1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm tiểu thuyết viết về chiến tranh của văn lê

166 600 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 19,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể điểm qua một số ý kiến của các nhà nghiên cứu, nhà báo viết về Văn Lê và các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng của ông như sau: Trong bài báo Khích lệ lớn giới văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thu Hà

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ

CHIẾN TRANH CỦA VĂN LÊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thu Hà

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ

CHIẾN TRANH CỦA VĂN LÊ

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HOÀNG THỊ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 3

M ỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Mục tiêu nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Cấu trúc luận văn 11

CHƯƠNG 1: VĂN LÊ VÀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH THỜI CHỐNG MỸ 13

1.1 Tác giả Văn Lê và sự nghiệp sáng tác 13

1.1.1 Vài nét về cuộc đời 13

1.1.2 Quá trình sáng tác 14

1.2 Đề tài chiến tranh trong văn học sau 1975 16

1.2.1 Bối cảnh lịch sử, văn học 16

1.2.2 Những tác phẩm, tác giả tiêu biểu 19

1.3 Tiểu thuyết viết về chiến tranh của Văn Lê 21

1.3.1 Sự ám ảnh của đề tài chiến tranh và cảm hứng sáng tạo 21

1.3.2 Bộ ba tiểu thuyết của Văn Lê về Mậu Thân 25

CHƯƠNG 2: BỨC TRANH CHIẾN TRẬN VÀ CHÂN DUNG NGƯỜI LÍNH 30 2.1 Bức tranh chiến trận hào hùng, bi tráng 30

2.1.1 Những trận chiến hào hùng 30

2.1.2 Những cảnh tượng bi tráng 33

2.2 Chân dung người lính 40

2.2.1 Gương mặt của tập thể người lính 42

2.2.2 Những phẩm chất cao đẹp của người lính 51

2.2.3 Đời sống tình cảm của những người lính 55

2.3 Những suy ngẫm sâu xa về cuộc chiến 67

2.3.1 Người lính nghĩ về chiến tranh 67

2.3.2 Người dân trong cuộc suy ngẫm về cuộc chiến 70

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VỀ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 74

3.1 Sự đa dạng trong kết cấu nghệ thuật 74

Trang 4

3.1.1 Kết cấu tuyến tính và phi tuyến tính 74

3.1.2 Kết cấu lồng ghép, sóng đôi 78

3.1.3 Mạch kết cấu dồn dập, tiết tấu nhanh như ở truyện ngắn 83

3.2 Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật và sử dụng ngôn từ 86

3.2.1 Sự tinh tế trong khắc họa tính cách nhân vật 86

3.2.2 Sự linh hoạt trong sử dụng ngôn từ 97

3.3 Nghệ thuật sử dụng yếu tố tâm linh, kỳ ảo 101

3.3.1 Yếu tố tâm linh, kỳ ảo trong văn học 102

3.3.2 Những yếu tố tâm linh, kì ảo trong tiểu thuyết của Văn Lê 102

3.3.3 Hiệu quả tư tưởng – nghệ thuật của yếu tố tâm linh, kỳ ảo 110

KẾT LUẬN 114

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

PHỤ LỤC 121

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hai cuộc kháng chiến thần thánh, trường kỳ gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang của dân tộc ta chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ luôn là đề tài phong phú, tạo nên nguồn cảm hứng mãnh liệt để các nhà văn xây dựng thành công tác phẩm của mình Đề tài chiến tranh, từng là đề tài xuyên suốt, bao trùm cả một giai đoạn văn học dài hơn nửa thế kỷ Ngay khi đất nước thống nhất, cả dân tộc bước vào cuộc sống thời bình với bộn bề công việc, nhiều đề tài mới xuất hiện trên văn đàn Nhưng đề tài chiến tranh vẫn là mảng đề tài được các nhà văn, đặc biệt là những nhà văn từng là người lính, tiếp tục khai thác với thái

độ trân trọng, tấm lòng tri ân và cái nhìn mới

Sinh thời văn hào Nga Lev Tolstoi – tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Chiến tranh và

cho toàn bộ nghệ thuật – từ bi kịch và sử thi cho đến cả những bài thơ tứ tuyệt, trữ tình” Ở

Việt Nam chúng ta, thực tế đã chứng minh điều đó Dù cuộc chiến đã lùi xa, nhưng dấu ấn

và dư âm bi tráng, khốc liệt của cuộc chiến thì vẫn đau đáu, ám ảnh khôn nguôi trong tâm trí những người cầm bút Đặc biệt là những người cầm bút từng mặc áo lính, bước ra từ cuộc chiến sinh tử, luôn nhắc nhở mình như còn mắc nợ biết bao đồng đội đã hy sinh

Điểm lại nền văn học Việt Nam từ 1945 đến nay, chưa ai có thể thống kê chính xác,

cụ thể đã có bao nhiêu tác phẩm viết về đề tài chiến tranh cách mạng Nhưng có một điều chắc chắn là đề tài về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng vẫn luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của đông đảo thế hệ văn nghệ sĩ và được xem là dòng chủ đạo của văn học cách mạng Việt Nam Lực lượng sáng tác về đề tài chiến tranh rất hùng hậu với các tác giả như Nguyễn Khải, Nguyễn Đình Thi, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Bảo Ninh, Lê Lựu, Văn Lê, Chu Lai, Khuất Quang Thụy, Trung Trung Đỉnh… đã đóng góp nhiều tác phẩm có giá trị làm diện mạo văn học phong phú, sinh động

Văn Lê thuộc thế hệ nhà văn chống Mỹ từng có mặt ở chiến trường miền Đông Nam

Bộ trong những năm tháng ác liệt nhất của chiến tranh Mới hai mươi sáu tuổi, ông đã bắt

đầu sự nghiệp văn chương và đoạt giải A cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1974 – 1975 và

bắt đầu khẳng định tên tuổi từ đó Văn Lê có sức viết khỏe, từ đó đến nay, hầu như năm nào

ông cũng cho ra đời những sáng tác mới Văn Lê đã có khoảng trên hai mươi đầu sách Và đặc biệt là tác phẩm nào của ông cũng bám sát đề tài chiến tranh Dường như chiến tranh ám

Trang 6

ảnh ngòi bút của ông, đến nỗi có người phải nhận xét: “Không có chiến tranh, chắc không

có nhà văn Văn Lê!” Văn Lê đến với cuộc đời bằng nỗi đau của một con người luôn cảm thấy mình như mắc nợ với những người lính đã chết và cả những người đang sống Trong

chuyên mục Nói chuyện với những cây bút từng là lính, Văn Lê từng chia sẻ với bạn đọc:

“Khi tôi viết, đó là lúc tôi muốn được làm việc đúng, muốn đánh thức dậy những điều tốt đẹp của mỗi con người.”

Chính cái tâm và cái tài của Văn Lê đã thuyết phục được những người đọc khó tính

nhất Tiểu thuyết Mùa hè giá buốt được trao tặng giải B (không có giải A) – giải thưởng 5

năm một lần của Bộ Quốc phòng Và mới đây, tiểu thuyết này lại được trao giải Nhất Giải thưởng Văn học nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (2006 – 2011), giải thưởng 5 năm một lần đầu tiên của Thành phố Đợt giải thưởng này, nói như Lê Quang Trang – Chủ tịch Hội

Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, trên báo Sài Gòn giải phóng ngày 05/12/2012 là nhằm:

“tôn vinh những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh lịch sử dân

tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng và công cuộc đổi mới hiện nay” [44] Không chỉ

Văn Lê, các tác phẩm đoạt giải trong cùng đợt cũng viết về chiến tranh như Đêm Sài Gòn

không ngủ (Trầm Hương), Đất thở (Thạch Cương), Xuân lộc (Hoàng Đình Quang) Có thể

thấy, chiến tranh qua đi đã lâu nhưng văn học viết về chiến tranh vẫn luôn cần được trân trọng, nghiên cứu Đề tài chiến tranh vẫn cần thiết trong hành trang chúng ta giữa cuộc sống hiện tại đầy biến động, cám dỗ khiến con người ta có thể lãng quên đi quá khứ mất mát, đau thương nhưng hào hùng, đẹp đẽ

Lặng lẽ, khiêm nhường và bền bỉ, Văn Lê đang dần tỏa sáng trên lĩnh vực văn học viết về chiến tranh Có thể thấy nét nổi bật trong tiểu thuyết của Văn Lê, đó là chất nhân văn Chính giá trị nhân văn thấm đẫm trong các tác phẩm, đã giúp ông nhận được những giải thưởng cao quý của Bộ Quốc phòng cũng như Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh Trong nền văn học cách mạng, các tác phẩm của ông góp phần để lại những bài học quý báu cho thế hệ sau thấy được quá khứ hào hùng và bi tráng của dân tộc Xác định được tầm quan trọng của đề tài chiến tranh cũng như thấy được những đóng góp của Văn Lê cho đề tài này,

chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài luận văn “Đặc điểm tiểu thuyết viết về chiến tranh của Văn Lê” Với luận văn này, người viết hy vọng có thể góp phần phát hiện ra những giá trị

riêng về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của Văn Lê Và thể hiện thái độ trân trọng

sự đóng góp của ông, đối với nền văn học nước nhà

Trang 7

2 Lịch sử vấn đề

Sống trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, Văn Lê sớm rời ghế nhà trường để nhập ngũ Ông từng được trực tiếp tham gia chiến dịch Mậu Thân năm 1968 Nhờ có năng khiếu văn, ông được điều chuyển sang làm công tác chính trị, văn hóa trong quân đội Văn Lê

từng là phóng viên báo Văn nghệ quân giải phóng, Văn nghệ giải phóng, Văn nghệ Đến

năm 1977, khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông đã tái nhập ngũ ở mặt trận 479 cho tới năm 1982 mới ra quân Trong suốt khoảng thời gian đó, ông vừa cầm súng vừa viết văn Đến nay gia tài của Văn Lê để lại có khoảng hơn hai mươi đầu sách, trong đó chủ yếu là viết về chiến tranh và lực lượng vũ trang

Văn Lê sáng tác nhiều và có những tác phẩm được đánh giá cao, đạt các giải thưởng

uy tín Tuy nhiên, chưa có một công trình nào tập trung đi sâu vào nghiên cứu về các phương diện nội dung và đặc điểm nghệ thuật trong những sáng tác của ông Cho đến nay, các tiểu thuyết của Văn Lê chỉ được nhắc đến trong một số các bài báo, bài nghiên cứu hay bài viết giới thiệu về tác phẩm và sự nghiệp sáng tác của ông Có thể điểm qua một số ý kiến của các nhà nghiên cứu, nhà báo viết về Văn Lê và các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng của ông như sau:

Trong bài báo Khích lệ lớn giới văn nghệ sĩ, nhân sự kiện trao Giải thưởng Văn học

nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 5 năm (2006 – 2011), Lê Quang Trang – Chủ tịch Hội

Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận xét tiểu thuyết Mùa hè giá buốt của Văn Lê – tác phẩm đạt giải Nhất của lĩnh vực văn học: “bút pháp hiện thực nghiêm nhặt pha chút hư ảo

tâm linh trong Mùa hè giá buốt tạo hiệu quả sâu về sự ám ảnh nơi người đọc” [56] Có thể

thấy, thành công của tác phẩm chính là đã phản ánh chân thật hiện thực chiến tranh nhưng trong đó vẫn đan xen những giá trị tâm linh được xem là biểu trưng của văn hóa dân gian

Và giải thưởng này là nhằm: “tôn vinh những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ

thuật, phản ánh lịch sử dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng và công cuộc đổi mới

hiện nay” [56]

Cũng Lê Quang Trang, trong bài Phía sau hiện thực khắc nghiệt của Mùa hè giá

buốt, đăng trên tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật có nhận xét: “Về nghệ thuật,

có thể thấy tác phẩm nằm trong hệ hình của tiểu thuyết truyền thống, không có những thể nghiệm cách tân hoa mỹ cầu kỳ Tuy nhiên, cách viết đằm thắm, gắn bó sâu sắc với đời sống hiện thực mà anh chứng kiến kết hợp cùng tưởng tượng của nhà văn, đồng thời chứa đựng nhiều suy tưởng, chiêm nghiệm sâu sắc, đa dạng có thể đáp ứng nhiều loại nhu cầu,

Trang 8

khiến các tầng lớp bạn đọc khác nhau đều có thể hào hứng theo dõi cốt truyện và số phận các nhân vật Chính sự kỹ lưỡng trong văn phong, sức tươi trẻ của chất liệt sống, sự mới mẻ

và đa dạng trong ý tưởng của tác phẩm đã chiếm được tình cảm của người đọc, sự đồng thuận tuyệt đối của Hội đồng chung khảo, và cùng thời gian vẫn tiếp tục lan tỏa trong bạn đọc” [57] Như vậy, đổi mới nghệ thuật và tìm ra hướng đi riêng cho tác phẩm của mình không phải cái đích mà Văn Lê muốn hướng đến Ông khai thác đề tài chiến tranh ở chiều sâu, ở việc phản ánh chân thật về cuộc chiến, về một thế hệ thanh niên Việt Nam yêu nước anh dũng Ông tìm đến tận cùng nguồn gốc của sức mạnh dân tộc, bản chất của người lính

Đó chính là những yếu tố làm nên nét riêng của Văn Lê

Nhà báo Phan Hoàng trong bài Sức mạnh tình yêu chiến thắng tình yêu sức mạnh đã

đánh giá: “Mùa hè giá buốt, một tiểu thuyết đẹp và buồn, quyến rũ và đau đớn, thăng hoa

như một tứ thơ” [21] Tác phẩm của Văn Lê có kết thúc buồn và đau đớn bởi nó phản ánh chân thực sự thật lịch sử Để có được những chiến công, làm thay đổi cục diện cuộc chiến, nhiều người lính đã phải hy sinh, phải đánh đổi xương máu của mình

Trên website của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Sáng với bài Âm

hưởng bi tráng trong tiểu thuyết Mùa hè giá buốt đã nhận định: “Viết về đề tài chiến tranh,

và ngay cả viết về một chiến dịch cụ thể như chiến dịch Mậu Thân 1968, cũng không phải là

một cái gì quá mới mẻ Tuy nhiên, đối với tác giả Mùa hè giá buốt, một cựu binh đã từng

ngang dọc trên chiến trường Đông Nam bộ, sau khi hoàn thành mỗi tác phẩm văn học về chiến tranh, như một người lính anh lại tiếp tục tiến lên phía trước Có lẽ cũng như một số nhà văn từng mặc áo lính cùng thời, tìm tòi, đổi mới thi pháp tiểu thuyết không phải là cái

đích anh tìm kiếm, chính vì thế mà tiếp nối những Nếu anh còn được sống và Cao hơn bầu

trời… Trong Mùa hè giá buốt, thế mạnh vẫn là vốn sống cuồn cuộn, là những trải nghiệm

sinh – tử, những trải nghiệm không gì có thể thay thế” [47]

Trên báo Cần Thơ số ngày 13/11/2004 đăng bài viết của Lê Phú Khải có đoạn đánh giá: “Cao hơn bầu trời là tác phẩm văn học đầu tiên miêu tả một cách chân thực và hùng

hồn về sự kiện làm nhức nhối lịch sử đương đại Việt Nam, sự kiện Tết Mậu Thân Hùng hồn vì ở đó người đọc lĩnh hội được sự hy sinh cao cả, vô biên của cả một thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh, mà nếu không có những trang viết như thế, các thế hệ sau không thể hình dung nổi vì sao một dân tộc nhỏ bé, một đất nước nghèo nàn như Việt Nam lại có thể đánh bại một siêu cường quân sự chưa hề biết chiến bại là gì như quân đội Mỹ” [24] Lê Phú Khải đã khẳng định tài năng của Văn Lê: “Bằng vốn sống đầy ắp của người lính từng

Trang 9

vào sinh ra tử, với bản lĩnh một nhà văn có tài, Văn Lê đã tái hiện trên gần 400 trang sách khổ lớn cuộc chiến chống Mỹ để giải phóng đất nước còn in đậm trong tâm hồn ít nhất là hai thế hệ của người Việt Nam đương đại” [24]

Trong bài báo Cao hơn bầu trời – Một tác phẩm tâm huyết viết về chiến tranh của

báo Sài Gòn giải phóng số 9840, tác giả Trần Thị Khánh nhận xét: “Tiểu thuyết Cao hơn

bầu trời (NXB Trẻ, 2004) của Văn Lê mô tả một cách chân thực, cảm động về những cái

chết, về những trận đánh tàn khốc, nhọc nhằn, không cân sức và sự dũng cảm, sự hy sinh cao cả của dân tộc Việt Nam, tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ Nhưng nếu chỉ có thế thì cuốn sách mới dừng lại ở phần viết về chiến công chứ không phải

là viết về chiến tranh Văn Lê không mượn chiến tranh để viết về những trăn trở, đau khổ của thân phận con người mà anh sử dụng bối cảnh chiến tranh làm nền tảng cốt lõi mà từ đó, con người biết cách để hành động, để sống chung, để chiến thắng và để thương yêu nhau” [25]

Nhà văn Bang Hyun Suk, Chủ tịch Hội Nhà văn trẻ Hàn Quốc, chia sẻ những nhận xét về tiểu thuyết Nếu anh còn được sống trong bài báo Thêm một nhịp cầu văn học từ Việt

Nam đến với Hàn Quốc trên báo Sài Gòn giải phóng Chủ nhật 09/02/2003 (nhà báo Ngô

Ngọc Ngũ Long ghi lại): ở thập niên 70, nhân dân Hàn Quốc đã được đọc một số tiểu thuyết

Việt Nam được dịch ra tiếng Anh nhưng theo riêng ông thì vẫn chưa thực sự thấy được nét tiêu biểu của một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong chiến tranh Các tác phẩm chỉ là một cái nhìn riêng, còn phiến diện của một người Chỉ khi đọc tiểu thuyết Nếu anh còn được sống

của Văn Lê, ông mới thực sự hiểu cả hai mặt giữa cái sống và cái chết, giữa chất anh hùng

ca và những nỗi đau mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu trong chiến tranh Bang Hyun Suk còn cho biết thêm “Ngay từ khi phát hành, tiểu thuyết đã được 6 tờ báo uy tín tại Hàn

Quốc viết bài giới thiệu trang trọng, được bạn đọc đón nhận với một tình cảm đặc biệt và đánh giá cao bởi tính nhân văn cao cả của con người và đậm đà tính Việt Nam trong tác

phẩm Rất nhiều bạn đọc người Hàn Quốc sau khi đọc xong tiểu thuyết đã sang Việt Nam tìm hiểu về đất nước, con người Việt Nam” [34]

Trong bài viết Nếu anh còn được sống – lời cảnh tỉnh với loài người của tác giả

Xuân Đài có đoạn nhận xét: “Văn Lê không dừng lại ở chiến công, ngòi bút anh phanh phui đến tận cùng tai họa của cuộc chiến do người Mỹ gây ra Hậu họa thật lớn lao: một dòng họ tuyệt tự, những mối tình tan nát, sự thù hận của tuổi trẻ Việt – Mỹ, sự phản bội đến tởm lợm

của những người cùng chiến tuyến … Đừng ngạc nhiên khi ai đó không bằng lòng với cách

Trang 10

thể hiện chiến tranh của Văn Lê Anh là người trong cuộc, mấy chục năm sau ngẫm lại năm tháng của đời mình, của đồng đội, của dân tộc và không thể viết khác Sách anh không dành cho những người chỉ đọc để giải trí”

Tác giả Hoàng Quốc Hải trong bài viết Chiến tranh và góc độ người cầm bút đã nhận

xét về tiểu thuyết Nếu anh còn được sống: “Gập sách lại, một cái gì khiến ta vấn vương,

như là sự day dứt về những điều nhẽ ra không nên có Song lại có điều khác làm ta hài lòng như gỡ bỏ được sự ám ảnh nặng nề, bởi Văn Lê đã viết với tư cách công dân và cả danh dự

của người lính” [16]

Như vậy, chín ý kiến tổng hợp ở đây đều là các ý kiến khen và đánh giá cao bộ ba

tiểu thuyết viết về Mậu Thân của Văn Lê Có thể thấy, khi đánh giá về giá trị và thành công trong các tác phẩm, nhiều ý kiến đã có sự thống nhất Văn Lê thành công không phải ở sự cách tân, đổi mới trong nội dung hay thi pháp nghệ thuật Tác giả vẫn sử dụng bút pháp hiện

thực nghiêm nhặt, nghệ thuật nằm trong hệ hình của tiểu thuyết truyền thống Nhưng thế

mạnh và giá trị đầy tính thuyết phục trong tiểu thuyết của Văn Lê là ở sự phản ánh chân thật

hiện thực Ông không viết về chiến thắng mà viết về chiến tranh Sự chân thực là ở vốn sống

ngồn ngộn, những trải nghiệm sinh – tử không gì có thể thay thế Đặc biệt ở một ý kiến, là

sự đề cao, ca ngợi: Bộ ba tiểu thuyết là những tác phẩm văn học đầu tiên, miêu tả một cách chân thực về sự kiện làm nhức nhối lịch sử đương đại Việt Nam

Không chỉ ở phạm vi trong nước, tiểu thuyết Nếu anh còn được sống còn được đón

nhận nồng nhiệt tại Hàn Quốc, tạo nên nhịp cầu nối giữa văn học hai nước Trong bài viết nhân dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Hàn Quốc – Việt Nam trên Nhật báo

thực tiễn phát hành Đồng thời, tiểu thuyết này được đánh giá là “xuất sắc hơn cả về mảng văn học chiến tranh” so với các tác phẩm đã được dịch trước đó

Các tiểu thuyết viết về chiến tranh của Văn Lê phản ánh chân thật và sinh động một

thời kỳ lịch sử hào hùng và bi tráng của dân tộc Những trang viết của Văn Lê đem đến cho người đọc cái nhìn đúng đắn về một thế hệ trẻ Việt Nam anh dũng, xả thân vì tổ quốc Song đáng tiếc cho tới nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính tổng quát và toàn

diện về các tiểu thuyết của Văn Lê Chủ yếu các đánh giá, nhận xét của giới phê bình và người trong ngành đều chỉ ở dạng thức bài báo, bài viết Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa các

nhận định và đánh giá trên; thông qua đề tài luận văn này, chúng tôi hy vọng có thể khảo

Trang 11

sát, phân tích cụ thể và toàn diện hơn những đặc điểm nội dung, nghệ thuật nổi bật trong

tiểu thuyết của Văn Lê

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Văn Lê thành công với nhiều thể loại như thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn; kịch bản film tài liệu, film điện ảnh… Ông khởi đầu với thơ nhưng hiện nay lại đang thiên về văn xuôi, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết viết về chiến tranh Có thể nói chỉ thể loại tiểu thuyết mới đủ tầm vóc, để Văn Lê truyền tải hết những tư tưởng, suy nghĩ, chiêm nghiệm của mình về

chiến tranh Viết về đề tài này, Văn Lê đã có nhiều tiểu thuyết như Người gặp trên tàu

(1985), Khoảng rừng có những ngôi sao (1987), Hai người còn lại trong rừng (1988), Tiếng rơi của hạt sương đêm (1993)…

Trong đó, không thể không nhắc đến bộ ba tiểu thuyết viết về chiến dịch Mậu Thân

năm 1968 Nếu anh còn được sống (1994), Cao hơn bầu trời (2002) và Mùa hè giá buốt

(2008) Bộ ba tiểu thuyết này được đánh giá cao, là phản ánh chân thật hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ Đồng thời phản ánh được sự khốc liệt của cuộc chiến nói chung cũng như về chiến dịch Mậu Thân nói riêng Từ đó, bộ ba tiểu thuyết đã để lại những bài học quý báu cho thế hệ sau

Trong kháng chiến chống Mỹ, chiến dịch Mậu Thân – với việc đồng loạt tấn công ở

40 tỉnh thành, trong đó mũi tấn công chính là vào Sài Gòn, sào huyệt đầu não của chế độ

Mỹ – Ngụy; có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc Rất nhiều những nhà sử học, chính trị gia, các nhà quân sự, văn nghệ sỹ ở cả hai chiến tuyến đều tìm hiểu, nhận xét

và đánh giá về chiến dịch này Cho đến hôm nay, nó vẫn luôn là đề tài ám ảnh để người ta phải suy nghĩ và cầm bút viết Nhà văn nữ Trầm Hương rất tâm huyết với đề tài này, cũng

đã chọn viết về Mậu Thân và thành công với tác phẩm Đêm Sài Gòn không ngủ – tác phẩm đạt giải III, cùng đợt giải thưởng với tiểu thuyết Mùa hè giá buốt của Văn Lê – đạt giải I

Có thể thấy, sức ám ảnh của đề tài chiến tranh, đặc biệt là những kí ức sâu đậm về chiến dịch Mậu Thân đã giúp Văn Lê liên tục viết ra bộ ba tiểu thuyết gây được tiếng vang này Đó chính là đối tượng nghiên cứu của đề tài Để làm sáng tỏ giá trị nổi bật của các tiểu thuyết trên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sẽ tìm những đặc điểm giống và khác trong việc xây dựng hình tượng người lính và bức tranh chiến trận của Văn Lê với một

số tác giả cũng viết về đề tài chiến tranh như Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Chu Lai…

Trang 12

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu

Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào việc tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật nổi bật trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh của Văn Lê Từ đó, thấy được cách nhìn nhận mới mẻ, quan niệm về sự sống và cái chết, về chiến tranh và tư tưởng nhân đạo của nhà văn – người từng trực tiếp đi qua cuộc chiến Đồng thời thấy được sức mạnh của tình yêu, nét đẹp của truyền thống văn hóa lâu đời, văn hóa tâm linh trong mỗi con người, chính là nguồn gốc sức mạnh của dân tộc

4 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích giá trị nhân đạo trong nội dung của các tiểu thuyết, thấy được sức mạnh của tình yêu trong chiến tranh; sự gắn bó của người lính với làng quê, với văn hóa tâm linh; những chiêm nghiệm, suy tư về thân phận con người của tác giả

Khảo sát các nghệ thuật nổi bật của Văn Lê trong cách xây dựng hệ thống nhân vật

đa dạng; kết cấu “kép” lạ và độc đáo, bút pháp đan xen hữu thức và vô thức, đan xen thực tế chiến tranh khốc liệt và thế giới tâm linh huyền bí; ngôn từ tiểu thuyết đầy chất thơ

Rút ra những đóng góp của Văn Lê cho đề tài chiến tranh đối với nền văn học cách mạng Việt Nam sau 1975 và là nhịp cầu nối với văn học Hàn Quốc

5 Phương pháp nghiên cứu

5 1 Phương pháp phân tích tổng hợp

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đi vào phân tích – tổng hợp ba tiểu thuyết viết về

đề tài chiến tranh của Văn Lê để tìm ra các đặc điểm nổi bật trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật

5 2 Phương pháp khảo sát, thống kê

Khi xem xét các yếu tố nội dung, nghệ thuật trong ba tiểu thuyết viết về chiến tranh của Văn Lê, chúng tôi luôn đặt chúng trong chỉnh thể của tác phẩm Nhờ vậy, có thể thấy được cái riêng trong phong cách sáng tác của tác giả Từ đó, người viết có thể hệ thống hóa thành những nhận xét, những nhận định mang tính khách quan, khoa học

5 3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Để thấy được cái chung cũng như những nét riêng, độc đáo của Văn Lê trong việc miêu tả sự dữ dội, khốc liệt của chiến tranh và vẻ đẹp của hình tượng người lính; chúng tôi

Trang 13

tiến hành so sánh với tác phẩm của một số tác giả cũng viết về đề tài này như Nguyễn Minh

Châu, Chu Lai, Bảo Ninh, Nguyễn Bảo Trường Giang Từ đó thấy được sự đóng góp nhất

định của Văn Lê cho văn học viết về chiến tranh

5 4 Phương pháp lịch sử

Để khảo sát đặc điểm tiểu thuyết của Văn Lê, chúng tôi đặt các tác phẩm của ông vào

bối cảnh lịch sử xã hội và văn học đương thời để thấy được giá trị và đóng góp của riêng

ông cho mảng đề tài về chiến tranh chống Mỹ

5 5 Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Để khảo sát những thành công về nghệ thuật tiểu thuyết, người viết vận dụng phương

pháp tiếp cận thi pháp học để khám phá sự đa dạng về nghệ thuật kết cấu, sự tinh tế trong

khắc họa tính cách nhân vật và sự linh hoạt trong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật của Văn

6 Đóng góp của luận văn

Có những kết luận khoa học về giá trị của các tiểu thuyết viết về chiến tranh của Văn

Lê Chỉ ra được những tư tưởng, cái nhìn mới mẻ mà nhà văn gửi gắm bên trong mỗi tác

phẩm

Thấy được phong cách riêng của Văn Lê trên văn đàn và chất nhân văn làm nên giá

trị trong các tác phẩm của Văn Lê

Bổ sung thêm nguồn tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu văn học viết về đề tài lực

lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng sau 1975

7 Cấu trúc luận văn

Chương I: Văn Lê và đề tài thời chiến tranh chống Mỹ

Giới thiệu khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Văn Lê – một con người

tài hoa trên nhiều lĩnh vực sáng tác thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản film… Giới thiệu

khái quát về quá trình sáng tác văn học của Văn Lê

Đồng thời trong chương I, chúng tôi cũng đi vào giới thiệu sơ lược bộ ba tiểu thuyết

viết về đề tài Mậu Thân Nếu anh còn được sống, Cao hơn bầu trời và Mùa hè giá buốt

Chương II: Bức tranh chiến trận và chân dung người lính

Chương II của luận văn tập trung vào phân tích hai đặc điểm nổi bật về nội dung tiểu

thuyết viết về chiến tranh của Văn Lê Đó là bức tranh chiến trận và chân dung người lính

Trang 14

Cũng trong chương này, người viết sẽ so sánh đối chiếu tác phẩm của Văn Lê với các tác phẩm cùng đề tài của một số nhà văn khác nhằm tìm ra sự tương đồng – khác biệt và sự đóng góp trong sáng tạo nghệ thuật của Văn Lê

Chương III: Đặc điểm về phương diện nghệ thuật

Trong chương cuối này, luận văn tập trung vào tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật thể hiện trong tiểu thuyết viết về chiến tranh của Văn Lê (kết cấu nghệ thuật, nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, ngôn từ nghệ thuật và yếu tố tâm linh kì ảo)

Phần phụ lục

Giới thiệu các tài liệu, các bài báo trong nước viết về tác giả Văn Lê

Hình ảnh các chặng đường Văn Lê đã đi qua

Giới thiệu bản dịch một số bài báo Hàn Quốc viết về tiểu thuyết Nếu anh còn được

sống

Tiếp một số hình ảnh của Văn Lê với thành công trong các lĩnh vực, hình ảnh khi tác giả giao lưu với Hội Nhà văn trẻ Hàn Quốc và các độc giả Hàn Quốc…

Trang 15

CHƯƠNG 1: VĂN LÊ VÀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH THỜI CHỐNG MỸ 1.1 Tác giả Văn Lê và sự nghiệp sáng tác

1.1.1 Vài nét về cuộc đời

Nhà văn – Nghệ sĩ ưu tú Văn Lê tên thật là Lê Chí Thụy, sinh ngày 02 tháng 03 năm

1949 tại xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình

Trong hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh, tháng chín năm 1966, ông phải sớm rời ghế nhà trường để nhập ngũ, rồi đi B – chiến đấu tại chiến trường Đông Nam Bộ Ông từng tham gia chiến dịch Mậu Thân năm 1968 và cả chiến dịch mùa xuân năm 1975

Nhờ có năng khiếu văn học, ông được chuyển sang công tác chính trị, văn hóa trong quân đội, mà theo ông: “Chính cái tài vặt ấy đã giúp tôi may mắn sống sót giữa mưa bom

bão đạn” Tháng mười năm 1974, Văn Lê là phóng viên tạp chí Văn Nghệ Quân Giải

rồi tuần báo Văn Nghệ

Tháng mười hai năm 1977 – khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, Văn Lê tái ngũ, làm phóng viên tại chiến trường Tây Bắc Campuchia Ông vừa cầm súng, vừa cầm bút

ở mặt trận 479 cho tới năm 1982 mới ra quân

Sau đó, Văn Lê về làm biên tập viên, đạo diễn film tài liệu tại Hãng film Giải Phóng của Thành phố Hồ Chí Minh Đến năm 2010, ông nghỉ hưu

Văn Lê đồng thời là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Điện ảnh Việt Nam; Uỷ viên Ban Chấp hành, Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ – Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh khoá IV, Uỷ viên Hội đồng Thơ khoá V, VI

Trong lĩnh vực công tác chính là đạo diễn film tài liệu, Văn Lê đã gặt hái được nhiều giải thưởng trong cũng như ngoài nước Ông được phong Nghệ sĩ ưu tú của ngành điện ảnh

Về lĩnh vực văn chương, Văn Lê khởi đầu với thơ và sớm gặt hái thành công Mới ở tuổi hai mươi sáu, ông đã đoạt giải A cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ năm 1975 – 1976 và bắt đầu khẳng định tên tuổi trên thi đàn Sau đó, ông được trao giải B cuộc thi thơ của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội năm 1982 và giải A về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995

về đề tài chiến tranh và lực lượng vũ trang Văn Lê lại tiếp tục nhận giải thưởng văn học Bộ quốc phòng vào các năm 1995, 1999, 2009 cho hai tiểu thuyết và một trường ca…

Văn Lê quan niệm: “Nếu chỉ được chọn một trong ba – thơ, văn xuôi và điện ảnh thì tôi chọn thơ Cho dù làm thơ rất khó, càng ngày càng khó, càng lớn tuổi càng khó Chỉ khi

Trang 16

thật sự xúc động tôi mới có thể làm thơ Khó nhất của người làm thơ là sự chai lì cảm xúc, đánh mất cảm xúc Dù là thơ chính luận thì cũng cần phải có cảm xúc Tất cả mọi sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là thơ, nếu đánh mất cảm xúc thì đều thất bại”.

Bắt đầu sự nghiệp với thơ, nhưng sau này Văn Lê lại sáng tác thiên về văn xuôi nhiều hơn Tuy nhiên vẫn có thể thấy, thơ đã chi phối cả sự nghiệp cầm bút của ông Chính vì thế, các tác phẩm văn xuôi của Văn Lê đều mang văn phong nhẹ nhàng, bay bổng, mượt mà với ngôn từ trau chuốt, gọt giũa Nổi bật trong các sáng tác văn xuôi là bộ ba tiểu thuyết gây được tiếng vang, viết về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968 với những cái tên

cũng đậm chất thơ Nếu anh còn được sống, Cao hơn bầu trời và Mùa hè giá buốt

Dù đã nghỉ hưu, Văn Lê vẫn miệt mài sáng tác không ngừng Sau khi tiểu thuyết

Mùa hè giá buốt được trao giải Nhất Giải thưởng Văn học nghệ thuật TP.HCM 5 năm (2006

2011) lần đầu tiên, nhà văn lại vừa cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết lịch sử Mỹ nhân do nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành quý I/2013 và tập thơ Vé trở về do nhà xuất bản Quân đội nhân

dân ấn hành quý III/2013

Với nỗ lực tự học không ngừng, Văn Lê đã tích lũy được vốn tri thức văn hóa khá rộng Đó là nền tảng quan trọng, giúp con người đa năng trong ông có hành trình sáng tạo bền bỉ và đạt nhiều thành công trong thơ, văn xuôi lẫn điện ảnh Ở thời điểm hiện nay, những nhà văn thế hệ chống Mỹ có sức sáng tạo bền bỉ, dồi dào như Văn Lê có lẽ không còn nhiều Có thể nói, Văn Lê là một trong những hình ảnh văn nghệ sĩ tiêu biểu tự vượt lên hoàn cảnh, nắm bắt và làm chủ tri thức để khẳng định giá trị của mình

1.1.2 Quá trình sáng tác

Nếu chỉ tính riêng trong sự nghiệp văn chương, đến nay, Văn Lê đã để lại hai mươi bốn đầu sách và nhiều bài báo Trong đó ông đã xuất bản 4 tập thơ, 2 trường ca, 6 tập truyện và tạp văn, 12 tiểu thuyết

+ Về thơ:

Khoảng thời gian tôi biết (tập thơ, 1983)

Phải lòng (tập thơ, 1994)

 Câu chuyện của người lính binh nhì (trường ca, 2006)

 Vé trở về (tập thơ, 2013)

+ Về truyện, tạp văn và tiểu thuyết

Trang 17

Những ngày không yên tĩnh (truyện, 1978)

 Bão đen (truyện, 1980)

Đồng chí đại tá của tôi (truyện, 1981)

 Ngôi chùa ở Prátthana (tiểu thuyết, 1985)

 Hai người còn lại trong rừng (tiểu thuyết, 1989)

 Tình yêu cả cuộc đời (tiểu thuyết, 1989)

 Khi toà chưa tuyên án (tiểu thuyết, 1989)

Tiếng rơi của hạt sương khuya (tiểu thuyết, 1993)

xuất bản ở Hàn Quốc 2001)

 Chim Hồng Nhạn bay về (truyện, 1996)

Đồng dao thời chiến tranh (tiểu thuyết, 1999)

 Cao hơn bầu trời (tiểu thuyết, 2004)

 Mùa hè giá buốt (tiểu thuyết, 2007; tái bản 2012)

Mỹ nhân (tiểu thuyết, 2013)

Có thể nói, Văn Lê là một người đa tài và thành công trên nhiều lĩnh vực Ông viết văn, làm thơ, viết kịch bản phim truyện nhựa; viết kịch bản và đạo diễn các phim tài liệu…

Ở lĩnh vực nghệ thuật nào, ông cũng gặt hái được những giải thưởng và thành công nhất định Về một số giải thưởng đã đạt trong các lĩnh vực:

+ Lĩnh vực văn chương:

 Mùa hè giá buốt – Giải B (không có giải A) của Bộ quốc phòng (2009)

– Giải A giải Văn học nghệ thuật TP.HCM (2012) Đặc biệt: Nhà văn được trao giải Văn học Quốc tế Mê Kông (2007)…

+ Về film tài liệu:

Trang 18

 3 giải biên kịch xuất sắc nhất

 1 giải đạo diễn xuất sắc nhất

 2 giải Cánh diều vàng

 1 giải Bông sen vàng và 5 giải Bông sen giải bạc

 2 giải A, 3 giải B (của Hội Điện ảnh Việt Nam)

 Giải thưởng Galaxy của Truyền hình Nhật Bản…

Đặc biệt: Ông được phong Nghệ sĩ ưu tú của ngành điện ảnh

+ Về film truyện:

 Giải I kịch bản sáng tác về 1000 năm Thăng Long – Hà Nội

 Giải Cánh diều vàng biên kịch film truyện nhựa Long Thành cầm giả ca

1.2 Đề tài chiến tranh trong văn học sau 1975

1.2.1 Bối cảnh lịch sử, văn học

Năm 1975, công cuộc kháng chiến chống Mỹ thành công, đất nước hoàn toàn giải phóng, Nam Bắc hai miền thống nhất Từ đây, lịch sử dân tộc mở ra một thời kỳ mới, đồng thời nền văn học hiện đại Việt Nam cũng bước sang một giai đoạn mới Mặc dù cảm hứng

sử thi trong văn học thời kỳ chiến tranh vẫn còn tiếp tục quán tính trong nhiều năm thời hậu chiến, nhưng yêu cầu đổi mới văn học cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ

Từ giữa những năm 80, cùng với cao trào đổi mới đất nước; nền văn học hiện đại đã

có những biến chuyển sâu sắc và toàn diện Văn học sau 1975 đã đạt nhiều thành tựu và có nhiều triển vọng to lớn Xuất hiện thêm rất nhiều đề tài mới về cuộc sống nhưng có thể nói

đề tài về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng vẫn luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của đông đảo thế hệ văn nghệ sĩ Sự phát triển mạnh mẽ của văn học đề tài chiến tranh đã trải qua những chặng đường:

Sự đòi hỏi đổi mới của văn học đề tài chiến tranh sau 1975

Có thể thấy trong suốt ba mươi năm từ 1945 đến 1975, văn học đã làm tròn sứ mệnh cao cả của một nền văn học phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu vì tổ quốc, vì nhân dân Nền văn học đó mang khuynh hướng sử thi từ quan điểm, cảm hứng sáng tác; tới chủ đề, thế giới nhân vật… Trong thời kỳ chiến tranh, dòng sáng tác này đã có những đóng góp đáng kể cho tiến trình văn học dân tộc

Khuynh hướng sử thi tiếp tục chi phối nền văn học từ sau 1975 đến tận những năm đầu thập kỉ 80 Đó là bởi những dư âm của cuộc chiến thần thánh vừa qua vẫn là dấu ấn

Trang 19

khôn nguôi trong lòng những người cầm bút Bước sang thời bình, âm hưởng của dòng văn học cách mạng vẫn tiếp tục được nối dài

Nhưng cũng trong giai đoạn này, cùng với sự biến đổi của đời sống xã hội, văn hóa,

tư tưởng là sự thay đổi về quan niệm thẩm mỹ Văn học thời kỳ này xuất hiện nhu cầu nhìn lại, từ đó manh nha hình thành những hướng đi mới Vẫn là đề tài cuộc kháng chiến chống

Mỹ nhưng các nhà văn đã không muốn hay nói chính xác là không thể viết về chiến tranh

như cách viết trước đây Nguyễn Minh Châu trong bài Viết về chiến tranh đã đặt ra vấn đề

các tác phẩm hiện đại sẽ viết về con người hay sự kiện Và câu trả lời là: “Không còn phải lựa chọn nữa: phải viết về con người Tất nhiên con người không tách rời sự kiện chiến tranh … Rồi trước sau con người cũng đã leo lên trên các sự kiện để đòi quyền sống” [35; 24]

Phó giáo sư Nguyễn Văn Long nhận xét: “Từ đỉnh cao của chiến tranh trọn vẹn, nhìn lại và tái hiện những khó khăn, tổn thất, thậm chí cả những thất bại tạm thời của ta trong cuộc chiến tranh cũng chính là một cách khẳng định những giá trị lớn lao của sự hi sinh và ý nghĩa vĩ đại của chiến thắng” [35; 28]

Bước sang đầu những năm 80, cùng với sự khó khăn chất chồng của xã hội, khủng hoảng về kinh tế; nền văn học cũng chững lại Không ít nhà văn rơi vào tình trạng bế tắc, không tìm thấy phương hướng sáng tác Nhưng cũng chính trong những năm này, văn học

đã có sự vận động mạnh mẽ ở chiều sâu Các nhà văn ý thức hơn bao giờ hết trách nhiệm của mình Họ băn khoăn, trăn trở, tìm tòi những hướng đi mới

Như vậy, có thể coi giai đoạn văn học này là chặng đường chuyển tiếp từ nền văn học sử thi trong chiến tranh sang nền văn học thời kì hậu chiến

Giai đoạn từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được chính thức mở ra từ năm 1986 với đường lối đổi mới được thông qua tại Đại hội lần thứ VI của Đảng Đó là tiền đề quan trọng, thúc đẩy sự đổi mới mạnh mẽ của nền văn học, tạo ra luồng sinh khí mới đưa văn học tới những bứt phá trong sự phát triển Cuối năm 1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã gặp

gỡ với đại diện giới văn nghệ sĩ để thông qua Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Theo đó, văn học sẽ phát triển trên tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật

Giai đoạn này văn học nói chung và văn học về đề tài chiến tranh cách mạng nói riêng đã có sự chuyển mình rõ rệt Nếu ở giai đoạn trước sự đổi mới chỉ là những bước phát triển manh nha thì nay đã là cao trào với những hiện tượng văn học đặc sắc Cảm hứng phê

Trang 20

phán trở thành cảm hứng chủ đạo trong các tác phẩm theo khuynh hướng nhận thức lại về quá khứ chưa xa và cả về xã hội hiện tại

Từ giữa những năm 80 của thế kỷ trước, các nhà văn từng là người lính đã tiên liệu

về việc “không thể viết như đã viết” Họ đem vào trang viết của mình những trải nghiệm cá

nhân về chiến trận và nói lên những suy ngẫm mới Nhà văn Chu Lai trên tạp chí Văn nghệ

quân đội, số 4 (1987) đã chia sẻ: “Bằng những kiểm nghiệm bản thân, tôi hiểu ra rằng chiến

tranh quả thật không vui vẻ gì, đối với bất cứ dân tộc nào, dù là tự vệ hay xâm lược, chiến tranh đều mang ý nghĩa bi kịch” Còn với nhà văn Khuất Quang Thuỵ thì chiến tranh hoàn toàn “không phải trò đùa” Và chính các nhà văn quân đội là những người đi tiên phong trong việc “nhận thức lại” cách nhìn và đổi mới trong cách viết

Nói tới khuynh hướng tái nhận thức về chiến tranh không có nghĩa là nhìn nhận lại

về cuộc chiến tranh yêu nước của dân tộc ta suốt hơn 30 năm, xóa nhòa ranh giới phân biệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, ta và địch, thắng và thua… Nhận thức lại ở đây là nói tới một cách nhìn mới, toàn diện hơn về chiến tranh của nhà văn sau khi đã có “độ lùi cần thiết” là khoảng thời gian vài chục năm và có điều kiện đánh giá khách quan hơn theo chủ trương đổi mới của Đảng để sáng tạo nên những tác phẩm vừa chân thực vừa hấp dẫn người đọc

Với thể loại tiểu thuyết, chúng ta có thể ghi nhận một số thành công đáng chú ý cả về nội dung lẫn nghệ thuật Các nhà văn phát hiện và khai thác những mặt còn khuất lấp trong

hiện thực mà bấy lâu văn học vẫn bỏ qua như Thời xa vắng (Lê Lựu), Ăn mày dĩ vãng (Chu

Lai), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh)… Bên cạnh cảm hứng sáng tác mới mẻ, nhiều nhà

văn còn được chú ý ở những tìm tòi đổi mới cách viết tiểu thuyết theo hướng hiện đại như

Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh…

Với độ lùi thời gian cần thiết, các nhà văn đã có cái nhìn đầy đủ và bao dung hơn về

chiến tranh kiểu như Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoi Những tác phẩm ra đời trong giai đoạn này nhìn cuộc chiến tranh bằng một góc nhìn khác Trong bài viết Kỹ thuật dòng ý

thức qua Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, tác giả Nguyễn Đăng Điệp – tiến sĩ Viện Văn

học đã cho rằng: “Bảo Ninh không miêu tả cuộc chiến tranh ở mặt trước của tấm huy chương Không phải nhà văn có ý định “giải thiêng” cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc mà anh muốn nhìn phía khác, phía những người lính đã chịu bao nhiêu mất mát hi sinh Đó cũng là một phần làm nên sự vĩ đại của dân tộc” [50; 400] Sau này còn rất nhiều nhà văn quân đội nữa cũng tìm tòi đổi mới cách viết như Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trí Huân… Có thể thấy rằng cốt lõi của quá trình đổi mới nằm ở việc

Trang 21

các cây bút đã có nhận thức đúng đắn về bản chất thẩm mỹ của văn học, chứ không chỉ đơn thuần dùng văn học vào nhiệm vụ phản ánh trung thành hiện thực Bên cạnh thay đổi cái nhìn về chiến tranh, về người lính; văn học về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng giai đoạn này muốn có những tác phẩm lớn cũng đã chú trọng vào việc cần phải thay đổi những thủ pháp nghệ thuật và các hình thức thể hiện mới

1.2.2 Những tác phẩm, tác giả tiêu biểu

Viết về đề tài chiến tranh, rất nhiều các cây bút đã tạo nên tên tuổi cho mình Trong

đó, khảo sát riêng trên lĩnh vực văn xuôi đã có nhiều tác giả tiêu biểu

Ngay từ sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu là người đã sớm có nhận thức về việc

phải đổi mới cách viết Ông bắt đầu tìm kiếm con đường đổi mới sáng tác của chính mình

Hai cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1977 Miền cháy và Lửa từ những ngôi nhà đã đem lại

một sắc diện mới trong sáng tác của nhà văn Thông qua hai tiểu thuyết này, nhà văn thể hiện sự suy tư, trăn trở của mình về những khó khăn, thách thức của đất nước khi bước ra khỏi cuộc chiến

Theo nhà văn Nguyên Ngọc, người tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học sau

1975 không ai khác chính là Nguyễn Minh Châu Nguyên Ngọc còn nhận xét Nguyễn Minh Châu là “người mở đường tinh anh và tài năng nhất” [35; 29] Chiến tranh được Nguyễn Minh Châu nhìn nhận từ phía tác động của nó đến số phận và tính cách con người Tiêu biểu

là các tác phẩm Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam…

Bộ tiểu thuyết hai tập Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh sau khi xuất bản cũng gây

được sự chú ý trong dư luận Điều này không phải chỉ vì tác phẩm viết về một giai đoạn lịch

sử đầy khó khăn – thời kỳ sau cuộc tổng tiến công Mậu Thân (1968), mà còn vì tác giả đã chú ý viết về những tác động nhiều mặt của cuộc chiến đến sự phát triển tính cách các nhân vật Các tác động ấy có tốt nhưng cũng có cả những tác động tiêu cực

Đề tài về thời kỳ khó khăn trong chiến tranh, những thời điểm bước ngoặt hoặc những mặt trận thầm lặng chưa được nói đến… cũng được đưa vào văn học giai đoạn này

(Dũng Hà), Miền đất lửa (Vũ Kì Lân và Nguyễn Sinh)…

Văn học bắt đầu xuất hiện khuynh hướng để chính nhân vật người lính “nhận thức lại” về cuộc chiến đã đi qua Các nhà văn đánh dấu mạnh mẽ cho khuynh hướng sáng tác

này cũng chính là những người đã từng mặc áo lính như Trung Trung Đỉnh với các tác phẩm Lạc rừng, Sống khó hơn là chết, Người trong cuộc…; Khuất Quang Thụy với các tác

Trang 22

phẩm Không phải trò đùa, Góc tăm tối cuối cùng, Những bức tường lửa…; Chu Lai với Ăn

mày dĩ vãng, Ba lần và một lần, Khúc bi tráng cuối cùng, Chỉ còn một lần…; Bảo Ninh với

Các nhà văn này không chỉ viết về chiến tranh mà còn đặc biệt chú ý đến hậu quả nặng nề của nó lên số phận những người lính, những thế hệ phải trải qua cuộc kháng chiến

ấy Điều này thể hiện thành công trong các tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn

mày dĩ vãng (Chu Lai), Chim én (Nguyễn Trí Huân)…

Chiến tranh còn được miêu tả là một trường đào luyện vô cùng khắc nghiệt với phẩm chất, nhân cách con người, làm bộc lộ đến tận cùng bản chất của mỗi người, từ người lính

đến chỉ huy Các tác phẩm như Hai người trở lại trung đoàn, Thung lũng thử thách, Họ

cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi), Miền cháy, Cơn giông (Nguyễn Minh Châu)… là

những sáng tác tiêu biểu

Văn học còn chỉ ra sự lệch pha, trái ngược giữa số phận cá nhân và cộng đồng, nảy

sinh những bi kịch của con người là nạn nhân của hoàn cảnh Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến

không chồng (Dương Hướng), Vòng tròn bội bạc (Chu Lai)…

Ngoài ra, vẫn còn nhiều tác phẩm mang không khí nóng bỏng của những trận đánh

như Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí

Huân), Thượng Đức (Nguyễn Bảo Trường Giang), Có một con đường mòn trên biển Đông

(Nguyên Ngọc), bộ ba tiểu thuyết viết về chiến dịch Mậu Thân Nếu anh còn được sống –

Cao hơn bầu trời – Mùa hè giá buốt (Văn Lê), Đất thở (Thạch Cương), Xuân Lộc (Hoàng

Đình Quang)…

Điểm qua một loạt các nhà văn và các sáng tác, có thể thấy đời sống văn học nghệ thuật sau 1975 đã mang một luồng sinh khí mới Sự thay đổi cơ bản nhìn chung trong các tác phẩm là ở hai điểm chính:

Về đề tài: Trước đây, đề tài chiến tranh cách mạng chỉ được nhìn ở góc độ ngợi ca,

lãng mạn thì nay cả những góc khuất, những mất mát đau thương của hiện thực chiến tranh được phơi bày trên trang giấy Cảm hứng bi kịch bắt đầu xuất hiện

Về nhân vật: Người chiến sĩ hậu chiến được quan tâm khắc họa ở nhiều chiều, nhiều

khía cạnh cuộc sống của họ, mà trong đó, hai vấn đề được các nhà văn xoáy sâu khai thác

đó là sự hồi tưởng về quá khứ và sự bất an về hiện tại Đây có thể xem là một bước tiến của văn học về chiến tranh và cách mạng, bởi lẽ nó đã dựng lên hình ảnh người chiến sĩ một cách đầy đủ và đa diện hơn, đậm chất người hơn và mang tầm phổ quát hơn Người lính vào

Trang 23

vai nhân vật “tôi” kể chuyện, bộc bạch nỗi niềm, những dấu ấn chiến tranh hằn sâu trong mỗi số phận, mỗi cuộc đời, mỗi người mỗi khác Cảm hứng ngợi ca, giọng điệu hào hùng dần được thay thế bằng giọng nói tâm tình, đối thoại, ngẫm ngợi

Nhiều nhà nghiên cứu đã coi đây là chặng đường văn học hậu chiến

1.3 Tiểu thuyết viết về chiến tranh của Văn Lê

1 3.1 Sự ám ảnh của đề tài chiến tranh và cảm hứng sáng tạo

Đề tài chiến tranh cách mạng, trước Văn Lê đã có nhiều người viết, và chắc chắn sau

ông sẽ còn nhiều cây bút trẻ lấy đó làm đề tài khai thác Trong bài phỏng vấn Chiến tranh

không phải là một đề tài quá cũ (Báo Tuổi trẻ, thứ tư 26/07/2006), bạn đọc Hàn Quốc Ku

Su Jeong hỏi Văn Lê, chiến tranh đi qua lâu rồi mà tại sao ông luôn trở lại đề tài về người lính và sự mất mát của họ Trả lời cho câu hỏi của Ku Su Jeong, Văn Lê cho rằng: “Ở Việt Nam chiến tranh đã thật sự lụi tàn nhưng bóng dáng của nó vẫn còn hiện hữu ở nhiều nơi trên thế giới Cường độ của chiến tranh cũng khác hơn trước rất nhiều, nhưng sự tàn bạo, chết chóc thì vẫn không có gì thay đổi Hằng ngày, dưới bóng những ngọn cờ, tôn giáo, những người đàn ông đủ mọi quốc tịch, màu da vẫn xông vào giết nhau sau những trận bom rải thảm và những loạt pháo tự hành Máu người vẫn tiếp tục đổ Và, chiến tranh không phải

là một đề tài quá cũ Ở đất nước tôi, di hại của chiến tranh vẫn còn tồn tại không chỉ ở trong

ký ức của người lính mà còn tồn tại ở ngay trong từng tế bào con trẻ thuộc thế hệ thứ ba Chất độc da cam là một ví dụ Chưa hết Số đạn bom chưa nổ vẫn còn hiện hữu trong lòng đất và thi thoảng vẫn còn cướp đi mạng sống của nhiều người Hằng ngày, trên làn sóng điện vẫn liên tục phát đi bản tin kiếm tìm thân nhân và hài cốt của những người đã ngã xuống Những người đàn bà già cả vẫn gìn giữ, nuôi nấng niềm hi vọng mong manh là chồng, con của họ sẽ trở về Nhiều bà mẹ khi chết mà mắt vẫn mở như thể đang chờ ngóng con mình và những lễ gọi hồn người chết vẫn còn văng vẳng ở cõi người.”

Đó chính là lý do, mà chiến tranh dù đi qua đã lâu nhưng nó vẫn là đề tài ám ảnh ngòi bút của Văn Lê Vì thế tác phẩm nào của Văn Lê cũng viết về chiến tranh Chiến tranh

ám ảnh nhà văn đến nỗi có người đã nhận định: “Không có chiến tranh, chắc không có nhà văn Văn Lê!” Bút danh Văn Lê cũng được lấy từ tên một đồng đội của ông đã hy sinh trong chiến dịch Mậu Thân là “Văn” đem ghép với họ “Lê” của nhà văn (Lê Chí Thụy), thành cái tên Văn Lê

Trang 24

Không chỉ dừng ở cảm xúc anh hùng ca và hình tượng người lính lý tưởng Cũng không chọn góc nhìn của người lính thời hậu chiến để nhận thức lại như Chu Lai, Bảo Ninh; Văn Lê chọn điểm nhìn của những người lính đang tham gia trong cuộc chiến khốc liệt để nói lên tâm tư, tình cảm, suy ngẫm, chiêm nghiệm của họ về sự sống, cái chết và quan niệm

về chiến tranh Con người khi đứng trước cái chết những suy nghĩ dường như chân thật hơn, sâu lắng hơn Là một người lính trong cuộc, lại từng có cơ hội tiếp xúc với nhiều tư liệu lịch

sử dạng tuyệt mật và gần gũi với những nhân vật quan trọng; Văn Lê có được cái nhìn khá khái quát về cuộc sống, về chiến tranh Thông qua hệ thống nhân vật người lính đông đảo ở nhiều cương vị, cấp bậc trong các tác phẩm, Văn Lê khẳng định được một chân lý chiến tranh luôn là mất mát, đau thương; chiến thắng nào thì cũng phải trả cái giá quá đắt bằng máu và nước mắt Ông cũng lý giải phần nào nguồn gốc sức mạnh chính nghĩa của dân tộc Khi viết bộ ba tiểu thuyết về sự kiện chiến dịch Mậu Thân năm 1968, Văn Lê cho biết đó chính là sức mạnh của tình yêu

Một số quan niệm của Văn Lê khi viết về chiến tranh:

- Tôi muốn tiệm cận, lý giải vì sao, bằng cách gì mà trong hoàn cảnh ác liệt, cùng cực như thế, người Việt chúng ta đã gượng dậy được và chiến thắng Trước đây, có lúc người ta cho rằng đó là nhờ lòng căm thù, nhưng tôi lại nghĩ khác, chúng ta chiến thắng bằng chính tình yêu, vì suy cho cùng những người lính cách mạng đã bằng sức mạnh tình yêu chiến thắng kẻ thù có tình yêu sức mạnh

- Tôi viết về chiến tranh chứ không chỉ đơn thuần viết về chiến thắng

- Chiến tranh không phải một đề tài quá cũ

- Viết về chiến tranh, tôi nghĩ, không phải là để khơi gợi niềm đau, cổ súy hận thù, tôn vinh công trạng mà là để củng cố đạo đức, củng cố lẽ phải của cuộc sống Tôi đã nhìn thấy những gì mà chiến tranh đem lại Những làng mạc, thành phố bị tàn phá Những mảnh đất vô hồn Những cánh rừng, những dòng sông chết yểu Tất cả những tan đổ ấy, chúng ta

đã thay đổi, tạo dựng lại được Nhưng sự mất mát những giá trị, sự hoang vu về tâm hồn, sự giá băng trong quan hệ, sự xộc xệch của thể thống thì không phải một sớm một chiều mà xây dựng lại được Đó mới là sự tàn phá khủng khiếp của chiến tranh Có thể vì vậy mà những bài học, những kinh nghiệm được rút ra từ chiến tranh giúp cho chúng ta cảm thông, chia sẻ được với những nỗi đau, mất mát của người khác và, cần hơn cả là thấy được cái – đạo – làm – người Chúng ta không thay đổi được lịch sử Nhưng tương lai thì có thể

Trang 25

Với Văn Lê: “Viết về chiến tranh, đơn giản là tôi muốn tự giải tỏa những phiền muộn trong lòng mình, muốn được sống lại những giây phút trong sáng, vô tư với bạn bè thời chiến Tôi muốn gửi một chút hi vọng vào trong gió và muốn khôi phục đạo đức, thể thống của chính bản thân mình” Với những tâm sự ấy, chắc chắn độc giả có thể hy vọng còn được đọc những tác phẩm mới của ông viết về đề tài chiến tranh hay hơn, xác thực hơn, nhân bản hơn

Không chỉ riêng Văn Lê; nhiều nhà văn, nhiều cây bút trẻ, nhà lý luận, phê bình văn

học cùng bạn đọc đã tham gia xây dựng diễn đàn Để văn học về lực lượng vũ trang và chiến

tranh cách mạng xứng tầm hiện thực trên báo Quân đội Nhân dân Họ cùng góp thêm tiếng

nói, tìm ra giải pháp để văn học về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng có những tác phẩm xứng tầm hiện thực; để hình ảnh người chiến sĩ hôm qua và hôm nay xứng tầm với những hy sinh vô bờ bến của họ Ngoài việc sáng tác, nghiên cứu, phê bình, các tác phẩm văn học về đề tài chiến tranh còn được dịch ra nhiều thứ tiếng để có thể đến được với bạn đọc năm châu

Trước đây, nhà văn Nguyễn Minh Châu trong bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai

đoạn văn nghệ minh họa đã từng lo lắng: “Chẳng lẽ mãi mãi thế hệ nhà văn Việt Nam

chúng ta vẫn cứ yên tâm sản xuất ra toàn những sản vật không bao giờ được ngó đến trong nền văn học thế giới – Chẳng lẽ Việt Nam ngày nay chỉ hưởng của thiên hạ mà không làm

ra được cái gì góp vào của chung của thiên hạ” Thật may mắn là sau sự băn khoăn đó của Nguyễn Minh Châu không lâu, các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh cách mạng đã đến được với bạn đọc Pháp, Mỹ, Hàn quốc đem đến cái nhìn mới mẻ, đúng đắn hơn cho thế giới về con người và cuộc chiến của Việt Nam Theo lời mời của Trung tâm nghiên cứu về cựu binh trong chiến tranh Việt Nam (William Joiner Center) từ ngày 26/05/1995 đến 17/07/1995, đoàn nhà văn Việt Nam trong đó có Văn Lê đã có mặt ở Mỹ Các nhà văn Mỹ tham dự hội thảo này đều là các nhà văn nổi tiếng Có sách bán chạy và đều kinh qua chiến tranh Họ đều viết về thân phận người lính trong chiến tranh và tính nhân bản chống chiến tranh của con người Bàn luận đến cách viết về chiến tranh, có người cho rằng: “Viết về chiến tranh là viết những gì anh thấy, anh nghĩ và viết về những gì thuộc về tính hướng thiện của con người” Khi nêu cảm nhận về văn học chiến tranh Việt Nam, họ nhận xét:

“Văn học Việt Nam sống động, nhiều hình tượng và rất nhân bản” Nhiều người Mỹ thích đọc các tác phẩm văn học Việt Nam để hiểu thêm về con người và cuộc chiến tranh của Việt

Nam Nhưng tác phẩm Việt Nam xuất bản ở Mỹ không nhiều Tham dự hội thảo này, ngoài

Trang 26

các nhà văn Mỹ còn có cả những sinh viên Việt Nam trẻ theo học khóa viết văn Họ yêu nước theo quan niệm của họ và không muốn bị ảnh hưởng bởi quan niệm thù địch từ phía gia đình

Ngoài việc dịch các tác phẩm Việt Nam ra tiếng Anh, Pháp; một số tác phẩm văn chương Việt Nam đã được dịch sang tiếng Hàn Quốc và giới thiệu tới bạn đọc của quốc gia

này như: Áo trắng (The white dress) của tác giả Nguyễn Văn Bổng, Sống như anh (Live like you) của Trần Đình Vân, Nỗi buồn chiến tranh (The sorrow of war) của Bảo Ninh, gần đây nhất là Cánh đồng bất tận (The endless fields) của Nguyễn Ngọc Tư… Hầu hết các tác

phẩm này đều được dịch thông qua một ngôn ngữ thứ ba (tiếng Anh hoặc tiếng Pháp) Tiểu

thuyết Nếu anh còn được sống (If you are still alive) của nhà văn Văn Lê là trường hợp đầu

tiên được chuyển ngữ trực tiếp từ tiếng Việt sang tiếng Hàn do dịch giả – thạc sĩ Ha Jae Hong hiện đang là nghiên cứu sinh về văn học Việt Nam tại Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện

Ngày 28/01/2003, ông Kim Youn Hyun – Giám đốc Nhà xuất bản Văn học thực tiễn

và Bang Hyun Suk – Chủ tịch Hội nhà văn trẻ Hàn Quốc đã đến Việt Nam tổ chức buổi lễ

tặng Kỷ niệm chương cho nhà văn Văn Lê, đồng thời trao cuốn sách Nếu anh còn được

Hàn trên lĩnh vực văn học Nhà văn Bang Hyun Suk, Chủ tịch Hội Nhà văn trẻ Hàn Quốc,

nhận xét ở thập niên 70, nhân dân Hàn Quốc đã được đọc một số tiểu thuyết Việt Nam dịch

ra tiếng Anh Nhưng theo riêng ông, thì vẫn chưa thực sự thấy được nét tiêu biểu của một

thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong chiến tranh Các tác phẩm chỉ là một cái nhìn riêng, còn phiến diện của một người Chỉ khi đọc Nếu anh còn được sống của Văn Lê, ông mới thực sự

hiểu cả hai mặt giữa cái sống và cái chết, giữa chất anh hùng ca và những nỗi đau mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu trong chiến tranh Bang Hyun Suk còn cho biết thêm: “Ngay

từ khi phát hành, tiểu thuyết đã được 6 tờ báo uy tín tại Hàn Quốc viết bài giới thiệu trang

trọng, được bạn đọc đón nhận với một tình cảm đặc biệt và đánh giá cao bởi tính nhân văn cao cả của con người và đậm đà tính Việt Nam trong tác phẩm Rất nhiều bạn đọc người Hàn Quốc sau khi đọc xong tiểu thuyết, đã sang Việt Nam tìm hiểu về đất nước, con người

Việt Nam”

Văn Lê từng nói: “Văn chương là cuộc trò chuyện giữa con người với con người, và khi đã hiểu nhau, chúng ta sẽ là những người bạn thân” Các tác phẩm văn học viết về đề tài chiến tranh có giá trị, khi đến được với bạn đọc thế giới sẽ mở ra cái nhìn mới đúng đắn về

Trang 27

con người Việt Nam cũng như cuộc chiến tranh ở Việt Nam Chính vì thế, vẫn rất cần những cây bút có tâm, có tầm để viết về đề tài này

1 3.2 Bộ ba tiểu thuyết của Văn Lê về Mậu Thân

Không chỉ viết về chiến tranh nói chung, Văn Lê còn đặc biệt bị ám ảnh bởi một chiến dịch cụ thể Tác giả từng bộc bạch: “với tôi, chiến dịch Mậu Thân để lại những ấn tượng, đúng ra là những ám ảnh, không thể phai mờ” [33; 6] Để thực hiện được chiến dịch Mậu Thân vĩ đại – chiến dịch làm thay đổi cục diện cuộc chiến, rất nhiều người lính đã phải đánh đổi bằng sinh mạng của mình Vì thế, khi nhận xét về Mậu Thân, Văn Lê cho rằng:

“Mậu Thân là một chiến dịch vĩ đại, vĩ đại đến mức bi tráng!” [33; 7] Chính những ám ảnh

ấy đã thôi thúc ông viết bộ ba tiểu thuyết xoay quanh đề tài này

Nếu anh còn được sống (NXB Phụ nữ, 1994; tái bản NXB Văn nghệ, 2001; dịch và

xuất bản tại Hàn Quốc – NXB Văn học thực tiễn, 2001) là câu chuyện kể lại, từ cái nhìn của hai linh hồn ở cõi âm Thượng sỹ Nguyễn Quang Bình và Quế Chi – nữ thanh niên xung phong Hai linh hồn cô đơn, lang thang ngoài cửa âm phủ Tình cờ gặp gỡ rồi gắn bó, nương tựa, an ủi nhau Quế Chi kính trọng, quý mến Bình vì anh quá chân thực Họ cùng băn khoăn, ưu tư về những giá trị tinh thần đang bị dần quên đi Vì thế, họ từ chối ăn món cháo

lú khiến người ta quên hết kỉ niệm về quê hương, gia đình, bạn bè Và những ngày tháng đã sống, đã chiến đấu đẹp đẽ, hào hùng

Tác phẩm dày 239 trang, chia làm 7 phần và hai phần có tên là “Minh họa của cuốn

Cao hơn bầu trời (NXB Trẻ, 2004) viết về chiến trường B2 trước và trong chiến dịch

Mậu Thân 1968 Nhân vật chính, Lê Phú Vinh – một sỹ quan có năng lực, học viên khóa đào tạo đặc biệt của trường Sỹ quan lục quân, được tín nhiệm lựa chọn điều động về trung đoàn bộ binh số 32 Trước lúc đi B, anh được về phép, tình cờ gặp gỡ và tỏ tình với một nữ cán bộ đoàn tên Ngân Thời gian gấp gáp, ngắn ngủi, chưa kịp làm lễ ăn hỏi, anh phải chia tay vào chiến trường Hành quân ròng rã gần sáu tháng trời, Vinh cùng đồng đội nếm trải bao thử thách, vất vả Anh đã tham gia chiến đấu cũng như tham mưu chỉ huy một số trận đánh vô cùng khốc liệt nhưng đều giành thắng lợi như trận Bàu Cỏ, trận ở trảng Bà Lác, trận

ở trảng A Màn… Anh chứng kiến biết bao người lính anh dũng chiến đấu và sự ra đi của họ Sau đó, Lê Phú Vinh được điều đi cùng tiểu đoàn 1 đánh vào đô thị Sài Gòn Cuộc tấn công không được nghiên cứu kỹ càng, cẩn thận, gần hết quân số trong tiểu đoàn bị thương vong, phải rút ra Lê Phú Vinh được đề bạt lên thượng úy, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, nhận lệnh

Trang 28

đánh vào Sài Gòn đợt 2 Khu vực phòng thủ của tiểu đoàn bị bom địch san bằng Vinh bị bom vùi, may được Xuân Mai – trung đội trưởng trung đội một, thuộc đại đội chín thanh niên xung phong là đơn vị phối thuộc của tiểu đoàn, cứu sống Giữa anh và Xuân Mai nảy

nở mối tình chiến trận đẹp đẽ, trong sáng Xuân Mai chữa chạy vết thương cho Vinh, đồng thời cố liên lạc tìm đơn vị Vinh bình phục, họ quyết định trở về Gặp địch, Mai bị thương rồi hy sinh Sau chiến thắng, Lê Phú Vinh trở về quê hương trong cô độc, ngậm ngùi vì mẹ

và ông đã mất Em gái lấy chồng xa Ngân – người yêu cũ, đã lập gia đình Vinh quyết định

trở lại phương Nam để xây mộ cho Xuân Mai

Tác phẩm dày 359 trang, được chia thành 14 chương và một đoạn kết

Mùa hè giá buốt (NXB Văn hóa Sài Gòn, 2008; tái bản NXB Văn hóa – Văn nghệ,

2012) viết về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 Câu chuyện xoay quanh tiểu đoàn bộ binh độc lập 505, từ mặt trận Tây Nguyên được điều vào B2, vào cuối năm

1966 Tiểu đoàn do thượng úy Nguyễn Sỹ Việt chỉ huy Vào chiến trường mới, đơn vị đã tham gia nhiều trận đánh ác liệt tại miền Đông Nam Bộ, nhất là trong chiến dịch chống càn Junction City Cuối năm 1967, tiểu đoàn được điều về Phân Khu Một với tên gọi mới là tiểu đoàn Bến Nghé Trong đợt Một chiến dịch Mậu Thân 1968, tiểu đoàn đánh chiếm căn cứ pháo binh Cổ Loa, Trại thiết giáp Phù Đổng và xưởng quân cụ Tiểu đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ và được lệnh rút ra khỏi thành phố để củng cố, do bị thương vong lớn Vào thời điểm ấy, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sỹ Việt gặp Lê Thị Bích Vân – người dẫn đường cho Trung đoàn bộ binh số Một đánh vào trường huấn luyện quân sự Quang Trung Cô được đơn vị mở đường máu cho rút ra ngoài Họ gặp nhau và tình yêu nảy nở Họ yêu nhau đằm thắm trong gần một trăm ngày chiến đấu ác liệt tại vùng ven Cho đến ngày họ cùng hy sinh khi đánh vào thành Gia Định Ngoài ra truyện còn có nhiều nhân vật khác với nhiều cuộc đời, hoàn cảnh và thân phận khác nhau Họ là những cán bộ chỉ huy dũng cảm, dày dạn trong chiến đấu và những người lính bộ binh trong sáng, thông minh, hài hước Vào cuối chiến dịch, cả Việt và Bích Vân đều hy sinh cùng với hơn bốn trăm đồng chí của họ

Tác phẩm dày 564 trang gồm 2 phần:

Phần I (6 chương) viết về đợt 1 của chiến dịch Mậu Thân

Phần II (5 chương) viết về đợt 2 của chiến dịch Mậu Thân

Văn Lê tâm niệm khi viết về bộ ba tiểu thuyết này: “Tôi viết về Mậu Thân 1968 để

mọi người chiêm nghiệm, suy ngẫm về thành bại đó” Những điều ông phản ánh trong ba

Trang 29

tác phẩm vì vậy mà chân thật và phản ánh đúng lịch sử dân tộc Cả ba tiểu thuyết đều được người trong giới đánh giá cao và gây được tiếng vang vượt ra khỏi phạm vi Việt Nam

Những nhận xét về Nếu anh còn được sống:

- Nhà báo Choi Jea Bong: “Cuộc chiến tranh đó hoàn toàn khác với những gì mà tiểu thuyết Việt Nam đã khắc họa trong lòng độc giả Hàn Quốc bấy lâu nay Cuốn tiểu thuyết này khác với các tiểu thuyết phản động hoặc các tiểu thuyết mang chủ nghĩa nhân đạo mơ

hồ, khi nói lên quan điểm của người dân Việt Nam với khát vọng được độc lập”

- Giáo sư Bea Yang Soo – trường Đại học ngoại ngữ Busan: “Tác phẩm Nếu anh còn

được sống được dịch lần này là một trong số các tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài chiến

tranh Việt Nam … Rất nhiều tiểu thuyết được xây dựng trên sự hoang phế và vết thương còn lại của chiến tranh Nhưng không có tác giả nào làm được như Văn Lê … Không có gì lại vĩ đại như văn học, để có thể tìm hiểu về con người và xã hội của một đất nước Tiểu thuyết lần này của Văn Lê sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn về lịch sử và con người Việt Nam”

- Nhà báo Sim Jea Oek: “Tác giả không cố gắng tạo sự quan tâm của độc giả giống như những bộ film của Holywood, khi biến chiến tranh thành sân chơi Đây là lý do tác

phẩm được đánh giá là chân thực và nghiêm túc … Lý do Nếu anh còn được sống không bị

coi như bản chép sử mà tạo nên sự hấp dẫn văn học, là vì tác giả luôn trung thực và khách quan Ông không giấu hay bóp méo bản chất chiến tranh, sự sống – cái chết, hay sức mạnh của nhân dân Việt Nam đã chiến thắng đế quốc Mỹ”

Những nhận xét về Cao hơn bầu trời:

- Nhà báo Lê Phú Khải: “Cao hơn bầu trời là tác phẩm văn học đầu tiên miêu tả một

cách chân thực và hùng hồn về sự kiện làm nhức nhối lịch sử đương đại Việt Nam, sự kiện Tết Mậu Thân Hùng hồn vì ở đó người đọc lĩnh hội được sự hy sinh cao cả, vô biên của cả một thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh, mà nếu không có những trang viết như thế, các thế hệ sau không thể hình dung nổi vì sao một dân tộc nhỏ bé, một đất nước nghèo nàn như Việt Nam lại có thể đánh bại một siêu cường quân sự chưa hề biết chiến bại là gì như quân đội Mỹ”

Những nhận xét về Mùa hè giá buốt:

- Chủ tịch Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh – Lê Quang Trang:

“Ở phía sau hay cùng song hành với thực tế ấy, là những tiêu cực nảy sinh, những

hy sinh mất mát đầy xót xa, những ấu trĩ không đáng có, tất cả làm cho bức tranh đời sống

Trang 30

ấy thực hơn và giá trị hơn Điều đó càng tôn vinh thêm tinh thần quả cảm, phẩm chất anh hùng, sức mạnh tình yêu trong môi trường thời kháng chiến gian khổ”

“Chính sự kỹ lưỡng trong văn phong, sức tươi trẻ của chất liệu sống, sự mới mẻ và

đa dạng trong ý tưởng của tác phẩm đã chiếm được cảm tình của người đọc, sự đồng thuận tuyệt đối của Hội đồng chung khảo, và cùng thời gian vẫn tiếp tục lan tỏa trong bạn đọc”

- Nhà văn Ngô Thảo: “Tính về tiểu thuyết viết về chiến tranh dữ dội, ác liệt, miêu tả trực diện, thẳng băng những mất mát hy sinh, trung thành và phản bội, dũng cảm và hèn nhát, sự sống và cái chết của từng cá nhân, từng tập thể nhỏ cho chiến thắng của đại cục…,

có lẽ xưa nay, văn học nước ta chưa một tác phẩm nào sánh bằng”

TIỂU KẾT

Có thể thấy, suốt từ năm 1945 đến nay, mảng đề tài chiến tranh trong văn học đã trải qua nhiều chặng đường phát triển khác nhau Sau khi đất nước hòa bình, đề tài này lại càng phong phú hơn với nhiều cây bút từng khoác áo lính và cả những cây bút trẻ Đến nay, đề tài này – với độ lùi thời gian cần thiết để chúng ta có thể đánh giá một cách khách quan, công bằng; đã trở thành vỉa quặng giá trị cho các nhà văn khai thác

Văn Lê thuộc thế hệ nhà văn chống Mỹ, đến nay vẫn còn sáng tác miệt mài, bền bỉ Hầu như năm nào ông cũng cho ra đầu sách mới Lặng thầm và khiêm nhường nhưng Văn

Lê đang dần tỏa sáng và khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn Tác phẩm của ông không chỉ được giới chuyên môn trong nước đánh giá cao, mà còn được giới chuyên môn và độc giả Hàn Quốc trân trọng, đón nhận nồng nhiệt Theo giáo sư Bea Yang Soo, việc đọc tác phẩm của Văn Lê giúp độc giả Hàn Quốc có “cái nhìn đúng đắn về lịch sử và con người Việt Nam”

Cuốn sách Nếu anh còn được sống của Văn Lê đã tạo thêm được một nhịp cầu văn

hóa giữa hai nước Việt – Hàn Không chỉ Hội Nhà văn Trẻ Hàn Quốc muốn tìm hiểu Việt Nam, nhiều đoàn độc giả Hàn Quốc đã tìm đến Việt Nam để được trao đổi với tác giả Cũng thông qua cuốn sách, nhân dân Hàn Quốc đã có cái nhìn đúng đắn hơn về con người và cuộc chiến tranh ở Việt Nam Họ thể hiện sự yêu quý và ngưỡng mộ với thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh

Trang 31

Nhà văn Văn Lê đã thực hiện được tâm niệm của mình: “Nếu con người biết tôn trọng những bài học của lịch sử, thì hãy tìm đến với nhau, không phải bằng cây súng, mà là bằng quyển sách trong tay”

Trang 32

CHƯƠNG 2: BỨC TRANH CHIẾN TRẬN VÀ CHÂN DUNG

NGƯỜI LÍNH

Xuyên suốt trong các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, Văn Lê đã tái hiện rất thành công hai nét nội dung chính là bức tranh chiến trận và hình tượng người lính Đây cũng là hai nội dung thường thấy ở bất cứ một tác phẩm về đề tài chiến tranh nào Nhưng Văn Lê, với cách thể hiện của riêng mình, đã tạo được những nét mới mẻ trong những nội dung vốn

rất quen thuộc ấy

2.1 Bức tranh chiến trận hào hùng, bi tráng

Cùng một bức tranh chiến trận, nhưng mỗi tác giả có một phong cách vẽ riêng Ở ba tác phẩm đề tài Mậu Thân của Văn Lê, nổi bật và chủ đạo là sắc màu bi tráng Đó chính là đặc điểm riêng trong tiểu thuyết viết về chiến tranh của Văn Lê Làm nên sắc màu bi tráng

là ở sự khẳng định sức mạnh chính nghĩa của cuộc chiến đấu, đồng thời tái hiện được sự dữ dội, khốc liệt, sự đau thương, mất mát Văn Lê đã tạo được màu sắc khác biệt trong bức tranh chiến trận của mình

Tác giả Lê Phú Khải đã nhận xét trên diễn đàn Văn chương Việt: “Không có vốn

sống, không người họa sĩ nào dám vẽ bức tranh hoành tráng có không gian từ làng quê Bắc

Bộ, đến rặng dừa trời Nam, có những trận chiến khốc liệt trên hè phố Sài Gòn Mậu Thân 68,

có tình yêu, có nước mắt, có máu, có tình bạn, tình đồng chí, tình quân dân và những hy sinh còn “cao hơn bầu trời” Văn Lê dám làm điều đó và thành công vì anh là người trong cuộc viết bằng máu thịt, viết bằng bàn tay đã đào đất chôn cất đồng đội mình sau đó mới cầm bút”

Với bộ ba tác phẩm viết về chiến dịch Mậu Thân, Văn Lê đã khẳng định được cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta là một cuộc chiến vệ quốc chính nghĩa Cuộc chiến này là sự tiếp nối truyền thống yêu nước của dân tộc Chính tính chất chính nghĩa của cuộc chiến bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đã khơi dậy tinh thần đấu tranh của toàn dân hai miền Nam Bắc Nó đã tạo nên tinh thần quyết chiến quyết thắng cho cả dân tộc như lời kêu gọi của Bác: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” Trong bức tranh chiến trận của Văn Lê, có sắc màu bi tráng và chất chứa

những điều suy tư, triết lý về cuộc chiến của ông

2.1.1 Những trận chiến hào hùng

Trang 33

Vì thấy được tính chất chính nghĩa của cuộc chiến bảo vệ độc lập dân tộc, Bích Vân trong Mùa hè giá buốt đã tự giác đến với cách mạng Lúc còn là học sinh trung học, Bích

Vân được tham gia hướng đạo ở làng Vĩnh An và trở nên yêu thích, gắn bó với ngôi làng này Khi người Mỹ sang Việt Nam, ngôi làng đã bị san bằng Chúng giải thích hành động thẳng tay đàn áp người dân nơi đây là vì khó chịu với cái nhìn của họ Bích Vân hiểu ra rằng sinh mệnh của mỗi con người Việt Nam thật nhỏ nhoi Chỉ cần làm lính Mỹ không hài lòng,

người ta có thể bị giết ngay Và từ đó, “ý thức chống Mỹ hình thành một cách rõ nét trong

bạn rủ nhau lên đường tham gia kháng chiến Cô trở thành người dẫn đường cho Trung đoàn

bộ binh số Một đánh vào quân trường Quang Trung

Ngay trong nhiệm vụ đầu tiên của mình, Bích Vân đã phải đối mặt với một trận chiến

vô vàn khó khăn Không có lực lượng nội ứng, Trung đoàn bắt đầu chiến đấu một cách không cân sức với địch Trước tình thế căng thẳng, Phó chính ủy đưa cho Bích Vân một

khẩu súng vì theo ông: “Đã là người cách mạng thì không nên để kẻ thù bắt sống” [33;

149] Trận đánh càng lúc càng trở nên khốc liệt, hai phần ba quân số của đơn vị đã hy sinh Phó chính ủy Trung đoàn cũng bị thương nặng, rồi trút hơi thở cuối cùng Lần đầu tiên tham gia một trận chiến dữ dội, Bích Vân không kìm được tiếng khóc than khi chứng kiến quá nhiều người chết Chưa kịp bình tâm, cô lại thấy hình ảnh những người lính bị địch dồn đuổi vào một căn nhà Họ chiến đấu anh dũng cho đến khi hết sạch đạn Một tiếng nổ lớn vang lên, cả căn nhà sụp đổ Họ đã chôn vùi được những người lính đối phương chết chung với mình Sự dũng cảm trở thành sức mạnh vô hình, nó âm thầm được truyền từ người này sang người khác Nó khiến cô sinh viên mới vào chiến trường đã có những suy nghĩ như một

chiến sỹ cách mạng thực thụ: “cô cảm thấy dửng dưng, sẵn sàng đón nhận cái chết mà

không hề tỏ ra băn khoăn, nuối tiếc điều gì” [33; 151] Trận đánh đã gieo vào lòng cô

những suy nghĩ đúng đắn, sâu sắc và toàn diện hơn về cuộc cách mạng của nhân dân ta

“Những ngày tháng gian khổ đã giúp cho cô hiểu được tình cảm của con người sao mà bao

la, nặng lòng đến nhường vậy? Càng nghĩ, cô càng thấy yêu thương đến thắt ruột đất nước mình Cô cũng đã hiểu được vì sao, vì lẽ gì, mà người ta sẵn sàng chết” [33; 153] Bởi đó là

những cái chết thiêng liêng, chết để đất nước được trường tồn

Những hình ảnh hào hùng ấy xuất hiện trở đi trở lại trong nhiều trang viết của Văn

Lê Những người lính chiến đấu vì chính nghĩa, vì tổ quốc nên họ sẵn sàng hy sinh thân

mình Hình ảnh chiến đấu của họ trở nên đẹp đẽ như một bản anh hùng ca Cũng trong Mùa

Trang 34

hè giá buốt, ở trận đánh vào Sóc Ky, khi bộ đội tràn lên tấn công, trong những chớp lửa,

Việt nhìn thấy rất rõ hình ảnh của anh lính Quách Trung Đoan Đoan ôm B41, vừa chỉ huy vừa dẫn đầu đội hình xông lên Anh bắn cháy một xe tăng rồi lại hạ thêm một xe bọc thép Dưới sự dẫn dắt của Đoan, trung đội phối hợp một cách linh hoạt, uyển chuyển Việt cảm

nhận “trong khói lửa, bóng dáng của Đoan và đồng đội như được viền ánh sáng chói lòa”

[33; 67] Hình ảnh những người lính dũng cảm ấy trở nên sinh động và rực rỡ, đẹp chưa từng thấy trong mắt Việt

Đó cũng có thể là hình ảnh của một tập thể những người lính Không một người nào được gọi tên cụ thể Nhưng trên chiến trường, họ luôn dũng cảm, sẵn sàng xả thân, không sợ

hiểm nguy, không sợ hy sinh, chết chóc Trong trận đánh vào căn cứ Tống Lê Chân, “Nhiều

trái đạn rơi trúng đội hình xung kích … những trái đạn xóa đi từng mảng người trên mặt đất” [33; 35] Thế nhưng, sự dữ dội của đạn pháo cũng không cầm chân được người lính

Hình ảnh họ hào hùng xông lên trong tiếng kèn hùng tráng, thôi thúc “Những người lính

đánh bộc phá cảm tử bắt đầu sôi máu Người này ngã, người sau lại vọt lên thay chỗ Hàng chục người lính bị đốn ngã ở ngay hàng rào, nhưng những người sống vẫn như mạch nước ngầm trào lên chỗ cửa mở” [33; 35]

Cũng trong trận đánh ấy, hình ảnh ngọn cờ cách mạng được truyền từ người này sang

người khác như một biểu tượng hào hùng của ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc “Người

lính cầm cờ chạy lên phía trước và bị trúng đạn Một người lính khác nhào tới đỡ lấy ngọn

cờ, cũng lại bị bắn gục Vậy nhưng ngọn cờ vẫn được truyền từ tay người chết sang tay người sống, tiến về phía trước” [33; 36]

Nhiều trận đánh khốc liệt mà người lính biết chắc khi xông lên tấn công họ sẽ phải

hy sinh Nhưng với lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước ngút trời, họ vẫn cứ tiến lên Văn Lê

miêu tả “họ chiến đấu một cách vô cùng linh hoạt Họ luồn lách, nằm, bò, chạy, nhảy, vừa

bắn, vừa tống lựu đạn, thủ pháo xuống những căn hầm, những ổ đề kháng kiên cố […] Có lúc, đạn cối đã cuốn phăng một lúc ba bốn chiến sỹ, nhưng vẫn không thể cản được tinh thần quyết chiến của họ” [33; 37]

Trong Cao hơn bầu trời, sự hùng tráng được Văn Lê miêu tả đậm nét ở cảnh người

lính xung trận Vượt qua hiểm nguy, bom đan, họ sẵn sàng hy sinh thân mình, dũng mãnh

tiến công “Các chiến sĩ tung hầm, lao về phía quân thù Tiếng hô “xung phong, xung

phong” như những đợt sóng, trùm trong khói đạn, át cả tiếng súng và tiếng hỏa tiễn nổ gần” [32; 128] Không một người lính nào chùn bước trước cái chết, “dường như họ coi

Trang 35

việc hy sinh cho độc lập dân tộc là một cái gì đó thuộc về lẽ tự nhiên mà không cần phải bàn cãi gì nữa” [32; 232]

Văn Lê chia sẻ cảm xúc khi viết những trang chiến trận hào hùng: “Tôi vẫn còn nhớ như in tiếng thốt lên đầy vẻ căng thẳng, buông xuôi và cũng đầy quyết tâm của người lính:

“Thà chết một đống còn hơn sống một người”… Tôi cứ luôn có cảm giác như mình bị nổ

tung cùng với tiếng bộc phá của những người chiến sỹ hết đạn tìm đến cái chết giữa vòng vây của địch” [33; 7] Tác giả đã truyền tải một cách chân thực tất cả những gì mình đã chứng kiến, đã trải qua, đã cảm nhận vào từng trang viết, từng nhân vật Ông nhận xét:

“Mậu Thân là một chiến dịch vĩ đại, vĩ đại đến mức bi tráng! Ở đó, người lính đã chứng tỏ

được đỉnh cao của nhân cách, sự dũng cảm và sự “quyết tử để chiến thắng”, hiểu theo đúng

nghĩa của cụm từ này” [33; 7] Chính vì thế, những trang văn trong bộ ba tiểu thuyết về đề tài Mậu Thân, đẹp hùng tráng nhưng cũng đầy bi thương

2.1.2 Những cảnh tượng bi tráng

Trong bài phỏng vấn của đại tá Đỗ Viết Nghiệm, Văn Lê chia sẻ về việc kết thúc cuốn tiểu thuyết của mình một cách bi thảm và không có hậu: “Tôi chẳng có dụng ý gì cả, ngoài việc mô tả sự thảm khốc của chiến tranh Tôi muốn phản ánh những hiện thực mà mình đã nhìn thấy và đã trải nghiệm Tôi đã từng chứng kiến những trận đánh công kiên mà hàng trăm chiến sỹ chết gục trên cửa mở Nhưng những người còn lại vẫn bò qua xác của đồng đội mình, tiến lên và rồi cuối cùng, họ đã chiến thắng” [33; 9] Dù có mất mát, đau thương nhưng rồi vượt qua tất cả dân tộc ta vẫn chiến thắng Bởi đây là cuộc chiến vệ quốc chính nghĩa Một dân tộc có truyền thống ngàn đời bất khuất chống ngoại xâm như dân tộc

ta sẽ không bao giờ chấp nhận thất bại để đất nước rơi vào tay kẻ thù Chính tinh thần đấu tranh anh dũng vô song của dân tộc đã tạo nên nét hào hùng, sắc thái hùng tráng của cuộc chiến Song cuộc chiến này cũng vô cùng khốc liệt và bi thương Vì đây rõ ràng là một cuộc đối đầu không cân sức giữa ta và địch Khi mà dân tộc ta thì quá nhỏ bé, yếu đuối, lạc hậu lại phải chống chọi với kẻ thù là một cường quốc hùng mạnh và được trang bị vũ khí tối tân, hiện đại Chính vì thế để có được chiến thắng, chúng ta phải chấp nhận nhiều mất mát, thương vong, tổn thất nặng nề về nhân mạng Điều này đã tạo nên sắc thái bi thương của cuộc chiến

Trong mỗi trận đánh, những hình ảnh về người lính xuất hiện vừa hùng tráng vừa bi thương xen lẫn vào nhau Những người lính ấy thoáng xuất hiện đẹp rực rỡ, hào hùng nhưng ngay sau đó họ có thể lại đã hy sinh, đã trở về với cát bụi Sinh mạng người lính thật quá

Trang 36

mỏng manh trong sự khốc liệt của cuộc chiến, trong khói lửa của bom đạn Văn Lê đau xót

“Mạng người như cây như cỏ Cười đó rồi chết đó! Vừa thấy đó mà bỗng hóa gió mây!”

[29]

Trong Mùa hè giá buốt, sự khốc liệt và bi thương của cuộc chiến được miêu tả bằng

những cái chết dữ dội của người lính Không gian chiến tranh được mô tả “lúc nào cũng

rầm rầm bom đạn” [33; 24] Và tiểu đoàn Bến Nghé trong sự bạo tàn của chiến tranh đã

“lột xác ba bốn lần” bởi “xác suất phải nhận cái chết của người lính bộ binh có tỷ lệ rất cao” [33; 29]

Hay cảnh hy sinh bi thương của những người lính khi bị địch đánh bằng bom xăng

tạo nên ấn tượng khủng khiếp“Cả khu phố giống như cái vạc dầu khổng lồ nơi địa ngục

Lửa cháy ngùn ngụt, cao thấu trời xanh Một số chiến sỹ đại đội Hai, từ trong lửa, cố sức chạy thoát ra ngoài Toàn thân họ bốc cháy như những cây đuốc Họ chỉ chạy được vài bước, rồi đổ gục trong biển lửa quằn quại Không ai cất được tiếng kêu Không một ai cả Những thân thể bị nướng chín, cong lên, phình to ra, rồi nổ bục” [33; 507]

Trong Nếu anh còn được sống, nhân vật Nguyễn Quang Bình đã xiết bao kinh hoàng

khi nhìn thấy sau một trận đánh, “chiến hào ngập ngụa người chết, cả địch lẫn ta Những

con người không còn nguyên vẹn, chồng đống lên nhau mà chết Chết… tức tưởi… Máu chảy thành từng vũng trên mặt đất Có chỗ máu bị nắng hun đen, đặc quánh như bùn Mùi máu tanh nồng” [31; 168]

Văn Lê đã phản ánh thành công sự bi thương, khốc liệt của chiến tranh một cách sống động, chân thực Chỉ có những người bước ra từ cuộc chiến, kinh qua biết bao những trận đánh ác liệt như Văn Lê, Bảo Ninh, Chu Lai… mới lột tả hết được sự dữ dội, khốc liệt của những trận bom xăng, những thân xác người đổ gục xuống, bục ra

Cũng nói về những khốc liệt, bi thương như thế, trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh mô tả cảnh sau một trận đánh “sườn đồi Xáo Thịt sau ba ngày huyết chiến nom y hệt

một mái nhà lợp bằng thây người” [49; 98] Hay, cảnh một trận địch tập kích bằng na-pan

“Một trận đánh ghê rợn, độc ác bạo tàn … rừng bị ướt đẫm xăng đặc, cuồn cuộn lửa luyện ngục Các đại đội đã tan tác đang cố co cụm, lại bị đánh tan tác Tất cả bị na-pan tróc khỏi công sự, hóa cuồng, không lính không quan gì nữa rùng rùng lao chạy trong lưới đạn dày đặc, chết dúi ngã dụi vào biển lửa Trên đầu trực thăng rà rạp các ngọn cây và gần như thúc họng đại liên vào gáy từng người một mà bắn Máu tung xối, chảy tóe, ồng ộc, nhoe nhoét … thân thể giập vỡ, tanh bành, phùn phụt phì hơi nóng” [49; 7]

Trang 37

Văn Lê không chỉ dừng lại ở việc miêu tả sự dữ dội và ghê rợn của mỗi trận đánh với máu xối tung, thây người xếp chồng Là một nhà thơ viết văn, tác giả còn chú ý đặc tả sự khốc liệt và bi thương của chiến tranh thông qua tâm trạng đau đớn của các nhân vật Tác giả đi sâu vào khai thác nỗi đau của người mẹ khi mất hết con sau một trận đánh; cảm giác bất lực, đau đớn của những người lính khi không thể làm gì để cứu được đồng đội của mình

Cả những tâm trạng phức tạp của người lính cũng được Văn Lê phản ánh vô cùng chân thực

và xúc động Đó là nỗi ám ảnh về chiến tranh khiến họ vừa muốn nhớ những ngày tháng chiến đấu hào hùng bên đồng đội, vừa cảm thấy sợ phải nhớ tới những bi thương, mất mát

Trong tiểu thuyết Cao hơn bầu trời, sau cuộc tổng công kích Mậu Thân đợt Hai; tiểu đoàn của Lê Phú Vinh được một người đàn bà tuổi trên năm mươi “vẻ mặt héo hon và có

cái nhìn đau đáu” tiếp tế cho đạn dược Điều gây ấn tượng đặc biệt ở bà là mái tóc bạc

trắng Chỉ trong vòng có nửa tháng tham gia chiến đấu, cả ba người con trai của bà đều lần lượt hy sinh hết Nỗi đau quá lớn, tóc bà bỗng dưng bạc trắng Âm thầm làm xong nhiệm

vụ, không kìm được những giọt nước mắt đau đớn, bà trách móc như để trút bớt nỗi đau trong lòng: “Chỉ huy đánh giặc như tụi bay, thì chúng tao đẻ làm sao kịp!” [32; 290] Đau

đớn thay cho một người mẹ chỉ một chiến dịch đã mất hết cả con cái Dù vậy, bà vẫn tin vào cách mạng, vẫn tận tụy làm nhiệm vụ tiếp tế cho bộ đội và yêu thương những người lính như chính con mình

Ở một truyện ngắn khác của Văn Lê là Kí ức Mậu Thân, nhân vật chị Tư Cơ – người

chỉ huy kiên cường của một đơn vị thanh niên xung phong, khi chứng kiến cảnh bộ đội hy sinh quá nhiều, đã khóc òa lên và than rằng: “Chỉ huy đánh đấm như thế này, thì mấy má đẻ làm sao cho kịp đây?” [30; 45]

Sự khốc liệt của chiến tranh cùng câu hỏi đầy đau đớn, đầy ám ảnh kia về những mất mát, hy sinh trong chiến dịch Mậu Thân cũng được Trầm Hương nhắc tới trong tiểu thuyết

Đêm Sài Gòn không ngủ Kim trong lúc tìm về với thân thế, cội nguồn của mình đã đọc

nhiều tài liệu mật về Mậu Thân Cô tìm thấy bút tích của đại tá Nguyễn Tư – ông trùm biệt

động Sài Gòn, viết cảm nghĩ của mình sau chiến dịch: “Sự tổn thất về sinh lực trong cuộc

tiến công Tết Mậu Thân lớn đến nỗi các bà mẹ phải la lên “đánh như vầy thì ai đẻ kịp cho

Trang 38

thư đặc khu ủy Quảng Đà, trong buổi họp rút kinh nghiệm đợt một tấn công vào Thượng

Đức nhận xét: “anh đừng phật lòng Đánh chác kiểu vừa rồi các mẹ ở miền Bắc đẻ con sao

kịp?” [13; 409] Rõ ràng cùng một câu hỏi đầy trăn trở đã được đặt ra trong nhiều tình

huống, trong lời nói của nhiều nhân vật khác nhau Nhưng nó nhằm phản ánh một sự thật chung là cuộc chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam quá khốc liệt Và dẫu biết rằng trong chiến tranh chắc chắn là có mất mát, hy sinh nhưng khi phải thật sự đối diện với thực tế đó thì khó ai có thể cầm lòng trước cái giá quá đắt của nó

Trong Nếu anh còn được sống, người lính phải thốt lên: “càng vào sâu chiến trường, càng nhận thấy gương mặt thật của chiến tranh” [31; 102] Gương mặt thật ấy là “biết bao cánh rừng bị bom đốt trụi một cách tàn khốc”, là không có ngày nào không “nghe tiếng máy bay đánh phá ở đâu đó”, là những cái chết tức tưởi như những thân cây đầy nhựa sống

bị phạt ngang của những anh lính trẻ hay các cô thanh xung phong Là những đêm rừng người lính bị “nhồi nhét dồn đống” trong một không gian chật hẹp để tránh bom B52 Ở sâu trong hang họ vẫn nghe “tiếng bom rơi bình bịch”, âm thanh ấy “thốn đến tận óc” Và trong ánh lửa sáng rực của những trái bom nổ gần cửa hang, hạ sỹ Nguyễn Quang Bình thấy

“gương mặt đồng đội anh trở nên xám ngắt, tội nghiệp Cặp mắt của họ trắng dã, thoáng những nét kinh hoàng Có người nhắm tịt cả mắt lại để khỏi phải nhìn thấy ánh lửa chết chóc đang bùng cháy phía ngoài hang” [31; 105] Sau một đêm B52 đánh vào trạm, Văn Lê

miêu tả trên mặt đất hai hố bom “sâu hun hút, giống như hai con mắt bị khoét đỏ au nhìn

lên nền trời xám xịt” [31; 106] Những căn hầm hoặc bị thổi tung, hoặc bị phá sập

Đau đớn nhất là những đoạn mô tả cái chết của các cô thanh niên xung phong do sập hầm Khi những người lính đào được một hầm đưa họ lên, có người còn thoi thóp, có người

đã chết hẳn Trên đôi tay họ, “hầu như đầu ngón tay người nào cũng rướm máu Có lẽ trong

cơn tuyệt vọng, họ đã ra sức dùng tay đào bới, nhưng không thể nào phá tan lòng đất ra được” [31; 109] Bản năng sinh tồn, sức sống tuổi trẻ khiến họ phải ra sức cố gắng chống

chọi một cách vô vọng với tử thần

Lại có những cửa hầm bị khối đá lớn chắn ngang không cách gì phá được Tiếng kêu cứu thống thiết của các cô gái cứ nhỏ dần rồi tắt lịm Nó khiến trái tim những người lính

chìm sâu vào tâm trạng đau đớn, thống khổ “Chuẩn úy tru lên, hai tay buông thõng Anh

dậm chân nhìn vào cửa hang mà không làm gì được … Còn hạ sỹ thì cứ ôm riết lấy tảng

đá, mắt anh đỏ quạch Các chiến sỹ cũng mủi lòng, khóc theo Họ khóc vì sự kém cỏi, bất

Trang 39

lực của mình Họ khóc vì phải đứng nhìn đồng đội chết mà không còn cách nào cứu được

[31; 113]

Khi cửa hang được phá, tất cả đều đã hy sinh Trong đó có Mai – cô gái mà hạ sỹ Nguyễn Quang Bình vừa mới quen trên chuyến tàu anh từ quê trở về đơn vị Bình không thể

nào tin được rằng cô chết một cách tức tưởi, bi đát như thế “Anh cũng đâu có ngờ là buổi

sáng hôm ấy, lúc anh nhảy xuống tàu cô chạy theo, tự giới thiệu tên mình và tên đơn vị với anh, để rồi hôm nay, anh đưa cô về nơi yên nghỉ” [31; 115] Không thể giải tỏa được nỗi ức

chế trong lòng, anh chỉ biết nhìn lên trời mà gào lớn: “Trời ơi! Thế này là thế nào? Tại sao

lại vô lý như thế?”

Những cái chết đau đớn, tuyệt vọng, không đáng có như thế của rất nhiều những thanh niên tràn đầy nhựa sống tuổi trẻ cứ thế xảy ra Rồi trong vòng xoáy khốc liệt của chiến tranh, những cái chết tức tưởi lần lượt đến với hết thảy mọi người Sau Mai, đó là cái chết của trung đội trưởng Tạ Quang Ron – người chỉ huy mà Bình rất kính trọng Rồi đến nhiều đồng đội khác và cuối cùng cả Kim Khánh – cô gái mà Bình yêu thương, ra sức che chở, cũng đã hy sinh cùng anh

Cũng viết về đề tài Mậu Thân nhưng với một quy mô lớn hơn hẳn, tiểu thuyết Mùa

hè giá buốt phản ánh sự khốc liệt của chiến tranh đến với toàn mặt trận miền Nam mà tập

trung nhất là vào tiểu đoàn Bến Nghé Truyện được kể kéo dài từ những trận đánh trước đó hai năm cho đến tận ngày cuối, khi tiểu đoàn nhận được lệnh cho phép rút lui khỏi Sài Gòn

Và vào cuối đợt tấn công này, kết quả của tiểu đoàn Bến Nghé là “Hơn chín phần mười

quân số của tiểu đoàn đã ra đi Toàn thể cán bộ Ban chỉ huy tiểu đoàn không còn một ai sống sót” [33; 549] Các nhân vật chính – tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sỹ Việt, Bích Vân cùng

các đồng chí của họ, đều đã hy sinh trước khi những trang cuối cùng của tác phẩm khép lại Các tiểu đoàn khác cũng thiệt hại nặng nề Trước khi bàn giao chiến trường lại cho tiểu đoàn Bến Nghé, Tiểu đoàn Hai của Trung đoàn Đồng Nai đã hy sinh gần hết Lúc bàn giao

họ chỉ biết “khóc hu hu” Tính riêng ở mặt trận Sài Gòn đã có hơn 50.000 chiến sỹ hy sinh Nỗi đau thật là quá to lớn, những cái chết đến với người lính trong chiến dịch này được mô

tả trong cảm giác “lạnh toát, một cái lạnh buốt giá, tê tái giữa cái nóng ngột ngạt của ngày

hè” Và chính nó đã trở thành cái tên gọi đầy ám ảnh “Mùa hè giá buốt” cho tác phẩm

Lê Đức Thịnh – người chiến sỹ liên lạc của Việt – thường hay có thói quen ghi chép

lại những điều đã xảy ra Thịnh tâm niệm: “Em chỉ ghi lại những gì đã xảy ra trong những

ngày qua để nó khỏi trở thành hoang vu thôi” [33; 189] Nhưng rồi về cuối tác phẩm, sau

Trang 40

khi tiểu đoàn tiến vào thành Gia Định, đã hơn hai tuần Thịnh không ghi chép gì cả Anh

không muốn phải nhớ thêm một điều gì nữa “Nếu như trước đây, anh ghi chép là để cho

những ngày đã qua không trở thành hoang vu, thì giờ đây, anh lại muốn để cho các sự kiện chìm vào quên lãng Cuộc chiến trong những ngày vừa qua tại Gia Định quá tàn nhẫn, quá khốc liệt” [33; 507] Thịnh chia sẻ với Việt: “Em sợ phải nhớ lại những gì xảy ra trong những ngày qua Em muốn quên hết mọi thứ… Em cũng không muốn một ai biết được những điều có thật đã xảy ra trong mùa hè này” [512] Những điều có thật ấy chính là sự

tàn nhẫn của chiến tranh Nó đã cướp đi biết bao sinh mạng người lính Để họ dù sẵn sàng

hy sinh thân mình nhưng khi nhìn lại những tổn thất, mất mát vẫn không khỏi bàng hoàng, đau đớn, xót xa

Khi biết Thịnh không còn ý định viết nhật ký nữa, Việt đã khuyên cấp dưới của mình: “Mình nghĩ cậu nên viết … Ít ra, khi đọc được những dòng của cậu, người ta có thể

sẽ hiểu ra một điều gì đó” [33; 512] Cả Việt, Thịnh cùng những đồng đội của họ, ai cũng

sẵn sàng ở lại tới phút cuối, sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình Việt muốn Thịnh viết lại những ngày tháng khốc liệt của các anh ở nơi đây để gửi lại cho thế hệ sau Để nếu có ai đó đọc được, họ sẽ hiểu rằng chiến tranh khốc liệt và tàn ác như thế nào Có được nền hòa bình, biết bao con người đã phải hy sinh xương máu, phải đánh đổi bằng sự sống, tuổi trẻ của họ Và chiến tranh là điều không nên có, không nên xảy ra trên trái đất này

Về điều này, Văn Lê đã có sự đồng cảm sâu sắc với Bảo Ninh Trong tiểu thuyết Nỗi

buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã để nhân vật người lính lái xe Trần Sơn, trên đường đi tìm hài

cốt đồng đội đã chia sẻ với Kiên: “Giải ngũ tôi sẽ thôi lái Tôi sẽ vác đàn đi hát rong Hát

rong và kể chuyện Các ông, các bà, các anh, các chị xin hãy nghe tôi kể câu chuyện đau thương này, và sau đó tôi sẽ hát để mọi người nghe bài ca kinh hoàng về thời đại của chúng

muốn kể lại để mọi người biết, mọi người hiểu và sẽ cùng nhau làm điều gì đó để tránh thảm họa chiến tranh lại xảy ra

Những người lính cho rằng phải viết lại những gì đang diễn ra trong cuộc chiến khốc liệt này để đời sau không lãng quên họ, lãng quên sự hy sinh của họ Và những trang viết như thế giúp nhân loại tiến bộ “hiểu ra một điều gì đó”, rằng không bao giờ nên đi lại vào vết xe đổ cũ, không nên vì bất cứ lí do gì mà tiến hành những cuộc chiến tranh phi nghĩa

Đó chính là những suy nghĩ rất thật, không chỉ của những nhân vật trong tiểu thuyết mà còn

là của những người lính trong đời thực Bằng chứng là biết bao thanh niên thế hệ ngày nay

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w