nhạy và kịp thời, các nhà văn đã nhập cuộc, tham gia vào cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của Tổ quốc Các thế hệ nhà văn cùng có mặt bên nhau trong trận tuyến đánh

Mỹ Hàng trăm nhà văn trẻ trực tiếp cầm súng ra chiến trường và sáng tác như Nguyễn Thi, Thu Bồn, Lê Anh Xuân…

Từ sau 30/4/1975, đất nước thống nhất trong niềm vui khôn xiết của đôi bờ Nam Bắc, trong hạnh phúc của giấc mơ giải phóng miền Nam nay đã thành hiện thực Giấc mơ ấy vẫn hằn in trong từng giấc ngủ của người dân nước Việt Để rồi ngày cả dân tộc bắt tay vào xây dựng lại đất nước tràn đầy

tự hào Tuy nhiên, thách thức đến với nước ta còn nhiều Trải qua 10 năm thực hiện hai kế hoạch 5 năm (1976 - 1980 và 1981 - 1985), Việt Nam đạt được những kết quả nhất định trên cả hai phương diện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song cũng gặp nhiều khó khăn do mắc sai lầm nghiêm trọng trong chủ trương, chính sách chỉ đạo chiến lược phát triển đất nước Đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội Nhưng sức sống bền bỉ của một dân tộc lại một lần nữa đưa ta thoát khỏi khó khăn Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, Đảng và Nhà nước đã tiến hành công cuộc đổi mới Công cuộc ấy là bước ngoặt lịch sử vĩ đại, làm thay da đổi thịt cả đất nước Đó không chỉ là đổi mới trên lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội mà còn là đổi mới trên góc độ tư tưởng, trong đó có tư duy về văn nghệ Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cũng tuyên bố “cởi trói”, “đổi mới

tư duy” cho văn nghệ Sau cách mạng các nhà văn không xuất hiện với tư cách nhà văn - chiến sĩ nữa mà với tư cách những công dân có trách nhiệm sống trong đất nước đang vặn mình đổi mới

1.1.2 Sự vận động của tiểu thuyết

1.1.2.1 Sự vận động về đội ngũ sáng tác

Từ 1945 tới 1975, diện mạo của tiểu thuyết cũng được hình thành qua những trang viết của Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Kim Lân, Hồ

Trang 15

Phương,… Đặc biệt, năm 1950-1954 là những năm văn học gặt hái được nhiều thành tựu rực rỡ với nhiều tác giả cùng nhiều tiểu thuyết tiêu biểu Các

tác giả đã có những thể nghiệm bước đầu đáng khích lệ với Con trâu (Nguyễn Văn Bổng), Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Vùng mỏ (Võ Huy Tâm) Nhưng

nhìn chung, giai đoạn này, đội ngũ sáng tác tiểu thuyết chưa nhiều Phải sau hoà bình lập lại, các nhà văn mới có thời gian để chú ý tới thể loại này

Sau 1975, tiểu thuyết phát triển rực rỡ Có được sự phát triển rực rỡ ấy

là nhờ công sức của nhiều thế hệ cầm bút Đội ngũ viết tiểu thuyết đa dạng, nhiều thế hệ khác nhau tạo cho tiểu thuyết mang bức tranh phong phú đa sắc màu của hiện thực, cuộc sống và con người Các thế hệ nhà văn cao niên vẫn mải miết trên cánh đồng chữ nghĩa, lặng lẽ cho ra mắt bạn đọc những đứa con tinh thần của mình và không phải ngẫu nhiên mà người ta đã cảm nhận thời bây giờ là “thời của tiểu thuyết” (Nguyễn Huy Thiệp), thời của dân chủ hoá

trong sáng tạo và tiếp nhận Nhà văn lão thành như Nguyễn Khải với Thượng

đế thì cười dường như muốn khép lại một hành trình hơn nửa thế kỷ cầm bút

để lại nhiều dư ba trên những trang tự thuật của mình Sau những tháng năm

im lặng, với Người sông Mê, Châu Diên không ngại ngùng cách tân kỹ thuật

viết tiểu thuyết Dù đã thuộc vào hàng cây cao bóng cả, Mạc Can vẫn không

thôi làm người đọc ngạc nhiên và cảm động với tiểu thuyết đầu tay Tấm ván

phóng dao Ma Văn Kháng vẫn dồi dào bút lực với Ngược dòng nước lũ Có

những nhà văn chuyển từ viết truyện ngắn sang tiểu thuyết như Nguyễn Khải,

Lê Lựu Cũng có những nhà văn tên tuổi viết tiểu thuyết đã khẳng định tài năng ở các giai đoạn trước như Tô Hoài nay càng sắc sảo, tinh tế trong đời thường Bên cạnh đó nhiều cây bút mới nổi lên như Dương Hướng, Chu Lai, Bảo Ninh và nhất là xuất hiện nhiều cây bút nữ có tư duy tiểu thuyết sắc bén như Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo Đồng hành là một dàn những cây bút của thế hệ kế tiếp sáng tạo, sẵn sàng thể nghiệm, cách tân như: Nguyễn Bình

Trang 16

Phương, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh Đội ngũ các tác giả tiểu thuyết cho thấy tiểu thuyết đã vận hành trong cơ chế vận động và đổi mới của văn xuôi đương đại Những người cầm bút đã chứng minh được sự sáng tạo cùng với nỗ lực đổi mới và hiện đại hoá ngòi bút của chính họ Nhiều nhà văn chuyên tâm viết tiểu thuyết và có nhiều thành tựu lớn như Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Khải và đặc biệt là Ma Văn Kháng với hơn 17 tiểu thuyết, trong đó nổi lên những tiểu

thuyết như Mùa lá rụng trong vườn (1985); Đám cưới không giấy giá thú (1989); Ngược dòng nước lũ (1999); Một mình một ngựa (2009) Tiểu thuyết

Ma Văn Kháng giai đoạn này mang đậm phong cách triết luận - trữ tình, đánh dấu một Ma Văn Kháng có nhiều đổi mới trong tư duy, cách viết, từng trải và sâu sắc hơn Không khí dân chủ của môi trường sáng tạo đã giúp các nhà văn

ý thức sâu sắc tư cách nghệ sĩ của mình, vượt lên trên những quy định, khuôn khổ đã thành áp lực với ngòi bút của người viết lâu nay

1.1.2.2 Sự vận động về nội dung, nghệ thuật

Có thể nói trong quá trình vận động và đổi mới, tiểu thuyết đã trải qua

“những bước thăng trầm” Trong quá trình 30 năm phát triển của văn học cách mạng (1945 - 1975), tiểu thuyết đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của hoàn cảnh chiến tranh để khẳng định sự tồn tại Tuy những thành tựu còn ở mức độ ban đầu nhưng đóng góp chính của nó là mang đến một sắc thái độc đáo, làm bừng lên khí thế mới chưa từng có trong đời sống văn học dân tộc Nhìn chung, sáng tác thời kỳ này tập trung nói về cuộc kháng chiến

vĩ đại của dân tộc, tố cáo tội ác dã man của đế quốc; từ đó, giáo dục ý thức

trân trọng, thiết tha với chế độ mới như: Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Cửa

biển của Nguyên Hồng, Vùng trời của Hữu Mai… Khuynh hướng sử thi và

lãng mạn hoá trở thành khuynh hướng tiêu biểu của thể loại tiểu thuyết giai đoạn này Tuy có nhắc đến đau thương song cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết về chiến tranh giai đoạn 1945 - 1975 là ngợi ca chủ nghĩa yêu nước, là

Trang 17

khát vọng tự do độc lập, là niềm tự hào về sự nghiệp cứu nước vĩ đại của nhân dân ta và niềm tin tưởng mãnh liệt vào chủ nghĩa xã hội Mọi đối kháng trong

tác phẩm đều xoay quanh cuộc chiến của dân tộc Trong Sống mãi với thủ đô

của Nguyễn Huy Tưởng, tác phẩm đã tái hiện bầu không khí lịch sử sôi sục, quyết liệt, sẵn sàng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội Nhà văn thường đẩy xung đột đến mức gay gắt, quyết liệt qua việc thể hiện tội ác của kẻ thù với nhân dân Chiến tranh, bom đạn chỉ được miêu tả như một cái nền để nhà văn dẫn độc giả vào một thế giới khác: thế giới của tình người, của đức vị tha, lòng dũng cảm và nghĩa tình chung thuỷ Nói cách khác, đó là thế giới của cái cao cả, cái đẹp vượt lên trên sự tàn phá, huỷ diệt của bom đạn chiến tranh Vì thế các nhân vật được vẽ nên cũng mang nét sử thi lãng mạn Sự hi sinh, cống hiến của họ đều xứng đáng là bức tượng đài biểu dương cho lòng yêu nước Họ sống chủ

yếu trong tư cách con người chính trị, con người công dân Hay trong Hòn

Đất, việc kẻ thù thả thuốc độc xuống suối và thằng Xăm chém đầu chị Sứ một

cách man rợ đã làm bùng lên ngọn lửa căm thù, khơi dậy sức mạnh mãnh liệt

ở người dân và những người chiến sĩ du kích, buộc giặc phải rút lui khỏi hang Hòn Bị kẻ thù treo lơ lửng trên cây dừa, đứa con nhỏ cùng em gái và đồng đội bị vây hãm trong hang đá, chị Sứ tự nhủ: Bữa nay, có lẽ mình chết Nhưng mình chỉ thấy tiếc chớ không ân hận mắc cỡ gì cả Tới phút này đối với Đảng, mình vẫn y nguyên, như chị Minh Khai, như Võ Thị Sáu nên từ phút này trở đi, mình cũng phải giữ được như vậy Hay bi kịch cá nhân qua mối tình trái ngang Xiêm - Lượng và cuộc hôn nhân bất hạnh Xiêm - Kiếm trong

tác phẩm Dấu chân người lính của nhà văn Nguyễn Minh Châu đã để lại

trong lòng người những nỗi căm hờn về tội ác của bọn giặc Giọng điệu trữ tình rưng rưng, hào sảng không chỉ là giọng điệu chủ đạo của thơ, mà còn là giọng điệu chủ đạo của tiểu thuyết, khiến cho các tác phẩm văn xuôi thời ấy

Trang 18

đầy ắp chất thơ và câu văn xuôi của hầu hết các nhà văn luôn luôn ngân vang

âm hưởng trữ tình Nhưng cũng chính vì thế mà tiểu thuyết không thể trở thành thể loại cái của hệ thống văn học 1945 - 1975 Truyện và thơ trữ tình vẫn là hai thể loại cơ bản, giữ vai trò thống soái tạo nên sự kết tinh nghệ thuật

và diện mạo của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

Sau 1975, trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại, tiểu thuyết đã sớm bắt nhịp trong xu hướng đổi mới văn học giai đoạn này Sự phát triển mạnh

mẽ của tiểu thuyết không chỉ ở số lượng lớn tác phẩm và đội ngũ nhà văn tham gia sáng tác đông đủ, phong phú mà chủ yếu còn vì chất lượng của những tác phẩm này đạt giá trị cao Trong khoảng mười năm đầu (1975 - 1985), khuynh hướng sử thi vẫn còn dư âm đặc biệt là trong tiểu thuyết viết

về chiến tranh Sau chiến tranh kết thúc, người ta có điều kiện để tái hiện cuộc chiến đấu trên cái nhìn bao quát theo suốt chiều dài lịch sử như đưa ra ánh

sáng những cuộc chiến đấu thầm lặng trong lòng địch (Ông cố vấn của Hữu Mai) hay một con đường mòn Hồ Chí Minh bí mật trên biển (Đường mòn trên

biển của Hồ Phương) Khuynh hướng sử thi tuy có mờ nhạt dần nhưng đã

góp phần vào bức tranh văn xuôi trong khoảng thời gian 10 năm đầu với những thành tựu nhất định Và lúc này khi viết về lịch sử, các nhà văn không chỉ tái hiện lịch sử mà còn có điều kiện tập trung vào xây dựng tính cách nhân vật đa chiều hơn, phân tích và lý giải các sự kiện, biến cố

Trong giai đoạn sau 1986, trong cao trào đổi mới, tiểu thuyết đã thật sự bộc lộ ưu thế của mình trên con đường dân chủ hoá nội dung và nghệ thuật Với xu hướng nhìn thẳng vào sự thật, các nhà tiểu thuyết đã dấn thân vào hiện thực đương thời với nhiều ngổn ngang bề bộn Trong tác phẩm của họ xuất hiện ý thức “lột trần mặt nhau, lột trần mặt mình, lột trần mặt đời” và cao hơn

là “bóc trần thế giới”, đồng thời còn là ý thức hướng tới đề cao tính nhân văn

Đọc những tác phẩm như Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu; Cơ hội của chúa

Trang 19

(1999) của Nguyễn Việt Hà; Thiên thần sám hối (2004) của Tạ Duy Anh; Một

mình một ngựa (2009) của Ma Văn Kháng không ai có thể phủ nhận sự phát

triển ngày càng cao trong từng góc cạnh của tiểu thuyết Chúng ta cũng có thể điểm qua một số hiện tượng tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Có thể nói tác phẩm đánh dấu sự đổi mới của văn xuôi theo tinh thần đổi mới tư

duy là tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu Đến với những sáng tác của Tạ

Duy Anh, ta thấy được sự cách tân nghệ thuật táo bạo trong văn phong của

ông.Những tác phẩm: Lão khổ (1992), Khúc dạo đầu (1991), Thiên thần sám

hối (2004) là những tác phẩm xuất sắc được dư luận quan tâm nhiều và ghi

dấu ấn trong lòng độc giả Bên cạnh đó, chúng ta có thể kể thêm một hiện

tượng nữa đó là tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, tiểu thuyết đã đem

lại khá nhiều yếu tố mới mẻ cho kinh nghiệm đọc tiểu thuyết của số đông độc giả Và gần đây người ta chú ý những tiểu thuyết mới mẻ của Thuận, trong đó

có tiểu thuyết Phố tàu (China Town) Đây là một cuốn tiểu thuyết khá lạ như

Dương Tường nhận xét “đây là cuốn tiểu thuyết khó đọc vì nó lạ và mới”, nó

đã “khước từ truyền thống” Chiến tranh cũng được nhận thức lại từ sự tác động ghê gớm của nó đến tình cảm và số phận con người với bao nỗi éo le, bi

kịch, xót xa, nỗi buồn dai dẳng (Thân phận tình yêu của Bảo Ninh) Một số

tác phẩm nổi bật với cảm hứng phê phán và ý nghĩa nhân văn sâu sắc Những tác phẩm viết về nông thôn cho thấy sự chi phối của những tập tục, những tâm

lý cố hữu ở làng xã đến các mối quan hệ gia đình, dòng họ Những cuộc tranh giành quyền lực giữa họ tộc, những mối thù truyền kiếp tất cả đè nặng lên

cuộc sống, số phận bao nhiêu người (Bến không chồng; Mảnh đất lắm người

nhiều ma ) Các tác giả còn đi sâu vào khám phá đời sống muôn màu trong

cái hàng ngày với các quan hệ thế sự phức tạp; với đời sống cá nhân của mỗi

con người ở những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách (Mùa lá rụng trong

vườn của Ma Văn Kháng) Như vậy tiểu thuyết Việt Nam đương đại phát triển

Trang 20

khá phong phú và đa dạng, từ “phản ánh hiện thực” đến “nghiền ngẫm về hiện thực” với vai trò chủ thể của nhà văn tăng lên Nhà văn thoát ra khỏi ràng buộc của chủ nghĩa đề tài Chính vì thế, giai đoạn này thể loại văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng có sự xuất hiện của nhiều khuynh hướng Đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều cây bút đã nhìn lại hiện thực của thời kỳ vừa qua, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án những thế lực, những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời

Điểm qua một số nét về khuynh hướng vận động cũng như những hiện tượng khá nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại ta thấy bức tranh chung của văn học thời kỳ này có sự phát triển mau lẹ, nhiều bước đổi mới quan trọng, trong đó tiểu thuyết có sự phát triển phong phú và đa dạng Hiện nay, trong sự vận động chung của văn học, tiểu thuyết - một loại hình tự sự cỡ lớn vẫn đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương đại

1.2 Ma Văn Kháng - nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương đại

1.2.1 Cuộc đời Ma Văn Kháng

Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 1/12/1936, quê gốc ở phường Kim Liên - quận Đống Đa - Hà Nội Hiện tại, ông sống ở quận

Ba Đình - Hà Nội Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1959

và hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1974

Bút danh Ma Văn Kháng bắt nguồn từ câu chuyện đặc biệt của ông Năm 1963, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, ông lên dạy học ở tỉnh Lào Cai, sống và gắn bó với đồng bào dân tộc miền núi hơn 20 năm Ngày ấy, ông quen anh Ma Văn Nho, phó chủ tịch huyện Bảo Thắng, Lào Cai Anh Nho cũng là người Kinh, quê ở Hạ Hòa, Phú Thọ Hai anh em cùng đi cơ sở, thực hiện ba cùng với nhân dân, vận động họ tăng gia sản xuất, đóng thuế, đi

Trang 21

dân công, xóa mù chữ, vệ sinh phòng dịch bệnh Trong đợt đi làm thuế ở thôn Giáng Tùng Tung, huyện Bảo Thắng, ông bị sốt rét ác tính, may mà có anh Ma Văn Nho - là phó bí thư Huyện ủy Bảo Thắng cứu sống nhờ kiếm được mấy mũi tiêm Từ đó ông kết nghĩa anh em với anh Ma Văn Nho và đổi tên thành Ma Văn Kháng

Từ tuổi thiếu niên, Ma Văn Kháng đã tham gia quân đội và được cử đi học ở khu học xá Trung Quốc Năm 1954, sau khi tốt nghiệp sư phạm trung cấp tại khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc), Ma Văn Kháng được cử về tiếp quản thủ đô nhưng ông từ chối và xin về dạy học ở Lào Cai với lý do “muốn viết văn thành ra dám liều mạng lên miền biên ải một phen xem sao” Chuyến

đi lên Lào Cai lập nghiệp cũng là bởi ảnh hưởng của các tiểu thuyết lãng mạn

Có gì đó đầy hào hứng lôi cuốn, thực sự rất hấp dẫn và mới mẻ cứ lớn lên trong tâm hồn anh giáo viên trẻ tìm được lý tưởng Ông về dạy cấp II ở Lào Cai và bắt đầu xung phong tham gia nhiều hoạt động xã hội Năm 1960 ông được cử về học Đại học Sư phạm Hà Nội, tốt nghiệp năm 1964 ông lại xin về Lào Cai để dạy cấp III Sau đó ông chuyển sang làm thư ký cho đồng chí Bí thư Tỉnh ủy rồi làm Phó Tổng biên tập báo Lao Cai, Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động, Ủy viên Ban chấp hành, Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam Sau này, ngẫm lại, ông thấy việc bị điều lên làm thư ký cho ông bí thư tỉnh ủy tưởng là điều không may nhưng lại rất may Vì ở vị trí đó, ông được gắn bó với những gì thuộc về vận mệnh con người, vận mệnh của đất nước Ông nhận ra rằng ngẫu sự rất quan trọng, cứ để cho cuộc sống chủ động đến với đời mình, nhiều khi sự rủi ro đối với người làm nghệ thuật lại là điều may mắn

Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 ông chuyển về công tác tại Hà Nội, từng làm tổng biên tập, phó giám đốc nhà xuất bản Lao động Từ tháng 3/1995 là Ủy viên Ban Chấp hành, Ủy viên Đảng đoàn, Hội Nhà văn khóa V -

Trang 22

Tổng Biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài Sự chuyển đổi công tác ấy cũng

làm ông đã phải đánh đổi nhiều thứ Đó là những ngày ăn nhờ ở đậu tại nhà tập thể Tổng liên đoàn lao động Việt Nam với không gian chật hẹp Bốn năm sau, hai vợ chồng ông vất vả lắm mới lo toan để xin được cấp căn hộ chung

chưa tin mình có nhà, chưa có cảm giác là nhà của mình, nằm ngủ vẫn chỉ mê thấy chuyện nhà cửa Khi “an cư” cũng là thời gian nhà văn Ma Văn Kháng viết được nhiều nhất và thăng hoa nhất Nhiều tác phẩm của ông trong thời kỳ này đã trở thành những dấu ấn không thể mờ phai trong nền văn xuôi hiện đại Ông chia sẻ: “Về Hà Nội rồi, tôi mới nhận ra rằng, hóa ra mình đã ở miền núi đến một phần tư thế kỷ Tỉnh lẻ rất tình cảm, rất gắn bó, như một phần cơ thể mình vậy, nhưng nếu để làm văn chương chuyên nghiệp thì hóa ra mình cần nhiều điều hơn thế Mảnh đất Lào Cai mang lại cho tôi vốn sống về dân tộc rất lớn thậm chí còn là “nguồn” để bè bạn hỏi mỗi khi cần cho sáng tác” [56, 15] Nhưng ông cũng hối tiếc: “Lẽ ra tôi nên về Hà Nội sớm hơn chục năm để học được nhiều hơn cho tác phẩm của mình nó bớt đi chất tỉnh lẻ Nói vậy không phải tôi chê tỉnh lẻ, nhưng thực sự cái gọi là “văn hóa tỉnh lẻ” nó cản trở và làm mình bé đi ghê lắm, cảm giác nơi đó như cái lồng chật chội dù tình cảm rộng mênh mông, nhưng muốn bứt phá được là rất khó Chuyển đổi không gian văn chương khiến nh đầy lạ lẫm nhưng thức ngộ, bừng sáng Bởi vậy mà tôi về từ năm 1976, đến năm 1982 mới viết lại được tác phẩm

Mưa mùa hạ, một tác phẩm thể hiện sự khai sáng cuộc đời mình Hồi đó, một

ông bạn văn đã nói với tôi: “Lão Kháng này mới ở miền núi về thấy cái gì cũng lạ nên cứ kêu toáng lên, còn bọn mình ở đây quen rồi nên thấy cái gì cũng quen hết cả” [56, 15]

Ngoài ra, Ma Văn Kháng còn đứng lớp dạy viết văn nhiều khóa tại trường viết văn Nguyễn Du khi xưa, nay là khoa Viết văn - Báo chí của Đại

Trang 23

học Văn hóa Hà Nội Học trò của ông hiện nay nhiều người đã trở thành những tên tuổi lớn trên văn đàn Nhà văn Ma Văn Kháng chia sẻ: “Có hai việc cần thiết vào cuối đời thì tôi đã nỗ lực để làm trong những năm qua, vì con cái tôi không ai quan tâm đến gia tài văn chương của bố, nên nếu mình không làm thì không ai làm cho mình cả, bởi thế tôi hệ thống hóa những điều đã viết, gom góp để hoàn thành nốt những tư liệu dở dang, tổng kê lại những cuốn sách đã xuất bản, những bài báo người ta đã viết về mình Điều thứ hai là tôi soạn xong di chúc, thực sự phải hoàn toàn thanh thản chuẩn bị cho mình mọi tâm thế an lành nhất, để có thể yên tâm một điều rằng, sinh ra trên cõi đời này, mình đã tận tâm, tận lực đến cùng để có thể có một cuộc đời tròn vẹn nhất…” [56, 30]

Dù tuổi cao cùng những chứng bệnh mà bất kỳ tuổi già nào đều có thể gặp phải nhưng Ma Văn Kháng không những chăm chỉ viết, ông còn rất chịu khó đọc tác phẩm của các đồng nghiệp, mà trong đó đa phần là các đồng nghiệp lớp sau, những người vốn là học trò của ông, thậm chí, ông còn đọc cả tác phẩm của những cây bút trẻ một cách chân thành, không màu mè

“Đọc nhà văn trẻ để thấm thấu cái tươi mát phi truyền thống, phi cổ điển”, ông tâm sự Ngoài việc tham dự vào đời sống văn học, thi thoảng, các đồng nghiệp vẫn thấy ông… đi thực tế, dự các buổi gặp gỡ của các ngành Quan niệm của ông là đừng bao giờ cho rằng mình đã trưởng thành, không hiểu các nghề khác thế nào, riêng nghề văn mà tôi theo đuổi thì đó là một nghề cần học hỏi suốt đời Học nghề mải mê, không biết mệt, nếu anh còn muốn tiếp tục sống với cái nghề vất vả cực nhọc và tràn đầy niềm vui này Ông tâm niệm: “Chẳng ai dự liệu được đời mình sẽ là thế nào cả Cách mạng là ngọn gió lớn thổi ta là hạt bụi đi đến các chân trời - một nhà thơ đã viết thế Khoa học nhân sinh cho biết 70% đời người do ngẫu nhiên quyết định Không ai chọn thời đại, hoàn cảnh để sinh ra và sống với nó cả Vấn đề đặt

Trang 24

ra là biết sống cho đúng với tư cách một con người trong mỗi hoàn cảnh Đến tuổi này thì tôi hài lòng với những gì đã trải qua, đã làm được và bằng lòng với cả những gì chưa làm được…” [11, 22]

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác

1.2.2.1 Ma Văn Kháng - nhà văn của gia tài sáng tác đồ sộ

Nhà văn Ma Văn Kháng chia sẻ rằng, thực ra, văn chương đến với ông cũng là một sự tình cờ Ngày bé ông thích văn, đã viết tham gia các cuộc thi của nhà trường nhưng không nghĩ mai này sẽ là nhà văn Lớn hơn một chút, trong thâm tâm ông bắt đầu tâm niệm mình sẽ phải viết

Ma Văn Kháng là một trong số người có tốc độ viết nhiều nhất trong

số những nhà văn thế hệ ông Dường như ít thấy ông ở những cuộc trà dư tửu hậu, những cuộc xôm tụ bạn bè, mà chỉ thấy ông tranh thủ từng giây khắc của cuộc đời để cần mẫn gieo trồng trên cánh đồng chữ nghĩa Nói về điều này, nhà văn Ma Văn Kháng khiêm tốn tự nhận mình là người cần cù, chịu khó và vẫn giữ được ngọn lửa men say trong cảm xúc Bởi vì, văn chương là thứ mà ông đã sống với nó, chết với nó nên ngày nào còn sức khỏe, là ông còn đọc, còn viết Rồi ông bảo, thực sự thì văn chương cũng mang lại cho ông nhiều thứ Từ ngày khốn khó sống bằng nhuận bút, đến xây nhà dựng cửa cũng có phần của nhuận bút, đến tự cứu mình bằng việc mổ tim đặt stant động mạch vành cũng là tiền nhuận bút bao năm tích cóp

Gia tài văn chương của ông cho đến hết năm 2013 có khoảng 200 truyện ngắn, 17 cuốn tiểu thuyết, một cuốn hồi ký, một tập bút ký- tiểu luận phê bình Trong số này, có nhiều cuốn viết về đồng bào dân tộc thiểu số và

miền núi như: Xa phủ (1969), Bài ca trăng sáng (1972), Góc rừng xinh xắn (1972), Người con trai họ Hạng (1972), Mùa mận hậu (1972), Cái móng

ngựa (1973), và các tiểu thuyết như: Gió rừng (1976), Đồng bạc trắng hoa xòe (1978), Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Vùng biên

Trang 25

ải (1983), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời

(1989), Gần đây trong hai năm từ năm 2010- 2011, ông vừa cho ra mắt độc

giả liên tiếp ba cuốn tiểu thuyết Một mình một ngựa, Bóng đêm và Bến bờ Và năm 2013 ông có tiểu thuyết Chuyện của Lý Có người bảo tiểu thuyết

Chuyện của Lý là cuốn sách cuối cùng của lão nhà văn này Nói là vậy, ai

dám chắc được với niềm đam mê văn chương, sức lao động bền bỉ, dẻo dai và nghiêm túc, biết đâu ông vẫn còn tiếp tục cho ra lò những cuốn sách mà ông tâm đắc từ lâu đang được gấp rút hoàn thành

Với số lượng tác phẩm văn chương khá đồ sộ như vậy, nhà văn Ma Văn Kháng đã từng nhận được nhiều giải thưởng quan trọng, như truyện ngắn

Xa phủ đoạt giải nhì của tuần báo văn nghệ 1968 - 1969 Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn được xem là cuốn tiểu thuyết viết về gia đình xuất sắc nhất

của ông được tặng giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1985

Tập truyện Trăng soi sân nhỏ nhận tặng thưởng của Hội đồng Văn xuôi Nhà

văn Việt Nam năm 1995 và giải thưởng văn học Đông Nam Á 1998 Truyện

ngắn San cha chải nhận giải thưởng “Cây bút vàng” cuộc thi truyện ngắn và

ký 1996 - 1998 do Bộ Công an và Hội Nhà văn đồng tổ chức Năm 2001, Ma Văn Kháng được vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật

với cụm tác phẩm: Đồng bạc trắng hoa xòe, Mùa lá rụng trong vườn

1.2.2.2 Ma Văn Kháng - nhà văn mang phong cách riêng

So với các nhà văn đàn anh người dân tộc thiểu số như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Cầm Biêu,… và các đàn anh dân tộc Kinh như Nguyễn Tuân và Tô Hoài, điểm xuất phát đến với văn chương của Ma Văn Kháng cao hơn, khi ông là sinh viên Ngữ văn của trường đại học Sư phạm Hà Nội Đấy

là một lợi thế rất đáng kể trên con đường văn nghiệp của ông sau này Cũng như Nguyễn Tuân và Tô Hoài, ông không phải là người dân tộc thiểu số, nên

dễ mắc nghiện bản sắc văn hóa của đồng bào cũng là điều dễ hiểu Còn so với

Trang 26

các thế hệ các nhà văn đi sau là người dân tộc thiểu số như Y Phương, Mai Liễu, Dương Thuấn, Cao Duy Sơn, Inrasara, thì thầy giáo trẻ Đinh Trọng Đoàn lại có lợi thế so sánh ở bề dày kinh nghiệm, đặc biệt là thời gian tuổi trẻ ông từng bôn ba hơn 20 năm cùng với đồng bào các dân tộc thiểu số Vì vậy, tác phẩm nào của ông cũng để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc và gặt hái được nhiều thành công xuất sắc đưa ông lên vị trí là nhà văn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại Ma Văn Kháng không chỉ khẳng định tài năng của mình với số lượng tác phẩm văn học đồ sộ mà hơn hết là những sáng tác của ông có giá trị lớn thấm nhuần tư tưởng nhân văn, triết lý, đạo lý ở đời một cách sâu sắc Những tác phẩm của ông dù thuộc đề tài miền núi hay

đô thị cũng đều khám phá tận cùng bản chất cuộc sống và khai thác hết mọi góc cạnh của con người nên người đọc có cảm giác được đi sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc đời, hiểu sâu về cuộc sống con người với muôn hình muôn vẻ với những xô bồ hỗn độn của nó Ma Văn Kháng còn được coi là “người đi tiền trạm” cho đổi mới văn học Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của Ma Văn Kháng đã "nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật", từ đó tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học Ông cũng là một trong số các nhà văn Việt Nam hiện đại sáng tác thành công ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết

Có thể phân chia sáng tác của ông thành ba thời kì Thời kì đầu là

những sáng tác mang tính sử thi, với các tác phẩm tiêu biểu là Đồng bạc trắng

hoa xòe, Vùng biên ải Tư tưởng nhân văn được thể hiện ngay trong những

tác phẩm của ông trong thời kì đầu Có thể thấy điều đó qua tác phẩm Đồng

bạc trắng hoa xòe Trong tác phẩm, Ma Văn Kháng hiểu thấm thía một hiện

tượng cuộc sống đặc biệt đến quái dị là chế độ thổ ty phong kiến thế tập phiên thần đã tồn tại hàng trăm năm ở đây Tác giả đã tái hiện một giai đoạn lịch sử ngắn ngủi nhưng rắc rối vào bậc nhất của cách mạng Việt Nam được tiến

Trang 27

hành trên một vùng núi phong kiến thế tập phiên thần nghèo nàn và lạc hậu, đặt trong bối cảnh lịch sử ngàn cân treo sợi tóc của dân tộc

Ở thời kì thứ hai, ông chú ý tới những sáng tác thế sự - đời tư, với các

tiểu thuyết như Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Ngược dòng nước lũ,

Đám cưới không có giấy giá thú, bắt đầu từ giữa những năm 80 của thế kỉ

trước Sau 1986, văn học từ cảm hứng sử thi chuyển sang cảm hứng thế sự,

Ma Văn Kháng không là ngoại lệ của xu thế đó Ông đã vững bước trên đường đổi mới với những cảm hứng mới, tâm thế mới và bút lực ngày càng mạnh mẽ Sự nghiệp đổi mới văn học đã được khẳng định trong đó có đóng góp tích cực của cây bút điềm đạm mà quyết liệt, bình tĩnh chọn lựa, kiên định trước những chao đảo, nhiễu loạn của văn đàn khi không tránh khỏi những xu thế cơ hội và vụ lợi của cơ chế thị trường và mở cửa văn hóa hội nhập toàn cầu Ma Văn Kháng trải qua quá trình đổi mới với những nhọc nhằn nhưng can đảm và nhẫn nại Nhà văn là một minh chứng cho thái độ chừng mực, ôn hòa mà kiên cường, khí phách Nhà văn đã nhìn hiện thực cuộc đời với cái nhìn mới nhiều chiều để thấy cả bề mặt lẫn bề sâu với tất cả quan hệ ngổn ngang, chồng chéo, phức tạp của nó Con người là đối tượng để khám phá không còn và không thể được quan niệm như trước Đó là con người trong mối quan hệ đa chiều lịch sử, xã hội, gia đình và với chính mình,

là con người trong tính toàn vẹn, phong phú và phức tạp, có hạnh phúc lẫn khổ đau, có cao cả lẫn thấp hèn, bóng tối lẫn ánh sang.Với Ma Văn Kháng, con người, đó là một luận đề lớn ngày càng được nhận thức, chiêm nghiệm với chiều sâu triết học, xã hội học, văn hóa học và tâm lý học Có thể lấy ví

dụ bằng Mùa lá rụng trong vườn - một tiểu thuyết của nhà văn Ma Văn

Kháng, hoàn thành vào tháng 12 năm 1982 và được xuất bản lần đầu vào năm

1985 Lấy bối cảnh một gia đình truyền thống vào những năm 80 của thế kỉ

XX, khi đất nước bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ sau chiến

Trang 28

tranh, gây ra nhiều thay đổi tốt có, xấu có; truyện đã phản ánh chân thực những biến động trong xã hội thời bấy giờ và những ảnh hưởng to lớn của nó tới gia đình - tế bào của xã hội Truyện đã giành giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986

Và thời kì thứ ba có thể nói là giai đoạn tác giả đi ngược trở lại quá khứ, hồi tưởng về quá khứ, bắt đầu từ những năm đầu thế kỉ XXI với cuốn hồi

kí Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương, tiểu thuyết Gặp gỡ ở La

Pan Tẩn, Một mình một ngựa Một mình một ngựa là câu chuyện của một

nhân vật mang tên Toàn chuyển đổi môi trường sống, từ một cán bộ trong ngành giáo dục được tổ chức điều động trở thành thư kí riêng cho bí thư tỉnh

ủy một tỉnh miền núi Cuốn sách mang tính tự truyện rõ rệt Ở tiểu thuyết Một

mình một ngựa câu chuyện được kể lại kết hợp lời kể của một nhân vật văn

học vừa là lời của chính tác giả, kẻ lẩn mặt, cố tình không xưng tôi để kể lại câu chuyện của mình

Suốt 50 năm miệt mài cầm bút, nhà văn Ma Văn Kháng đã để lại dấu

ấn riêng biệt trong tâm trí nhiều thế hệ độc giả Đồng thời, nhiều tác phẩm của ông đã cắm những dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn học

Ma Văn Kháng giờ đã ở tuổi 76 tuổi song ông vẫn lao động chữ nghĩa, vẫn có bạn đọc Bên cạnh ông luôn có những người yêu mến, những người bạn tri âm Nhìn ông làm việc, nhìn ông được đón nhận thành quả, nhìn ông lắng nghe nghiêm cẩn và cầu thị, nhiều người ước ao, đến tuổi ấy mà được như vậy thật chẳng gì bằng Tên tuổi của ông vẫn còn sức sống với thời gian

và những tác phẩm của ông vẫn luôn sống mãi trong lòng bạn đọc

1.3 Vị trí của tiểu thuyết Ma Văn Kháng

1.3.1 Các đề tài nổi bật

Toàn bộ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn chung được sáng tác theo hai mảng đề tài lớn với hai cảm hứng chủ đạo: Đề tài về dân tộc miền núi với cảm hứng sử thi và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư

Trang 29

Viết về đề tài miền núi, ông tập trung đi vào khám phá, phản ánh cuộc đấu tranh của đồng bào các dân tộc thiểu số, về hiện thực cuộc sống lao động

và chiến đấu của người dân miền núi Tây Bắc Trải qua 22 năm công tác, giảng dạy ở vùng dân tộc, Ma Văn Kháng hiểu rõ được đời sống của đồng bào dân tộc miền núi mà nhất là vùng đất Lào Cai nơi ông công tác Đó là cuộc sống còn nhiều gian nan, khó khăn còn nhiều vết tàn dư của những quan niệm, phong tục lạc hậu Ông là người chứng kiến những biến động to lớn trong đời sống chính trị - xã hội cũng như cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa cái mới và cái cũ Đó là cuộc cách mạng có tính chất rộng lớn không riêng gì đồng bào dân tộc Lào Cai mà còn là cuộc đấu tranh chung của đồng bào các dân tộc Tây Bắc Mỗi con người, từ già đến trẻ đều có một mảng đời, một biến cố, một bước ngoặt liên quan đến cuộc đấu tranh có tính chất chuyển đổi của “thời kỳ bão táp dữ dội đó”

Viết về đề tài miền núi, Ma Văn Kháng còn muốn lột tả thế vươn vai đứng dậy đổi đời của những con người cách mạng núi rừng Sống cùng đồng bào dân tộc, tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng của ông đã thấm thía và thấu hiểu một cách sâu sắc “lịch sử đớn đau trầm luân, khổ ải cùng khát vọng mãnh liệt

và sức mạnh tiềm ẩn muốn vươn lên tự giác, giải phóng thoát ra khỏi ràng

buộc áp bức của họ” [11, 56] Điều đó có thể thấy rõ qua tiểu thuyết Đồng

bạc trắng hoa xòe được xuất bản năm 1979 Đây là cuốn tiểu thuyết tái hiện

lại một giai đoạn lịch sử ngắn ngủi nhưng rắc rối của cách mạng Việt Nam

“một cuộc cách mạng tiến hành trên một vùng núi phong kiến thế tập phiên thần, nghèo nàn và lạc hậu trong cái không gian tỉnh biên giới Lào Cai hỗn

loạn, rối ren” [9, 12] Tiếp sau Đồng bạc trắng hoa xòe là tiểu thuyết Vùng

biên ải (1983), là cuốn tiểu thuyết tái hiện lại cuộc đấu tranh căng thẳng, ác

liệt giữa các lực lượng cách mạng và phản cách mạng ở vùng biên giới phía bắc, là cuộc đấu tranh tự giải phóng của đồng bào dân tộc miền núi Ma Văn

Trang 30

Kháng đã tâm sự: “Tôi viết Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải trong cảm

hứng của cơn vò xé tâm hồn rất nhiều trước lịch sử đau thương và bi hùng của một dân tộc” [9, 13]

Ở đề tài miền núi, ông đã có nhiều tác phẩm xuất sắc ghi thêm danh sách vào những nhà văn viết về miền núi hay cùng với Tô Hoài, Nguyên Ngọc Nhưng ông thành công hơn cả và gặt hái được nhiều thành tựu lớn là ở mảng đề tài đô thị Ở đề tài này ông quan tâm đến đời sống đô thị với những ngột ngạt, ngổn ngang của đời sống thời kỳ đổi mới Ông đã hướng ngòi bút của mình vào tất cả những vấn đề đời tư, thế sự và các khía cạnh của đời sống con người hiện đại; tình yêu, tình dục, hôn nhân, hạnh phúc, bi kịch con người đều được ông khai thác một cách triệt để, sâu sắc nhất

Năm 1982 ông cho ra đời cuốn tiểu thuyết Mưa mùa hạ Đây là cuốn

tiểu thuyết đánh dấu bước chuyển mình của nhà văn từ đề tài miền núi chuyển

sang đề tài thành thị Mưa mùa hạ tái hiện lại cuộc đấu tranh giữa con người

với thiên tai, thể hiện cuộc đụng độ giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái cao cả và cái thấp hèn Hình ảnh con đê Nghĩa Lộc mang tính chất ẩn dụ ngày đêm phải đương đầu với sự đục khoét của họ hàng nhà mối Khi mùa lũ đến phải chịu

tích cực và cái tiêu cực đang tồn tại, tiếp diễn trong đời sống xã hội như một vấn nạn Trong cuộc đấu tranh ấy, dẫu cái cũ, cái xấu chưa hoàn toàn triệt tiêu song đã tạo tiền đề mở đường cho cái tốt, cái đúng được khẳng định, được chiến thắng

Sau chiến tranh, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiều quan điểm và giá trị đạo đức truyền thống đang có nguy cơ bị bào mòn, xem nhẹ Nhận thấy rõ được sự biến đổi sâu sắc đó, Ma

Văn Kháng cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn

(1985) và ngay từ khi ra đời nó đã được đông đảo bạn đọc đón nhận và bàn

Trang 31

luận sôi nổi Mùa lá rụng trong vườn xoay quanh chủ đề gia đình, những

chuyện liên quan mật thiết đến đời sống hàng ngày trong sự quan hệ, ứng xử giữa các thành viên gồm nhiều thế hệ Trong đó, vấn đề lớn được quan tâm, phản ánh là thái độ sống, ý thức sống của mỗi thành viên trước những tác động nhiều mặt của đời sống kinh tế thị trường Sự cảnh tỉnh về những giá trị đạo đức truyền thống đang có nguy cơ bị bào mòn, bị xâm thực bởi những giá trị vật chất Xung quanh vấn đề gia đình, tác phẩm còn đề cập đến sự vận động, phát triển tính cách cá nhân trong quan hệ nhiều mặt với đời sống xã hội, sự quan tâm tới số phận của mỗi cá nhân trong cuộc sống giao thời hiện nay Lối sống thực dụng, ích kỷ cùng với những dục vọng thấp hèn coi đồng tiền là trên hết, bất chấp mọi chuẩn mực, mọi giá trị đạo đức đang hình thành

và có nguy cơ lấn át giá trị truyền thống Tác giả Trần Đăng Xuyền nhận

định: “Mùa lá rụng trong vườn là tác phẩm đã khơi được vào dòng chảy của

cuộc sống chúng ta hôm nay, đã lẫy ra được một mảng tươi nguyên của cuộc sống đó, gợi cho ta bao suy nghĩ về nó, lo lắng, băn khoăn về nó và cũng hy vọng, tin yêu ở nó Từ đó đặt ra cho mỗi chúng ta một thái độ sống, một trách

nhiệm sống” [59, 18] Với giá trị đó, năm 1985, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong

vườn được tặng giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam

Cũng trong giai đoạn này, ông cho xuất bản tập truyện ngắn Ngày đẹp

trời Năm 1988, nhà xuất bản Phụ nữ cho xuất bản cuốn Trái chín mùa thu

Năm 1989, tiểu thuyết Đám cưới không giấy giá thú ra đời đã tạo ra

một cuộc tranh luận sôi nổi, dài dòng trên báo chí và ở bàn hội nghị Đây là tiểu thuyết có tính luận đề sâu sắc, xung quanh về đề tài người trí thức, tác giả

đã đề cập đến những vấn nạn của tình hình giáo dục nói chung, tình trạng tha hóa của một bộ phận giáo viên nói riêng Đặc biệt, tác phẩm đã đề cập trực tiếp đến vấn đề nhân cách của người thầy giáo trong cơ chế thị trường Đó là

Trang 32

thói vô liêm sỉ, đạo đức giả, lợi dụng chức quyền, kết bè kéo cánh trù dập những người trí thức chân chính

Cũng trong năm 1989, Ma Văn Kháng cho phát hành tiểu thuyết Côi

cút giữa cảnh đời, đây là tiểu thuyết viết về đề tài gia đình nhưng hơn hết nó

là tác phẩm dành cho thiếu nhi, là tác phẩm mà nhà văn tâm đắc nhất Ma Văn

Kháng đã từng tâm sự: “Côi cút giữa cảnh đời là cuốn sách tôi viết về gia

đình mình Trong đó có hình ảnh mẹ tôi, một người mà tôi luôn yêu thương kính trọng và không cầm được nước mắt khi nghĩ đến” [9, 19]

Năm 1999, tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ xuất hiện tạo nên làn sóng

tranh luận sôi nổi của giới nghiên cứu và độc giả yêu văn học Đây là cuốn tiểu thuyết được thực hiện với một bút pháp phóng túng hơn so với những sáng tác trước đó Nó tạo điều kiện cho ngẫu hứng, cho cái tự nhiên của đời thường và thế giới tâm linh, cái thực của tâm trạng của con người được phát triển Một trong những mạch chính của truyện là mối tình ghềnh thác, trắc trở của Khiêm và Hoan Xoay quanh cuộc đời của hai nhân vật là những vấn đề của đạo đức nhân sinh Cách viết sáng tạo đan xen tài tình giữa thực và ảo, giấc mơ và hiện tại, ý thức và tiềm thức, hiện thực và lãng mạn, ngợi ca và phê phán đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật của tiểu thuyết Là cuốn tiểu thuyết gây chú ý nhất năm 1999 “vừa thú vị vừa có nhiều điều đáng bàn lại”

Năm 2009, Ma Văn Kháng lại làm nên cơn chấn động dữ dội, ngạc

nhiên cho độc giả với cuốn tiểu thuyết Một mình một ngựa (2009) với giải

thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội Theo tâm sự của nhà văn thì đây là cuốn tiểu thuyết ông viết về lớp cán bộ lãnh đạo, những người đã cộng tác cùng nhà văn ở miền núi Đây là cuốn tiểu thuyết có dáng dấp một cuốn tự truyện của

tác giả Một mình một ngựa, hình tượng đầy cảm hứng kiêu hùng đó đồng thời

đã hàm chứa ở trong nó mặc cảm cô đơn của mỗi đời người trong cuộc sống vốn là sản phẩm của tạo hóa mang sự hòa trộn hữu cơ giữa vẻ đẹp anh hùng

Trang 33

cao cả lãng mạn phi thường với thói đời nhỏ nhặt, tầm thường, thậm chí đê tiện xấu xa… Chủ đề ấy của tiểu thuyết được thực hiện bằng một nghệ thuật trần thuật có dụng ý phác thảo một loạt chân dung một lớp người - một thế hệ cán bộ ở một thời điểm nhất định của đất nước, những tính cách giàu tính chân thực, sinh động như một đính chính những ngộ nhận về họ ở cả hai phía

cực đoan” Một mình một ngựa cũng là tiểu thuyết được hội đồng chung khảo

biểu dương là một cuốn sách thể hiện được sự vững vàng về kỹ thuật và nghệ thuật tiểu thuyết

Gần đây nhất, năm 2013, tác giả lại cho ra đời tiểu thuyết Chuyện của

Lý Tiểu thuyết kể về cô bé tên Lý Tuy cuộc sống của cô gặp nhiều điều

không may nhưng cô lại được sống trong tình yêu của cha mẹ và sớm hình thành cá tính riêng làm mọi người ngưỡng mộ

Như vậy, tính từ tác phẩm đầu tay cho đến tác phẩm cuối cùng, Ma Văn Kháng không chỉ thể hiện tài năng của mình ở số lượng lớn tác phẩm mà hơn hết đó là những tác phẩm của ông đều có giá trị và được đánh giá cao Từ những sáng tác về đề tài miền núi cho đến những sáng tác mang cảm hứng đời

tư thế sự sau này đã thực sự đưa Ma Văn Kháng trở thành một hiện tượng trên văn đàn văn học Việt Nam và là nhà văn có công mở đường cho sự nghiệp đổi mới văn học

1.3.2 Những đóng góp chính

Qua từng tiểu thuyết, Ma Văn Kháng liên tục gặt hái được những thành tựu đáng kể Ở đề tài nào ông cũng có những tác phẩm có giá trị, thu hút được

sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu, phê bình văn học Trong đó có

những tác phẩm được giải thưởng trong nước, quốc tế Ngoài Mùa lá rụng

trong vườn được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1984, Ma Văn Kháng còn

vinh dự nhận được giải thưởng văn học Đông Nam Á (1998) và giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2001) Có thể nói các giải thưởng cùng con

Trang 34

đường sáng tác gần nửa thế kỷ đã khẳng định vị thế của ông trong lòng độc giả cũng như trong đời sống văn học

Ma Văn Kháng là nhà tiểu thuyết viết đều, viết khỏe và thành công ở thể loại tiểu thuyết Với chặng đường gần 50 năm trong cuộc đời văn nghiệp của mình, Ma Văn Kháng đã có một gia tài đồ sộ về sáng tác tiểu thuyết Trong số đó có rất nhiều tác phẩm ngay từ khi ra đời đã trở thành tâm điểm chú ý của dư luận và trở thành đề tài tranh luận phê bình của các nhà nghiên cứu, tạo nên hiệu ứng tích cực trong đời sống văn học Việt Nam đương đại

Về mặt nội dung, đọc các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, chúng ta thấy

Ma Văn Kháng quan tâm nhiều đến hiện thực của cuộc sống Tất cả những hiện thực của cuộc sống đều được ông phơi bày trên trang văn một cách tường tận, cụ thể Ở mỗi khía cạnh của hiện thực cuộc đời, mỗi góc khuất của tâm hồn con người ông đều thể hiện một cái nhìn, một quan niệm mới Trong tác phẩm của ông, hiện thực được phản ánh một cách chân thật mà gần gũi, ông viết về gia đình với những số phận cá nhân, những mảnh đời trong những mối quan hệ gia đình, anh em, xã hội; viết về bi kịch của người trí thức, ông đều thể hiện một văn phong điêu luyện, một tâm hồn đồng cảm của nhà văn đối với con người và thân phận của họ

Tác giả Trần Đăng Xuyền, trong bài viết “Một cách nhìn cuộc sống

hôm nay” đăng trên báo Văn nghệ số 15 - 19 - 1983 đã đưa ra nhận định xác đáng về tiểu thuyết Mưa mùa hạ: "Giá trị của Mưa mùa hạ không chỉ là

chỗ mạnh dạn lên án cái tiêu cực mà chủ yếu là xây dựng được cách nhìn, thái độ đúng đắn trước những cái xấu, trước những bước cản đi lên Chủ nghĩa xã hội" [58, 56]

Sau Mưa mùa hạ, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn xuất hiện Đó là

cuốn tiểu thuyết biểu hiện cho xu thế văn học đang vươn tới những vấn đề cốt yếu như nhìn thẳng vào cuộc sống của những gia đình với mỗi người

Trang 35

Nói về cái nhìn của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết Đám cưới không

có giấy giá thú, trong bài viết: "Đọc Đám cưới không có giấy giá thú” của Lê

Ngọc Y, tác giả đã nhận thấy "Bằng cách nhìn tinh tế vào hiện thực đời sống tác giả đã mô tả những người giáo viên sống và làm việc gặp quá nhiều khó khăn Những vui buồn của thời thế đã phản ánh vào những trang tiểu thuyết trở nên sống động" [tr13] Từ đó, tác giả nhấn mạnh Ma Văn Kháng đã có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo nên không bị thói xấu, cái bất bình thường vốn nảy sinh trong xã hội đang vận động lấn át, hoặc chỉ thấy một chiều này u ám mà không thấy chiều khác đầy nắng rực rỡ

Xét về mặt nghệ thuật, với sự đóng góp của mình, Ma Văn Kháng được coi là một trong những người có thành tựu đáng kể trong quá trình đổi mới tư duy tiểu thuyết, tìm hướng đi mới trong sự sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là sự sáng tạo về ngôn ngữ

1.4 Nhìn chung về tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng

1.4.1 Khái niệm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi

Đầu tiên, ta phải hiểu văn học cho thiếu nhi là gì? Từ điển thuật ngữ

văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi chủ biên (Nxb

Giáo dục - 1992) đã viết: “Theo nghĩa hẹp, văn học thiếu nhi gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi” [4, 353] Tuy vậy trên thực tế, khái niệm văn học thiếu nhi không bó hẹp như vậy, nó còn bao gồm một phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho

người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của thiếu nhi như: Đôn Kihôtê của M Xecvantex, Roobinxơn Cruxô của Đêphô, Gulivơ du ký của Gi Xuypt,

Xpactac của R Goovahihôli, Túp lều bác Tôm của Bichơ Xtâu v.v…

Khoảng thế kỷ XIV - XVI tại châu Âu, đã có một bộ phận sáng tác văn học dành riêng cho thiếu nhi, những cuốn sách đầu tiên thuộc loại này là những cuốn sách có nội dung giáo khoa và đạo lí thường là sách học vần, sách

Trang 36

bách khoa, sách về các quy tắc ứng xử trong xã hội Tính giáo huấn được người ta coi là những đặc điểm quan trọng của văn học thiếu nhi bởi vậy cho đến giữa thế kỷ XIX những tác phẩm viết dành riêng cho thiếu nhi vẫn nằm ngoài phạm vi của văn học Trong khi đó những tác phẩm văn học viết cho người lớn lại đi vào phạm vi đọc của trẻ em nhất là thể loại truyện cổ tích hoặc một số tiểu thuyết thuộc thể loại phiêu lưu

Tới thế kỷ XX, văn học thiếu nhi phát triển khá đa dạng và pha tạp Ở nhiều nước phát triển, nó ít nhiều còn bị chi phối bởi xu hướng thương mại, bị pha trộn với sự bành trướng của văn học đại chúng

Ở Việt Nam, tới thế kỷ XX mới xuất hiện văn học thiếu nhi Cho tới nay đã có sự phát triển phân nhánh Văn xuôi cho thiếu nhi đã hình thành các loại như: Truyện sinh hoạt, truyện cổ tích, sáng tác hiện đại theo lối cổ tích, truyện lịch sử, truyện loài vật Thơ cho thiếu nhi cũng thường viết theo các loại như: sinh hoạt, dựa vào đồng dao, cổ tích, lịch sử, loài vật mà sáng tạo

Như vậy, tiểu thuyết viết cho thiếu nhi là những tác phẩm tự sự viết bằng văn xuôi với dung lượng lớn với đối tượng hướng đến là trẻ em Trẻ em không chỉ là đối tượng miêu tả mà còn là đối tượng tiếp nhận Hình ảnh cuộc sống, cốt truyện, nhân vật, chi tiết, trong tác phẩm dù phong phú mấy cũng phải hướng tới bồi đắp cho tâm hồn trẻ Có những tác phẩm xuất hiên nhân vật trẻ em nhưng tư tưởng truyện lại không hướng tới giáo dục trẻ, không coi trẻ là đối tượng tác động thì cũng không gọi là tiểu thuyết cho thiếu nhi

Ngoài ra, cũng cần phân biệt cụm từ “viết cho thiếu nhi” và “viết về thiếu nhi” “Viết cho” là chuyển tác phẩm thuộc sở hữu của nhà văn sang thành của người khác mà không đổi lấy gì cả Chính vì thế cụm từ “Viết cho thiếu nhi” đối tượng nhắm đến là thiếu nhi, chịu tác động là thiếu nhi, ảnh hưởng của tác phẩm cũng là thiếu nhi Còn cụm từ “viết về thiếu nhi” phạm vi của nó là thiếu nhi, trong nội hàm của phạm vi vẫn bao gồm đối tượng chịu sự tác động và ảnh hưởng

Trang 37

Tiểu thuyết cho thiếu nhi cũng giống như tác phẩm văn xuôi cho thiếu nhi nói chung, nó phải chú ý tới tâm sinh lí của các em Lứa tuổi nhỏ có những đề tài, cách hiểu và diễn đạt khác người lớn Phong Lê cho rằng: “Rõ ràng, không phải một sáng tác hay nào cho người lớn, các em cũng ham đọc; nhưng bất kì sáng tác nào hay cho trẻ em cũng đều nhanh chóng trở thành của chung cho mỗi người là vì trong những câu chuyện trẻ em kia hàm chứa biết bao điều lớn lao mà bất cứ ai đều quan tâm.” [20, 29] Đó chính là cách ứng

xử trong tình bạn, thầy cô, trong quan hệ cha mẹ và con cái, trong ảnh hưởng của môi trường với trẻ nhỏ, Tác phẩm hấp dẫn là tác phẩm thể hiện chân thực nhất tính cách, tâm hồn các em mà vẫn đảm bảo tính giáo dục, tinh thần nhân bản Ngôn từ phải trong sáng, dễ hiểu Kết cấu tác phẩm rõ ràng, không mang tính đánh đố như các tiểu thuyết đương đại

Tuy nhiên, điều này không phải thời điểm nào trong lịch sử văn học Việt Nam cũng được thể hiện đầy đủ Tuy tiểu thuyết cho thiếu nhi cũng đã được quan tâm từ xưa, song nhìn chung đề tài, nội dung còn khô cứng, chưa phong phú Trước 1975, tiểu thuyết chủ yếu xoay quanh tinh thần yêu nước, ý thức cách mạng Điều đó là dễ hiểu do ảnh hưởng của tình hình đất nước, song thực tế, nó không phản ánh được đúng đắn, chân thực sự ngây thơ, hồn nhiên của tuổi các em Trong khoảng 10 năm sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiểu thuyết cho thiếu nhi tuy có dấu hiệu mới nhưng chưa tạo được biến chuyển rõ rệt Môi trường hoạt động của trẻ được phản ánh trong tác phẩm chưa rộng rãi Chủ yếu vẫn chỉ trong đời sống cách mạng, chiến đấu và gắn

với các vấn đề đạo lí xã hội Một số tác phẩm có đổi mới như Hành trình

ngày thơ ấu của Dương Thu Hương lập tức bị công kích Từ năm 1986, văn

học nói chung và tiểu thuyết cho thiếu nhi mới có sự đổi mới thực sự với sự

mở rộng đề tài phù hợp với trẻ em; đổi mới cách tiếp cận đời sống và tăng cường sự khám phá tâm lí trẻ thơ

Trang 38

1.4.2 Nhìn chung về tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng

Ma Văn Kháng là nhà văn có nhiều tác phẩm xuất sắc dành cho người lớn nhưng ít ai biết đến ông còn rất thành công khi viết về thế giới trẻ em Tiểu thuyết viết cho thiếu nhi là một trong những mảng rất thành công của

Ma Văn Kháng

Khi viết về thiếu nhi, nhà văn luôn dành những tình cảm yêu thương, trân trọng nhất Ngoài phản ánh về cuộc sống với những lo toan bộn bề của người lớn ông còn quan tâm đến những số phận trẻ em trong cuộc sống đầy ngổn ngang biến động Ma Văn Kháng tâm sự rằng: “Viết cho thiếu nhi quan trọng không chỉ là viết cái gì ? mà là viết như thế nào? Mà viết như thế nào lại quan hệ đến tân hồn người viết Tôi ao ước ngoài cái duyên với chữ nghĩa và con trẻ ra, tâm hồn mình lúc nào cũng tươi mát, trong sáng và dào dạt tình yêu với cuộc đời với con người” [14, 9] Khi viết về trẻ em ông luôn dành cho nhân vật của mình sự quan tâm sâu sắc, sự chia sẻ và tình cảm yêu thương trân trọng nhất Với một tâm sự như thế ông đã có những tác phẩm đặc sắc

viết về thiếu nhi Trong thể loại tiểu thuyết có thể kể đến: Côi cút giữa cảnh

đời, Chó Bi - đời lưu lạc, Chuyện của Lý

Tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời - tác phẩm mà nhà văn tâm đắc nhất

kể về ba bà cháu của cậu bé Duy Truyện được kể dưới cái nhìn của Duy khi cậu 15 tuổi Cậu tự nhìn lại 10 năm tuổi thơ của mình Ngây thơ, bé bỏng, vụng dại mà trí tuệ thông minh sắc sảo với một bản năng tự nhiên hướng về cái thiện mà trường đời là Thầy Và trường đời đối với bé Duy lại là những khổ đau, bất công và đắng cay Nhưng cái thiện ở Duy không nảy sinh ngẫu nhiên mà nó có sự ươm mầm ở những phía khác Đó là bà nội - như một nhân vật cổ tích; là đứa em còi cọc, đáng thương như một đòi hỏi che chở Và không ít gương mặt khác trong cuộc sống như là một điểm tựa cho con người Duy cho ta hình ảnh một sự chống chọi vượt lên bao đau khổ, oan khiên mà

Trang 39

không quá tầm với tuổi lên 10 mà không cường điệu giả tạo Từ bé Duy một câu hỏi đặt ra cho xã hội: bối cảnh nào, đất đai nào đã gieo trồng được những mầm cây ấy? Dứt khoát không phải là tiền bạc, sự giàu có, dư dật, sức mạnh quyền lực, thói ăn trên ngồi trốc, sự móc ngoặc và những liên minh ma quỷ

Và một chọn lựa cho số đông các bậc cha mẹ, hạnh phúc lớn nhất cho mỗi đơn vị gia đình, không thể là sự giàu sang, tiền tài mà là những đứa con nên

người, những đứa con như sự tiếp tục giữa cuộc đời Côi cút giữa cảnh đời

vừa mang dáng dấp của một cuốn tự truyện vừa có dấu ấn của truyện cổ tích Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết phân thành hai tuyến tốt - xấu và mang dáng dấp của nhân vật chức năng Đặc biệt là nhân vật người bà được tác giả xây dựng như một nhân vật cổ tích, người bà ở đây như là Bụt, là Tiên xuất hiện để cưu mang, nâng đỡ hai đứa trẻ côi cút, bơ vơ giữa dòng đời nghiệt ngã, nhiều ngang trái Và kết thúc của tiểu thuyết là kết thúc có hậu, người đọc không cầm nổi nước mắt Cuốn sách hướng về một cuộc sống diễn ra quanh ta với lôgich tự nhiên của nó và với sự tiếp nhận tự nhiên của từng người Trên cả vấn đề hiện thực cuộc sống, trên cả những bất hạnh, khổ đau của hai anh em Duy và Thảm là tình yêu thương, sự gắn bó chia sẻ giữa những con người với nhau Tác giả một lần nữa bộc lộ quan điểm, thái độ, tư tưởng của mình về

cuộc sống, con người theo hướng mới, hướng tích cực Trong Côi cút giữa

cảnh đời, ta thấy Ma Văn Kháng không lên giọng khuyên nhủ hoặc răn dạy

nhưng cũng không tỏ thái độ thờ ơ, khách quan, ông đứng giữa hai cực ấy để người đọc tự cảm nhận và chính vì thế tác phẩm mang một tiếng nói mới so với những sáng tác khác của ông kể cả những sáng tác trước và sau này Với cốt truyện dễ hiểu, cách kể chuyện truyền thống, tự nhiên xen kẽ các vai kể chuyện một cách linh hoạt, cuốn sách đã thực để lại xúc động mạnh và ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả cũng như giới phê bình nghiên cứu Phong Lê trong

cuốn Vẫn chuyện Văn và Người - Nhà xuất bản Văn hoá thông tin (1990) cho

rằng: "Cuốn sách của Ma Văn Kháng đã vục vào cái sự thật tối tăm oan khổ đó

Trang 40

như nhiều cuốn sách khác Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo những tình cảm nhân hậu tốt lành Có thể nói, đó là hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa Cái hiệu quả thanh lọc này vốn dành cho nghệ thuật và dường như cũng chỉ có nghệ thuật đích thực, nghệ thuật cao hơn cuộc đời mới có thể làm nổi”

[19, 11]… Hay trong bài viết “Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời”,

Phong Lê cũng nhận thấy: “Cuốn sách chất đầy những đau khổ, oan khiên lên thân phận ba bà cháu còm cõi, bơ vơ Cuốn sách mạnh mẽ đẩy ta vào giữa dòng sống hôm nay với cảm hứng lớn là cảm hứng sự thật với sự bất bình và khát vọng dân chủ, cũng đồng thời cho ta sự gắn nối với văn mạch truyền thống là chủ nghĩa nhân văn và tình yêu thương con người” Trong bài viết

“Một vài suy nghĩ khi đọc Côi cút giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng”, tác giả

Vũ Thị Oanh đã cho rằng: “Côi cút giữa cảnh đời - cuốn sách viết theo đề nghị

cho lứa tuổi sắp vào đời, không đề cương, không hợp đồng, được xuất bản bởi

sự hợp tác của Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà xuất bản Văn học là một cuốn sách tiêu biểu… viết cho lứa tuổi sắp vào đời nhưng tác giả không hề né tránh cái xấu, cái ác; những yếu tố tồn tại khách quan làm rõ thêm bức tranh cuộc sống với những cuộc đấu tranh thể hiện ở nhiều bình diện, sắc thái khác nhau

Đó là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác Tất cả được thể hiện bằng ngòi bút mềm mại, uyển chuyển, ngôn ngữ hóm hỉnh, phong phú sắc màu: kết cấu

có hậu kiểu truyện cổ dân gian của tác giả Ma Văn Kháng.” [29, 17]

Tiểu thuyết Chó Bi - đời lưu lạc lại kể về gia đình bé Toản với những

trắc trở như bám theo từng thành viên, mỗi người là một số phận đau khổ Gia đình hợp tan theo số phận đưa đẩy từng người Đến cuối truyện, cái khát khao sum họp ấy vẫn là kết mở trong tương lai Nhân vật đặc biệt trong truyện đi theo số phận lênh đênh của gia đình này là chú chó Bi - một chú chó khôn ngoan, kiên cường Nó lưu lạc theo các thành viên rồi vô tình đi theo ông bố của gia đình như định mệnh Chính nó nói lên nghị lực của các thành viên cũng như sự kết nối kì diệu của họ Lã Thị Bắc Lý trong bài viết “Đọc sách

Ngày đăng: 09/09/2021, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (biên soạn, 1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
2. Hòa Bình (2014) “Nhà văn Ma Văn Kháng: Biết sống đúng tư cách con người”, Báo Người lao động (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Ma Văn Kháng: Biết sống đúng tư cách con người"”, "Báo "Người lao động
3. Trần Cương (1985), “Mùa lá rụng trong vườn - một đóng góp mới của Ma Văn Kháng”, Báo Nhân dân chủ nhật ngày 6 tháng 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa lá rụng trong vườn" - một đóng góp mới của Ma Văn Kháng”, Báo "Nhân dân chủ nhật
Tác giả: Trần Cương
Năm: 1985
4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên, 1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
6. Nguyễn Thị Huệ (1998), Những dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi Việt Nam từ 1980 - 1986, Luận án tiến sĩ, Viện Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi Việt Nam từ 1980 - 1986
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Năm: 1998
7. Nguyễn Thị Huệ (1998), Tư duy mới về nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 80, Viện Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy mới về nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 80
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Năm: 1998
8. Ma Văn Kháng (1986), Mưu mùa hạ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mưu mùa hạ
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1986
9. Ma Văn Kháng (1989,“Ngẫu hứng tự do sáng tạo”, Tạp chí Văn học ( 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Ngẫu hứng tự do sáng tạo"”", Tạp chí "Văn học
10. Ma Văn Kháng (1995), Đám cưới không có giấy giá thú, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đám cưới không có giấy giá thú
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
11. Ma Văn Kháng (1999), Sống rồi mới viết, (Đặng Thanh Hương ghi, in trong Hồi ức Nhà văn Việt Nam, thế kỷ XX, tập 2), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống rồi mới viết", (Đặng Thanh Hương ghi, in trong "Hồi ức Nhà văn Việt Nam, thế kỷ XX
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1999
12. Ma Văn Kháng (1999), Chó Bi, đời lưu lạc, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chó Bi, đời lưu lạc
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
13. Ma Văn Kháng (2001), Côi cút giữa cảnh đời, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côi cút giữa cảnh đời
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
14. Ma Văn Kháng (2003), “Đôi điều thu nhận từ một bậc thầy văn chương”, Báo Văn nghệ (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều thu nhận từ một bậc thầy văn chương”, Báo "Văn nghệ
Tác giả: Ma Văn Kháng
Năm: 2003
15. Ma Văn Kháng (2003), Mùa lá rụng trong vườn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa lá rụng trong vườn
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
16. Ma Văn Kháng (2009), Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2009
17. Ma Văn Kháng (2013), Chuyện của Lý, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện của Lý
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2013
18. Phong Lê (1983), “Văn học những năm 80”, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học những năm 80"”", Tạp chí
Tác giả: Phong Lê
Năm: 1983
19. Phong Lê (1990), Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời; vẫn chuyện văn và người, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời; vẫn chuyện văn và người
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1990
20. Phong Lê (2005), “Trữ lượng Ma Văn Kháng”, Văn nghệ (20, 21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trữ lượng Ma Văn Kháng"”, Văn nghệ
Tác giả: Phong Lê
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w