Nhìn chung, tất cả các tài liệu đã đề cập đợc một số khía cạnh của cảng Bến Thuỷ song còn sơ lợc trong tổng thể nền kinh tế Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ.. Các công trình nghiên cứu nà
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học Vinh
Trang 2Tác giả gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô các chú và cán bộ công nghân viên tại Th Viện Quốc Gia Hà Nội, Trung tâm lu trữ III, Tiểu Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh uỷ Nghệ An, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh và …
phòng địa chí của Th viện Nghệ An, Th viện Hà Tĩnh đã giúp đỡ tác giả về mặt t liệu.
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, ngời thân và bạn bè đã
động viên, tạo mọi điều kiện về tinh thần cũng nh vật chất để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn.
Vinh, tháng 1 năm 2008
Tác giả
Hoàng Thị Chung
Mục lục
Trang 3Trang
Mở đầu … …… 1
Ch ơng 1: khái quát điều kiện tự nhiên và xã hội Nghệ An…….11
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và xã hội Nghệ An 11…
1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 11…
1.1.2 Điều kiện xã hội 15…
1.2 Cảng Bến Thuỷ trong đời sống c dân Đại Việt - Đại Nam trớc năm 1885 18…
1.3 Tiểu kết 22…
Ch ơng 2: Cảng Bến Thuỷ từ năm 1885 đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất (1918) ………25
2.1 Pháp chiếm Nghệ An, cảng Bến Thuỷ trở thành đầu mối giao thơng ở Bắc Trung Bộ …… 25
2.2 Chính sách của Pháp đối với cảng Bến Thuỷ 31…
2.2.1 Vị trí cảng Bến Thuỷ 32…
2.2.2 Chủ trơng đầu t khai thác cảng Bến Thuỷ của thực dân Pháp 35
2.2.3 Quy mô của cảng Bến Thuỷ 39…
2.3 Hoạt động và ảnh hởng của cảng Bến Thuỷ đối với kinh tế Nghệ An và Bắc Trung Bộ 41…
2.3.1 Hoạt động của cảng Bến Thuỷ 41…
2.3.2 Những ảnh hởng về kinh tế 44…
2.3.2.1 Những biến động về kinh tế truyền thống 44…
2.3.2.2 Sự xuất hiện của các yếu tố kinh tế mới 51…
2.4 Tiểu kết 53…
Trang 4Ch ơng 3:
Cảng Bến Thuỷ từ năm 1919 đến năm 1945………54
3.1 Pháp tăng cờng đầu t mở rộng cảng Bến Thuỷ 54…
3.1.1 Bối cảng lịch sử 54…
3.1.2 Quá trình đầu t phát triển cảng Bến Thuỷ 55
3.2 Hoạt động của cảng Bến Thuỷ từ năm 1919 đến năm 1945 60…
3.2.1 Hoạt động xuất khẩu 62…
3.2.2 Nhập khẩu qua cảng Bến Thuỷ 71…
3.3 Tác động của cảng Bến Thuỷ đối với kinh tế Nghệ An và Bắc Trung Bộ 74
3.3.1 Ngoại thơng và các đô thị 75…
3.3.2 Các cơ sở công nghiệp ra đời 77…
3.3.3 Những ảnh hởng khác 81…
3.3.4 Tiểu kết chơng 3 84…
Kết luận … 86
Tài liệu tham khảo … 93
Phụ lục …
102
Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu.
1.1 Lý do chọn đề tài.
1.1.1.Trong lịch sử vận tải đờng thuỷ giữ một vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển Thế nhng tình trạng nghiên cứu về hệ thống sông cảng sông và cảng biển nớc ta từ trớc đến nay vẫn cha đợc chú trọng, nhất là cảng
Trang 5Bến Thuỷ – Là một hải cảng (đúng ra là một cảng sông gần cửa biển lớn nhất Bắc Trung Kỳ), nằm ở hạ lu Bến Thuỷ, cách Cửa Hội 12 cây số về phía Đông Bắc và cách trung tâm th nh phố Vinh khoảng 5 kilômét.à
1.1.2 Bến Thuỷ có vị trí vô cùng quan trọng, nằm chắn ngang trên con
đờng quốc lộ số Một, chạy từ Hà Nội cho tiếp giáp với biên giới Thái Lan và cũng nằm trên tuyến đờng huyết mạch của tỉnh Nghệ An Từ Bến Thuỷ xuôi dòng sông Lam ra Cửa Hội để từ đó vợt Đại dơng đến với các cảng biển trên thế giới Từ Bến Thuỷ ngợc dòng sông Lam đến các huyện Nam Đàn, Thanh Chơng, Đô Lơng, Anh Sơn, tiếp đến là các huyện miền Tây trù phú của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và xa hơn nữa là các địa phơng thuộc nớc bạn Lào
Lịch sử đã ghi nhận sự tồn tại của cảng Bến Thuỷ gắn với sự phát triển của Nghệ An nói riêng và Bắc Trung Bộ nói chung Mối quan hệ qua lại giữa chúng đợc xem nh là một tổng thể không thể tách rời
1.1.3 Cảng Bến Thuỷ rất thuận lợi cho việc giao thông trong và ngoài nớc Cảng Bến Thuỷ nối liền cảng Hải Phòng và Đà Nẵng Chính bọn thực dân Pháp cũng phải thừa nhận “Trớc kia ngời ta cứ lầm tởng Đà Nẵng sẽ trở thành cảng lớn đối với xứ Lào nhng trên thực tế Bến Thuỷ mới là cảng lớn Hải cảng lớn nhất là Hải Phòng rồi đến Bến Thuỷ”[30] Bằng việc thông qua đầu mối giao thơng h ng hoá là cảng Bến Thuỷ sẽ đem lại những hiểu biết tập trungàhơn, đầy đủ hơn về hoạt động thơng nghiệp ở cả hai lĩnh vực xuất và nhập khẩu, về chủng loại các mặt hàng…
1.1.4 Qua việc tìm hiểu khối lợng hàng hoá luân chuyển tại đầu mối giao thơng này có thể làm cơ sở để khẳng định:
• ở Nghệ An, nhất là khu vực Vinh – Bến Thuỷ nền kinh tế đã có sự biến đổi từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá phục
vụ cho nhu cầu xuất khẩu
• Đối với thực dân Pháp, mục đích xâm lợc thuộc địa là để vơ vét của cải, tìm những món lợi cao nhất Tuy nhiên bằng việc giao thơng hàng hoá
Trang 6qua cảng Bến Thuỷ thì phần nào cũng làm cho sự thay đổi ở vùng đất Nghệ An và Bắc Trung Bộ.
• Việc đầu t nâng cấp cảng Bến Thuỷ nhằm bảo đảm cho hoạt động xuất – nhập khẩu có ảnh hởng nhất định đến đời sống của c dân vùng đất này
1.1.5 Nghệ An là đầu mối giao thông quan trọng ở khu vực Bắc Trung
Bộ Mạng lới giao thông của tỉnh hội tụ đủ đờng sông, đờng bộ, đờng sắt, ờng hàng không, sân bay và cảng biển Cùng với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nghệ An đã và đang phấn đấu vơn lên thành một tỉnh giàu mạnh
đ-nh lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Miđ-nh Việc nghiên cứu về cảng Bến Thuỷ thời thuộc Pháp sẽ giúp chúng ta nhìn nhận chính xác hơn, đầy đủ hơn về một
đầu mối giao thơng quan trọng bậc nhất khu vực Bắc Trung Bộ Từ đó chúng
ta thấy đợc ngày nay chúng ta sẽ kế thừa và phát huy đợc những đặc điểm gì
1 .2 Mục đích nghiên cứu.
Từ những lý do thực tiễn và khoa học đã trình bày, trên cơ sở su tầm, tập hợp, tham khảo và kế thừa về mặt t liệu của các công trình có trớc, chúng tôi cố gắng thu thập những sử liệu, t liệu, báo cáo, công văn thời Pháp thuộc
về cảng Bến Thuỷ để:
• Dựng lại một cách tổng quát hoạt động giao thơng của cảng Bến Thuỷ
từ năm 1885 – 1945 thông qua ba giai đoạn: từ trớc năm 1885, giai
Trang 7đoạn từ năm 1885 đến hết cuộc Đại chiến thế giới thứ nhất (1918) và giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1945.
• Qua đó, phần nào làm rõ ảnh hởng của đầu mối giao thơng này đối với
sự biến đổi kinh tế Nghệ An và Bắc Trung Bộ
• Bên cạnh đó, thông qua chính sách và biện pháp quản lý và sử dụng cảng Bến Thuỷ của thực dân Pháp, đề tài còn cố gắng tìm hiểu những tác động và ảnh hởng về mặt quản lý nhà nớc ở tầm vĩ mô thời kỳ này
• Cuối cùng, thông qua đề tài nghiên cứu, luận văn còn hy vọng sẽ tìm ra
đợc thế mạnh kinh tế vùng Nghệ An và của cảng Bến Thuỷ nói riêng để
đề xuất đợc những biện pháp, chủ trơng và kế hoạch đầu t cho sự phát triển của cảng Bến Thuỷ
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Nhiều tác giả ngời Pháp xuất phát từ những mục đích khác nhau đã bỏ nhiều công sức và thời gian để nghiên cứu về vấn đề này Có thể liệt kê những công trình cụ thể sau:
- C.p.Edoaurd (1939), Le port de Vinh Ben Thuy (Cảng Vinh Bến– –
Thuỷ), NXB Báo Annam, công trình này đã đề cập đến tiềm năng và
hoạt động giao thơng của cảng Bến Thuỷ Qua tác phẩm này chúng
ta có thể hình dung lại toàn cảnh của cảng Bến Thuỷ Song tác phẩm cũng chỉ mới dừng lại ở việc thống kê một vài sự kiện mà cha đánh giá đợc tiềm năng của cảng
- H Cucherousset (1929), Le port de Ben Thuy, Đăng trên tạp chí
“Kinh tế Đông Dơng” Tác phẩm này phần nào đã đánh giá đợc vai trò, vị trí và tiềm năng của cảng Bến Thuỷ Thế nhng vì đây là một tác phẩm đợc viết dới dạng báo chí nên tác phẩm cũng chỉ thông qua cuộc phỏng vấn giữa thuỷ thủ và thuyền trởng có tàu cập bến cảng Bến Thuỷ mà thôi, nên việc đánh giá tiềm năng cũng hết sức sơ lợc
Trang 8Nhìn chung, tất cả các tài liệu đã đề cập đợc một số khía cạnh của cảng Bến Thuỷ song còn sơ lợc trong tổng thể nền kinh tế Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ.
Gần đây đã xuất hiện những công trình khảo cứu có tính hệ thống nghiên cứu về Nghệ An, Thành phố Vinh và cảng Bến Thuỷ nh:
- Hoàng Anh Tài (1994), Cảng Nghệ Tĩnh qua từng chặng đờng lịch
sử, do NXB Nghệ An ấn hành Sách đã giành từ trang 8 đến trang 11
để nói về cảng Bến Thuỷ thời thuộc Pháp, trong đó có đề cập đến vị trí địa lý của cảng, song chủ yếu là đi sâu vào đời sống và phong trào
đấu tranh của công nhân cảng Bến Thuỷ
- Tác giả Nguyễn Quang Hồng (2003), với công trình, Thành phố
Vinh – quá trình hình thành và phát triển từ 1804 1945– , do NXB Nghệ An xuất bản cũng có đề cập đến vấn đề này trong bối cảnh chung của sự phát triển thành phố Vinh nên khi nói về cảng Bến Thuỷ cũng hết sức sơ lợc…
- ở Bảo tàng Tổng hợp Nghệ An, có tác phẩm Lịch sử Vinh Bến“ –
Thuỷ”, Ký hiệu:
34 04
- Liên hiệp công đoàn Nghệ Tĩnh (1987), đã cho in cuốn Lịch sử
phong trào công nhân và công đoàn Nghệ Tĩnh Trong đó có nêu lên
khá đầy đủ và chi tiết những diễn ra ở Nghệ Tĩnh thời Pháp thuộc Tác phẩm này có đề cập đến một vài sự kiện của cảng Bến Thuỷ và hoạt động xuất nhập khẩu ở cảng Bến Thuỷ Tuy nhiên tác phẩm chủ
Trang 9yếu nói về phong trào công nhân của Nghệ Tĩnh nên số liệu về cảng Bến Thuỷ cũng không có nhiều.
Bên cạnh đó, chúng tôi đã kế thừa một cách có hiệu quả một số tác phẩm lịch sử địa phơng có nôi dung liên quan khi nghiên cứu đề tài, nh:
- Bùi Thiết, Vinh – Bến Thuỷ, NXB Văn hoá Hà Nội năm 1984
Các công trình nghiên cứu này có đề cập đến tình hình kinh tế địa
ph-ơng trong thời Pháp thuộc, song chủ yếu là đi sâu vào vấn đề lịch sử cách mạng chứ cha đề cập đến hoạt động kinh tế, đặc biệt là hoạt động xuất – nhập khẩu qua cảng Bến Thuỷ – một đầu mối giao thơng quan trọng nhất ở vùng Bắc Trung Bộ thời thuộc Pháp
Tuy các tài liệu đã đề cập đến cảng Bến Thuỷ trong bối cảnh chung của lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Vinh – Bến Thuỷ nói riêng và của Nghệ An nói chung, nhng một đề tài nghiên cứu riêng về cảng Bến Thuỷ thời thuộc Pháp thì cha có Trớc tình hình nêu trên, việc chọn đề tài: “Cảng Bến Thuỷ thời thuộc Pháp 1885 - 1945” sẽ góp một phần nhỏ vào việc phác thảo lại hoạt động của cảng Bến Thuỷ, qua đó có cái nhìn tổng thể về sự phát triển của vùng Vinh – Bến Thuỷ nói riêng và Bắc Trung Bộ nói chung
3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về cảng Bến Thuỷ trong thời gian từ khi thực dân Pháp tiến hành xâm lợc và đặt ách đô hộ lên đất Nghệ An (1885) đến năm 1945 Để làm rõ nội dung chính của đề tài chúng tôi có đề cập sơ lợc cảng Bến Thuỷ từ trớc năm 1885 và sau cuộc cách mạng tháng Tám năm
1945, những nội dung khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 10Về không gian nghiên cứu của đề tài là cảng Bến Thuỷ Tuy nhiên luận văn cũng có một phần nhất định đề cập đến vùng Bắc Trung Bộ và Lào, đặc biệt là Nghệ An – nơi đã sản xuất những mặt hàng để xuất khẩu, nơi đợc xem là trung tâm kinh tế, thơng mại lớn nhất của khu vực Bắc Trung Bộ thời bấy giờ.
Về thời gian nghiên cứu của đề tài đợc giới hạn bởi các mốc chính sau:+ Mốc mở đầu là năm 1885 năm thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên đất Nghệ An, hoạt động giao thơng của cảng Bến Thuỷ từ đây ngày càng nhộn nhịp
+ Mốc kết thúc làn năm 1945 Từ năm 1939 đến năm 1945, phát xít Nhật vào Đông Dơng Từ đó cho đến trớc cuộc cách mạng tháng tám năm
1945, cảng Bến Thuỷ về cơ bản chỉ phục vụ cho những đòi hỏi của phát xít Nhật Tuy về danh nghĩa thực dân Pháp vẫn cố gắng duy trì chủ quyền của mình, nhng trên thực tế, hoạt động của cảng Bến Thuỷ đã hoàn toàn bị phát xít Nhật chi phối hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp
Đây là để tài tìm hiểu hoạt động giao thơng kinh tế của tỉnh Nghệ An nói riêng và của Bắc Trung Bộ nói chung từ năm 1885 đến năm 1945 thông qua đầu mối giao thơng quan trọng là cảng Bến Thuỷ Do vậy hoạt động xuất, nhập khẩu nếu đợc thống kê đầy đủ sẽ góp phần đánh giá đợc sự biến đổi kinh
tế vùng Vinh – Bến Thuỷ thời thuộc Pháp so với trớc và sau đó
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Căn cứ vào lịch sử nghiên cứu vấn đề và giới hạn nêu trên, đề tài có nhiệm vụ chính sau:
- Tình bày sơ lợc điều kiện tự nhiên, xã hội vùng cảng Bến Thuỷ và
hoạt động của cảng Bến Thuỷ trớc năm 1885
- Nghiên cứu quá trình đầu t khai thác cảng Bến Thuỷ của các tập
đoàn t bản Pháp từ năm 1885 đến năm 1945 qua hai giai đoạn: từ
Trang 11năm 1885 – 1918 và giai đoạn từ năm 1918 đến trớc khi cuộc cách mạng tháng Tám 1945 diễn ra.
- Phân tích đánh giá tác động của hoạt động xuất – nhập khẩu qua
cảng Bến Thuỷ đối với công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Trung Kỳ và Lào
- Đề tài có so sánh hoạt động xuất, nhập khẩu qua cảng Bến Thuỷ với
cảng Sài Gòn và cảng Đà Nẵng đế rút ra những nét riêng biệt độc
đáo của cảng Bến Thuỷ
- Ngoài ra, đề tài cũng có đề cập đến phong trào công nhân Bến Thuỷ
trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc nói chung và giải phóng Nghệ An nói riêng
5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
5.1 Nguồn tài liệu.
Để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi thu thập nhiều nguồn tài liệu khác nhau:
T liệu điều tra thực tế địa bàn Vinh – Bến Thuỷ (để thấy rõ đợc vị trí
địa lý, lịch sử của cảng Bến Thuỷ) trong thời kỳ hiện đại, gặp gỡ một số nhân chứng nguyên là cán bộ của cảng Bến Thuỷ để tìm hiểu thêm thực tế từ thời
kỳ trớc đây
Bên cạnh đó, chúng tôi đã kế thừa một cách nghiêm túc các công trình
đi trớc có liên quan đến đề tài Nguồn tài liệu này bao gồm các sách, báo, tạp chí lu tại Th viện Quốc gia, Trung tâm lu trữ, th viện Nghệ An, Bảo tàng Tổng hợp Nghệ An, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Tiểu Ban nghiên cứu lịch sử
Đảng tỉnh uỷ Nghệ An, một số luận văn cao học thạc sĩ, luận án tiến sĩ…
Tuy nhiên để có đợc những nhận định, đánh giá khách quan khoa học, chúng tôi đã tiếp cận với nguồn t liệu gốc có độ tin cậy cao Nguồn t liệu chính là nguồn t liệu bằng tiếng Pháp, lu trữ của các cơ quan công quyền thời
Trang 12Pháp thuộc đang đợc lu trữ tại Th viện Quốc gia, những tài liệu từ kho địa chí
th viện Nghệ An, cụ thể là các tài liệu viết tay dịch từ tiếng Pháp Song đây là một đề tài thuộc về phạm vi hẹp nên nguồn t liệu chính thống gần nh không có hoặc không phổ biến rộng rãi, nên việc thu thập và xử lý thông tin gặp không
- Mặc khác, để giải quyết vấn đề, chúng tôi đã sử dụng phơng pháp su
tầm, thống kê, phân tích dựa trên những tiêu chí nhất định.
- Hỗ trợ cho các phơng pháp trên là phơng pháp liên ngành, chủ yếu
là sử dụng những phạm trù, khái nhiệm và phơng pháp kinh tế chính trị học Phơng pháp thống kê phân tích nhằm hệ thống các số liệu,
dữ kiện làm cơ sở để kết hợp đồng thời với phơng pháp tổng hợp rút
ra những kết quả tổng hợp, đáp ứng yêu cầu của một đề tài lịch sử kinh tế Trên cơ sở t liệu luận văn phân tích (những đặc điểm, những nội dung chính) rồi tổng hợp thành các bảng biểu và các kết luận…
- Ngoài ra luận văn còn sử dụng phơng pháp so sánh để làm sáng tỏ
sự biến đổi của Nghệ An và Bắc Trung Bộ từ những hoạt động xuất – nhập cảng đem lại so với thời kỳ trớc đó
6 Những đóng góp của luận văn.
Trang 13- Trên cơ sở su tầm, lựa chọn, xử lý các nguồn tài liệu khác nhau,
công trình đã góp phần hệ thống hoá và làm phong phú thêm khối t liệu liên quan đến tình hình hoạt động của cảng Bến Thuỷ và bộ mặt kinh tế – xã hội của Nghệ An trong quá trình đô thị hoá thời Pháp thuộc
- Luận văn làm sáng rõ đợc vai trò, vị trí của cảng Bến Thuỷ trong sự
phát triển kinh tế Nghệ An mà đặc biệt là trong quá trình đô thị hoá Vinh – Bến Thuỷ thời Pháp thuộc
- Nội dung và t liệu nêu ra trong luận văn sẽ trở thành nguồn tài liệu
tham khảo đáng tin cậy phục vụ cho công tác nghiên cứu và biên soạn lịch sử thành phố Vinh đợc đầy đủ hơn
7 Bố cục của luận văn.
Ngoàn phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đợc trình bày ở 3 chơng nh sau:
Chơng 1: Sơ lợc cảng Bến Thuỷ trớc năm 1885
Chơng 2: Cảng Bến Thuỷ từ năm 1885 đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất (1918)
Chơng 3: Cảng Bến Thuỷ từ 1919 đến năm 1945
Trang 14NộI DUNG
Chơng 1: Sơ lợc cảng Bến Thuỷ trớc năm 1885
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và xã hội Nghệ An.
Nghệ An là hình ảnh thu nhỏ của tổ quốc Việt nam “Núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tợng tơi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả Năm châu Ngời thì thuận hoà chăm học, sản vật thì nhiều thứ quý của lạ Đợc khí tốt của núi sông, nên sinh ra nhiều bậc danh hiền”[35; 85]
1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên.
Với 10.480 km2, Nghệ An có diện tích lớn thứ ba cả nớc (sau Đắc Lắc
và Lai Châu) Nằm giữa vĩ độ Bắc 180,33đến 200,01, các kinh độ từ 104,5 đến 105,48 độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh,
Trang 15phía Tây và phía Tây Bắc giáp nớc Công hoà dân chủ nhân dân Lào và phía
Đông tiếp cận biển Đông
Trên một miền đất rộng lớn nh vậy, địa hình Nghệ An đa dạng, phần lớn lãnh thổ nằm trong hệ uốn nếp Trờng Sơn Núi và đồi trung du là hình dạng địa hình chiếm phần lớn diện tích đất đai của cả nớc
Biên giới Việt – Lào trên phần đất Nghệ An, sờn núi rất dốc, bình quân mỗi độ cao giảm 200 – 250 mét Tuy vậy, vẫn có những đờng eo cho đ-ờng giao thông đi qua Đờng Vinh – Napê vợt đèo Keo Na cao 754 m Đờng
7 dài 270 kilômét, chỉ có dới 70 kilômét đờng phẳng và 200 lilômét qua đèo núi với hàng trăm chiếc cầu qua sông, qua suối
Về hệ thống sông ngòi ở Nghệ An, quan trọng nhất là hệ thống sông Cả
(có tên gọi là sông Lam) bắt nguồn từ dãy núi Pù Luông thuộc tỉnh Sầm Na (nớc Lào) từ độ cao 200 mét chảy theo một đờng trũng sụt hớng Tây Bắc -
Đông Nam Sông Cả vào Nghệ An có độ dài 390 kilômét qua các huyện Kỳ Sơn, Tơng Dơng, Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lơng, Thanh Chơng, Nam Đàn, Hng Nguyên, Vinh, Nghi Lộc qua Cửa Hội ra biển đông
Mạn ngợc sông Cả có nhiều thác Từ Mờng Hua (Lào) đến Cửa Rào có
117 thác, từ Cửa Rào về Đô Lơng có 74 thác, vùng tả ngạn sông Cả thung lũng hẹp, có nhiều vực sâu Vùng hữu ngạn, thung lũng mở rộng hơn, các sờn thoải dần Tuy vậy, vẫn có độ dốc 400 - 500 và có nhiều dãy núi kẹp giữa sông Cả có độ cao 900 – 1000 mét Đờng 7 vợt qua nhiều đèo dốc, khe suối quanh
co khuất khúc
Sông Cả có độ dốc lớn, qua những vùng đất ít thấm nớc nên dòng chảy thất thờng và hay gây lũ lụt Thời gian truyền lũ khi nhanh, từ Cửa Rào xuống chợ Tràng (Hng Nguyên) dài 225 km, đỉnh lũ xuất hiện ở Cửa Rào, sau 48 giờ
đồng hồ, đỉnh lũ xuất hiện ở Chợ Tràng
Một đặc điểm khác cần lu ý là sông Cả ở chặng thợng nguồn chảy qua núi đá cứng nên có nhiều ghềnh thác, nhng ở chặng trung du ra cửa sông (Cửa
Trang 16Hội) lại có nhiều doi cát nỗi lên giữa dòng sông gây trở ngại cho tàu thuyền đi lại, nhất là loại thuyền có trọng tải lớn Sông Cả ở xã Đặng Lâm (nay là xã
Đặng Sơn) trong thời Pháp thuộc đã xây đập chắn ngang sông, đập dài 345 mét để dẫn nớc từ kênh đào vách Bắc từ Đô Lơng qua Yên Thành, Diễn Châu
đến Quỳnh Lu, nên phải đào một kênh nhánh theo cùng chiều với sông Cả
đoạn Nam Sơn - Đặng Sơn qua vòm Cóc cho thuyền bè xuôi ngợc
Sông Cả có 151 nhánh toả theo hai bờ hữu ngạn và tả ngạn Các nhánh
đều là tuyến đờng thuỷ thuận lợi ở nhiều vùng và một số nhánh theo ra các cửa sông (cửa lạch)
Biển là một u thế của Nghệ An Bờ biển dài 100 kilômét có sáu cửa sông cũng gọi là lạch: Cửa Tráp, Cửa Cờn, Lạch Quèn (Quỳnh Lu), Lạch Vạn (Diễn Châu), Cửa Hội (Nghi Lộc) và Cửa Lò (thị xã Cửa Lò) Trừ Cửa Hội, các sông khác đều nhỏ nhng có điều kiện thuận lợi hình thành các ng cảng, các đầu mối giao thông đờng thuỷ, tạo mối liên hệ vùng và quốc tế
Hòn Ng (nằm giữa Cửa Hội và Cửa Lò) có độ cao 125 mét, cách bờ 5 kilômét, ở làn nớc sâu 12 mét là chổ dựa cho các tàu viễn dơng trớc khi vào biển
Về chế độ thuỷ triều ven biển chủ yếu là nhật triều (ngày một lần), chiếm 70%, cũng có lúc bán nhật triều (ngày hai lần) chiếm 30% Nhật triều thờng xảy ra vào thời kỳ nớc cờng, bán nhật triều thì xoay quanh thời kỳ nớc kém Trên nữa tháng có một con nớc Ngời lao động làm nghề biển hoặc nghề vận tải quen lợi dụng con nớc để vận tải đờng thuỷ và làm nghề cá, nghề muối
Sông biển Nghệ An nói chung không lớn, sông cũng bị chế độ gió mùa chi phối Trong mùa đông, gió mùa đông bắc có thể xẩy ra sóng to Lúc gió bão hoặc động đất, có thể có sóng thần cao hàng chục mét Tuy nhiên thời gian biển lặng vẫn là chủ yếu, thuận lợi cho vận tải đờng biển
Trang 17Một số đặc điểm về ma, lũ, bão: Nghệ An là một trong những tỉnh có
l-ợng ma lớn nhất của nớc ta (1500 – 2000 mm) Trung tâm ma lớn là là vùng cực nam sát địa phận tỉnh Hà Tĩnh, các vùng Thanh Chơng, Đô Lơng vào sát biên giới Việt – Lào phía Tây nam Đối với giao thông vận tải trong mùa bão lụt thờng gặp khó khăn, nhất là vùng mạn ngợc, thờng bị tắc đờng vì khe suối, trên sông chảy mạnh
Về khí hậu: Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hởng
của nhiều hệ thống thời tiết Hàng năm lãnh thổ Nghệ An nhận đợc bức xạ mặt trời khá phong phú với tổng bức xạ là 131,8 kcal/cm2/năm và cán cân bức xạ là 87,3 kcal/năm (tại trạm Vinh) Tổng nhiệt độ trong năm trên 85000 C Số giờ nắng trung bình đạt 1500 đến 1700 giờ
Về chế độ thời tiết, nhiệt độ trung bình năm ở vùng núi là 2305 C, còn ở
đồng bằng duyên hải chia làm hai mùa rõ rệt
Mùa nóng thờng từ giữa tháng T đến hết tháng Mời dơng lịch.Trong những ngày gió Tây Nam thổi bụi tùng mù, ngời và súc vật rất khó chịu, đất
đai khô cứng, mùa màng, đồi núi xác xơ nh bị nung đốt Sau một đợt năm ngày, mời ngày nh… vậy, thờng có những trận ma dông đột ngột làm dịu sức nóng Nhiều năm, đang giữa mùa khô cạn, lại xẩy ra những cơn gió xoáy, lốc
và ma đá đột dữ dội, làm tung bày nhiều nhà cửa và h hại bao đồ vật, hoa màu
Đây là những hiện tợng khác biệt so với nhiều địa phơng trong cả nớc ta Hiện tợng ấy chỉ có thể giải thích bằng địa hình
Mùa lạnh thờng từ đầu tháng Mời năm trớc cho đến tháng T năm sau, ngắn hơn mùa đông ở đây mùa lạnh thờng đến muộn hơn các tỉnh khác và lại chấm dứt sớm hơn
Núi nhiêù, nắng giữ, gió Tây nam khá nóng, bão lụt triền miên , thiên…nhiên khắc nghiệt thì tinh thần chế ngự thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên trong trờng kỳ thời gian của cha ông ta ngày càng vĩ đại để Nghệ An có một vùng
đất giàu đẹp nh ngày hôm nay: “Trời Nghệ An khí hậu ôn hoà, tuy đã vào tiết
Trang 18tháng Mời, vẫn ấm áp nh thờng Mỗi năm cày cấy hai mùa, tháng Mời cấy lúa, tháng T gặt; tháng Sáu cấy lúa, tháng Mời gặt Nhng giữa vụ đông và vụ hạ, lại có lúa tháng Ba, giữa vụ hạ và vụ đông lại có lúa tháng Tám Tuỳ theo đất
mà trồng trọt thì đều có thể thu hoạch đợc cả Còn nh các thứ rau, củ, hoa, quả, nấm, măng thì không tháng nào là không có Đủ biết xứ này khí âm khí dơng điều hoà thích hợp”[54; 34]
Trên đây là những điều kiện tự nhiên có ảnh hởng đến sự phát triển của kinh tế Nghệ An Trong luận văn, chúng tôi chỉ trình bày những đặc điểm cốt yếu nhất vầ điều kiện tự nhiên có liên quan đến sản xuất nông nghiệp – một
bộ phận của hoạt động kinh tế truyền thống Chúng tôi xác định tài nguyên và môi trờng thiên nhiên luôn mang tính đa dạng và là một trong những yếu tố
đầu vào của sản xuất Tuy nhiên, nh Ph Ăng – ghen đã tứng nói: “Các nhà kinh tế học cho rằng ngời lao động là nguồn gốc của mọi của cải Kỳ thực thì lao động phải kết hợp với thiên nhiên, thì mới thực sự là nguồn gốc của mọi của cải Thiên nhiên cung cấp vật liệu cho ngời lao động, còn ngời lao động thì biến những vật liệu đó thành của cải”
Với những ý nghĩa đó, cần thiết phải nhắc lại lịch sử xã hội của vùng
đất này, dù là nét sơ lợc nhất
1.1.2 Điều kiện xã hội.
Nghệ An vốn là một vùng đất cổ trong nớc cổ Văn Lang, sau đó là nớc
Âu Lạc Nghệ An hình thành khá sớm những cụm c dân rải rác các vùng miền núi, đồng bằng và miền biển Những khám phá của khảo cổ học cho biết một cách chắc chắn sự có mặt của con ngời trên vùng đất Nghệ An cổ Các nhà khảo cổ học đã khai quật đợc ở thành phố Vinh nơi gần rú Quyết những mảnh tớc, những lỡi rìu, những lỡi búa bằng đá trau và những mảnh gốm thô sơ Họ còn đào đợc ở đấy những trống đồng có hoa văn và âm lợng ngang với trống
đồng Ngọc Lũ Di chỉ khảo cổ Vinh nói trên thuộc nền văn hoá Đông Sơn, là nền văn hoá có niên đại vào khoảng 3000 năm đến 5000 năm cách ngày nay
Trang 19Nh vậy có nghĩa là từ khi lịch sử loài ngời chuyển từ thời đại đồ đá sang thời
đại đồ đồng thì tổ tiên ta có mặt trên vùng đất Vinh – Bến Thuỷ
Cho đến gần hết thiên niên kỷ thứ Nhất sau công nguyên, vùng đất Nghệ An cũng có hoàn cảnh giống nh nhiều điểm ven sông, ven biển khác của nớc ta Khi con ngời rời bỏ dần con đờng thợng đạo xuyên sơn trong việc thông thơng bắc nam mà chuyển xuống những nẻo đờng duyên hải thì vị trí Nghệ An ngày một quan trọng thêm vì nó nằm trên con đờng xuyên Việt trong quá trình khai phá của tổ tiên ta Miền đất Nghệ An đã có những biến
đổi về địa hình, giới hạn cũng nh tên gọi Nghệ An qua các thời đại
Từ khi lập quốc Nghệ An có tên gọi là Văn Lang, Nghệ An là một khu vực thuộc bộ Hoài Hoan, đến đời Hán lại thuộc tợng quận, nhà Lơng lại đổi thành Đức Châu, nhà Tuỳ (581 – 600) đổi là Hoan Châu và từ năm 605 –
615 lại gọi là Nhật Nam, nhà Đờng (627 – 649) đổi làm Hoan Châu và Diễn Châu: “Nghệ An xa vốn là đất Việt thờng N… ớc ta đời Đinh, Lê là Châu Hoan Đời Lý năm Thuận Thiên thứ Nhất (1010) lấy Châu Hoan làm trại, năm Thông Thuỵ thứ Ba (1036) đổi là châu Nghệ An Tên Nghệ An bắt đầu từ đó” [66; 126 127] Sang các thời kỳ nớc ta đợc độc lập tự chủ, nhà Đinh và nhà Lê vẫn gọi là Hoan Châu Nhà Lý lại đổi làm châu Nghệ An; nhà Trần gọi là trấn Lâm Giang Đến lúc Nghệ An bị lệ thuộc vào nhà Minh họ lại đổi làm phủ Nghệ An và phủ Diễn Châu Đến triều Gia Long (1802), đặt trấn Nghệ An bao gồm cả trấn của Thợng Lào và tỉnh Hà Tĩnh, đến đời Minh Mạng năm tứ 12 (1832) lại chia thành Nghệ An tỉnh và Hà Tĩnh tỉnh Cả hai tỉnh đều thuộc Nghệ An kiêm hạt Qua các đời Thiệu Trị và Tự Đức vẫn gọi là hai tỉnh nh tr-
ớc, nhng giới hạn có sự thay đổi chút ít cho mãi đời Thành Thái mới giữ nguyên hai tỉnh với giới hạn nh ngày nay
Do sự thay đổi về giới hạn và diện tích của Nghệ An từ xa nh vậy nên trấn trị của Nghệ An cũng thay đổi luôn, lúc ở vùng Anh Sơn, lúc ở vùng núi Thành, lúc ở Sa Nam (Nam Đàn), lúc ở xã Vĩnh An thuộc Tổng Yên Trờng
Trang 20(Hng Nguyên) Năm 44 sau công nguyên lúc Ta Viên sang xâm lợc nớc ta y chọn vùng Quyết sơn làm trấn biên hải quân đội Từ đó Bến Thuỷ mới trở thành một trấn nhỏ ở vùng Cực nam quận Cửu Chân trong thời Hán mà thôi.
Đến thời Lê sơ, lỵ sở đợc đặt ở vùng núi Thành, vị trí đợc chọn từ thời
Lý Thái Tông là tồn tại lâu hơn cả Trải suốt các đời Trần, Hồ trấn sở chính của Nghệ An vẫn đặt ở Lam Thành, là tỉnh thành xây dựng bên bờ sông Lam
Từ Lam Thành cũng là thành Nghệ An thông vào Nam có sông Minh
L-ơng, sông La Giang, xuôi ngợc có dòng sông Lam, ra vào thuỷ bộ đều không mấy khó khăn Nhng nó chỉ phù hợp với một nền kinh tế phong kiến hoàn toàn tự cung tự cấp, khép kín Khi chế độ điền trang thái ấp đã bị phá vỡ, từ trong xã hội phong kiến những mầm mống của kinh tế h ng hoá đã nảy sinhàthì Lam Thành ở một vị trí khuất khúc sâu kín nh vậy đã không phù hợp với yêu cầu thông thơng nữa Vì vậy, cuối đời Trần, triều đình đã đặt thêm cho trấn Nghệ An một tiền trạm nằm bên bờ sông Cồn Mộc để nới rộng sự giao tiếp Sông Cồn Mộc là con sông sớm đợc ngời xa chú ý Hồi thế kỷ thứ X, Lê Hoàn tức Lê Đại Hành (980 – 1005) đã đích thân vào tận đây chọn khúc sông từ kênh Đớc (ở làng Chính Đích) đến ngã ba Mỏ Hạc làm khâu nối giữa Thiết Cảng (hồi đó gọi là Tạc Khẩu) với sông Lam Từ đó mạn ngợc lên sông Minh (tức là sông Minh Lơng) để ra kênh sắt, tức là kênh nhà Lê đi vào tận chân Đèo Ngang, là biên giới cực nam của nớc Đại Việt lúc bấy giờ Bên cạnh Vĩnh Doanh có kho trại gọi là Vĩnh Khố Có lúc những quan tớng của triều
đình từ Thăng Long chạy ngựa vào, họ không cần đi tới Phù Thạch mà chỉ làm việc với các nhà chức trách, ngời đợc quan trấn thủ ủy quyền cho giữ chân th-ờng trực ở đây, cũng là đủ Vì thế, Vĩnh Doanh ngày nay càng có vị trí nh một
đô thị Về sau, nhà Lê còn cho lập một đồn trại ở dới chân núi Quyết gọi là
Đồn Thuỷ (từ đó về sau có tên gọi là Bến Thuỷ) và cảng Bến Thuỷ cũng có tên gọi từ đấy
Trang 21Bởi sự tiến lên tất yếu của nền kinh tế nông nghiệp mà khi cần phát triển cả về lĩnh vực văn hoá thì dù trong khuôn khổ của chế độ phong kiến, Vĩnh Thị cũng ngày càng đợc mở mang Lấy nó làm tâm điểm cho một đờng tròn khoảng mời cây số thì các làng thủ công cổ truyền của hai tỉnh Nghệ – Tĩnh thuở trớc, phần lớn nằm trong đó.
Sau này, “ở thế kỷ XIX – XX, gỗ lim cần cho nhà Nguyễn xây dựng cung điện, miếu mạo, lăng tẩm là lấy từ Nghệ An” [62; 374] Các đời trấn thủ Nghệ An phải tập kết gỗ lim về Vĩnh Thị rồi tập kết bè hẹp chất lên thuyền ở Bến Thuỷ mà chở vào Phú Xuân Không chỉ có khách ở các địa phơng trong nớc, Vĩnh Thị còn là nơi lui tới của các nhà buôn ngoại quốc
Tóm lại, ở nữa đầu thế kỷ XIX, Nghệ An đã trở thành một vị trí quan trọng về chính trị và là đầu mối giao thơng quan trọng vừa sản xuất vừa hoạt
động thơng mại, một đầu mối buôn bán không chỉ quan trọng đối với thị trờng trong nớc mà còn có khả năng thông thơng với bên ngoài “Hai giáo sĩ trong Hội đồng truyền giáo đối ngoại Châu Âu là Bi- lê- ê(Billé) và Xê-ti-rô (Sétiro)
đến đây vào năm 1750 Trong tài liệu ghi chép về vùng này, họ có nói đến chợ Vĩnh (tiếng La tinh viết là “Vinh”) Các giáo sĩ này mô tả chợ nằm ngoài Vĩnh Doanh, có phố xá của ngời Việt, ngời Hoa và ngời Chà Và (tức ngời Gia –
Va thuộc In-đô-nê –xi-a”[25; 17]
Nằm trên sông Lam, Bến Thuỷ đã có lịch sử từ lâu, lịch sử hình thành
và phát triển của cảng vì vậy đã gắn với lịch sử hình thành và phát triển của Vinh – Bến Thuỷ
1.2 Cảng Bến Thuỷ trong đời sống c dân Đại Việt -
Đại Nam trớc 1885.
Cảng Bến Thuỷ nằm ở mạn hạ lu sông Lam, cách Cửa Hội khoảng 10 cây số về phía Đông Bắc, và cách trung tâm thành phố Vinh trong khoảng 5 kilômét Bến Thuỷ là nơi gặp nhau của nhiều con đờng bộ, đờng thuỷ chiến l-
Trang 22ợc của đất nớc, trong đó có con đờng thiên lý Bắc – Nam (Quốc lộ I) và đờng
8 đi Lào Không chỉ các địa phơng ở nớc ta dễ dàng đến với Bến Thuỷ bằng những con đờng thuỷ, đờng bộ thuận tiện, mà nớc Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và một phần Đông Bắc Thái Lan đi ra biển cũng không có con đờng nào khác gần hơn con đờng qua cảng Bến Thuỷ
Từ Viên Chăn theo quốc lộ 8 đến Bến Thuỷ khoảng hơn 500 kilômét, trong lúc đó đến Hải Phòng là khoảng 824 kilômét, và đến Cửa Việt là 763 kilômét (theo quốc lộ 9) Hoặc từ Luông Pha Băng theo quốc lộ 7 đến Bến Thuỷ là 675 kilômét, trong lúc đó đến Đà Nẵng trên 1.490 kilômét “Kết quả của một số công trình nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ học gần đây cho…thấy rằng: có khả năng tên gọi “Bến Thuỷ” đã xuất hiện từ thời nhà Lý Lý Nhật Quang trong thời gian làm tri châu ở Nghệ An (từ năm 1039), ông đã cho xây dựng nhiều đồn trại, kho, sách để tích trữ quân lơng phục vụ công việc trấn ải phía Nam của vơng triều Lý Đây là một trong những địa điểm tập kết thuyền, bè của Lý Nhật Quang.“Bến Thuỷ” cùng với Bến Đền (Xuân Giang) và Bến Thuyền (Hội Thống) là ba bến cảng quan trọng của nhà Lý ở Nghệ An”[74; 13]
Sông Lam hay còn gọi là sông Cả, con sông mẹ của hàng ngàn con sông, sông dài chảy từ đại ngàn về cửa đại dơng không những là tuyến vận tải quan trọng nhất về đờng thuỷ của Nghệ An, mà đã nhiều phen góp công vào
sự nghiệp đánh giặc cứu nớc
Sông Lam là hợp lu của nhiều nhánh sông con, bắt nguồn từ khắp các huyện miền núi Nghệ An, trong đó chủ yếu là hai nguồn sông Hiếu và sông T-
ơng Nớc nguồn Hiếu phát nguyên từ Động Thanh, huyện Quế Phong, phủ Quỳ Châu, chảy về xuôi theo vùng chợ Hiếu vì thế gọi là nguồn Hiếu, chảy tiếp đến ngã ba núi Tào Giang hợp với sông Tơng Lại chảy tiếp qua bến Lãng
Điền, bến Hội Tiên và chảy tiếp qua bến Đô Lơng, bến Mộc Hoàn rồi có sông Nghĩa Liệt đổ vào chảy tiếp hợp với dòng sông La Sông La bắt nguồn từ dãy
Trang 23núi Giăng Màn là sông Ngàn Sâu, sau hợp với sông La, lại chảy tiếp qua bến Triều Khẩu, Phù Thạch, chảy tiếp có sông Ngàn (Tam Đằng) hợp lu ở bến Chế, rồi mới chảy vào vùng Vinh dới chân núi Quyết đổ ra biển Hội Thống (cửa Đan Nhân, Cửa Hội).
Do điều kiện giao thông thuận lợi, nên từ xa, vùng đất Nghệ An nói chung, vùng Vĩnh Doanh (trong đó bao gồm Bến Thuỷ, sông Lam, núi Quyết) nói riêng có vị trí hết sức quan trọng đối với sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc Các triều đại phong kiến Việt Nam, sau khi nhận rõ vị trí quan trọng của vùng Vinh – Bến Thuỷ nói riêng (Nghệ An nói chung) đều đã cử các tớng tài vào trấn giữ Đến giữa thế kỷ XV – dới thời Lê Lợi, vùng đất này mới thực sự đ-
ợc coi trọng Nhờ lãnh thổ phía Nam đợc mở rộng, không phải là biên trấn nữa, song Nghệ An vẫn đợc coi là “châu”, là “trọng trấn”, vẫn giữ một vị trí chiến lợc quan trọng cả về mặt chính trị, quân sự lẫn kinh tế đối với cả nớc
Trong cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn (1627 – 1672), đã có nhiều trận đánh diễn ra khá kịch liệt bên bờ sông Lam (nhất là trong thời gian 1660 – 1670), quân Trịnh do Trịnh Toàn chỉ huy đóng bản doanh tại núi Quyết, lập đồn luỷ (luỷ Ông Ninh) Lam Thành và Phù Thạch nằm trong vùng tranh chấp giữa đôi bên mà Vĩnh Doanh lại cận kề núi Quyết và Đồn Thuỷ của Trịnh Toàn, nên có nhiều lúc nó đã giữ vai trò thay thế cho Lam Thành
Cuộc hỗn chiến Bắc – Nam vừa tạm chấm dứt cha đợc bao lâu thì cuộc hỗn chiến giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn lại diễn ra Sông Gianh (Quảng Bình) trở thành giới tuyến tạm thời
Vào tháng 3 năm 1665, quân Nguyễn đã huy động cả thuỷ, bộ binh chiếm bảy huyện phía Nam sông Lam, đẩy quân Trịnh ra mãi bờ Bắc sông Lam Sông Lam bổng trở thành chiến tuyến trong những năm 1655 – 1660 Nghệ An vừa là tiến tuyến vừa là hậu phơng trực tiếp trong cuộc tơng tàn Trịnh – Nguyễn
Trang 24Bớc sang thế kỷ XVIII, dới tầm nhìn chiến lợc của nhà quân sự thiên tài Quang Trung – Nguyễn Huệ, vùng đất cực nam của Tổng Yên Trờng trong
đó có Vĩnh Doanh, Vĩnh Thị mới đợc nhìn nhận thật đúng với vị thế của nó Với “hình thế rộng rãi tơi sáng”[25; 18], “độ đờng vừa cân, vừa có thể khống chế đợc trong Nam ngoài Bắc”[76; 17], hơn nữa “Nghệ An là núi sông kết phát” [44; 1047], tổng Yên Trờng thuộc huyện Chân Lộc thuộc trấn Nghệ An
đợc Quang Trung chọn làm đất xây dựng kinh đô mới, “Phợng Hoàng Trung
Đô ở giữa khoảng núi Con Mèo và núi Quyết” “Cửa Tiền ở phía Nam núi Con Mèo (Kỳ Lân) làm nền cho đồn gác, thành phía nam chắp vào núi ấy Mặt
Đông Bắc lấy núi Quyết (Phợng Hoàng) làm thành Địa thế thành rất dễ giữ Phía trớc có sông Cồn Mộc và sông Lam, phía bên có núi Quyết đều là hào và thành tự nhiên”[44; 1050] Tiếc là sự nghiệp nhà Tây Sơn qua ngắn ngủi Sau khi vua Quang Trung băng hà, Quang Toản không chèo chống nỗi cơ đồ trớc thế lực phục thù của Nguyễn ánh có t bản phơng Tây giúp sức, Quang Toản chạy và Nghệ An đợc mấy ngày rồi phải chạy ra Thăng Long
Năm 1802, Nguyễn ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, chia đất
n-ớc ta làm 29 doanh trấn Nguyễn ánh lên ngôi vua đã huỷ bỏ không thơng tiếc bất cứ cái gì triều đại Tây Sơn đã tạo tác, nhng cái nhìn đầy ý nghĩa của Quang Trung về vị trí Yên Trờng thì ông ta không thể bỏ qua Gia Long cho xây dựng thành Nghệ An và dời lỵ sở từ Lam Thành – Phù Thạch về Vĩnh Yên, Yên Trờng thuộc huyện Chân Lộc (còn gọi là Vĩnh Doanh) Theo đó, Vĩnh Thị tức chợ Vinh ngày nay dần dần thay đổi tính chất: từ chổ chỉ là một chợ làng nhỏ bé của tổng Ngô Trờng trở thành chợ trấn của cả trấn Nghệ An Dân c đến sống ở khu vực này ngày một đông, hình thành nên c dân bản địa của thành phố sau này
Ra đời và phát triển từ cuối thời trung đại mà tiền thân của nó là Vĩnh Doanh và Phợng Hoàng Trung Đô, Vĩnh An, tức Vĩnh Thành trớc tiên nó là trung tâm chính trị và văn hoá Nếu ngời ta bảo Phú Xuân là một “ánh thơ đô
Trang 25thị” thì Vĩnh Thành là nơi hội tụ của văn hoá triết lý nhân văn Đó là đặc điểm
có ảnh hởng rất lớn đến sự phát triển của đô thị Vinh – Bến Thuỷ sau này
Đô thị Vinh lớn về tầm, về thế vì nó có Bến Thuỷ Bến Thuỷ là một cảng sông lấy tên gọi từ một đơn vị thuỷ quân là Đồn Thuỷ dới thời Lê Là vị trí án ngự quân địch khi chúng có thể từ biển đông mà xâm nhập vào; Là cửa ngõ cho đô thị nhìn ra hải ngoại Con sông Vĩnh lại mở cửa cho đô thị ở mặt tây nam mà đi ra sông Lam để rồi cũng thông ra biển Bến Cửa Tiền là bến sau lng chợ Vĩnh đổ ra sông này Trên bến dới thuyền nóc, bè san sát Nó nh một khu phố, bao gồm cả c dân định c trên bờ và ngời thủy thủ cùng khách vãng lai bằng thuyền bè Tức bến của sông Vĩnh Giang, cũng gọi là sông Vĩnh
“Sông quanh co đến mời hai khúc Từ sông Lam lên đó, đờng thẳng chỉ có bốn cây số mà đờng sông thì đi rất lâu Ngời ta chọn chổ đó là để khi thuyền
địch đến thì mình có thì giờ mà chuẩn bị”[25; 33]
Vào thời gian đô thị Vinh – Bến Thuỷ hình thành, nền kinh tế thơng nghiệp đã có những hớng phát triển đáng kể nhờ có cảng Bến Thuỷ Sự tiếp xúc Đông – Tây, quan hệ buôn bán với các nớc phơng Tây có nhiều chuyển biến tốt Thuyền bè của các nớc không thể không cập bến ở Cửa Hội, Bến Thuỷ để ngợc dòng sông Lam lên buôn bán ở chợ Vĩnh Thuyền bè của các n-
ớc phơng Tây không thể không cập bến ở Bến Thuỷ để giao cho quân Trịnh những loạt h ng hoá đặc biệt, súng đạn thần công hoặc các loại h ng hoáà àkhác
Mặt khác, từ chợ Vĩnh, thuyền ghe ngợc dòng sông Lam lên Phù Thạch,
Hà Trung hoặc Sa Nam, những thành phố hoặc lỵ sở cũ để buôn bán Những mặt hàng lâm, thổ sản và các sản phẩm thủ công của các huyện niềm núi nh
vỏ quế, võng gai ở huyện Quỳ Châu, nam sâm ở Thanh Chơng, trầm hơng ở Giăng Màn, vải thô (vải tha) ở Tơng Dơng, võng gai ở Can Lộc và Yên Thành, nhựa thông ở Quỳnh Lu, nón lá ở Yên Đồng, La Sơn, lụa tốt và dày ở Việt Yên, La Sơn, cau ở Nam Đờng, Hơng Sơn và nông sản ở các huyện chung
Trang 26quanh, gia cầm, gia súc ở các miền lân cận sẽ theo các dòng lạch của đờng sông, dồn về chợ Vĩnh buôn bán trao đổi “Đô thị Vinh – Bến Thuỷ luôn đợc mệnh danh là thành phố thơng nghiệp”[63; 300].
1.3 Tiểu kết.
Cảng Vinh – Bến Thuỷ nằm trên hạ lu sông Lam “ở cửa Vịnh Bắc Bộ,
từ 18 đến 19 vĩ độ Bắc” [88; 2] Trong lịch sử nớc ta, ít vùng có tầm quan trọng nh lu vực sông Cả, hay còn gọi là lu vực Lam Giang, “Vào thế kỷ XIV, ngời Chàm đã tấn công Nghệ An, tàu của ngời Chàm đã đến Cửa Hội, ở cửa sông Cả Vào thế kỷ XV, ngời Trung Quốc ở tả ngạn sông Cả đã giao chiến ác liệt với ngời An Nam ở hữu ngạn dới sự chỉ huy của Lê Lợi Những di tích về…
vị trí chiến lợc của ngời Trung Quốc và ngời An Nam vẫn đang còn: thành Bến Thuỷ, thành Lam Thành ”[88; 2].…
Các t liệu lịch sử cho thấy từ xa xa, thuyền buôn Trung Quốc, ấn Độ, Nam Dơng đã v… ợt biển vào buôn bán tại Cửa Hội, Bến Thuỷ, Vĩnh Doanh…Còn các nớc Lào, Xiêm (Thái Lan), thì xuôi ngợc dòng sông Cả (sông Lam), hoặc men theo con đờng “thợng đạo” về Vĩnh Doanh, Bến Thuỷ để trao đổi lâm thổ sản lấy nớc mắn, muối của Trang – Hội, đồ rèn của Vân Chàng, Trung Lơng (Đức Thọ), tơ lụa của Trung Cần, Dơng Liễu…
Nh vậy là cả về đờng thuỷ, đờng bộ, Bến Thuỷ là một trong những cửa ngõ chiến lợc của Vĩnh Doanh và thành phố Vinh ngày này Từ đây có thể đi tới nhiều miền trong và ngoài nớc bằng những tuyến đờng giao thông thuỷ bộ thuận tiện và cũng một phần bằng hai con đờng này, các nền văn minh á - âu,
Đông - Tây đã thâm nhập vào Vinh mà toả ra Vinh – Bến Thuỷ đã trở thành một trung tâm vừa sản xuất vừa hoạt động thơng mại, một đầu mối buôn bán không chỉ quan trọng đối với c dân Nghệ An mà còn quan trọng đối với cả vùng Bắc Trung Bộ Hơn nữa Vinh – Bến Thuỷ còn có khả năng giao thơng với bên ngoài Nằm trên sông Lam, cảng Bến Thuỷ đã có từ lâu, lịch sử hình
Trang 27thành và phát triển của cảng vì vậy đã gắn liền với lịch sử hình thành của Vinh – Bến Thuỷ.
Hơn thế nữa, mạng lới giao thông đờng sông hoạt động nhộn nhịp, tấp nập với nhiều loại hình phơng tiện nh: thuyền, bè, mảng Sông Lam là con…sông lớn thứ ba cả nớc ta và là con sông lớn nhất của các tỉnh miền Trung, với
hệ thống sông ngòi khá dày đặc Nhờ đó mà c dân các huyện Hơng Sơn, Hơng Khê, Đức Thọ, Nghi Xuân (Hà Tĩnh), H… ng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Ch-
ơng, Anh Sơn, Đô Lơng, Tân Kỳ, Con Cuông, Mờng Xén (Nghệ An) có thể…mang các loại h ng hoá theo các tuyến đà ờng sông về Vinh tiêu thụ Trên thực
tế, c dân lu vực sông Lam đã biết khai thác khá triệt để hệ thống đờng sông vào mục đích vận chuyển tất cả các loại h ng hoá từ gỗ, nứa, mét, các loạiànông sản phẩm, trong nhiều thế kỷ trớc đó Song nhìn chung cảng Bến Thuỷ mặc dù tự hình thành khá sớm trong đời sống c dân Đại Việt, nhng còn rất nhỏ lẻ, chỉ phục vụ cho nhu cầu trao đổi mang tính địa phơng chứ cha có hoạt
động buôn bán thực sự Mặc dù vậy nó cũng đã có vai trò rất lớn đối với đời sống của c dân đại Việt xa, đến khi thực dân Pháp vào xâm lợc nớc ta và đặt
ách đô hộ lên mảnh đất An Tĩnh thì cảng Bến Thuỷ mới thực sự là một thơng cảng sầm uất ở khu vực Bắc Trung Bộ “Bến Thuỷ là một trong ba “bến cảng” quan trọng ở vùng hạ lu sông Lam”[74; 13]
Trang 28CHƯƠNG 2:
Cả ng Bến Thuỷ từ năm 1885 đến hết chiến
tranh thế giới thứ Nhất (1918)
2.1 Pháp chiếm Nghệ An, cảng Bến Thuỷ trở thành
đầu mối giao thơng Bắc Trung Bộ.
Bớc vào thế kỷ XIX, các cờng quốc phơng Tây mở rộng bành trớng sang các nớc thuộc địa là một tất yếu, bởi vì “ngay ở trong vốn dùng vào kỷ nghệ đợc lời hơn nhiều hơn là dùng vào nông nghiệp Nếu xuất ra ngoại quốc còn kiếm đợc nhiều lời hơn để trong xứ” [67; 16] và một khi đã chiếm cứ đợc thuộc địa, chính quốc sẽ đợc “bảo đảm thị trờng, tìm nguồn nguyên liệu để khai khoáng, tự đánh thuế, ngoài ra còn đợc di dân và quyền lập nghiệp để đế quốc dễ bề bán h ng hoá trong khu vực ảnh hà ởng của nó”[67; 17, 18]
Phải mất hai mơi lăm năm kể từ khi gây hấn ở Đà Nẵng, ngày
25-8-1883 thực dân Pháp mới ký đợc với triều đình Huế hiệp ớc ác – măng
Trang 29(Harmand), sau này đợc sửa đổi bởi hiệp ớc Pa-tơ-nốt (Pathenơtre)(6-6-1884), nhng trên giấy tờ, hiệp ớc ác – măng cơ bản bọn chúng đã đặt đợc ách đô hộ trên toàn cỏi Việt Nam nhng Vinh – Bến Thuỷ là mảnh đất thực dân Pháp đặt chân tới sau cùng.
Sau khi vua hàm Nghi xuất bôn, thực dân Pháp chiếm một hoàng cung trống rỗng, không có vua Tớng Đờ – Cuốc –xi (De Courcy) lúc bấy giờ phục trách chiếm giữ hai xứ Bắc và Trung Kỳ đã phải điện về Paris xin cho rút
đại bộ phận quân viễn chinh từ Bắc Kỳ vào tăng cờng cho Trung Kỳ Ngày 7-1885, Sô-mông (Chau mont) đổ bộ 188 lính Pháp lên Bến Thuỷ Tiếp đó, Mi-nhô (E Dmond Mugnot) từ Hà Nội đợc Cuốc – xi gọi vào Huế rồi lại đợc phái ra Vinh để cùng Sô-mông và Béc-tơ-nô (Bert naut) đang đóng quân tại
20-Hà Tĩnh nhanh chóng ra Vinh hợp lực với nhau để cùng đánh chiếm Vinh – Bến Thuỷ rồi mở rộng ra cả Nghệ Tĩnh, đồng thời tiến hành vây bắt vua Hàm Nghi
Giúp vào việc quân lúc này còn có cả Met-đơ-panh-giê (Med de pin ger) kỷ s tài chính chiến tranh Cuốc-xi và Mi – nhô cho rằng, chốt giữ đợc Vinh – Bến Thuỷ thì với vị trí lợi hại và chiến lợc quân sự này, chúng dễ dàng thực hiện đợc ý đồ đã định, nhng chúng đã không thực hiện đợc “Hầu hết các quan, đặc biệt là bọn quan lại cao cấp đều bỏ đi rồi nhập bọn với Tôn Thất Thuyết ảnh hởng của ông tớng này (nguyên là quan phụ chính) nay nh
đợc tăng lên hàng ngày Sĩ phu (theo nhà vua và ông) nổi lên võ trang đấu tranh Thảng có một vị quan nào còn ở lại thì mặt nay họ mơn trớn quân ta…nhng mặt kia thì họ đồng một lòng với kẻ nhiểu loạn” Hay là “ở tất cả những nơi Pháp chiếm đóng (nhất là các đô thị) sự sống lùi đi đâu mất Tất cả các cửa đều đóng Nếu mang theo đợc cái gì thì dân chúng mang theo hết, tới những chổ an toàn hơn Chỉ còn lại những ngời đau yếu hay già cả”[25; 43]
Ngay sau khi chiếm đợc Nghệ An, thực dân Pháp chia quân thành từng cánh vây ráp chiếm toàn bộ vùng đất Nghệ Tĩnh Song chúng chỉ ổn định đợc
Trang 30tình hình trong một thời gian ngắn rồi phải đối phó với các cuộc kháng chiến mãnh liệt của nhân dân Nghệ Tĩnh Đầu tiên là Đinh Văn Chất, Trần Tấn,
Đặng Nh Mai khởi binh ở vùng Nam Đàn, Thanh Chơng, Diễn Châu Tiếp đó
là Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ, Thợng Chuẩn – một quan lại nhà Nguyễn
đã đứng về phía nhân dân để kháng chiến Ông đã tổ chức các đồn ở Cửa Hội, núi Quyết
Đến năm 1896, khi tiếng súng Cần Vơng ở vùng núi rừng Hơng Khê (Hà Tĩnh) lịm tắt thì cũng là lúc sự thống trị đợc coi là lâu dài của các triều
đại phong kiến đối với vùng đất An Tĩnh kết thúc Thực dân Pháp đã hoàn thành đợc công cuộc xâm lợc và bình định Nghệ Tĩnh nói riêng và đất nớc Đại Nam nói chung
Sau khi căn bản hoàn thành công cuộc xâm lợc và bình định Việt Nam, thực dân Pháp mới bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam và Đông Dơng Paul Dumer, cựu Bộ trởng Bộ tài chính nớc Pháp và cũng là cha đẻ của chính sách khai thác thuộc địa, đã đa ra những dự
án về luật thanh toán tạm thời và tổng thanh toán tài chính Bắc và Trung Kỳ ở Việt Nam Tháng 3 năm 1897 Paul Dumer đợc cử làm toàn quyền Đông Dơng
và ông đã lập chơng trình khai thác thuộc địa thờng gọi là chơng trình Paul Dumer với nội dung hành động cụ thể, trong đó có hai điểm đáng chú ý:
Điều thứ ba: Xây dựng cho Đông Dơng một thiết bị kinh tế to lớn, một
hệ thống đờng sắt, đờng sá, sông đào, bến cảng, những cái cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dơng
Điều thứ t: Đẩy mạnh sản xuất và thơng mại của thuộc địa bằng việc phát triển công cuộc thực dân của ngời Pháp và lao động bản xứ
Từ đây chính quyền thực dân đã ra sức tiến hành song song hai nhiệm
vụ “xây dựng những phơng tiện cần thiết cho việc khai thác” và “khai thác”
Đây đợc xem nh là hoạt động vĩ mô của nhà nớc thực dân nhằm điều khiển quá trình kinh tế trên toàn cỏi Đông Dơng một cách có hệ thống và hiệu quả
Trang 31Nền kinh tế Nghệ An và hoạt động của cảng Bến Thuỷ chịu ảnh hởng sâu sắc bởi “chơng trình khai thác của Paul Dumer”, của nguồn vốn và kế hoạch đầu t của thực dân Pháp Tổng cộng sáu lần bỏ vốn cho vay của nhà nớc Pháp từ năm 1896 đến năm 1913 lên đến 427 triệu Frăng vàng [38; 37] Trong khi đó, t bản t nhân Pháp cũng đã bỏ vốn ra không kém, khoảng 492 triệu Frăng vàng [38; 37] Tổng số vốn tập trung vào các ngành công nghiệp (khai thác mỏ), giao thông vận tải, nông nghiệp Kế đến là các ngành ngân hàng, địa
ốc nhng không đáng kể
Để đạt đợc những mục đích đề ra, ngời Pháp hiểu rằng, trớc tiên cần phải tạo dựng và chuẩn bị cơ sở hạ tầng cũng nh các thiết bị phơng tiện, kỷ thuật cần thiết Vì vậy, trong giai đoạn này, thực dân Pháp đặc biệt chú trọng
đầu t vốn vào giao thông vận tải
1 Giao thông đờng thuỷ:
Giao thông đờng thuỷ ở khu vực Vinh – Bến Thuỷ chủ yếu là đờng ven biển và đờng sông Lam, mà đầu mối của tuyến đờng thuỷ ở đây chính là cảng Bến Thuỷ Trớc khi thực dân Pháp đến hoạt động của giao thông đờng thuỷ đã diễn ra nhng từ khi thực dân Pháp đổ bộ lên đất Nghệ An, hoạt động này ngày càng đợc mở rộng
Vào thời nhà Nguyễn, các tuyến đờng biển chủ yếu phục vụ cho việc chở gỗ lim từ Nghệ An vào Huế, hoặc chở thuỷ quân từ Huế ra Bắc để đàn áp phong trào nông dân khởi nghĩa là chủ yếu Dờng nh nhà Nguyễn không có chủ trơng để khai thác các cửa biển nh Cửa Hội, Cửa Lò hay cảng sông Bến Thuỷ vào mục đích kinh tế Có chăng, cảng Cửa Hội, Cửa Lò ở phía đông tỉnh thành đợc sử dụng vào mục đích quân sự là chủ yếu Dân c ở hai bên có sử dụng hai cảng này vào việc đánh bắt cá, còn nhà Nguyễn thì hoàn toàn không
có chủ trơng mở rộng các hải cảng này vào mục đích thơng mại
Nhng đến năm 1885, khi tàu chiến Pháp đổ bộ lên vùng đất Bến Thuỷ, các nhà t bản Pháp đã nhìn thấy tiềm năng của cảng sông này và đặt ra yêu
Trang 32cầu cấp thiết là phải xây dựng cảng Bến Thuỷ trở thành một cảng lớn đúng với tầm chiến lợc kinh tế và quân sự của nó Cảng Bến Thuỷ từ lúc đầu chỉ là một bến nhỏ, năm 1897 trở đi đợc xây dựng thành cầu cảng để các loại tàu lớn nhỏ
có thể ra vào dễ dàng
Ngoài tuyến đờng sông Lam, còn có một số tuyến đờng sông khá quan trọng khác nối Vinh với các huyện nh Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lu ở phía Bắc là kênh nhà Lê Năm 1918, Pháp cho đào kênh sắt Vinh – Thanh Hoá
Nh vậy hệ thống đờng thuỷ đợc chú trọng khai thông với nhiều phơng tiện trọng tải hiện đại nh ca nô, tàu có trọng tải lớn nên việc đi lại, giao lu giữa ngời dân các vùng đợc thuận lợi, nhanh chóng và ngày càng đợc mở rộng
2 Đờng bộ:
Đây là hệ thống đờng giao thông phổ biến có từ trớc Trong hệ thống giao thông, đờng bộ là một bộ phận quan trọng trong kế hoạch xây dựng hạ tầng, phục vụ cho nhu cầu “khai thác” của thực dân Pháp
Năm 1893, khi cha có chủ trơng khai thác thuộc địa, để phục vụ công cuộc xâm lợc và bình định vùng đất Nghệ An – Hà Tĩnh, Pháp đã cho xây dựng tuyến tỉnh lộ Vinh – Cửa Rào – Trấn Ninh dài 517 kilômét, nay là tuyến đờng 7 Về sau, con đờng này là tuyến đờng giao thông phục vụ đắc lực cho việc khai thác và vận chuyển tài nguyên từ Lào về Bến Thuỷ và tuôn về chính quốc
Tiếp đến là Quốc lộ 8, nối Vinh- Bến Thuỷ với các huyện Nghi Xuân,
Đức Tho, Hơng Sơn, Hơng Khê (Hà Tĩnh) sang tận Nêpa, Xavannakhẹt và Viên Chăn dài 217 kilômét cũng đợc khởi công xây dựng
Để hoàn thành khối lợng công việc khổng lồ là đào đắp, san lấp hàng chục triệu m3 đất đá trên các miền địa hình khác nhau, chính quyền thuộc địa
đã sử dụng triệt để chính sách “khoa học kỷ thuật của ngời Pháp, lao động của ngời bản xứ” Việc hoàn thành hai tuyến đờng này, các tập đoàn t bản Pháp có cơ hội thuận tiện để khai thác triệt để nguồn tài nguyên giàu có ở miền Tây và
Trang 33Đông Trờng Sơn Đó là cha kể nhờ có hai tuyến đờng này, chính quyền thuộc
địa có thể tổ chức các cuộc hành quân càn quét hết sức thuận lợi nhằm dập tắt các cuộc nổi dậy của c dân lu vực sông Lam Với việc thông tuyến đờng số 8, toàn quyền Đông Dơng Paul Dumer đã hý hững vui mừng “cái chìa khoá miền Trung Đông Dơng đã mở để tài nguyên t bản đợc thông thơng”[56; 15]
Ngoài các tuyến đờng trên, Pháp đã huy động công nhân mở rộng, xây dựng các tuyến đờng bộ nh năm 1913, Pháp cho khởi công xây dựng tuyến đ-ờng Vinh – Cửa Lò Cũng trong năm này, Pháp cho làm lại đờng bộ Vinh – Cửa Hội Đoạn đờng xuyên việt qua Vinh – Bến Thuỷ cũng đợc nâng cấp và
mở rộng hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc khai thác thuộc
đ-mà còn phải đặt tỉnh Vân Nam của Trung Quốc vào sức hút kinh tế của Liên bang Song trên thực tế Pháp đã không hoàn toàn đạt đợc mục đích đó “Cho
đến cuối cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), tổng số chiều dài
Trang 34Một cách khách quan, hệ thống đờng sắt ra đời ở Vinh – Bến Thuỷ đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, tăng thêm số lợng các thị trấn, đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, đặc biệt là kích thích nội, ngoại thơng phát triển, mặc
dù bản chất của nó, nh Lênin đã chỉ rõ khi nói về việc xây dựng đờng sắt ở các thuộc địa Công việc đó: “tởng chừng nh một doanh nghiệp bình thờng, tự nhiên, dân chủ, có tính chất khai hoá dới con mắt của bọn giáo sĩ t sản đợc trả tiền để tô son trát phấn cho chế độ nô lệ t bản chủ nghĩa, cũng nh dới con mắt của bọn philixtanh – tiểu t sản, thì công trình ấy là nh thế Song sự thật, mối liên hệ t bản ràng buộc những doanh nghiệp ấy bằng muôn nghìn chiếc lới của chế độ t hửu về t liệu sản xuất nói chung, đã biến công trình ấy thành công cụ
áp bức một tỷ ngời (ở thuộc địa và nữa thuộc địa) nghĩa là hơn một nữa dân số thế giới trong các nớc phụ thuộc và những ngời nô lệ làm thuê cho t bản trong các nớc văn minh” [71; 225, 226] Các tuyến đờng sắt đã giúp chính quyền thuộc địa giải quyết những vấn đề trong thông thơng h ng hoá nội địa hay lààvận chuyển h ng hoá tới các bến cảng sông, cảng biển để xuất khẩu ra bênàngoài Cũng nh vậy, các tuyến đờng sắt đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển công nhân từ vùng đồng bằng tới những khu công nghiệp, khai thác
mỏ, tới những vùng đồn điền xa trung tâm hay là các tỉnh phía Bắc vào các tỉnh phía Nam
Nhìn chung, hệ thống giao thông (đờng bộ, đờng sắt, đờng thuỷ) đã giúp cho các địa phơng trong và ngoài vùng giao lu thuận lợi, tạo điều kiện lu thông h ng hoá dễ dàng, mở rộng và kích thích sản xuất Các công trình giaoàthông đã góp phần vào việc khai thác thuộc địa trên quy mô lớn Nhà nớc thực dân khuyến khích t bản t nhân Pháp đẩy mạnh đầu t khai thác trên vùng đất
An Tĩnh và Bắc Trung Bộ nói chung nhằm phát triển sản xuất và lu thông
h ng hoá, lấy đó làm động lực cho việc khai phá và khai thác vùng đất giàuàtiềm năng này Cảng Bến Thuỷ, sau khi đợc đầu t nâng cấp đã trở thành một
Trang 35thơng cảng quan trọng, một đầu mối giao thơng duy nhất xuất khẩu h ng hoáàcủa Bắc Trung Bộ ra các nớc xung quanh và ngợc lại.
2.2 Chính sách của Pháp đối với cảng Bến Thuỷ 2.2.1 Vị trí cảng Bến Thuỷ.
Bến Thuỷ cách thành phố Vinh 5 kilômét, là một thơng cảng lớn có
điều kiện phát triển, nằm trên dòng sông Lam, thuộc địa phận Yên Dũng Hạ
Mặc dù đã hoàn thành đợc công cuộc xâm lợc và bình định Nghệ An nhng từ năm 1885 – 1896, ở đây bọn thực dân phải đối phó và nhiều lúc phải
đối phó gay gắt với cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn và cụ Phan Đình Phùng Chúng phải dốc nhiều lực lợng để “bình định” cho nên giai đoạn này chúng chỉ mới bắt đầu đặt cơ sở khai thác kinh tế
Bóc lột kinh tế là mục đích tối thợng Sau khi chiếm đợc Nghệ An, thực dân Pháp không những bằng lòng với lỵ sở thành Vĩnh An, trung tâm của tỉnh
mà bằng con mắt của những kẻ kinh doanh t bản chủ nghĩa, chúng còn nhìn thấy cái đô thị đặt ở chặng cuối nơi dòng sông Lam đổ ra biển này những thuận lợi và tiềm năng lớn lao khác Với chủ trơng “khai thác bằng từng gói nhỏ” Trớc tiên chúng tập trung sự chú ý vào vùng Bến Thuỷ Các lái buôn, các nhà doanh nghiệp đã dựa vào lỡi lê, báng súng để đặt tại đấy những cơ sở kinh tế đầu tiên cho nền công thơng nghiệp thuộc địa Sự khăng khít đó thệ hiện khi Sô - mông đổ quân lên Bến Thuỷ thì Đuy – puy (Jean Dupuis) cũng vừa có mặt và đặt ngay ở đấy một cửa hàng thu mua gỗ Vì cái gỗ quý từ miệt rừng thợng nguồn sông Cả (sông Lam) là loại sản vật chúng khao khát đầu tiên
Cửa hàng (hay trạm) thu mua gỗ của Đuy – puy từ đấy ngày một mở mang ra Cùng với nó, nhiều cơ sở công thơng nghiệp của t bản Pháp và của ngời Hoa Kiều không ngừng đợc mọc lên Bến Thuỷ từ một đồn binh, một bến sông dần dần mang tầm vóc một bến cảng, một cửa ngõ của một khu công
Trang 36nghiệp Từ đó Bến Thuỷ đi kèm Vinh, tuy quy mô nhỏ bé hơn nhiều nhng cũng nh Chợ Lớn kèm sau Sài Gòn.
Nhận rõ vị trí đặc biệt của cảng Bến Thuỷ, ngay khi đặt chân lên Nghệ
An, thực dân Pháp đã tiến hành dầu t phát triển công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng từng bớc đa Vinh – Bến Thuỷ trở thành một trung tâm kinh tế tầm cở của khu vực miền Trung Bến Thuỷ đợc nhanh chóng xây dựng thành một th-
ơng cảng phục vụ cho công cuộc bình định và khai thác lâu dài Việt Nam và
Đông Dơng
Thực dân Pháp hiểu rõ rằng: “Cảng Bến Thuỷ trong tơng lai gần đây sẽ trở thành một trong các cảng hoạt động nhất bờ bể gần giữa Sài Gòn và Hải Phòng” [16] Bến Thuỷ là đầu mối mở lối thoát ra biển cho Trung Bộ, là hải cảng (đúng ra là cảng sông gần cửa biển) lớn nhất Bắc Trung Kỳ, là trung tâm khai thác dịch vụ đờng sắt, đờng thuỷ, đờng bộ ở Trung Kỳ Quy mô khai thác thuộc địa ngày càng đợc mở rộng thì vị trí cảng Bến Thuỷ càng nổi bật trên bản đồ kinh tế Đông Dơng đầu thế kỷ XX, trở thành yết hầu kinh tế của Bắc Trung Bộ và Lào “Bến Thuỷ là một cảng giao thơng buôn bán dọc theo sông Cả (48.453 tấn hàng trong đó có 32.508 tấn xuất), sẽ có một tơng lai rực rỡ khi con đờng Thakhet đợc khai thông và sẽ biến Bến Thuỷ là nơi tiêu thụ
h ng hoá của Lào (thiếc, gỗ, súc vật)” [13].à
Tác giả J.Bouault và E De Razariô trong chơng X “Thơng mại” ở cuốn
“Địa d Đông Dơng” đã đánh giá vị trí, vai trò và triển vọng của cảng Bến Thuỷ nh sau: “Bến Thuỷ là một cảng thiên nhiên vào hạng tầm thờng, nhng lại
là một cảng có tơng lại rực rỡ về kỷ nghệ và thơng mại Cảng này nằm ở trên sông Cả (sông Lam) và chổ chảy ra bể là Cửa Hội, có một dãi cát luôn di
động Nhng ở đây ngời ta xây dựng đợc một cái mốc báo hiệu cho tàu bè khi nớc thuỷ triều lên các tàu có tầm nớc ( nớc ngấn nớc) là ba thớc có thể ra vào cảng đợc Những tàu có tầm nớc chìm bốn thớc trở lên phải đợi lúc triều lớn Trong khi chờ đợi nớc triều lên, các tàu có thể đậu vào Hòn Nhiêu
Trang 37Bến Thuỷ là một cảng của Vinh, thành phố quan trọng bậc nhất ở Trung
Kỳ Bến Thuỷ nối liền với tất cả các trung tâm quan trọng của hai tỉnh trù phú Nghệ An và Hà Tĩnh bằng những con sông : sông Cả, sông Con, sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố và hai con sông đào cùng một hệ thống quan trọng đờng đất và
đờng xe lửa
Đây là khởi điểm của con đờng Trấn Ninh (Lào) đờng bộ và đờng xe lửa tơng lai của sông Cửu Long (Mê kông) và do đó Bến Thuỷ sẽ trở thành một trong các cảng quan trọng nhất ở Đông Dơng” [13]
Tạp chí Kinh tế Đông Dơng thức tỉnh (Eveil Economique de Le Indochine) số ra ngày 3 – 7- 1917, cũng đã đánh giá vị trí, vai trò và tiềm năng của cảng Bến Thuỷ nh sau: “Vinh – Bến Thuỷ sẽ là một thành phố có nhiều triển vọng Đây là cái chìa khoá của xứ Lào, vì có hai con đờng chính nối liền Lào với cảng Bến Thuỷ: đờng Vinh sang Trấn Ninh qua Cửa Rào, đ-ờng Vinh sang Mê kông qua Khăm Muộn là tỉnh giàu có của Lào Sau này có thêm con đờng thứ ba mở đi vào phía Nam, qua đèo Mụ Dạ sang Lào và khu vực sông Se Bai Phai – Lào là một xứ nuôi gia súc đặc biệt”[47; 123]
Nh vậy, Bến Thuỷ một tên gọi không xa xa lắm, ngữ nghĩa cũng dễ hiểu, là một bến nớc nh bao bến nớc dọc đôi bờ sông Lam, nhng cái bến nớc này nhộn nhịp tấp nập hơn nhiều, dới bến không chỉ có thuyền, ghe mà còn có tàu nhỏ tàu to, trên bến không những có hàng quán, phố chợ, còn có nhiều nhà máy, công xởng và c dân chen chúc nhau Nhờ có điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi mà cảng Bến Thuỷ cùng với khu công nghiệp Bến Thuỷ cho đến trớc
Đại chiến thế giới thứ nhất (1914) phát triển nhanh chóng, nhiều nhà máy đua nhau mọc san sát, ruộng đất của xã Dũng Quyết luôn luôn bị tớc đoạt Công nhân và phu khuân vác tăng lên nhanh chóng
Trớc sự phát triển đó, bọn thực dân Pháp buộc vua Duy Tân ra đạo dụ ngày 11 – 3- 1914 và đợc Toàn quyền Đông Dơng chuẩn y, nâng thị trấn Bến
Trang 38Thuỷ thành thị xã Bến Thuỷ Thị xã Bến Thuỷ từ đây đi vào vòng xoáy của hoạt động công – thơng nghiệp của bọn t bản Pháp.
2.2.2 Chủ trơng đầu t khai thác cảng Bến Thuỷ của thực dân Pháp.
Bến Thuỷ là vùng đất có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi về đờng thuỷ Cảng Bến Thuỷ nằm trên bờ sông Lam với hệ thống các nhánh sông con chằng chịt Hoạt động buôn bán nhộn nhịp trên bến dới thuyền đã làm cho Vinh – Bến Thuỷ trở thành một trung tâm hành chính, c ngụ và thơng mại của cả Bắc Trung Bộ và Lào
Khi thực dân Pháp tiến hành xâm lợc, Vinh – Bến Thuỷ đã không thoát khỏi tầm ngắm của chính quyền thực dân “Bến Thuỷ có đầy đủ đờng giao thông các mặt và tất cả đều nhóm về cảng Hai tỉnh quan trọng này có trên một triệu rỡi dân cũng tập trung xung quanh đây Ngoài ra, hai tỉnh của
xứ Lào là Khăm Muộn và Trấn Ninh cũng dùng cảng Bến Thuỷ làm nơi giao nhận h ng hoá cuối cùng Trà ớc hết, chúng ta cần phải xem xét những sản vật sẵn có ở đây để xuất cảng nh than đá, kẽm, chì, gỗ và các thứ lâm thổ sản khác cùng với cà phê, chè, quả cây, gạo, ngô và da súc vật” [83; 20]
Trớc mắt thực dân Pháp hớng hoạt động kinh tế vào kế hoạch duy trì cuộc chinh phục đất nớc Việt Nam Cùng với hoạt động quân sự, chính trị, thực dân Pháp còn tiến hành đầu t nhằm khai thác các nguồn lợi kinh tế Theo
ớc tính, kể từ đầu cho đến năm 1930, thực dân Pháp đầu t vào Việt Nam khoảng 126 tỷ frăng, phân bố không đều nh sau: công nghiệp (chủ yếu là khai mỏ) chiếm 57%, nông nghiệp chiếm 10% và thơng mại chiếm 33%
Tại Trung Kỳ, sau khi đánh chiếm đợc Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp đã biến Vinh – Bến Thuỷ không chỉ là nơi đặt cơ quan cai trị mà còn là trung tâm kinh tế Việc xây dựng một khu hành chính đóng tại thị xã Vĩnh An (bao
Trang 39gồm cả hành cung, dinh tổng đốc, bố chánh, án sát, toà án đệ nhị cấp, nhà tên lãnh binh, và đồn lính khố xanh, một số nhà cửa của gia đình binh lính, có toà công sứ, toà án tây, dinh thự của bọn quan lại ngời Pháp), gần nh song hành với quá trình đầu t nâng cấp cảng Bến Thuỷ để thông thơng buôn bán.
Trên thực tế, công việc mua bán có khi còn đợc thực dân quan tâm và triển khai nhanh chóng hơn công việc tổ chức hành chính xã hội Bởi vì, giới lãnh đạo thực dân hiểu rằng “giới kinh doanh ngời Pháp chỉ ủng hộ cuộc viễn chinh nếu có thể rút tỉa đợc những lợi tức kinh tế và thơng mại”[21; 29]
Mặc khác, chính sách xâm lợc bằng pháo hạm ở Việt Nam đã giúp thực dân Pháp thấy rõ vị trí quyết định của lực lợng hải quân và tầm quan trọng sống còn của các cảng sông cảng biển Ví trí quan trọng đặt biệt và những
điều kiện thuận lợi mang đậm tính chất “cảng” của Bến Thuỷ, một lần nữa thôi thúc thực dân Pháp khẩn trơng tiến hành đầu t nâng cấp cảng Bến Thuỷ
Có nh vậy mới thực hiện đợc ý đồ biến Nghệ An thành bàn đạp (để khai thác các tỉnh Bắc Trung Kỳ) và dùng cảng Bến Thuỷ nh một đầu mối trung chuyển
h ng hoá ra thị trà ờng thế giới
Nhìn chung, tên cáo già thực dân Pháp từ rất sớm đã nhận thấy Nghệ Tĩnh là vùng có tài nguyên phong phú Suốt cả dãy đất tiếp giáp với nớc Lào, rừng Nghệ Tĩnh chiếm một diện tích lớn Trong rừng có nhiều loại gỗ quý và lâm thổ sản, thú quý cha đợc khai thác Vùng đồi núi và trung du có diện tích lớn và giàu khoáng sản: than, sắt, đồng, chì, phốt, phát vùng đất đỏ Phủ…Quỳ trong đó thành phố Vinh chiếm vị trí trung tâm của Nghệ Tĩnh Nếu khai thác đợc Vinh – Bến Thuỷ và làm chủ đợc Nghệ Tĩnh, họ sẽ có điều kiện nuôi chiến tranh xâm lợc Việt Nam vừa có thể thực hiện dần mục tiêu khai thác thuộc địa Chính vì đánh giá nh vậy nên từ năm 1897 trở đi cảng Bến Thuỷ đợc xây dựng thành cầu cảng để các loại tàu lớn có thể ra vào dễ dàng Năm 1900, ngời Pháp đã xây xong hai bến lấy tên là Lơ - no và Măng – giơ tại cảng Bến Thuỷ: “Các cầu tàu của t bản Pháp và t sản Việt Nam lần lợt đợc
Trang 40lập nên ở Bến Thuỷ Năm 1908 xây xong cầu tàu của Sác – lơ, năm 1011 xây cầu tàu của Bạch Thái Bởi, năm 1916 xây cầu tàu của Rốc – cơ và cầu tàu của Nguyễn Hữu Thu ”[72; 10, 11].…
Nằm trên sông Cả (sông Lam), cảng Bến Thuỷ nối liền với cả hệ thống sông ngòi chằng chịt ở Nghệ An và Hà Tĩnh nên rất thuận tiện cho các hoạt
động xuất – nhập khẩu và mua bán trao đổi qua lại giữa Bến Thuỷ với các huyện các tỉnh ở Bắc Trung Kỳ Cảng Bến Thuỷ nằm trên bờ sông Lam nên trở thành cửa ngõ của hệ thống đờng thuỷ nối liền Nghệ An với Hà Tĩnh và xa hơn nữa là các địa phơng thuộc nớc bạn Lào
Xét trên phơng diện hành chính và quân sự, Vinh – Bến Thuỷ có vị trí thiết yếu chi phối cả một vùng rộng lớn, vị trí đó đã tạo ra những ảnh hởng quyết định đến nhịp điệu phát triển của toàn bộ khu vực Bắc Trung Bộ Ngay
từ đầu tình hình kinh tế do ảnh hởng của việc đầu t nâng cấp cảng Bến Thuỷ
đã rất sáng sủa: “Đầu tiên là tên J Dupuar đặt một trạm thu mua và ca gỗ tại Bến Thuỷ, trong ba năm đầu y đã khai thác đợc trên 5000 đồng về tre nứa, mét bán đi các nơi Đến năm 1887, nhợng lại cho một nhóm t bản khác sau đó nhóm này lập “Hội lâm nghiệp thơng mại ở Trung Kỳ” (1892) và biến trạm ca này thành nhà máy Diêm Bến Thuỷ Ngoài ra chúng còn lập nên một số cửa hiệu khác để mua và bán các loại nông lâm hải sản”[12]
Sự xâm lợc của thực dân Pháp với mục đích khai thác kinh tế Đông
D-ơng nằm trong phạm vi lệ thuộc vào kinh tế chính quốc; vì quy luật lợi nhuận
do nhu cầu về mặt sinh hoạt, nhu cầu cấp bách về h ng hoá và phà ơng tiện để phục vụ chiến tranh xâm lợc, chúng đã tìm mọi cách thiết lập một đầu mối giao thơng, xây dựng một số xí nghiệp công nghiệp ở các nơi Đúng nh Mác -
Ănghen nói trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản: “Vì luôn luôn cần thiết có những nơi tiêu thụ mới cho h ng hoá, nên giai cấp tà sản xâm lợc khắp nơi và thiết lập quan hệ khắp nơi” Trong bối cảnh chung đó nền kinh tế thuộc địa mới bắt đầu, cảng Bến Thuỷ cũng trở nên nhộn nhịp