Nền kinh tế việt nam sau một năm gia nhập WTO đã có những bước phát triển lớn và đạt được nhiều thành tựu nhất định .Kinh tế phất triển , thu nhập của người dânngày càng cải thiện, nhu c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG- XÃ HỘI
BỘ MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
TIỂU LUẬN MÔN HỌC MARKETING CĂN BẢN Tên đề tài: Chính sách sản phẩm của công ti LG Vina Cosmetics đối
với mỹ phẩm Lacvert Essance.
Trang 2Nền kinh tế việt nam sau một năm gia nhập WTO đã có những bước phát triển lớn và đạt được nhiều thành tựu nhất định Kinh tế phất triển , thu nhập của người dânngày càng cải thiện, nhu cầu chăm sóc bản thân ngày càng được nâng cao.Người dân
đã quan tâm tới ngoại hình và hình thức bên ngoài nhiều hơn.Điều này làm cho mỹ phẩm trở thành một sản phẩm tất yếu và không thể thiếu trong công cuộc làm đẹp của phụ nữ nói riêng và người tiêu dùng nói chung ở mọi lứa tuổi và tầng lớp khác nhau
LG Vina Cosmetics là công ty liên doanh về mỹ phẩm có công nghệ hoàn chỉnh hàng đầu tại Việt Nam, chuyên sản xuất kinh doanh các loại mỹ phẩm ,dầu gội , sản phẩm tẩy rửa gia dụng ,…cao cấp nhằm mục đích chăm sóc sức khỏe và làm đẹp cho người tiêu dùng.Nhờ chất lượng tuyệt hảo, sản phẩm lại luôn đáp ứng được nhu cầu của khách hàng tại mọi thời điểm, mỹ phẩm Essance đã chiếm lòng tin của người tiêudùng Việt Nam.Chính những yếu tố này đã làm nên thành công của thương hiệu Essance và làm cho thương hiệu ấy ngày càng lâu bền , hấp dẫn với mọi người
Có thể nói chiến lược sản phẩm là chìa khóa dẫn đến thành công của nhàn hiệu Essance.Và cũng bởi lí do này mà em đã chọn chính sách sản phẩm của công ty mỹ phẩm LG Vina Cosmetics cho sản phẩm Lacvert Essance làm đề tài tiểu luận của mình
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM
Trang 31.1 Khái quát về nhãn hiệu sản phẩm.
Nhãn hiệu là một tập hợp bao gồm tên, biệt hiệu, biểu tượng , hình vẽ hay sự phối hợp giữa các yếu tố đó.Các yếu tố này sẽ được trình bày cụ thể dưới đây
Tên nhãn hiệu là một bộ phận của nhãn hiệu, có thể đọc được Đó có thể là tên củamột tổ chức ví dụ như Honda Việt Nam,…hoặc P/S của tập đoàn phân phối Wave
S của Honda Việt Nam…
Các dấu hiệu của nhãn hiệu cũng là một bộ phận quan trọng của nhãn hiệu, có thể nhận biết nhưng không thể đọc được, bao gồm biểu tượng, hình vẽ, màu sắc hay kiểu chữ đặc thù
Trong nhãn hiệu của một sản phẩm, có thể có các dấu hiệu của sản phẩm Đó là sựcông bố tính được bảo hộ của pháp lí đối với nhãn hiệu đó ( do toàn bộ nhãn hiệu hay bộ phận của nó được dăng ký tại cơ quan quản lí nhãn hiệu và được bảo vệ về mặt pháp lí trong việc sử dụng, sở hữu tên nhãn hiệu hay dấu hiệu nhãn hiệu ) Nhãn hiệu được dùng để phân biệt sản phẩm của các tổ chức này và sản phẩm của các tổ chức khác
Một sản phẩm không nhất thiết bắt buộc phải có nhãn hiệu, nhiều sản phẩm vẫn được trao đổi trên thị trường mà không có nhãn hiệu
Tuy nhiên, việc xác định nhãn hiệu cho sản phẩm đem lại một số thuận tiện khi thực hiện các quan hệ trao đổi trên thị trường mà không có nhãn hiệu Đối với người tiêu dùng, nhãn hiệu tạo cho họ sự nhận biết sản phẩm một cách dễ dàng.Một khi đã quyết định chọn nhãn hiệu nào đó, họ chỉ cần xác định nơi bán chúng Điều này rất quan trọng khi tạo cho khách hàng thói quen mua một sản phẩm
Với một nhãn hiệu quen thuộc, khách hàng có thể tiết kiệm thời gian, không bị tốncông tìm kiếm và so sánh giữa các sản phẩm, hay có thể nhanh chóng phân biệt dễdàng nhãn hiệu họ ưa thích
Nhãn hiệu cũng làm cho người mua có thể yên tâm về chất lượng và biểu tượng của sản phẩm sẽ phù hợp với mong muốn của họ
Trang 4Ngoài ra, nhãn hiệu còn có thể làm cho người mua (người dùng) nhận biết về tổ chức đã đưa sản phẩm ra bán trên thị trường.
Khi sản phẩm không thỏa mãn được người mua , dùng họ có thể cố tìm cho nguồngốc của nó từ người bán Nhãn hiệu cũng tạo ra khó khăn cho những ai muốn đánh lừa người mua bằng cách cung cấp những sản phẩm chất lượng thấp hay bất
cứ sản phẩm bắt chước nào
Cuối cùng, nhãn hiệu có thể tạo ra một số lợi thế tâm lý đối với người sử dụng (tạo ra một hình ảnh về “đẳng cấp” và uy tín giữa sử dụng cùng một nhãn hiệu) Đồng thời khẳng định địa vị và danh tiếng của họ
Đối với người cung cấp,nhãn hiệu có thể giúp họ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách dễ dàng hơn , hỗ trợ nhà làm marketing trong việc phác họa những
nỗ lực quảng cáo và bán hàng
1.1.1Các loại nhãn hiệu
Trong các tổ chức, có thể có các loại nhãn hiệu sau:
Nhãn hiệu quốc gia hay nhãn hiệu nhà chế tạo: Nhiều nhà chế tạo gắn nhãn hiệu của chính họ lên sản phẩm Một sản phẩm được mọi người biết đến nhờ nhãn hiệu nhàsản xuất hay quốc gia khi nó được chế tạo sản xuất và quảng cáo
Nhãn hiệu riêng: Các nhà bán buôn và bán lẻ thường đưa ra thị trường những sản phẩm mang nhãn hiệu của riêng họ, mặc dù chúng do các nhà chế tạo sản xuất ra Nhãn hiệu sản phẩm của những trung gian này được coi là nhãn hiệu riêng ,hầu hết những cửa hàng bách hóa lớn đều có nhãn hiệu riêng Những siêu thị lớn cũng có nhãn hiệu riêng trên một số sản phẩm của họ,
Nhãn hiệu gia đình: là một nhãn hiệu được sử dụng cho một hay nhiều sản phẩm cùng một tổ chức bán ra
Thông thường , khi sản phẩm cần được phân phối trên toàn quốc và đối với các nhàbán lẻ, nhà buôn có thực lực yếu, nhãn hiệu nhà chế tạo có danh tiếng và có nhãn hiệu
đã được chấp nhận rộng rãi
Tuy nhiên, đôi khi các nhà bán buôn và các nhà bán lẻ lại thích sử dụng những nhãn hiệu riêng của họ để thay cho nhãn hiệu quốc gia hay nhãn hiệu mà mình chế tạo
Trang 5Bằng viêc sử dụng nhãn hiệu riêng của mình, các nhà buôn, nhà bán lẻ có thể
cố gắng kiểm soát được phần lớn các nhà chế tạo Bởi họ có thể dễ dàng ngừng nhập hàng của một nhà sản xuất khi không được đáp ứng những yêu cầu về chất lượng và dịch vụ để ưu tiên nhận hàng của các nhà cung cấp khác
Đồng thời, họ cũng có nhiều thuận lợi hơn khi sử dụng nhãn hiệu riêng trong việc định giá bán, quyết định về hình thức, số lượng quảng cáo và cổ động bán hàng
Việc sử dụng nhiều nhãn hiệu khác nhau còn cho phép điều chỉnh chính sách khuyến mại của mỗi sản phẩm để chúng phù hợp với mỗi nhóm người tiêu dùng nhất định Hơn nữa việc sử dụng nhãn hiệu khac nhau sẽ bảo đảm tận dụng được nhiều khoảng trống trên thị trường
1.1.2Các chiến lược và chính sách về nhãn hiệu
Các chiến lược và chính sách marketing về nhãn hiệu sản phẩm bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Quyết định về việc gắn nhãn hiệu cho sản phẩm:Việc gắn nhãn hiệu cho sản phẩm có ưu điểm là có thể tạo dựng được niềm tin hơn của người mua đối với nhà sảnxuất khi họ dám khẳng dịnh sự hiện diện của mình trên thị trường qua nhãn hiệu, làm căn cứ cho việc lụa chọn của người mua và đặc biệt làm cơ sở cho việc quản lý chống làm hàng giả
Quyết định về chủ thể của nhãn hiệu sản phẩm là ai?
Có thể có ba hướng diễn ra khi quyết định về chủ thể của nhãn hiệu mà các tổ chức cần cân nhắc, lựa chon, đó là:
Hướng thứ nhất: Đưa sản phẩm ra thị trường với đúng nhãn hiệu của chính nhà sản xuất
Hướng thứ hai: bán sản phẩm cho nhà trung gian,nhà trung gian quyết định vấn
đề nhãn hiệu của những sản phẩm này,ngay cả khi các sản phẩm đó một nhãn hiệu riêng,do nhà trung gian gắn cho
Hướng thứ ba: đưa sản phẩm ra thị trường với một phần sản phẩm mang nhãn hiệu của mình và một phần mang nhãn hiệu trung gian
Quyết định về chất lượng của sản phẩm
Trang 6Chất lượng sản phẩm là chỉ tiêu khái quát,trong thực tế nó thường được phản ánh qua những tham số và đặc tính khác nhau tùy thuộc vào từng loại hàng và nhất thiết phải do quan niệm của người tiêu dùng quyết định.
Vì vậy, trước khi quyết định mức độ chất lượng, các nhà sản xuất cần hiểu kĩ khách hàng quan niệm những yếu tố nào phản ánh chất lượng cho mỗi loại sản phẩm cụ thể
Theo quan điểm của marketing, chất lượng phải được đo lường theo những quan niệm của khách hàng, của người sử dụng
Quan hệ họ hàng của các nhãn hiệu
Có bốn cách đặt tên cho nhãn hiệu, sau đây:
Thứ nhất: tên nhãn hiệu riêng biệt sử dụng cho cùng mặt hàng, nhưng chưa có đặc tính khác nhau ít nhiều
Thứ hai: tên nhãn hiệu đồng nhất cho tất cả các sản phẩm đước sản xuất bởi công ty
Thứ ba: tên thương mại của tổ chức kết hợp vơi tên nhãn hiệu riêng biệt của sản phẩm
Thứ tư: tên nhãn hiệu tập thể cho từng dòng sản phẩm(từng chủng loại hàng )
do công ty sản xuất
Lựa chọn cách nào khi đặt tên cho nhãn hiệu sản phẩm cũng phải đảm bảo 4 yêu cầu, đó là viêc đặt tên cho mỗi nhãn hiệu sản phẩm phải :
Đảm bảo hàm ý về lợi ích của sản phẩm
Đảm bảo hàm ý về chất lượng của sản phẩm
Đảm bảo dễ đọc, dễ nhận biết
Đảm bảo sự khác biệt với những tên của các nhãn hiệu sản phẩm khác
Quyết định việc sử dụng một hay nhiều nhãn hiệu cho sản phẩm có những đặc tính khác nhau của cùng một mặt hàng
Trang 7Có nhiều nhãn hiệu riêng là quan điểm người bán sử dụng hai hay nhiều nhã hiệucho các mặt hàng hoặc chủng loại sản phẩm.Mỗi loại sản phẩm, mỗi chủng loại có tênnhãn hiệu riêng biệt như vậy gọi là sản phẩm riêng biệt.Quan điểm này có những ưu điểm là:
Tạo cho người sản xuất khả năng nhận thêm mặt bằng ở người buôn bán để bày bán sản phẩm
Khai thác để trường hợp khi người tiêu dùng không phải bao giờ cũng trung thành tuyết đối với một nhãn hiệu đến mức họ không muốn mua nhãn hiệu mới
Quyết định về việc mở rộng giới hạn sử dụng nhãn hiệu sản phẩm
Quyết định mở rộng giới hạn của nhãn hiệu là những quyết định liên quan đến việc sử dụng tên nhãn hiệu đã thành công ( cũ) khi đưa ra thị trường những loạisản phẩm đã cải tiến hay những sản phẩm mới
Quyết định về cách gắn nhãn hiệu
Nhãn hiệu thực hiện một số chức năng và tùy thuộc vào người có hàng những chức năng đó sẽ được xác định cụ thể là những chức năng nào.Nhưng tối thiểu nhãn hiệu phải đảm bảo các chức năng sau đây:
Thứ nhất : chức năng nhận biết được sản phẩm
Thứ hai : chức năng chỉ rõ phẩm cấp sản phẩm
Thứ ba : chức năng mô tả sản phẩm trong một chừng mực nào đó
Thứ tư : chức năng tuyên truyền sản phẩm bằng những hình vẽ hấp dẫn 1.2 Chính sách về bao bì và dịch vụ sản phẩm
1.2.1 Chính sách bao bì sản phẩm
Bao bì là các lớp bọc phía ngoài sản phẩm, có chức năng nguyên thủy và cơ bản nhất
là bảo vệ, bảo quản sản phẩm
Marketing về bao gói sản phẩm, chính là việc đưa ra những quyết định ( các chính sách ) đúng đắn về vấn đề bao gói, cơ bản gồm các quyết định về: các yếu tố cấu thành bao gói trên cơ sở xác định vai trò của bao gói và quan niệm về bao gói đôii với
Trang 8từng loại sản phẩm ; từ đó làm tiền đề cho các quyết định tiếp theo bao gói, như : quyết định về đặc tính của bao gói; quyết địh về lợi ích xã hội của bao gói; các quyết định về thử nghiệm bao gói; quyết định về các thông tin trên bao gói….
Nội dung marketing về bao bì sản phẩm gồm các quyết định sau:
Xây dựng quan niệm về vấn đề bao bì sản phẩm
Quyết định về đặc tính cho từng loại sản phẩm
Quyết định về thử nghiệm bao bì
1.2.2 Chính sách về các dịch vụ đối với sản phẩm và khách hàng
Bản chất và những đặc điểm cơ bản của dịch vụ sản phẩm
Dịch vụ sản phẩm là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì
đó, có liên quan đến sản phẩm của tổ chức
Nội dung của các quyết định marketing về dịch vụ sản phẩm
Quyết định về các chủng loại dịch vụ cần cung cấp sản phẩm
Quyết định về mức độ và chất lượng dịch vụ sản phẩm sẽ cung cấp
Quyết định về bề rộng của chủng loại sản phẩm: bề rộng chủng loại sản phẩmđược thể hiện qua độ lớn của tổng số các chủng loại sản phẩm do tổ chức sản xuất Quyết định phát triển sản phẩm : các tổ chức có thể phát triển chủng loại sản phẩm theo các xu hướng là phát triển theo hướng lên trên và phát triển theo hướng xuống dưới hoặc kết hợp hai hướng trên
Trang 9Quyết định bổ sung chủng loại sản phẩm: Việc mở rộng củng loại sản phẩm
có thể thực hiện bằng con đường tiếp theo là bổ sung các mặt hàng mới trong khuôn của các chủng loại khổ hiện có của tổ chức
Mức độ phong phú của danh mục sản phẩm, hàng hóa trong một tổ chức được
đo bằng tổng số những mặt hàng mà tổ chức đó đưa ra thị trường
Bề sâu của một danh mục sản phẩm, hàng hóa ở một tổ chức là các phương án chào bán từng mặt hàng riêng trong khuôn khổ nhóm chủng loại sản phẩm, hàng hóa của tổ chức được đưa chào ,bán trên thị trường
Mức độ hài hòa của danh mục sản phẩm: phản ánh mức độ gần gũi của sản phẩm thuộc nhóm chủng loại khác nhau xét theo góc độ mục đích sử dụng cuối cùng, hoặc những yêu cầu về tổ chức sản xuất, các kênh phân phối hay một tiêu chuẩn nào đó
1.4 Thiết kế sản phẩm mới
Sản phẩm mới là những sản phẩm lần đầu tiên được tạo ra và cung ứng nhằm gợi
mở hoặc đáp ứng nhu cầu mới của khách hàng, các nhãn hiệu mới, các ý tưởng mới làkết quả của phát minh, sáng chế hoặc cải tiến…”
Quá trình marketing sản phẩm mới gồm các giai đoạn sau đây:
Giai đoạn 1 :hình thành ý tưởng về sản phẩm mới
Giai đoạn 2: lựa chọn ý tưởng và thiết kế sản phẩm mới
Giai đoạn 3: soạn thảo và thẩm định dự án sản phẩm mới
Giai đoạn 4: thiết kế sản phẩm mới
Giai đoạn 5: thử nghiệm sản phẩm mới trong thị trường
Trang 101.5 Chu kì sống của sản phẩm và phát triển sản phẩm mới.
Chu kì sống của một chủng loại sản phẩm là độ dài tồn tại của nó trên thị trường ( kể
từ khi sản phẩm thâm nhập vào thị trường cho đến khi nó phải rút lui khỏi thị trường) Chu kì sống của thông thường của một chủng loại sản phẩm gồm bốn giai đoạn: Giai đoạn sản phẩm mới thâm nhập thị trường: đây là giai đoạn mở đầu của việc đưa sản phẩm chính thức ra thị trường Bởi vậy, nó đòi hỏi phải có thời gian và
sự chuẩn bị kỹ lượng về mọi mặt.Mặc dù vậy, mức tiêu thụ trong giai đoạn này
thường tăng chậm
Giai đoạn phát triển của sản phẩm mới: đặc trưng là doanh thu và uy tín của sảnphẩm tăng nhanh do khách hàng đã nhận biêt được lợi ích, quen với sản phẩm mới, kênh phân phối hoạt động có hiệu quả hơn
Giai đoạn bão hòa: đặc trưng là tốc độ tăng doanh thu giảm dần đến mức không tăng do nhu cầu về sản phẩm đã được đáp ứng tương đối đầy đủ, khách hàng bắt đầu xuất hiện các nhu cầu mới cao hơn, thị trường bắt đầu xuất hiện các sản phẩm mới ưuthế hơn …
Giai đoạn suy thoái: đặc trưng quan trọng là doanh thu bắt đầu giảm và giảm mạnh do khách hàng bất đầu quen với các sản phẩm mới,có ưu thế hơn trên thị
trường
Hướng chiến lược marketing của các tổ chức trong giai đoạn này, thường là : Rút khỏi thị trường (nếu doanh số có thể giảm đến không )hoặc duy trì mức giá bán và sảnlượng sản xuất ổn định ( nếu doanh số bán dừng lại ổn định)
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NHÃN HIỆU SẢN PHẨM
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty mỹ phẩm LG Vinaa Cosmetics.Công ty mỹ phẩm LG Vina Cosmetics là công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập dựa trên sự hợp tác liên doanh của công ty LG Housegoods and Health Care (Hàn Quốc) và công ty Dầu thực vật Hượng liệu Mỹ phẩm Việt Nam ( Vocarimex)
Trang 11LG Vina là công ty liên doanh về mỹ phẩm có công nghệ tiên tiến hoàn chỉnh hàng đầu tại Việt Nam với :
Vốn đầu tư : 9000000 đô la Mỹ
Vốn pháp định: 4500000 đô la Mỹ
Ngày 22/10/1997 công ty được Ban quản lí các khu công nghiệp Đồng Nai cấp giấy phép đầu tư với thời gian hoạt động là 30 năm
Ngày 26/3/1998, công ty chính thức đi vào hoạt động Cũng trong thời gian này công
ty đã thành lập 11 chi nhánh tại các thành phố lớn trong nước ngoài 2 chi nhánh là Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh
Hệ thống các chi nhánh của công ty ở các tỉnh thành : Lạng Sơn, Hải Phòng, Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Thiết, Đà Lạt, Vũng Tàu, Cần Thơ, Long Xuyên và thiết lập hệ thống 50 nhà phân phối trên phạm vi cả nước, 2 nhà phân phối nước ngoài Trung Quốc và Campuchia
Ngày 5/3/1999, công ty đã tiến hành làm lễ động thổ khởi công xây dựng nhà máy.Ngày 7/3/2000, lễ khánh thành nhà máy được tổ chức tại khu công nghiệp Nhơn Trạch 2, tỉnh Đồng Nai
Tháng 11/2000, thành lập công đoàn công ty liên doanh mỹ phẩm LG Vina
Sự thành công của LG Vina bắt nguồn từ 2 yếu tố Đó là sản phẩm, chiến lược và con người Các sản phẩm của LG Vina trước khi đưa ra thị trường đều phải trải qua quá trình nghiên cứu cẩn trọng ( từ viện nghiên cứu LG ).Bên cạnh đó, nhờ sự tương đồng giữa làn da Việt Nam và làn da Hàn Quốc nên sản phẩm nhanh chóng nhận được sự yêu mến, thỏa mãn của khách hàng Việt Nam
Phương hướng hành động của LG toàn cầu là “Kinh doanh chính đạo” Điều này có nghĩa là LG không ngừng nuôi dưỡng năng lực dựa trên nền tảng kinh doanh có đạo đức và chiến thắng đối thủ một cách công bằng lành mạnh
Sau 8 năm hoạt động, nhà máy LG Vina đã và đang mở rộng sản xuất với đa dạng cácchủng loại và ngành hàng Những sản phẩm được nhập khẩu từ Hàn Quốc như OHUI,Whoo, và các sản phẩm sản xuất tại nhàn máy như Lacvert Essance và Doble Rich đã dần dần định hình thành thương hiệu mỹ phẩm được yêu thích tại Việt Nam
Trang 122.2 Vài nét về sản phẩm.
Trong số các nhãn hiệu nổi tiếng của tập đoàn LG Vina Cosmetics thì Essance là nhãnhiệu đóng góp không nhỏ cho sự thành công của công ty
Essance Vitacell là sản phẩm mỹ phẩm hàng đâù của công ty Tháng 10/2000,
Essance Vitacell đã ra mắt khách hàng trong nước nhằm phục vụ cho người tiêu dùng
có mức thu nhập trung bình Sản phẩm này được nghiên cứu với các thành phần đặc biệt phù hợp và giá cả
Sự thành công vượt bậc của Essance là kết quả của quá trình nghiên cứu và phát triển của Viện nghiên cứu Mỹ phẩm LG Housegoods and Heath Care Nhãn hiệu Lacvert Essance bao gồm hai dòng sản phẩm chính là Skincar (dưỡng da) và make up (trang điểm)
Dòng mỹ phẩm trang điểm Essance được tạo nên từ sắc màu của thiên nhiên sốngđộng và đa dạng, cùng với những thành phần thảo dược từ thiên nhiên phù hợp với làn
da của phụ nữ Châu Á cho hiệu quả trang điểm tuyệt vời đem lại một vẻ đẹp tự nhiên nhưng không kém phần quyến rũ
Dòng sản phẩm dưỡng da Essance với chiết xuất từ những thành phần tinh túy nhất trong thiên nhiên như rễ cây dâu tằm và mộng gạo ( cho dòng sản phẩm làm trắng da), hay chiết xuất từ Cúc La Mã giúp điều tiết chất nhờn và kháng viêm da (dòng sản phẩm dành cho da nhờn) hoặc dòng sản phẩm dành cho da hỗn hợp với chiết xuất từ cam thảo và Pentabitin có tác dụng làm sạch và giữ ẩm cho da Sản phẩmdưỡng da trên chăm sóc từng loại cung cấp các dưỡng chất bổ sung đem lại làn da căng mịn đầy sức sống
Với dòng mỹ phẩm trang điểm có bộ sản phẩm trang điểm nền Silky Makeup Base hoàn toàn mới với thành phần chiết xuất từ thiên nhiên đem lại cho làn da cảm giác dịu nhẹ, thông thoáng và vẻ đẹp tự nhiên như những cánh hoa Đặc trưng của sản phẩm này là “ Cho làn da nhẹ tựa cánh hoa” Bộ sản phẩm này gồm có :
Kem lót trang điểm ( Silky Smooth Makeup Base)
Kem che khuyết điểm( Silky Smooth Foundation)
Phấn trang điểm mịn da ( Silky Two Way Cake)
Phấn trang điểm sáng da (Whitening Two Way Cake)