1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách sản phẩm của Lotteria

25 4K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 6,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với gần100 hệ thống cửa hàng thức ăn nhanh có mặt trên khắp Việt Nam và tập trung nhiều tại các thành phố lớn, LOTTERIA Việt Nam đang ngày càng chứng tỏ được vị thế của mình đối với các

Trang 1

Chính sách s n ph m c a LOTTERIA ả ẩ ủ

Lời Nói Đầu

Xã hội ngày càng phát triển, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhịp sống cũng tăng nhanh Từ đó, con người phát sinh thêm những nhu cầu mới Một trong số đó có nhu cầu về thời gian rất được chú trọng Do

xã hội phát triển, để thích ứng thì đời sống người dân cũng trở nên nhanh và gấp hơn Mà quỹ đạo thời gian chỉ có 24h/ngày, vì thế việc sử dụng thời gian sao cho hợp lý nhất với mức công việc hằng ngày là rất cần thiết Việc tiêu thụ thời gian cho các hoạt động hàng ngày bao gồm rất nhiều việc, trong đó có thể

kể đến đó là bữa ăn của con người Ngoài việc phải được ăn ngon,có đủ chất

để đảm bảo sức khỏe thì ta còn đòi hỏi phải tốn ít thời gian.Điều này chính là nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời và phát triển của công nghiệp thức ăn nhanh (Fast Food Industry) trên toàn thế giới và trong đó có cả Việt Nam

Xuất phát từ nhu cầu đó,LOTTERIA là một trong những nhãn hiệu thức ăn nhanh xuất hiện sớm nhất trên thị trường Việt Nam Là một nhãn hiệu xuất phát từ Nhật Bản, nay đã có mặt ở nhiều nước Đông Á LOTTERIA là một công ty con của Tập đoàn Lotte (Hàn Quốc) LOTTERIA là hệ thống nhà hàng thức ăn nhanh nội địa đầu tiên của Hàn Quốc được thành lập vào năm 1979 Tính đến nay có tổng cộng 1.577 cửa hàng LOTTERIA được mở trên toàn cầu Tại Việt Nam, LOTTERIA hiện đang là một trong những thương hiệu thức ăn nhanh gần gũi với người tiêu dùng Việt Với gần100 hệ thống cửa hàng thức

ăn nhanh có mặt trên khắp Việt Nam và tập trung nhiều tại các thành phố lớn, LOTTERIA Việt Nam đang ngày càng chứng tỏ được vị thế của mình đối với các thương hiệu thức ăn nhanh nước ngoài khác đã và đang có mặt tại Việt Nam hiện nay với những sản phẩm đa dạng, phong phú về giá cả và chủng loại phù hợp nhiều đối tượng khách hàng.Mặc dù ra đời sau rất nhiều các thương hiệu cùng loại, nhưng LOTTERIA đã tìm ra hướng đi riêng cho mình,và vươn lên trở thành một trong những thương hiệu thức ăn nhanh hàng đầu trên thế giới.Họ làm được điều này nhờ vào chất lượng và sự khác biệt trong các sản phẩm tuyệt vời của mình với chính sách quảng bá sản phẩm vô cùng đơn giản và hiệu quả

Tiểu luận với đề tài “Chính sách sản phẩm của chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh LOTTERIA” được em lựa chọn với mục đích tìm hiểu rõ hơn những vấn

đề cơ bản nhất trong các quyết định về chính sách sản phẩm, những quyết định về sản phẩm như: gắn nhãn mác, bao gói, danh mục, chủng loại sản phẩm cũng như dịch vụ của sản phẩm mang thương hiệu LOTTERIA để từ đó

Trang 2

thấy được những thành công và hạn chế của công ty cũng như tìm hiểu các mục tiêu phát triển lâu dài, nhằm hoàn thiện các chiến lược Marketing của LOTTERIA trên thị trường Việt Nam.

Tiểu luận của em được hoàn thành nhờ có sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Hường- Giảng viên bộ môn Marketing trường Đại học Lao Động- Xã Hội

“Nhóm đề tài về chính sách sản phẩm“ là một đề tài mở, phức tạp, do vậy trong bài không thể tránh khỏi những thiếu sót và sai lầm Em mong nhận được ý kiến sửa chữa và đóng góp của cô giúp em hoàn thiện bài tiểu lận này

Em xin chân thành cảm ơn!

CH ƯƠ NG I: C Ơ S Ở LÍ LU Ậ N V Ề CHÍNH SÁCH S Ả N PH Ẩ M

I/ Khái quát về chính sách sản phẩm.

1/ Sản phẩm là gì?

Trang 3

Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng.

Các sản phẩm của doanh nghiệp phải nằm trong danh mục mà Nhà nước không cấm hoặc được phép kinh doanh

2/ Cấp độ các yếu tố cấu thành đơn vị sản phẩm

Đơn vị sản phẩm là chỉnh thể hoàn chỉnh chứa dựng những yếu tố, đặc tính và thông tin khác nhau về sản phẩm Những yếu tố, đặc tính và thông tin

đó có thể có những chức năng Marketing khác nhau Khi tạo ra một mặt hàng người ta thường xếp các yếu tố, đặc trưng và thông tin đó theo ba cấp độ có những chức năng marketing khác nhau:

ra những đòi hỏi về các khía cạnh lợi ích khác nhau tiềm ẩn trong nhu cầu của

họ Chỉ có như vậy họ mới tạo ra những sản phẩm có những khả năng thỏa mãn đúng và tốt những lợi ích mà khách hàng mong đợi

Cấp độ 2: Sản phẩm hiện thực.

Là những yếu tố phản ánh sự có mặt trên thực tế của hàng hóa Những yếu tố đó bao gồm: các chỉ tiêu phản ánh chất lượng, các đặc tính, bố cục bề ngoài, đặc thù, tên nhãn hiệu cụ thể và đặc trưng của bao gói.Trong thực tế, khi tìm mua những lợi ích cơ bản, khách hàng thường dựa vào những yếu tố này Và nhờ các yếu tố này nhà sản xuất khẳng định sự hiện diện của mình trên thị trường, để người mua tìm đến doanh nghiệp, họ phân biệt hàng hóa của hãng này với hãng khác

cơ bản mà khách hàng mong đợi lại phụ thuộc vào những yếu tố bổ xung mà nhà kinh doanh sẽ cung cấp cho họ Vì vậy, các yếu tố bổ sung trở thành một trong những vũ khí cạnh tranh của các nhãn hiệu hàng hóa

3/ Phân loại sản phẩm, hàng hóa

Trang 4

Hoạt động và chiến lược Marketing khác nhau vì nhiều lý do, trong đó có lý

do tùy thuộc vào loại hàng hóa Do vậy các nhà quản trị Marketing cần phải biết hàng hóa mà doanh nghiệp kinh doanh thuộc loại nào để có thể tìm được chiến lược hiệu quả nhất cho sản phẩm của mình

a Phân loại theo thời hạn sử dụng và hình thái tồn tại:

dụng nhiều lần

được sử dụng một lần hoặc một vài lần

• Dịch vụ: Là đối tượng được bán dưới dạng hoạt động, ích lợi hay

sự thỏa mãn

b Phân loại hàng tiêu dùng theo thói quen mua hàng:

• Hàng hóa sử dụng thường ngày: Là hàng hóa mà người tiêu dùng mua cho việc sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt

• Hàng hóa mua sắm ngẫu hứng: Là hàng hóa được mua không có

kế hoạch trước và khách hàng không chủ ý tìm mua

• Hàng hóa mua khẩn cấp: Là những hàng hóa được mua khi xuất hiện nhu cầu cấp bách vì một lý do bất thường nào đó

• Hàng hóa mua có lựa chọn: Là những hàng hóa mà việc mua diễn ra lâu hơn, khi mua khách hàng thường lựa chọn, so sánh, cân nhắc về công dụng, kiểu dáng, chất lượng, giá cả của chúng

• Hàng hóa cho các nhu cầu đặc thù: Là những hàng hóa đặc biệt

mà khi mua người ta sẵn sàng bỏ thên sức lực, thời gian để tìm kiếm và lựa chọn chúng

• Hàng hóa cho các nhu cầu thụ động: Là những hàng hóa mà người tiêu dùng không hay biết và cũng thường không nghĩ đến việc mua chúng

c Phân loại theo hàng tư liệu sản xuất:

• Vật tư và chi tiết: Là những hàng hóa được sử dụng thường xuyên và toàn bộ vào cấu thành sản phẩm được sản xuất ra bởi nhà sản xuất

• Tài sản cố định: là những hàng hóa tham gia toàn bộ, nhiều lần vào quá trình sản xuất và giá trị của chúng được dịch chuyển dần vào giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sử dụng chúng tạo ra

• Vật tư phụ và dịch vụ: Là những hàng hóa dùng để hỗ trợ cho quá trình kinh doanh hay hoạt động của các tổ chức và doanh nghiệp

II/ Các quyết định của chính sách sản phẩm

Có 5 quyết định cơ bản:

1 Quyết định về nhãn hiệu sản phẩm.

2 Quyết định về bao gói sản phẩm.

Trang 5

3 Quyết định về chủng loại và danh mục sản phẩm.

4 Quyết định về dịch vụ phụ thêm cho sản phẩm.

5 Nghiên cứu, thiết kế và marketing sản phẩm mới.

1/ Quyết định về nhãn hiệu sản phẩm.

1.1/ Nhãn hiệu và các bộ phận cấu thành.

Quyết định về nhãn hiệu cho những sản phẩm cụ thể là một trong những quyết định quan trọng khi soạn thảo chiến lược marketing cho chúng Quyết định đó có liên quan trực tiếp tới ý đồ định vị sản phẩm và xây dựng hình ảnh sản phẩm, doanh nghiệp trên thị trường

Nhãn hiệu là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng, được dùng để xác nhận sản phẩm của một người bán hay một nhóm người bán và để phân biệt chúng với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh Nhãn hiệu có các bộ phận cơ bản:

• Tên nhãn hiệu: đó là một bộ phẩn của nhãn hiệu mà ta có thể đọc được

• Dấu hiệu của nhãn hiệu: gồm kiểu tượng, hình vẽ, màu sắc, kiểu chữ đặc thù,… Đó là một bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể nhận biết được, nhưng không thể đọc được

Ngoài các khái niệm cơ bản trên, ta cần quan tâm đến hai khái niệm có liên quan đến phương diện quản lý nhãn hiệu:

• Dấu hiệu hàng hóa: Là toàn bộ nhãn hiệu hay một bộ phận của nó được đăng ký tại cơ quan quản lý nhãn hiệu và được bảo vệ về mặt pháp lý

• Quyền tác giả: Là quyền độc chiếm tuyệt đối về sao chụp, xuất bản, bán nội dụng, hình thức của một tác phẩm văn học, âm nhạc, nghệ thuật

Khi sản phẩm được gắn nhãn hiệu và đưa ra chào bán trên thị trường thì mọi khía cạnh đặc trưng và đặc tính đặc thù gắn liền với sản phẩm và phong cách phục vụ của doanh nghiệp đều được người tiêu dùng liên tưởng đến nhãn hiệu Nhãn hiệu nói chung là sự hứa hẹn của người bán với người mua về sự cung cấp một tập hợp các tính chất, lợi ích và dịch vụ

1.2/ Các quyết định có liên quan đến nhãn hiệu:

1.2.1/ Các vấn đề cơ bản: mà doanh nghiệp thường phải quyết định là:

- Có gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của mình không? Việc gắn nhãn hiệu cho sản phẩm thể hiện lòng tin của người mua đối với nhà sản xuất khi họ dám khẳng định sự hiện diện của mình trên thị trường, làm căn cứ cho việc lựa chọn của người mua, và làm cơ sở cho việc quản lý chống làm hàng giả

- Ai là người chủ nhãn hiệu sản phẩm? Thường thì nhà sản xuất nào cũng mong muốn chính mình làm chủ đích thực về nhãn hiệu sản

Trang 6

phẩm do mình làm ra Nhưng đôi khi vì những lý do khác nhau nhãn hiệu sản phẩm lại không phải nhãn hiệu của nhà sản xuất

1.2.2/ Hướng giải quyết:

Có ba hướng giải quyết vấn đề này:

• Tung sản phẩm ra thị trường dưới nhãn hiệu của chính nhà sản xuất

• Tung sản phẩm ra thị trường dưới nhãn hiệu của nhà trung gian

• Vừa nhãn hiệu của nhà sản xuất, vừa nhãn hiệu của nhà trung gian

1.2.3/ Ưu điểm, nhược điển của mỗi hướng:

Mỗi hướng trên đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định:

• Tương ứng với nhãn hiệu đã chọn chất lượng sản phẩm có những đặc trưng gì? Nhãn hiệu sản phẩm là để phản ánh sự hiện diện của nó trên thị trường, song vị trí và sự bền vững của nhãn hiệu lại

do mức độ chất lượng đi liền với nó quyết định

• Đặt tên cho nhãn hiệu như thế nào? Khi quyết định đưa ra một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm ra thị trường, gắn nhãn hiệu cho

chúng người sản xuất còn gặp phải vấn đề đặt tên cho nhãn hiệu sản phẩm?

- Tên nhãn hiệu tập thể cho từng dòng sản phẩm do công ty sản xuất

1.2.5/ Yêu cầu khi đặt tên cho nhãn hiếu sản phẩm:

- Nhãn hiệu phải hàm ý về lợi ích cho sản phẩm

- Nhãn hiệu phải hàm ý về chất lượng của sản phẩm

- Nhãn hiệu phải dễ đọc, dễ nhận biết và dễ nhớ

- Có nên mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu hay không?

Việc mở rộng giới hạn sử dụng nhãn hiệu giúp tiết kiệm chi phí để tuyên truyền quảng cáo, giúp khách hàng nhận biết hàng hóa nhanh hơn thông qua nhãn hàng quen thuộc Nhưng nếu nhãn hàng mới không được yêu thích thì có thể giảm uy tín của bản thân nhãn hiệu đó cho tất cả các sản phẩm

- Sử dụng một hay nhiều nhãn hiệu cho các sản phẩm hoặc chủng loại sản phẩm có những đặc tính khác nhau?

Trang 7

Mỗi loại sản phẩm, mỗi chủng loại có tên nhãn hiệu riêng giúp:

• Tạo cho người sản xuất khả năng nhận thêm mặt bằng ở người buôn bán để bày bán sản phẩm

• Khai thác triệt để trường hợp khi người tiêu dùng không phải bao giờ cũng trung thành tuyệt đối với một nhãn hiệu đến mức họ không thích mua nhãn hiệu mới Trong trường hợp này tung ra nhiều nhãn hiệu tạo điều kiện cho khách hàng khoảng lựa chọn rộng lớn hơn

• Về mặt nội bộ công ty, việc tạo ra những hàng đặc hiệu mới sẽ kích thích tính sáng tạo và nâng cao hiệu xuất công tác của các nhân viên trong đơn vị

• Nhiều nhãn hiệu sẽ cho phép công ty chú ý tới những lợi ích khác nhau của khách hàng và tạo ra những khả năng hấp dẫn riêng của từng sản phẩm Nhờ vậy mỗi nhãn hiệu có thể thu hút cho mình một nhóm khách hàng mục tiêu riêng

• Tuy nhiên, nhiều nhãn hiệu cũng có thể tạo ra sự phân tán nguồn lực và chia cắt thị trường

2/ Quyết định về bao gói sản phẩm.

Một số sản phẩm đưa ra trên thị trường không cần phải bao gói, nhưng với

đa số các sản phẩm thì bao gói là yếu tố rất quan trọng về các phương diện khác nhau

2.1/ Ý nghĩa:

Bao gói trở thành công cụ đắc lực của hoạt động marketing do:

- Sự phát triển của hệ thống cửa hàng tự phục vụ, tự chọn ngày càng tăng

- Mức giàu sang và khả năng mua sắm của người tiêu dùng càng tăng

- Bao bì góp phần tạo ra hình ảnh về công ty và nhãn hiệu

- Tạo ra khả năng và ý niệm về sự cải tiến sản phẩm

2.2/ Các quyết định:

Để tạo ra sự bao gói có hiệu quả cho một sản phẩm nhà quản trị marketing phải thông qua hàng loạt quyết định kế tiếp như sau:

• Xây dựng quan niệm về bao gói: bao bì phải tuân thủ nguyên tắc nào?

Nó đóng vai trò như thế nào đối với một mặt hàng cụ thể? Nó phải cung cấp những thông tin gì về sản phẩm?

• Quyết định về các khía cạnh: kích thước hình dáng vật liệu, màu sắc, nội dung trình bày và có gắn nhãn hiệu hay không?

• Quyết định về thử nghiệm bao gói: thử nghiệm về kỹ thuật, thử nghiệm

về hình thức, thử nghiệm về kinh doanh, thử nghiệm về khả năng chấp nhậ của người tiêu dùng

Trang 8

• Cân nhắc khía cạnh lợi ích xã hội, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của bản thân công ty.

• Quyết định về các thông tin trên bao gói

 Thông tin về sản phẩm, chỉ rõ hàng đó là hàng gì?

 Thông tin về phẩm chất sản phẩm

 Thông tin về ngày, người, nơi sản xuất và các đặc tính của sản phẩm

 Thông tin về kỹ thuật an toàn khi sử dụng

 Thông tin về nhãn hiệu thương mại và các hình thức hấp dẫn để kích thích tiêu thụ

 Các thông tin do luật định

 Các thông tin được đưa có thể bằng cách in trực tiếp làm bao bì hoặc in rời rồi dán lên bao bì

3/ Quyết định về chủng loại và danh mục sản phẩm.

3.1/ Định nghĩa về chủng loại sản phẩm.

Chủng loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có liên quan chặt chẽ với nhau do giống nhau về chức năng hay do bán chung cho cùng một nhóm khách hàng, hay thông qua những kiểu tổ chức thương mại hay trong

khuôn khổ cùng một dãy giá

3.2/ Quyết định về bề rộng của chủng loại sản phẩm.

Bề rộng của chủng loại sản phẩm là sự phân giải về số lượng các mặt hàng thành phần theo một tiêu thức nhất định, ví dụ như kích cỡ, công suất… Mỗi công ty thường có cách thức lựa chọn bề rộng chủng loại sản phẩm khác nhau tùy thuộc vào mục đích mà công ty theo đuổi

Có hai cách lựa chọn để mở rộng và duy trì bề rộng của sản phẩm:

• Phát triển chủng loại

• Bổ xung mặt hàng cho chủng loại sản phẩm

3.3/ Quyết định về danh mục sản phẩm.

Danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả các chủng loại sản phẩm và các đơn

vị sản phẩm do một người bán cho người mua

- Bề rộng của danh mục sản phẩm là tổng số các chủng loại sản phẩm do công ty sản xuất

- Mức độ phong phú của danh mục sản phẩm là tổng số những mặt hàng thành phần của nó

- Bề sâu của danh mục sản phẩm là tổng số các đơn vị sản phẩm cụ thể được chào bán trong từng mặt hàng riêng của một chủng loại

- Mức độ hài hòa của danh mục sản phẩm phản ánh mức độ gần gũi của sản phẩm thuộc các nhóm chủng loại khác nhau xét theo góc

Trang 9

đọ mục đích sử dụng cuối cùng, hoặc những yêu cầu về tổ chức sản xuất, các kênh phân phối hay một tiêu chuẩn nào đó.

4/ Quyết định về dịch vụ phụ thêm cho sản phẩm.

Một yếu tố khác cấu thành sản phẩm hoàn chỉnh là dịch vụ khách hàng Các nhà quản trị Marketing phải quyết định bốn vấn đề liên quan đến việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng:

• Nội dung hay các yếu tố dịch vụ mà khách hàng đòi hỏi và khả năng công ty có thể cung cấp là gì? Tầm quan trọng đối với từng yếu tố dịch

• Lựa chọn hình thức cung cấp dịch vụ: công ty tự tổ chức cung cấp dịch

vụ, dịch vụ được cung cấp bởi các trung gian buôn bán, dịch vụ do tổ chức độc lập bên ngoài công ty cung cấp

Khi quyết định về dịch vụ, công ty phải căn cứ vào 3 yếu tố chính là nhu cầu của khách hàng, đối thủ cạnh tranh và khả năng của công ty

5/ Nghiên cứu, thiết kế và marketing sản phẩm mới

5.1/ Khái quát về sản phẩm mới.

Là những sản phẩm mới về nguyên tắc, sản phẩm mới cải tiến từ các sản phẩm mới hiện có hoặc các nhãn hiệu mới do kết quả nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm của công ty Sản phẩm mới hay không phải cần có sự thừa nhận của khách hàng

- Từ khía cạnh khách hàng, qua thăm dò ý kiến của họ, trao đổi, thư

từ, các thông tin họ phản ánh trên báo chí, phương tiện truyền thông tin đại chúng

Trang 10

- Những người có bằng sáng chế phát minh, các trường đại học, các chuyên gia công nghệ và quản lý, các nhà nghiên cứu marketing…

5.2.2/ Lựa chọn ý tưởng:

Mục đích của việc lựa chọn là để cố gắng phát hiện sàng lọc và thải loại những ý tưởng không phù hợp, kém hấp dẫn, nhằm chọn được những ý tưởng tốt nhất

Để làm được điều này mỗi ý tưởng về sản phẩm mới cần được trình bày bằng văn bản thể hiện toàn diện các yếu tố như: thị trường mục tiêu, đối thủ cạnh tranh, chi phí sản xuất,…

5.2.3/ Soạn thảo và thẩm định dự án sản phẩm mới.

Ý tưởng là những tư tưởng khái quát về sản phẩm

Dự án là sự thể hiện tư tưởng khái quát đó thành các phương án sản phẩm mới với các tham số về đặc tính hay công dụng hoặc đối tượng sử dụng khác nhau của chúng

Thẩm định dự án là thử nghiệm quan điểm và thái độ của nhóm khách hàng mục tiêu đối các phương án sản phẩm đã được mô tả Từ đó sẽ lựa chọn được một dự án sản phẩm chính thức

5.2.4/ Soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới.

Gồm 3 phần:

- Phần 1: Mô tả quy mô, cấu trúc thị trường và thái độ khách hàng trên thị trường mục tiêu, dự kiến xác lập vị trí sản phẩm, chỉ tiêu về khối lượng bán, thị phần và lợi nhuận những năm trước mắt

- Phần 2: Trình bày quan điểm chung về phân phối sản phẩm và dự đoán chi phí marketing cho năm đầu

- Phần 3: Trình bày những mục tiêu tương lai về các chỉ tiêu: tiêu thụ, lợi nhuận, quan điểm chiến lược lâu dài về các yếu tố marketing- mix

5.2.5/ Thiết kế sản phẩm mới

Tạo ra sản phẩm mẫu, thử nghiệm chức năng của nó trong phòng thí nghiệm, kiểm tra thông qua khách hàng hoặc người tiêu dùng để biết ý kiến của họ

5.2.6/ Thử nghiệm trong điều kiện thị trường.

Sản phẩm sẽ được sản xuất một loạt nhỏ và được bán thử ra ngoài thị

trường Đối tượng thử nghiệm các khách hàng, nhà buôn bán, các chuyên gia

có kinh nghiệm Nhằm thăm dò khả năng mua và dự báo chung về mức tiêu dùng

Trang 11

5.2.7/ Triển khai sản xuất hàng loạt và quyết định tung sản phẩm mới ra thị trường.

Doanh nghiệp phải thông qua: 4 quyết định

- Khi nào thì tung sản phẩm mới chính thức vào thị trường?

- Sản phẩm mới sẽ được tung ra ở đâu?

- Sản phẩm mới trước hết phải tập trung bán cho đối tượng khách hàng nào?

- Sản phẩm mới được tung ra bán như thế nào? Với những hoạt động hỗ trợ nào để xúc tiến việc bán hàng?

CH ƯƠ NG II: TH C TR NG MARKETING T I LOTTERIA Ự Ạ Ạ

I/ Lịch sử hình thành và phát triển của LOTTERIA

Trang 12

tốt cho sức khoẻ LOTTERIA được đặt theo tên của công ty mẹ Lotte tương tự như những nhãn hiệu thức ăn nhanh nổi tiếng khác như Macdonal’s

LOTTERIA hiện đang dẫn đầu ngành công nghiệp ăn uống quốc nội, mang tầm vóc của doanh nghiệp quốc tế Suốt 7 năm liền đứng vị trí số 1 về

“Brand Power”, được cấp bởi “ Korea Management Association”, và được chọn

là vị trí số 1 về năng lực cạnh tranh nhãn hiệu với danh hiệu “Brand Stock” của

cơ quan đánh giá giá trị nhãn hiệu Đây là kết quả của những nổ lực không ngừng mà LOTTERIA đạt được

Đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường, LOTTERIA đã xây dựng một hệ thống nhà hàng hoàn hảo, chất lượng LOTTERIA tự hào đạt được các chứng nhận quốc tế như: an toàn thực phẩm (RVA HACCP), vệ sinh môi trường (ISO 14001), chất lượng sản phẩm(ISO 9001)

Với phương châm“cảm nhận thực tế của khách”, trong tương lai

LOTTERIA sẽ đứng trên cương vị cảm nhận của khách để làm hài lòng quý khách bằng cách nâng cao hơn nữa các dịch vụ như: speed, service, smile Hơn nữa, LOTTERIA luôn có ý thức trách nhiệm đối với các hoạt động xã hội, lợi ích cộng đồng nên một phần lợi nhuận của doanh nghiệp đã được trích cho các hoạt động như: tham gia chiến dịch Yêu môi trường để giảm các sản phẩm dùng 1 lần, chiến dịch Vì thế giới tươi đẹp để giúp đỡ người tàn tật, bệnh nhân ung thư…

Thông qua việc phát triển doanh nghiệp ra nước ngoài và mở rộng hoạt động kinh doanh thêm phong phú đa dạng, LOTTERIA sẽ phát triển thành doanh nghiệp mang tính toàn cầu, trở thành nhà lãnh đạo trong giới kinh

doanh, đáp ứng năng lực cạnh tranh quốc tế

LOTTERIA cam kết sẽ luôn làm khách hàng vừa lòng trong các vấn đề như: môi trường, nhà hàng trong sạch, dịch vụ ân cần, sản phẩm dinh dưỡng

2/ Quá trình phát triển của công ty LOTTERIA.

Từ năm 1970 đến năm 1980

10- 1970 Thành lập Công Ty TNHH LOTTERIA

10- 1979 Khai trương cửa hàng thức ăn nhanh đầu tiên tại Hàn Quốc

07 - 1982 Khai trương các nhà hàng ở Daegu và Daejeon

10 - 1986 Đăng ký thành lập tập đoàn đầu tư hoạt động ở nước ngoài

· Từ năm1990

03 - 1992 Cửa hàng LOTTERIA thứ 100 mở tại Taehak-ro, Seoul

12 - 1994 Doanh thu của toàn hệ thống vượt con số 10 tỷ won ( $8.5 triệu )

09 - 1996 Khai trương cửa hàng thứ 300

11 - 1997 Mở cửa hàng thức ăn nhanh phục vụ cho thực khách đang lái xe đầu tiên ở Myongil-dong

10 – 1998 Website LOTTERIA bắt đầu hoạt động

07 – 1999 Burger Bulgogi đoạt giải thưởng lớn do người tiêu dùng bình chọn

Ngày đăng: 08/01/2016, 20:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w