1. Lí do chọn đề tài 1.1. Trong quá trình nghiên cứu văn học, tìm hiểu đặc điểm văn bản nghệ thuật của một tác giả theo góc nhìn diễn ngôn là một hướng tiếp cận vừa mang tính chuyên sâu vừa mang tính liên ngành, hiện nay đang được vận dụng khá phổ biến. 1.2. Trần Dần là một trong những tác giả thể hiện được cốt cách của mình trong cả đời sống và văn học nghệ thuật. Sinh thời, Trần Dần viết một số cuốn tiểu thuyết: Người người lớp lớp (in ngay sau giải phóng Thủ đô 1954), Sứa (1960, viết về xã hội loài kiến),...Những tác phẩm đều được đánh giá cao tạo trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Nó thể hiện sự chuyển mình và tìm tòi những hình thức nghệ thuật của tác giả. 1.3. Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu tiếu thuyết Trần Dần đại nhưng nghiên cứu diễn ngôn tiểu thuyết thì hầu như chưa có. Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đặc điểm tiểu thuyết Trần Dần dưới góc nhìn diễn ngôn nghệ thuật” với mong muốn góp phần giải mã một tác phẩm chứa đựng những điều mới mẻ trên nhiều phương diện, trong đó có diễn ngôn.
Trang 1MỤC LỤC
Mở đầu 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc luận văn 8
NỘI DUNG 9
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9
1.1 Tiểu sử và con người Trần Dần 9
1.2 Văn nghiệp của Trần Dần 15
1.3 Khái niệm diễn ngôn 23
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 DIỄN NGÔN KỂ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA 33
TRẦN DẦN 33
2.1 Khái quát về diễn ngôn kể 33
2.2 Người kể chuyện trong tiểu thuyết của Trần Dần 35
2.3 Một số đặc điểm cơ bản của diễn ngôn kể trong tiểu thuyết của Trần Dần 38
Tiểu kết chương 2 56
Chương 3 DIỄN NGÔN THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRẦN DẦN 557
3.1 Khái quát về diễn ngôn thoại 57
3.2 Hệ thống nhân vật trong diễn ngôn thoại 60
3.3 Một số đặc điểm cơ bản của diễn ngôn thoại trong tiểu của thuyết Trần Dần 62
Trang 2Tiểu kết chương 3 82
KẾT LUẬN 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 3Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong quá trình nghiên cứu văn học, chúng ta đã chú trọng tới ngônngữ nghệ thuật song chỉ chú ý tới tính thẩm mĩ của ngôn từ mà chưaquan tâm tới mối liên hệ giữa ngôn từ và ý thức xã hội Nghiên cứu ngônngữ văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng cần đi sâu vào tìm hiểu đặcđiểm ngôn ngữ một tác phẩm trong hoàn cảnh xã hội nhất định Để giảiquyết điều này, lí thuyết về diễn ngôn ra đời Ở đó, ta không chỉ nghiêncứu ngôn từ mà còn nghiên cứu các quy tắc tư tưởng xã hội chìm sâu chiphối quá trình sáng tác của nhà văn Khái niệm diễn ngôn đã làm thayđổi cách nhìn về ngôn ngữ Ngôn ngữ không chỉ là công cụ phản ánh màchính là nội dung Bởi vì thực tiễn diễn ngôn “nói” như thế nào khôngchỉ phụ thuộc vào ngữ học mà còn phụ thuộc vào hệ thống tri thức hợp
Trang 4thức và tính quyền lực của tri thức đó Văn học trong từng giai đoạn lịch
sử chỉ được kiển tạo theo những hệ tri thức nhất định Tìm hiểu đặc điểmvăn bản nghệ thuật của một tác giả theo góc nhìn diễn ngôn là mộthướng tiếp cận vừa mang tính chuyên sâu vừa mang tính liên ngành,hiện nay đang được vận dụng khá phổ biến Sự lựa chọn đề tài nghiêncứu của chúng tôi xuất phát từ định hướng khoa học đó
1.2 Trần Dần là một trong những tác giả thể hiện được cốt cách củamình trong cả đời sống và văn học nghệ thuật Ông sống giữa đời thì
“cứng cỏi ngay thẳng, không khoan nhượng với thế tục” (Trần VănToàn), sống trong nghệ thuật thì dấn thân theo cung cách của một nhàtiên phong đích thực Có lẽ cũng vì khí phách ấy mà cả con người lẫn tácphẩm của ông đều chịu không ít những hệ lụy, đắng cay Đến nay, khimột phần tác phẩm của ông đã bước ra ánh sáng, những tranh luận vềông vẫn chưa chấm dứt Những tác phẩm gần nửa thế kỉ có số phận là
“bản thảo nằm”, “tác phẩm trong ngăn kéo” được xuất bản đã gây nênmột cơn sốt trong văn chương Dù trải qua nhiều thăng giáng trong sốphận, nhưng theo thời gian, càng ngày người ta càng nhận ra vị trí quantrọng của “vị thủ lĩnh trong bóng tối” trong nền văn học Việt Nam hiệnđại Tác phẩm của ông đưa lại một nguồn mạch mới cho nền văn họcnước nhà Chính cái nguồn mạch mới này là một trong những lí do thuhút chúng tôi tìm hiểu đề tài này Sinh thời, Trần Dần viết một số cuốn
tiểu thuyết: Người người lớp lớp (in ngay sau giải phóng Thủ đô 1954), Sứa (1960, viết về xã hội loài kiến), Cổng tỉnh (1994), Những ngã tư và những cột đèn (1965 - 2011) Những tác phẩm đều được đánh giá cao
tạo trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Nó thể hiện sự chuyển mình
và tìm tòi những hình thức nghệ thuật của tác giả Đọc và hiểu được
Trang 5Trần Dần thực sự là một thách thức Đây cũng là một thử thách và độnglực hấp dẫn người viết tìm hiểu đề tài này.
1.3 Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu tiếu thuyết TrầnDần đại trên các phương diện thi pháp học, tự sự học, ngôn ngữ, phongcách nhưng nghiên cứu diễn ngôn tiểu thuyết thì hầu như chưa có.Việc nghiên cứu diễn ngôn tiểu thuyết Trần Dần giúp ta tìm hiểu phongcách thời đại, ý thức xã hội, cơ chể văn hóa, môi trường văn hóa của thời
kì, những nguyên tắc chi phối sáng tác trong từng giai đoạn của thể loạitiểu thuyết Từ đó, ta không chỉ cho ta thấy vẻ đẹp của ngôn ngữ tronghành chức của nó mà còn góp phần tìm hiểu những nỗ lực cách tân củatác giả Trần Dần trong một thể loại quan trọng của nền văn học
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đặc điểm tiểu thuyết của Trần Dần dưới góc nhìn diễn ngôn nghệ thuật” với mong
muốn góp phần giải mã một tác phẩm chứa đựng những điều mới mẻtrên nhiều phương diện, trong đó có diễn ngôn
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Về diễn ngôn
Việc nghiên cứu về diễn ngôn còn rất mới mẻ nhưng nó thu hútđược sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả bên ngôn ngữ học và vănhọc
2.l.1 Những ý kiến bàn về diễn ngôn trong nghiên cứu ngữ học và văn học
Quan niệm về diễn ngôn ở ta được giới thiệu sớm nhất trong lĩnh
vực ngữ học Có thể kể đến các công trình sau: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm, Văn bản và liên kết trong tiếng Việt của Diệp Quang Ban, Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp
Trang 6Quang Ban, Phân tích diễn ngôn- một số vấn đề lí luận và phương pháp
của Nguyễn Hòa… Bên cạnh các công trình biên soạn và nghiên cứu vềdiễn ngôn của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài đã được dịch ra tiếng
Việt như: Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của David Nunan, Phân tích diễn ngôn của Gillian Brown, George Yule… Nhìn chung, về cơ bản
trong ngôn ngữ học, nghiên cứu diễn ngôn chính là nghiên cứu ngôn ngữtrong việc thực hành chức năng giao tiếp của nó, nghiên cứu ngôn ngữđang hoạt động, ngôn ngữ sử dụng, trong ngữ cảnh
Quan niệm về diễn ngôn cũng được đề cập đến một cách rải ráctrong một số tài liệu của khoa nghiên cứu văn học Đầu tiên phải kể đếnnhững ý kiến bàn về diễn ngôn của các nhà nghiên cứu văn học nước
ngoài đã được dịch, giới thiệu như: Những vấn đề thi pháp DDosstoievxki và Lí luận thi pháp tiểu thuyết của M Bakhtin, Độ không của lối viết và Những huyền thoại của R.Barthes, Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ
20 của I.P.Lin, Logic học về các thể loại văn học của Kate Hambuger, Thi pháp văn xuôi và Dẫn luận về văn chương kì ảo của Tz Todorov…
Ngoài ra, cũng phải kể đến những công trình nghiên cứu về diễn ngôncủa các nhà nghiên cứu văn học trong nước, Ở mảng tư liệu này về cơbản, ta thấy chủ yếu là những bài viết nhỏ, lẻ giới thiệu quan điểm củacác nhà nghiên cứu diễn ngôn nước ngoài (chủ yếu là quan niệm củaM.Foucault) hoặc vận dụng quan điểm của tác giả đó để phân tích các
hiện tượng văn học Chẳng hạn như bài viết : Bản chất xã hội- thẩm mĩ của ngôn từ văn học của Trần Đình Sử, Những bậc tiên phong của tư duy hậu hiện đại của Phương Lựu, Diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi
hư cấu Viêt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 của Trần Văn Toàn, Thứ nhận diện diễn ngôn hậu thực dân qua thực tiễn văn học Việt Nam thời
Trang 7kì đổi mới của Đoàn Ánh Dương… Nhìn chung, những ý kiến bàn về
diễn ngôn này còn ở tình trạnh tản mạn hoặc chủ yếu ở dạng thực hànhphân tích
Trong nghiên cứu diễn ngôn ở tiểu thuyết, bài và công trình nghiêncứu chưa nhiều Những bài viết về vấn đề diễn ngôn của tiếu thuyết hiệnnay thì lại quá ít ỏi nếu không muốn nói là chưa có Có lẽ vì khái niệmdiễn ngôn (discourse) chưa được giới thuyết rõ ràng nên mỗi nhà nghiêncứu văn học lại hiểu theo một cách khác nhau Nhìn chung, ban đầu cácnhà nghiên cứu văn học Việt Nam chủ yếu hiểu khái niệm diễn ngôn như
là khái niệm lời văn Chính vì thế, khi bàn về diễn ngôn tiểu thuyết ViệtNam hiện nay, họ mới chỉ dừng lại nghiên cứu khía cạnh lời văn, khíacạnh ngôn từ là chủ yếu Đáng chú ý là những ý kiến bản về ngôn từ
trong Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 - khảo sát trên nét lớn của Nguyễn Thị Bình Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới của Bích Thu Tiểu thuyết đương đại của Bùi Việt Thắng, Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn
1986 - 2006 của Mai Hài Oanh Cũng vì chỉ dừng lại ở chỗ hiếu diễn
ngôn là ngôn từ, là lời văn nên phần lớn những ý kiến bản về ngôn từtiểu thuyết hiện nay thường nghiêng về mô tả mà có phần coi nhẹ việckiến giải
2.2 Về tác giả Trần Dần
Hành trình sáng tạo của Trần Dần là một con đường thăng trầm,
và bản thân lịch sử nghiên cứu hay chính xác hơn là lịch sử đọc - hiểuTrần Dần không khác gì một cuộc phiêu lưu mà đích của nó dường nhưvẫn còn xa vời Việc nghiên cứu tác phẩm của Trần Dần đã được đặt ra
từ lâu và có tính lịch sử Thời kì từ sau vụ Nhân văn Giai phẩm đếntrước ngày đổi mới, sáng tác của Trần Dần chủ yếu được nhìn nhận như
Trang 8một hiện tượng tiêu cực Với lối phê bình xã hội học thô thiển, lấy chínhtrị làm thước đo, những cách tân của ông bị phủ nhận một cách bất công.Đến thời kì đổi mới, tác phẩm của Trần Dần bắt đầu nhận được sự quantâm của giới phê bình Tuy nhiên, từ 1989 đến 1995, những bài viết vềTrần Dần còn ít ỏi, do các nhà nghiên cứu e ngại động chạm đến chínhtrị.
Thời kì từ 1995 đến nay, tác phẩm của Trần Dần mới thực sự được
khai mở trước ánh sáng Năm 1995, Cổng tỉnh được nhận giải thưởng
Hội nhà văn Tiếp sau đó, các tác phẩm của ông liên tiếp được xuất bản:
Mùa sạch (1998), Trần Dần - thơ (2007), Những ngã tư và những cột đèn (2011) Giới nghiên cứu phê bình có điều kiện tiếp xúc với tác phẩm
của ông một cách có hệ thống và có nhiều trao đổi mạnh dạn, cởi mởhơn Trang www.tienve.org tập hợp khá phong phú những bài viết, tranhluận xung quanh tác phẩm Trần Dần Trong phạm vi luận văn của mình,
để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi dành sự quan tâm đặc biệtcho những bài nghiên cứu tác phẩm từ góc độ diễn ngôn nghệ thuật
Dương Tường trong Lời bạt Mùa sạch nhìn nhận Mùa sạch như
một bước ngoặt đánh dấu một độ chín mới trong phong cách đa bội TrầnDần Ông cho rằng một trong những điểm đặc sắc nhất của thi phẩm này
là tính chất ca dao - đồng dao như là vật liệu và cấu trúc nhạc giao hưởngđược thể hiện qua một tổ khúc lấy từ bốn từ “trong - sạch - sáng - mùa”[11]
Như Huy với Tác phẩm Mùa sạch của Trần Dần qua góc nhìn nghệ thuật ý niệm nhìn theo một hướng khác, khẳng định Mùa sạch là
một thi phẩm tiêu biểu của nghệ thuật ý niệm [23]
Trần Trọng Vũ trong Đau lòng Sổ bụi… những bức thư không gửi
không đi sâu vào một tác phẩm hay một nét phong cách sáng tạo đặc
Trang 9trưng của Trần Dần, mà có cái nhìn khái quát toàn bộ sự nghiệp của ông
để thấy được tính tự sự qua “TÔI và CHO TÔI, THƠ và KHÁCH THƠ”, quan niệm sáng tác mới của Trần Dần thể hiện qua “CHỮ và NGHĨA”,
“BÊN NÀY và BÊN KIA” Bên cạnh việc nhận diện quan niệm sáng tạo của Trần Dần, tác giả đi vào khám phá đời sống chiều sâu của NGƯỜI THƠ, đưa đến những nhận định mang cảm thức nhân sinh sâu sắc [53].
Tháng 1/2011 tiểu thuyết “Những ngã tư và những cột đèn” chính
thức ra mắt độc giả sau 44 năm hoàn thành bản thảo Tác phẩm ngay lậptức được nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm Dương Tường đọc
“Những ngã tư và những cột đèn” cứ tưởng đây là tác phẩm được viết
năm 2065 chứ không phải 1965 như tự thân nó vậy… Một tác phẩm thực
sự mới và lạ [51,4] Xét về nghệ thuật văn bản, đây là một cuốn tiểuthuyết gây sững sờ cho những độc giả có mối quan tâm và hỏi đòi về sự
kiếm tìm kỹ thuật Phạm Xuân Nguyên đánh giá Những ngã tư và những cột đèn là cuốn tiểu thuyết sau gần nửa thế kỷ mới được xuất bản, nhưng
đọc rất mới, đọc rồi đọc lại vẫn mới, vẫn bất ngờ trước từng trang, vẫnkhông dễ nắm bắt nội dung [51,4] Nguyễn Chí Hoan chú ý đến từ ngữ và
câu văn trong Những ngã tư và những cột đèn: từ vựng, đặc biệt từ vựng
thị dân cùng lối văn bạch thoại của Trần Dần trong cuốn sách này chothấy cuộc giao thoa ngôn ngữ thành thị giữa những lời ăn tiếng nói của
Hà Nội cũ và từ vựng, diễn ngôn cũng như khẩu khí mới mà cách mạng
và chế độ dân chủ cộng hòa đem đến… Từ phép đặt câu, hành văn xâydựng các hình ảnh và đối thoại, cho đến cấu tạo tiểu thuyết, cuốn sáchnày vừa tiếp tục dòng chảy “hiện thực phê phán” đầu thế kỷ vừa nhảymột bước ngoạn mục “vị lai”: các dấu ngắt câu tạo nhịp điệu như thơ,truyện kể nhiều giọng điệu với phức hợp các “hình thức của diễn đạt”[51,4] Đánh giá cao vai trò sáng tạo của Trần Dần, Hoài Nam nhìn nhận
Trang 10Những ngã tư và những cột đèn là một cuộc thử nghiệm ngôn ngữ: Sự
lặp lại liên tục của các từ, các cụm từ, các cấu trúc câu đã tạo nên sựcộng hưởng về âm cho đoạn văn, tạo nên nhịp điệu, tạo nên nhạc tính.Những chỗ như vậy, dường như tác giả đã giảm thiểu chức năng trầnthuật của câu văn xuôi - nó không để kể hoặc tả một đối tượng cụ thể-nhưng lại gia tăng sức biểu cảm cho cái điều mà không phải bao giờ vàkhông phải người viết nào cũng dễ dàng thể hiện: tâm trạng của nhân vậttrong những bối cảnh khác biệt [51,4]
Tóm lại, từ việc điểm qua một số ý kiến trên đây, chúng tôi nhậnthấy chưa có tác giả, công trình nào đặt ra và giải quyết trực tiếp vấn đềdiễn ngôn trong tiểu thuyết của nhà văn Trần Dần một cách thấu đáo.Phần lớn tài liệu liên quan đến đề tài mà chúng tôi bao quát được mới chỉ
là những ý kiến nhỏ lẻ trong những bài báo, tham luận, một mục trongchuyên luận… Còn khi bản về diễn ngôn tiểu thuyết hiện nay, hầu hếtcác nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phương diện lời văn, phương diệnngôn từ của tiểu thuyết Tuy nhiên, những tài liệu này đã cho chúng tôinhiều gợi ý quý báu giúp chúng tôi có bản lề để có thể mạnh dạn đi vàotriển khai hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ này Xuất phát từ tình hình
đó, chúng tôi mạnh dạn đi vào khảo sát diễn ngôn trong tiểu thuyết của
Trần Dần để bổ sung thêm cái nhìn mới mẻ về đặc điểm tiểu thuyết củaông, từ đó khám phá các bình diện phong phú của diễn ngôn tiểu thuyết
3 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trên cơ sở khảo cứu các quan niệm về diễn ngôn của các nhànghiên cứu, chúng tôi đã bước đầu đưa ra khái niệm diễn ngôn, diễnngôn văn học, diễn ngôn tiểu thuyết làm điểm tựa cho việc nghiên cứu
đề tài
Trang 11- Từ việc tìm hiểu về diễn ngôn, chúng tôi tiến hành khảo sát tiểuthuyết của Trần Dần; nhận xét về cách sử dụng diễn ngôn giàu sáng tạocủa Trần Dần, trên cơ sở đó, đánh giá những nỗ lực cách tân của TrầnDần trong tiểu thuyết, góp phần thúc đẩy sự đổi mới của thể loại nàytrong văn học Việt Nam đương đại.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của công trình này là các lí thuyết về diễnngôn
- Đối tượng nghiên cứu thứ hai là tiểu thuyết của Trần Dần, như:
Người người lớp lớp, Những ngã tư và những cột đèn, Cổng tỉnh,
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương phápsau:
- Phương pháp thống kê - phân loại;
- Phương pháp phân tích diễn ngôn
- Phương pháp so sánh
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn
được triển khai thành 3 chương:
Trang 12Chương 1 Khái quát về nhà văn Trần Dần và khái niệm về diễn ngôn (30 trang)
Chương 2 Diễn ngôn kể trong tiểu thuyết của Trần Dần (31 trang)
Chương 3 Diễn ngôn thoại trong tiểu thuyết của Trần Dần (37 trang)
Ông học qua bậc Thành chung ở quê rồi lên Hà Nội học tiếp và đỗ
Tú tài Triết Năm 1946, Trần Dần cùng Trần Mai Châu, Đinh Hùng, VũHoàng Địch, Vũ Hoàng Chương thành lập nhóm thơ tượng trưng Dạ đài
với tuyên ngôn: "Chúng tôi, một đoàn vong gia thất thổ, đã đầu thai
Trang 13nhằm lúc sao mờ " Đến ngày 19-12-1946, ông cùng nhóm Dạ đài ra số
báo Dạ Đài 2
Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông trở về Nam Định thamgia công tác thông tin tuyên truyền ở huyện Vụ Bản rồi làm việc ở SởTuyên truyền Khu IV Năm 1948, ông tham gia Vệ quốc quân, ở BanChính trị Trung đoàn 148 Sơn La (nay thuộc Sư đoàn 316), làm công táctuyên truyền cùng Vũ Khiêu, Vũ Hoàng Địch, sau đó làm báo ở mặt trậnTây Bắc và phụ trách văn công Trung đoàn 148 Sơn La Trần Dần cùngTrần Thư, Hoài Niệm tham gia sáng lập nhóm văn nghệ quân đội đầutiên - Nhóm Sông Đà Thời gian này ông bắt đầu làm thơ bậc thang và
vẽ tranh lập thể, bị cho là khó hiểu Ông là đảng viên Đảng Cộng sảnViệt Nam (lúc ấy có tên là Đảng Cộng sản Đông Dương) từ năm 1949.Năm 1954, cùng với Đỗ Nhuận, Tô Ngọc Vân, Trần Dần tham gia chiếndịch Điện Biên Phủ và viết truyện dài “Người người lớp lớp” Chiếndịch kết thúc, ông được cử sang Trung Quốc viết thuyết minh phim
“Chiến thắng Điện Biên Phủ” Tuy nhiên do bất đồng với người cán bộchính trị đi cùng nên ông "nhường" cho người này viết thuyết minh Tháng 03/1955: Ông tham gia phê bình tập thơ “Việt Bắc” của nhàthơ Tố Hữu Trần Dần nhận định tập thơ Tố Hữu nhỏ bé nhạt nhẽo trướccuộc sống vĩ đại và mắc một sai lầm nghiêm trọng là sùng bái cá nhân,thần thánh hoá lãnh tụ Tháng 04/1955: Ông cùng Đỗ Nhuận, HoàngTích Linh, Hoàng Cầm, Trúc Lâm, Tử Phác đệ trình Dự thảo đề nghị chomột chính sách văn hoá với các đề nghị yêu cầu tự do sáng tác, trả quyềnlãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ, thủ tiêu hệ thống chính trị viêntrong các đoàn văn công quân đội, sửa đổi chính sách văn nghệ trongquân đội Ông cũng viết đơn xin giải ngũ và đơn xin ra khỏi Đảng, vàquyết định kết hôn với bà Bùi Thị Ngọc Khuê bất chấp sự phản đối của
Trang 14các cấp lãnh đạo Theo báo Nhân Dân, việc Trần Dần đòi ra Đảng đã làmcho một số người đi theo Ông lại vẫn giữ vững sáng tác, ông liên tiếpcho ra đời các tác phẩm phê phán như "Lão rồng" và chuyện "Anh CòLấm" phê phán cải cách ruộng đất để rồi sau đó bị bắt giam Từ ngày13/6 đến 14/9 cùng năm: Ông bị giam theo kỉ luật của quân đội để kiểmthảo cùng với Tử Phác ở đơn vị Tháng 2/1956: Trần Dần trở về Hà Nội.Hội Văn Nghệ tổ chức hội nghị phê bình bài thơ "Nhất định thắng" với
150 văn nghệ sĩ tham dự Ông bị kết án là đồ đệ của Hồ Phong, mất lậptrường giai cấp và đi ngược lại đường lối của Đảng và bị giam 3 thángtại nhà tù Hoả Lò, Hà Nội Ngày mùng 7 tháng 3/1956: báo Văn Nghệ số
110 có đăng bài Vạch trần tính chất phản động trong bài thơ "Nhất địnhthắng" của Trần Dần do Hoài Thanh viết Ông phải đi lao động cải tạo ởnhiều nơi cho đến năm 1960 Cùng với các nghệ sĩ tham gia Nhân Văn-Giai Phẩm khác, ông nhận kết quả kỷ luật Trần Dần bị khai trừ khỏi HộiNhà Văn và đình chỉ xuất bản trong thời hạn 3 năm Sau đó, ông ốmnặng và sống âm thầm tại Hà Nội bằng nghề dịch sách và tô ảnh màu,đứng ngoài mọi sinh hoạt văn nghệ chính thống
Trong thời gian này, Trần Dần ít khi buồn, không có một phàn nàn
và không bao giờ kể chuyện đời mình Thậm chí, ông vẫn thầm lặngsáng tác, từ năm 1954 đến 1989 vẫn đều đặn viết nhật ký, những số đầu
tiên có tựa là “Ghi vặt”, từ năm 1973 thành “Sổ thơ” và từ năm 1979 thành “Sổ bụi” Nhận xét về giai đoạn này, ông có nói: Mình ngồi ba chục năm quen rồi Ngồi mà vẫn đi, vẫn ngao du Mình có cuốn sổ "bụi",
sổ "ngao du" Mình đi chơi lang thang trong cuốn sổ này Đây là sổ để ghi tất cả những gì mới nghĩ ra Có khi ngoài cả ý thức Đó là cách đi của mình [7] Ông vẫn kiên trì công cuộc cách tân thơ của mình Ở “Sổ bụi”
1988 khi nói về Thơ mini ông có viết: “tôi thích viết cái chưa biết, mặc
Trang 15các ông viết cái đã biết 90 có hoàn thành không? có thành công không
để mà đốt đi? Tôi đã đốt tôi đi không phải chỉ đôi lần…cái chưa cái khó - thậm chí cái bất khả thu hút và đắm đuối tôi” [6] Sổ bụi cuối
biết-cùng viết năm 1989, trước khi những năm cuối cuộc đời bệnh tật đãcướp đi của ông trí nhỡ và sự minh mẫn (Di chứng của những lần xuấthuyết não, lần đầu tiên ông bị là vào năm 1983) [6] Đặc biệt, Trần Dầnkhông bao giờ mất lòng tin đến một ngày tác phẩm của mình được xuấtbản trở lại Sau khi ông mất, trong di cảo của ông, các con ông đã tìm
thấy một tập bản thảo có ghi "Trần Dần tự xuất bản", hay tập thơ "Bao giờ em đi lấy chồng" mà ông đã tự trình bày và minh họa sẵn cách đấy
35 năm [5]
Năm 1988 Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, được mời tham gia sinhhoạt văn học trở lại Tháng 5, Trần Dần vào Huế gặp gỡ đồng nghiệp vàbạn đọc Đến thời kỳ Đổi mới, bước vào giai đoạn tác giả có thể bỏ tiền
tự in, tự phát hành với sự cấp giấy phép của Nhà xuất bản Vài tác phẩm
của ông được xuất bản trở lại như trường ca "Bài thơ Việt Bắc" năm
1990 (cho dù chương 12 của bản trường ca phải bỏ) và tập thơ tiểu
thuyết “Cổng tình” năm 1994 - tác phẩm sau này đã đoạt giải thưởng của
Hội nhà văn Ông mất tại Hà Nội năm 1997
1.1.2 Con người Trần Dần
1.1.2.1 Một con người đa tài, có tư tưởng cách tân
Trần Dần là một người đa tài trong nhiều lĩnh vực khác nhau: thơ
ca, tiểu thuyết, hội hoạ…Mà tài nào cũng thành nghề đươc cả Ông vẽđược tranh trừu tượng ngay trong những ngày mọi người còn chưa biếttranh trừu tượng là gì Sau này ông sống bằng nghề vẽ ấy Ông có sứcsáng tạo văn học “khủng khiếp” Vì dù phải vất vả kiếm sống và chịu
Trang 16ấy phong phú với cả thơ và tiểu thuyết, truyện dài, thậm chí còn có thểloại đặc biệt là thơ tiểu thuyết Với vốn liếng được học từ thuở Pháp, ôngcòn dịch sách rất hấp dẫn, bản thân ông cũng sống bằng nghề dịch ấy.Ông đã dịch nguồn sách ngoại văn khổng lồ của thư viện Quốc Gia TrầnDần chứng tỏ một khả năng ngoại ngữ cao khi ông dịch thành công các
tác phẩm lớn như: thơ Maiacopxki, “Tội ác và trừng phạt” của Đoxtoiepxki, “Căn cứ nguyên tử” của Laxmex, truyện ngắn và một số
tiểu thuyết của Pháp
Ông lại là người mang những tư tưởng cách tân mới lạ so vớinhiều người cùng thế hệ Đến nay, ngẫm lại, ta vẫn thấy những tư tưởng
ấy đúng đắn, chẳng qua nó chưa phù hợp với tư tưởng chính trị của nước
ta thời đó Có thể nói, tài năng đã giúp cho Trần Dần tìm và phát hiện ranhững quan niệm sáng tác mới mẻ, độc đáo Tham vọng của một ngườikhao khát cách tân sẽ giúp cho sự cách tân của ông ráo riết hơn trên conđường đi đến tận cùng của sự sáng tạo Những tư tưởng ấy làm tác phẩmcủa ông từ nội dung cho tới hình thức đều có một sức hấp dẫn lạ thường
Ta ngỡ ngàng thán phục khi thấy ngay từ thời văn học kháng chiến, thơvăn của tác giả đã xuất hiện những yếu tố hiện đại mà văn học đương đại
cả nước ta và thế giới đang theo đuổi Đó là tiếng nói tự do, nhân vănmuôn đời đúng Về hình thức, thơ văn của ông chịu ảnh hưởng lớn từvăn học phương Tây Do có điều kiện tiếp xúc với nguồn sách ngoại văncùng với tư duy sắc sảo, Trần Dần sớm tiếp thu được những thành tựucủa văn học thế giới, từ lối thơ bậc thang như sự phản kháng lại với thơtruyền thống của Maiacopxki đến những ưu tư về chữ và những kĩ thuật
tự sự phương Tây trong các tiểu thuyết của ông Từ những bài thơ ít
nhiều mang dáng dấp thơ mới (Hồn xanh dị kì, Chiều mưa - trước cửa),
ông chối bỏ duy cảm, hướng tới duy giác, thiết lập cấu trúc đa tuyến
Trang 17tính, xứng đáng là thủ lĩnh thơ ca trong bóng tối Trước những đỉnh caotưởng chừng không vượt qua của thơ mới, đã cùng những người bạnđồng chí hướng cất lên bản phán quyết đầy tính chất gây hấn: chôn thơmới Lối nói quyết liệt ấy là biểu hiện của một mong muốn mãnh liệt:phải viết khác đi, phải cách tân, phải quên những thành tựu của tiềnchiến để sáng tạo nên những thành tựu mới, phải cướp được độc giả của
tiền chiến… như sau này ông từng giải thích: “ Thơ nay hầu như vẫn đặt nghĩa Tôi đặt thơ là chữ Con chữ làm nên nghĩa Ông đòi hỏi nhà văn phải là: Kẻ viết? đạp đổ chân trời? xổng xích các chân mây?” [22].Trong văn xuôi, các tiểu thuyết của ông cũng ngày một tiến đến phá vỡkhung tiểu thuyết truyền thống, hoài thai những bút pháp kĩ thuật hiệnđại, cái mà còn quá xa lạ với các cây bút tiểu thuyết và giới phê bình vănhọc Ông sáng tác thơ, tiểu thuyết, viết nhật kí và thậm chí trong nhữngnăm tháng tham gia kháng chiến chống Pháp ông từ là người vẽ tranh
minh hoạ trên các tờ báo Sông Đà, Giải phóng Tây Bắc, Giải phóng Biên Giới… Từ chối những đường viền kẻ sẵn (Nguyễn Hữu Hồng
Minh), khước từ những kinh nghiệm truyền thống, Trần Dần đã chấpnhận một sự dấn thân mạo hiểm trong văn học Dù thành công hay thấtbại thì ông cũng xứng đáng là vị thủ lĩnh trong bóng tối ngay từ nhữngngày văn học Việt Nam mới nhen nhóm chữ “hiện đại”
1.1.2.2 Một con người từng trải, chịu nhiều bất hạnh
Ông là con người sống trong những năm tháng thăng trầm nhưnghào hùng nhất của đất nước ta Ông đã từng nếm trải vị đắng của nhữngngười thanh niên mất nước, song cũng từng thấy máu và mồ hôi rơitrong những cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc Rồi chính ông lại lànhân chứng cho cái thời “dở dở ương ương” của dân tộc ta khi mới thoátkhỏi chiến tranh Những người khác chỉ biết cúi đầu mà sống thì ông lại
Trang 18soi rọi hết những cái lạc hậu của thời đại, để đưa tầm nhìn của nhìn lêncao hơn hẳn mọi người
Tuy vậy, bất hạnh của ông có lẽ là “sinh bất phùng thời” Ônghiện diện như một sự trêu ngươi của đinh mệnh Dường như số phậnchưa bao giờ nương nhẹ ông trên cả cương vị một công dân và mộtngười nghệ sĩ Ham muốn đưa thơ ca theo hướng mới và niềm khát khao
có một chính sách tự do cho văn nghệ đã khiến ông quyết liệt trong hội
nghị bàn tròn phê bình tập thơ Việt Bắc và sau đó bị kỉ luật Trần Dần
chính thức bị khai trừ khỏi hội nhà văn, bị đưa đi lao động cải tạo Ông
đã bị giam theo quân kỷ để kiểm thảo cùng với Tử Phác ở đơn vị Tháng2/1956: Trần Dần trở về Hà Nội Hội Văn Nghệ tổ chức hội nghị phêbình bài thơ "Nhất định thắng" với 150 văn nghệ sĩ tham dự Cùng vớicác nghệ sĩ khác, ông nhận kết quả kỷ luật, phải đi lao động cải tạo ởnhiều nơi cho đến năm 1960 và bị khai trừ khỏi Hội Nhà Văn Sau đó,ông sống âm thầm tại Hà Nội Gần 40 năm sau vụ án Nhân Văn, Trần
Dần sống và sáng tạo chủ yếu trong tình thế: người ngồi thì viết còn cái được viết thì nằm [21] Trần Dần sống trên 30 năm im lặng, chịu đựng sự
cô đơn, cô độc Trong khoảng thời gian dài câm lặng đó, ông viết màkhông hề có sự phản hồi, thúc giục, xuất bản Đó là một gánh nặng củangười sáng tác Cuộc đời với những bão tố dữ dội cứ liên tiếp giángxuống con người có thân hình bé nhỏ, khắc khổ Tất cả như định mệnh,như là một sự trêu ngươi của số phận Chỉ có những người trong cuộc,gần gũi, gắn bó mới biết Trần Dần đã đi qua những năm tháng đó nhưthế nào Quả thực, người ta ngày càng nhắc nhiều đến ông không chỉ ởnhững sáng tác độc đáo đến dị biệt, đầy tính tiên phong mà còn ở mộtcuộc đời đầy biến cố và bi kịch
1.1.2.3 Một con người đầy bản lĩnh
Trang 19Sau Nhân Văn, có những con người mất lửa nhiệt huyết: Họ mãi
mãi chỉ dừng lại cột mốc và chỉ còn ngoảnh lại phía sau Nhưng với Trần
Dần, cột mốc ấy, ngược lại, đánh dấu một sự lên đường quyết liệt hơn, làthời gian sung sức nhất cho sáng tạo Dù sống trong hoàn cảnh triệt tiêuông ngay từ trong tư tưởng, bị tuyên bố “treo bút” nhưng ông vẫn viết vàvẫn tin rằng tác phẩm của mình rồi sẽ được mọi người biết tới Ông hiểu
rõ rồi xã hội sẽ thay đổi Những tư tưởng của ông rồi sẽ được nhìn nhậnlại Ông sống nhẫn nhịn song vẫn khẳng định tư tưởng, lối sáng tạo củamình; vượt qua rào cản của thời đại, chính trị, vượt qua chính mình vàvượt qua cả thói quen ngại đổi mới của người Việt, của độc giả Trong
những ngày tháng đi lao động cải tạo, chịu cảnh “tứ khổ”: khổ lao động
nặng, khổ đối xử, khổ nhớ, khổ nắng mưa bất nhất Nhưng ông đã tìm
cách biến “tứ khổ” thành “tứ khoái”: khoái làm thơ, khoái thi tài liệu,
khoái dự định viết, khoái nhìn nghe ngẫm ngợi và hi vọng, sửa chữa
hoàn thành tác phẩm “Cổng tỉnh” (1959) [49] Suốt 40 sau vụ Nhân
Văn, cuộc đời Trần Dần thưa vắng các sự kiện xã hội, ông không còn làngười dấn thân mà trở thành một kẻ ngoài lề Nhưng con người ấy, vớiniềm đam mê viết và sáng tạo không ngừng nghỉ đã liên tiếp cho ra đờicác tác phẩm tạo nên niên biểu của một nhà văn, thể hiện cách dấn thâncủa kẻ ngoài lề Nó thể hiện sự sáng suốt của một bản lĩnh phi thường.Nếu không có một bản lĩnh đặc biệt, Trần Dần chắc đã buông xuôi tất cả,không bao giờ sáng tác nữa Vậy mà Trần Dần vẫn sống và sáng tạo.Chính bản lĩnh và niềm tin này đã tạo nên sự quyết liệt, bền bỉ trong đổimới và sáng tạo của ông từ quan niệm đến hành trình sáng tạo nghệthuật Đó là con người luôn luôn có tình yêu sự sống mãnh liệt, nó ngăn
không cho anh đến chỗ huỷ hoại cuộc đời còn rất trẻ của mình Bản lĩnh
ấy hun đúc trong ông một niềm tin mãnh liệt vào sáng tạo và nghệ thuật
Trang 20tin một ngày tác phẩm được xuất bản trở lại: Thơ là mạng sống, là lí lịch thật đời tôi Thơ tôi có 30 năm đóng chai Nó có thể chờ (Sổ bụi, 1988)
[49]
1.2 Văn nghiệp của Trần Dần
1.2.1 Vài nét về thơ của Trần Dần
1.2.1.1 Khái quát chung
Trần Dần đến với văn chương bắt đầu bằng thơ Khi người thanhniên Trần Dần bắt đầu làm thơ, thơ mới đã đạt đến thời kì rực rỡ với
những cái tên làm nên diện mạo thơ ca Việt: “Tiếng thu” của Lưu Trọng
Lư, “Tinh huyết” của Bích Khê, “Thơ say” của Vũ Hoàng Chương, “Lửa thiêng” của Huy Cận… Trong cái hăm hở nhiệt huyết đến với thơ ca, người thanh niên Trần Dần đã cho ra đời “Chiều mưa - trước cửa” (1943), “Hồn xanh dị kì” (1944) - những tác phẩm ít nhiều mang hơi
hưởng của thơ mới 19 tuổi, đam mê thơ ca và nhận thấy thơ mới đã điđến thoái trào của nó, Trần Dần cùng các thi sĩ tượng trưng Trần MaiChâu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch,Vũ Hoàng Chương lập ngôn để khai
mở một dòng thơ ca khác Tạp chí Dạ Đài ra số 1 ngày 16/11/1946, đăng
bản tuyên ngôn của phái Tượng trưng do Trần Dần chấp bút Trong cuộckháng chiến chống Pháp, ông cũng để lại nhiều tác phẩm đặc sắc, như:
“Nhất định thắng”, “Trường ca Đi! Việt Bắc”; và sau này là “Cổng tỉnh”, “Mùa sạch”, “Jờ Joacx”, “Thơ Mini”, “Thơ không lời”, “Mây không lời”,…
Phong cách thơ nổi bật nhất của ông là sự cách tân Ông được đánhgiá là người cách tân trong thơ cả về hình thức (với lối thơ bậc thang) lẫn
tư tưởng (đa diện, triết lý ) Ông chối bỏ kiểu thơ dòng nghĩa: “Thơ nayhầu như vẫn đặt nghĩa Tôi đặt thơ là chữ Con chữ nó làm ra nghĩa”[49] Đây là cách ông gây hấn với lối thơ đã ngự trị, lên ngôi chính vị
Trang 21không chỉ trong quá khứ văn học đến thời Trần Dần mà còn được nuôidưỡng đến tận hôm nay Chối bỏ thơ dòng nghĩa cũng chính là chối bỏ
hệ hình tư duy cũ, lấy nghĩa của từ làm cứu cánh, mở ra một đời sốngmới cho con chữ Đặt những sáng tác của Trần Dần trong lát cắt đồng đạicủa văn học Việt Nam ta thấy một sự lệch chuẩn hoàn toàn với khung vănhọc và kênh tiếp nhận Ông không hề thoả hiệp với thời đại Phải chứngkiến những năm tháng Trần Dần đã đi qua ta mới thán phục, ngưỡng mộsức viết và khả năng sáng tạo của ông Trần Dần sống và sáng tạo chủ yếutrong tình thế: người viết thì ngồi, cái được viết ra thì nằm, mà cuộc sống
mưu sinh thì không dễ dàng gì “Một tác giả không có triển vọng xuất bản những tác phẩm của mình thì chẳng có gì thúc giục anh hoàn tất nó, chẳng có gì ngăn anh ta tạm thời gạt nó sang một bên và chuyển sang làm việc khác” [51;30] Vậy mà trong gần 40 năm, Trần Dần viết mà
không một phản hồi, thúc giục, xuất bản Điều này chứng tỏ sức kiên địnhphi thường của ông, điều mà hiếm nhà văn làm được, ngay cả những nhàvăn lớn trên thế giới
Thơ Trần Dần có nhiều ý kiến trái ngược nhau Ngay sau phongtrào thơ mới, Trần Dần đã chủ trương làm thơ theo trường phái tượngtrưng cùng với nhóm Dạ đài Theo nhà thơ Dương Tường: "Thơ TrầnDần đương nhiên là khó hiểu Nhưng chính ông ấy cũng nói về sự khóhiểu một cách hết sức giản dị: "Tất cả mọi giá trị chân thiện mỹ đều làkhó hiểu"." [51; 9] Số 2 chưa kịp ra mắt thì kháng chiến bùng nổ Đây làbước ngoặt lịch sử quyết định khúc rẽ của mỗi cá nhân, Trần Dần cũngkhông ngoại lệ Con người thi sĩ khao khát lập ngôn Trần Dần tạmnhường chỗ cho con người cách mạng làm công tác tuyên truyền Sau thờigian đó, ông có sáng tác nhiều nhưng thơ ông không được xuất bản Sự
Trang 22miệt mài theo đuổi con đường thơ của ông như để trải lòng mình màthôi.
Tác phẩm thơ chính, hiện còn lưu giữ của ông là:
Chiều mưa trước cửa (Thơ - 1943);
Hồn xanh dị kỳ (Thơ - 1944);
Người người lớp lớp (Truyện dài - 1954);
Nhất định thắng (Thơ - 1956);
Cách mạng tháng Tám (1956);
Jờ Joạcx (Thơ - 1963, xuất bản di cảo);
Con trắng (Thơ - hồi ký - 1967);
177 cảnh (Hùng ca lụa - 1968);
Động đất tâm thần (Nhật ký - thơ - 1974);
Thơ không lời - Mây không lời (Thơ - họa - 1978);
Bộ tam Thiên Thanh - 77 - Ngày ngày (1979);
Bộ tam 36 - Thở dài - Tư Mã zâng sao (1980);
Thơ mini (1988);
Bài thơ Việt Bắc (Trường ca - Viết năm 1957, xuất bản năm1990);
Mùa sạch (Thơ - Viết năm 1964, xuất bản năm 1998);
Trần Dần - Thơ (2008 - Giải Thành tựu trọn đời của HộiNhà văn Hà Nội)
1.2.1.2 Một số bài thơ tiêu biểu
a Bài thơ Việt Bắc
Đây là tác phẩm do nhà xuất bản Hội Nhà văn in năm 1990 Đó làtập thơ đầu tiên được in của Trần Dần sau thời Nhân văn Giai phẩm Tên
Trang 23gốc của tập thơ là “Ði! Ðây Việt Bắc!” - một trường ca sáng tác năm
1957, gồm 13 chương mà chương thứ 13 là bài “Hãy đi mãi” đã được
đăng trên báo Văn số 28 ra ngày 15/11/1957 Ở lần xuất bản năm 1990,
bài “Hãy đi mãi” vẫn bị loại bỏ và tập thơ được đổi tên là “Bài thơ Việt Bắc” Bài thơ toát ra hùng khí của một Trần Dần chiến sĩ với lối viết
tượng trưng, cách tân hình thức mới lạ Âm điệu hùng tráng mà gần gũi,trữ tình trong nội tâm của người lính "mỗi đêm từ biệt một quê hương"[38] “Người lính ấy mang tâm sự của người dân mất nước, nhưng còn gánh cả những khổ đau của con người đói khát tự do Người lính Dần có
ý thức về mình, người lính Dần đã vượt ra ngoài ý thức rập khuôn của đám đông tập thể, người lính Dần không hô khẩu hiệu, không bị lóa mắt
vì hào quang hão huyền, người lính Dần nhìn thấy những khổ đau của đồng đội, người lính Dần nhìn thấy những chết chóc của chiến tranh”[38]:
Trang 24b Cổng tỉnh
“Cổng tỉnh” là một bản trường ca, một cuốn tiểu thuyết hiện thực
xã hội được nhà xuất bản Hội Nhà Văn in năm 1994, 15 năm sau khi viếtxong Thời điểm viết xong là lúc vụ Nhân Văn đang khiến các nhà thơ,nhà văn rơi vào ngõ hẹp, bị nhấn xuống “bùn lầy" Tác phẩm được Trần
Dần viết trong thời kì tứ khổ khi ông đi lao động cải tạo ở Thái Nguyên.
Khoảng thời gian đặc biệt đó đã làm nên một tiểu thuyết thơ đầy giá trị
về sáng tạo nghệ thuật “Cổng tỉnh” không nằm chung toạ độ với những
Trang 25tác phẩm viết về kháng chiến cùng thời mà rất lỗi nhịp Trần Dần cũngnằm trong số phải chịu sự phê phán, cảo tạo từ chính quyền Vị trí xã hội
bị mất, không được sáng tác, ông cảm thấy như mình không chỗ dungthân Ông trở về quê, bằng ký ức mở cửa cổng tỉnh, mở gan ruột mình,
cố xóa đi cái không khí đen tối, nặng nề của xã hội và cuộc đời Ta nhậnthấy ở “Cổng tỉnh” sự trưởng thành về tư duy với những cách tân về mặtnghệ thuật đã hiện lộ rõ nét hơn Con người Trần Dần bộc bạch nhiềuhơn và đa dạng hơn
Nội dung của “Cổng tỉnh” viết về một thời trong lịch sử cận đại:thời Pháp thuộc và Cách mạng kháng chiến Với những phận người,phận vện, phận tỉnh, phận phố khi vươn lên dũng tráng, bất khuất, nhưnhững anh hùng, khi lếch thếch kéo nhau đi như lũ ăn mày, sinh ra trongđói khát, dốt nát, bị trị, hết thực dân Pháp đến phát-xít Nhật Cảnh quákhứ Pháp thuộc, phản ánh hồi quang hiện tại 59-60: Bị trị hay độc lập:thành phố vẫn bị cầm tù Một chữ cổng đã nói lên kiếp tù trong tỉnh: Chỉ
đề lao mới cần cổng, chứ tỉnh nào lại có cổng, như tỉnh Nam của TrầnDần thời 59-60 Nhưng qua tập thơ dạ khúc trường thiên này, ta thấy tácgiả đang lấy hoàn cảnh lịch sử để bày tỏ tình cảnh và tình cảm bản thân
Có lúc dạ khúc ấy lại như khúc ca bi tráng của đời nghệ sĩ:
“Kỷ niệm! Ðưa tôi về chốn cũ
Ðừng ngại mây che từng cây số buồn rầu
Ðừng ngại mở trong lòng vài khung cửa nhớ thương.
Và cứ thế, nhà thơ và kỷ niệm âm thầm dẫn nhau đi, trong đêm, qua cổng tỉnh, trở về đất cũ, chỗ nào không nhớ rõ, nhà thơ lại hỏi kỷ niệm: Ðây có phải bụi Cửa Trường?
Một cuống nhau chôn trạnh lòng phố mẹ!
Trang 26Ðây có phải đường Hàng Song xanh lấm tấm sao chiều?” [10;9]
1.2.2 Vài nét về văn xuôi của Trần Dần
1.2.2.1 Khái quát chung
Trong văn nghiệp của Trần Dần không chỉ làm thơ mà còn viếttiểu thuyết Nếu thơ là mảng màu chính thì văn xuôi là mảng màu mới
mà Trần Dần muốn vẽ trong sự nghiệp văn học nghệ thuật của mình Các
tiểu thuyết có đóng góp không nhỏ làm phong phú hơn cho sự nghiệpsáng tác của ông Sau khi kháng chiến thắng lợi (1954), ông đã viết cuốntiểu thuyết “Người người lớp lớp” về chiến dịch Điện Biên Phủ Đây làcuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông Sau đó, vì vụ Nhân Văn, hầu hết tất cảsáng tác của ông đều bị cấm xuất bản Phải mãi về sau, người ta mới tìmlại các tác phẩm của ông và cho phép xuất bản Tuy đứng ngoài lề vănhọc nhưng Trần Dần vẫn âm thầm sáng tác và mang đến một “gia tài văn
học” đầy giá trị, như: “Đêm núm sen” (tiểu thuyết - 1961), “Jờ Joacx” (thơ - tiểu thuyết - một bè đệm, 1963), “Những ngã tư và những cột đèn” (tiểu thuyết, 1964), “Một ngày Cẩm Phả” (tiểu thuyết, 1965), Ngoài các tiểu thuyết đã được xuất bản: “Người người lớp lớp” (1954), “Cổng tỉnh” (1960), “Những ngã tư và những cột đèn” (viết năm 1964) còn có một số tiểu thuyết khác: Đêm núm sen (1961), Một ngày Cẩm Phả (1965) chưa được xuất bản.
Tác phẩm chính của ông là:
Đêm núm sen (Tiểu thuyết - 1961, chưa xuất bản);
Những ngã tư và những cột đèn (Tiểu thuyết - 1964, xuấtbản năm 2011);
Một ngày Cẩm Phả (Tiểu thuyết - 1965, chưa xuất bản);
Trang 27 Cổng tình (Thơ - tiểu thuyết - Viết năm 1959 - 1960, xuấtbản năm 1994);
Không những trong thơ ca mà các tiểu thuyết của ông cũng thổiđến cho văn học một làn gió mới và lạ Nếu đặt cuốn tiểu thuyết đầu tay
“Người người lớp lớp” bên cạnh những cuốn tiểu thuyết ra đời muộn
hơn ta sẽ thấy rõ hành trình của Trần Dần trong văn xuôi Đó là hànhtrình của con người xê dịch từ không gian quảng trường tới không gianbên lề của hoạt động văn học Và đó cũng là hành trình giã biệt khungtiểu thuyết truyền thống để khao khát làm mới thể loại của Trần Dần Đi
từ quảng trường đến bên lề là hành trình tiểu thuyết Trần Dần bước quakhoảng trời cao rộng của sử thi để đến với vũng nước nhỏ mang dấu ấnđời tư Đó là cả một cuộc thay đổi không chỉ với bản thân Trần Dần màngay cả với văn học Việt Nam Tiểu thuyết Việt Nam cần có nhiều hơnnữa những con người dám dấn thân như ông Các tiểu thuyết của ôngdường như muốn phá vỡ khung tiểu thuyết truyền thống, hoài thai nhữngbút pháp, kĩ thuật hiện đại mà thời đó vẫn còn quá xa lạ với các cây búttiểu thuyết và giới phê bình văn học Trần Dần đã trình làng một hệ hình
tư duy mới, một cách quan niệm hoàn toàn mới về thể loại Ông hướngđến một gương mặt văn chương mới sáng tạo và lấy chữ làm trung tâm
“Nếu trong thơ, Trần Dần nổi tiếng là người cách tân cả về hình thức(với lối thơ bậc thang) lẫn tư tưởng (đa diện, triết lý) thì trong văn xuôi,ông lại một lần nữa được các nhà phê bình đánh giá cao với lối viết hiệnđại, với nhiều câu văn được dụng công và đẽo tạc đẹp như thơ” [51; 26]
1.2.2.2 Một số tác phẩm văn xuối tiêu biểu
a “Người người lớp lớp”
Hoà vào không khí chung của cách mạng, chứng kiến và xúc động
Trang 28cuốn tiểu thuyết duy nhất của Việt Nam thời kì đó viết về chiến dịch ĐiệnBiên Phủ Tác phẩm vẫn nằm trong khung tiểu thuyết truyền thống với
mô hình viết và ca ngợi cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta “Người người lớp lớp” nổi lên với chức năng minh hoạ Ở đó, ta nhận ra những
đặc điểm tiêu biểu của dòng văn học Cách mạng như tính thời sự, giọng
điệu anh hùng ca và thủ pháp trùng điệp Có thể xếp “Người người lớp lớp” vào giai đoạn quảng trường trong hành trình sáng tạo tiểu thuyết
của Trần Dần, nơi chứa đựng những mẫu số chung quen thuộc trong tưduy tiểu thuyết và kĩ thuật tiểu thuyết Người đọc chưa nhận thấy đượcnhiều những nỗ lực cách tân thể loại của Trần Dần qua tiểu thuyết này
Có thể có nhiều cách lí giải về vấn đề này Nhưng điều quan trọng nhất,nhìn lại hành trình sống và sáng tác của Trần Dần ta nhận ra giai đoạn
viết “Người người lớp lớp” là giai đoạn ông sống gần gũi và chính là
một trong số hàng chục vạn người lính đang trực tiếp chiến đấu ngoàichiến trường, chưa có nhiều văn học chạm về tư tưởng Nhiệt huyếtngười lính đang thấm đẫm trong ông
Tuy nhiên, khi “Người người lớp lớp” ra đời, Trần Dần dường
như không thoả mãn với thành tựu đầu tay về mặt tiểu thuyết của mình:
“Tôi vừa viết xong cuốn “Người người lớp lớp” Viết về chiến tranh ở
Điện Biên Phủ đấy Nhưng mà tôi đã chán rồi tôi thấy ít sự thực củachiến tranh trong đó quá Và vì rằng tôi thấy ít sự thực của tôi trong đấy
quá Đó chưa phải là chiến tranh và chưa phải là tôi” [43].
b “Những ngã tư và những cột đèn”
“Những ngã tư và những cột đèn” là một cuốn tiểu thuyết đến
muộn của tác giả Trần Dần Tác phẩm được viết năm 1964, nhưng phảiđến năm 2011 mới được xuất bản Cuốn tiểu thuyết mới ra mắt nhưng đãlàm sững sờ người đọc bởi sức sáng tạo mãnh liệt, có tính chất vượt
Trang 29trước thời đại của ông Người đọc nhận ra những thể nghiệm mang tínhhiện đại và nỗ lực cách tân không biết mệt mỏi trong tiểu thuyết của ông.
Sự ra đời của “Những ngã tư và những cột đèn” có thể xem là sự gây
hấn, phá vỡ khung tiểu thuyết truyền thống
Cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh mà như Trần Dần đã viết
trong cuốn nhật ký của mình năm 1989: “Những tình bạn, những tình yêu, đã đi qua chiến tranh, đi qua hòa bình, rồi lại rơi vào chiến tranh,
có còn nguyên vẹn? Và những tính cách, thói quen con người, có thể nào không thay đổi cùng hoàn cảnh? ” [51;27] Không một cảnh chiến tranh, nhưng hai chữ chiến tranh đi vào tiểu thuyết ngay từ trang một và
trôi theo nhật ký như một ám ảnh, cho đến trang cuối cùng Chiến tranh
do vậy, tồn tại như một bè đệm để con người toàn phần và cụ thể vẫn
tiếp tục trong chiến tranh và mạnh hơn chiến tranh Đến với người đọc
vào những ngày cuối năm 2010, tác phẩm đã mang tới một làn sóng đủmạnh để khuấy động không khí trầm lắng của tiểu thuyết vào thời điểm
hiện tại Một cuốn tiểu thuyết sau gần nửa thế kỷ mới được xuất bản,
nhưng đọc vẫn thấy rất mới Từ cảm hứng, cốt truyện, nhân vật, cấu trúcđến ngôn ngữ, giọng điệu… đều hoàn toàn khác lạ “Những kĩ thuật tự
sự ảnh hưởng từ văn học hiện đại phương Tây lúc đó đã được Trần Dần
sử dụng một cách thành thạo và có ý thức trong tác phẩm: lối tự sự đađiểm, dòng ý thức, xoá bỏ thời tính… Trần Dần đã làm người đọc bừngtỉnh: cái mà tiểu thuyết Việt đang chạy theo: những kĩ thuật tự sựphương Tây phải chăng là nỗ lực thừa? Trong bối cảnh của tiểu thuyết
Việt, Trần Dần với “Những ngã tư và những cột đèn” xứng đáng là người đến sớm từ tương lai.” [51;27]
Khi “Những ngã tư và những cột đèn” ra mắt độc giả, người ta lại
biết thêm một tác phẩm của quá khứ làm xạm mặt hiện tại Đặt trong
Trang 30dòng chảy của tiểu thuyết Việt, tác phẩm có thể xem là một thứ quả lạ(mặc dù thưởng thức nó không hề dễ dàng) Ta nhận ra sự cách tân ráoriết, đến mức có thể nói là sự phản kháng với những quy phạm nghệthuật đang đóng vai trò chính thống Cuốn tiểu thuyết chứa đựng nhiều
sáng tạo về ngôn ngữ Đó là ngôn ngữ của một người luôn tâm niệm làm
thơ tức là làm tiếng Việt, và khi viết tiểu thuyết, quan niệm ấy cũng chiphối rất rõ ngòi bút tác giả
1.3 Diễn ngôn
1.3.1 Khái niệm chung về diễn ngôn
Từ cuối những năm 1960, nhờ hệ thống thuật ngữ và tư tưởng củachủ nghĩa hậu hiện đại và kí hiệu học được quảng bá rộng rãi trong giớihọc thuật, “bước ngoặt ngôn ngữ học” biến thành “bước ngoặt diễnngôn” Các lí thuyết diễn ngôn, khái niệm diễn ngôn “bùng nổ” mạnh
mẽ, đưa diễn ngôn thâm nhập mạnh mẽ vào khoa học nhân văn và chínhtrị - xã hội học Ngày nay, lĩnh vực nghiên cứu có tên gọi “lí thuyết diễnngôn” là một trong những khuynh hướng đang phát triển mạnh mẽ nhấttrong các khoa học xã hội hiện đại Chứng cớ là hàng năm, số lượng các
ấn phẩm, các hội thảo khoa học, các giáo trình đại học, các luận văn,luận án dành cho những lĩnh vực khác nhau trong việc vận dụng các líthuyết diễn ngôn và diễn ngôn - phân tích đang không ngừng tăng lên.Vậy diễn ngôn là gì?
Theo từ điển New Webster`s Dictionary thì diễn ngôn được địnhnghĩa gồm hai nghĩa Một là sự giao tiếp bằng tiếng nói (trò chuyện, lờinói, bài phát biểu); hai là sự nghiên cứu tường minh, có hệ thống về một
đề tài nào đó (luận án, các sản phẩm của suy luận, ví dụ “Discours de lamethode…” của Descarte, vì trong tiếng Latin từ đó đồng nghĩa với từ
“Dissertatio de…”) [3; 85] Cả hai nghĩa đó đều chỉ thực tiễn giao tiếp
Trang 31ngôn ngữ, nhưng chưa nói đến cái nghĩa hiện đại là hình thức của ý thức
hệ và quyền lực, cũng chưa đề cập giao tiếp phi ngôn từ, như cử chỉ thânthể, sự mô phỏng động tác, sự thay đổi tư thế của thân thể, trang phục,nghi thức…Đồng thời cả một lĩnh vực rộng lớn là nghệ thuật như hộihọa, điêu khắc, múa nhảy, âm nhạc, thi ca đều nằm ngoài định nghĩa đó Theo M Jorgensen và L Phillips, các vị chuyên gia hàng đầu ấyđược gắn kết với nhau ở sự trung thành của họ với những bình diện cốtlõi sau đây của lí thuyết diễn ngôn:
- Diễn ngôn được xác định như là sự sử dụng ngôn ngữ trong giaotiếp và các văn bản thường nhật, nó là hình thức năng động của thực tiễn
xã hội, thực tiễn này tạo ra thế giới xã hội, cá nhân và các đồng nhất Cánhân được hình thành qua con đường sở đắc tinh thông các đối thoại xãhội Quyền lực phát huy hiệu lực bằng cách định vị con người trong cácphạm trù diễn ngôn khác nhau Mọi hiện thực tâm lí chủ quan đều hìnhthành trong diễn ngôn
- Con người sử dụng diễn ngôn một cách hoa mĩ để tiến hành hoạtđộng xã hội trong những tình huống giao tiếp nào đó
- Ngôn ngữ không chỉ hình thành ý thức, mà còn hình thành cả tiềmthức Có thể kết hợp phân tâm học với diễn ngôn – phân tích để lí giải cơchế tâm lí của sự hình thành cái “khôn tả” [33; 21]
Theo Jacques Derrida: Diễn ngôn được giải thích như là phạm trùđồng nghĩa với thực tiễn kiến tạo xã hội Công thức rộng nhất củaJacques Derrida được chọn làm cơ sở: “Tất cả đều là diễn ngôn” [33;24]
Trong những công trình của Roland Barthes, Julia Kristeva,Jacques Lacan, ta thấy diễn ngôn được xem là tổng thể các thực tiễn xã
Trang 32hội mà mọi ý nghĩa và tư tưởng đều được kiến tạo và tái tạo trong khuônkhổ của nó [33; 26] Quả vậy, các diễn ngôn phải có sự va đập, quan hệvới hiện thực xã hội và với các diễn ngôn khác Chúng ta lại khôngngừng làm mới diễn ngôn trong các hoàn cảnh sử dụng mới lạ.
Geoffrey Leech và Michael Short lại kết luận rằng:
“Diễn ngôn là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ, được xem như một sự trao đổi giữa người nói và người nghe, như một hành vi liên cá nhân mà hình thức được xác định bằng mục đích xã hội của nó Văn bản là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ (ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết), được coi như một thông điệp được mã hoá bằng các phương tiện nghe nhìn của nó” [33; 35].
Michael Stubbs (1983) coi văn bản và diễn ngôn như là những từgần nghĩa, song lưu ý rằng, trong những cách dùng khác, một văn bản cóthể được viết ra, trong khi một diễn ngôn có thể được nói ra, một vănbản có thể tương tác trong khi một diễn ngôn thì không tương tác… mộtvăn bản có thể ngắn hay dài trong khi một diễn ngôn thường ngụ ý một
độ dài nhất định, và một văn bản buộc phải có liên kết trong khi mộtdiễn ngôn buộc phải có một mạch lạc sâu hơn Cuối cùng, Stubbs lưu ýrằng, các nhà lí luận khác phân biệt giữa cấu trúc lí thuyết trừu tượng và
sự nhận thức thực tế, mặc dầu, những nhà lí luận ấy không đồng ý vớiviệc những điều này được trình bày bằng thuật ngữ văn bản Ông khubiệt diễn ngôn như là khu vực của giao tiếp, song ông tiếp tục đối lậpdiễn ngôn và lịch sử, hay câu chuyện, đây là một sự phân biệt được pháttriển rộng rãi ở Pháp hơn là ở Anh, bởi việc sử dụng các thì quá khứkhác nhau để trần thuật các sự kiện theo một khuôn mẫu và trình bày các
sự kiện trong một khung qui chiếu được phát biểu bằng lời nói: “Diễnngôn phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó: mọi phát ngôn giả
Trang 33định có một người nói và một người nghe, và trong người nói, nó baogồm cả những dự định có ảnh hưởng đến người khác theo một cách thứcnào đó… Nó là tất cả những diễn ngôn nói rất đa dạng thuộc tất cả cácbản chất khác nhau, từ những cuộc trò chuyện nhỏ nhặt cho đến nhữngdiễn văn công phu nhất… song nó cũng là vô số những văn bản viết táitạo lại những diễn ngôn nói hoặc vay mượn cách thức diễn đạt hoặc mụcđích của diễn ngôn nói: những thư từ, hồi kí, kịch bản, những bài thuyếtgiáo, tóm lại, tất cả các thể loại mà trong đó, người nào đó tự nhận mình
là người nói, và tổ chức cái mà họ nói trong phạm trù ngôi.” [33; 39] Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất lấy định nghĩa củaMichael Stubbs để làm cơ sở cho việc nghiên cứu
1.3.2 Phân loại diễn ngôn
Diễn ngôn có thể phân chia thành mấy loại nhỏ? Thực tế, diễnngôn không chịu sự ràng buộc của bất kì bộ môn khoa học, hay đốitượng - tâm điểm nào nên sự phân chia cũng rất đan dạng và khác biệtgiữa từng ngành khoa học Cơ sở phương pháp luận của diễn ngôn – líthuyết về nguyên tắc có tính chất tổng hợp, liên ngành, còn phạm vi đốitượng của các lí thuyết này bao giờ cũng rộng mở dành cho sự tiếp tụcphát triển Có rất nhiều cách phân chia Ở đây, chúng tôi xin khái quát bakhuynh hướng chính
- Hướng thứ nhất: Phân loại dựa vào hướng của phái ngôn ngữhọc Theo đó, các lí thuyết diễn ngôn theo thiên hướng kí hiệu học tạothành một nhóm lí thuyết khác Có thể chia diễn ngôn thành các nhómriêng lẻ: lí thuyết diễn ngôn theo thiên hướng kí hiệu học - giao tiếp (E.ISeigal, O Rusakova) [55], lí thuyết diễn ngôn theo thiên hướng văn hoáhọc – giao tiếp (S Holl, V Krasnyh, V Karasik) [55]…
Trang 34- Hướng thứ hai: tiến hành phân loại các lí thuyết diễn ngôn dựavào sự hiện diện của các trường phái và khuynh hướng đã hình thànhxong xuôi (về mặt thế giới quan, tư tưởng hệ, phương pháp luận) trongphạm vi diễn ngôn – phân tích Nói cách khác, các lí thuyết diễn ngônđược phân nhóm theo đặc điểm của những trào lưu nổi tiếng được thểhiện ở chúng: 1 Diễn ngôn – phân tích hậu hiện đại; 2 Diễn ngôn –phân tích phê bình; 3 Tâm lí học diễn ngôn; 4 Diễn ngôn – phân tíchhỗn hợp; 5 Cultural Studies; 6 Visual Studies; 7 Ngôn ngữ học chínhtrị,…[56]
- Hướng thứ ba: phân loại các lí thuyết diễn ngôn dựa vào tiêu chí:những diễn ngôn – đối tượng nào là trọng tâm chú ý chủ yếu của một líthuyết diễn ngôn – phân tích cụ thể Trọng tâm chú ý của các lí thuyếtdiễn ngôn – phân tích thường gặp nhất là các diễn ngôn - đối tượng nhưsau:
Diễn ngôn giao tiếp thường nhật (hội thoại sinh hoạt, đàm thoại bằnghữu, tin đồn, xung đột sinh hoạt;
Diễn ngôn thể chế hoá (diễn ngôn hành chính, diễn ngôn văn phòng,diễn ngôn ngân hàng, diễn ngôn giáo dục, diễn ngôn y học, diễnngôn quân sự, diễn ngôn nhà thờ…);
Diễn ngôn công cộng (diễn ngôn tham luận và sáng kiến dân sự, diễnngôn ngoại giao, diễn ngôn - PR…);
Diễn ngôn chính trị(diễn ngôn của chính trị tư tưởng hệ, diễn ngônthể chế chính trị; diễn ngôn hành động chính trị);
Diễn ngôn – truyền thông (diễn ngôn – TV, diễn ngôn điện ảnh, diễnngôn quảng cáo…);
Trang 35Diễn ngôn – nghệ thuật (diễn ngôn văn học, diễn ngôn âm nhạc, diễnngôn nghệ thuật tạo hình, diễn ngôn mẫu…);
Diễn ngôn giao tiếp công vụ (diễn ngôn đàm phán công vụ, diễnngôn giao tiếp – doanh lợi…);
Diễn ngôn tiếp thị (diễn ngôn quảng cáo, diễn ngôn bán hàng, diễnngôn tiêu dùng, diễn ngôn dịch vụ…);
Diễn ngôn hàn lâm (diễn ngôn hiệp hội khoa học, diễn ngôn các mônkhoa học và nhân văn…);
Diễn ngôn văn hoá - thế giới quan (diễn ngôn của các thời đại vănhoá, diễn ngôn của các trào lưu triết học và tôn giáo khác nhau) Tuy vậy, cách phân loại diễn ngôn chúng tôi trình bày ở trên chỉ làtương đối Trong thực tế, các lí thuyết diễn ngôn nhiều không kể xiết vàngày càng phát triển, mang tính đa hệ hình, đa ngành của nghiên cứukhoa học hiện đại
1.3.3 Diễn ngôn văn học nghệ thuật
Trong lí luận hiện nay, các thuật ngữ như diễn ngôn tính dục, diễnngôn chính trị, diễn ngôn nữ quyền…đều dùng theo hướng xã hội học,nhìn văn học theo giác độ xã hội học Trong khi đó khái niệm diễn ngônnghệ thuật văn chương hầu như ít được nhắc đến Đây cũng là một thiếuhụt của việc nghiên cứu văn học Tuy nhiên, ở đây, chúng ta cũng có thểkhái quát qua khái niệm, đặc điểm của diễn ngôn nghệ thuật qua một sốđiểm sau:
Diễn ngôn văn học nghệ thuật có điểm tương đồng với các diễnngôn khác ở chỗ tạo ra hiện thực, tạo nên một cách nhìn về thế giới, sángtạo một thế giới đời sống Diễn ngôn văn học tạo lập tri thức, biểu hiện
Trang 36người của chủ thể phát ngôn Chủ thể phát ngôn trong văn học không tồntại trước sự phát ngôn, nó được sinh ra trong sự phát ngôn của chính nó.
“Sóng” của Xuân Quỳnh đâu phải miêu tả những con sóng trên biểnDiêm Điền, càng không phải mô phỏng sự vận động của các lớp sóng cóthật để tạo nhịp, tạo hình cho thơ mà tạo ra sóng, tạo ra một cách nhậnthức về sóng, cùng tình yêu, khát khao, nỗi nhớ của người phụ nữ Consóng chạy dọc bài thơ gắn với cách nhìn rất riêng của chủ thể phát ngôn.Chủ thể phát ngôn xác lập mối tương quan giữa sóng và tình yêu, tạo ranhịp sóng qua nhịp thơ Sự biến đổi đa dạng của nhịp thơ trong từng câu,đoạn, và trong toàn bài tạo ra sự vận động, biến hoá không ngừng củasóng Sẽ rất ngây thơ nếu đi tìm một con sóng có thực, có sẵn nào đó màXuân Quỳnh đã mô tả, đã kể ở bài thơ này
Diễn ngôn văn học nghệ thuật tạo nghĩa về một hiện tượng, một sựthể, nó tham gia định nghĩa về bất cứ điều gì theo quy ước riêng của nó,thậm chí nó còn có thể phá hủy những ảo tưởng và sự nguỵ biện tri thứcnào đó đang ngự trong cõi nhân sinh - nếu chúng ta nhớ đến chẳng hạndiễn ngôn phân tâm học để đảm bảo cho sự thật vô thức trong diễn ngôn.Diễn ngôn văn học có một quyền lực nhất định trong sự “thông tin”, nómang chở tư tưởng hệ và “sự lãnh đạo” của những cách nhìn, cách giảithích thế giới đang thống trị xã hội, văn hoá; nó luôn tìm cách tạo ra ýnghĩa mới về sự vật, đem lại cho con người cách nhìn mới về thế giới và
vũ trụ, do đó cũng có thể nói nó đã nỗ lực góp công sức của mình trongviệc tạo ra những tri thức chung “”Chí Phèo của Nam Cao đặt ra baosuy ngẫm về con người và cuộc đời, Nam Cao sáng tạo ra Chí Phèo, BáKiến, Thị Nở, những hình tượng hết sức độc đáo, phức tạp Đọc ChíPhèo là đọc một cách tạo nghĩa, đọc một câu chuyện có cạnh sắc riêngcủa Nam Cao chứ không phải đọc sự thực nào ở bên ngoài văn bản
Trang 37“Hiện thực” ở văn bản Chí Phèo thực ra chỉ là một ảo ảnh dối lừa “ChíPhèo” hấp dẫn chúng ta, không phải vì nó trao truyền lại một tri thức cótrước về người nông dân, cũng phải vì nó đã phát hiện hoặc miêu tảchính xác hiện thực làng Đại Hoàng, mà vì tác giả của nó tạo dựng đượcmột thế giới khả nhiên, và có cách biểu hiện mới mẻ, giàu ý vị về thếgiới đó.
Diễn ngôn văn học nghệ thuật tạo ra tri thức và quyền lực Diễnngôn văn học hậu thực dân tạo tác ra “cái khác” - cái khác giữa phươngTây và phương Đông, giữa các nước thực dân và các nước thuộc địa,một bên tạo ra cho mình bảng giá trị văn minh, hùng mạnh, đẹp đẽ, mộtbên được hình dung thành mông muội, yếu ớt, xấu xa; một đằng bópméo hiện thực và lịch sử chinh phục, còn đằng kia nỗ lực viết lại lịch sử
và tái tạo bản sắc dân tộc; “Cái khác” được tạo ra trong quan hệ bất bìnhđẳng về quyền lực giữa phương Tây và phương Đông, giữa các quốc gia
đi chinh phục và các dân tộc bị trị, “cái khác” được dựng lên trongnhững cố gắng của “kẻ yếu” để chống lại sự phát ngôn của những kẻ tựcho mình đại biểu cho sức mạnh, chính nó cũng bị những kẻ có thẩmquyền chiếm đoạt và nhào nặn “Cái khác” ở đây bao gồm chẳng những
sự khác biệt, sự tiến bộ mà còn cả bản sắc [55]
Diễn ngôn văn học nghệ thuật có tính lịch sử, bởi những tri thức,cách nhìn về thế giới của nó và do nó tạo ra biến đổi theo thời gian Cóthể hình dung thế này: mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi nền văn hoá, mỗi thểchế chính trị - xã hội có một quy ước thực tiễn diễn ngôn nhất định.Song ở mỗi thời đại lại có một diễn ngôn kiểu mẫu thống trị - cái diễnngôn chi phối, điều khiển sự hoạt động của các loại diễn ngôn khác,trong đó có diễn ngôn văn học Diễn ngôn văn học sử dụng ngôn ngữlàm phương tiện biểu đạt và tạo hình, mà ngôn ngữ, nói như R.Wellek, là
Trang 38một thể chế xã hội Chưa bao giờ văn học thoát khỏi sự ảnh hưởng củathế chế xã hội, chưa bao giờ nó thoát khỏi các hệ thống xã hội khác, vàchừng nào nó còn sử dụng ngôn ngữ thì chừng đó các cấu trúc của nócùng sự vận hành nó còn mang tính xã hội Chỉ trong những quy ước vàchuẩn mực được mọi người đặt ra, điều chỉnh và thừa nhận, diễn ngônvăn học mới được hình thành hoặc sử dụng.
Diễn ngôn văn học nghệ thuật có tính quy chiếu, nhờ đó nó cónghĩa và có ý nghĩa Todorov cho rằng diễn ngôn có tính quy chiếu, vàchỉ có những câu có tính quy chiếu mới cho phép kiến tạo thế giới Sựquy chiếu của văn chương gồm nội quy chiếu và ngoại quy chiếu, cả haibình diện này không ngăn cản nhau mà bổ sung cho nhau Ở bình diệnthứ nhất, có thể nhắc đến quan niệm của F.de Saussure, Jakobson,Barthes, Ch Peirce, Levi - Strauss… cho rằng diễn ngôn văn chươngquy chiếu vào chính nó, quy chiếu vào các văn bản khác, văn chương cótính quy ước, diễn ngôn văn chương chú trọng đến thể thức tu từ của nó,
do đó không phải lúc nào nó cũng diễn tả, biểu hiện một cái gì có trước
sự phát ngôn của nó, đọc văn ở bình diện này cần đọc mã, đọc văn bản
mở, đọc liên văn bản, đọc tính đối thoại của nó Ở bình diện thứ hai, cóthể nhắc đến quan điểm của Aristote và các tác giả chủ trương thi học
mô phỏng, coi diễn ngôn văn chương quy chiếu về hiện thực, về chủ ýcủa tác giả, về bối cảnh khởi thuỷ của sự phát ngôn và bối cảnh hiện thờicủa sự tiếp nhận nó; quan niệm văn chương có quan hệ với thế giới thựchữu, ngôn ngữ có quan hệ với tư tưởng, đã đặt ra yêu cầu sự đọc văn cầnquan tâm đến chủ ý, vô thức, đến thực tại được miêu tả, và thực tại đượcgiả định để ngôn ngữ có thể quy chiếu về nó
Diễn ngôn văn chương có tính hư cấu, theo nghĩa nó sáng tạo ra
“cái tồn tại khả thể” để quy chiếu, cái quy chiếu của nó do ngôn ngữ sinh
Trang 39ra Nó khác các dạng diễn ngôn mang tính hình tượng và mơ hồ khác ởchỗ: nó không coi mình đã đem lại chân lí hiển nhiên, mà “ngấm ngầm nhận thức được vị thế tu từ học của chính mình, nhận thức được thực tế rằng điều chúng nói khác hẳn với việc chúng làm và những đòi hỏi của chúng về kiến thức đều thông qua cấu trúc giả tưởng vốn làm chúng trở nên mơ hồ và không xác định được” [56] Diễn ngôn văn học tạo ra cáikhả nhiên [57] tức là những cái có thể có một hiệu lực thực tế qua hưcấu, tưởng tượng, và do vậy nó cũng tăng cường tri thức cho chúng ta,
mở rộng tư tưởng, quan niệm của chúng ta về thực tại, về những cái cóthể có Diễn ngôn văn học “giải phóng ta khỏi sự chuyên chế của thóiquen” Cái khả nhiên và cái có thể có hiệu lực đó, ngoài chức năng đápứng các mã, các kí hiệu, còn đáp ứng các chuẩn mực chung của xã hội,của hệ tư tưởng Diễn ngôn văn chương sáng tạo ra cuộc sống, tạo ranhững “cái có thể chấp nhận được theo quan niệm chung” Chính ởnhững điểm này, chúng ta có cơ sở để nói đến quan hệ quy chiếu này bêncạnh quan hệ quy chiếu kia Chúng tôi nghĩ chủ thể phát ngôn quy chiếu
để hợp thức hoá phát ngôn, còn độc giả quy chiếu để hợp thức hoá mộthiệu quả của văn bản
Diễn ngôn văn học mô phỏng hành vi ngôn ngữ có thực, nó “chỉxác nhận giả vờ” điều phát nó phát ngôn Diễn ngôn văn chương khácdiễn ngôn hàng ngày bởi nó không được tạo ra để đáp ứng các điều kiệnthực hành sự xác nhận đích thực, hoặc nó không thực dụng Cả Searle vàAustin [58] đều cho rằng, ở văn học, ngôn ngữ không được người phát
sử dụng một cách nghiêm túc và cũng không nghiêm túc một cách đặcbiệt, diễn ngôn văn học chẳng khác gì những lời nói đùa, nó sử dụngngôn ngữ kí sinh so với sự sử dụng bình thường Diễn ngôn văn chươnglàm suy nhược ngôn ngữ bình thường, “làm biến dạng ngôn ngữ thông
Trang 40thường theo nhiều cách khác nhau” [59] Chẳng hạn nó lạ hoá thế giớiquen thuộc để thay đổi cách cảm nhận, các đánh giá hàng ngày của độcgiả, bằng cách đó, văn chương tạo ra cảm xúc mới, hợp thức hoá cáchnhìn mới, tri thức mới về sự thể của mình Diễn ngôn văn chương sửdụng thủ pháp lạ hóa để tạo ra hiệu lực cho các phát ngôn của nó.Jakobson nói: diễn ngôn văn chương “cưỡng bức có tổ chức đối với lờinói thông thường”, nó thu hút sự chú ý đến bản thân nó, sự tồn tại của
nó Chủ nghĩa hình thức Nga cho rằng diễn ngôn văn chương đi chệchkhỏi những chuẩn mực, nó tạo ra một quy ước đọc, một cách đọc riêng
Vì diễn ngôn có tính văn học nhờ thủ pháp lạ hoá mà nó sử dụng nênmuốn xác định được đúng tính văn học của diễn ngôn cần đặt nó vàongữ cảnh cụ thể
Diễn ngôn văn học cấp cho chúng ta một tri thức về hiện thực củacon người, về môi trường trong đó con người tồn tại, đồng thời cả cáchthức con người nắm bắt môi trường đó Sự tạo nghĩa của diễn ngôn độcđáo đến mức, chính người sáng tạo ra nó cũng không biết hết những điều
mà diễn ngôn có thể nói về một hiện tượng, một vật thể Sự tạo nghĩacủa diễn ngôn chịu sự chi phối mạnh mẽ của vô thức, trực giác Diễnngôn tạo nghĩa, tạo hình cho chính cái tôi đang nói Diễn ngôn điềukhiển sự cảm nhận, sáng tạo của người nói qua sự thể nghiệm tưởngtượng và các ham muốn khuấy đảo chính anh ta Chính vô thức đã thôngđồng với hoạt động ngôn ngữ để tạo nghĩa, vô thức được cấu trúc thànhmột diễn ngôn, thành một tiếng nói có trọng lượng trong văn bản, vănbản[60] đã sao lại vô thức, ghi chép lại vô thức để trình hiện cho chúng
ta một đìều gì đó đã bị lãng quên Jacques Lacan chỉ rõ: Cái vô thức làdiễn ngôn của kẻ khác [61]