Bảng 1.1 Bảng minh họa cơ chế chuyển nhượng số thành Bảng 1.2 Bảng minh họa cơ chế chuyển nhượng mức dôi Bảng 1.3 Bảng giải pháp quản lý rủi ro Bảng 2.1 Các văn bản quản lý hoạt động bảo
Trang 2Nguyễn Tuấn Hoàng
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH TÁI BẢO HIỂM TAI VIÊT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: " 60.34.05
LUẬN V Ã N THẠC SY QUẢN TRỊ KINH DOANH
N G Ư Ờ I HƯỚNG D Â N KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Như Tiến
Hà Nội-2010
Trang 3Tôi xin cam đoan Luận văn "Quản trị r ủ i ro t r o n g kinh doanh tái bảo hiểm tại Việt Nam" là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực Két quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày Ì tháng 2 năm 2010
Tác giả Luận văn
Trang 4Được sự tạo điều kiện của Khoa Sau Đ ạ i Học, Trường Đ ạ i Học Ngoại Thương H à Nội, với sự giúp đỡ của PGS.TS Nguyễn N h ư Tiến, tôi đã hoàn thành luận văn :
"Quản trị r ủ i ro trong kinh doanh tái bảo hiểm tại Việt Nam"
Tôi x i n chân thành cảm ơn các thầy, các cô đã lên lớp giảng bài, các tháy
cô trong khoa Sau Đ ạ i Học và đức biệt là PGS.TS Nguyễn N h ư Tiến đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Một lẩn nữa, tôi xin chân thành cảm ơn và kính chúc sức khỏe các thầy cô
Cao học viên : Nguyễn Tuấn Hoàng
Trang 5C H Ư Ơ N G ì - T Ổ N G QUAN V Ề TÁI BẢO H I Ể M V À R Ủ I RO TRONG
HOẠT Đ Ộ N G TÁI BẢO H I Ể M 4
1.1 Sự ra đời và phát triển thị trường bảo hiểm và tái bảo hiếm 4
1.1.1 Sự ra đời của bảo hiểm trên thế giới 4
1.1.2 Quá trình hình thành thị trưởng tái bảo hiểm thế giới 5
1.2 Vai trò của tái bảo hiểm và các phương pháp tái bảo hiểm cơ bản 7
1.2.1 Vai trò của tái bảo hiểm 7
1.2.2 Các phương pháp tái bảo hiểm cơ bản 9
1.2.2.1 Tái bảo hiểm theo tỷ lệ i n
1.2.2.2 Phương pháp tái bảo hiếm phi tý lệ 14
1.3 Nhổn dạng rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn 19
1.3.1 Khái niệm về rủi ro và tổn thất 19
1.3.3.1 Xem xét phạm vi bảo hiểm và rủi ro tiềm ẩn 25
1.3.3.2 Kiểm tra hiện trường rủi ro 25
1.3.3.3 Đánh giá chủ thể tác động đến rủi ro 26
1.3.3.4 Nghiên cứu số liệu tổn thất trong quá khứ 26
Trang 61.3.4 Đo lường rủi ro và lựa chọn công cụ quản lý 27
1.3.4.1 Đo lường tần suất 28
1.3.4.2 Đo lường mức độ nghiêm trọng 29
1.3.4.3 Lựa chọn công cụ quản lý rủi ro 30
1.3.4.4 Giám sát hoạt động quản lý rủi ro 33
CHƯƠNG li - THỊ TRƯỜNG TÁI BỘO HIẾM VÀ TÌNH HÌNH QUỘN LÝ
R Ủ I RO TRONG H O Ạ T Đ Ộ N G TÁI BỘO H I Ể M Ở M Ộ T số DOANH
NGHIỆP BỘO H I Ể M Đ Ầ U N G À N H V I Ệ T N A M 36
2 Ì Khái quát thị trường tái bảo Việt Nam 36
2.1.1 Sự hình thành và phát triển thị trường tái bảo hiểm 36
2.1.2 Thực trạng thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam 38
2.1.2.1 Các chỉ số hoạt động, dung lượng và cơ cấu các nghiệp vụ 38
2.1.2.2 Mức độ cạnh tranh trên thị trường 44
2.1.2.3 Tình hình tổn thất và chiều hướng phát triển cùa thị trường 48
2.1.3 Nhận dạng rủi ro và nguy cơ đối với hoạt động tái bảo hiểm 54
2.1.3.1 Đối với hoạt động nhượng tái bảo hiểm 54
2.1.3.2 Đối với hoạt động nhận tái bảo hiểm 58
2.2 Tình hình quản lý rủi ro hoạt động tái bảo hiếm trong một số doanh nghiệp đầu
ngành 58 2.2 Ì Công ty CP Bảo hiểm Petrolimex 59
2.2.2 Tổng Công ty CP Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam 65
C H Ư Ơ N G H I - C Á C G I Ộ I P H Á P N H Ằ M N Â N G CAO HIÊU Q U Á QUỘN
R Ủ I RO TRONG H O Ạ T Đ Ộ N G TÁI BỘO H I Ể M T Ạ I V I Ệ T N A M
3.1 Các giải pháp từ phía nhà nước
3.1.1 Xây dựng hệ thống chỉ số bảo hiếm
LÝ
70
70
70
Trang 73 Ì 4 Đ ẩ y mạnh đầu tư vào công tác thống kê 72
3.1.5 Phối hợp với chuyên gia bảo hiểm nước ngoài để xây dựng m ô hình rủi
ro thiên tai 72 3.1.6 Lập quỹ bảo hiểm tương hỗ đối với rủi ro thiên tai 73
3.2 Các giải pháp từ phía hiệp hữi bảo hiểm Việt Nam 74
3.3 Các giải pháp từ phía các nhà nhận - nhượng tái bảo hiểm 74
3.3.1 Từ phía cấc nhà nhận tái bảo hiểm chuyên nghiệp 74
3.3.2 Từ phía doanh nghiệp bảo hiểm hay nhà nhượng tái bảo hiếm 75
3.3.2.1 Đ ẩ y mạnh công tác đào tạo, nâng cao năng lực chuyên m ô n
cán bữ 75
3.3.2.2 Thiết lập quy trình kiểm duyệt rủi ro 76
3.3.3 Xác định mức giữ lại tối ưu 92
3.3.4 Sử dụng linh hoạt các hợp đồng nhượng tái 93
3.3.5 Thu xếp chương trình bảo vệ tối ưu 94
3.3.6 Tăng cường hợp tác để nâng cao chất lượng r ủ i ro 94
Tài liệu tham khảo 96
Trang 8STT Ký hiệu Diễn giải
3 STBH Số tiền bảo hiểm
4 TBH Tái bảo hiểm
5 XL Excess of Loss
6 TNDS Trách nhiệm dân sự
7 PJICO Công ty Cổ phần bảo hiểm Petrolimex
8 PVI Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm Dầu Khí Việt Nam
9 s&p Standard & Poor (Tổ chức xếp hạng)
10 N Đ U Q Người được ủy quyền
l i NĐPC Người được phân công
12 H Đ Hợp đồng
13 TGĐ Tổng Giám Đốc
14 TP.TBH Trưởng phòng Tái Bảo Hiểm
Trang 9Bảng 1.1 Bảng minh họa cơ chế chuyển nhượng số thành
Bảng 1.2 Bảng minh họa cơ chế chuyển nhượng mức dôi
Bảng 1.3 Bảng giải pháp quản lý rủi ro
Bảng 2.1 Các văn bản quản lý hoạt động bảo hiểm và tái bảo hiểm Bảng 2.2 Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ của ngành qua các năm Bảng 2.3 Thị phần chung của lo doanh nghiệp báo hiếm đầu ngành
Bảng 2.4 Doanh thu phí bảo hiểm jịốc theo năm nghiêp vu
Bảng 2.5 Doanh thu phí bảo hiểm giữ lai theo năm nghiêp vu
Bảng 2.6 Phí nhượng tái theo năm nghiệp vụ
Bảng 2.7 Số tiền bồi thường bảo hiếm phi nhân tho
Bảng 2.8 Dớ phòng bảo hiểm phi nhân tho
Bảng 2.9 Danh sách các đơn vị bảo hiểm, tái bảo hiểm phi nhân tho Bảng 2.10 Một số vụ tổn thất lớn trên thị trường bảo hiểm cháy Bảng 2.11 Một số tổn thất kỹ thuật lớn nhất của thi trường từ năm 2005 Bảng 2.12 Một số cơn bão gây thiệt hại lớn cho Viêt nam gần đây Bảng 2.13 Danh sách công ty tái bảo hiểm tham gia hơp đổng mức dôi hỏa
hoan 2009 của RIICO
Bảng 2.14 Danh sách công ty tái bảo hiếm tham gia hợp đổng vượt mức bồi
thường kết hợp hỏa hoan và kỹ thuât 2009 của PJICO
Bảng 2.15 Danh sách công ty tái bảo hiểm tham gia họp đổng vượt mức bồi
thường kết hớp hoa hoan và kỹ thuât 2009 cua PVI
Bảng 3.1 Quy trình nhận tái bảo hiểm tam thời
Bảng 3.2 Quy trình nhận tái bảo hiểm cố đinh
Bảng 3.3 Quy trình nhương tái bảo hiểm tam thời
Bảng 3.4 Quy trình nhương tái bảo hiểm cố đinh
Bảng 3.5 Bảng minh hoa hóp đồng tái bảo hiểm số thành
Hình 1.1 Ma trân biểu diễn mức đô rủi ro
Hình 2.1 Cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm Rốc năm nghiêp vu 2008 Hình 2.2 Cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm giữ lai năm nghiêp vu 2008 Hình 2.3 Biểu đồ biểu diễn phí và tổn thất tài sản trong 10 năm Hình 2.4 Biểu đồ biểu diễn tỷ lê tổn thất tài sản trong 10 năm
Trang 10M Ở Đ Ầ U
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự ra đời của bảo hiểm là một yêu cầu khách quan, phát triển lên từ hình thái
sơ khai là dự trữ dùng để bù đắp khi có tổn thất Việc dự trữ trên thực tế đã không đáp ứng được yêu cầu được bù đắp đầy đủ đối vỹi tổn thất, điều này đòi hỏi sự ra đời của tổ chức bảo hiểm riêng biệt và vận động được nhiều người tham gia để có được quỹ bồi thường đủ lỹn Bảo hiểm đầu tiên được ghi nhận rõ nét nhất trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải ở Anh Quốc khi đội tàu buôn chỏ nhiều hàng thường xuyên gặp rủi ro trên biển Sau đấy là bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo hiểm kỹ thuật, Vỹi sự phát triển của quá trình tích lũy của cải, mỗi tổ chức bảo hiểm không thể đủ năng lực tài chính để bảo hiểm cho những tài sản có giá trị khổng lồ, các tổ chức bảo hiểm cần thiết phải liên kết vỹi nhau, chia sẻ cùng nhau những tài sản đang được bảo hiểm Tái bảo hiểm nhờ đó m à xuất hiện và thể hiện vai trò không chỉ hỗ trợ cho bảo hiểm gốc m à còn thực hiện việc mua đi bán lại các rủi ro tạo lợi nhuận cho tổ chức Sự ra đời của rất nhiều các công ty chuyên tái bảo hiểm rất lỹn như Swiss Re (1863) của Thụy Sỹ, Munich Re (1880) & Hannover Re (1901) của Đức và sự xuất hiện của thị trường Lloyd vỹi khả năng tài chính vô cùng lỹn Thị trường Lloyd bảo hiểm cho hầu hết các Công ty lỹn nhất trên thế giỹi tạo nên các chỉ số chứng khoán S&P500, DownJohn, Nasdas, Tổng doanh thu giao dịch tái bảo hiểm trên toàn thế giỹi lên đến hàng trăm tỷ đô Mỹ Như vậy đã cho thấy sự hấp dẫn của hoạt động tái bảo hiểm như thế nào
Tại Việt Nam, năm 1995 nhà nưỹc đã cho thành lập Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam vỹi mục đích điều tiết hoạt động tái bảo hiểm, tạo tiền để cho việc phát triển thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm trong những năm tỹi Tại thời điểm 1995, thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ duy nhất vỹi sự hiện diện của Bảo Việt Đến nay đã có 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hoạt động tạo nên một môi trường nhộn nhịp cho hoạt động tái bảo hiểm Tuy nhiên bảo hiểm gốc là hoạt động một chiều mua rủi ro về mình, tái bảo hiểm là hoạt động hai chiều mua đi bán lại các rủi ro đã được bảo hiểm Cho dù là bảo hiểm hay tái bảo hiểm thì quản lý rủi
Trang 11ro luôn là công việc quan trọng để kiểm soát và giảm thiểu rủi ro, đảm bảo mục tiêu cuối cùng của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào là lợi nhuận
Đặc biệt do sự thay đổi khí hậu toàn cờu tạo ra nhiều thảm họa thiên nhiên như Động đất, Núi lửa, Sóng thờn, M ư a bão lớn, đã gây nên rất nhiều tổn thất khốc liệt, làm thiệt hại nặng nề tới người dân, nền kinh tế và ngân sách quốc gia Tuy nhiên với phạm vi hoạt động không biên giới của tái bảo hiểm, những tổn thất lớn như trên tại thị trường một quốc gia sẽ được chia sẻ bởi các thị trường ở nhiều quốc gia khác với điều kiện phải có một chương trình tái bảo hiểm tối ưu để quản lý các rủi ro này
Với sự cờn thiết như trên, tác giả đã lấy "Quản trị rủi ro trong kinh doanh tái bảo hiểm tại Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn Thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Tái bảo hiểm là một lĩnh vực có tính đặc thù cao, mang nhiều yếu tố kỹ thuật
vì nó vừa là công cụ chuyển nhượng rủi ro, vừa là hình thức kinh doanh thu lợi nhuận Trên thực tế đã có một số luận văn cử nhân & thạc sĩ nghiên cứu tái bảo hiểm trong một lĩnh vực bảo hiểm cụ thể Tuy nhiên cách tiếp cận và nghiên cứu của các Luận vãn này đều theo hướng coi tái bảo hiểm là công cụ chuyển nhượng rủi ro đơn thuờn m à chưa tính đến chức năng nhận tái của tái bảo hiểm, nguy cơ rủi ro vượt tờm kiểm soát, cách thức tối ưu hóa chức năng nhượng tái và hướng tới mục tiêu bảo vệ toàn thị trường m à đề tài đang tiến hành nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở những lý luận về các phương pháp tái bảo hiểm, các rủi ro trong hoạt động tái bảo hiểm và quy trình quản trị rủi ro, luận văn đi sâu nghiên cứu các rủi ro tiềm tàng, mức độ rủi ro trong hoạt động tái bảo hiểm tại Việt nam, công tác quản lý rủi ro tại một số doanh nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp đẩy mạnh và quản
lý rủi ro cho thị trường Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận vãn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau :
Trang 12- Nghiên cứu thực trạng thị trường tái bảo hiểm và mức độ rủi ro trong hoạt động tái bảo hiểm tại Việt Nam
- Nghiên cứu cụ thể việc quản lý rủi ro tái bảo hiểm tại một số doanh nghiệp bảo hiểm lớn
- Tim giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả việc quản lý rủi ro trong hoạt động tái bảo hiểm tại Việt Nam
5 Đ ố i tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn hướng vào nghiên cứu các rủi ro đối với hoạt động tái bảo hiểm, cách thức quản lý và kiểm soát các rủi ro này
Luận văn thực hiện các nghiên cứu trong phạm vi lĩnh vực tái bảo hiểm và trọng tâm vào một số doanh nghiệp bảo hiểm lớn trong ngành mang tính đại diện cho thị trường để tìm ra các giải pháp nâng cao việc quản lý rủi ro cho thị trường tái bảo hiểm Việt Nam, đồc biệt là hoạt động nhượng tái bảo hiểm
6 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu bao gồm : Phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp dữ liệu thực tế ở thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và cụ thể tại một số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ lớn tại Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận vãn được chia thành 03 chương với nội dung như sau:
Chương ì: Tổng quan về tái bảo hiểm và rủi ro trong hoạt động tái bảo hiểm
Chương li: Thị trường tái bảo hiểm Việt Nam và tình hình quản lý rủi ro trong hoạt động tái bảo hiểm ở một số doanh nghiệp bảo hiểm lớn
Chương IU: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong hoạt động tái bảo hiểm tại Việt Nam
Trang 13do một hiện tượng bất ngờ Người ta đã tìm ra 2 cách nhằm đáp ứng nhu cầu này:
Cách thứ nhất là thành lập một liên doanh có vốn góp cổ phần theo đó, một nhóm
nhà đầu tư cùng đẩu tư vào một đội thuyền chở hàng chung, cùng chia sẻ rủi ro khi
xảy ra tổn thất và phân chia lợi nhuận m à liên doanh thu được Cách thứ hai là bảo
hiểm, một hệ thống m à theo đó, chủ tàu hay chủ hàng đề nghị trả một số tiền mặt cho những người khấc nếu những người này đồng ý bồi thường cho các chủ tàu và hàng thuộc con tàu nêu tên không hoàn thành một chuyến đi cụ thể nào đó Theo cách thức này, thay cho việc phải cạnh tranh thì việc chung vốn và bảo hiểm đã bổ sung cho nhau Một số cá nhân hay công ty thu phí bảo hiểm bằng tiền mặt để đổi lấy một cam kết sẽ bồi thường cho chủ tàu trong những trường hợp tàu bị mất tích Những bảo hiểm này đã tạo lập một quỹ chung m à họ cam kết sử dụng để thanh toán cho người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất
Trong các dữ liệu trước đây, người ta cũng ghi nhận rằng những thoa thuận bảo hiểm đầu tiên gắn liền với hoạt động giao lưu buôn bán hàng hoa bằng đường biển Bản hợp đồng cổ nhất được lưu giữ đến ngày nay được phát hành tại Gênes (Itaty) năm 1347 Công ty bảo hiểm đầu tiên của ngành vận tải biển và đường bộ được thành lập năm 1424 tại Gênes Sau đấy những tổ chức bảo hiểm bắt đầu đứng
Trang 14ra cung cấp một loại dịch vụ đặc biệt trong xã hội, họ ký các hợp đổng bảo hiểm, đảm bảo cho các khách hàng trước rủi ro Hoạt động bảo hiểm của họ mang tính kinh doanh và ngày một thương mại hoa mạnh hơn
Vào cuối thế kỷ thồ X V I I khi bảo hiểm đã trở thành một lĩnh vực kinh doanh, khi mà khối tài sản được bảo hiểm ngày một khổng l ồ (các con tàu cực lớn được đóng để chở những chuyến hàng vô cùng lớn) thì năng lực tài chính của bất kỳ một công ty bảo hiểm nào cũng không đủ để bảo hiểm Lúc đó thị trường Lloyd đã hình
thành với cơ chế đồng bảo hiểm, trong đó tổn tại 2 hệ thống : hệ thống thứ nhất là
tập hợp những người có tài chính muốn tham gia ngành bảo hiểm (họ chỉ có thể
cung cắp tài chính và không biết gì về bảo hiểm), hệ thống thứ hai là các khai thác
viên (họ là những chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm) Thị trường Lloyd là sự kết hợp của 2 hệ thống này, các khai thác viên đại diện cho những người cam kết cung cấp tài chính thực hiện việc khai thác bảo hiểm, họ được trả lương và có trách nhiệm khai thác hiệu quả, đem lại lợi nhuận cho nhà cung cấp tài chính Vết tích đầu tiên của thị trường Lloyd là căn nhà của Edvvard năm 1688, nơi đây trở thành điểm hội họp của các khai thác viên bảo hiểm hàng hải khi họ cùng nhau uống cà phê và luận bàn công việc
Sau bảo hiểm hàng hải phải nói đến bảo hiểm hoa hoạn Vào thế kỷ X V I I tại những thành thị đông đúc ở Châu Âu, hầu hết nhà cửa đều dựng bằng gỗ Người ta dùng lửa để sưởi, đun nấu và chiếu sáng, vì thế rủi ro nhà cửa bị bắt lửa là rất lớn
N ă m 1666 vụ hoa hoạn ở London đã kéo dài 4 ngày và thiêu cháy khoảng 13.000 nóc nhà, trong đó có đến 87 nhà thờ và bảo hiểm hoa hoạn đã ra đời sau sự cố này Cuối thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển của sản xuất đại công nghiệp cơ khí hàng loạt các loại hình bảo hiểm đã xuất hiện và phát triển rất nhanh như bảo hiểm ôtô, máy bay, máy móc, trách nhiệm, Cho đến ngày nay nhiều loại hình bảo hiểm mới vẫn tiếp tục được đưa ra và gần như đã đáp ồng được hầu hết nhu cẩu của
xã hội và của con người
1.1.2 Q u á trình hình thành thị trường tái bảo hiểm trên thế giới
Cùng với sự ra đời của hoạt động bảo hiểm thì hoạt động tái bảo hiểm cũng hình thành và phát triển song song Bản thoa thuận tái bảo hiểm làu đời nhất được
Trang 15biết cho đến ngày nay được ký kết tại Gênes vào năm 1370 giữa một bên là hai thương nhân hoạt động với tư cách là nhà tái bảo' hiểm với bên kia là đại diện cho một nhà bảo hiểm Hợp đồng tái bảo hiểm này được ký kết nhằm đảm bảo dịch vụ bảo hiểm cho các hàng hoa gửi đi bằng đường biển từ Gênes đến Sluys
Sau này với sự phát triển rộng rãi về những mặi quan hệ kinh tế thương mại giữa các thành phặ của nước Italy và giữa các nước Bắc Âu, đặc biệt là nước Anh, hoạt động tái bảo hiểm đã có cơ hội được phát triển rộng hơn cả về quy m ô và biên giới Tổ chức Lloyd ban đầu khi ra đời chỉ thực hiện các hoạt động bảo hiểm và đồng bảo hiểm gặc, sau thực hiện cả các hoạt động tái bảo hiểm Tuy nhiên do tính chất độc lập tương đặi của tái bảo hiểm so với bảo hiểm gặc m à một sặ công ty bảo hiểm gặc đã lạm dụng khe hở để trục lợi và làm thiệt hại cho những nhà nhận tái bảo hiểm, do vậy đã có một thời gian dài từ 1746 đến 1864 hoạt động tái bảo hiểm ở Anh bị hờ hững Tổ chức Lloyd lúc đó đã có cơ hội được biết đến nhiều hơn và phát triển mạnh mẽ thông qua các hoạt động đồng bảo hiểm Sau 1864, tổ chức Lloyd đã trở thành thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm quan trọng nhất thế giới
Ban đầu hình thức tái bảo hiểm chỉ dừng lại ở việc giao dịch tuy ý lựa chọn (hay giao dịch tạm thời) cho từng rủi ro riêng lẻ hoặc cơ chế tự động theo tỷ lệ (hay hợp đồng cặ định) cho tất cả các rủi ro của cùng một loại bảo hiểm nhất định và do công ty bảo hiểm gặc thực hiện chuyển nhượng Tuy nhiên vào giữa thế kỷ thứ XIX, khi các nước TBCN đã có những bước tiến nhảy vọt do áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo hiểm gặc nhờ đó phát triển rất mạnh và đòi hỏi phải có những công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp với các hình thức tái bảo hiểm linh hoạt hơn để hỗ trợ và đáp ứng tặt hơn các yêu cầu thực tế
N ă m 1846 Công ty tái bảo hiểm đầu tiên là Cologne Re (Đức) thành lập nhưng mãi đến 1852 mới ký được hợp đồng tái bảo hiểm đầu tiên Tiếp đó Công ty tái bảo hiểm Swiss Re (Thụy Sĩ) thành lập năm 1863, Công ty tái bảo hiểm Munich
Re (Đức) thành lập năm 1880
Tiếp theo sự ra đời của 3 công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp này, vào năm
1885 lịch sử còn ghi nhận một phương pháp tái bảo hiểm mới, tái bảo hiểm phi tỷ lệ, được 2 chuyên gia khai thác bảo hiểm của tổ chức Lloyd là Curthbert Heath thiết lập
Trang 16ra phương pháp và Robert Kiln xây dựng bộ điều kiện điều khoản chuẩn Phương pháp này ngày nay trở thành một công cụ bổ sung hết sức quan trọng để bảo vệ tối
ưu nhất cho các công ty bảo hiểm trước những rủi ro nạm ngoài tầm kiểm soát
1.2 Vai trò của tái bảo hiểm và và các phương pháp tái bảo hiểm cơ bản
1.2.1 Vai trò của tái bảo hiểm
Đối với một tổ chức bảo hiểm, dù năng lực tài chính có lớn đến mấy cũng vẫn
sẽ có giới hạn và không thể tự bảo hiểm cho tất cả những dịch vụ bảo hiểm khai thác được Trước sự đa dạng của các nhu cầu bảo hiểm và sự phức tạp của các rủi ro, các phương pháp phân tán rủi ro cho phép các nhà bảo hiểm đáp ứng tối đa các nhu cầu bảo hiểm của khách hàng Trên thực tế các nhà bảo hiểm có thể sử dụng kỹ thuật đồng bảo hiểm hoặc phân chia trách nhiệm theo lớp cho nhau, tuy nhiên tái bảo hiểm vẫn tỏ ra linh hoạt và đem lại nhiều lợi ích hơn cả cho các nhà bảo hiểm Trong một số trường hợp, tái bảo hiểm là công cụ duy nhất giúp nhà bảo hiểm có thể đảm bảo chắc chắn sự an toàn Các nhà bảo hiểm nếu không muốn mãi chỉ là các nhà kinh doanh nhỏ lẻ thì việc sử dụng tái bảo hiểm là tối cần thiết khi đứng trước các đề nghị bảo hiểm cho những đối tượng có số tiền bảo hiểm lớn hoặc bảo hiểm cho những loại rủi ro nguy hiểm, rủi ro tiềm ẩn nguy cơ phát sinh cao, hay
có khả năng tích tụ, tập trung, tích lũy tổn thất, hay rủi ro mới, rủi ro bị tác động mạnh bởi sự biến động về môi trường - kinh tế - xã hội - pháp lý m à nhà bảo hiểm rất khó xác định mức độ rủi ro và định phí
Vai trò của tái bảo hiểm đối với nhà bảo hiểm về cơ bản cũng giống như vai trò của bảo hiểm đối với khách hàng Với tái bảo hiểm thì nhà bảo hiểm sẽ chuyển nhượng rủi ro m à mình đã cam kết với khách hàng sang cho một hoặc nhiều nhà nhận tái bảo hiểm khác Tái bảo hiểm là một công cụ quản lý rủi ro cho phép nhà bảo hiểm có thể định lượng và chuyển giao những rủi ro m à bạng nguồn tài chính của mình không thể tự bảo hiểm được Đ ố i với chúng ta thì việc nhìn nhận vai trò
của tái bảo hiểm trên 2 giác độ vi mô và vĩ mô sẽ rất hữu ích, mặc dù vậy trên thực tế
vấn đề được nhìn nhận từ giác độ này có thể ảnh hưởng tới vấn đề ở giác độ kia
Trang 17Dưới giác độ vi mô (đối với doanh nghiệp) thì tái bảo hiểm có nhưng vai trò
cơ bản sau :
Thứ nhất, tái bảo hiểm giúp nhà bảo hiểm có thể khai thác được các rủi ro lớn
hơn nhiều so với năng lực tài chính cho phép của mình Thực tế gánh chịu rủi ro yêu cầu phải luôn có sự hỗ trợ về tài chính nhưng tài chính của nhà bảo hiểm lại chỉ có giới hạn, trong khi tái bảo hiểm là một cơ chế m à các nhà bảo hiểm có thể tiếp cận các nguồn tài chính hoữc nguồn dự phòng của các nhà nhận tái bảo hiểm vì khi họ cam kết nhận một phần rủi ro thì họ cũng cam kết cung cấp tài chính cho những rủi
ro này khi có tổn thất, nhờ đó nhà bảo hiểm có thể tăng cường được năng lực khai thác của mình Thí dụ trường hợp năng lực tài chính của nhà bảo hiểm chỉ có thể chi trả Ì triệu USD / rủi ro, trong khi các nhà nhận tái tin tưởng vào khả năng khai thác của nhà bảo hiểm, họ có thể cam kết nhận tái bảo hiểm đối với một loại rủi ro nhất
định và chi trả bồi thường lên tới 9 triệu USD / rủi ro Lúc đó nhà bảo hiểm có thể khai thác được rủi ro lên tới lo triệu USD / rủi ro, sau đó chuyển nhượng lại 9 triệu
ƯSD trách nhiệm cho nhà nhận tái
Thứ hai, rủi ro thảm hoa luôn là vấn đề lo lắng nhất, có thể gây hậu quả thảm
khốc cho nhà bảo hiểm khi các đối tượng bảo hiểm đồng loạt tổn thất Đ ể giải toa được lo lắng này thì tái bảo hiểm lại là công cụ tốt nhất bảo vệ nhà bảo hiểm luôn an toàn về tài chính trong mọi trường hợp Việc này đòi hỏi tái bảo hiểm phải được thực hiện theo một cơ chế đữc biệt khác và sẽ được trình bày trong các nội dung sau
Thứ bơ, tái bảo hiểm giúp ổn định hoa kết quả hoạt động kinh doanh bằng
cách giảm thiểu các biến động lớn của kết quả thực tế cho gần các giá trị mong đợi nhằm bảo vệ giá trị của các cổ đông trong công ty bảo hiểm
Thứ tư, trong trường hợp nhất định, tái bảo hiểm có thể cung cấp một lợi ích
kinh tế cụ thể dưới dạng hoa hồng nhận được từ nhà nhận tái bảo hiểm Đây là một cách thức thu hồi theo tỷ lệ từ các nhà nhận tái bảo hiểm đối với các chi phí khai thác bảo hiểm m à nhà bảo hiểm đã bỏ ra để có được dịch vụ Trong trường hợp nhà bảo hiểm quản lý rủi ro tốt khiến các nhà nhận tái bảo hiểm có lãi từ hợp đồng nhận tái, một phần tiền lãi sẽ được hoàn lại cho nhà bảo hiểm, điều này sẽ làm cho kết quả kinh doanh ròng của nhà bảo hiểm thêm phần tốt hơn
Trang 18Thứ năm, tái bảo hiểm là công cụ quản lý tài chính Đ ể bảo vệ khách hàng,
luật bảo hiểm yêu cầu phải duy trì một tỷ lệ nhất định tính trên tài sản đối với các trách nhiệm cam kết làm sao đảm bảo biên khả năng thanh toán Tái bảo hiểm thực
tế sẽ làm giảm phí bảo hiểm giữ lại, nhờ đó giúp tăng biên khả năng thanh toán để đáp ỏng các yêu cầu của luật pháp
Dưới giác độ vĩ mô (đối với ngành bảo hiểm) thì tái bảo hiểm có những vai
trò cơ bản sau :
Thứ nhất, tái bảo hiểm làm tăng mỏc độ an toàn cho nhà bảo hiểm, làm ổn
định trong dài hạn đối với ngành bảo hiểm
Thứ hai, tái bảo hiểm trong một tình huống cụ thể có thể chia nhỏ rủi ro và
phân tán cho rất nhiều nhà nhận tái bảo hiểm, nhờ đó những rủi ro vô cùng lớn như
vệ tinh, những con tàu khổng lồ mang theo khối lượng hàng hoa vô cùng lớn, các cao ốc đồ xô, có thể được bảo hiểm một cách an toàn và chắc chắn tạo điều kiện cho sự phất triển của ngành công nghiệp đó
Thứ ba, việc phát triển sản phẩm mới sẽ tạo ra nhiều rủi ro mới m à thông
thường sẽ rất khó cho các nhà bảo hiểm có thể ước lượng rủi ro và định phí Tái bảo hiểm thực tế có thể giúp tìm ra một sản phẩm bảo hiểm phù hợp nhờ sự tư vấn của nhà nhận tái bảo hiểm để sản phẩm mới có thể được giới thiệu ra thị trường
Thứ tư, nhờ có tái bảo hiểm m à nhà bảo hiểm có thể học được rất nhiều kiến
thỏc và kinh nghiệm bảo hiểm được chia sẻ từ các nhà nhận tái chuyên nghiệp Thực vậy tái bảo hiểm luôn là một phần không thể tách rời trong hệ thống bảo hiểm tiên tiến như ngày nay
1.2.2 Các phương pháp tái bảo hiểm cơ bản
Một trong những vấn đề cơ bản của mọi hợp đồng tái bảo hiểm là phương pháp phân định trách nhiệm giữa các bên tham gia đối với rủi ro được tái bảo hiểm, xác định lượng phí tái bảo hiểm cũng như các chi phí liên quan khác chuyển nhượng cho công ty nhận tái bảo hiểm Có nhiều phương pháp khác nhau được phân loại
thành hai phương thỏc, đó là tái bảo hiểm tỷ lệ và tái bảo hiềm phi tỷ lệ
Trang 191.2.2.1 Tái bảo hiểm tỷ lệ (Proportional Reinsurance)
Tái bảo hiểm tỷ lệ là một phương pháp tái bảo hiểm m à trong đó trách nhiệm của công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm đối với đơn vị rủi ro được bảo hiểm được phân định theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên trên cơ sở số tiền được bảo hiểm
Nét đặc trưng của hợp đồng tái bảo hiểm tỷ lệ là phân chia số tiền bảo hiểm cho nhau theo tỷ lệ bao nhiêu thì phí bảo hiểm (bồi thường) cũng được hưởng (phải trả) cũng được phân chia theo tỷ lệ đó, nghĩa là người ta lấy số tiền bảo hiểm làm căn cữ xác định tỷ lệ, sau đó lấy tỷ lệ đó để phân bổ phí bảo hiểm và bồi thường
Có 2 hình thữc tái bảo hiểm theo tỷ lệ là tái bảo hiểm số thành và tái bảo
hiểm mức dôi Hai cách thữc này luôn dẫn đến kết quả khác nhau về bồi thường và
phí giữa nhà bảo hiểm và công ty nhận tái bảo hiểm Do vậy việc lựa chọn cách thữc tái bảo hiểm nào phụ thuộc vào đặc điểm danh mục rủi ro của nhà bảo hiểm, tình hình tài chính và triết lý kinh doanh của công ty đó
> Tái bảo hiểm số thành (Quota Share Reinsurance)
Hợp đồng tái bảo hiểm số thành là một thoa thuận theo đó công ty nhượng cam kết nhượng một tỷ lệ nhất định mỗi và mọi rủi ro đối với các loại hình bảo hiểm
đã định trước cho công ty nhận tái bảo hiểm Mữc tỷ lệ nhượng này được quy định trong hợp đồng, theo đó công ty nhận tái bảo hiểm được hưởng phí bảo hiểm và thanh toán bổi thường với tỷ lệ như nhau
Hợp đồng số thành thông thường được thoa thuận bằng một tỷ lệ %, ví dụ tái 70% Hợp đồng cũng chỉ rõ số tiền tối đa được nhượng, điều này có thể được diễn giải như sau : Hợp đồng chấp nhận 7 0 % của mọi rủi ro được bảo hiểm và không vượt quá 1.000.000 cho mỗi rủi ro Trong một số trường hợp thì hợp đồng có thể rằng buộc tỷ lệ % giữ lại của công ty nhượng không được nhượng tái thêm nữa m à phải giữ lại để tự bảo hiểm
Trang 20Bảng 1.1 : Bảng minh họa cơ chế chuyển nhượng sô thành
Đơn vị tính : USD
Hợp đồng sô thành (nhượng 70%, tôi đa 1.000.000 đối vói môi đơn vị rủi ro)
Đơn BH gốc Người nhượng Người nhận Tổn thất
STBH Phí BH STBH Phí BH STBH Phí BH BT gốc Người
nhượng
Người nhận 100.000 200 30.000 60 70.000 140 0 0 0 600.000 1.000 180.000 300 420.000 700 200.000 60.000 140.000 800.000 1.500 240.000 450 560.000 1.050 0 0 0 1.000.000 2.100 300.000 630 700.000 1.470 800.000 240.000 560.000 1.200.000 2.400 300.000 600 700.000 1.400 50.000 12.500 29.165
(25%) (25%) (58.33%) (58.33%) ( 2 5 % ) (58.33%)
Nguồn : Tác giả tự sưu tầm
Bảng 1.1 cho thấy cách thức chia sẻ phí và tổn thất trong hợp đổng tái số thành có điều kiện tối đa là 1.000.000/mỗi rủi ro, tỷ lệ nhượng là 7 0 % tất cả các rủi
ro Trong bảng đưa ra 5 rủi ro có STBH khác nhau và rủi ro thứ năm có STBH là 1.200.000 lớn hơn 1.000.000 Việc nhượng tái rủi ro này vào hợp đững chỉ được thực hiện tới 1.000.000, trong đó giữ lại 300.000, chuyển nhượng 700.000, phần vượt quá 200.000 phải thu xếp tái tách riêng khỏi hợp đững bằng hình thức tái bảo hiểm khác
Đối với hợp đổng số thành, hoa hững thu được sẽ cao hơn, phí chuyển đi nhiều hơn vì cũng phải tái cả các rủi ro có STBH nhỏ, tránh việc lựa chọn rủi ro của nhà nhận tái bảo hiểm
Ưu điểm của tái bảo hiểm số thành :
- Đơn giản, giảm thiểu các công việc tính toán, báo cáo và hành chính
- Thu được hoa hững cao hơn
- Lợi ích chia sẻ là như nhau
Nhược điểm của tái bảo hiểm số thành :
- Phí chuyển đi nhiều hơn do các rủi ro nhỏ thuộc mức giữ lại cũng vẫn phải nhượng tái Do vậy các nhà quản lý bảo hiểm thường không khuyến khích và hạn chế tái bảo hiểm số thành thuần tuy
Trang 21- Không thể thống nhất mức giữ lại chung đối với các rủi ro cũng như tự chịu các tổn thất có thể giữ lại được
Tái bảo hiểm số thành sẽ rất tốt cho nhà bảo hiểm trong trường hợp :
- Nhà bảo hiểm triển khai một sản phẩm bảo hiểm mới m à không có số liệu thống kê, nhỗn định kết quả là không chắc chắn nhưng nhà nhỗn tái bảo hiểm lại có kinh nghiệm và tin tưởng vào khả năng khai thác của nhà bảo hiểm Vì thế tái bảo hiểm số thành sẽ hỗ trợ phát triển sản phẩm bảo hiểm mới
- Trong một số loại hình bảo hiểm đặc biệt, các nhà nhỗn tái bảo hiểm muốn được trực tiếp tham gia nhỗn tái tất cả các đơn bảo hiểm được khai thác bởi bên nhượng
- Trường hợp đối với các loại hình có số tiền bảo hiểm vừa phải nhưng luôn có nguy cơ bị tích tụ rủi ro cao khi rủi ro thảm hoa xảy đến
- Khi nhà bảo hiểm muốn giảm phí giữ lại xuống để đáp ứng các yêu cầu về biên khả năng thanh toán
- Khi rất khó để đánh giá được số tiền bảo hiểm sẽ giữ lại là bao nhiêu, ví dụ như bảo hiểm trách nhiệm không giới hạn (bảo hiểm tín dụng xuất khẩu)
- Khi nhà bảo hiểm muốn xây dựng một mức giữ lại gộp cao hơn H ọ không muốn nói rằng mức giữ lại thuần là 1.000.000 mỗi rủi ro, khi đó có thể nói rằng mức giữ lại gộp là 2.000.000 và tái bảo hiểm số thành 50%
- Khi nhà bảo hiểm muốn tái toàn bộ danh mục rủi ro sang nhà tái bảo hiểm thì hợp đồng tái bảo hiểm số thành 1 0 0 % sẽ là công cụ để thực hiện việc này
> Tái bảo hiểm mức dôi (Surplus Reinsurance)
Hợp đổng tái bảo hiểm mức dôi là thoa thuỗn tái bảo hiểm trong đó nhà bảo hiểm sau khi giữ lại một phần rủi ro cố định, tương đương với một STBH nhất định,
sẽ chuyển nhượng phần còn lại (phần vượt mức giữ lại) cho nhà tái bảo hiểm với điều kiện là phần chuyển tái không vượt quá giới hạn của hợp đồng
Giới hạn của hợp đồng mức dôi thường được quy định theo số lần mức giữ lại Thí dụ hợp đồng tái bảo hiểm mức dôi với mức giữ lại là 100.000, giới hạn của hợp đồng là 10 lần mức giữ lại, tương đương 1.000.000 mỗi rủi ro
Trang 22Bảng 1.2 : Bảng minh họa cơ chê chuyên nhượng mức dôi
Đơn vị tính : USD
Hợp đồng mức dôi 10 line (lo lần mức giữ lại), M ứ c giữ lại 100.000
Đơn BH gốc Người nhượng Người nhận Tổn thất
STBH Phí BH STBH Phí BH STBH Phí BH BT gốc Người
nhượng
Người nhận
950 200.000 33.333 166.667 800.000 1.200 100.000
(12.5%)
150 700.000 (87.5%)
1.050 40.000 5.000 35.000 1.100.000 1.650 100.000
(9.09%)
150 1.000.000 (90.91%)
1.200.000 2.100 100.000
(8.33%)
140 1.000.000 (83.33%)
1.400 (58.33%)
Nguồn : Tác giả tự sưu tầm
Bảng 1.2 cho thấy cách thức chia sẻ phí và tổn thất trong hợp đồng tái mức
dôi có giới hạn tối đa là l o line (có nghĩa là 10 lần mức giữ lại) Nếu mức giữ lại là
100.000 mỗi rựi ro thì giới hạn cựa hợp đồng là 1.000.000 mỗi rựi ro Trong bảng đưa ra 5 rựi ro có STBH khác nhau và rựi ro thứ năm có STBH là 1.200.000 lớn hơn 1.000.000 Việc nhượng tái rựi ro này vào hợp đồng chỉ được thực hiện tới 1.000.000, trong đó giữ lại 100.000, chuyển nhượng 1.000.000, phần vượt quá 100.000 phải thu xếp tái tách riêng khỏi hợp đồng bằng hình thức tái bảo hiểm khác
Ưu điểm cựa tái bảo hiểm mức dôi :
- Tái bảo hiểm mức dôi tự động cung cấp một nâng lực bảo hiểm lớn cho nhà bảo hiểm
- Những rựi ro nhỏ hoàn toàn được giữ lại tới mức cho phép Phần lớn những rựi ro này ít bị tổn thất và sinh lãi cho nhà bảo hiểm
- Danh mục các rựi ro giữ lại được đồng đều hoa Điều này có nghĩa là bất kể quy m ô rựi ro như thế nào thì mức độ rựi ro lớn nhất cũng không thể vượt quá
Trang 23mức giữ lại đã định trước Nhờ đó kết quả của danh mục các rủi ro giữ lại được duy trì ổn định khi quy luật số lớn phát huy hiệu quả
- Thu được hoa hồng nhượng tái và hoa hồng lãi làm gia tăng các lợi ích kinh
tế Khoản này trong các hợp đồng tỷ lệ đều có được
Nhược điểm của tái bảo hiộm mức dôi:
- Công việc hành chính phát sinh độ quản lý hợp đồng rất đáng kộ
- Quy m ô của hợp đồng có thộ bị giới hạn khi nhà nhận tái bảo hiộm xem xét
sự đánh đổi giữa phí tái bảo hiộm thu được hàng năm so với mức độ rủi ro phải gánh chịu
- Đ à m phán tái tục sẽ rất khó khăn nếu kết quả hợp đồng tái thua lỗ
- Khi phí chuyộn đi ngày một lớn m à bồi thường lại thấp thì hợp đồng phi tỷ lệ
có thộ sẽ là lựa chọn tốt hơn
1.2.2.2Tái bảo hiộm phi tỷ lệ (Non-Proportional Reinsurance)
Tái bảo hiộm phi tỷ lệ là phương pháp tái bảo hiộm trong đó công ty bảo hiộm và công ty nhận tái bảo hiộm không chia sẻ rủi ro cũng như phí bảo hiộm theo
tỷ lệ Trong phương pháp này, theo một điều khoản đã định trước, không quan tâm phí gốc như thế nào, công ty bảo hiộm trả phí cho công ty nhận tái bảo hiộm một số tiền theo yêu cầu thì công ty nhận tái bảo hiộm sẽ chịu trách nhiệm cho những tổn thất vượt quá một số tiền cố định đã thoa thuận trước, số tiền cố định này được gọi là mức tự bồi thường của công ty bảo hiộm
Tiêu chuẩn cơ bản độ phân định trách nhiệm giữa các bên là số tiền bồi thường tổn thất Công ty nhượng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất dưới hoặc cho tới mức bằng hạn mức bồi thường tự giữ lại, được gọi là mức tự bồi thường Nhà tái bảo hiộm chỉ bồi thường cho phần tổn thất vượt quá mức tự bồi thường của công ty nhượng nhưng không vượt quá một hạn mức tối đa được thoa thuận trước trong hợp đồng tái bảo hiộm, được gọi là Hạn mức trách nhiệm
Theo phương pháp này thì có 2 loại hợp đồng tái bảo hiộm cơ bản là Tái bảo
hiểm vượt mức bồi thường và Tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường
Trang 24> Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường theo r ủ i ro (Risk Excess o f Loss)
Người ta căn cứ vào thiệt hại đối với mỗi đơn vị rủi ro trong một sự cố để phân định trách nhiệm Tổn thữt sau khi trừ đi các khoản thu đòi được sẽ là khoản bồi thường thực trả (Ultimate Nét Loss) Trước tiên công ty bảo hiểm phải chịu mức tổn thữt theo yêu cầu phải gánh chịu trong hợp đồng, phần vượt quá mức tổn thữt giữ lại sẽ được nhà nhận tái bảo hiểm thanh toán
ưu điểm của tái bảo hiểm vượt mức bồi thường theo rủi ro :
- Cho phép giữ lại phí nhiều hơn so với tái bảo hiểm tỷ lệ Trong TBH tỷ lệ, phí giữ lại càng nhiều thì trách nhiệm giữ lại càng cao, tuy nhiên trong TBH vượt mức bồi thường thì phí giữ lại càng nhiều thì chỉ làm nguy cơ xảy ra rủi ro trong hợp đồng tái cao hơn và nhà nhận tái khi đó sẽ tính thêm một khoản phí nhưng không đáng kể so với lượng phí m à nhà bảo hiểm giữ lại thêm
- Cho phép mở rộng mức giữ lại gộp (Gross Retention), làm gia tăng khả nâng khai thác TBH vượt mức bồi thường có thể coi mức tổn thữt giữ lại là mức giữ lại gộp, khi đó nhà bảo hiểm có thể dễ dàng điều chỉnh mức giữ lại này thông qua một hợp đồng TBH số thành thu xếp trong mức giữ lại gộp này Việc thay đổi mức giữ lại qua các năm trong hợp đồng tỷ lệ là một chiến lược tốt khi khả năng tài chính ngày một tăng nhưng sẽ mữt nhiều công việc hành chính để theo dõi qua các năm và việc đàm phán với các nhà nhận tái cũng phức tạp hơn Với TBH vượt mức bồi thường sẽ thuận tiện hơn khi tăng mức giữ lại
- Cho phép mở rộng năng lực tái bảo hiểm của hợp đồng tỷ lệ Thông thường các nhà nhận tái thường không muốn gia tăng năng lực của hợp đồng tái vì sẽ gia tăng tương ứng mức trách nhiệm của mình trong khi phí bảo hiểm thu được thêm không tương xứng Vì vây việc thiết lập một hợp đồng bảo vệ khi
có tổn thữt lớn cho cả hợp đổng tỷ lệ sẽ đảm bảo lợi ích của nhà nhận tái
- Nhà nhận tái có thể nhận thữy hợp đồng mức dôi sẽ không còn hữp dẫn khi phí và trách nhiệm cam kết không tương xứng Một hợp đồng TBH vượt mức bồi thường khi thu xếp có thể làm giảm sự không tương xứng trên
Trang 25- Đ ố i với một số rủi ro khi khó thu xếp hợp đồng tái bảo hiểm tỷ lệ thì hợp đổng phi tỷ lệ này sẽ là giải pháp dễ dàng hơn
Nhược điểm của tái bảo hiểm vượt mức bồi thường theo rủi ro :
- Đ ố i với tái bảo hiểm theo tỷ lệ, các tổn thất nhỏ dưới mức tổn thất giầ lại của hợp đồng vượt mức bồi thường đều được chia sẻ theo tỷ lệ Tuy nhiên nếu như tần xuất của các tổn thất nhỏ có chiều hướng ngày một gia tăng thì hợp đồng vượt mức bồi thường sẽ không có hiệu quả
- Nếu như có tổn thất lớn gây thiệt hại nghiêm trọng tới kết quả của hợp đồng vượt mức bồi thường thì ngay khi tái tục hợp đồng, nhà nhận tái bảo hiểm sẽ
ấp dụng nhầng thay đổi lớn rất đáng kể (tăng phí lên cao, điều kiện được bảo
vệ chặt hơn) Sự thay đổi này có thể rất bất ngờ giầa năm trước và năm sau trong khi hợp đồng tỷ lệ thì cẩn nhiều thời gian hơn để cải biến
- Hợp đồng vượt mức bồi thường phải thanh toán phí trước và ngay khi có hiệu lực, trong khi hợp đồng tỷ lệ có thể chờ hết quý mới chuyển tiền và có thể tạm giầ lại một phần phí nếu hợp đồng quy định
- Hợp đồng vượt mức bồi thường có giới hạn bồi thường nói riêng và giới hạn gộp nói chung thường thấp hơn rất nhiều so với hợp đồng tỷ lệ, nhiều khi hợp đồng tỷ lệ không áp dụng giới hạn gộp đối với tổn thất
- Trong trường hợp có tổn thất thu đòi từ hợp đồng vượt mức bồi thường, giới hạn của hợp đồng bị giảm đi, nếu muốn được bảo vệ như mong đợi, nhà nhượng tái bảo hiểm phải trả phí tái lập giới hạn hợp đồng cho nhà nhận tái bảo hiểm
- Hợp đồng vượt mức bồi thường sử dụng mức phí thuần do nhà nhận tái quy định nên sẽ không có hoa hồng lãi như hợp đồng tỷ lệ ngay cả khi nhà nhận tái không phải trả bất kỳ tổn thất nào
> Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường thảm hoa (Catastrophe Excess of Loss) Thảm hoa là một nguyên nhân của sự tích tụ trách nhiệm Thảm hoa có thể được phân loại thành thảm hoa do con người và thảm hoa do thiên tai
Thảm hoa do con người gây nên bao gồm :
- Hoa hoạn lớn
Trang 26- Rối loạn, Đình công, Bạo động dân sự
- Nổ lớn
- Máy bay rơi
Thảm hoa thiên nhiên bao gồm :
- Lốc, Cuồng phong, Bão táp, Vòi rồng, M ư a đá, Lụt, Băng giá, Cháy rừng, Sóng thần
- Động đất, Núi lửa phun
Những thảm hoa này không chỉ gày tổn thất cho một đơn vị rợi ro m à cùng lúc gây tổn thất cho nhiều hoặc rất nhiều đơn vị rợi ro Cho dù đối với từng tổn thất riêng lẻ thì nhà nhượng tái bảo hiểm có thể chi trả được nhưng khi một loạt các tổn thất cùng xảy đến do thảm hoa thì cũng sẽ có thể làm nhà bảo hiểm thiệt hại vô cùng nặng nề thậm chí có thể dẫn đến phá sản
Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường theo thảm hoa có cơ chế, ưu và nhược giống như theo rợi ro nhưng lại có thể bảo vệ cho công ty bảo hiểm đối với những tổn thất lớn, tổn thất tích tụ gộp Cơ chế phân định sự kiện để tính toán tổn thất là thảm hoa xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 72 giờ Nếu quá 72 giờ thì các tổn thất tiếp theo cho dù có cùng một nguyên nhân cũng được tách thành một sự kiện bảo hiểm độc lập khác
Sự khác nhau giữa tái bảo hiểm vượt mức bồi thường theo rợi ro và theo thảm hoa là ở chỗ :
- Theo rợi ro là việc tính toán mức trách nhiệm bồi thường cợa các bên đối với từng rợi ro đơn lẻ
- Theo thảm hoa là việc tính toán mức trách nhiệm bồi thường cợa các bên đối với một hoặc nhiều rợi ro gây nên bởi thảm hoa đã được quy định trước Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường theo thảm hoa là một công cụ rất hữu ích
để bảo vệ công ty bảo hiểm trước sự tàn phá cợa thiên tai hay những thảm hoa lớn, đặc biệt là ở những nước nhạy cảm về mưa bão, động đất
Hình thức tái bảo hiểm này có thể bảo vệ rất toàn diện cho công ty bảo hiểm, tuy thuộc vào nhu cầu cần được bảo vệ đến mức nào, cụ thể như sau :
Trang 27- Kết hợp bảo vệ cho các rủi ro khai thác trực tiếp và bảo vệ cho cả các rủi ro nhận tái, bao gồm cả nhận tái bảo hiểm lựa chọn hay tạm thời (Facultative)
và nhận tái bảo hiểm hợp đồng tỷ lệ (Quota share Treaty / Surplus Treaty) Lúc đó hợp đồng bảo vệ gọi là đảm bảo nghiệp vụ (Common Account X O L Trety)
- Kết hợp bảo vệ theo cả rủi ro lẫn theo thảm hoa (Risk & Cát X O L Treaty)
- Kết hợp bảo vệ nhiều nghiệp vụ bảo hiểm cùng một lúc nhu bảo hiểm cháy, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm xe cơ giấi, khi đó hợp đổng bảo vệ gọi là đảm bảo toàn bộ nghiệp vụ (Whole account X O L Treaty)
> Tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường (Stop Loss / Excess of loss ratio cover) Tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường là dạng tái bảo hiểm phi tỷ lệ m à nhà tái bảo hiểm chỉ có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp khi kết quả toàn bộ nghiệp
vụ của công ty nhượng có tỷ lệ bồi thường vượt quá một tỷ lệ ấn định trưấc Điểm vượt mức m à trên mức đó nhà tái bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường phải được quy định sao cho để công ty nhượng không thể kiếm lời đối vấi phần họ chịu trách nhiệm Tái bảo hiểm theo dạng này nhằm mục đích bảo vệ cho công ty nhượng chống lại một sự gia tăng đột biến của tỷ lệ bồi thường trong một loại hình bảo hiểm nhất định nào đó và trong một khoảng thời gian quy định (thường là Ì năm) bất luận tình trạng đó do nguyên nhân nào gây ra
Trong thực tiễn, dạng tái bảo hiểm này ít thông dụng vì việc tính toán phí tái bảo hiểm rất phức tạp và thiếu chính xác Dạng này chủ yếu được thu xếp để bảo vệ cho những loại nghiệp vụ bảo hiểm có tính chất tổn thất bất thường do thiên tai gây
ra như bảo hiểm nông nghiệp, hoặc đối vấi một số loại hình bảo hiểm mấi m à mức phí thu được ban đầu thường nhỏ khi đó một vài tổn thất nhỏ cũng làm mất cân đối kết quả nghiệp vụ do không có số đông Dạng tái bảo hiểm này giúp ổn định kết quả kinh doanh như mong đợi
Nếu như chi phí để khai thác bảo hiểm gốc là 3 0 % thì phần tỷ lệ tổn thất công ty bảo hiểm gốc phải chịu sẽ lấn hơn 7 0 % vì nếu không sẽ có lợi nhuận từ hợp đồng tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường (Stop Loss) Trong trường hợp công ty bảo hiểm gốc muốn tỷ lệ tổn thất tự chịu là 6 5 % thì người nhận tái bảo hiểm sẽ chỉ chịu
Trang 28trách nhiệm 9 0 % của phần vượt quá vì nhà nhận tái luôn phải tính toán sao để công
ty bảo hiểm gốc không thể kiếm lời
Ví dụ : Đ ố i với một nghiệp vụ nhất định, tổng phí thực giừ lại trong năm nghiệp vụ
là 38 triệu đô, tổng bồi thường trong năm (sau khi trừ đi các khoản thu đòi được từ các nguồn tái bảo hiểm) là 47,5 triệu đô Như vậy tỷ lệ bồi thường là 1 2 5 % (tương đương 47,5 / 38 = 125%) Nếu ta có một hợp đồng tái bảo hiểm vượt mức bồi thường có mức được bảo vệ tối đa 5 0 % vượt quá 1 0 0 % bồi thường tổn thất của công
ty nhượng Trong trường hợp này nhà nhận tái sẽ bồi thường 2 5 % hay 9,5 triệu đô
(tương đương 38 triệu X 2 5 % ) Còn trong trường hợp tỷ lệ tổn thất là 1 7 5 % thì trách
nhiệm bồi thường tối đa của nhà nhận tái cũng chỉ là 5 0 % của tổng phí giừ lại trong năm nghiệp vụ, tương đương 19 triệu đô
1.3 Nhận dạng r ủ i r o và nguy cơ tiềm ẩn
1.3.1 Khái niệm về r ủ i ro và tổn thất
1.3.1.1 R ủ i r o
Rủi ro được hiểu là thuật ngừ dùng để chỉ khả năng xảy ra biến cố bất thường với hậu quả thiệt hại hoặc mang lại kết quả không như dự tính
Sự nguy hại của rủi ro đòi hỏi một quy trình xử lý đồng bộ, từ việc xây dựng
hệ thống tín hiệu khuyến cáo rủi ro; phát hiện rủi ro; nhận diện rủi ro, đến việc đánh giá rủi ro, lựa chọn nhừng giải pháp thích hợp
• Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, rủi vo được xếp vào 2 nhóm :
Rủi ro có nguyên nhân khách quan :
- Nhừng rủi ro có nguồn gốc tự nhiên : Bão, Lụt, động đất, núi lửa phun, sóng thần, mưa đá, Nhừng rủi ro này phần lớn vẫn bị coi là bất khả kháng
- Nhừng rủi ro gắn với cuộc sống xã hội loài người, có hậu quả lan rộng : Chiến tranh, khủng hoảng
Rủi ro có nguyên nhân chủ quan : Bao gồm nhừng trường hợp rủi ro xảy ra bởi
hoạt động của con người có thể do:
- Hành động của con người, có thể là cố ý hoặc không cố ý
- Hành động của người khác gây nên, cố ý hoặc không cố ý
Trang 29Như vậy, khác với rủi ro có nguyên nhân khách quan, trách nhiệm về rủi ro có nguyên nhân chủ quan được xác định cụ thể cho một cá nhân hoặc một nhóm người nào đó
• Căn cứ vào sự ánh hưởng đến tình trạng tài chính của một tổ chức hay cá nhân, người ta phán loại thành rủi ro suy đoán và rủi ro thuần tuy
- Một rủi ro được coi là rủi ro suy đoán khi tồn tại song song nguy cơ tổn thất
cũng như cơ hội kiếm lời Trong kinh doanh các nhà quản trị đều phải chấp nhận một mỉc độ rủi ro suy đoán nhất định (Ví dụ như khi đầu tu vào một sản phẩm mới nào đó)
- Một rủi ro được coi là rủi ro thuần tuy khi chỉ có sự may rủi là thiệt hại có
xảy ra hay không m à thôi (Ví dụ như khi đẩu tư một dây chuyền máy móc, người chủ có thể phải đối diện với một rủi ro là máy móc có thể bị hỏng Lúc
đó, anh ta sẽ phải chịu những chi phí sửa chữa hoặc thậm chí thay mới)
• Căn cứ vào thời gian, quy mô, cách thức ảnh hưởng của rủi ro tới cộng đồng, người ta phân loại thành rủi ro có thể phân tán và rủi ro không thể phân tán Rủi ro có thể phân tán : Tác động đến từng cá nhân, tổ chỉc trong cộng đồng
theo từng thời gian, cách thỉc khác nhau Những rủi ro này có thể được giảm bớt thông qua những thoa thuận đóng góp tiền bạc và chia sẻ rủi ro (Ví dụ như rủi
ro mất trộm tài sản)
Rủi ro không thể phân tán : Là những rủi ro có ảnh hưởng tới cả cộng đồng
trong cùng một thời điểm, theo cùng một cách thỉc (Ví dụ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007-2008 đã khiến cho nền kinh tế hầu hết các nước phát triển trên thế giới bị lao đao)
Liên hệ với hoạt động tái bảo hiểm, do tái bảo hiểm không thể tách dời bảo hiểm gốc nên hoạt động báo hiểm gốc có rủi ro nào thì hoạt động tái bảo hiểm có rủi ro đó, từ rủi ro khách quan đến rủi ro chủ quan, cả rủi ro bên ngoài lẫn rủi ro bên trong, cả rủi ro suy đoán lẫn rủi ro thuần túy, ngay cả rủi ro phân tán được cũng như rủi ro không phân tán được
Trang 301.3.1.2 Tổn thất
Tổn thất là thuật n g ữ chỉ trạng thái đã bị thiệt hại, ảnh hưởng t ớ i đối tượng cụ thể sau tác động c ự a r ự i ro
Tuy thuộc vào loại đối tượng và r ự i ro, tổn thất có nhiều dạng:
- Đ ố i tượng là tài sản : T h i ệ t hại về vật chất, về phát sinh chi phí; giá trị, giá trị
sử dụng bị mất, g i ả m sút
- Đ ố i tượng là c o n người: T h i ệ t hại về chi phí phát sinh; sự mất thu nhập; chết hoặc bị thương tật g i ả m sút, m ấ t k h ả năng lao động,
Nhìn t ừ phương d i ệ n tài chính, nhất thiết cần phải lượng hoa tổn thất thành
t i ề n Trên thực tế có những tổn thất có thể tính toán được thành tiền như là thiệt hại
về tài sản, song có những dạng tổn thất việc lượng hoa thành tiền p h ụ thuộc vào mức
độ thị trường hoa, mức độ phát triển cựa đời sống k i n h t ế - xã h ộ i thông q u a n h ữ n g quy định c h ự quan cựa c o n người (Ví d ụ thiệt hại về tính mạng cựa c o n người, việc lượng hoa thành tiền hay q u y định b ồ i thường ở các nước có thể rất khác nhau)
V ề mức độ tổn thất, có những r ự i r o có thể xác định được giá trị thiệt hại t ố i
đa có thể, song cũng không ít trường hợp không thể đo lường được giá trị đó
T r o n g hoạt động bảo h i ể m và tái bảo hiểm, tổn thất n h ỏ hay t ổ n thất l ớ n là điều không thể tránh k h ỏ i , nhưng cần thiết phải g i ả m thiểu t ớ i mức thấp nhất đối v ớ i thiệt hại k i ể m soát được, g i ớ i hạn các thiệt hại không k i ể m soát được
1.3.2 Nhận dạng rủi ro
N h ậ n dạng r ự i ro là quá trình xác định m ộ t cách có hệ t h ố n g các r ự i ro c ự a tổ chức, nhằm phát h i ệ n thông t i n về n g u ồ n r ự i ro, các h i ể m h ọ a và nguy cơ r ự i ro
T r o n g n g h i ệ p hoạt động bảo h i ể m , nhận dạng r ự i ro là quá trình xác định m ộ t cách có hệ thống các r ự i r o cựa đối tượng bảo h i ể m , thu thập thông t i n về n g u ồ n r ự i
ro và t ổ n thất để từ đó đưa ra các q u y ế t định hợp lý Đ ố i v ớ i tái bảo h i ể m thì nhận dạng r ự i r o là quá trình xác định các r ự i r o x ả y đến hệ thống và quá trình thực h i ệ n các hoạt động tái bảo hiểm
N h ư vậy, quá trình nhận dạng r ự i ro bao g ồ m các bước sau :
- X á c định các n g u ồ n r ự i ro
- Phát h i ệ n các n g u y cơ r ự i ro
Trang 312) Môi trường xã hội
Sự thay đổi các chuẳn mực giá trị, đạo đức, hành vi của con con người, cấu trúc xã hội, là nguồn rủi ro thứ hai Chẳng hạn, sự khác biệt về các chuẳn mực xã hội ở Nhật Bản đã khiến cho nhiều nhà kinh doanh M ỹ và Tày  u phải thất bại khi nhảy vào môi trường nước này
3) Môi trường chính trị
Trong một đất nước, môi trường chính trị là một nguồn rủi ro rất quan trọng Một chính sách mới được ban hành có thể có ảnh hưởng nghiêm trọng tới các tổ chức Chẳng hạn như việc ban hành các quy định mới về xử lý chất thải độc hại,
4) Môi trưởng pháp ỉ nạt:
Bên cạnh việc tạo ra các kết quả tích cực như cung cấp môi trường xã hội ổn định, bảo vệ các quyền công dân môi trường pháp luật cũng là một nguồn rủi ro cơ bản có rất nhiều rủi ro phát sinh, nhất là trong phạm vi quốc tế, bởi vì các chuẳn mực pháp luật có thể thay đổi rất nhiều từ nơi này sang nơi khác
5) Môi trưởng hoạt động :
Quá trình hoạt động của một tổ chức có thể làm phát sinh nhiều rủi ro và bất định Các tiến trình khuyên mãi, tuyển dụng, sa thải nhân viên có thể gây ra những rủi ro về pháp lý Quá trình sản xuất có thể gây ra các tổn thất vật chất Các hoạt động của tổ chức có thể gây tổn hại cho môi trường Kinh doanh quốc tế có thể gặp các rủi ro do hệ thống giao thông vận chuyển không tin cậy về khía cạnh rủi ro suy đoán, khi tổ chức đưa ra một sản phẳm hay dịch vụ mới thì môi trường hoạt động cuối cùng sẽ quyết định tới sự thành công hay thất bại của tổ chức
6) Môi trường kinh tế
Mặc dù môi trường kinh tế thường vận động theo môi trường chính trị, nhưng
sự phát triển rộng lớn của thị trường toàn cẳu đã tạo ra một môi trường kinh tế
Trang 32chung cho tất cả các nước Mặc dù các hoạt động của một chính phủ có thể có những ảnh hưởng nhất định tới thị trường vốn thế giới, song hầu như một quốc gia không thể kiểm soát nổi thị trường này Tinh trạng lạm phát, suy thoái, đình đốn là các yếu tố của các hệ thống kinh tế m à không một quốc gia nào có thể kiểm soát đưức.Trong một phạm vi hẹp, lãi suất và hoạt động tín dụng có thể áp đặt các rủi ro thuần tuy và suy đoán đáng kể lên các tổ chức
7) Vấn đề nhận thức :
Môi trường nhận thức là nguồn rủi ro đầy thách thức trong việc nhận diện và phàn tích rủi ro, bởi vì khả năng của con người trong việc tìm hiểu, xem xét, đo lường, đánh giá rủi ro chưa phải là hoàn hảo Luôn luôn có những vấn đề mới, không lường trước nảy sinh trong quá trình hoạt động của tổ chức, do vậy đòi hỏi phải có khả năng quan sát tinh tế, nhạy bén kết hứp với những kinh nghiệm đã đưức rút ra từ thực tiễn trong việc nhận dạng và đánh giá rủi ro
Các yếu tố mạo hiểm và các mối nguy hiểm phát sinh từ các nguồn rủi ro trên nhiều vô kể Chúng có thể phát sinh từ một nguồn rủi ro, cũng có thể phát sinh từ các nguồn rủi ro khác nhau, ví dụ như lửa có thể phát sinh từ môi trường vật chất (sét đánh) hay môi trường xã hội (bạo động, đốt phá)
Các nguồn rủi ro sẽ không có ý nghĩa đối với một tổ chức, trừ trường hứp tổ chức đó có thể gặp các nguy hiểm nảy sinh từ các mối hiểm hoa có trong các nguồn này
Trong hoạt động tái bảo hiểm, khi đánh giá rủi ro cần chú trọng nhiều tới các nguồn sau : môi trường vật chất, môi trường hoạt động và vấn đề nhận thức; trong
đó môi trường vật chất là quan trọng nhất, bởi vì đối tưứng bảo hiểm chịu tác động rất lớn của điều kiện tự nhiên trong môi trường vật chất Môi trường hoạt động cũng rất quan trọng, bởi vì những đối tưứng có giá trị rất lớn đòi hỏi phải đưức vận hành
an toàn theo đúng quy trình kỹ thuật
Từ việc nghiên cứu các nguồn rủi ro, những người đánh giá và quản lý rủi ro phải phát hiện đưức các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn
Trang 33ở xa đường đi lại Hay rủi ro động đất ở Indonesia cao hơn so với ở Viởt Nam, rủi ro mưa bão ở Philippin cao hơn nhiều so với ở Lào
Trong hoạt động tái bảo hiểm, đối với tùy từng phương thức tái bảo hiểm cụ thể m à khai thác viên phải có nhiởm vụ đánh giá thật chính xác nguy cơ vật chất từ tất cả các môi trường trên đối với đối tượng được bảo hiểm, để từ đó nhà bảo hiểm đưa ra được quyết định hợp lý
• Nguy cơ tinh thẩn :
Nguy cơ này có liên quan tới thái độ của người tham gia bảo hiểm chứ không phải đối tượng bảo hiểm Khai thác viên cần chú ý xem xét khía cạnh này khi đánh giá rủi ro
Một trong những ví dụ phổ biến nhất về nguy cơ tinh thần là sự thiếu cẩn trọng của người tham gia bảo hiểm Có những người vì cho rằng rủi ro đã được bảo hiểm nén không cần thiết phải cẩn trọng đối với những hiểm hoa được bảo hiểm nữa Do vậy, họ không có những biởn pháp cần thiết để đề phòng tổn thất xảy ra Thông thường trong các đơn bảo hiểm đều có một điều kiởn quy định rằng người tham gia bảo hiểm phải tiếp tục chú ý ngăn ngừa tổn thất và hạn chế đến mức tối thiểu tác động của tổn thất Nói cách khác là người tham gia bảo hiểm phải hành động như khi chưa tham gia bảo hiểm Cho dù vậy, ta vẫn có vô số những bằng chứng về những nơi làm viởc không được an toàn Một loại nguy cơ tinh thần nữa
là trường hợp những người tham gia bảo hiểm khai báo không trung thực về đối
Trang 34tượng mình tham gia bảo hiểm trong giấy yêu cầu bảo hiểm Điều này làm việc tính phí bảo hiểm sẽ gặp nhiều khó khăn hơn
Đ ố i với tái bảo hiểm là hoạt động gián tiếp, trong một số trường hợp cũng có thể đánh giá được đối tượng được bảo hiểm dựa trên thông tin của bảo hiểm gốc cung cấp, tuy nhiên trong nhiều trường hợp uy tín, trình độ khai thác, năng lực đánh giá rủi ro của công ty bảo hiểm gốc sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc đánh giá rủi ro của hoạt động tái bảo hiểm
1.3.3 Phương pháp nhận dạng r ủ i r o
Việc xác đỗnh được hết tất cả các rủi ro m à đối tượng bảo hiểm có thể gặp phải là một công việc rất khó khăn Đôi khi công ty bảo hiểm không đánh giá rủi ro chính xác, phí bảo hiểm thu được không đủ chi bồi thường dẫn tới thua lỗ Trong tái bảo hiểm cũng vậy, việc đánh giá các nguồn rủi ro không đẩy đủ, sử dụng không linh hoạt các phương pháp tái bảo hiểm hay chưa phù hợp cũng dẫn đến rủi ro hoặc chí ít là gây mất hiệu quả cho hoạt động tái bảo hiểm Do vậy, để đánh giá được chính xác rủi ro thì một phương pháp nhận dạng rủi ro có hệ thống là rất cần thiết
Đ ố i với tái bảo hiểm thì việc nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc sau :
- Xem xét phạm vi bảo hiểm và rủi ro tiềm ẩn
- Kiểm tra hiện trường rủi ro
- Đánh giá chủ thể tác động đến rủi ro
- Nghiên cứu số liệu tổn thất trong quá khứ
- Xác đỗnh mức giữ lại và tái bảo hiểm
- Tích tụ rủi ro và phương thức bảo vệ
1.3.3.1 Xem xét phạm vi bảo hiểm và r ủ i ro tiềm ẩn
Đ ố i với bảo hiểm gốc, việc xây dựng hợp đồng bảo hiểm phải đáp ứng được các yêu cầu về phạm vi bảo hiểm cho khách hàng, tuy nhiên cũng cần tính đến tiêu chuẩn bảo hiểm tối thiểu của các nhà nhận tái bảo hiểm yêu cầu trong việc hợp tác tái bảo hiểm Việc xem xét phạm vi bảo hiểm và xác đỗnh các rủi ro tiềm ẩn còn để đưa ra một mức phí phù hợp với mức độ rủi ro, xác đỗnh mức giữ lại vừa đủ so với năng lực tài chính hiện có của mình
Trang 351.3.3.2 K i ể m tra hiện trường r ủ i ro
Đây là một công việc không thể thiếu của những người bảo hiểm, bởi vì các chi tiết về rủi ro không chỉ giới hạn trong một giấy yêu cầu bảo hiểm Giấy yêu cầu bảo hiểm dù lớn đến đâu cũng không thể chứa đựng hết các thông tin cần thiết Bằng cách quan sát môi trường nơi có đồi tượng bảo hiểm và các hoạt động của nó, những người đánh giá rủi ro có thể kiểm định các thông tin trong giấy yêu cầu bảo hiểm, đồng thời có thể phát hiện thêm các thông tin mới về các nguy cơ rủi ro
Đ ồ i với tái bảo hiểm, việc kiểm tra hiện trường rủi ro hầu như không thể thực hiện được Tuy vậy ta vẫn có thể thẩm định hiện trường thông qua báo cáo giám định do các chuyên gia (giám định viên) thực hiện khi thị sát hiện trường
Đây cũng chính là bước xác định nguồn rủi ro từ môi trường hoạt động và vấn đề nhận thức của con người
1.3.3.4 Nghiên c ứ u số liệu tổn thất trong q u á k h ứ
Bước này có thể phát hiện được ít nguy cơ rủi ro hơn cấc bước trên, nhưng nó
có thể phát hiện những nguy cơ rủi ro m à các bước trên không thể phát hiện Bằng cách tham khảo các hồ sơ được lưu trữ về tổn thất, các sồ liệu thồng kê cho phép người đánh giá rủi ro đánh giá được xu hướng của các tổn thất m à đồi tượng bảo hiểm có thể sẽ gặp phải Khi có một sồ đủ lớn các dữ kiện về tổn thất trong quá khứ,
ta có thể dùng thông tin này dự báo các chi phí của tổn thất bằng các hàm xu thế hay phương pháp khai triển tổn thất
Nhận dạng rủi ro là bước khởi đầu trong quá trình đánh giá rủi ro.Tuy nhiên, nhận dạng rủi ro chưa cung cấp hết thông tin để đo lường mức độ nghiêm trọng của rủi ro và tổn thất Đ ể đánh giá được chính xác rủi ro cần phải tìm kiếm thêm các thông tin khác, trong đó quan trọng nhất là tần sồ của tổn thất và mức độ nghiêm
Trang 36trọng của tổn thất Như vậy, sau khi nhận dạng rủi ro, phải tiến hành đo lường rủi ro,
để từ đó có thể chọn lựa những công cụ quản lý thích hợp
Đối với tái bảo hiểm, công viịc nghiên cứu số liịu tổn thất trong quá khứ là
vô cùng quan trọng, cho dù là nhận hay nhượng thì các nhà tái luôn yêu cầu cung cấp thông tin này Đây là thông tin cơ bản, trọng yếu để đưa ra các quyết định trong viịc hợp tác tái bảo hiểm
1.3.3.5 Xác định mức giữ lại và tái bảo hiểm
Do bảo hiểm là ngành kinh doanh rủi ro trong khi khả năng tài chính là hữu hạn, để giảm thiểu rủi ro thì cần thiết phải xác định mức giữ lại phù hợp với khả năng tài chính hiịn có, phù hợp với đặc thù của từng loại hình bảo hiểm và chiến lược trong từng thời kỳ
Ngoài ra như đã đề cập đến vai trò của tái bảo hiểm ở phần trên thì tái bảo hiểm không chỉ là công cụ để san xẻ rủi ro m à còn là công cụ để mở rộng năng lực khai thác cho cóng ty bảo hiểm, tái bảo hiểm
tụ rủi ro như vấn đề sống còn của mình do tái bảo hiểm thường thực hiịn trên một danh mục rất nhiều rủi ro, khi đấy quy luật số lớn vừa phát huy tính tích cực nhưng cũng thể hiịn mặt tiêu cực thông qua tích tụ tổn thất khi có rủi ro thảm họa
Tích tụ rủi ro thường khó định lượng một cách chính xác nên cần phải có phương thức bảo vị, đặc biịt đối với tái bảo hiểm
1.3.4 Đ o lường r ủ i r o và lựa chọn công cụ quản lý
Trong viịc đo lường rủi ro, cả hai số liịu: tần số và mức độ nghiêm trọng của tổn thất đều rất cần thiết Chúng được chỉ ra trong hình dưới đây:
Trang 37Mức độ nghiêm trọng
ổ *" Tần số Hình 1.1 : M a t r ậ n biểu diễn mức độ r ủ i ro Trong hình 1.1, các vị trí ì, li, IU, I V biểu thị mức độ rủi ro theo 2 nhân tố là Tần số xảy ra tổn thất và Mức độ nghiêm trọng của tổn thất Cụ thể :
- Ô số ì diễn tả các rủi ro có tần số và mức độ nghiêm trọng thấp, những rủi ro này ít khi gây ra tổn thất và nếu tổn thất có xảy ra thì cũng tương đối thấp
- Ó số l i diễn tả các rủi ro có tần số thấp và độ nghiêm trọng cao, tổn thất ít khi xảy ra nhưng nếu xảy ra thì nghiêm trọng
- 0 số IU diễn tả các rủi ro có tần số và độ nghiêm trọng cao, tổn thất xảy ra thường xuyên và lần nào cũng nghiêm trọng
- Ó số IV diễn tả các rủi ro có tần số cao và mức độ nghiêm trọng thấp, tổn thất thường xuyên xảy ra nhưng mức độ nghiêm trọng thấp
1.3.4.1 Đ o lường tần xuất
Mót phương pháp để ưệc lượng tần số tổn thất là quan sát xác suất một nguy hiểm gây ra tổn thất trong một năm Dựa trên các số liệu tổn thất thống kê được, các nhà đánh giá và quản lý rủi ro có thể tính toán xác suất xảy ra tổn thất của một rủi ro
và ưệc lượng được giá trị trung bình của tổn thất Thông thường các rủi ro có tần số
và mức độ nghiêm trọng thấp, hoặc tần số tổn thất cao nhưng mức độ nghiêm trọng thấp sẽ được ưa thích hơn là những rủi ro có tần số tổn thất thấp m à mức độ nghiêm trọng cao và những rủi ro có tần số và mức độ nghiêm trọng cao Căn cứ vào xác suất tổn thất, các rủi ro sẽ được xếp vào các dạng sau:
- Hầu như không xảy ra
- Hiếm khi xảy ra
- Thỉnh thoảng có xảy ra
Trang 38- Thường xuyên xảy ra
Tần xuất tổn thất cũng chính là một căn cứ để xác định phí bảo hiểm Thông thường các rủi ro "hầu như không xảy ra" có mức phí thấp nhất còn những rủi ro
"thường xảy ra" sẽ có mức phí cao nhất
Bên cạnh đó, hầu hết các rủi ro đều rất phức tạp và một đối tượng có thể chịu ảnh hưởng của rất nhiều rủi ro khác nhau Chẳng hạn như một phòng máy tính có thể bị tàn phá bởi động đất, bão, lật lội, hoa hoạn hoặc trộm cắp, Do vậy việc đo lường tần số tổn thất của các rủi ro là rất quan trọng bởi vì rủi ro xảy ra có thể vượt quá tổn thất ta dự kiến
1.3.4.2 Đo lường mức độ nghiêm trọng
Mặc dù cả hai số liệu về tần số và mức độ nghiêm trọng của tổn thất đều cần thiết trong việc đo lường rủi ro, song sự quan trọng của một nguy cơ rủi ro thường phậ thuộc nhiều vào mức độ nghiêm trọng của tổn thất chứ không phải là tần số Một rủi ro có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng dù ít khi xảy ra đáng quan tâm hơn nhiều so với một rủi ro thường xuyên xảy ra nhưng gây tổn thất không đáng kể
Để xác định mức độ nghiêm trọng của tổn thất, những người đánh giá và quản lý rủi ro phải đánh giá được tất cả các tổn thất là hậu quả trực tiếp của một sự
cố cũng như toàn bộ hậu quả về tài chính m à công ty bảo hiểm có thể phải gánh chịu nếu chấp nhận bảo hiểm Nếu tập trung quá nhiều tổn thất lớn, phá sản là điều không thể tránh khỏi
Một đại lượng phổ biến để đo lường mức độ nghiêm trọng của tổn thất là tổn
thất lớn nhất có thể xảy ra( PML - Probabìe Maximum Loss) Đ ó là giá trị thiệt hại
lớn nhất có thể xảy ra m à những người đánh giá và quản lý rủi ro có thể nhận thức được Thiệt hại thực tế sẽ không thể vượt quá giá trị này Đây chính là căn cứ để tính toán số tiền phải bồi thường lớn nhất trong trường hợp có tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm xảy ra Thông thường, giá trị tổn thất lớn nhất có thể xảy ra chính bằng số tiền bảo hiểm, bởi vì nguyên tắc của bảo hiểm là "trong mọi trường hợp số tiền bảo hiểm là giới hạn trách nhiệm tối đa của công ty bảo hiểm" Việc tính toán số tiền bảo hiểm phải rất kỹ lưỡng, cần phải không được thấp hơn giá trị thay thế mới (hoặc giá khôi phậc hay giá thị trường tùy thuộc vào đối tượng bị tổn thất) bao gồm cả
Trang 39thuế, cước phí, các chi phí về hải quan và lắp đặt, chi phí phục hổi lại thông tin lưu trữ trên các phương tiện lưu trữ dữ liệu và các chi phí gia tăng Tất cả các chi phí
trên đều được xác định dựa trên cơ sở tổn thất đầu tiên (First loss)
Như vậy, có thứ khẳng định rằng việc xác định mức độ nghiêm trọng của tổn thất là một công việc rất quan trọng, nó hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro, từ đó đưa ra quyết định có chấp nhận bảo hiứm không, nếu có thì nó cũng là căn cứ đứ xác định phí bảo hiứm và lựa chọn công cụ quản lý rủi ro
1.3.4.3 Lựa chọn công cụ quản lý r ủ i ro
Lựa chọn công cụ quản lý rủi ro là việc hết sức quan trọng, ảnh hưởng rất nhiều tới kết quả của toàn bộ quá trình quản lý rủi ro
• Mối quan hệ giữa đánh giá rủi ro và quản lý rủi ro
Quản lý rủi ro là việc giải quyết các vấn đề rủi ro m à công ty bảo hiứm phải đương đầu khi triứn khai một nghiệp vụ bảo hiứm Quá trình quản lý rủi ro bắt đầu khi câu hỏi "các sự kiện nào có thứ gây thiệt hại về tài chính cho công ty, và có thứ thiệt hại là bao nhiêu?" được đặt ra cho các nhà đánh giá và quản lý rủi ro Sau khi xác định và định lượng các tình huống dẫn đến tổn thất, cáu hỏi tiếp theo sẽ là
"Hành động gì nên tiến hành dứ giải quyết các vấn đề này?" Các bước quản lý rủi ro trong hoạt động bảo hiứm nói chung thường bao gồm 3 bước:
- Nhận dạng rủi ro và tổn thất tiềm ẩn, đo lường mức độ nghiêm trọng của tổn thất
- Lựa chọn các công cụ đứ đối phó với các rủi ro
- Giám sát hoạt động quản lý rủi ro
Như vậy, đánh giá rủi ro là bước đầu tiên và cũng là quan trọng nhất trong quá trình quản lý rủi ro Có làm tốt việc đánh giá rủi ro thì mới có thứ thực hiện được công tác quản lý rủi ro
• Lựa chọn công cụ quản lý rủi ro
Sau khi đã nghiên cứu tất cả các nguồn rủi ro có thứ dẫn đến tổn thất và đo lường thì công việc của những người đánh giá và quản lý rủi ro là phát triứn và thực hiện các kế hoạch đứ đối phó với các tổn thất tiềm ẩn trước khi chúng xảy ra Việc thực hiện công việc này đòi hỏi phải có kiến thức trong việc lựa chọn các phương pháp đứ đối phó với rủi ro Một chương trình quản lý rủi ro hoàn hảo là kết quả của
Trang 40sự xem xét toàn bộ tất cả các công cụ có thể lựa chọn chứ không chỉ tin cậy vào một phương pháp đối phó với tổn thất Dựa trên mối quan hệ giữa tần xuất và mức độ nghiêm trọng cạa tổn thất, ta có thể lựa chọn một số giải pháp xử lý như sau:
-Ngân ngừa -Tự gánh chịu
Thấp
-Ngăn ngừa -Tự gánh chịu -Chuyển nhượng
-Ngăn ngừa -Tự gánh chịu
Trong nghiệp vụ bảo hiểm và tái bảo hiểm, có hai phương pháp đối phó với các tổn thất tiềm ẩn là: Phân tán rại ro, ngân chặn tổn thất
- Phân tán rủi ro
Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ phục vụ cho tất cả các tổ chức và cá nhân
có nhu cầu Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp người bảo hiểm đều chấp nhận các yêu cầu Các rại ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gần như chắc chắn sẽ xảy ra thì bị từ chối bảo hiểm Nhưng còn trong các trường hợp rại ro thuộc phạm vi bảo hiểm nhưng giá trị bảo hiểm lại quá lớn, vượt quá khả năng tài chính cạa công ty thì giải quyết bằng cách nào? Từ chối bảo hiểm thì sẽ bị mất khách hàng và làm giảm
uy tín cạa công ty Còn nếu chấp nhận bảo hiểm thì điều gì sẽ xảy ra?
Là người nhận các rại ro được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm, công
ty bảo hiểm lúc này sẽ phải đối mặt với những tổn thất có thể rất lớn nếu tổn thất xảy ra Mặc dù quỹ bảo hiểm là một quỹ tài chính lớn, được lập ra bởi sự đóng góp cạa nhiều người theo nguyên tắc "số đông bù số ít", song nếu tổn thất xảy ra liên tục
m à giá trị bảo hiểm lại rất lớn thì nguy cơ phá sản là điều không thể tránh khỏi Một kinh nghiệm trong hoạt động cạa các nhà bảo hiểm thương mại là tránh nhận những rại ro quá lớn, vượt quá khả năng tài chính cạa công ty Chính vì vậy phải phân tán