1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản theo quy định của bộ luật hình sự việt nam năm 1999 một số vấn đề lý luận v

78 562 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 589,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng,BLHS 1999 đã có những thay đổi đáng kể so với BLHS 1985 khi chỉ xây dựngmột chương: Các tội xâm phạm sở hữu,

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Tình thế cấp thiết của đề tài: 1

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài: 2

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài: 2

4 Phương pháp nghiên cứu: 3

5 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài: 3

6 Bố cục của đề tài: 3

B NỘI DUNG

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 4

1.2.1 Khách thể của tội trộm cắp tài sản 7

1.2.2 Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản 11

1.2.3 Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản 15

1.2.4 Chủ thể của tội trộm cắp tài sản 18

1.3 Đồng phạm và các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản 19

1.3.1 Đồng phạm trộm cắp tài sản 19

1.3.2 Các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản 22

1.4 Phân biệt dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản với một số tội xâm phạm

Trang 2

1.5 Trỏch nhiệm hỡnh sự của người phạm tội trộm cắp tài sản 33

1.5.1 Trỏch nhiệm hỡnh sự của người phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS 34

1.5.2 Trỏch nhiệm hỡnh sự của người phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS 44

1.5.3 Trỏch nhiệm hỡnh sự của người phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 3, 4 Điều 138 BLHS 48

2.2.2 Nguyên nhân về công tác giáo dục 60

2.2.3 Nguyên nhân về quản lý xã hội 61

2.2.4 Nguyên nhân về quản lý tài sản của chủ sở hữu, ngời có trách nhiệm quản

lý tài sản 61

2.3 Điều kiện phạm tội trộm cắp tài sản 62

2.4 Một số kiến nghị và giải phỏp nhằm hạn chế tội trộm cắp tài sản trờn địa bànhuyện Quỳ Hợp 62

2.4.1 Một số biện pháp phòng ngừa tội phạm trộm cắp trên địa bàn huyện Quỳ Hợp 62

2.4.2 Một số kiến nghị về nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác phòng ngừatội trộm cắp trên địa bàn huyện Qựy Hợp – Tỉnh Nghệ An 65

C KẾT LUẬN 68

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 3

A MỞ ĐẦU 1.Tình thế cấp thiết của đề tài:

Trong những năm qua tình hình tội phạm ở Việt Nam diễn biến ngày càng phứctạp, nhiều vụ án xảy ra với tính chất, hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêmtrọng không ngừng gia tăng Tình hình an ninh quốc gia trở nên bức thiết, việcphòng và chống tội phạm được đẩy mạnh cũng như được sự quan tâm chỉ đạosát sao của Đảng và nhà nước, được sự quan tâm ủng hộ của nhân dân

Mặt khác trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nước ta có nhiệm vụbảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước cũng như của nhân dân Với vai trò

là nền tảng kinh tế xã hội của quốc gia, chế độ sở hữu là một trong những vấn đềtrọng yếu được Nhà nước bảo vệ bằng mọi biện pháp trong đó biện pháp pháp lýhình sự thể hiện kiên quyết nhất ý chí quyền lực Nhà nước trong xử lý các hành

vi xâm phạm tới chế độ sở hữu Trong số các tội xâm phạm sở hữu, tội trộm cắptài sản là tội xâm phạm trực tiếp tới quyền sở hữu tài sản và xảy ra khá phổ biến

Ở mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước đều có những quy định về tội trộm cắp tàisản và biện pháp xử lý nhằm đấu tranh loại bỏ tội phạm khỏi đời sống xã hội.Những năm gần đây tội trộm cắp tài sản diễn biến phức tạp gây hậu quả ngàycàng nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội Đặc biệt là trênđịa bàn huyện Quỳ Hợp vấn đề về tội trộm cắp tài sản diễn ra ngày càng phứctạp mà nguyên nhân chủ yếu vì đây là địa bàn miền núi, với sự đa dạng về thànhphần dân cư, trình độ dân cư còn thấp…

Tuy nhiên trong những năm qua nhờ sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan bảo

vệ pháp luật, hoạt động xét xử của ngành toà án từng bước được nâng cao, sốlượng các bản án bị huỷ đã giảm, song bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế cầnphải khắc phục Có thể nhận định một trong những nguyên nhân chính là do các

cơ quan bảo vệ pháp luật không đánh giá đúng bản chất của hành vi phạm tộidẫn đến xác định sai tội danh, hoặc xử oan hoặc bỏ lọt tội phạm Để khắc phụctình trạng trên thì vấn đề cốt lõi đầu tiên là phải nắm vững các quy định phápluật về tội phạm, nhận thức đúng bản chất của hành vi phạm tội từ đó có đườnglối xử lý đúng đắn đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật

Nhận thức được điều đó, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Dấu hiệu định tội

Trang 4

của tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm

1999 - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn trên địa bàn huyện Quỳ Hợp” làm

khoá luận tốt nghiệp cho mình với hy vọng giúp có được cái nhìn toàn diện,đúng đắn về tội trộm cắp tài sản

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài:

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản, trước hết phải kể đếnGiáo trình Luật hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học QuốcGia Hà Nội, Bình luận khoa học BLHS phần Các tội xâm phạm sở hữu đã phântích các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản, tiếp đó là các công trình

nghiên cứu cá nhân như tác giả Vũ Thiện Kim với “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản của công dân”, tác giả Thân Như Thành với luận văn thạc sĩ luật học “Đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội”, tác giả Nguyễn Ngọc Chí với “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu” cùng nhiều công trình nghiên

cứu khác Song các công trình nghiên cứu đó hoặc là về các tội xâm phạm sởhữu nói chung hoặc là đi sâu nghiên cứu về mặt đấu tranh phòng chống tộiphạm, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tội trộm cắp tài sản.Khoá luận này đi vào nghiên cứu những dấu hiệu đặc trưng pháp lý để định tộitrộm cắp tài sản, đồng thời nghiên cứu về thực trạng và đưa ra một số kiến giảinhằm khắc phục tình trạng tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Quỳ Hợp

3.Mục đích nghiên cứu của đề tài:

Đề tài đi vào nghiên cứu dấu hiệu định trộm cắp tài sản, nhằm làm rõ dấu hiệuđặc trưng pháp lý của tội trộm cắp tài sản với các tội xâm phạm sở hữu khác.Ngoài ra đề tài còn nghiên cứu về thực trạng và đưa ra một số kién giảinhằmkhắc phục tình trạng tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Quỳ Hợp

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để đạt được mục tiêu đề ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụngphương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp sosánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp Nghiên cứu tội trộm cắptài sản trong sự vận động nội tại phát triển của nó, trong mối quan hệ với cácquy định khác của luật hình sự như: chế định đồng phạm, chế định các giai đoạn

Trang 5

thực hiện tội phạm thấy rõ và phân biệt được dấu hiệu định tội của tộ trộm cắptài sản với các tội danh khác được quy định trong bộ luật hình sự.

5.Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài:

Khoá luận có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn, những kết quả nghiêncứu của khoá luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiêncứu khoa học pháp luật hình sự, đồng thời có thể phục vụ thiết thực cho công tácđấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn huyện Quỳ Hợp Đề tài cũng gópphần nâng cao hiểu biết cho mọi người về việc phân định tội trộm cắp tài sảnvới các tội danh khác, và cung cấp một cái nhìn toàn diện về tội trộm cắp tàisản

Trang 6

B.NỘI DUNG

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO QUY

ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999

có hai loại hành vi xâm phạm sở hữu là hành vi xâm phạm sở hữu XHCN vàhành vi xâm phạm sở hữu của công dân quy định ở hai chương: Các tội xâmphạm sở hữu XHCN và Các tội xâm phạm sở hữu của công dân

Điều 132 BLHS 1985 quy định tội trộm cắp tài sản XHCN như sau:

“1 Người nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm 2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a.

Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; c Hành hung để tẩu thoát; d Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; đ Tái phạm nguy hiểm 3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”.

Điều 155 BLHS 1985 quy định tội trộm cắp tài sản của công dân như sau:

“1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm 2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm: a.

Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy

Trang 7

hiểm, hành hung để tẩu thoát; c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; d Tái phạm nguy hiểm 3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm”.

BLHS 1985 đã trở thành một cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xử lý ngườiphạm tội, song vẫn còn sự phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộmcắp tài sản của công dân, theo đó người phạm tội trộm cắp tài sản XHCN bị xử

lý nghiêm khắc hơn người phạm tội trộm cắp tài sản của công dân, điều đó thểhiện đường lối xử lý của Nhà nước ta đối với người phạm tội trộm cắp tài sản.Qua bốn lần sửa đổi bổ sung, BLHS 1985 không còn là một chỉnh thể thốngnhất cần có một BLHS mới thay thế, vì vậy BLHS 1999 đã ra đời thay thếBLHS 1985 trên cơ sở có kế thừa và phát triển cho phù hợp với điều kiện xã hội

1.1.2 Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm

1999

Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo địnhhướng XHCN, các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật đòi hỏi phảixem xét rà soát lại một cách toàn diện các tội phạm về kinh tế, về sở hữu để cónhững sửa đổi bổ sung thích hợp cả về mặt dấu hiệu pháp lý cũng như chínhsách xử lý nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạmtrong giai đoạn mới Ngày 21-12-1999 Quốc hội khoá X đã thông qua BLHScủa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 ( có hiệu lực từ ngày1-7-2000) Bộ luật có quy định rất cụ thể về nhóm tội xâm phạm sở hữu nóichung và tội trộm cắp tài sản nói riêng Điều 138 BLHS 1999 quy định tội trộmcắp tài sản như sau:

“1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm 2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a Có tổ chức; b Có tính chất chuyên nghiệp; c Tái phạm nguy hiểm; d Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ Hành hung để tẩu thoát;

Trang 8

e Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g Gây hậu quả nghiêm trọng 3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a Chiếm đoạt tài sản

có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b Gây hậu quả rất nghiêm trọng 4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng 5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng”.

Đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng,BLHS 1999 đã có những thay đổi đáng kể so với BLHS 1985 khi chỉ xây dựngmột chương: Các tội xâm phạm sở hữu, bao quát tất cả các hình thức sở hữu đãđược BLDS quy định, bảo đảm vị trí bình đẳng của các thành phần kinh tế đồngthời vẫn thể hiện được sự đề cao vai trò của sở hữu Nhà nước khi quy định hành

vi “xâm phạm sở hữu của Nhà nước” là một tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều

48 BLHS Đối với tội trộm cắp tài sản, BLHS 1999 không còn quy định thànhhai tội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản của công dân mà quy địnhthống nhất thành tội trộm cắp tài sản, vấn đề định lượng giá trị tài sản bị chiếmđoạt là tình tiết định tội và định khung hình phạt là những điểm thay đổi cơ bảncủa BLHS 1999 so với BLHS 1985

1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự

Việt Nam năm 1999

Ở mỗi giai đoạn lập pháp hình sự, Nhà nước đều ban hành các quy định về tộitrộm cắp tài sản và đường lối xử lý người phạm tội, song các văn bản pháp luậtđều không đưa ra khái niệm về tội trộm cắp tài sản, như vậy cần tìm hiểu thế nào

là tội trộm cắp tài sản

Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, trộm cắp tài sản được hiểu

là “hành vi lén lút bí mật đối với người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản” Cũng có cách hiểu trộm cắp tài sản là “hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác” Như vậy trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản, tính chất

của hành vi là lén lút bí mật và đối tượng là tài sản đang có người quản lý

Trang 9

Trên cơ sở khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý ”, có thể đưa

ra khái niệm về tội trộm cắp tài sản như sau: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, do người có năng lực trách nhiệm hình

sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ.

Trên đây là khái niệm chung nhất về tội trộm cắp tài sản, để hiểu được tính chấtnguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản cần nghiên cứu về các dấu hiệupháp lý của nó Tội phạm là thể thống nhất của bốn yếu tố: khách thể, mặt kháchquan, mặt chủ quan, chủ thể Tội trộm cắp tài sản cũng bao gồm bốn yếu tố cơbản trên, trước hết cần nghiên cứu về khách thể của tội phạm

1.2.1 Khách thể của tội trộm cắp tài sản

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bịtội phạm xâm hại Bất kì tội phạm nào cũng đều xâm hại đến một hoặc một sốquan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ bằng cách gây thiệt hại hoặc

đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó Những đối tượng được xác

định cần bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật hình sự bao gồm: “Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” (Điều 8 BLHS) Tội trộm cắp tài sản thuộc nhóm

tội xâm phạm sở hữu, khách thể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ sở hữu tài

sản “Sở hữu”, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là tổng thể các quan hệ

xã hội phát sinh trong quá trình sản xuất và phân phối của cải vật chất giữa conngười với nhau trong xã hội Quan hệ sở hữu tài sản là quan hệ xã hội trong đóquyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.Pháp luật dân sự Việt Nam quy định một người được coi là chủ sở hữu tài sảnkhi người đó có đầy đủ ba quyền năng: quyền chiếm hữu là quyền quản lý, chiphối tài sản; quyền sử dụng là quyền khai thác các lợi ích vật chất và tinh thần từ

Trang 10

tài sản; quyền định đoạt là quyền quyết định số phận của tài sản như bán, chothuê Khi có hành vi trộm cắp tài sản (hành vi chiếm đoạt tài sản) làm cho chủ

sở hữu tài sản không có khả năng thực hiện được các quyền năng đó của mìnhtrên thực tế, nghĩa là quyền sở hữu tài sản của họ bị xâm phạm

Đối với hành vi trộm cắp tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sảnthì khách thể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ sở hữu tài sản, vậy đối vớinhững tài sản không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản như: tài sản

do chiếm hữu bất hợp pháp, tài sản do phạm tội mà có thì những tài sản màngười bị chiếm đoạt có được không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Luậthình sự đã khẳng định khách thể của tội phạm phải là quan hệ xã hội được luậthình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại, vì vậy trong trường hợp này khách thểcủa tội trộm cắp tài sản không phải là quan hệ sở hữu tài sản Hành vi phạm tộitrộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, bị xãhội lên án, nó ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội Do đó, trongtrường hợp này khách thể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ xã hội liên quanđến trật tự an toàn xã hội Nếu cho rằng khách thể của tội trộm cắp tài sản chỉ làquan hệ sở hữu tài sản thì trường hợp trên sẽ không cấu thành tội phạm, điều nàybất hợp lý và dẫn đến bỏ lọt tội phạm khi hành vi trộm cắp tài sản hợp pháp thìphạm tội còn hành vi trộm cắp tài sản bất hợp pháp thì không phạm tội Vì vậykhi có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, dù tài sản đó có thuộc quyền

sở hữu hợp pháp của chủ tài sản hay không thì vẫn là trộm cắp tài sản

Khi nghiên cứu khách thể của tội phạm không thể không tìm hiểu đối tượng tácđộng của tội phạm vì mỗi tội phạm đều xâm hại tới khách thể nhất định thôngqua việc tác động đến một đối tượng cụ thể Là quan hệ xã hội nên khách thểcủa tội phạm được cấu thành bởi ba bộ phận là chủ thể của quan hệ xã hội (conngười), đối tượng của quan hệ xã hội (các vật, hiện tượng tồn tại khách quan),nội dung của quan hệ xã hội (sự hoạt động bình thường của các chủ thể) Kháchthể của tội phạm không tách rời các bộ phận cấu thành, vì vậy khi xâm hại tớikhách thể thì hành vi phạm tội phải tác động đến các bộ phận cấu thành nênkhách thể làm biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận đó Các bộ phậncấu thành nên khách thể bị hành vi phạm tội tác động nhằm gây thiệt hại hoặc đe

Trang 11

dọa gây thiệt hại cho khách thể bảo vệ của luật hình sự gọi là đối tượng tác độngcủa tội phạm Đối với tội trộm cắp tài sản, hành vi phạm tội là hành vi chiếmđoạt tài sản của người khác, đó là sự dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sảncủa người khác thành tài sản của mình làm biến đổi tình trạng bình thường củatài sản Vì vậy đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản, nhưngkhông phải mọi tài sản đều có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắptài sản, để trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản thì tài sản đóphải có những đặc điểm nhất định Trước hết tài sản đó phải là tài sản của ngườikhác, đang có sự quản lý Hành vi lấy đi tài sản của mình, do mình quản lý hoặctài sản không còn nằm trong sự quản lý của chủ tài sản như tài sản bị bỏ quên,đánh rơi, tài sản vô chủ, hoặc tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu thìkhông phải là hành vi trộm cắp tài sản mà có thể cấu thành tội khác như tộichiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141 BLHS) Tài sản là đối tượng tác động củatội trộm cắp tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể có giá trị và giá

trị sử dụng, Điều 163 BLDS 2005 quy định: “Tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.

“Vật” có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản nếu nó nằm trong sự chiếm hữu của con người, “tiền” bao gồm tiền Việt Nam và tiền nước ngoài đang được lưu hành trên thị trường, “giấy tờ có giá” gồm hai loại là giấy

tờ có giá ghi danh có ghi tên chủ sở hữu và giấy tờ có giá vô danh không ghi tênchủ sở hữu, ai nắm giữ nó thì có quyền sở hữu nó, vì vậy chỉ có giấy tờ có giá

vô danh mới có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản vì khilấy nó người phạm tội mới thực hiện được quyền của chủ sở hữu, còn với giấy

tờ có giá ghi danh chỉ có chủ sở hữu mới có thể thực hiện được quyền sở hữucủa mình nó không thể bị dịch chuyển một cách trái phép bởi hành vi chiếm

đoạt Đối với tài sản là “quyền tài sản” như quyền đòi nợ , nó tồn tại dưới dạng

vô hình không nhìn thấy sờ thấy nó gắn liền với một chủ thể nhất định, trình tựxác lập thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản đó tuân theo quy định pháp luật

và không thể bị dịch chuyển trái phép bởi hành vi chiếm đoạt nên “quyền tài sản” cũng không phải là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản.

Tài sản là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản phải tồn tại dưới dạng một

Trang 12

động sản theo quy định của BLDS Những tài sản thuộc loại bất động sản cótính chất vật lý cố định không di dời được như đất đai, nhà cửa không là đốitượng tác động của tội trộm cắp tài sản Tuy nhiên có một số tài sản nếu táchriêng thì nó là động sản nhưng luật dân sự quy định là bất động sản do côngdụng của nó như cánh cửa gắn liền với ngôi nhà, cây cối trồng trên đất vẫn cóthể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Cần lưu ý là, đối với tài sảnđặc thù pháp luật có quy định riêng như: tàu bay, tàu thuỷ, vũ khí quân dụng,phương tiện kĩ thuật quân sự, đất đai, chiến lợi phẩm không thể là đối tượngtác động của tội trộm cắp tài sản dù nó có bị hành vi phạm tội xâm hại tới, mà

nó sẽ là đối tượng tác động của các tội phạm khác như tội chiếm đoạt tàu bay,tàu thuỷ (Điều 221 BLHS), tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng phương tiện kĩthuật quân sự (Điều 230 BLHS)

Nghiên cứu đối tượng tác động của tội phạm có ý nghĩa quan trọng vì thực tiễnchỉ ra rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến việc xử lý chưa đúng ngườiđúng tội là do chưa xác định đúng đối tượng tác động của tội phạm, còn nhầmlẫn giữa đối tượng tác động của tội này với đối tượng tác động của tội khác Vìvậy để đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả thì phải xác định đúng đốitượng tác động của tội phạm

Để tìm hiểu về những biểu hiện bên ngoài của tội trộm cắp tài sản cần nghiêncứu mặt khách quan của tội phạm với những dấu hiệu pháp lý của nó

1.2.2 Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm baogồm: Hành vi (khách quan) nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xãhội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm; cũngnhư những biểu hiện bên ngoài khác liên quan đến việc thực hiện tội phạm như:công cụ phương tiện, địa điểm, thời gian phạm tội

Biểu hiện thứ nhất thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi phạm tội.BLHS quy định tội phạm phải được thể hiện bằng hành vi, theo đó hành vikhách quan của tội phạm là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giớikhách quan được ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển, có tính nguy hiểm cho xãhội và được quy định trong BLHS Theo cách hiểu truyền thống từ xưa đến nay

Trang 13

cũng như thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, hành vi khách quan của tội

trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác “Chiếm đoạt” dưới góc độ pháp lý là việc cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài

sản của người khác thành tài sản của mình, làm cho chủ tài sản không có khảnăng thực hiện được quyền chủ sở hữu đối với tài sản đó trên thực tế mặc dù vềmặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất đi quyền sở hữu tài sản của mình.Hành vi chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản phải có tính chất lén lút (được

thực hiện bằng thủ đoạn lén lút) “Lén lút” được hiểu là hành vi cố ý giấu diếm, vụng trộm không để lộ ra do có ý gian [15, tr.467] “Lén lút” chiếm đoạt tài sản

trong tội trộm cắp tài sản là hành vi của một người cố ý thực hiện một việc làmbất minh, vụng trộm, giấu diếm không để lộ ra cho người khác biết nhằm chiếm

đoạt tài sản của người khác, nó có đặc điểm khách quan là “lén lút” và ý thức chủ quan của người phạm tội cũng là “lén lút” Hành vi chiếm đoạt được coi là

“lén lút” nếu được thực hiện bằng hình thức có khả năng không cho phép chủ

tài sản biết khi hành vi này xảy ra, ví dụ: lợi dụng lúc chủ nhà đi vắng, ngườiphạm tội đã đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản; ý thức chủ quan của người phạm

tội là “lén lút” nếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người này có ý thức che

giấu hành vi mình đang thực hiện Việc che giấu này chỉ đòi hỏi với chủ tài sản

còn với những người khác người phạm tội có thể “lén lút” hoặc công khai thực hiện hành vi phạm tội Trong thực tế, hành vi “lén lút” chiếm đoạt tài sản có thể

được thực hiện dưới những hình thức khác nhau: có thể người phạm tội thựchiện hành vi chiếm đoạt một cách giấu diếm vụng trộm, che giấu toàn bộ sự việcphạm tội, ví dụ: Nguyễn Thị H là người giúp việc cho gia đình anh N Nhân lúcchủ nhà đi vắng H đã lấy trộm tài sản nhà anh N rồi bỏ đi; có thể người phạm tộithực hiện hành vi chiếm đoạt công khai, trắng trợn không có ý che đậy giấudiếm hành vi phạm tội, họ chỉ che giấu hành vi phạm tội với chủ tài sản: hoặc làcông khai sự vi phạm pháp luật cuả hành vi phạm tội như: người phạm tội ngangnhiên móc trộm ví của chủ tài sản ngay trước sự chứng kiến của những ngườixung quanh nhân lúc chủ tài sản không để ý, hoặc là công khai thực hiện hành vichiếm đoạt nhưng bản chất chiếm đoạt đã được che đậy, ví dụ: người phạm tộiđóng giả là nhân viên chở hàng của công ty đã ngang nhiên chở hàng ra khỏi

Trang 14

công ty trước sự chứng kiến của các nhân viên trong công ty.

Như vậy, dù là hành vi chiếm đoạt được thực hiện công khai hay giấu diếm thì

đều có chung bản chất là “lén lút” chiếm đoạt đối với chủ tài sản Trường hợp

hành vi chiếm đoạt được thực hiện công khai trước mắt những người không cótrách nhiệm đối với tài sản hoặc không hiểu bản chất của hành vi thì vẫn là trộmcắp tài sản Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản cho thấy, tuyngười khác có mặt tại nơi xảy ra hành vi trộm cắp tài sản nhưng họ không hiểu

đó là hành vi trộm cắp tài sản, không biết đó là người trộm cắp hay chủ tài sảnnên không để ý đến việc lấy tài sản đi nơi khác Hiện tượng này xảy ra phổ biến

vì người có mặt tại nơi xảy ra hành vi trộm cắp tài sản tưởng rằng người trộmcắp là khách quen hoặc chủ tài sản, do đó người phạm tội chỉ có ý thức che giấuhành vi phạm tội của mình với chủ tài sản chứ không có ý thức che giấu đối vớinhững người khác

Trên đây đã đề cập đến hành vi trộm cắp tài sản, đó là hành vi “lén lút” chiếm

đoạt tài sản đối với chủ tài sản, chủ tài sản có thể là chủ sở hữu tài sản hoặcngười có trách nhiệm đối với tài sản (gọi là người quản lý tài sản) Chủ sở hữutài sản theo quy định của pháp luật dân sự là người có đầy đủ ba quyền năng:quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản, những quyền năngnày được pháp luật ghi nhận bảo vệ và không bị giới hạn, gián đoạn Đối với

người quản lý tài sản, trước hết “quản lý” được hiểu là trông coi giữ gìn theo

những yêu cầu nhất định (Theo Từ điển tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học, Nhàxuất bản Đà Nẵng, 2003) Như vậy, người quản lý tài sản là người đang nắmgiữ, trông coi, bảo vệ tài sản nhưng không phải chủ sở hữu và không có quyềnđịnh đoạt tài sản đó; người quản lý tài sản có thể là người trực tiếp quản lý tàisản khi tài sản đang nằm trong sự chi phối trực tiếp của họ hoặc là người quản lýgián tiếp khi họ không trực tiếp nắm giữ tài sản nhưng do tính chất công việcnên họ có trách nhiệm trông coi bảo vệ tài sản (ví dụ: tiền của cơ quan do thủquỹ trực tiếp quản lý nhưng hết giờ làm việc bảo vệ có trách nhiệm trông coi sốtài sản đó) hoặc khi tài sản đó là của cơ quan nhà nước nhưng để ở nơi côngcộng phục vụ sinh hoạt chung như: công tơ điện do người trông coi trạm biến ápquản lý nhưng được đặt ở các cột điện bên đường Người quản lý tài sản cũng có

Trang 15

thể là người quản lý trong trường hợp bình thường khi được chủ sở hữu giaoquản lý tài sản thông qua hợp đồng trông giữ tài sản, hoặc là người quản lý tàisản trong trường hợp đặc biệt khi có sự kiện pháp lý xảy ra sẽ phát sinh tráchnhiệm quản lý tài sản (thực tế thường là trường hợp người đó tự nguyện đứng ratrông coi quản lý tài sản cho chủ sở hữu, ví dụ: khi chủ nhà đi vắng thì nhà bịcháy, hàng xóm đã dập đám cháy và bảo vệ tài sản cho chủ nhà chờ khi chủ nhà

về sẽ giao lại tài sản, hoặc khi chủ sở hữu không có điều kiện bảo vệ tài sản củamình Trong những trường hợp trên, bất kể đó là chủ sở hữu hay người quản lýtài sản, người quản lý trực tiếp hay gián tiếp, người quản lý trong trường hợpbình thường hay trường hợp đặc biệt thì người phạm tội muốn chiếm đoạt tài sản

đều phải “lén lút” với những người này.

Nghiên cứu tính chất của hành vi chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa quan trọng, giúpphân biệt tội trộm cắp tài sản với một số tội phạm khác nhất là tội công nhiênchiếm đoạt tài sản, ví dụ sau đây sẽ làm sáng tỏ vấn đề trên: A và B đang cùngnhau đi trên đường thì bị tai nạn giao thông, A bị thương nặng nên ngất đi, B bịthương nhưng vẫn tỉnh táo, lúc này phát sinh trách nhiệm quản lý tài sản của B

Người phạm tội muốn trộm cắp tài sản thì phải “lén lút” với B, nếu lợi dụng

tình trạng B bị thương không có điều kiện để bảo vệ tài sản mà người phạm tộicông khai lấy tài sản trước mặt B thì là công nhiên chiếm đoạt tài sản Còn đốivới trường hợp cả A và B bị thương đều ngất đi không có ai đứng ra bảo vệ tàisản cho họ mà người phạm tội công khai lấy tài sản trước sự chứng kiến của

những người xung quanh thì vẫn là trộm cắp tài sản, người phạm tội vẫn “lén lút” đối với chủ tài sản là A và B khi thực hiện hành vi chiếm đoạt [20, tr.26].

Nội dung biểu hiện thứ hai thuộc mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản là quả

hậu nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Hậu quả nguy hiểm của tội phạm là

thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho những quan hệ xã hội là khách thể bảo

vệ của luật hình sự, được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thườngcủa các bộ phận cấu thành nên khách thể (đối tượng tác động của tội phạm) Bất

kì tội phạm nào cũng có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưngdấu hiệu hậu quả của tội phạm không được phản ánh trong tất cả các yếu tố cấuthành tội phạm Dấu hiệu này chỉ được mô tả khi hành vi chỉ có tính nguy hiểm

Trang 16

cho xã hội nếu đã gây ra hậu quả nhất định cho xã hội Tính chất và mức độ củahậu quả được xác định bởi tính chất và mức độ biến đổi tình trạng bình thườngcủa đối tượng tác động của tội phạm Với những tội phạm mà dấu hiệu hậu quảnguy hiểm được phản ánh trong cấu thành tội phạm thì tội phạm đó sẽ có cấuthành vật chất.

Đối với tội trộm cắp tài sản, hậu quả nguy hiểm cho xã hội thể hiện qua sự biếnđổi tình trạng bình thường của tài sản được gọi là thiệt hại về tài sản, thể hiệndưới dạng tài sản bị chiếm đoạt Trong cấu thành tội trộm cắp tài sản, hậu quảcủa tội phạm là tài sản bị chiếm đoạt có giá trị ở mức nhất định (từ năm trămnghìn đồng trở lên- trong trường hợp thông thường), dựa vào mức giá trị tài sản

bị chiếm đoạt điều luật đã phân chia thành các khung hình phạt tương ứng vớicác mức độ hậu quả đó

Nội dung biểu hiện thứ ba thuộc mặt khách quan của tội phạm là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội Theo nguyên tắc của

luật hình sự Việt Nam: một người chỉ phải chịu TNHS về hậu quả nguy hiểmcho xã hội do chính hành vi của họ gây ra, tức là giữa hành vi phạm tội và hậuquả có mối quan hệ nhân quả với nhau Luật hình sự Việt Nam không quy địnhthế nào là mối quan hệ nhân quả, nhưng dựa vào cặp phạm trù nhân - quả củaphép biện chứng duy vật có thể xác định được mối quan hệ nhân quả đó là hành

vi nguy hiểm cho xã hội phải có trước, là nguyên nhân gây nên hậu quả nguyhiểm cho xã hội; đồng thời hậu quả đó chính là kết quả của hành vi nguy hiểmcho xã hội Đối với tội trộm cắp tài sản, hậu quả thiệt hại về tài sản (mất tài sản)chính là kết quả của hành vi trộm cắp tài sản

Khi nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm không thể không tìm hiểu về mặtchủ quan của tội phạm bởi lẽ tội phạm là sự thống nhất giữa mặt khách quan vàmặt chủ quan, giữa những biểu hiện bên ngoài và hoạt động tâm lý bên trong

1.2.3 Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản

Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạmbao gồm: lỗi của người phạm tội, mục đích phạm tội, động cơ phạm tội; trong

đó lỗi là yếu tố được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm

Điều 8 BLHS quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy

Trang 17

định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý ” Nguyên tắc lỗi là nguyên tắc cơ bản trong luật hình

sự Việt Nam, một người chỉ phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm cho xã hộikhi họ có lỗi trong khi thực hiện hành vi đó Người thực hiện hành vi bị coi là cólỗi nếu họ có sự tự do lựa chọn thực hiện hành vi đó trong khi họ có đủ điều kiệnlựa chọn xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Do vậy, lỗi được hiểu làthái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xãhội, được thực hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý

Về mặt hình thức, lỗi gồm hai yếu tố cấu thành là yếu tố lý trí (thể hiện khả năngnhận thức của chủ thể) và yếu tố ý chí (thể hiện khả năng điều khiển hành vi củachủ thể) Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc tâm lý của hai yếu tố đó người ta chia lỗithành hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý là trường hợp người phạm tội nhậnthức rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi

và mong muốn hậu quả xảy ra (lỗi cố ý trực tiếp), hoặc thấy trước hậu quả cóthể xảy ra tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc hậu quả xảy ra (lỗi cố

ý gián tiếp); lỗi vô ý là trường hợp người phạm tội do cẩu thả mà không thấytrước khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mặc dù phải thấy trước và

có thể thấy trước (lỗi vô ý do cẩu thả), hoặc tuy thấy trước hành vi của mình cóthể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả không xảy rahoặc có thể ngăn ngừa được (lỗi vô ý vì quá tự tin) Đối với tội trộm cắp tài sản,lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp Về mặt lý trí, người phạm tội nhậnthức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quảnguy hiểm có thể xảy ra; về mặt ý chí: người phạm tội mong muốn hậu quả xảy

ra, mong muốn chiếm đoạt được tài sản, hậu quả này người phạm tội đã thấytrước và nó hoàn toàn phù hợp với mục đích của người phạm tội Việc xác địnhnhận thức chủ quan của người phạm tội để xác định lỗi của họ là rất quan trọng:nếu người phạm tội biết rõ tài sản bị chiếm đoạt đang có người quản lý thì sẽphạm tội trộm cắp tài sản, còn nếu họ thực sự có sai lầm cho rằng tài sản đó làcủa mình (ví dụ như cầm nhầm tài sản ) hoặc tài sản đó không có chủ thì sẽkhông phạm tội trộm cắp tài sản Trong thực tế có trường hợp một người đã lầmtưởng tài sản của người khác là tài sản của mình nên lấy đi, trường hợp này

Trang 18

không phạm tội trộm cắp tài sản, ví dụ: cơ quan yêu cầu các cán bộ phải mặcđồng phục, khi có người cởi áo để trong phòng làm việc người này tưởng đó là

áo của mình nên đã lấy đi Nhưng nếu sau đó người này biết đó không phải làtài sản của mình mà lấy đi, giữ lại hoặc tự ý định đoạt tài sản thì phải coi đó làhành vi trộm cắp tài sản Như vậy, khi người phạm tội thực hiện hành vi trộmcắp tài sản, họ biết rõ tài sản đó là của người khác mà vẫn chiếm đoạt Đối với

việc xác định ý thức chủ quan của người phạm tội trong trường hợp “xâm phạm tài sản của Nhà nước” được quy định là tình tiết tăng nặng TNHS còn có nhiều

quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng việc áp dụng tình tiết tăng nặng đóphụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội, nếu họ biết rõ tài sản đó làcủa Nhà nước mà vẫn chiếm đoạt thì áp dụng tình tiết tăng nặng đó, còn nếu họkhông thể biết hoặc thực sự có sai lầm cho rằng tài sản đó là của công dân thìkhông áp dụng tình tiết tăng nặng đó, có quan điểm cho rằng cứ có hành vi

“xâm phạm tài sản của Nhà nước” là áp dụng tình tiết tăng nặng không cần xác

định ý thức chủ quan của người phạm tội Theo tác giả, việc xác định ý thức chủquan của người phạm tội trong trường hợp này là điều cần thiết, nếu người phạmtội biết rõ tài sản đó là của Nhà nước mà vẫn chiếm đoạt thì áp dụng tình tiết

tăng nặng “xâm phạm tài sản của Nhà nước”, nếu người phạm tội không thể

biết tài sản đó là của Nhà nước hoặc họ thực sự có sai lầm cho rằng tài sản đókhông phải của Nhà nước thì không áp dụng tình tiết tăng nặng đó, còn trongtrường hợp khi chiếm đoạt người phạm tội không cần biết tài sản đó là của Nhànước hay của công dân thì nếu tài sản đó là của Nhà nước sẽ áp dụng tình tiết

tăng nặng “xâm phạm tài sản của Nhà nước”, nếu tài sản đó không phải là tài

sản của Nhà nước thì không áp dụng tình tiết tăng nặng đó, với cách hiểu nhưvậy sẽ hợp lý hơn đồng thời có tác dụng răn đe những người biết rõ tài sản đó làcủa Nhà nước, có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội mà vẫn chiếm đoạt

Biểu hiện thứ hai thuộc mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản là mục đích phạm tội Mục đích phạm tội được hiểu là kết quả mà người phạm tội hướng tới, nhằm

đạt được khi thực hiện tội phạm Mục đích của người phạm tội trộm cắp tài sản

là mục đích chiếm đoạt Người phạm tội mong muốn chiếm đoạt được tài sảncủa người khác biến nó thành tài sản của mình Hành vi trộm cắp tài sản là hành

Trang 19

vi chiếm đoạt tài sản, hành vi này đã thể hiện được mục đích của người phạmtội, tuy nó không được nhà làm luật quy định trong cấu thành tội phạm nhưng nó

là dấu hiệu bắt buộc, mục đích này luôn được đặt ra trước khi người phạm tộithực hiện tội phạm Ngoài ra còn phải kể đến động cơ phạm tội, đó là động lựcbên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm Động cơ phạm tội trongtội trộm cắp tài sản là động cơ vụ lợi, nhưng đó không phải là dấu hiệu bắt buộctrong cấu thành tội trộm cắp tài sản

Để tìm hiểu toàn diện về tội trộm cắp tài sản, cần tìm hiểu về độ tuổi và năng lựcTNHS của người thực hiện hành vi phạm tội

1.2.4 Chủ thể của tội trộm cắp tài sản

Theo quy định của BLHS: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình

sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự ” (Điều 2 BLHS) và “Tội phạm

là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người

có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện ” (Điều 8 BLHS), có thể thấy theo

luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là con người cụ thể đãthực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS Chủ thể của tội phạmtheo luật hình sự Việt Nam phải là cá nhân, nhưng không phải ai cũng có thể trởthành chủ thể của tội phạm Tội phạm theo luật hình sự Việt Nam phải có tính

có lỗi, do vậy chỉ những người có lỗi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội mới có thể là chủ thể của tội phạm, đó là người có năng lực TNHS và đạt

độ tuổi luật định Năng lực TNHS là khả năng nhận thức và điều khiển hành vicủa mình theo đòi hỏi của xã hội, người có năng lực TNHS là người khi thựchiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguyhiểm cho xã hội và có khả năng điều khiển được hành vi đó, do đó chỉ nhữngngười có năng lực TNHS mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm Luật hình

sự Việt Nam không quy định thế nào là người có năng lực TNHS mà chỉ quyđịnh những trường hợp được coi là không có năng lực TNHS và tuổi chịuTNHS, theo đó một người khi đạt độ tuổi luật định và không thuộc trường hợpkhông có năng lực TNHS thì đương nhiên được coi là người có năng lực TNHS

Điều12 BLHS quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu

Trang 20

trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Khoản 3 Điều 8 BLHS quy định: “Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy

là đến mười lăm năm tù, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy

là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”

Ngoài hai dấu hiệu năng lực TNHS và tuổi chịu TNHS, một số tội còn đòi hỏichủ thể phải có những dấu hiệu đặc biệt gọi là chủ thể đặc biệt của tội phạm.Đối với tội trộm cắp tài sản, chủ thể của tội phạm là chủ thể bình thường, đó làngười có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định Theo đó, người từ đủ 14 tuổinhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3, 4Điều138 BLHS; người từ đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sảntrong mọi trường hợp phạm tội

Như vậy, chủ thể của tội trộm cắp tài sản là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có nănglực TNHS đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138BLHS

1.3 Đồng phạm và các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản

1.3.1 Đồng phạm trộm cắp tài sản

Tội phạm nói chung cũng như tội trộm cắp tài sản nói riêng không chỉ thực hiệnbởi một người mà có thể được thực hiện bởi nhiều người mà giữa họ đã có sựthống nhất ý chí cùng thực hiện một tội phạm, trường hợp phạm tội đặc biệt nàytrong khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm

“Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” (Điều 20 BLHS), do đó đồng phạm trộm cắp tài sản là trường hợp có hai

người trở lên cố ý cùng thực hiện tội trộm cắp tài sản Từ khái niệm trên có thểrút ra một số dấu hiệu về đồng phạm trộm cắp tài sản như sau:

Thứ nhất, dấu hiệu về mặt khách quan: đồng phạm trộm cắp tài sản phải có từhai người trở lên và những người này có đủ điều kiện là chủ thể của tội phạm (từ

đủ 14 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp không có năng lực TNHS), ví dụ:

A 17 tuổi và B 19 tuổi đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị

Trang 21

10 triệu đồng; dấu hiệu thứ hai là những người đồng phạm đó cùng thực hiện tộitrộm cắp tài sản

Họ có thể tham gia thực hiện tội trộm cắp tài sản với một trong các hành vi sau:hành vi thực hành tội trộm cắp tài sản, người có hành vi này gọi là người thựchành; hành vi tổ chức việc thực hiện tội trộm cắp tài sản, người có hành vi nàygọi là người tổ chức; hành vi xúi giục người khác thực hiện tội trộm cắp tài sản,người có hành vi này là người xúi giục; hành vi giúp người khác thực hiện tộitrộm cắp tài sản, người có hành vi này là người giúp sức, ví dụ: A có ý địnhtrộm cắp tài sản nên bàn với B và nhờ B đánh hộ chìa khoá để mở cửa vào nhàngười khác trộm cắp tài sản Trong trường hợp này A và B là đồng phạm trộmcắp tài sản, A là người thực hành còn B là người giúp sức

Thứ hai, dấu hiệu về mặt chủ quan: trước hết lỗi của những người đồng phạmtrộm cắp tài sản là lỗi cố ý, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vicủa mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồngphạm khác (về lý trí, mỗi người đồng phạm biết hành vi của mình là nguy hiểmcho xã hội và đều biết những người khác cũng có hành vi nguy hiểm cùng vớimình, mỗi người đồng phạm còn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội dohành vi của mình gây ra và hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thựchiện; về ý chí: những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung vàcùng mong muốn hậu quả xảy ra); mục đích của những người đồng phạm khithực hiện tội trộm cắp tài sản là mục đích chiếm đoạt tài sản

Trong thực tế, đồng phạm trộm cắp tài sản được thể hiện dưới những hình thứckhác nhau như đồng phạm có thông mưu trước và đồng phạm không có thôngmưu trước, đồng phạm giản đơn và phạm tội có tổ chức trong đó phạm tội trộmcắp tài sản có tổ chức là hình thức đồng phạm rất phổ biến, gây thiệt hại lớn cho

xã hội Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm mà giữa những người đồngphạm có sự câu kết chặt chẽ với nhau, có phân công nhiệm vụ cụ thể, phân hoávai trò rõ ràng, có sự chuẩn bị chu đáo cho việc thực hiện tội phạm cũng như chegiấu tội phạm do đó có khả năng cho phép thực hiện tội phạm trong thời giandài, liên tục gây hậu quả rất lớn, đặc biệt lớn cho xã hội Ở hình thức đồng phạmnày, những người đồng phạm có sự thống nhất ý chí, quyết tâm thực hiện tội

Trang 22

phạm cao, ý chí thực hiện tội phạm đến cùng và không có trường hợp tự ý nửachừng chấm dứt việc phạm tội.

Hiện nay, xuất hiện rất nhiều các băng, ổ nhóm chuyên trộm cắp tài sản cóngười tổ chức lên kế hoạch cho việc thực hiện tội phạm gây thiệt hại lớn cho xãhội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội, ví dụ vụ án Trần Văn A

và Hoàng Văn B thường trú tại Hà Nội đã thành lập băng nhóm chuyên trộm cắptài sản là máy vi tính với địa bàn hoạt động chủ yếu là phường Tân Mai vàHoàng Văn Thụ, chúng đã phân công cho đàn em điều tra nghiên cứu kĩ mụctiêu, lên kế hoạch chu đáo cho việc thực hiện tội pham vì vậy chỉ trong khoảngthời gian ngắn chúng đã liên tiếp thực hiện được nhiều vụ trộm cắp máy tính vớitổng trị giá tài sản lên đến vài trăm triệu đồng

Chính vì tính nguy hiểm cao hơn của hình thức đồng phạm này so với hình thức

đồng phạm thông thường nên điều luật quy định tình tiết “phạm tội có tổ chức”

là tình tiết định khung tăng nặng

Đối với đồng phạm trộm cắp tài sản, không chỉ có đồng phạm hành động mà còn

có đồng phạm không hành động, đó là trường hợp những người đồng phạm trộmcắp tài sản không hành động phạm tội, ví dụ: A đã thoả thuận với B là bảo vệcủa cơ quan không khoá cửa kho để đến đêm A vào kho lấy trộm tài sản của cơquan Trong trường hợp này A và B là đồng phạm trộm cắp tài sản, A là ngườithực hành còn B là người giúp sức (không hành động phạm tội)

1.3.2 Các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản

Tội phạm không phải lúc nào cũng được thực hiện đến cùng mà có thể đượcthực hiện ở những mức độ khác nhau do nhiều nguyên nhân, trong khoa học luậthình sự gọi là các giai đoạn thực hiện tội phạm

Nghiên cứu các giai đoạn thực hiện tội phạm giúp xác định đúng TNHS củangười phạm tội, ở mỗi giai đoạn phạm tội BLHS có quy định khác nhau vềTNHS của người phạm tội Để nghiên cứu tội trộm cắp tài sản một cách toàndiện, cần nghiên cứu về các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản

Theo đó, các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ýbao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành

1.3.2.1 Chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản

Trang 23

Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiệncần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm.Thời điểm sớm nhất của giai đoạn này là khi người phạm tội bắt đầu có hành vitạo ra những điều kiện vật chất hay tinh thần giúp cho việc thực hiện tội phạm

có thể xảy ra hoặc xảy ra thuận lợi hơn, thời điểm muộn nhất của giai đoạn này

là trước khi người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội được phản ánhtrong cấu thành tội phạm Tất cả những hành vi được thực hiện trong giai đoạnnày đều chưa trực tiếp làm biến đổi tình trạng bình thường của tài sản là đốitượng tác động của tội trộm cắp tài sản để gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu làkhách thể của tội phạm Hành vi chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản có thể lànhững hành vi sau: hành vi chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội (ví dụ nhưngười phạm tội đã chuẩn bị sẵn kìm để cậy cửa đột nhập vào nhà người khác lấytrộm tài sản), hành vi chuẩn bị kế hoạch, thăm dò địa điểm phạm tội hay thăm

dò làm quen nạn nhân, người bị hại (ví dụ: người phạm tội đóng giả là khách lạqua đường làm quen chủ nhà và xin ngủ nhờ qua đêm với ý định nửa đêm chờchủ nhà ngủ say sẽ lấy trộm tài sản) Ở giai đoạn này người phạm tội chưa cóhành vi chiếm đoạt tài sản nên họ chỉ phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản rấtnghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng (theo quy định tại Điều 17 BLHS).Đối với tội trộm cắp tài sản có thể không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội mànhiều trường hợp người phạm tội lợi dụng sơ hở, chủ quan của chủ tài sản nênnảy sinh ý định trộm cắp chứ họ không có sự chuẩn bị từ trước cho việc thựchiện tội phạm, ví dụ: A đang đi chơi về thì nhìn thấy có chiếc xe đạp dựng ngoàicổng nên đã dắt chiếc xe đó đi

1.3.2.2 Phạm tội trộm cắp tài sản chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là giai đoạn cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiệnđược đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội

Người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được mô tảtrong cấu thành tội phạm nhưng đã không thực hiện được đến cùng, hành viphạm tội chưa thoả mãn hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thànhtội phạm, có thể người phạm tội mới thực hiện được hành vi đi liền trước hành

vi khách quan như người phạm tội đang mở khoá định đột nhập vào nhà lấy

Trang 24

trộm tài sản thì bị chủ nhà phát hiện, hoặc người phạm tội đã thực hiện hành vichiếm đoạt tài sản nhưng chưa thực hiện được đến cùng chưa gây thiệt hại tàisản, ví dụ: người phạm tội đang giấu tài sản vừa chiếm đoạt được thì bị chủ tàisản phát hiện thu giữ , ở đây người phạm tội không thực hiện được tội phạmđến cùng là do nguyên nhân ngoài ý muốn chứ bản thân người phạm tội muốnthực hiện tội phạm đến cùng nhằm chiếm đoạt được tài sản, do đó họ phải chịuTNHS về tội phạm đó (theo quy định tại Điều 18 BLHS)

1.3.2.3 Tội trộm cắp tài sản hoàn thành

Tội phạm hoàn thành là giai đoạn phạm tội mà hành vi phạm tội đã thoả mãn hếtcác dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm Khi tội phạm hoàn thành đãthể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội

Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất, tội phạm hoàn thành khi

đã gây ra hậu quả là thiệt hại tài sản Nhưng trên thực tế việc xác định thời điểmhoàn thành của tội trộm cắp tài sản không đơn giản, còn nhiều ý kiến khác nhau

Có ý kiến cho rằng tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã tạo ra được khảnăng thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản cho mình, còn

có ý kiến cho rằng tội phạm hoàn thành khi chủ sở hữu mất khả năng thực hiệncác quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình trên thực tế Có thểthấy rằng, hành vi chiếm đoạt tài sản là quá trình tạo khả năng chiếm hữu, sửdụng, định đoạt tài sản cho người phạm tội đồng thời làm mất việc thực hiện cácquyền năng đó trên thực tế của chủ sở hữu, song hai quá trình này không phảilúc nào cũng diễn ra đồng thời, mà có khi người phạm tội đã làm mất khả năngthực hiện quyền sở hữu của chủ sở hữu nhưng chưa tạo ra được khả năng thựchiện các quyền đó cho mình, ví dụ: người phạm tội đã lấy trộm được một sốmáy móc của xí nghiệp nhưng do quá cồng kềnh nên còn giấu vào một nơi chưamang được về nhà Khi chủ sở hữu mất đi khả năng thực hiện các quyền củamình đối với tài sản thì quyền sở hữu của họ đã bị xâm phạm, vì vậy thời điểmhoàn thành của tội trộm cắp tài sản là kể từ khi chủ sở hữu mất khả năng thựchiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình trên thực tế,không cần biết người phạm tội đã thực hiện được các quyền đó hay chưa

Từ thực tiễn xét xử, có thể xác định thời điểm hoàn thành tội trộm cắp tài sản

Trang 25

dựa vào tính chất của tài sản bị chiếm đoạt như sau: nếu tài sản nhỏ gọn dễ cấtgiấu thì thời điểm hoàn thành tội phạm là kể từ khi người phạm tội đã cất giấuđược tài sản đó, nếu tài sản cồng kềnh và có khu vực bảo quản riêng thì tộiphạm hoàn thành kể từ khi người phạm tội đã mang tài sản ra khỏi khu vực bảoquản đó, nếu tài sản cồng kềnh và không có khu vực bảo quản riêng thì tội phạmhoàn thành từ khi người phạm tội đã dịch chuyển tài sản khỏi vị trí ban đầu Nếucăn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt thì tội trộm cắp tài sản hoàn thành ở mộttrong các thời điểm sau: khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản có giá trị

từ năm trăm nghìn đồng trở lên, khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản

có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng nhưng đã “gây hậu quả nghiêm trọng”, hoặc “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt”, hoặc “đã bị kết án về tội chiếm đoạt chưa được xoá án tích”.

Đối với tội trộm cắp tài sản, đồng phạm và các giai đoạn thực hiện tội phạm cómối quan hệ với nhau, hiện đang có những quan điểm khác nhau xung quanhviệc xác định đồng phạm ở giai đoạn tội phạm hoàn thành, có quan điểm chorằng ở giai đoạn tội phạm hoàn thành không còn đồng phạm, có quan điểm lạicho rằng tội phạm hoàn thành vẫn có thể có đồng phạm Theo tác giả, khi tộitrộm cắp tài sản đã hoàn thành nhưng chưa kết thúc vẫn có thể có đồng phạmbởi vì vấn đề còn có thể tham gia tiếp là người đồng phạm hay không không phụthuộc vào thời điểm tội phạm hoàn thành mà phụ thuộc vào thời điểm tội phạmkết thúc, hơn nữa đối với đồng phạm trộm cắp tài sản những người đồng phạmđều hướng tới mục đích chung là chiếm đoạt được tài sản, biến tài sản đó thànhtài sản của mình chứ họ không chỉ muốn dừng lại ở việc hoàn thành tội phạm,song mục đích này trên thực tế không dễ gì đạt được, những người đồng phạmvẫn cần phối hợp hành động để chiếm được và kiểm soát được tài sản đó, ví dụ:

A đã lấy trộm được một số tài sản của một cơ quan nhưng sợ bị phát hiện nên đãđem giấu vào một nơi mà chưa mang về nhà (tội trộm cắp tài sản đã hoàn thànhnhưng chưa kết thúc), hôm sau A gọi B đến giúp mình mang số tài sản đó về nhàrồi bán đi chia nhau, ở đây A và B là đồng phạm trộm cắp tài sản ở giai đoạn tộiphạm đã hoàn thành nhưng chưa kết thúc

Như vậy, qua việc tìm hiểu dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản có thể thấy:

Trang 26

tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác do người

có năng lực TNHS thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm hại đến quan hệ sở hữutài sản và những quan hệ xã hội khác (quan hệ xã hội liên quan đến trật tự antoàn xã hội) được luật hình sự bảo vệ Tội trộm cắp tài sản có thể được thực hiệndưới hình thức thông thường, có thể được thực hiện dưới hình thức đồng phạm;

nó có thể được thực hiện đến cùng khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tàisản, làm chủ sở hữu không thể thực hiện được các quyền năng của chủ sở hữutrên thực tế hoặc có khi tội phạm đang được thực hiện nhưng do những nguyênnhân ngoài ý muốn của người phạm tội mà tài sản chưa bị chiếm đoạt Nghiêncứu một cách toàn diện, có hệ thống về tội trộm cắp tài sản sẽ giúp hiểu đúngbản chất của hành vi phạm tội, từ đó có đường lối xử lý đúng đắn đối với ngườiphạm tội, đảm bảo sự công bằng nghiêm minh của pháp luật, góp phần đấu tranhphòng chống tội phạm có hiệu quả

1.4 Phân biệt dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản với một số tội xâm phạm

sở hữu khác

1.4.1.Phân biệt dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản với tội công nhiên

chiếm đoạt tài sản

Trước hết cần hiểu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai, ngangnhiên chiếm đoạt tài sản của người khác do lợi dụng tình trạng họ không có điềukiện bảo vệ tài sản của mình

Tội trộm cắp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản có nhiều dấu hiệugiống nhau, đó là: cả hai tội đều xâm phạm đến khách thể bảo vệ của luật hình

sự là quan hệ sở hữu tài sản thông qua việc tác động đến đối tượng là tài sản làmbiến đổi tình trạng bình thường của tài sản Cả hai tội phạm đều có cấu thành vậtchất, dấu hiệu hậu quả nguy hiểm được phản ánh trong cấu thành tội phạm đó làthiệt hại về tài sản biểu hiện dưới dạng tài sản bị chiếm đoạt, điều luật quy địnhmức tối thiểu giá trị tài sản bị chiếm đoạt làm cơ sở truy cứu TNHS, theo đóngười có hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị từ mức tối thiểu trở lên sẽ phảichịu TNHS về tội phạm tương ứng Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tộiđều là lỗi cố ý trực tiếp và mục đích phạm tội là mục đích chiếm đoạt tài sản.Ngoài ra, người thực hiện hành vi phạm tội đều là chủ thể thường có năng lực

Trang 27

TNHS và đạt độ tuổi luật định.

Về điểm khác nhau giữa hai tội, có thể thấy điểm khác biệt cơ bản nhất là vềhành vi khách quan của tội phạm: hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản làhành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, còn hành vi khách quan củatội công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai, ngang nhiên chiếm đoạttài sản ngay trước sự chứng kiến của chủ tài sản, thực tế thường gặp một sốtrường hợp sau:

Người phạm tội lợi dụng sơ hở, vướng mắc của chủ tài sản để chiếm đoạt tàisản, ví dụ: A đi chơi về nhìn thấy B đang tắm dưới sông, trên bờ dựng chiếc xemáy và có bộ quần áo vắt trên xe nên biết đó là xe của B A lại gần chiếc xe thấychiếc chìa khoá đang cắm trong ổ khoá nên mở khoá phóng xe đi, lúc đó B chỉcòn biết hô cướp Trường hợp này A đã lợi dụng lúc B sơ hở là không rút chìakhoá khỏi xe và vướng mắc là B đang tắm dưới sông, không thể bảo vệ được tàisản của mình nên A đã ngang nhiên chiếm đoạt tài sản ngay trước sự chứng kiếncủa B mà không cần dùng thủ đoạn nào để đối phó với B; cũng có trường hợpngười phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khách quan như thiên tai, hoả hoạn làmchủ tài sản không có điều kiện bảo vệ tài sản của mình để chiếm đoạt tài sản, vídụ: A đang đi trên đường thì bị tai nạn giao thông, vẫn tỉnh táo nhưng không cửđộng được, người phạm tội lợi dụng tình trạng đó đã ngang nhiên lấy tài sản của

A mà A không có cách nào bảo vệ tài sản của mình trước hành vi chiếm đoạt

Từ sự khác nhau về hành vi phạm tội có thể thấy một điểm khác nữa giữa hai tội

là về nhận thức chủ quan của chủ tài sản: ở tội trộm cắp tài sản, hành vi lén lútchiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng khả năng không cho phép chủ tài sảnbiết khi xảy ra hành vi phạm tội, trước khi xảy ra hành vi phạm tội thì tài sảnvẫn đang trong sự kiểm soát của chủ tài sản nhưng khi xảy ra hành vi phạm tộichủ tài sản không hề biết tài sản của mình bị chiếm đoạt, chỉ sau khi mất tài sảnchủ tài sản mới biết; còn ở tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, khi có hành vichiếm đoạt tài sản chủ tài sản vẫn nhận biết được có hành vi chiếm đoạt nhưng

do họ không có điều kiện bảo vệ tài sản của mình nên người phạm tội mớingang nhiên chiếm đoạt tài sản mà không cần dùng bất kì thủ đoạn nào để đốiphó với chủ tài sản

Trang 28

Về mặt lí luận, có thể phân biệt hai tội trên ở hành vi phạm tội, nhưng trên thực

tế việc phân biệt chúng không đơn giản, có những trường hợp người phạm tộicông khai ngang nhiên chiếm đoạt tài sản nhưng không phải là hành vi côngnhiên chiếm đoạt tài sản mà là trộm cắp tài sản, bởi vì tuy có hành vi công khaingang nhiên chiếm đoạt tài sản nhưng người phạm tội chỉ công khai với nhữngngười khác, còn đối với chủ tài sản người phạm tội vẫn có ý thức lén lút khichiếm đoạt tài sản Ví dụ: A và B đang đi trên đường thì bị tai nạn, cả hai đềubất tỉnh, không có ai đứng ra bảo vệ tài sản cho họ, người phạm tội lợi dụnghoàn cảnh này mà ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của A và B trước sự chứngkiến của những người xung quanh thì vẫn là trộm cắp tài sản bởi vì lúc này A và

B không nhận thức được sự việc diễn ra xung quanh mình, không biết tài sảncủa mình đang bị chiếm đoạt, do vậy đối với A và B thì người phạm tội vẫn lénlút chiếm đoạt tài sản

1.4.2.Phân biệt dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản với tội lừa đảo chiếm

Về sự khác nhau giữa hai tội phạm trên, có thể thấy điểm khác biệt cơ bản làhành vi khách quan của tội phạm: hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là

Trang 29

hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, còn hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm

đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối, “gian dối”

được hiểu là đưa ra những thông tin mình biết rõ không phải là sự thật làm chochủ tài sản tin đó là sự thật, nhằm chiếm đoạt tài sản Thủ đoạn gian dối là mộtdấu hiệu đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nó luôn được người phạmtội thực hiện trước khi thực hiện hành vi phạm tội, là tiền đề cần thiết để thựchiện việc chiếm đoạt, nếu không có sự gian dối thì người phạm tội không thểthực hiện được việc chiếm đoạt và ngược lại hành vi chiếm đoạt là kết quả củaviệc thực hiện thủ đoạn gian dối, nếu thủ đoạn gian dối được thực hiện sau khithực hiện việc chiếm đoạt thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản màtuỳ từng trường hợp sẽ cấu thành tội khác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếmđoạt tài sản Trong thực tế, thủ đoạn gian dối được thực hiện bằng những cáchthức sau đây: nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sảnthì người phạm tội đưa ra những thông tin giả làm chủ tài sản tin tưởng mà giaotài sản cho người phạm tội, khi nhận được tài sản cũng là lúc người phạm tộichiếm đoạt được tài sản.Ví dụ: người phạm tội giả vờ mẹ mình bị ốm mượn xecủa bạn chở mẹ vào bệnh viện, do tin đó là sự thật nên người bạn đã cho mượn

xe Sau khi có được chiếc xe, người phạm tội đã mang xe bán lấy tiền; nếu tàisản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì người phạmtội đưa ra những thông tin giả làm chủ tài sản tin đó là sự thật để giữ lại tài sảnđáng lẽ phải giao cho chủ tài sản, do tin vào những thông tin giả đó mà chủ tàisản đã nhận thiếu, nhận sai loại tài sản được nhận hoặc không nhận tài sản đó,khi chủ tài sản nhận thiếu, nhận sai hoặc không nhận tài sản cũng là lúc ngườiphạm tội chiếm đoạt được tài sản

Như vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa tội trộm cắp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi khách quan của tội phạm: tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối Nhưng trong thực tế, hành vi phạm tội

không chỉ diễn ra đơn thuần như vậy, có trường hợp người phạm tội cũng dùngnhững thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng không phải là lừa đảochiếm đoạt tài sản mà là trộm cắp tài sản, nếu chỉ nhìn vào thủ đoạn gian dối thì

Trang 30

rất dễ nhầm lẫn Ở đây cần lưu ý là đối với tội trộm cắp tài sản, người phạm tội

sử dụng thủ đoạn gian dối chỉ là để dễ tiếp cận với tài sản, tạo thuận lợi hơn choviệc thực hiện tội phạm, người phạm tội vẫn có thể chiếm đoạt tài sản bằngnhững cách thức khác mà không cần sử dụng thủ đoạn gian dối, nhưng dù có sửdụng thủ đoạn gian dối thì cũng chỉ là để tạo thuận lợi hơn cho việc thực hiện tộiphạm còn khi chiếm đoạt tài sản người phạm tội vẫn lén lút với chủ tài sản, còn

ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối là dấu hiệu bắt buộc trong cấuthành tội phạm, không có thủ đoạn gian dối thì người phạm tội không thể chiếmđoạt được tài sản, nếu khi thực hiện thủ đoạn gian dối mà bị chủ tài sản pháthiện thì người phạm tội không thực hiện thành công hành vi phạm tội (có thể tộiphạm mới ở giai đoạn chưa đạt)

Có trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản(phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản), nhưng do thủ đoạn gian dối không thểhiện rõ ràng nên đã xác định đó là tội trộm cắp tài sản, có thể đưa ra vụ án sauđây mà hiện còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định tội danh: A langthang ra sân vận động huyện chơi thấy có chiếc quần vắt trên ghế, A lại đó cởiquần của mình đặt gần chiếc quần đó và vào sân chơi Một lúc sau A ra lấy chiếcquần vắt trên ghế mang vào nhà vệ sinh lục túi lấy được chiếc ví trong đó có300.000 đồng, một vé gửi xe và một số giấy tờ khác, A mang chiếc vé gửi xe rabãi để xe tìm đúng chiếc xe có ghi số như trên vé xe sau đó A đưa vé cho bảo vệkiểm tra rồi dắt xe đi Bảo vệ thấy số vé trên xe và trên vé trùng nhau nên để Adắt xe đi, A mang xe đi bán được 5 triệu đồng, lần sau A lại vào huyện chơi và

bị phát hiện Trong vụ án trên, có quan điểm cho rằng A phạm tội trộm cắp tàisản, có quan điểm cho rằng A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quan điểmnày hợp lý hơn bởi lẽ: trong vụ án trên chiếc xe máy là của người bị hại nhưng

đã giao cho bảo vệ quản lý, chiếc xe đã nằm ngoài sự kiểm soát của chủ sở hữunên để xác định hành vi chiếm đoạt của A phải xem xét nó trong mối quan hệvới người quản lý tài sản (bảo vệ) và thủ đoạn A thực hiện với người bảo vệ Ởđây A đã lấy chiếc xe ra khỏi bãi gửi xe một cách dễ dàng, A không có bất kìhành vi nào làm thay đổi tính chân thực của chiếc vé, thủ đoạn gian dối mà Athể hiện không rõ ràng nên nhiều người lầm tưởng không có thủ đoạn gian dối,

Trang 31

việc chiếm đoạt chiếc xe máy của A trong khi chủ tài sản không biết do A cóchiếc vé gửi xe nên cho rằng hành vi của A là hành vi trộm cắp tài sản Nhưngtrong trường hợp trên, A dắt xe ra khỏi bãi xe hoàn toàn do hành vi tự nguyệngiao xe của bảo vệ, do tin A chính là người đã gửi chiếc xe đó, việc A lấy chiếc

vé trong ví của chủ sở hữu rồi đem chiếc vé ra bãi xe lấy xe đi là một thủ đoạngian dối, vì có chiếc vé trong tay nên A đã lừa được bảo vệ mình chính là chủchiếc xe vì vậy A có thể ngang nhiên dắt xe đi Do đó hành vi phạm tội của A làlừa đảo chiếm đoạt tài sản chứ không phải là trộm cắp tài sản [17, tr.385]

1.4.3 Phân biệt dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản với tội cướp giật tài

Về điểm khác nhau giữa hai tội, trước hết là về khách thể của tội phạm: kháchthể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ sở hữu tài sản, còn khách thể của tội cướpgiật tài sản là quan hệ sở hữu tài sản và quan hệ nhân thân, điều này phản ánhtính chất nguy hiểm của tội phạm và phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòngchống tội phạm bởi vì thực tế có nhiều vụ cướp giật tài sản xảy ra mà ngườiphạm tội lợi dụng lúc người bị hại đang đi xe trên đường đã tiếp cận và giật lấytài sản rồi bỏ chạy làm cho chủ tài sản bị bất ngờ ngã ra đường gây tai nạn,thương tích cho chủ tài sản và những người khác

Mặt khách quan của tội phạm ở hai tội cũng khác nhau: hành vi khách quan củatội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản còn ở tội cướp giật tàisản là hành vi công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng lẩntránh, dấu hiệu công khai, nhanh chóng là dấu hiệu đặc trưng: công khai thể hiện

ở chỗ hành vi chiếm đoạt được thực hiện trước sự chứng kiến của chủ tài sản,khi có hành vi cướp giật tài sản chủ tài sản biết tài sản của mình bị chiếm đoạt,nhanh chóng thể hiện ở chỗ người phạm tội lợi dụng sơ hở của chủ tài sản nhanhchóng tiếp cận nhanh chóng chiếm đoạt rồi nhanh chóng lẩn tránh (thường là

Trang 32

nhanh chóng tẩu thoát), trong thực tế người phạm tội thường nhanh chóng giậtlấy, giằng lấy tài sản, với thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt tài sản người phạmtội mong muốn chủ tài sản không kịp có điều kiện ngăn cản việc chiếm đoạt tàisản nên không có ý định dùng bất kì thủ đoạn nào để đối phó với chủ tài sản, vídụ: A và B đi trên hai chiếc xe máy nhìn thấy chị H đang đi xe và treo chiếc túixách ở giỏ xe nên bàn nhau kẹp xe chị H giữa hai xe A trêu ghẹo chị H làm chịkhông để ý còn B sẽ giật chiếc túi xách của chị, khi chị H vừa quay sang A thìđột nhiên B giật chiếc túi xách rồi hai tên phi xe máy chạy mất; về dấu hiệu hậuquả nguy hiểm: đối với tội trộm cắp tài sản, dấu hiệu hậu quả nguy hiểm là thiệthại tài sản được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, điềuluật quy định mức tối thiểu giá trị tài sản bị chiếm đoạt làm cơ sở truy cứuTNHS còn ở tội cướp giật tài sản, do tính chất nguy hiểm cao của tội phạm nêndấu hiệu hậu quả không được phản ánh trong cấu thành tội phạm điều luậtkhông quy định mức tối thiểu giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà chỉ cần có hành vicướp giật là phạm tội không kể tài sản có giá trị bao nhiêu.

Điểm khác nhau nữa giữa tội trộm cắp tài sản và tội cướp giật tài sản là mụcđích phạm tội: mục đích của người phạm tội trộm cắp tài sản là mục đích chiếmđoạt tài sản, còn ở tội cướp giật tài sản thì chiếm đoạt tài sản không còn là mụcđích nữa mà đã được thể hiện bằng hành vi chiếm đoạt

Trong thực tế có những trường hợp người phạm tội có khi cũng dùng thủ đoạnlén lút để chiếm đoạt tài sản nhưng không phải là trộm cắp tài sản mà là cướpgiật tài sản, bởi vì việc sử dụng thủ đoạn lén lút này chỉ là để tiếp cận với tài sảnhoặc với chủ tài sản rồi sau đó bất ngờ giật lấy tài sản làm chủ tài sản không kịptrở tay sau đó chạy mất, khi chiếm đoạt người phạm tội vẫn công khai với chủtài sản, ví dụ: thấy chị M đang ngồi một mình ở ghế đá người phạm tội đã lén lúttiến lại gần chỗ chị không để chị biết rồi nhanh chóng giật lấy đôi hoa tai của chị

Trang 33

đoạt tài sản là hành vi công khai, ngang nhiên chiếm đoạt tài sản, tội lừa đảochiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối, tội cướpgiật tài sản là hành vi nhanh chóng, công khai chiếm đoạt tài sản và nhanhchóng lẩn tránh Hiểu rõ về hành vi phạm tội sẽ giúp phân biệt được các tộiphạm, xác định đúng tội danh không chỉ về mặt lí luận mà cả về thực tiễn ngay

cả khi các hành vi phạm tội đó được thể hiện dưới những hình thức khác nhau,

đó là ý nghĩa quan trọng nhất khi phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội côngnhiên chiếm đoạt tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản

1.5 Trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản

Nhà nước ta khi ban hành quy định pháp luật về tội phạm đồng thời quy định vềbiện pháp xử lý với người phạm tội Bất kì người nào khi đã thực hiện hành viphạm tội được quy định trong BLHS thì đều bị xử lý bằng các biện pháp mangtính bắt buộc, cưỡng chế của Nhà nước, trong đó biện pháp pháp lý hình sự làbiện pháp nghiêm khắc nhất thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước đối vớingười phạm tội Các biện pháp pháp lý hình sự cũng rất đa dạng nhưng phổ biến

nhất là hình phạt, “hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội” (Điều 26

BLHS), hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trong đó hìnhphạt chính là hình phạt do Toà án tuyên một cách độc lập còn hình phạt bổ sungluôn đi kèm với hình phạt chính nó không bao giờ được tuyên độc lập

Trong nhiều chương của BLHS 1999, vấn đề định lượng được quy định tươngđối cụ thể, chi tiết trong cấu thành tội phạm nhất là chương các tội xâm phạm sởhữu, đó là việc đưa ra những mức thiệt hại gồm thiệt hại về sức khỏe, tính mạng,tài sản do hành vi phạm tội gây ra mà có thể xác định được thông qua nhữngbiện pháp, phương tiện nhất định Dấu hiệu định lượng không chỉ được quy định

là dấu hiệu định tội mà còn được quy định là dấu hiệu định khung tăng nặng củanhiều tội phạm Đối với tội trộm cắp tài sản, dựa vào tính chất và mức độ nguyhiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời thể hiện nguyên tắc cá thể hoáTNHS, Điều 138 BLHS 1999 đã chia thành bốn khung hình phạt thay vì việcchia thành ba khung như trong BLHS 1985, trong đó mức độ thiệt hại về tài sản

là một căn cứ để phân chia thành các khung hình phạt: khung 1 tương ứng với

Trang 34

mức độ thiệt hại tài sản từ 500.000 đồng đến dưới 50 triệu đồng, khung 2 tươngứng với mức độ thiệt hại tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng, khung

3 tương ứng với mức độ thiệt hại tài sản từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệuđồng, khung 4 tương ứng với mức độ thiệt hại tài sản từ 500 triệu đồng trở lên.Tội trộm cắp tài sản có một cấu thành cơ bản (khoản 1) khi phạm tội trongtrường hợp thông thường và ba cấu thành tăng nặng (khoản 2, 3, 4) khi phạm tộitrong trường hợp có những tình tiết thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội cao hơntrường hợp phạm tội thông thường Đối với mỗi trường hợp phạm tội, TNHScủa người phạm tội cũng khác nhau, cần tìm hiểu về TNHS của người phạm tộitrộm cắp tài sản trong từng trường hợp phạm tội

1.5.1 Trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1

Điều 138 BLHS

Khoản 1 Điều 138 quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 500.000 đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 500.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Khoản 1 quy định TNHS của người phạm tội trong trường hợp thông thường khihành vi phạm tội thoả mãn cấu thành cơ bản

Điều luật quy định mức giá trị tài sản tối thiểu bị chiếm đoạt là từ 500.000 đồngtrở lên làm cơ sở truy cứu TNHS, đồng thời để phân biệt tội phạm với các hành

vi vi phạm pháp luật khác, theo đó người có hành vi trộm cắp tài sản có giá trị từ500.000 đồng trở lên sẽ phải chịu TNHS Vấn đề quan trọng là cần xác địnhkhách quan toàn diện giá trị tài sản bị chiếm đoạt để đảm bảo truy cứu TNHSđúng đắn, Thông tư 02/2001 đã hướng dẫn như sau: giá trị tài sản bị chiếm đoạtđược xác định theo giá thị trường của tài sản tại địa phương vào thời điểm tàisản bị chiếm đoạt Trong thực tiễn xét xử việc xác định giá trị tài sản bị chiếmđoạt không đơn giản nhất là trong trường hợp lời khai của các đương sự khôngthống nhất, chất lượng tài sản bị giảm sút do đã qua sử dụng hay tài sản bị chiếmđoạt không thu hồi lại được Để giúp cơ quan chức năng xác định đúng các định

Ngày đăng: 15/12/2015, 13:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tổng số các vụ án hình sự trên địa bàn huyện Quỳ Hợp năm 2006 - Dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản theo quy định của bộ luật hình sự việt nam năm 1999   một số vấn đề lý luận v
Bảng 2 Tổng số các vụ án hình sự trên địa bàn huyện Quỳ Hợp năm 2006 (Trang 50)
Bảng 3: Số vụ án thụ lý về tội phạm trộm cắp của Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp từ năm 2006 đến năm 2010. - Dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản theo quy định của bộ luật hình sự việt nam năm 1999   một số vấn đề lý luận v
Bảng 3 Số vụ án thụ lý về tội phạm trộm cắp của Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp từ năm 2006 đến năm 2010 (Trang 50)
Hình 2: Biểu đồ so sánh tổng vụ án trộm cắp tài sản đã thụ lý với tổng vụ án hình sự đã thụ lý từ năm 2006 -2010 (theo số liệu thống kê của Toà án nhân - Dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản theo quy định của bộ luật hình sự việt nam năm 1999   một số vấn đề lý luận v
Hình 2 Biểu đồ so sánh tổng vụ án trộm cắp tài sản đã thụ lý với tổng vụ án hình sự đã thụ lý từ năm 2006 -2010 (theo số liệu thống kê của Toà án nhân (Trang 52)
2.1.3.5. Hình phạt áp dụng cho các bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản - Dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản theo quy định của bộ luật hình sự việt nam năm 1999   một số vấn đề lý luận v
2.1.3.5. Hình phạt áp dụng cho các bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w